Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:24 pm



Chương 1. Sau cơn động đất khủng khiếp
Trước khi vào chuyện.


Qui-Tô ở đây không phải là tên người như Văn Bình, Nguyên Hương, mà là tên một thị trấn ở Nam-Mỹ. Thủ phủ của một quốc gia tí hon, Equateur (tiếng Anh là Ecuador). Tuy tí hon, xứ Equatơ và đặc biệt là thủ phủ Qui-Tô lại nổi danh trên thế giới vì phong cảnh hữu tình với khí hậu dịu hiền quanh năm, núi non trùng điệp, những cuộc đẩu bò rừng, nền văn minh Tây-ban-nha trộn hợp với chất liệu ái tình da đỏ bán khai và hip-pý Mỹ quốc. Văn Bình z28. ít khi đến tây bán cầu, và đây là lần thứ nhất chàng điệp viên hào hoa của các bạn mới ghé Qui-Tô. Dĩ nhiên Qui-Tô có nhiều hoả diệm sơn nên điệp viên z28. không thể không tao ngộ các hoả diêm sơn tình ái bằng xương bằng thịt. Giờ đây, bạn đọc đã hiểu tại sao Người Thứ Tám đặt tựa cho bộ tiểu thuyết z28. này là "Người đẹp Qui-Tô".



Bốn bề toàn sương là sương.

Văn Bình đã quen với hành trình dưới sương mà cũng phập phồng lo ngại. Sương mù Luân Đôn kiên cố như bức tường nhưng xe hơi lại được gắn đèn pha riêng, hoặc tối tân hơn, có đèn hồng ngoại tuyến. Sương mù trong rừng rậm Đông Dương cũng kiên cố không kém sương mù Luân Đôn, tuy vậy, chàng vẫn không sợ lạc đường vì có thể dùng cây cỏ, tiếng chim muông và thú dữ để định hướng.

Ngược lại, ở đây không có gì hết. Bốn bề toàn sương là sương, một loại sa mù màu trắng bao bọc lấy đồi núi trùng trùng điệp điệp. Sương từ trên cao toả xuống nên lữ khách không nhìn thấy nền trời và không biết được là sáng, trưa, chiều hay xẩm tối. Sương từ dưới đất đùn lên, kết thành tấm thảm dài vô tận trên mặt đất. Không những từ trên cao toả xuống và từ dưới đất đùn lên, sa mù còn từ nội tâm lữ khách bốc ra nữa khiến Văn Bình cảm thấy choáng váng và lạnh ớn xương sống.

Một lý do khác đã làm chàng choáng váng và lạnh ớn thêm. Đó là một cây cầu vừa hiện ra trước mắt.

Chiếc xe díp sơn màu mat-tich' nhô đầu ra khỏi đám sa mù bầy nhầy, tiến vào một khoảng trống chênh vênh. Đường đi mỗi lúc một lên cao. Tài xế vẫn chạy số một, động cơ nóng bỏng rên lên thảm thiết, tưởng như tiếng rên của con heo bị thọc huyết cũng chưa thảm thiết bằng.

Văn Bình đinh ninh con đường dốc còn tiếp tục ngoằn ngoèo theo hình chữ chi một quãng nữa. Buru ngồi bên điều khiển vô-lăng cũng nghĩ như chàng. Hắn không phải là người sinh trưởng trong vùng, song ít ra hắn cũng am tường hang cùng ngõ hẻm Qui-Tô và cộng hoà Equatơ, nơi mà Văn Bình đang vượt biên giới từ Bắc tới.

Té ra con đường phía trước đã biến đâu mất. Trên bản đồ biên giới Buru mang theo, và Văn Bình đã nghiên cứu kỹ lưỡng từng cây số vuông, không có cây cầu nào hết. Cây cầu có lan can màu đen nổi bật trên nền sương mù ảm đạm trắng xoá, gợi chàng nhớ đến tấm vải xô liệm chôn người chết. Từ hai ngày nay, Equatơ đã liệm chôn hàng trăm người chết. Đám núi lửa nằm im một thời gian, các chuyên viên cũng như dân chúng tưởng lầm còn lâu chúng mới tác quái.

Ai ngờ....

Ai ngờ đột ngột hoả diệm sơn chuyển mình, vùi kéo vùng biên giới vào cảnh hoang tàn đổ nát đầy tang tóc kinh khủng...

Văn Bình hét lớn:

-Cẩn thận, cầu gẫy!

Thật vậy, cây cầu cheo leo trong khuôn kiếng bẩn thỉu của xe díp là một cây cầu gẫy, nửa trước còn dính tòn ten vào mặt đường, nửa sau cụt ngủn, có lẽ đã rớt xuống vực thẳm không đáy.

Tiếng kêu của Văn Bình làm Buru khựng người như vừa ngồi nhằm dòng điện 330 vôn. Hoảng hốt, Buru bẻ mạnh vô-lăng sang trái. Bên phải là vực thẳm, bên trái là vách đá nên Buru không còn cách tự cứu nào khác. Tuy xe díp chạy chậm. Buru không thể dùng thắng. Vì, hỡi ôi, không hiểu con ma độc ác nào đã hành tội chiếc xe díp ngay từ khi vượt qua biên giới xứ Colômbi vào Equatơ, khiến cho dầu nhớt rỉ chảy vào bố thắng bên phải, Buru không dám thắng gấp sợ xe lật nhào.

Buru đạp bàn chân trái vào am-ba-dă, mím môi xoay tay lái từ trái sang phải. Văn Bình níu lấy lưng ghế, chiếc díp tàn tật quay đầu nửa vòng rồi húc vào vách núi. Chỉ một suýt nữa là tai nạn xảy ra. Nếu hai người không cảnh giác kịp thời, cứ cho xe lấn lên cầu thì phút này đã nằm yên dưới vực.

Văn Bình rùng mình, lấy tay rờ gáy. Bồ hôi chảy ra ướt đầm. Bánh xe díp nghiến lạo xạo trên đá nhọn. Động cơ rên lên một tiếng nữa rồi câm bặt. Câm bặt hoàn toàn.

Bốn bề toàn sương là sương.

Một sự im lặng kỳ lạ đè xuống cảnh vật. Mãi khi ấy, Văn Bình mới nghe được tiếng gió hãi hùng thổi qua rặng thông bên dưới và tiếng nước suối chảy róc rách. Buru thở hắt ra:

-Hú vía!

Đang ở trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng mà Văn Bình muốn bật cười. Chàng cười vì thương hại cô gái đã nặng lòng với Buru. Buru là tên Nam-Mỹ, đọc tiếng Việt là Bu-rú; thật ra về diện mạo cũng như về thân hình, Buru quả là con bu-dú, cô gái nào yêu hắn phải phá kỷ lục về "chì" hoặc là thối thân của nàng Chung Vô Diệm.

Buru cao như con bu-dú của rừng rậm châu Phi, tay chân hắn dài lều khều và cong queo như tay chân khỉ vượn, mặt hắn mới giống mặt du-dú, vừa dài vừa gãy, môi lại dầy và đỏ hỏn, lông lá mọc rậm rạp khắp nơi trên thân thể, hắn mặc sơ-mi. hở cổ để lộ những đám lông đen sì và cứng nhọn. Con khỉ trong rừng cười the thé ra sao thì Buru cũng cất tiếng cười the thé nhự vậy. Theo lời hắn khoe khoang, nhân tình keo sơn của hắn là giai nhân ở Qui-Tô. Qui-Tô là thành phố có khá nhiều giai nhân, nàng được liệt làm giai nhân trong xã hội giai nhân, nên chắc hẳn phải có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành...

Buru nhớm ga, mở công-tắc cho máy nổ. Văn Bình đập nhẹ vào vai hắn:

-Định tự tử hả?

-Tự tử thì để người đẹp lại cho ai? vả lại, ai bảo ông là tôi muốn tự tử?

-Tại anh lái ẩu.

-ồ, ăn thua gì, thiên hạ còn lái ẩu hơn tôi nhiều.

Buru nói đúng, trước khi, hoạt động ở Viễn Đông, Văn Bình chỉ nghĩ đến bệnh lái ẩu của tài xế tac-xi Đông Kinh (và dĩ nhiên Văn Bình còn nghĩ đến các bạn tac-xi Saigòn, nhưng Người Thứ Tám đã mạn phép kiểm duyệt sự nhật xét này, xin z28. cũng như anh em tac-xi thứ lỗi) giờ đây chàng mới được mục kích tài lái ẩu ở tây bán cầu. Có lẽ vì Nam-Mỹ chịu ảnh hưởng của nếp sống lừng khừng và tình ái ướt át Tây-ban-nha nên đối với họ thì lái xe bất chấp luật lệ giao thông là chuyện rất thường.

Trong chuyến xuất ngoại này, Văn Bình đã in dấu chân trên khắp Nam-mỹ, phần vì công tác chuyên môn, phần khác vì thú lang thang du hí. Chàng xê dịch luôn luôn, hầu như mỗi ngày đều có mặt trên phi cơ, tàu thuỷ. Phần lớn là trên xe tac-xi, vì không đêm nào là chàng không thuê tac-xi để lượn dạo phố phường và tìm kiếm sào huyệt tiêu khiển.

So sánh với Saigòn thì giá biểu tac-xi Nam-Mỹ rẻ kinh khủng. Nhưng trừ giá biểu ra, chàng vẫn khoái cây nhà lá vườn hơn. Loại con cóc của ta có những ghế ngồi nhỏ bé, nhưng ít ra cũng là xe chở hành khách bốn cửa hẳn hòi, trong khi tac-xi ở Ba-Tây chỉ gồm kiểu Von-va-ghên hai cửa, phải xô băng trước ra mới trèo được lên xe, và chỉ lên được bằng phía đối diện tài xế, giai nhân Nam-Mỹ nhảy nhót nhiều, ăn cũng nhiều nên cặp mông khá đồ sộ, nhiều nàng cọ sát ghế, váy bay tung toé khiến Văn Bình mất hứng.

Tac-xi Bolivi còn làm chàng mất hứng hơn nửa, có lần chàng vừa bắt được một bò lạc thơm tho, tán tỉnh sắp thành công thì tài xệ đậu lại và một cặp vợ chồng già mặt mũi nhăn nhó như muốn ăn thịt trẻ con lò dò trèo lên. Chàng bị phá đám vì tac-xi xứ này được phép đậu lại rước thêm khách ở dọc đường, gần như xe lam ở đất hòn ngọc Viễn Đông.

Tại thủ đô Lima, xứ Pe-ru, tài xế đã lái kamikazê lại còn vòi vĩnh quá đáng nữa. Tac-xi không có đồng hồ, bước lên xe khách phải mặc cả, và cuộc kỳ kèo bớt một thêm hai thường kéo dài. Văn Bình thượng đi với bạn gái phải tranh thủ thời giờ nên lần nào cũng phải trả tiền gấp ba, gấp bốn. Buru có những nét gần giống gã tài xế ba hoa chàng gặp tại Lima. Lối phát biểu của hắn cũng nhanh như đĩa hát 78 vòng, và hắn lái xe văng mạng không thua Buru.

Buru nhe hàm răng cải mả, lấp lánh cái răng chó bịt vàng:

-Xin lỗi ông nhé!

Buru đã xin lỗi chàng trên dưới trăm lần. Dường như tiếng pe-đo-ne-mê[1] của hắn chỉ là một hình thức văng tục thượng lưu, nghĩa là ngôn thanh mà ý tục.

Chìa khoá công tắc vặn đi vặn lại nhiều vòng mà động cư ì ra không chịu nổ. Buru nhảy xuống đất, mở nắp ca-bô chui vào máy, miệng càu nhàu một thôi pe-đo-ne-mê. Giá hắn chửi đồng hoặc thốt ra những tiếng đ. m., Văn Bình lại có cảm tình với hắn hơn. Chàng bèn chặn họng hắn:

-Anh xin lỗi ai vậy?

Buru ngẩng đầu ra khỏi nắp ca-bô, giơ hai bàn tay đen sì dầu nhớt lên trời:

-Ấy quên, tôi thường quen miệng như thế. Xin lỗi ông nhé! Xe liệt máy rồi, đường còn xa lắm, ông ơi, không khéo đêm nay phải nhịn đói mất....

Buru vừa than thở vừa nhăn nhó một cách thảm hại. Văn Bình đã biết rõ tính tham ăn của hắn. Hắn chào đời tại xứ Colômbi, nước đặc biệt trên trái đất có 6 loại chuối khác nhau được dùng làm bánh, và ăn chung với thức ăn, dân chúng bộ lạc thì ăn trứng rắn mối và kiến chiên mỡ ròn tan, hoặc ăn luôn cả thịt trẻ con đi lạc làm thành xuc-xich' nhắm với chiacha, rượu bắp ngô nặng ngang rượu đế, tuy vậy, thú ẩm thực của Buru lại bạo gồm mọi món ăn Nam- Mỹ. Nơi nào có món ngon hắn đều vác miệng tới. Và món nào cầu kỳ đến mấy hắn cũng nếm qua. Buru khoái đớp thịt con nhím như dân nhậu Á-Căn-đình, và như người Ba-Tây, hắn là đệ tử trung thành cua món rùa, ba-ba, cá mập, khỉ, cá sấu, và rắn rết....

Văn Bình là thực khách lão luyện mà cũng phải ghê răng khi nghe Buru phô trương món lẩu Vê-nê-duê-la được hắn coi là ngon độc nhất vô nhị, gọi là lẩu san cosô. Ngon cách nào không biết nhưng chỉ nghe nói cách nấu nướng là phải rùng mình vì món lẩu này được làm với thịt rùa và ruột cá....

Buru có thể ngủ đêm dưới trời sương lạnh giữa chốn đèo heo hút gió này nhưng không thể nhịn ăn một bữa. Riêng cái món giải khát hắn đã mang theo hai vò đầy ắp chứa một thứ rượu mạnh đâm buốt cuống họng. Hắn uống vô hồi kỳ trận, mặt mày đỏ gay như mặt trời mà vẫn uống.

Văn Bình phì cười khi thấy sợi dây đen-cô bị sút. Chàng chỉ cần nối lại là động cơ nổ ròn lại như cũ. Vậy mà Buru dám tự hào là chuyên viên chữa xe. Chẳng qua hơi men đã làm hắn mụ người.

Nhưng sau khi máy nổ tròn trịa, Văn Bình mới nhận thấy vô ích. Cây cầu đã gẫy hoàn toàn. Đoạn còn dính vào đường đèo chỉ dài độ 5 mệt, có lẽ sức nặng của xe díp sẽ làm nó rớt xuống suối sâu. Gió chiều thổi phần phật. Những đám sa mù ngoan cố đang tan biến từ từ, nhưng sự thay hình đổi dạng này của tạo vật chỉ làm cho thần kinh căng thẳng thêm lên.

Vì trong lúc màn sương toả kín, Văn Bình không thể quan sát quang cảnh tứ bề. Giờ đây, mắt chàng phóng được ra xa, chàng mới khám phá ra sự hoang liêu rợn gáy. Không một bóng người, không một bóng vật. Lệ thường, con đường dốc này là thiên đường đùa rởn của bọn khỉ vượn, nhiều binh sĩ biên phòng còn gặp cả đoàn hồ lông vằn nhẩn nha kéo nhau đi giữa ban ngày để hứng gió. Trận địa chấn khủng khiếp đã bịt miệng dã thú. Có lẽ chúng đã chết nát thây dưới những đống đá khổng lồ. Dường như hàng vạn mét khối đá đã bất thần dứt khỏi rặng núi và ào ào đổ xuống.

Cọn đường đèo này là lối giao thông biên giới duy nhất còn lại giữa Colômbi và Equatơ sau cơn động đất. Thật ra, nếu không có động đất thì cũng chẳng có con đường nào khác. Bờ biển phía Tây Nam-Mỹ được chắn ngang bởi giãy Trường Sơn hiểm trở xây mặt ra Thái Bình dương, và vùng biên giới Equatơ nằm trong khúc hiểm trở nhất. Hầu hết quốc gia Nam-Mỹ đều ở trong tình trạng kém mở mang nên công cuộc tối tân hoá xa lộ ít được lưu tâm tới, hơn nữa, đảo chính nổ bùng như cơm bữa khiến vùng biên giới Equatơ bị chính quyền bỏ quên.

Trên bản đồ tham mưu của uỷ ban quân sự OAS[2], con đường độc đạo này mang tên là xa lộ 14. Thật tủi hổ cho danh từ xa lộ, vì trên thực tế nó chỉ là con đường đất đá lẫn lộn, chỉ vừa xoắn cho một xe cam-nhông chạy qua, nếu xe hơi đi ngược chiều tránh nhau thì tài xế hai bên phải xuống xe nghiên cứu trước địa thế, bằng không sẽ rớt xuống vực thẳm.

Vực thẳm xa lộ 14 đã được khách thương mệnh danh là "nghĩa địa không đáy". Thật vậy, những buổi trưa nắng ráo, sa mù tan biến, người đeo viễn kính cực mạnh nhìn xuống vực cũng chẳng chạm đáy. Vách đá của vực thẳm phẳng lì và thẳng tắp, nạn nhân trượt chân lăn xuống sẽ không có rễ cây hoặc bờ đá nào để bám. Văn Bình khuân tảng đá lớn quăng mạnh xuống mà không nghe âm thanh dội lên. Chàng đã đi rừng và trèo núi nhiều, miệt đèo Hạ-Lào từ giãy Trường Sơn đến cao nguyên Bolôvên, chàng đều có mặt, những dốc cao vòi vọi như dốc Mang-Hà sát đưởng mòn Hồ Chí Minh, đối diện hai tỉnh Nam-Ngãi, cũng có sa mù dầy đặc, có hàng chục, hàng trăm nguy hiểm bất ngờ như xa lộ 14, song ít ra là còn có lòng tin và màu sắc quê hương. Còn ở đây, xa quê hương và bề rộng mênh mang của Thái Bình dương, chàng cảm thấy cảnh vật quạnh hiu khác thường, trước con đường đèo mỗi lúc một dựng đứng...

Nghe tiếng thở dài não nuột của gã tài xế bú dù, chàng quay lại:

Trên bản đồ, không có cầu, anh cũng cả quyết là đường không có cầu, tại sao lại có?

Khổ quá ông ơi, tôi bị lạc đường.

Hừ.... anh tự nhận là người hướng đạo quen thuộc vùng này như chiếc mu-soà trong túi kia mà!

Thưa ông, vâng. Tôi đã xử dụng xa lộ 14 hàng chục lần. Nhưng khi ấy, thú thật với ông là....

Chưa có động đất....

Không phải thế. Động đất thường xảy ra ở đây. Năm nào cũng có, không nhiều thì ít. Nhưng trong quá khứ, động đất không lớn bằng bây giờ. cả dãy núi đổ, rừng cháy đã chặn nghẹt xa lộ, song đó chưa phải là nguyên nhân gây ra lạc đường, thưa ông... tôi lạc đường vì....

Vì cái gì, anh nói nhanh lên, trời đã xế chiều, mà tôi phải đến nơi thật gấp.

Văn Bình hối hả nhưng Buru vẫn ủng đỉnh:

-Tôi thú thật, ông đừng mách lại với thượng cấp của tôi nhé!

Thượng cấp của Buru là giám đốc tình báo xứ Colômbi. Trong chiến tranh Cao-Ly, Colômbi. là quốc gia Nam-Mỹ duy nhất gởi quân tham dự. Văn Bình chưa gặp ông giám đốc này bao giờ, chàng chỉ biết ông ta là đại tá hồi hưu, qua trung gian có thẩm quyền của CIA.., chàng tiếp xúc với Buru, và hắn dẫn đường cho chàng vượt biên giới phía Bắc xứ Equatơ.

Thái độ khệnh khạng của Buru - sự khệnh khạng đã ăn sâu vào xương tuỷ người dân châu Mỹ la-tinh - làm Văn Bình nổi sùng:

-Nếu anh còn rềnh rang nữa, tôi sẽ cầm hai chân anh ném xuống vực thẳm.

-Úi chao, thà ông xô tôi xuống vực thẳm còn hơn ông báo cáo với đại tá. Chẳng giấu gì ông, đại tá giám đốc ghét rượu goa-ra-pô hơn cả ghét cộng sản Cuba.

Goa-ra-pô là một loại rượu đế cháy họng, bể đầu của dân nhậu Nam-Mỵ. Bụng đói, uống vào một hớp thì hai má lập tức đỏ bừng như mặt trời, chân nam đá chân xiêu và tay bắt chuồn chuồn. Tuy là anh hào lưu linh, Văn Bình cũng phải ngã nón chào... thua goa-ra-pô.

-Hừ.... say rượu thì đến bị phạt trọng cấm ba, bốn ngày là cùng chứ gì? Theo tôi, ở nhà binh không biết uống rượu thì cũng như đàn bà đẹp không có ngực.

-Tôi cũng nghĩ như ông. Bị tù ba, bốn ngày, chớ ba, bốn chục ngày nữa, tôi cũng không ngán. Chẳng qua tôi sợ cô gái rượu của ông đại tá cho "de" thôi.

-Trời đất! Ông đại tá giám đốc là bố vợ tương lai của anh?

-Thưa ông, vâng. Hiện nàng ở Qui-tô. Tôi xí trai như thế này mà nàng lại yêu tôi tha thiết.

-Trai tài, gái sắc, chắc hẳn anh có nhiều biệt tài.

-Vâng. Nàng yêu tội vì trên toàn xứ Colômbi không ai bắn giỏi bằng tôi và không ai triệt hạ được tôi bằng võ thuật. Nàng lại ham mê bắn súng và võ thuật từ nhỏ mới tâm đầu ý hợp chớ!

Burụ rút khẩu súng lục đeo ở thắt lưng và lảy cò, đoàng, đoàng, đoàng, ba phát, liên tiếp. Đứng cách xe díp 5 thước, hắn bắn cả ba viên đạn vào tấm kiếng tròn gắn trên vè xe. Cái kiếng bầu lớn bằng nửa bàn tay, từ xa 30 thước, Vặn Bình nhắm mắt cũng bắn trúng, tuy vậy, nếu so sánh với những kẻ bắn giỏi chàng đã gặp thì Buru cũng chẳng đến nỗi nào. Văn Bình ngần ngừ một giây. Chàng định biểu diễn kỹ thuật bắn quay lưng trong vòng 20 thước cho hắn lác mắt song lại đứng yên.

Vì chàng bỗng có cảm giác là trong cảnh hoang liêu của đồi núi sát biên giới Equatơ này, ngoài chàng và Buru ra, đang còn một người thứ ba. Người ấy là ai, chàng chưa nhìn thấy. Chàng bèn hỏi Buru:

-Bây giờ anh có thấy lối trở về xa lộ 14 được không?

Buru nheo mắt, bộ điệu thảm hại:

-Được. Lẽ ra nếu không say rượu, tôi đã quẹo trái hồi nãy thì không phải qua cầu. Nhưng cũng chẳng sao, nếu phải lội bộ thì băng qua sông gần đường hơn.

-Độ bao lâu nữa đến nơi?

Buru đếm lầm bầm trên đầu ngón tay

-Chập tối, nếu không gặp trở ngại bất ngờ....

Buru đúng là dân Nam-Mỹ. 5 phút trước, hắn than thở là đường còn xa, sợ phải ngủ đêm bụng đói trên núi. Giờ đây, hắn lại đoan quyết là chập tối đến đích. Chập tối nghĩa là trong vòng 3, 4 giờ nữa.

Văn Bình nhìn đồng hồ tay đúng 3 giờ chiều. Giờ này là giờ nắng chiếu chang chang, đàn bà đàn ông Nam-Mỹ có nước da đồng hun vì tia nắng nhiệt đới ác đức vậy mà trên đường biên giới lại chẳng thấy mặt trời, chẳng thấy tia nắng ở đâu. Nền trời vẫn một màu trắng đục bẩn thỉu và bầy nhầy khiến Văn Bình liên tưởng đến những tấm mỡ lá của một con vật khổng lồ bị chết. Giòng sông trước mặt mỗi lúc một rít lên rùng rợn theo tiếng gió.

Chàng không tin là chập tối đến nơi. Tuy mới quen Buru, chàng đã có đủ thời giờ tìm hiểu tài năng dẫn đường của hắn. Bản tính khệnh khạng cố hữu của người Nam-Mỹ đã tạo cho hắn một lối sống bất cần, gần giống như người Lào: thêm vào đó, vò rượu goa-ra-pô đã làm mắt hắn trông gà hoá cuốc. Ngay từ khi bắt đầu vượt biên giới, lao xe díp vào xa lộ 14, Buru đã giết mất một vỏ lốp mới tinh hảo. Một thằng oật con, đội nón lá rộng vành của dân da đỏ, chặn đầu xe đang chạy nhanh, báo hại Buru phải thắng gấp. Tưởng thằng oắt xin đi quá giang nên Buru chửi rủa tưng bừng, không dè nó lại nhăn hàm răng sún ra cười và nói:

-Bu ê nốt đi át.

Buenos dias là tiếng chào hỏi ban ngày Tây-ban-nha. Thằng oắt chào rồi xoè bàn tay ra xin tiền. Nó chẳng dám vòi vĩnh nhiều, chỉ đề nghị một pe-so. Một pe-so Co-lôm-bi. chỉ bằng một phần 18 đồng đo-la Mỹ, Văn Bình sẵn sàng bố thí cho thằng oắt con gấp trăm lần để được tiếp tục hành trình, nhưng khốn nỗi trong túi chàng không có một xu teng nào cả, chàng đành ngậm thinh, trao trọn quyền hiệp sĩ cho Buru. Buru lại là quân nhân của chủ nghĩa kẹo nên thay vì rút bot-phới lại phì nước bọt vào mặt thằng oắt và mắng như tát nước. Thằng oắt đối đáp lại kịch liệt không kém, Buru lại tống ga, thằng oắt phải nhảy vào lề đường để khỏi bị xe cán.

15 phút sau, xe díp leo lên đèo thì xẹp bánh. Thì ra bạn của thằng oắt, một con bé mọi da đỏ, đã thừa cơ hai bên đấu khẩu, cắm vào lốp sau mấy cây đinh to tướng. Người lái xe giỏi chỉ xoay vo-lâng là biết được tình hình vỏ lốp, đằng này vo-lâng đã cứng ngắc báo hiệu một bánh xì hơi mà Buru vẫn mím môi, gia tăng tốc độ. Rốt cuộc, xe díp đâm vào phiến đá lớn bên đường, xuýt bị lật sấp.

Đó mới là "trở ngại bất ngờ" thứ nhất. Nửa giờ sau, để trở ngại bất ngờ" thứ hai, xe tuột tay lái chạy phom phom xuống suối, nước ngập lút hệ thống điện. Chung quy chỉ vì Buru sợ con quạ đen đậu nghênh ngang giữa đường. Hắn theo đạo công giáo, mà tín đồ công giáo cổ xưa lại sợ quạ đen. Theo lời hắn, tiếng kêu của con quạ gồm 64 nốt từ bồng xuống trầm, mỗi nốt là một điềm gở. Con quạ chưa kêu tiếng nào mà cuộc hành trình đã bị chậm trên một giờ đồng hồ dài giằng gjặc. Văn Bình phải thòng giây ì ạch kéo xe từ dưới suối lên và cởi áo lau khô budi, đen-cô, và bình điện xe mới chịu nổ máy.

Nếu kể cả "trở ngại bất ngờ" lớn, nhỏ thì đếm đến chục lần. Xe díp mới cắt chỉ, động cơ vừa rà xong, thế mà chỉ chạy một quãng là ho hen sù sụ. Cộng thêm tài lái xe say rượu của gã tài xế bú rù nữa thì chuyến vượt biên của Văn Bình trở thành cực hình.

Thần kinh chàng căng thẳng ngay từ những cây số đầu tiên trên xa lộ 14. Như thường lệ, mọi điệp vụ do ông Hoàng sửa soạn và do chàng thực hành đều trải qua nhiều ngày, nhiều tuần nghiên cứu, cân nhắc và hoàn bị, ít khi để lại khuyết điểm. Nhưng, như thường lệ, nghề điệp báo trong đệ nhị bán thế kỷ thứ 20 là nghề kỳ quái bậc nhất, mình khôn thì địch cũng khôn không kém: cho nên chàng không tin rằng địch khoanh tay, nhắm mắt cho chàng làm mưa làm gió tại Nam-Mỹ.

Thần kinh chàng căng thẳng vì địch có thể phục kích xe díp tại bất cứ đoạn đường nào trên lộ trình hiểm trở. Không cần tay thiện xạ, chỉ cần một đứa trẻ núp trong kẹt đá bên đường, thủ khẩu AK-47 khạc ra một băng đạn là cả tài xế Buru lẫn chàng ngã lăn xuống vực. Nam-Mỹ trong thời gian gần đây đã nếm mùi AK-47 và B-40 từ Trung Hoa lục địa lén lút chở tới. Du kích cộng sản dưới quyền điều khiển của Quốc Tế Tình Báo sở Trung Hoa hoặc GRU Sô Viết có thể bất thần xuất hiện, võ trang tận răng, sẵn sàng ban phát Thần Chết. Văn Bình được liệt từ lâu vào danh sách đen của Tình Báo sở và GRU. Chắc chắn họ sẽ không để cho chàng sống sót, trở về Sài Gòn, hút thuốc Salem, uống huyt-ký vô hồi kỳ trận, và du hí thâu đêm với núi lửa giai nhân....

Văn Bình nhìn sang bên trái. Đối diện vực thẳm đen ngòm là đỉnh núi lửa nhọn hoắt. Phún thạch từ ruột trái đất ào lên đã đông đặc thành đá màu tro. Trong đường kính nửa cây số, Văn Bình chỉ thấy đá màu tro, nước màu tro và mây màu trắng ảm đạm.

Hai người đã đi bộ đến đầu cầu. Trước trận địa chấn, đó là cây cầu lớn bắc ngang sông, một con sông không tên, trong số hàng chục con sông không tên, nước chảy xiết, từ rặng Trường Sơn hùng vĩ cao ngất trời đồ ào ào xuống biển Thái Bình dương.

Buru bật ra tiếng chửi thề. Tuy là người lịch sự, Văn Bình cũng muốn chửi thề như hắn. Vì giòng sông không trầm lặng, không hiền lành như hắn tưởng. Hắn cho chàng biết giòng sông này không sâu, lòng nó toàn đất sét trắng, hòn cuội nằm bên dưới cũng thấy, ngày thường dân mọi bản xứ, bọn buôn lậu và du kích thân cộng xắn quần lội qua dễ dàng.

Nhưng hôm nay mặt nước đã lên mấp mé dạ cầu. Căn cứ vào vách đá hai bên, Văn Bình ước lượng con sông sâu một con sào là ít. Nghĩa là chàng không có hy vọng xắn quần lội qua. Đừng nói là lội qua, chứ bơi qua nữa, vị tất có thể sang bờ bên kia ngon lành. Gió núi tiếp tục thổi vù vù, mạnh đến nỗi những hòn đá sắc cạnh lớn bằng nắm tay trên bìa cầu cũng bị cuốn phăng xuống nước. Ngay dưới chân cầu, nước lại xoáy tròn, dẫu là quán quân bơi lội thế vận cũng mất xác như chơi.

Buru thở dài ảo não:

-Ông ơi, làm cách nào qua được bây giờ?

Văn Bình phì cười trước bộ mặt nhăn nhó thảm hại của Buru. Hắn là hướng đạo, quen thuộc đường đi nước bước trong vùng mà lại cầu cứu một người khách lạ lẫm vừa chân ướt chân ráo đến Colômbi và lần đầu tiên dẫm gót trên vùng giáp biên Equatơ...

Chàng bèn nhún vai:

-Thì mình bơi qua.

Buru phóng tầm mắt sang bờ đối diện:

-Rộng gần ba trăm thước, nước lại chảy mạnh như thế này, sợ chết đuối lắm ông ơi!

-Anh muốn sao?

-Nếu ông cho phép, tôi xin quay về.

-Hừ, anh muốn quay về tuỳ ý, tôi không ngăn cản.

-Còn ông?

-Tôi ấy à, tôi sẽ bơi qua.

-Ông không sợ chết đuối ư? Thôi, tôi can ông. ông nên nghe tôi, mình tạm dừng ở đây, đốt lửa làm hiệu, trực thăng cứu cấp bay qua sẽ đáp xuống chở đi.

Văn Bình không thèm đáp. Từ lúc vượt biên đến giờ, chàng chưa hề nghe tiếng trực thăng, vả lại, thời tiết hỗn xược thế này thì không hoa tiêu nào dám cất cánh, kể cả hoa tiêu dầy công trận mạc, chứ không phải các chú hoa tiêu chỉ quen ăn hút ở Nam-Mỹ. Và nếu dùng trực thăng, người ta đã không bắt chàng phải đi trong khối sa mù đầy chết chóc.

Buru tiếp tục đợi chàng trả lời, cặp mắt hắn có vẻ van xin thống thiết. Nhưng chàng tiếp tục tỉnh bơ, men theo con đường nhỏ để xuống dạ cầu. Buru đáng thương thật đấy, hắn chỉ là nhân viên giao liên hạng bét ăn lương còm của CIA.., người ta chỉ sai hắn dẫn đường cho chàng mà không cho biết chàng phải lặn lội trèo non vượt suối ngay sau cơn động đất, núi lửa hoành hành, để làm gì. Buru không thể biết một công tác có tầm quan trọng ghê gớm đang chờ chàng bên kia sông. Dầu gặp khó khăn nào chàng cũng phải đến đích nội hôm nay. Trong trường hợp địch mai phục một trung đội thiện xạ bên kia bờ để giết chàng, chàng cũng phải bơi qua... huống hồ chỉ là những cái xoáy nước và những đợt sóng gầm gừ phía dưới...

Thấy Văn Bình lặng thinh, Buru đành bấm bụng bước theo. Bụi nước từ dưới sông bắn lên tung toé, hoà với sa mù đông đặc thành giọt làm cho đất đá trơn trợt như thoa mỡ. Buru hỗng chân suýt ngã. Hắn hoảng hốt ôm chầm lấy Văn Bình, miệng kêu pe-đo-ne-me không ngớt.

Hắn bỗng nhẫy câng câng, reo hò rối rít:

-Này ông, này ông!

Buru chỉ ngón tay về phía tay trái. Cách chỗ hai người đứng gần trăm thước, một con thuyền đang nội lềnh bềnh trên mặt nước, được buộc vào cây cọc đóng trên bờ. Loại thuyền độc mộc này của dân bộ lạc thiểu số trong vùng được làm bằng thân cây lớn, đục rỗng ruột, không khác thuyền độc mộc của các sắc dân thượng du miền Nam.

Như được chích thuốc bồ, Buru khoẻ dội lên. Hắn hăm hở đi trước, bất chấp những hòn đá sắc nhọn cứa qua làn da dày của đôi bốt trận. Hắn vẫn không ngừng lẩm bẩm một mình:

-Có thuyền, có thuyền, sướng ghê, sướng ghê!

Tuy nhiên, hắn chỉ vui vẻ được một phút rồi đứng lại, mặt đầy vẻ lo sợ. Văn Bình thúc mạnh lưng hắn:

-Mỏi chân hả?

Hắn rên lên như bị ong chích:

-Chết tôi rồi, ông ơi!

Hại chân Buru như bị vặn bu-loòng xuống đất. Hắn quỳ mọp, chắp tay vái lia lịa. Thoạt đầu, Văn Bình tưởng hắn mắc bệnh dở hơi. Nhưng chỉ một giây đồng hồ sau, chàng đã khám phá ra lý do hắn thay đổi thái độ.

Lý do nầy là một cây gậy bằng nhánh cây khô, ở giữa buộc chùm lông con nhím lủng la lảng lẳng trước gió. Cây gậy được cắm sâu xuống đất, ngay giữa lối đi, cách chiếc thuyền độc mộc ba, bốn thước.

Các sắc dân thiểu số bán khai từ Đông sang Tây khác nhau về màu da, về nguồn gốc, và nếp sống, nhưng đều giống nhau ở tục lệ cắm gậy. Văn Bình xuôi ngược rặng Trường Sơn, phiêu bạt trên cao nguyên Bolôvên nhiều lần nên đã quen với tục lệ cắm gậy của người Khạ, Rhađê, hoặc Seđăng, mùa khô họ săn thú, làm rẫy, mùa mưa họ ở nhà uống rượu ta-vát, múa nhảy và... làm tình, và mỗi khi họ ở lì trong nhà như vậy, họ đều cắm một cây gậy trước cổng, cấm người lạ đột nhập. Tục lệ này được coi là "điên". Trong những ngày họ "điên", người lạ vào làng sẽ bị coi là đến quấy phá và lăng nhục thần linh, và họ sẽ đánh đuổi, có thể giết chết..

Cây gậy buộc lông nhím đang phất phơ trước mặt có lẽ cũng là một hình thức "điên" của dân da đỏ địa phương. Nhưng đây không những là dấu hiệu họ bế môn toả cảng, mà còn là dấu hiệu cấm đoán. Con thuyền độc mộc là tài sản của dân da đỏ, họ neo tại đấy song người lạ không thể xử dụng.

Xử dụng là chết.

Hết van lậy cái gậy, Buru quay lại vạn lậy Văn Bình. Đầu hắn và hai tay hắn lên lên xuống xuống tròn trịa và nhịp nhàng khiến chàng có cảm tưởng hắn tốt nghiệp khoá dậy lễ. Các cô thôn nữ Việt Nam thường mê những cậu trai biết lễ giỏi. Buru qua Việt Nam chắc được hoa hậu gái quê yêu thương lắm.

Văn Bình ngăn hắn tiếp tục lên gối:

-Anh làm gì vậy?

Giọng hắn run run:

-Ông ơi, xin ông quay lên ngay. Bọn da đỏ đã cắm gậy báo hiệu. Đụng vào thuyền là toi mạng với họ.

-Thì đừng đụng vào.

Văn Bình toan nhổ bật cây gậy. Nhưng Buru đã nhảy tới, nắm tay chàng:

-Ấy chớ, bọn mọi ở đây rất dữ tợn. ông nhổ cây gậy là chúng bắn liền, ông ơi, chúng ăn thịt người như thể ta ăn bit-tết bò non vậy. Tôi sợ đại tá, tôi sợ ông, nhưng tôi sợ chết hơn....

Buru sợ là đúng. Hầu hết người da trắng đều sợ như hắn. Văn Bình cũng đã nghe nói đến những bộ lạc da đỏ ăn thịt người, đàn ông đàn bà đều trần truồng, đầu cạo trắng hếu khoảng giữa, chung quanh để tóc, môi dưới sưng phù bị suốt ngày ngậm trong miệng một cục thuốc lá to tướng. Có những bộ lạc ăn thịt người quanh năm, hiện nay họ trốn chui trốn nhủi trong rừng sâu, lánh xa văn minh loài người, có những bộ lạc khác thỉnh thoảng mới ăn thịt người, còn bình thường họ săn thú, ăn đọt kè như người ta ăn cơm, hoặc bắt tổ ong nhai ngấu nghiến cả mật lẫn ong....

Họ khoái ăn thịt người lạ, song nếu không có thì họ ăn tạm thịt người thân. Không những ăn thịt người sống, họ còn không tha cả người chết nữa. Trong gia đình có người chết, họ không đem chôn mà là hoả táng. Xương cốt và tro còn lại được gói ghém cẩn thận, mang về treo trên gác bếp, chừng nào khô thì đem tán ra thành bột, đem trộn với chuối để làm bánh.

Buru níu áo Văn Bình, bắt chàng trèo lên mặt đường. Chàng cáu tiết xô hắn ra. Chính vì sự nổi nóng của chàng mà cả chàng lẫn Buru đều thoát chết.

Buru ngã xuống. Nền đất trơn nên Văn Bình ngã theo. Và trong khi ngã chàng thoáng nhìn thấy một tấm thân da đồng hun, vẽ đầy hình tràm quái đản, đứng lừng lững trên mỏm đá, cách chỗ hai người gần 30 thước. Té ra một tên mọi da đỏ đã bình thản chứng kiến quang cảnh xe chết máy. Hắn sửa soạn ra tay thì bị lộ hình tích.

Ánh nắng buổi chiều đột nhiên chui qua khối sa mù và mây trắng đặc sệt. Hình bóng lực lưỡng của tên mọi in cắt rõ ràng trên nền đá xám. Văn Bình thấy rõ cây ná lớn vừa được giương lên trên cánh tay vạm vỡ. Và tuy gió thổi mạnh, phụ hoạ với tiếng nước réo điếc tai rùng rợn, Văn Bình vẫn nghe được tiếng mũi tên đầu nhọn hoắt kêu phật khi dứt khỏi dây cung.

Loại tên của mọi dạ đỏ được vót bằng tre vầu riêng, ngâm nước tiểu cho cứng rồi tẩm nhựa thuốc độc. Bị bắn trúng, nếu không có thuốc giải độc thì phải cấp thời rút mũi tên, lấy dao bén cắt xẻo thịt quanh vết thương, rồi nung sắt chín đỏ áp vào, bằng không sẽ mất mạng, hoặc tứ chi sẽ bị tê liệt trong khoảnh khắc....

Văn Bình tung chân đạp Buru lăn xuống sông, đồng thời uốn mình nhào lại phía sau một phiến đá lớn. Mũi tên vầu cắm vào giữa nơi Buru vừa nằm. Nếu hắn trì chậm thêm một giây đồng hồ nữa thì mũi tên hiểm ác đã xuyên qua cuống họng. Buru rớt xuống nước nghe bõm một tiếng. Hắn la lên "trời ơi", nhưng sau khi ấy hắn đã hiểu rõ tại sao lại bị Văn Bình đạp ngã.

Trên mỏm núi, tên mọi xâm mình thụp đầu xuống, có lẽ để rút mũi tên khác. Văn Bình quan sát chung quanh. Chàng không mang khí giới theo mình. Xưa nay chàng vẫn có thói quen này. Bạn đồng nghiệp cho đó là sự khinh địch đáng trách, nhưng chàng lại nghĩ rằng hoạt động với hai tay không dễ thắng địch hơn là mang súng. Mới tháng trước, chàng còn ở Sài Gòn, Nguyên Hương đã chỉnh chàng về bệnh khinh địch, và một lần nữa - không biết là lần thứ mấy chục rồi - nàng khẩn khoản yêu cầu chàng giắt khẩu Luger dưới nách. Nể lời nàng, Văn Bình ừ ào chàng đeo súng vào, nhưng vừa ra khỏi trụ sở công ty Điện Tử, tổng hành doanh của sở Mật Vụ, chàng đã vứt khẩu súng vào hộc tap-lố xe hơi, rồi khi lên trường bay, chàng quên phứt.

Giờ đây chàng mới nghiệm sự thận trọng của Nguyên Hương, sự thận trọng bị chàng coi là cù lần, là rất hữu lý. Giá có khẩu Luger bá phát bá trúng trong tay, chàng chỉ cần nâng lên là tên mọi hết đời.

Phật một tiếng nữa, tên mọi đã bắn mũi tên thứ hai, lần này hắn nhắm bắn chàng vì Buru đã chìm dưới sông. Chàng đảo người nhanh như máy điện tử, mũi tên sượt qua hông chàng, cắm xuống đất gần đến đuôi. Văn Bình không thể tiếp tục né tránh như trước nữa. Sau hai lần bắn trượt, tên mọi đã rút được kinh nghiệm, và mũi tên thứ ba của hắn khó có thể trệch ra ngoài mục tiêu. Chàng bèn trườn người lượm một viên đá nhọn lớn bằng trái banh ten-nít. Cách xa hơn ba chục mét, ném được hòn đá này không phải dễ, phương chi gió lại thổi ngược. Nhưng chàng đã nín thở, vận chân khí vào cánh tay và mạnh mẽ vươn lên.

Tên mọi nhô cái đầu nhẵn thín ra khỏi mõm đá, chưa kịp bắn mũi tên thứ ba thì Văn Bình đã chồm dậy ném viên đá vào giữa miệng. Hắn vẹo người để tránh nhưng viên đá đã phá nát hai hàm răng, khiến hắn buông cây ná, té lăn cù từ mõm đá cao xuống giòng sông nước chảy cuồn cuộn.

Buru vừa từ dưới nước lóp ngóp bò lên, mình mẩy ướt như chuột lột. Tuy vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, trái tim đang đập thình thịch, Buru vẫn không bỏ được tính ba hoa cố hữu. Hắn reo hò như đứa trẻ:

-Hay quá, hay quá!

Văn Bình nhổ cây cọc chắn ngang đường, chạy vội đến nơi buộc thuyền. Chàng chìa tay cho Buru nắm, đoạn dìu hắn xuống con thuyền gỗ tròng thành. Nhưng chàng chưa kịp đặt chân lên nền gỗ thì phía sau mõm đá, nơi tên mọi da đỏ núp bắn hồi nãy có tiếng kêu thất thanh:

-Cứu tôi với, ai cứu tôi với!

Tiếng kêu cứu là của đàn bà và bằng tiếng Tây-ban-nha. Buru giật mình bước hụt ngã luôn xuống nước. Đến lượt hắn há họng kêu cứu. Song Văn Bình không có thời giờ quan tâm đến hắn, phần vì chàng muốn hắn uống đầy bụng nước cho bớt tánh ba hoa chích choè, phần vì chàng đang định thần tìm phương hướng. Tiếng kêu cứu phụt lên lần nữa rồi câm bặt sau những tiếng ú ớ, chắc hẳn người kêu cứu bị bịt miệng.

Văn Bình co chân nhảy lên tảng đá cao gần hai mét. Nhảy không cần điểm tựa mà lên đến hai mét, nghệ thuật của chàng quả không thua thành tích vẻ vang của các nhà vô địch thế vận hội. Chàng thót người một cái nữa, và trong chớp mắt, chàng đã lên được tới mỏm núi.

Tiếng ú ớ đang trở thành tiếng ằng ặc: nạn nhân bắt đầu bị bóp cổ ngạt thở.

Văn Bình xuất hiện lẫm liệt như thiên thần, giữa một đám đông mọi da đỏ. Chúng gồm trên dưới 6 tên, tên nào cũng trần truồng, xâm mình hai mầu đen đỏ trông gớm ghiếc, cả bọn đang xúm xít chung quanh một người đàn bà, đúng hơn một cô gái, phục sức quần áo săn tây phương.

Thấy Văn Bình, cả bọn bỏ cô gái, ùa lại phía chàng. Toàn thể đều trẻ, tên lớn tuổi nhất chỉ độ 25 là cùng. Tuổi 20, 25 là tuồi sung sức nhất của người da đỏ. Họ sống trong những điều kiện vệ sinh thiếu thốn nên tuổi họ bị thu ngắn, ít đàn ông thọ quá 40. Họ chết bệnh, chết đói một phần, phần khác, họ là nạn nhân của các cuộc thanh toán thường trực theo đúng luật của rừng xanh "mạnh được, yếu thua".

cả bọn đều có khí giới, một số đang cầm cung tên, hầu hết mang dao nhọn. Một loại dao nhọn sáng loáng nhằm Văn Bình đâm chém loạn xạ.

Văn Bình nhảy lùi lại. Chàng chưa vội trổ tài, vì việc đầu tiên là tìm cách giải cứu cho cô gái. Bọn mọi khá đông, khá khoẻ mạnh, được võ trang đầy đủ, song chàng không lo ngại, điều chàng lo ngại là trong khi chàng bận giao đấu, một tên trong bọn có thể kéo cô gái đi nơi khác, hoặc nhẫn tâm hạ thủ nàng. Đối với mọi da đỏ thì mạng sống con người chỉ bằng mạng sống con ong rừng khi lấy mật, họ rón luôn tổ ong, đem nghiền nát lẫn lộn với côn trùng và đất đen ăn ngon lành.

Thoạt tiên, Văn Bình tưởng bọn mọi da đỏ là đạo quân ô hợp, chỉ phất tay áo sơ-mi là ngã rụp, nhưng sau khi những ngọn dao mỏng bén ào tới, chàng không dám khinh địch nữa. về đao pháp, bọn mọi tỏ ra được huấn luyện thuần thục, không những riêng cho cá nhân, mà còn chung cả cho tập thể nữa. Tuy nhát dao có vẻ rời rạc, sự thật nó rất lợi hại. Từ lâu Văn Bình đã nghe nói đến một bộ lạc am tường đao pháp ở vùng rừng rậm Nam-Mỹ. Họ sinh sống trong những điều kiện bán khai nhưng về đao pháp, họ không thua kém các lò kiếm đạo hữu danh ở Nhật Bản.

Sợ dĩ họ giỏi đao pháp là vì ngoài cung tên ra, họ chỉ có đao thương làm khí giới độc nhất để chống lại sự tấn công giết chóc từ bốn thế kỷ qua của người da trắng. Vào thế kỷ thứ 15, khi người da trắng đặt chân lên đất Nam-Mỹ, tổng số dân da đỏ bản xứ được ước lượng khoảng 6 triệu người. Vậy mà ngày nay, người ta chỉ còn đếm được chưa đầy 400000 người da đỏ trên các vùng đất cũ. Gần đây, người da trắng vẫn không đình chỉ công cuộc tàn sát vô nhân đạo, trái lại, họ còn tiếp tục một cách vô nhân đạo và trắng trợn hơn nữa. Bộ đội thường thử tầm súng đại bác bằng cách bắn hàng loạt vào làng xóm da đỏ. Không quân xứ Pe-ru dội bom xăng đặc xuống khu da đỏ. Có những tổ chức bán công khai thuê bọn thiện xạ chuyên nghiệp đi sâu vào rừng rậm để giết dân da đỏ, giết xong thì chỉ cần mang cặp tai còn nóng và chưa khô máu của mọi da đỏ về là được trả tiền hậu hĩ.

Trước khi vượt biên giới Colômbi vào cộng hoà Equatơ, Văn Bình đã gặp một toán thợ săn tây phương. Toán thiện xạ này có nhiệm vụ hộ tống các chủ nhân ông dầu hoả da trắng đi tìm thú lạ, và thú độc nhất vô nhị này là săn bắn dân mọi.

Rút vào thâm sơn cùng cốc, các bộ lạc bản xứ đã khổ công rèn dao thật bén, chọn thuốc độc thật nhậy để tẩm vào đầu tên. Đao pháp của họ gần giống môn lục hợp đao của Thiếu Lâm tự Trung Hoa những số thế tấn và thủ căn bản chỉ có 12. Họ dùng dao nhẹ nên múa nhanh, hễ sáp lá cà là họ nắm chắc phần thắng cho dầu đối phương được trang bị bằng súng lục tự động.

Văn Bình hơi ngạc nhiên vì cả bọn đều chém luôn ba nhát, tương tợ thế "Liên hoàn tam đao" Trung Hoạ, nhưng dường như họ chém để thăm dò phản ứng của chàng chứ chưa thực sự ra tay mạnh mẽ và quyết liệt. Thấy chàng nhảy thoái theo võ Tàu, bọn mọi có vẻ chột dạ. Một tên trong bọn, có lẽ là cấp chỉ huy, ra lệnh một hồi bằng những tiếng ngắn líu la líu lô. Văn Bình nói giỏi hàng chục thứ tiếng, và nghe lõm bỏm trên dưới ba chục ngôn ngữ trên thế giới, kể cả tiếng các bộ lạc ăn lông ở lỗ nhưng chẳng hiểu tí gì. Sau khi nghe lệnh, bọn mọi cùng thu dao, thay đổi thức đánh: họ chia thành hai toán, vây hai mặt theo hình nan quạt, chàng đang dụ dự thì họ lại nhanh nhẹn biến làm bốn toán từ tứ phía xông lại kẹp chàng vào giữa với những đường dao tới tấp kinh hồn.

Văn Bình không còn cách nào khác, ngoài cách phi thân thoát khỏi vòng vây và dùng độc thủ tuyệt luân triệt hạ từng tên một. Chàng giật được lưỡi dao của tên mọi nhỏ nhất trong bọn, và đá mạnh vào chân hắn. Hắn lăng lông lốc từ trên cao xuống dốc, rồi tuột ùm xuống giòng sông chảy xiết.

Tên thứ nhì xán lại, chàng lia dao ngang ngực. Hắn nâng dao đỡ. Hai lưỡi dao từ một xưởng rèn của bộ lạc mà ra, song sức mạnh của Văn Bình đã tiện đôi lưỡi dao trên tay địch, nửa nhọn bay tuốt lên trời, nửa chuôi lôi phăng nạn nhân xuống giòng sông cuồn cuộn sau bạn hắn chưa đầy 30 giây đồng hồ. Tên thứ ba chém ngược từ dưới lên trên cùng một lúc với nhát thứ tư từ trên xuống dưới của tên mọi thứ tư đánh lén sau lưng.

Văn Bình lạng người sang bên tránh cả hai ngọn dao. Hụt chàng, họ chém dao vào nhau, cả hai đều bị thương, một tên trượt chân, kéo bạn chới với. Văn Bình quét nhẹ một ngọn độc cước và giải quyết êm lẹ.

Sạu một phút đồng hồ giao đấu, Văn Bình đã loại được khỏi vòng chiến bốn tên mọi. Còn lại hai tên thì một tên đang giằng co với cô gái mặc đồ săn, tên cuội cùng, có lẽ là cấp chỉ huy, vẫn bình thản chống tay phải vào hông, tay trái cầm dao, chỉ mũi nhọn xuống đất. Chắc hắn đợi đàn em thất trận mới chịu bước vào vòng chiến. Văn Bình biết hắn là cấp chỉ huy, vì so sánh với bọn mọi, hắn có tấm thân cân đối hơn, răng đều hơn, làn da cũng ít đen hơn, và đặc biệt là cặp môi không dầy cộm và nứt nẻ vì quanh năm ngày tháng quen nhai lá thuốc.

Cô gái tiếp tục la hét:

-Cứu tôi với, cứu tôi với!

Tiếng kêu của nàng như mũi dùi nhọn xoáy sâu vào trái tim Văn Bình. Chàng cảm thấy toàn thân đau đớn như thể cô gái mặc đồ săn là người thân thích. Vì vậy, chàng can thiệp ngay, không cần suy nghĩ. Lệ thường, chàng phi thân khá xa, vô địch thế vận cũng khó hạ nhục được chàng. Nhưng trong trường hợp ấy, chàng phải có đủ thời giờ đề khí nghĩa là vận động mãnh lực của châu thân dồn xuống hai chân để nhảy vọt lên.

Lần này chàng co giò là nhảy. Và nhảy nhanh như chớp xẹt, đối phương chưa kịp phản ứng thì khoảng cách 5 mét đã được thu ngắn thành gang tấc và chàng hục đầu vào bụng hắn. Một tiếng "ục" nồi lên, tạng phủ tên mọi đã bị đâm nát bấy. Tiếp theo tiếng "ục" thê thảm là tiếng "tỏm" của khối xương thịt nhầy nhụa chìm lỉm dưới sông.

Chỉ còn lại Văn Bình và tên mọi chỉ huy. Hắn vẫn chống nạnh, dáng điệu kiêu căng, Văn Bình hơi ghê răng như khi ăn đồ chua, trước luồng nhỡn tuyến lạnh lùng và nhất là cái cười man rợ của hắn.

Hắn hất hàm bằng tiếng Anh:

-Mời ông.

Văn Bình chưa kịp đáp thì tên mọi chỉ huy đã xuất chiêu như vũ bão. Hắn chống chân trái xuống phiến đá, chân phải co lên, đồng thời cầm cầm lưỡi dao ngửa sống lên trên, đâm thẳng ngực Văn Bình. Chàng hoảng hồn né tránh.

Chàng hoảng hồn, không phải vì đối phương áp dụng thế đánh kỳ diệu mà chàng chưa biết cách phá. Miếng đánh của hắn là một trong những thế sơ đẳng của lục hợp đao Trung Hoa. Dân mọi Nam-Mỹ mà đánh dao theo trường phái Trung Hoa! Đó là điều mà chàng không thể không lưu ý.

Văn Bình vừa thoát một thế "bạch viên hiến đào" thì tên mọi chỉ huy đã xoay ngang chân phải, nâng dao lên đầu, hai bàn tay nắm chặt chuôi dao như trong kiếm đạo Nhật Bản. Vèo một tiếng thật mạnh, đối phương tung ra chiêu "Tô Tần bội kiếm"....

Chàng đi từ đầu bán đảo châu Á qua Mỹ châu và tuột một mạch xuống Nam-Mỹ xa xăm, đinh ninh sẽ không bao giờ gặp lại quyền thuật Trung Hoa nữa. Chàng không dè tên mọi da đỏ lại là tay đao Trung Hoa lão luyện. Và thầy dạy hắn chỉ có thể là Quốc Tế Tình Báo sở...

Quốc Tế Tình Báo sở, cơ quan điệp báo thần sầu của chế độ cộng sản Hoa lục.... Tình Báo sở giành khá nhiều thời giờ huấn luyện để truyền thụ cho nhân viên các phép đánh đỡ đao thương cổ truyền Trung Quốc. Riêng về phép đao và thương, họ đã sửa chữa và hiện đại hoá. Những đường đao của tên mọi chỉ huy giống hệt với bài dậy trong trường đao thương toạ lạc tại ngoại ô thành phố Thượng Hải.

Tên mọi chỉ huy lại hươi dao chém và Văn Bình lại tránh. Hắn tưởng chàng sợ đòn, hắn không thể biết được rằng chàng đang dụ hắn thi thố hết tài năng. Hắn dè bỉu:

-Đồ hèn!

Văn Bình cười nhạt, liệng cây dao sáng loáng như nước xuống sông. Không cần đợi chàng thách thức, tên mọi đã a lại, đinh ninh chàng phải trả sự khinh địch bằng giá rất đắt. Hắn tiến chân trái một bộ, quét lưỡi dao từ sau ra trước, nhằm chặt phứt bả vai chàng theo một biến thể của chiêu "đảo bạt thuỳ liễu". Văn Bình đứng yên, vung bàn tay thật nhẹ nhàng. Ngón tay chàng chọc trúng khoảng giữa của lưỡi dao, gần đầu nhọn. Lưỡi dao vọt khỏi tay tên mọi bay ra xa như vừa bị trận cuồng phong cuốn thổi. Đỡ dao cách này là một bí quyết kỳ ảo của Thần Điệp đao pháp, trrong số huấn luyện viên đao thương của Quốc Tế Tình Báo sở chỉ có vài võ sư học nổi. Vì ngón tay phải canh thật đúng, nếu không bị chạm vào lưỡi bén hoặc đầu nhọn sẽ bị trọng thương.

Văn Bình giải quyết cuộc quần thảo bằng một ngọn đơn phi êm ái. Tên mọi chỉ huy nằm mọp luôn trên đống đá nhọn hoắt, không sao nhỏm dậy được nữa.

Chàng quay sang bên phải để tìm cô gái mặc đồ săn tây phương.

Nhưng nàng đã từ sau lưng chạy tới, ôm chầm lấy chàng. Chàng đã nghĩ lầm khi rời Me-tây-cỗ xuống Nam-Mỹ đồng khô co cháy, núi non trùng điệp này sẽ khó có thế tao ngộ giai nhân núi lửa. Trong trí chàng, vùng biên giới Me-tây- cơ là thiên đường tình yêu, chứ không là sa mạc cằn cỗi toàn mọi ăn thịt người như vùng biên giới Colômbi...

Chàng cảm thấy tâm thần lâng lâng, tin rằng người đẹp ôm cứng chàng để hôn. Đối với phụ nữ tây phương thì hôn đàn ông lạ nhiều khi là một cách biết ơn chân thành, vì dầu sao chàng cũng đã cứu mạng sống cho nàng. Nhưng cũng có thể nàng bị tiếng sét ái tình đánh ngang tai, nàng gặp chàng và yêu chàng ngay, như thể có hẹn từ kiếp trước.

Văn Bình nhắm mắt chờ làn da mát rợi cọ sát. Song, hỡi ôi, chàng đã vỡ mộng. Cô gái chỉ định ôm chứ chưa vòng tay quanh lưng chàng. Dường như một mãnh lực bí mật nào đó bắt nàng ngưng lại chờ đợi....

Chàng đành mở mắt ra. Cô gái mặc đồ săn hỏi chàng:

-Ông định đến căn cứ 4Q?

Văn Bình gật đầu. Có lẽ 4Q là cái tên tiền định. Vì khi người ta bói bài để tìm hiểu tương lai tình ái trong II con bài rút ra từ bộ bài 32 lá, nếu có đủ 4 con đầm, nghĩa là 4 Queens viết tắt là 4Q thì đương sự luôn luôn có số đào hoa[3].

Mới hôm qua ở Me-tâycơ, chàng đã vớ được một hơi 4 con đầm ưỡn ẹo. Chàng không tin: giờ đây chàng mới hiểu được là "nhất ẩm nhất trác giai nhân do tiền định". Bằng chứng là ở nơi khỉ ho cò gáy này chàng đã gặp giai nhân.

Thấy chàng gật đầu, nàng cười sung sướng:

-Thế hả? May cho em quá. Em cũng đang tìm đường đến căn cứ 4Q. Mấy cơn động đất liên tiếp đã làm đường xá kẹt cứng, ông đến 4Q co công việc gì ạ?

À ra nàng định làm điều tra viên! Chàng nhún vai, giọng tỉnh khô:

-ồ, đến thăm một người bạn.

Văn Bình cố tình trả lời lững lờ để cô gái tò mò không thể tò mò thêm nữa. Nhưng ngược lại, nàng đã hỏi thẳng không chút úp mở:

-Ông có thể cho em biết người bạn của ông trong căn cứ 4Q là ai không?

Văn Bình nhìn thẳng giữa mắt nàng. Nàng khó thể là con gái nhà lành, lạc đường trên xa lộ biên giới rồi sa vào cạm bẫy của bọn mọi da đỏ tàn bạo. Nàng có tấm thân mảnh mai, yếu đuối thật đấy, nhưng theo kinh nghiệm, chàng đã gặp cả chục, cả trăm cô gái cũng mảnh mai, yếu đuối như nàng mà giỏi nhu đạo cận chiến, biết tác xạ chính xác, và là nhân viên nguy hiểm của địch... Nàng chính là nhân viên của địch cũng nên.

Đã thế "dĩ độc trị độc", Văn Bình sẽ nói toạc cho nàng biết nhiệm vụ của chàng. Chàng được phái đến căn cứ 4Q để gặp một người quan trọng, tên là Doarê. Anbe Doarê. Chàng bèn nắm tay cô gái, cười mỉm:

-Bạn tôi là ông Anbe Doarê.

Cô gái bỗng reo như đứa trẻ:

-Ông nói sao? Bạn ông là Anbe Doarê hả?

Văn Bình lại gật đầu. Tuy nhiên, chàng lùi lại một bước, gân cốt chùn dãn, chuẩn bị đối phó trong trường hợp cô gái rút súng hoặc phóng atemi. Chàng không định giết cô gái mà chỉ tìm cách chặn đòn và đoạt khí giới.

Nhưng trên thực tế, Văn Bình đã thận trọng một cách hoàn toàn vô ích. Cô gái bước tới trong khi chàng lùi, song hai cánh tay nàng không luồn vào túi lấy khí giới mà là giang ra, giang rộng ra, và ôm ngang bụng chàng.

Giọng nói của nàng trở nên vui tươi và nhí nhảnh thêm lên:

-Trời ơi, em cũng đến căn cứ 4Q tìm Anbe Doarê.

Doarê, cái tên bề ngoài có vẻ hiền lành lại là đầu mối một công tác quan hệ mà Văn Bình có bổn phận làm tròn... Chàng đang bần thần, chưa định xử trí ra sao thì cô gái mặc đồ săn đã thật sự dính vào người chàng, và chao ôi, nàng ghé đôi môi thơm tho vào miệng chàng, hôn một cách ác liệt.

Sực nhớ đến nhiệm vụ, Văn Bình vội nhả nàng ra:

-Cô, cô là ai?

Thiếu nữ đeo cứng lấy bả vai chàng:

-Em ấy à? Em là Doarê....

Văn Bình bàng hoàng như bị ai đánh nhằm mê huyệt. Con người lạ lùng chàng sẽ gặp được gọi là Doarê. Cô gái đang ôm hôn chàng, và nói là đến căn cứ để gặp Doarê cũng mang tên Doarê. Doarê là ai? Doarê là giống đực hay giống cái? Chàng đang mê hay tỉnh?

Chàng lắc đầu nhiều cái thật mạnh để xua đuổi những ý nghĩ rối mù.

Và trong một loáng đồng hồ, Văn Bình bỗng nhớ đến một thị trấn biên giới, được mệnh danh là thị trấn Doarê. Mọi chuyện lạ lùng bắt đầu từ khi chàng đặt chân xuống thị trấn này.

Một thị trấn ái tình dọc biên giới Me-tây-cơ!...

Và tại thị trấn ái tình này, người ta đã yêu cầu chàng vượt biên giới Colômbi để tìm kiếm Doarê


Được sửa bởi Admin ngày Wed Nov 08, 2017 2:30 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:25 pm

Chương 2. Biên giới dạ lạc

Trước khi lên đường qua tây bán cầu, Văn Bình đọc lại lần chót những lời dặn dò của ông tổng giám đốc được đánh máy bằng máy chữ IBM trên tờ giấy vàng có tác dụng tan thành bột nếu được ngâm trong nước. Chàng hơi ngạc nhiên khi thấy tên chàng bị đánh sai. Thay vì "đại tá Tống Văn Bình", Nguyên Hương đánh lộn ra "đại tá Tống Văn Tình". Trên bàn máy IBM, chữ B ở xa chữ T gần đốt ngón tay, Nguyên Hương không thể lầm lẫn, nàng có tài đánh máy không bao giờ sai mặc dầu không cần nhìn chữ, nàng lại quen tên chàng vì trong đời nàng đã nhắc đến hàng trăm triệu lần.

Chàng định gọi điện thoại từ Tân-sơn-nhứt về văn phòng cho nàng song gã bổi của nhà hàng đã lễ phép tiến lại và hỏi nhỏ vào tai chàng:

-Thưa, ngài có phải là đại tá Tống Tình không ạ?

Chàng lắc đầu:

-Không.

Gã bổi nhai nhải:

-Thưa, có điện thoại gấp gọi ngài. Cháu được lệnh tìm kiếm một ông khách mặc áo mông-ta-gu màu huyết dụ, quần chẽn vàng, giầy trắng, dây lưng đỏ, trong nhà hàng chỉ mỗi mình ngài phục sức như vậy. Ngài giận bà nhà phải không? Cháu xin lỗi đã làm ngài buổn.

Văn Bình cau mặt đứng dậy. Gã bổi nói đúng. Trong đám thực khách ngổi chờ máy bay, chỉ có mình chàng phục sức kiểu híp-py đỏ vàng trắng đen loạn xạ. Chẳng riêng gì trong nhà hàng Tân-sơn-nhứt thưa thớt, dẫu trong chợ Bến Thành đông nghẹt người ta cũng tìm chàng trong chớp mắt. Biết là Nguyên Hương xỏ ngọt, chàng đành chào thua. Chàng vừa áp ống nói vào tai thì Nguyên Hương đã tuôn ra một bài "luân lý giáo khoa thư lớp ba":

-Chào ông đại tá Tống Tình, em không đánh máy lầm đâu, em cố tình đấy! Anh coi chừng, chuyến này qua Mễ-tây- cơ phải cải tà quy chính, anh chỉ được phép đi coi múa vu-đu, coi đá gà, coi đấu bò, ngoài ra không được làm gì hết. Em đã mua vé sẵn cho Quỳnh Loan, nếu anh thất hứa thì đừng trách em ác... Em có tai, mắt khắp nơi, anh đã biết.

Nguyên Hương chỉ nói thế rổi cúp điện thoại. Nàng dọa thật, không phải dọa chơi, nhân viên của ông Hoàng ở khắp nơi trên thế giới đều là tai mắt của nàng. Quỳnh Loan, mẹ của Văn Hoàng, con trai duy nhất của chàng, lại vừa bình phục sau cuộc giải phẩu ruột dư, chàng không thể làm nàng phật ý, và chàng lại không thể làm Văn Hoàng phật ý sau những ngày, những tuần dài lê thê nó bị Quốc Tế Tình Báo sở bắt giam[4].

Vì vậy Văn Bình rầu thối ruột trên chuyến phi cơ qua Mễ-tây-cơ. Nhưng Nguyên Hương biết một mà không biết hai vì cho Văn Bình đi Mễ cũng như thả hổ về rừng. Nguyên Hương không biết rằng Mễ là thiên đường của giống đực rựa. Múa vu-đu vũ cổ truyền tôn giáo, cũng là di.p để biểu diễn ái ân xác thịt. Đá gà cũng vậy, người ta thường biến các cuộc đá gà thành hội họp yêu đương. Trai gái đa tình rủ nhau đi xem đấu bỏ những ngày cuối tuần để lấy sinh lực cho ban đêm rửng mỡ.

Phái Văn Bình qua Mễ-tây-cợ, dẫu với công tác nghề nghiệp quan trọng, hết sức bận bịu, thập phần nguy hiểm, thật là dại dột, phương chi chuyến này, Văn Bình lại được đặt chân xuống Juarez, một thị trấn dạ lạc dọc biên giới Mễ- tât-cơ, nơi mà đàn ông khỏe mạnh và đàn bà khỏe mạnh coi là động tiên.

Giới ăn chơi đã đặt tên cho Doarệ là họa hậu biên giới, nói cách khác, trong số các th[trấn biên giới thì Doarê là địa điểm có nhiều thú yêu hoa đặc sắc nhật. Người Mễ có tính "yêu chết bỏ", tại Doarê khẩu hiệu "yêu chết bỏ" đã được tôn làm khuôn vàng thước ngọc cho gần ba trăm ngàn dân dịa phương và khách du hí từ Mỹ kéo sang nườm nượp.

Văn Bình đến Doarê với nhiệm vụ tóm bắt một tên trùm buôn gái người Á. Chàng mong công việc kéo dài, càng dài thời gian càng lợi, song chỉ một tuần là hoàn tất. Theo chỉ thị, chàng phải trở về Sài Gòn ngay sau khi công việc kết thúc. Đêm cuối cùng ở tại Doarê, chàng dự tính du hí suốt sáng, chàng sửa soạn lên đường thì thần may mắn hiện ra.

Hiện ra với đại tá Pít, cộng sự viên thân cận của ông Sì-mít, tổng giám đốc C.I.A., Trung Ương Tình Báo Mỹ.

Khi ấy chàng đang say sưa với người đẹp trong hộp đêm 4 Bông Hổng. Danh từ "ngựời đẹp" ẹ quá đáng, vì khác Sài Gòn, thú vui xác thịt đã được hợp pháp hóa tại Doarê, chị em ta khó thể hành nghề lậu thuế trước đạo quân cảnh sát và mật báo viên hùng hậu. Thú vui của Doarê được coi là khá độc đáo, vì ngoài sự lựa chọn tùy thích, khách còn có thê xem xi-nê, không phải xi-nê con heo thường thấy khắp nơi, mà là xi-nê sống, nam nữ diễn viên thi thố tài năng ái tình trong phòng gắn máy lạnh, bên ngoài có phú-lít canh gác cẩn mật.

Cái khoái thứ hai là khách có thể ngủ đêm an toàn khỏi phải gối đầu trên bót-phợi, nơm nớp sợ túi tiền không cánh mà bay. Khách có thể treo y phục lên mắc, và tự do kéo một giấc say sưa cho đến trưa hôm sạu. Ngoài sự an toàn về tiền bạc, khách còn được hưởng sự an toàn về sức khỏe nữa. Đại khái các quán dạ lạc đều được thiết trí như nhau: khách bước qua khung cửa ngay bên mũi một cảnh sát viên mặc đổng phục, và bên trong đèn sáng, với hàng chục cái bàn, hàng chục cô gái, khách được quyền tuyển lựa, xong xuôi được quyền hỏi giá (nếu cần có quyền trả giá) rổi nữ điều dưỡng của Nhà Nước sẽ đến tận giường để... khám. Nếu khách có bệnh, họ sẽ mời ra ngoài.

Văn Bình la cà tại hộp đêm 4 Bông Hổng, không phải để giải quyết vấn đề xác thịt. Chàng thuộc một đẳng cấp đàn ông khác thường, chàng yêu si mê, yêu cuổng loạn, nhưng vẫn giữ vẻ bay bướm thượng lưu, chỉ những khi bị công tác bắt buộc, chàng mới mò xuống xóm yên hoa. Chàng đến hộp đêm này là vì trót hẹn với người yêu mũm mĩm của tên trùm buôn gái tơ mà chàng vừa bắt giữ, giao lại cho cảnh Sát Quốc Tế Interpol. về phương diện tư pháp, nàng là kẻ có tội, ra tòa, quan tòa hiền hậu nhất cũng phải tuyên phạt 2, 3 năm tù là nhẹ, song nàng lại có bộ mặt và tấm thân quá đẹp, miệng cười quá xinh và những cử chỉ quá hấp dẫn nên chàng đã mở cửa hậu cho nàng trốn thoát. Kể ra, Văn Bình không đến nỗi dại gái: sở dĩ chàng giải vây cho nàng chẳng phải vì chàng bị những đường cong núi lửa của nàng hớp hổn, mà chính nàng đã giúp chàng thập cổ tên anh chị quốc tế tuy nàng đối với hắn theo tình "già nhân ngãi, non vợ chổng" từ lâu. Chàng đột nhập vào sào huyệt tên anh chị, hắn bị kẹt trong phòng tắm nên ra lệnh cho nàng dùng súng bắn chàng, nàng giơ súng lên, không chịu lảy cò, vì, như lời nàng tâm sự, "anh đẹp trai quá, em không đủ can đảm giết anh".

Tên nàng là Têquila. Sáng hôm sau, chàng phải giả từ thị trấn Duarê về quê hương, quê hương đáng yêu, chàng nhớ lắm, nhưng vũ trường bị đóng chặt, thanh niên đa tình chỉ có thể tìm quên ở những địa ngục buổn nôn mang cái tên buổn nôn như Chuổng Chó, cho nên Văn Bình đành thất lỗi với quê hương để vọng ngoại Doarê. Sáng hôm sau, nàng cũng phải giả từ Doarê vì công an Interpol săn đuổi nàng ráo riết như phù thủy săn đuổi tà ma.

Tên nàng là Têquila có khác, ngổi bên nàng, Văn Bình có trái tim đúc bê-tông mà cũng ngả nghiêng. Têquila là một trong các loại rượu mạnh nấu bằng mía được thông dụng trong giới nhậu Mễ-tây-cơ. uống têquila phải theo một thể thức đặc biệt: mỗi ly rượu được kèm theo với múi chanh và dúm muối hột. Có người rắc muối ở lưng bàn tay, thè lưỡi liếm muối, sau đó mút một hơi chanh, mùi mặng hòa trộn với mùi chua rổi mới mạnh dạn nâng ly, nốc cạn.

Nhưng chỉ có dân nhậu hữu hạn mới đủ bản lãnh uống cạn ly têquila. Khách chơi Mỹ, thân hình đổ sộ, huýt-ky uống thả giàn không say vậy mà sợ têquila hơn đàn bà sợ ông già 35, khi uống, họ chỉ dám nhắp từng hớp nhỏ. Vì uống một ngụm cạn ly là đâu óc choáng váng, uống cạn ly thứ nhì là phải dùng bốn chân mới đi được.

Cô gái tứ chiến đem lòng yêu Văn Bình vì chàng đẹp trai, đến khi choàng vai bá cổ chàng, nàng còn yêu hơn, vì điệu nghệ của chàng vượt xa thanh niên Mễ một bậc, chàng nốc têquila vô hổi kỳ trận từ chập tối đến nửa đêm, đốn ngã gần hai chai mà mặt vẫn tỉnh khô.

Đêm ấy, nhà hàng 4 Bông Hổng có một cuộc trình diễn thoát y đặc biệt. Thoát y Mễ khác thoát y ở nơi khác, Pháp thoát y huyền ảo, Nhật thoát y trơ trẽn, Sài Gòn thoát y nửa nạc nửa mỡ là vì sở kiểm tục Pháp khác sở kiểm tục Nhật, sở kiểm tục khác sở kiểm tục Sài Gòn, còn ở Mễ, sở kiểm tục rất hiền, nếu không hiền thì tiền chè là cũng làm ông cò nhũn như con chi chi, song gái thoát y Mễ lại chỉ hành nghề theo khoái cảm từng lúc. Không khoái thì chỉ thoát y theo kiểu Sài Gòn, khoái thêm chút nữa thì cỡ bỏ tất cả, còn khoái thêm thêm chút nữa thì ưỡn ẹo giữa đám du khách sẳn sàng chiều chuộng như giống nghiên nguyên, khoái hết mực thì tìm trong đám vương tôn công tử để chọn ông hoàng một đêm.

Vô phước cho Văn Bình (theo một số người biết chuyện và quen thân thì đó lại là tốt phước bậc nhất) cô gái thoát y trên sân khấu bỏ túi lại tuyển chọn chàng làm ông hoàng đặc biệt. Cô gái khá cân đối, nhan sắc khá mê ly, không mất một đổng xu teng mà được sánh vai mỹ nhân thì còn thú nào bằng, nên Văn Bình nụốt nước miếng ừng ực. Cô gái tiến lại, cọ sát da trắng nõn vào vai chàng, chàng liếc nhìn Têquila chờ nàng gật đầu hoặc tiếp tục giữ vẻ mặt thản nhiên thì sẽ đứng dậy.

Nhưng bão táp hãi hùng đã xảy ra....

Cộ gái thoát y vừa chạm người chàng, nụ cười tươi như hoa mới nở được non nửa trên cặp môi dầy tràn trề nhựa sống thì "hấp". Têquila đậ xô ghế. Máu giang hổ của thời cặp đôi với gã trùm buôn gái quốc tế sôi sục trong huyết quản, nàng rút phăng chiếc giầy cao gót, choảng thẳng tay vào giữa mặt tình địch. Chắc Têquila đã được huấn luyện về cận vệ chiến nến đánh đòn đúng phương pháp, đế giầy nhọn hoắt bằng nhom tiện phăng chiếc răng cửa của người đẹp thoát y. Cái răng, cái tóc là góc con người, hàm răng của vũ nữ thoát y lại đáng quý hơn hàm răng của người thường, nhiều khi bảo hiểm cả chục ngàn đô-la, vậy mà ngay trọng phút xáp trận đầu tiên, Têquila đã tiện mất một cái, cái răng cửa đắt tiền nhất. Cô gái thoát y rú lên, lăn xả vào, cầm chai rượu giáng vào trán Têquila. Bên nửa cân, bên tám lạng. Tệquila xin được củạ địch một cái răng cửa thì đền lại cô gái thoát y cũng làm trán Têquila rách một mảng dài. Điên tiết, Têquila giành lấy cái chai, ghè vào mép bàn đập vỡ cổ, mảng thủy tinh lởm chởm, và dùng làm khí giới tả xụng hữu đột. Cô gái thoát y ngã chúi xuống đất máu me đầy mặt: nếu Văn Bình can chậm thì nàng đã biến thành đống thịt nhầy nhụa, có nằm bệnh viện thẩm mỹ thì cũng tốn 4, 5 chục ngàn mỹ kim và 4, 5 tháng vá thịt, tiếp da mới mong phục hổi được phân nửa sắc đẹp ngày trước.

Quán rượu lập tức biến thành sân khấu của một cuộc loạn đả. Thực khách nổi máu anh hùng chia làm hai phe, song hầu hết đều đứng về phe cô gái thoát y. Lý do của sự thiên vị này rất dễ hiểu: ngạy từ khi nàng múa nhảy xong, rời bục gỗ xuống ngổi cùng bàn với Văn Bình, mọi người đều ngó chàng bằng cặp mắt thèm thuổng pha lẫn tức tối. Họ ghen tị vì chàng đẹp trai hơn họ. Họ ghẹn tị vì chàng đã phỗng người đẹp củạ họ. Họ muốn dần cho chàng một trận mà chưa tìm ra cơ hội. Cơ hội này đã đến. Trận đấu giữa hai mỹ nhân vừa chấm dứt thì trận đấu khác diễn ra, ác liệt hơn, giữa bọn đàn ông tự ti mặc cảm và Văn Bình. Họ xáp lại, toan ăn tươi nuốt ssống chàng. Họ là dân đấu bò rừng nên có những cử chỉ tiến thoái nhanh nhẹn và nhẹ nhàng, sức đánh cũng khá mạnh mẽ. Nhưng họ không thể ngờ được con người uống rượu têquila như hũ chìm trong hộp đêm 4 Bông Hổng kia lại là đệ nhất võ sư. Bởi vậy, họ chưa léo hánh được đến da thịt Văn Bình thì đã lăn chiêng, đầu bưu, tai sứt, máu chảy đầm đìa.

Tinh thần dân tộc lan sang cả cảnh sát viên. Thấy đổng bào của họ ngã xuống như sung rụng, họ liền xông vào trợ chiến. Văn Bình vừa đánh đỡ, vừa tìm cách rút ra ngoài. Kinh nghiệm cho biết mãnh hổ nan địch quần hổ, nếu cuộc quần thảo kéo dài, chàng sẽ phải đương đầu với toàn thể người Mễ ở Doarệ; chàng lại không dám nặng tay sợ gây thương tích trầm trọng, cho nên thượng sách là chuổn êm, càng sớm càng tốt.

Nhưng vòng vây mỗi lúc một thắt chặt, chàng cảm thấy không còn cách nào khác ngoài cách xử dụng đòn hiểm. May thay, cô gái thoát y tỉnh dậy trên sàn nhà, nàng quên bẵng bị đau ê chề, nàng chỉ nghĩ đến Văn Bình đáng ỵêu và đáng thương đang bị đổng bào nàng vây đánh trối chết, nên nàng thu hết sức lực vào miệng, thét lớn yêu cầu mọi người ngừng lại. Mỹ nhân Têquila cũng khóc rống lên thảm thiết.

Sự can thiệp của người đẹp chỉ cứu được Văn Bình tạm thời. Bọn đàn ông Mễ chợt nghĩ đến lý do thầm kín đã khiến Têquila và cô gái thoát y bắt tay giải hòa sau khi đánh nhau mang đầy thương tích. Lý do này là bộ mã khôi ngô và điệu nghệ của thằng thanh niên da vàng có luổng mắt quyến rũ và cái miệng ngọt ngào, vô cùng ngọt ngào. Phải làm hắn đui một mắt. Phải làm hắn sứt một bên môi. Nếu hắn tiếp tục lành lặn, tiếp tục vận dụng hào quang kỳ lạ của đôi mắt, sức hút quái đản của cặp môi chẳng sớm thì muộn, vợ con họ, nhân tình bệ bỏng của họ, đàn bà cọn gái thuộc mọi lứa tuổi, mọi thành phần trên xứ sở của họ, sẽ đeo dính lấy. Phải tặng hắn một bài học để đời, nếu không....

Một gã thực khách lực lưỡng, cánh tay xâm tràm, đầu đội mũ rơm nghênh ngang, lớn tiếng hê mọi người tiếp tục đánh Văn Bình. Đám đông còn trù trừ trong khi gã rút dao nhọn trong mình ra, bước lên sửa soạn ăn thua đủ.

Thì đại tá Pít lò dò tới.

Xíp-lê cảnh sát reo vang. Nếu dân Sài Gòn coi tu-huýt cảnh sát là một trong nhiều âm thanh quen thuộc, cũng quen thuộc như tiếng cô bé rao bánh mì trong hẻm buổi sáng, thì dân Mễ, đặc biệt là dân Doarê lại cho là chuyện hãn hữu. Rất ít khi xảy ra cảnh xe công an mở đèn đỏ huýt còi oạp oạp oạp oạp mở đường, nên sau loạt síp-lê oạp oạp đầu tiên, đám đông giãn ra, đoàn xe díp thắng lại kèn kẹt bên ngoài, một đống người mặc đổng phục nhảy xuống, chạy vào thình thịch.

Pít, cộng sự viên của ông Sì-mít cùng đến với ông cảnh sát trưởng dịa phương. Sau vài phút đổng hổ líu la líu lo tiếng Tây-ban-nha, cuộc ẩu đả được giận xếp ổn thỏa, và mọi người bắt tay nhau, ôm nhau hôn rối rít, rượu têquila được mang ra cả két, toàn thể sà vào uống say bí tỉ.

Sở dĩ có cuộc ẩu đả vô ích là do sự thận trọng vô ích của C.I.A.. Theo chỉ thị của ông Sì-mít, đại tá Pít qua thị trấn Doarê để gặp Văn Bình. Vì không muốn lộ diện giữa đám anh chị quốc tế, đại tá Pít nhờ một mật báo viên hành nghề vũ nữ thoát y trong thị trấn biên giới làm nhiệm vụ móc nối. Mật báo viên này là cô gái có những đường cong nẩy lửa đã tóng tình Văn Bình sau màn biểu diễn cởi quần áo trên sân khấu trong hộp đêm 4 Bông Hổng....

Phương pháp móc nối giản dị nhất và tiện lợi nhất là nói nhỏ vào tai Văn Bình là đại tá Pít đang chờ chàng tại văn phòng viên cảnh sát trưởng. Đại tá Pít cũng dặn nàng nói nhỏ vào tai Văn Bình như vậy. Nhưng đến khi rời bục gỗ, ngổi sát Văn Bình, cô gái mật báo viên C.I.A. bỗng quên hết chỉ thị và chỉ nghĩ đến ái tình.

Cuộc đấm đá hỗn độn đã diễn ra ngoài ý muốn của nàng. Nàng kêu cứu vì thấy Văn Bình đẹp trai, nhưng phần khác vì chợt nhớ lại nhiệm vụ.

Trong cuộc đấu tửu xô bổ tiếp sau, trai gái ôm nhau nằm la liệt trên sàn nhảy hộp đêm. Còn Văn Bình và đại tá Pít thì lặng lẽ rút ra ngoài, trèo lên xe díp, phóng một mạch qua biên giới, về lãnh thổ Mỹ.

Đại tá Pít là bạn thân của Văn Bình. Hai người quẹn nhạu vì tình đổng nghiệp, nhưng sau nhiều điệp vị hoạt động bên nhau, họ trở thành bạn thân. Lần hoạt động gần nhất, Văn Bình đã cứu đại tá Pít khỏi chết tại Thái Lan. Khi ấy Pít vừa cưới vợ sau nhiều năm thờ chủ nghĩa độc thân, và vợ trẻ của chàng vừa đẻ con.

Mới xa bạn chưa đầy một năm mà Văn Bình thấy bạn đã đổi khác, gần như hoàn toàn đổi khác, chàng nhận thấy những phương tây chóng già, Pít mới 30, nghĩa là còn trẻ hơn chàng, thế mà bụng đã bắt đầu phưỡn ra, cạnh tranh với lồng ngực rụch rịch thót lại và tệ hơn nữa là Pít sắp sửa có hai cằm. Hồi Văn Bình gặp Pít trong phòng giấy ông Sì-mít ở Hoa-thịnh-đốn, trước ngày chàng đội lốt bác sĩ Lý Dĩ đột nhập lãnh thổ Liên Sô, chàng đã phải tắc tỏm khen

ngợi những bắp thịt tròn lẳn và cái bụng mỏng lét của đại tá Pít. Pít là đệ tử trung thành của môn chạy bộ, và nhất là môn quần vợt. Dầu bận bịu đến đâu, chàng cũng giành mỗi buổi chiều một giờ để vác vợt ra sân quần. Chủ nhật nào chàng cũng hì hà hì hục chạy bộ từ trụ sở Trung ương C.I.A. ở ngoại ô thành phố về tận vùng quê xa lắc.

Văn Bình bàng hoàng vì đại tá Pít cường tráng và cân đối ngày xưa không còn nữa. Năm ngoái, Pít đã thay đổi, dáng đi bắt đầu lừng khừng theo điệu công chức cao cấp khiến Văn Bình lo âu và thương hại. Nhưng Pít đang đứng trước mặt chàng còn lừng khừng hơn nữa.

Pít xô cửa một tiệm ăn bên đường. Đêm đã khuya lắm song con người ở đây dường như không quan tâm đến sự phân biệt ngày và đêm, quán nào cũng đều mở cửa, và có khách lái xe qua, đổ xô vào ăn uống đông nườm mượp.

Văn Bình ngần ngại nhìn bạn. Ngón tay xưa vuông cạnh vì được tập dượt hàng ngày để đánh atêmi đã trắng bệu, một màu trắng lười biếng và bẩn thỉu. Cái nhẫn cưới bằng vàng tây nằm chềnh ềnh trên làn da mềm nhũn, vết tròn in hằn vào thịt, chứng tỏ Pít đã tăng nhiều cân thịt từ ngày lấy vợ, và chắc chắn chàng chưa hề có can đảm tháo nhẫn cưới ra giấu giếm trong túi, để nói dối giai nhân ngoài phố là chàng chưa vợ.

Bắt gặp đôi mắt tò mò của Văn Bình, Pít đỏ mặt:

-Dạo này, phải ở lì trong văn phòng, không được đi đâu nên tôi mập quá!

Rổi đổi giọng:

-Chẳng bù với anh, quanh năm suốt tháng được tự do bay nhảy, không bị ai dòm ngó, ngăn cấm.

Văn Bình đỡ ly hýt-ky do bạn vừa rót đầy:

-Tại sao anh biết tôi ở Doarê? ông Sì-mít hay ông Hoàng?

Đại tá Pít đáp:

-Cả hai.

-Ông Hoàng muốn tôi tạm thời hợp tác với các anh?

-Phải.

-Mật cụ liên lạc?

Mỗi lần Văn Bình xuất ngoại vì công việc hoặc vì du hí, ông Hoàng đều không quên dặn chàng mang theo một vật dụng tùy thân, hoặc là nửa cái mu-xoa, cái cà-vạt, hoặc cái quẹt máy, trọng trường hợp người nào xuất trình mật cụ định sẵn thì chàng được quyền hợp tác trong khi chờ đợi sự xác nhận bằng điện tín của ông Hoàng.

Đại tá Pít rút cái quẹt máy Rôn-sơn trong túi ra, bật cho lửa cháy rồi tắt. Chàng bật tắt như vậy 3 lần. Văn Bình cười:

-Cám ơn anh. Xin anh tha lỗi. Bạn là bạn, nhưng công việc là công việc. Giờ đây, ông Sì-mít muốn tôi làm gì? Ám sát ông đại sứ Liên Sô tại Mễ-tây-cơ? Lẻn vào phòng riêng ông tổng thơ ký u Thant để chụp trộm bức thư cho Chu Ân Lai vừa gởi đến liên hệ đến cuộc chiến Đông Dương? Bảo anh biết, tôi chán đấm đá, chán bắn súng lắm rồi, nếu ông Sì-mít chỉ cần một võ sĩ nhu đạo, một tay bắn giỏi thì tôi xin kiếu.

Văn Bình cười ha hả. Tiếng cười ngạo nghễ của chàng làm tửu khách trong nhà hàng giật mình quay lại nhìn. Chàng tưởng Pít khó chịu, vì cười to để mọi người lưu ý là điều cấm kỵ trong nghề, nhất là mỗi khi hoạt động ở nước ngoài, và không biết vì cố ý đùa nghịch hay vì lây bệnh cười bất chấp thiên hạ của Văn Bình mà chàng phá lên cười một tràng dài. Rồi như tuân theo một lệnh vô hình, mọi người trong quán rượu đêm đua nhau cười ha hả.

Thấy lạ, Văn Bình đột nín cười. Song đại tá Pít đã xua tay:

-Cười nữa đi. Cứ cười tự do, đừng sợ gi cả.

Văn Bình ghé miệng sát tai bạn:

-Tôi chẳng hiểu gì hết. Tại sao mọi người lại cười một loạt như vậy?

Pịt bụm miệng:

-Vì họ thấy tôi cười.

-Tại sao?

-Vì nhà hàng này là một trạm của C.I.A.. Tửu khách đều là nhân viên dưới quyền tôi. Họ sợ tiếng cười của anh làm nhân viên của địch núp bên ngoài chú ý nên họ rủ nhau cười để che lấp.

-Có nhân viên của địch núp bên ngoài?

-Dĩ nhiên. Nhà hàng này nằm trên lộ trình điệp viên cộng sản trà trộn vào Mỹ.

-Tại sao anh không đưa tôi đến nơi khác an toàn hơn, lại chúi mũi vào xó xỉnh bất tiện này?

-Vì tôi cần kiểm soát lại xem anh có bị GRU hoặc Tình Báo sở bám sát hay không? Đối với họ, anh là chai mật. Ruổi thấy mật tất bu lại. Trong khi chúng mình trò chuyện và cười đùa ở đây, một số nhân viên C.I.A. khác đang túc trực kín đáo bên ngoài. Địch nghe tiếng cười xán tới, nhân viên của tôi sẽ xập còng sắt vào tay chúng. Từ mấy ngày nay, chúng tôi đã phải áp dụng biện pháp an ninh tối đa. Và lệnh báo động số 3 đã được ban hành cho nhân viên C.I.A. trên toàn nước Mỹ kể từ sáng qua.

-Kể từ sáng qua?

-Phải. Từ đúng 8g25' sáng qua, ngay sau khi ông Sì-mít mất liên lạc với căn cứ 4Q.

-Căn cứ hỏa tiễn liên lục địa.

-Không phải. 4Q là một căn cứ dọc biên giới hai quốc gia Nam-Mỹ, Côlômi và Êquatơ.

-Hừ... trong đầu anh có những gì anh hãy tuôn hết ra cho tôi nghe. Tôi chẳng hiểu mô tê gì cả. Hai quốc gia nhỏ như lỗ mũi ơ châu Mỹ la-tinh kia có liên quan gì đến ông Sì-mít, và C.I.A. mà các anh phải báo động, nhất là lệnh báo động số 3, chỉ dành riêng cho những trường hợp nguy nan gia trọng?

-Vâng, tình hình đang nguy nan đến mực độ gia trọng nên ông Sì-mít mới vời đến tài ba đặc biệt của anh. Chắc anh cũng biết là C.I.A. đã ký nhiều thỏa ước bảo vệ an ninh bí mật với một số quốc gia Nam-Mỹ, trong số đó có Côlômbi và cộng hòa Equatơ. Những mật ước này gồm nhiều điều khoản khác nhau, tùy theo nhu cầu địa phương và mức độ liên hệ với C.I.A., nhưng đại để đều nhằm loại trừ ảnh hưởng cộng sản, nhất là loại trừ các bộ đội du kích do Cuba tổ chức với sự yểm trợ kỹ thuật và tài chánh của GRU Sô Viết và Quốc Tế Tình Báo sở Trung Quốc. Căn cứ 4Q trên giấy tờ là một trung tâm khí tượng vì nó được thiết lập trên vùng đồi núi cao nhất Nam-Mỹ, với nhiệm vụ cung cấp mọi tin tức và dữ kiện thiên văn học cho các quốc gia trong khu vực. Nhưng tôi đã nói với anh, tính cách thăm dò khí tượng của căn cứ 4Q chỉ là hình thức ngụy trang, trên thực tế, nó chính là đài quan sát điệp báo của C.I.A. tại miền duyên hải tây bộ Thái Bình Dương, liên quan đến các quốc gia ven biển là Vênêduêla, Côlômbi, Equatơ, Pêru, Bôlivi, Trí Lợi và Á-căn-đình, trong thời gian gần đây, đài nghe ngóng 4Q đã khám phá ra một sự kiện thập phần quan trọng, một số tiềm thủy đỉnh Trung Cộng ghé bờ và đổ bộ nhân sự cũng như dụng cụ lên những vùng bỏ hoang dọc bờ biển.

Nói cho đúng, sự đổ bộ lén lút của tàu ngầm Trung Cộng vào miền duyên hải hiểm trở và vắng vẻ này không phải là chuyện hãn hữu: trong quá khứ, du kích thân cộng dịa phương đã bị bắt, võ khí bị tịch thu khá nhiều, sở dĩ từ mấy ngày nay Trung Ương C.I.A. quan tâm đặc biệt là vì được tin dường như Trung Cộng vừa cho đổ bộ hỏa tiễn cỡ trung tầm với đầu đạn nguyên tử.

-Anh vừa dùng danh từ "dường như". "Dường như" nghĩa là chưa có gì chắc chắn, mà trong nghề tình báo thì không nên hoảng hốt khi còn thiếu tin tức chắc chắn.

-Tôi hoàn toàn đồng ý với anh, nhưng nếu đây chỉ là tin tức thông thường như đánh cắp tài liệu mật, hoặc mưu đồ ám sát yếu nhân chính phủ, hoặc đảo chính chế độ thì không đáng quan tâm quá mức. Đằng này là hỏa tiễn nguyên tử, trong trường hợp Tình Báo sở thiết lập được một giàn tên đạn trên miền núi tây bộ Nam-Mỹ thì cán cân quyền lực ở tây bán cầu sẽ thay đổi toàn diện... vả lại, tôi dùng danh từ "dường như" song trên thực tế, tin tức này do một nhân viên đúng đắn và tin cậy cung cấp. Theo sự sắp xếp với Trung Ương C.I.A., nhân viên này sẽ đệ trình lên ông Sì-mít một bản phúc trình kết thúc với đầy đủ bằng chứng cụ thể. Nhưng một trận động đất kèm theo núi lửa thức dậy đã xảy ra....

Như anh đã đọc trên báo chí, một phần khu vực duyên hải Thái Bình Dương đã bị tàn phá dữ dội trong trận động đất. Sự tàn phá gia tăng vì hỏa diệm sơn cùng phun lửa đổng loạt. Vùng đất bị tàn phá nặng nhất lại là vùng biên giới Côlômbi và Equatơ.

-Trong phạm vì căn cứ 4Q?

-Phải, căn cứ 4Q chẳng may lọt vào trung tâm của cuộc địa chấn ác liệt này. Tụy nhiên, chúng tôi chỉ có thể nói như vậy chứ chưa thể xác định mực độ tàn phá tại 4Q là bao nhiêu, tàn phá một phần hay tàn phá toàn bộ, có bao nhiêu thương vong, và trong số thương vong có Doarê hay không?

-Anh vừa nhắc đến Doarê....

-Vâng. Doarê, Anbe Doarê.

-Hắn là nhân viên tin cậy của ông Sì-mít?

-Nói cho đúng, Doarê chưa hẳn là nhân viên C.I.A. nếu anh quan niệm nhân viên nghĩa là ăn lương tháng, hoặc ăn lương từng vụ, và chịu mạng lệnh của Trung Ương C.I.A.. Doarê thuộc vào thành phần đặc biệt, chúng tôi gọi là "nhân viên lý tưởng". Hắn không lãnh lương, hắn không đòi hỏi chúng tôi phải trả hắn bao nhiêu tiền mặc dầu từ nhiều tháng nay hắn giúp đỡ chúng tôi tận tình và đắc lực. Dĩ nhiên chúng tôi đã mở cho hắn một trương mục tại một ngân hàng Mỹ và bỏ tiền vào đó phòng xa sau này hắn cần đến. Tôi không hiểu rõ Doarê cộng tác với C.I.A. trong hoàn cảnh nào, chỉ biết là sau khi di cư qua Mỹ trong những ngày cuối cùng của chế độ Quốc Dân Đảng tại Hoa-lục.

-Quốc tịch Mỹ?

-Không. Khác đa số người Tàu tị nạn cộng sản, Doarê không mày mò xin gia nhập quốc tịch Mỹ. Hắn sống trên đất Mỹ một thời gian rổi xuống miền Nam bán cầu, hắn có nhiều thông hành, nhiều quốc tịch, hiện nay, hắn theo quốc tịch Equatơ, cho nên chính phủ Equatơ cử hắn làm chuyên gia cao cấp tại trung tâm 4Q. Trước khi cuộc động đất xảy ra, Doarê là phó giám đốc kỹ thuật căn cứ 4Q.

-Như vậy, Doarê phải là kỹ sư hoặc toán học gia.

-Kỹ sư điện tử. về phương diện ghề nghiệp, hắn được liệt vào danh sách hai trăm chuyên gia điện tử truyền tin nổi danh trên thế giới. Nói thế để anh có thể hiểu rằng hắn không phải là kẻ cần tiền. Với số lương phó giám đốc và kỹ sư cao cấp, hắn dư sống một cuộc đời sang trọng.

-Hừ, anh lý luận sai bét... Tôi đã từng liên lạc với những đại chuyên gia ở bên này và bên kia bức màn sắt, lương tháng của họ tương đương với hai, ba chục ngàn mỹ kim một tháng, vậy mà họ vẫn thiếu trước, hụt sau. Bằng chứng cụ thể là anh chàng trưởng ban nghiên cứu nhân chủng học ở Luân Đôn, hàng tháng được lãnh gần bốn ngàn mỹ kim, song chỉ đến ngày mùng 10 là trong bót-phơi không còn một xu teng. Tiền bạc là một vấn đề khó thẩm định, ít cũng đủ, đôi khi nhiều lại thiếu. Nếu đa mang á phiện, hoặc đèo bồng thêm một mớ gái đẹp thì giầu đến như tỉ phú Hy-lạp ô-nát-sít cũng suýt-xoa,nữa là cái hạng bác học mấy ngàn đô-la mỗi tháng... Vì thế tôi cần biết Doarê rõ hơn nữa. Tại sao hắn lại lấy tên Doarê? Phần lớn người Tàu nhập cảnh lậu vào Hoa-kỳ đều dùng đường biên giới Mễ-tây-cơ, qua thị trấn dạ lạc Doarê. Hắn cũng mượn đường Mễ-tây cơ phải không?

-Phải, anh tài thật. Hắn sống mấy tuần lễ ở Doarê, khoái khí hậu và đàn bà tại đó nên đặt tên Mỹ là Doarê để làm kỷ niệm.

-Nghĩa là hắn cũng hảo ngọt như... tôi?

-Được hảo ngọt bằng anh không phải dễ. Hai chục năm trước, hắn có cảm tình đắm đuối với giống cái, nhưng bây giờ thì hết rồi.

-Hắn muốn giữ lòng chung thủy với người cũ?

-Ngược lại. Hắn sinh ra ghét đàn bà vì đàn bà đã chơi xấu hắn. Nguyên do như sau: hắn lìa bỏ Hoa-lục với một cô gái học cùng lớp, hắn nai lưng làm việc để cung phụng cho nàng sung sướng, nhưng nàng đã bỏ hắn một cách tàn nhẫn, vô cùng tàn nhẫn, từ đó lòng hắn trở nên hoàn toàn nguội lạnh, và hắn dồn hết tâm trí vào toán số và điện học.

Hắn hợp tác với C.I.A. có lẽ vì hai lý do: thứ nhất, hắn phải bỏ nước ra đi, phần lớn giám đốc hắn còn kẹt lại sau bức màn tre, thân nhân hắn bị ít nhiều tố khổ trong cuộc cách mạng ruộng đất, ngoài ra, chú ruột hắn, và anh ruột hắn đã bị quân đội giải phóng giết chết, hắn hợp tác với tình báo Mỹ là để báo thù, giống như hàng trăm người Trung Hoa khác hiện lãnh lương của C.I.A., lý do thứ hai là vì đàn bà.

-Tôi đoán ra rồi. Người yêu trong mộng của hắn đã cắm sừng với một cán bộ cộng sản.

-Đúng. Trong thời gian sống lây lất ở Hoa-lục, nàng đã rớt vào vòng tay của một thanh niên cường tráng và khôi ngô, sinh viên thạc sĩ tại đại học đường nổi tiếng M.I.T. Gã đàn ông đẹp trai này đã cuỗm luôn người đẹp mang về Hoa-lục. Hiện cặp tình nhân đã thành vợ chồng, người chồng là một trong các nhà khoa học lỗi lạc phụ trách chương trình thí nghiệm và chế tạo hỏa tiễn nguyên tử tại căn cứ Lobnor Trung Cộng.

-Cám ơn anh. Tôi sẽ đến căn cứ 4Q để tiếp xúc với Doarê phải không?

-Phải. Ông Sì-mít đặc biệt nghĩ đến anh vì trong tổng hành doanh không có nhân viên giỏi tiếng Tàu, giỏi võ nghệ, giỏi mưu lược như anh. ông Sì-mít cho rằng tình hình rất khó khăn, ông có cảm tượng là địch đã có mặt tại biên giới Equatơ sau khi được tin Doarê nắm được các bằng chứng cụ thể về kế hoạch thiết lập giàn hỏa tiễn của họ. Doarê vẫn liên lạc với Sì-mít bằng thể thức "hộp thư" chỉ trong trường hợp bất khả kháng mới xử dụng vô tuyến điện. Ngay khi động đất xảy ra, liên lạc đường bộ bị gián đoạn, ông Sì-mít đã gửi mật điện cho Doarê và Doarê đã phúc đáp. Doarê hẹn đến 8g25' sáng qua sẽ cho ông Sì-mít biết đầy đủ chi tiết liên lạc với hắn để lấy bản phúc trình tối hậu. Nhưng điện đài của Doarê đã câm lặng.

-Hệ thống truyền tin bị hư hỏng?

-Có lẽ thế. Nhưng tôi không tin, ông Sì-mít cũng không tin. Doarê là kỹ sư điện tử lỗi lạc, hỏng điện đài này hắn có đủ kinh nghiệm và tài ba để ráp điện đài khác, phương chi hắn không thiếu phương tiện cơ khí trong tay. ông Sì-mít suy luận là có thể hắn đã bị địch bắt giữ, hoặc bị hạ sát cũng nên.

-Chừng nào máy bay cất cánh?

-Ngaỵ bây giờ. Tôi lái xe đưa anh đến phi trường riêng của C.I.A., cách đây 50 dậm về phía Nam. Hoa tiêu sẽ chở anh đến thủ đô xứ Côlômbi.

-Còn từ Côlômbi đến căn cứ 4Q?

-Anh sẽ dùng đường bộ.

-Trời đất! Đường bộ toàn là đổi núi hiểm trở, dùng máy bay trực thăng không tiện hơn ư?

-Nếu đi bằng trực thăng được thì còn ngôn gì nữa? ông Sì-mít đã huy động toàn bộ nhân viên ưới quyền ở các quốc gia kế cận Côlômbi và Pêru lái phi cơ và trực thăng đến căn cứ 4Q, nhưng họ chỉ bay được hai phần ba đường rổi phải quay về; vì sương mù dày đặc như bức tường bê-tông, mặt khác, trận động đất đã thay đổi địa hình địa vật, phi công khó thể nhận diện được bên dưới, vả lại, dầu sương mù bớt dầy đặc, dầu địa hình địa vật ít thay đổi, vấn đề di chuyển bằng máy bay cũng không thể được đặt ra nữa vì các phi công đã bị "teo".

-Bị teo.

-Xin lỗi anh, "teo" là tiếng lóng có nghĩa là "sợ". Phi công Nam-Mỹ thường ưa nhàn hạ, thích đớp hít, chứ không gan cùng mình, đêm cũng lái, bão táp cũng lái, nơi nào cũng lái, như phi công nước anh đâu (khoái chưa, không riêng Văn Bình, toàn thể chúng ta đều phổng mũi hãnh diện vì Mỹ phải khen) khi ông Sì-mít vời đến, họ đã xêm mình, thái độ khảng tảng, tuy vậy họ vẫn lên đường vì tiền thưởng khá lớn. Nhưng giờ đây có trả 10 ngàn đô-la một chuyến, kèm thêm 50 ngàn bảo hiểm nhân thọ, họ cũng không dám. Vì trong vòng một ngày đã xảy ra 4 tai nạn trực thăng liên tiếp.

-Đâm vào núi?

-Vâng. Song cũng không chắc. Vùng biên giới gổm nhiều đỉnh núi cao nên có thể hoa tiêu lạc đường đã đụng nhằm vách đá.

-Ông Sì-mít chưa nhận được tin tức chính xác về số phận 4 trực thăng lâm nạn?

-Chưa. Nội sáng qua có cả thảy 30 phi cơ trực thăng và máỵ bay nhẹ cất cánh từ nội địa Côlômbi và Equatơ đến khu vực tàn phá. Hai trực thăng đã mất tích. Người ta chỉ biết là trực thăng còn an toàn khi bay cách căn cứ 4Q khoảng 20 cây số về hướng tây-nam. Sau đó họ hoàn toàn mù tịt....

-Trực thăng không liên lạc vô tuyến được ư?

-Vào đến vùng sa mù vây quanh căn cứ 4Q thì máy truyền tin vô tuyến không hoạt động được nữa. Dường như trong sa mù có một hóa chất kỳ lạ có tác dụng phá tuyến. Các phi cơ và trực thăng không bị nạn được lệnh quay lại tìm kiếm nhưng đến khi bay hết xăng họ bắt buộc trở về phi trường. Đến chiều, lại 30 chuyến phi cơ lớn nhỏ khác cất cánh, và cũng như buổi sáng, 4 trực thăng lạc đường trong sa mù.

-Phi công tử thương?

-Có lẽ thế. Sau 4 tai nạn liên tiếp, không phi công nào dám bay nữa. Vì vậy, anh phải dùng đường bộ, đến Côlômbi anh sẽ gặp một nhân viên dẫn đường, tên hắn là Buru, hắn thuộc lòng đường xá biên giới, anh có thể tin cậy hắn, riêng vấn đề an ninh, anh phải đích thân lo liệu. Từ thủ đô Côlômbi xuống biên giới phía Nam không có gì đáng lo vì lộ trình hiểm trở nhưng không bị sương mù che khuất, hoạt động của du kích cộng sản chống chính phủ lại yếu kém. Xuống đến biên giới là bắt đầu khu vực nguy hiểm. Hẳn anh cũng biết từ ít năm nay, vùng biên giới Côlômbi đột nhiên trở thành con gà đẻ trứng vàng, các công ty khai khoáng quốc tế khám phá ra nhiều mỏ dầu quan trọng, và quan trọng hơn hết, là những mỏ quặng uy-ra-ni-om, thứ uy-ra-ni-om này rất tốt, chỉ phải đãi lọc rất ít, khai thác lại dễ dàng, cho nên chất lượng đã tốt, giá thành lại quá hạ. Côlômbi đầu hôm sớm mai trở thành giầu có. Nhiều dân tứ chiếng kéo đến vùng biên giới, chính phủ bản xứ đã hạn chế mọi sự đi lại vì tính cách quốc phòng của quặng mỏ uy-ra-ni-om, song ngăn chặn được bọn anh chị chuyên nghiệp, đặc biệt là bọn gián điệp địch là việc rất khó khăn đối với một quốc gia nhỏ xíu, lực lượng an ninh lèo tèo mấy trăm mống như Côlômbi. Bởi vậy, nhân viên địch có thể đang rình sẵn để làm thịt anh.

-Thịt tôi dai lắm, anh ơi, họ ăn không nổi đâu!

-Hừ, giá như thịt anh cứng như bê-tông, họ cũng nghiền nát, chứ đừng nói là dai như cao-su nữa. 15 tháng trước, ông Sì-mít bắt được một số tài liệu của GRU tại Bôlivi, trong đó có bản cẩm nang hành động cho toàn thể nhân viên tại châu Mỹ la-tinh. về khoảng "đối phó với điệp vụ địch", bản cẩm nang dặn dò nhân viên GRU phải gián đoạn mọi hoạt động trong trường hợp chạm trán Z.28, và phải điện về trung ương để xin chỉ thị khẩn cấp". Bản cẩm nang, còn nói thêm là nếu gặp hoàn cảnh thuận tiện phải hạ thủ Z.28, kẻ nào thành công sẽ được đặc biệt thăng ba cấp và ân thưởng bằng hiện kim. Chỉ thị nói trên mang số SD-42 của Trung Ương Quốc Tế Tình Báo sở gởi cho các nhân viên ở châu Mỹ la-tinh tháng ba năm nay còn dứt khoát và dữ dằn hơn nữa: họ dành gần nửa trang giấy đánh máy để mô tả tướng mạo anh, và nửa trang còn lại về cách thức bắt cóc, hạ sát.... Xuyên qua bản cẩm nang đặc biệt và chỉ thị tối mật này, tôi không tin là địch làm thinh cho anh tung hoành tại vùng biên giới Côlômbi, phương chi anh lại có nhiệm vụ siết hầu, chặn họng kế hoạch thâm nhập, và khống chế bằng hỏa tiễn nguyên tử của họ.

-Cho dẫu họ đổ bộ được hỏa tiễn lên miền rừng núi, tôi vẫn không tin là họ dám châm ngòi nổ.

-Chưa chắc. Giới lãnh tụ Bắc Kinh ngày nay đã uống phải thứ thuốc liều hạng nặng nên bất cứ chuyện gì họ cũng có thể làm được. Hội Đồng An Ninh Quốc Gia nhóm tại Bạch Cung dưới quyền chủ tọa của tổng thống Mỹ, và có sự hiện diện của ông Sì-mít đã nghiên cứu cặn kẽ những cập lụy của việc này. Hội đồng cũng nghĩ như anh, nghĩa là Tình Báo sở không dám bắn ẩu, song họ vẫn có thể không cần bắn hỏa tiễn mà đạt được mục đích xâm lược ngon lành đúng theo phương châm "bất chiến tự nhiên thành". Thế này nhé, sau khi thiết lập giàn hỏa tiễn, họ bèn dùng để gây áp lực, buộc Hoa-Kỳ phải rút lui khỏi tổ chức an ninh chung Liên-Mỹ, đổng thời giải tán phăng tổ chức này. Sau khi Mỹ bị hất khỏi châu Mỹ la-tinh, bọn quân nhân và chính khách khuynh tả được du kích thân Cộng hỗ trợ sẽ nổi dậy cướp chính quyền hàng loạt, trong vòng ba, bốn tháng, toàn châu Mỹ la-tinh sẽ biến thành một Cuba khổng lồ....

Anh đừng quên điều quan trọng sau đây: một khi bị săng-ta, người Mỹ sẽ vô phương chống đỡ, vì Nam-Mỹ toàn là rừng rậm và núi cao, nhiều vùng chưa có người đặt chân tới, đâu có dụng cụ tối tân. Mỹ cũng không thể tìm ra nơi đặt giàn hỏa tiễn, mà dầu tìm ra cũng khó thể triệt tiêu, vì phải oanh tạc bằng bom nguyên tử cỡ lớn mới phá sập được những rặng núi trùng trùng điệp điệp

-Tóm lại, tôi phải thập cổ cho bằng được thằng cha chuyên viên điện tử có cái tên điếm đàng là Doarê, và từ đây cho đến căn cứ 4Q, tôi phải mở mắt thật rộng, mở hai tai thật lớn, đề phòng bị mấy cha nội GRU và Tình Báo sở xin tí huyết!

-Thưa ngài, vâng. Ngài cần hỏi han điều gì nữa không, đệ xin giải thích.

-Không. Hỏi thật anh nhé, trong cái vụ phải gió này liệu có bóng hồng tha thướt nào không?

-Lúc nào anh cũng tơ tưởng đến đàn bà.... Thú thật với anh là tôi không biết. Tuy nhiên, chỗ anh em với nhau, tôi xin nói rằng phụ nữ Equatơ ngon lành lắm, xứ nóng có khác, họ chuyên ăn ớt cay, và nhất là phó-mát bằng sữa dê là đủ anh hiểu tính tình họ ra sao. Sữa dê là thứ sữa tối kị đối với đàn bà khỏe mạnh, vì uống vào máu chạy rần rần như muốn kéo đứt phăng động mạch, dê của xứ Equatơ được hấp thụ đầy ắp tinh hoa của vùng xích đạo nên có một cường lực độc nhất vô nhị, không tin anh xài thử xem, anh chỉ nhậu phó-mát sữa dê một vài tuần lễ là....

Văn Bình ngắt lời bạn:

-Cám ơn anh, tôi đã đớp phó-mát sữa dê rắc ớt bột hàng tháng trường mà tay chân vẫn lạnh ngắt.

Văn Bình nói khoác. Thật ra, chàng đã có dịp thưởng thức loại phó-mát đặc biệt ở điểm người ta trải lên trên một lớp ớt cay chảy nước mắt; tùy xứ, người ta dùng nhiều ít hoặc nhiều ớt, song đại để, dân Nam-Mỹ đều khoái ớt như dân Việt khoái nước mắm. sở dĩ chàng nói khoác vì chàng biết đại tá Pít phóng đại sự thật, đành rằng khí hậu Nam-Mỹ hợp với phép nuôi "dê béo" nhưng....

Đại tá Pít ngắt lời chàng để trả thù:

-Nói chơi đấy, vùng biên giới Equatơ nóng như thiêu, trận động đất lại tàn phá ác liệt, anh sẽ không gặp bóng hồng tha thướt nào đâu. Nếu có thì chỉ gặp xác chết la liệt, mùi hôi thối nồng nặc, anh nên mang theo một két huýt-ky.

Pít bỗng thở dài:

-Rượu huýt-ky làm tôi nhớ đến Vích-ky. Mãi đấu láo, tôi quên nói về nhiệm vụ của Vích-ky. Hắn là bạn tôi. Bảo bạn thân e không đúng, thật ra hắn là bạn tốt. Hắn là một trong những thằng phù rể trong đám cưới của tôi.

-Vích-ky liên hệ gì đến điệp vụ mà ông Sì-mít trao cho tôi tại căn cứ 4Q?

-Liên hệ rất chặt chẽ. Anh tha lỗi cho tôi nhé. Từ ngày lấy vợ, có con, tôi bỗng sinh ra đãng trí và đần độn, không khéo tôi phải vào dưỡng trí viện mất. Vích-ky là nhân viên C.I.A. tín cẩn được ông Sì-mít đặc phái đến 4Q để tiếp xúc với Anbe Doarê. Hắn rời Hoa-thịnh-đốn ngay sau khi động đất xảy ra.

-Và hắn đã biệt tích?

-Có lẽ. Tôi nói "có lẽ" vì cho đến phút này, trung ượng C.I.A. cũng chưa có tin tức đích xác. Sợ đối phương nghe trộm liên lạc vô tuyến nên Vích-ky được lệnh hạn chế tối thiểu việc xử dụng điện đài. Khi đến gần căn cứ, hắn đã gửi điện về báo cáo an toàn. Theo dự liệu, hắn phải gửi tiếp một bức điện khác, song hắn đã im bặt. Vì vậy, tôi mới nói là "có lẽ" hắn biệt tích.

-Yêu cầu anh cho biết một vài chi tiết điển hình về Vích-ky.

-Hắn được 34 tuổi, 12 năm trong nghề, khá nhiều kinh nghiệm. Hắn đã phục vụ tại những nhiệm sở hải ngoại nguy hiểm như Hán Thành, Bá Linh. Hắn lùn hơn anh nửa cái đầu, thân thể mập hơn, tuy vậy hắn lại nhanh nhẹn như con nhái bén.

-Hắn là dân Mỹ mà lùn kể cũng hơi lạ.

-À, tôi quên, Vích-ky không phải là người Mỹ chính cống. Phần lớn người Mỹ hiện thời đều từ Âu châu di cư tới, hắn thuộc gốc gác Âu châu, nhưng trong huyết quản lại có giòng máu Viễn Đông. Mẹ hắn là con cháu Thái Dương thần nữ, hắn sinh trưởng trên đất Tàu nên nói tiếng Tàu đúng mẹo luật và đúng giọng. Vì giỏi tiếng Tàu, hắn được ông Sì- mít tuyển chọn để đi gặp Anbe Doarê.

-Năng lực kỹ thuật?

-Khá giỏi võ. Không dám sánh với anh, vì thú thật trong số yên hùng điệp báo quốc tế, chưa ai trèo đến trình độ thượng thừa như anh: tuy nhiên, nếu đọ với cán bộ hành động của C.I.A., thì Vích-ky cũng thuộc vào hạng đàn anh. Hắn rất giỏi nhu đạo, dường như đai đen đệ tam đẳng còn về tài tác xạ thi tồi ra cũng 8 điểm trên 10.

-Như vậy, hắn cũng đâu đến nỗi xoàng. Tại sao anh lại nói là hắn bị đối phương làm thịt?

-Tôi không hề nói là Vích-ky bị địch giết. Tôi chỉ nói là hắn biệt tích. Trong trường hợp hắn còn sống, anh có thể đặt tin tưởng hoàn toàn nơi hắn về mức độ trung thành. Gặp hắn, khỏi cần mật khẩu, anh vẫn có thể nhận ra liền. Song để công việc của anh được dễ dàng, tôi xin lưu ý anh đến một vài thói quen hơi trái đời của hắn. Giống như đàn bà làm đỏm, hắn chuyên đeo một nắm vòng sơ-men trên cổ tay.

-Loại vòng gồm 8 cái, mỗi ngày đeo một cái, chẳng hạn thứ hai đeo hai vòng, thứ ba đeo ba vòng phải không?

-Phải, đàn ông chơi vòng sơ-men đã là ngược đời, lối đeo vủa Vích-ky còn ngược đời hơn nữa: thứ hai, hắn lại đeo 4 vòng, thứ ba đeo 6 vòng.

-Trời đất, như vậy là thứ bẩy hắn phải đeo lòng thòng nơi cườm tay đúng 14 vòng: Hắn biến cườm tay thành nhà hàng kim hoàn rổi còn gì nữa!

-Tôi cũng nghĩ như anh. Vòng sơ-men của hắn toàn bằng bạch kim nhỏ xíu. Và hắn chỉ đeo trên cổ tay trái, vào chỗ thường đeo đồng hồ.

-Hừ... đeo vòng cách ấy khác nào vỗ ngực khoe khoang với thiên hạ rằng hắn là Vích-ky, nhân viên C.I.A

-Đúng thế. Tôi khuyên hắn nhiều lần mà hắn một mực không nghe. Hắn đáp là còn lâu người ta mới "chơi" được hắn. Vả lại, từ nhiều năm nay, hắn chỉ thắng chớ chưa khi nào thua, hắn kiêu căng cũng có lý, phải không anh?

Văn Bình chưa kịp tán thành hoặc phản đối thì có tiếng súng nổ đoàng ngoài cửa. Tiếp theo là tiếng giầy chạy rầm rập. Đại tá Pít liếc nhìn Văn Bình. Chàng vẫn phớt tỉnh, ly huýt-kỵ vừa uống cạn - không còn nhớ là ly thứ mấy nữa - được chàng khoan thai đặt nhẹ xuống mặt bàn trơn bóng. Pít biết là bạn đã nghe tiếng súng và tiếng ổn song không thèm quan tâm, hoặc đã chuẩn bị đối phó một cách kín đáo mà cặp mắt quan sát của người thường không phân biệt nổi. Pít nghển cổ hỏi:

-Bắt được chưa?

Pít muốn hỏi hai gã đàn ông lực lưỡng ngồi lầm lì từ nãy đến giờ ở bàn bên. Họ là vệ sĩ đặc biệt của C.I.A.. Song một tiếng quát ồm oàm đã cất lên:

-Tất cả không được cựa quậy. Bàn tay đặt thẳng trên mặt bàn.

Tiếng quát phát ra từ sau lưng Văn Bình. Người quát có giọng nói lơ lớ không phải của người Mỹ chính cống. Chắc hắn vừa từ bên ngoài xô cửa vào. Trong cảnh im phăng phắc của nhà hàng ban đêm, Van Bình bình thản theo dõi nét mặt của đại ta Pít. Chàng thấỵ rõ sự lo sợ pha lẫn sửng sốt trong khi Pít nặng nề đứng lên. Mọi người trong quán rượu C.I.A., từ thực khách đến nhân viên nhà hàng đều là C.I.A. từ chân răng đến kẽ tóc, lục tục đứng dậy.

Tiếng quát hồi nãy lại vang lên:

-Còn thằng kia, sao chưa đứng dậy? Mày muốn ăn kẹo đồng hả, đồ khốn?

Văn Bình vốn ghét kẻ nói tục. Dầu sa vào hoàn cảnh tiến thoái chàng vẫn không tha thứ kẻ nói tục. Chết thì thôi, chàng quyết cho đối phương lỗ mãng một bài học đắt giá. Đại tá Pít nhìn chàng bằng cặp mắt cầu khẩn. Không hiểu Pít yêu cầu chàng giơ tay đầu hàng như mọi nhân viên C.I.A. trong nhà hàng hay là yêu cầu chàng trổ tài chuyển bại thành thắng....

Văn Bình khệnh khạng đưa hai cánh tay lên khỏi đầu.

Sự việc không ai ngờ tới xảy ra nhanh như chớp xẹt. Chỉ một tiếng đoàng ngắn ngủi, khô khan vang lên, tiếp theo tiếng ối thảm thiết rổi tiếng cây thịt rớt phịch xuống đất.

Thì ra trong khi đứng dậy, Văn Bình đã có đủ thời giờ rút súng đeo dưới nách ra, bắn ngược về phía sau. Rút súng đã là việc khó, bắn ngược về phía sau vào một mục tiêu không nhận thấy lại là việc khó hơn nhiều, trên đời giờ chỉ một số rất ít người làm nổi.

Vậy mà viên đạn của Văn Bình đã bắn trúng cánh tay người cầm súng. Khẩu tiểu liên rời khỏi tay hắn, nhưng chưa rớt xuống đất. Nó nằm gọn trên cái ghế đệm gắn lò so rún rẩy nên không tạo ra tiếng động. Sức mạnh của viên đạn xô nạn nhân dộng đầu vào tường trước khi sóng soài trên đất. Nạn nhân là một thanh niên mặt đầy vết thẹo, mặc áo bờ lu dông bằng da bóng của dân híp-pi, ống quần chân voi rộng thùng thình.

Sự can thiệp hữu hiệu của Văn Bình như liều thuốc khỏe làm toàn thể mọi người tỉnh cơn mê. Mô số nhân viên C.I.A. nhảy xổ về phía nạn nhân mặc dầu vết thượng đã làm hắn không còn nguy hiểm nữa. Một chú C.I.A. to con hùng hổ cưỡi lên ngực nạn nhân, sức nặng của hắn đủ làm nạn nhân ngạt thở mà chết, khỏi cần thượng cẳng chận hạ cẳng tay, phô trương trái thôi sơn lớn như trái bưởi Biên Hòa nện xuống đồm độp. Một số khác ùa lại, vây kín lấy Văn Bình, ôm lấy chàng, nắm vạt áo chàng, sờ mó da thịt chàng, như để kiểm soát xem chàng là ma hay người chàng là giả hay thật. Đến khi biết chàng là người hẳn hoi, họ đều reo lên đồng loạt, và ghé vai lại công kênh chàng lên vai, chạy phăng phăng khắp nhà hàng.

Tình cờ Văn Bình trở thành nhà vô địch túc cầu quốc tế được kẻ mộ điệu hoan nghênh trên sân cỏ. Đại tá Pít la hét gần đứt cuống họng Văn Bình mới được buông tha. Pít rẽ đám đông lại gần chàng, hôn má rồi nắm bàn tay chàng

lắc đi lắc lại khiến chàng muốn trẹo gân.

Tài bắn súng của chàng đã cứu đại tá Pít và nhóm nhân viên C.I.A. thoát khỏi một cuộc bắt cóc và tàn sát. Đại tá Pít dặn thuộc viên đề phòng gián điệp địch, không ngờ địch khôn ngoan hơn, và táo bạo hơn đã cải trang làm ông bự C.I.A. đột nhập quán rượu, với khẩu tiểụ liên và ý định hốt một mẻ lớn. Viên đạn kết thúc của Văn Bình làm bọn đồng lõa chờ sẵn ngoài vườn phải bỏ chạy trối chết.

Đại tá Pít thét mang một két rượu huýt-ky ra uống ăn mừng. Hoạt động dọc biên giới Mễ-tây-cơ, biên giới dạ lạc có khác, đàn ông chỉ nghĩ đến đường cong núi lửa và rượu: Văn Bình nốc thêm một bụng huýt-ky "sếch" nữa trước khi ra xe. Đám vệ sĩ đều say mềm. Tài xế đút chìa khóa vào đề-ma-rơ, loay hoay mãi không lọt, và loay hoay mãi động cơ cũng không chịu nổ. Xe chạy được một quãng thì tay lái lại gục gặc, tài xế suýt đưa luôn xuống ruộng. Đại tá Pít phải giằng lấy vô-lăng. Hai gã vệ sĩ nặng trên dưới một tạ xương thịt có nhiệm vụ đưa Văn Bình còn nguyên vẹn đến phi trường cũng đã dựa vai vào nhau trên băng sau, miệng phà hơi men nổng nặc, mắt lim dim, nửa mê nửa tỉnh, khi tài xế lạc tay bánh thì một gã bị mất thăng bằng té lăn cù xuống vệ đường. Rốt cuộc Văn Bình phải đóng vai vệ sĩ và hộ tống viên cho toán đặc vụ C.I.A. trên đường ra sân bay.

Chàng thường nghe nói châu Mỹ la-tinh là nơi có nhiều chuyện lỉnh kỉnh. Nhưng chàng nghĩ rằng sự lỉnh kỉnh ở biên giới Mễ-tây-cơ đã quá đủ. Ngờ đâu chân ướt chân ráo đển Côlômbi chàng lại gặp gã Buru lỉnh kỉnh.

Để rồi đến cây cầu gẫy trên giòng sông nước xiết, một cuộc tao ngộ lỉnh kỉnh khác lại xẩy ra, với một cô gái diễm lệ, mặc đồ săn bị bọn mọi đánh võ Tàu bắt giữ, xưng là bạn của Doarê, anh chàng người Tàu, đầu mối của hàng chục chuyện lỉnh kỉnh.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:25 pm

Chương 3. Trên đường lỉnh kỉnh

Văn Bình ngây người ngắm cô gái mặc đồ săn vừa ôm chàng hôn âu yếm vào môi. Hôn xong, buông chàng ra, nàng nhoẻn miệng cựời lộ hàm răng trắng muốt. Miệng cười đầy vẻ ngây thơ và thành thật song chàng lại sợ. Vì cách hôn của nàng hồi nãy chẳng có gì là ngây thơ, đàn bà có chồng con đùm đề hoặc thay tình nhân như thay áo lót cũng vị tất có nhiều kinh nghiệm đến thế, huống hồ một cô gái còn trẻ măng... Văn Bình bỗng có cảm tưởng sự ngây thơ của nàng chỉ là đòn phép nghề nghiệp.

Nàng trạc 23, 24, thân không mập, bằng chứng là vai nàng mỏng lét, và may là bờ vai nàng thuôn tròn, chứ giá là vai long đình thì nàng co rút lên như cổ mụ nghiện oặt. Nàng không mập song hễ nhìn ngắm nàng, người đàn ông nào cũng phải để ý đến bề dầy đặc biệt, bề dầy của bộ ngực và của cái mông. Vòng ngực và vòng mông tròn trịa, nở nang đã được gia tăng tột độ nhờ bộ đồ săn độc đáo, được may bằng da thú mềm, láng bóng, và dính sát vào da thịt: chắc chắn phía sau nàng theo chủ nghĩa thiên nhiên hoàn toàn, nếu không chàng đã nhìn thấy vết hằn...

Các nhà văn nịnh đầm thường miêu tả phụ nữ có thân hình nẩy nở là "giai nhân núi lửa" (xin lỗi các bạn, vì Người Thứ Tám cũng ở trong số nhà văn nịnh đầm này). Giờ đây, Văn Bình thấy rõ là xạo. Vì núi lửa làm nhà cửa, gia súc bị cháy thiêu, núi lửa tạo ra cảnh chết chóc tàn bạo như cảnh vật biên giới Equatơ mà chàng đang mục kích tận mắt. Đàn bà căng cứng, hấp dẫn phải gọi là "núi của" mới đúng. "Núi của" của cô gái mặc đồ săn đáng tiền không kém các giếng dầu và mỏ kim cương gần xa lộ 14 và căn cứ 4Q. Nàng léo hánh đến xó xỉnh này làm gì? Nàng là nhân viên của các đại công ty dầu lửa hoặc kim cương? Nàng là nhân viên GRU hoặc Quốc Tế Tình Báo sở và...?

Trời đã chuyển chiều rõ rệt. Màn sương mù mợ hé được một lát cho lữ hành mục kích quang cảng hoang liêu ghê rợn đã bắt đầu đóng lại, dầy đặc thêm, kiên cố thêm. Tia nắng hoàng hôn từ đỉnh núi cao đổ xuống nhuộm trắng thành vàng nhạt, nhưng không phải màu vàng nhạt gợi cảm mà là màu vàng nhạt tiêu điều, bẩn thỉu. Gió núi thổi vi vu. Gió sông quạt lên hơi nước lành lạnh.

Buru đã lóp ngóp trèo lên bờ và khập khà khập khiễng bước lại gần Văn Bình. Ngày thường hắn đã có lối đi cà nhót này. Văn Bình nhận thấy hắn không tàn tật, hắn đi cà nhót có lẽ vì tập thể thao sai phương pháp, đáng lý tập ngoài sân cỏ thoáng khí thì tập trong phòng kín, đáng lý tập một mình thì tập hai mình với đàn bà thân thể cao su.... Sau khi bị Văn Bình bất thần xô xuống sông, Buru lại cà nhót thêm lên. Hắn có bộ mặt khôi hài, những nét khôi hài càng gia tăng với đống quần áo ướt sũng nước. Nước sông mát lạnh và khoảng khoát vẫn không làm mất được mùi bồ hôi độc đáo của Buru. Một mùi bồ hôi dầu có thể làm những người có lá phổi nhỏ phải ngạt thở.... Văn Bình vốn đổ nhiều bồ hôi, song bồ hôi của chàng không bị đàn bà ghét. Nó không thơm như bồ hôi của giai nhân trinh nguyên. Nhưng nó không làm thiên hạ bịt mũi: nó có mùi hăng tuy nhiên phụ nữ đã khám phá trong mùi hăng này những khoái cảm là lạ.

Buru đập tay vào sơ-mi đầy nước kêu bình bịch. Mùi bồ hôi theo giọt nước tung tóe bắn lên mặt Văn Bình. Buru không để ý, nhe miệng cá ngão hỏi cô gái mặc đồ săn:

-Cô là Doarê?

Cô gái đáp:

-Phải. Tôi là Doarê, như tôi đã nói. Còn ông, ông là ai, tên ông là gì?

-Không, tôi muốn hỏi tên cô.

-Thì tôi đã nói hai lần rồi.

-Doarê, Doarê.... Cô biết người đàn ông nào mang tên Doarê như cô trong căn cứ 4Q không?

-Biết. Tôi đến gặp Anbe Doarê đây.

-Gặp ông Anbe để làm gì?

-Việc riêng, ô kìa, ông hỏi lục vấn làm tôi chịu không nổi! ông là cớm hả?

Văn Bình đành xen vào nụ cười cầu tài và tiếng xin lỗi ngọt ngào. Cô gái cười theo, giọng cười khiêu khích và nghênh ngang khiến Buru nổi sùng:

-Vâng, tôi là cớm. Cớm hạng nặng ở Côlômbi. Còn cô, cô là ai mà sợ cớm đến thế?

Nàng xỉa ngón tay trắng muốt, móng dài lê thê và nhọn hoắt, tô sơn cá vàng pha bạc óng ánh:

-Tôi đâu sợ cớm. Ghét cớm và khinh cớm thì có.

Buru khoa chân múa tay:

-A, cô lộn xộn!

Cô gái ưỡn ngực (chao ôi, bộ ngực thật ngon lành làm Văn Bình suýt rệu nước miếng), phân bua:

-Ông muốn đấu võ với tôi hả?

Buru lùi một bước, mở toét mắt, quan sát cô gái từ đầu xuống chân. Nàng trông có vẻ nở nang, khỏe mạnh nhưng làn da nàng lại mềm mại, chứng tỏ nàng sống quen trong phòng giấy, hoặc hộp đêm chứ không lăn lộn trên sân vận động hoặc trong vũ đường nhu đạo. Nếu giỏi nhu đạo nàng phải có những ngón tay vuông và cạnh bàn tay chai dầy. Tại sao nàng dám gây sự với hắn?

Văn Bình phải tìm cách dàn hòa. Chàng vỗ vai Buru:

-Hết giận chưa? Nếu còn giận thì ráng chịu. Theo phép lịch sự quốc tế, đàn ông không thể đánh đàn bà.

Buru gân cổ:

-Nhưng nàng chửi tôi!

Văn Bình cười:

-Chửi cũng chẳng sao. Được đàn bà đẹp chửi là điềm hên. Mai hay mốt, anh sẽ có tiền, thật nhiều tiền. Được giai nhân chửi thường có tiền. Tôi muốn nàng chửi mà nàng không thèm.

Cô gái đứng sát người chàng, giọng thánh thót:

-Ông đẹp trai như vậy, tôi đâu dám nặng lời!

Văn Bình giật mình trước thủ đoạn của cô gái mặc đồ săn. Nàng vừa đánh đòn ly gián. Buru xấu trai thật đấy, nhưng khen người khác đẹp trai trước mặt hắn khác nào tặng hắn một trái đìa-rét đau điếng. Văn Bình bèn nghiêm mặt:

-Cô làm chúng tôi mất quá nhiều thời giờ. Trời sắp tối. Tôi muốn chấm dứt câu chuyện cãi vã vô ích ở đây. Một lần nữa, xin cô cho biết, tên cô là gì?

Cô gái đủng đỉnh:

-Rita.

Buru dậm chân thình thịch:

-Tôi điên mất! Cách đây 5 phút, cô dõng dạc xưng tên là Doarê. Giờ đây, cô lại đổi là Rita.

Cô gái bĩu môi:

-Ông lầm to. Tên tôi là Doarê, nhưng Doarệ là tên trong căn cước, tên để người ta gọi. Người thân không kêu tôi là Doarê mà là Rita. Bạn ông rất dễ thương, rất khôi ngô nên tôi thích ông ta gọi tên Rita.

Văn Bình hỏi:

-Nghĩa là tên đầy đủ cô cô là Rita Doarê?

-Đích thị.

-Cô có họ với ông Doarê?

-Dĩ nhiên. Anbe Doarê là anh tôi.

-Cô là em kỹ sư Anbe Doarê?

-Đích thị.

-Hồi nảy, cô nói kỹ sư Anbe là bạn.

-Vì tôi chưa tin ông.

-Tại sao?

-Ông lạ quá! Thân gái dậm trường, tôi gặp hết khó khăn này đến tai nạn khác nên không dám tin ai. ông cứu tôi khỏi tay bọn mọi da đỏ, tôi xin cám ơn ông, nếu ông đến chậm, tôi đã bị họ làm thịt, song nói như vậy chưa có nghĩa là tôi phải tin cậy ông hoàn toàn. Biết đâu ông chỉ cứu tôi giả vờ, rồi sau đó ông sẽ bắt tôi.

Buru xấn đến, hục hặc:

-Yêu cầu ông tránh ra, để tôi quăng cô bé lộn xộn này xuống sông.

Rita chìa bàn tay thon thon:

-Tay tôi đấy, ông hắy nắm thật chặt trước khi cho tôi uống nước. Nhưng ông nên coi chừng, vì chưa biết ông uống nước hay tôi uống nước.

Văn Bình thở dài:

-Khổ quá, cứ đấu khẩu như con nít thế này thì không biết bao giờ mới đến căn cứ 4Q được, ông Buru ơi, ông ngậm miệng dùm tôi một tí, nếu không tôi sẽ cáu tiết và chắc chắn là ông sẽ xuống sông trước nhất.

Thấy Văn Bình nổi sùng, Buru đành im thin thít. Hắn dư biết Văn Bình chỉ vung tay nhẹ là hắn sẽ bay vèo như chiếclá xuống giòng nước lạnh chảy siết. Văn Bình quay sang Rita:

-Cô không tin tôi, tất tôi cũng không tin cô. Cô tự nhận là em gái kỹ sư Anbe, phiền cô đưa giấy tờ chứng minh cho tôi xem.

-Tôi rất sẳn sàng.

-Vậy cô còn chờ gì nữa?

-Xin ông cảm phiền. Giấy tờ của tôi đã bị mất hết. ông không tin tôi là quyền của ông. vả lại, tôi cũng không dám quấy rầy ông nữa. Thôi, chào ông.

Rita quày quả bước đi, Văn Bình cản lại:

-Cô đi đâu?

Rita gỡ tay chàng ra:

-Tôi đi đâu, ông hỏi làm gì?

-Vì tôi không thể để cô lang thang một mình, gặp bọn mọi lần nữa thì khốn.

-ồ, ông là người đàn ông giàu lòng nghĩa hiệp! Chẳng giấu gì ông, tôi định đi bộ đến căn cứ 4Q nếu ông bỏ rơi tôi.

-Cô đến đây bằng phương tiện gì?

-Xe hơi. Gặp cầu gẫy, tội lái xe theo đường hẻm xuống bờ sông thì bị bọn mọi chặn đường. Chúng tấn công quá đột ngột nên tôi không kịp đối phó.

-Cô qua lại đường nầy nhiều lần chưa?

-Đây là lần thứ nhất, sở dĩ tôi không lạc đường là nhờ anh Anbe. Anbe đã vẽ địa đồ cho tôi. Con đường hẻm xuống bờ sông dẫn đến một cây cầu khác bằng bê-tông.

-Địa đồ đâu?

-Cất trong xắc tay, trong khi dằng co với bọn mọi, nó đã rớt xuống nước.

Văn Bình nói mát:

-Chắc xe hơi của cô cũng theo chân giấy tờ, căn cước và địa đồ rớt xuống nước rồi phải không?

Rita không để ý đến luận điệu châm biếm của Văn Bình. Nàng chỉ phía sau những tảng đá lớn dựng sừng sững:

-Mời ông cùng đi với tôi ra chỗ đậu xe.

Kkhông đợi Văn Bình đồng ý. Rita nhanh nhẩu len qua khe đá, rồi chạy như bay xuống dốc. Con đường dốc ngoằn ngoèo làm Buru bở hơi tai, vậy mà Rita vẫn tỉnh như không. Loại đàn bà đẹp "trường túc" này may ra người có bản lãnh siêu đẳng như Văn Bình mới kham nổi. 99% đàn ông chắc chắn bị nàng coi là đồ bỏ. Văn Bình hơi e ngại, có thể nàng là em gái Doarê, song cũng có thể nàng là nhân viên địch đội lốt. Tuy nhiên, những đường cong khá hấp dẫn của nàng đã làm chàng quên hết. Chàng le te chạy theo. Hết con đường dốc cong queo, Rita rẽ sang bên trái.

Một chiếc xe hơi cỡ trung bình sơn đen đang nằm chềnh ềnh ngang đường. Đó là loại Vônvaghen 1600TL, hình thù không lấy gì làm xinh xắn, so sánh với các xe Pháp, Ý cùng giá tiền, nhưng về bền bỉ thì ít xe nào sánh kịp. Nó rất thích hợp với đường trường gập ghềnh và hiểm trở, đặc điểm của nó là ít khi bị hư hỏng bất tử.

Văn Bình hỏi Rita:

-Xe còn chạy được không?

Nàng lắc đầu, ngao ngán:

-Nếu còn chạy được, tôi đã chẳng bị bọn mọi bắt giữ. Tôi lái đến đây thì bị chúng lăn khúc cây và đá ra chặn đường. Tôi thắng gấp lại, xe đột nhiên tắt máy, tôi đề gần hết bình điện mà nó không chịu nồ.

-Hay là hết xăng?

-Không. Bình xăng còn quá nửa.

-Vậy thì cô trèo lên, mở máy cho xe chạy.

-Ông không chữa thì máy sao chạy được?

-Cô cứ nghe lời tôi. Không cần tôi chữa nó cũng chạy như thường.

-ông nghi tôi nói dối ư? Làm người, nhất là đàn bà, ai cũng nói dối, không nói dối nhiều thì nói dối ít, phải không ông? Nhưng về xe liệt máy, tôi xin bảo đảm với ông là nói sự thật.

Văn Bình mở cửa xe, xô băng lên cho Buru trèo vào ghế sau. Hắn gieo mình xuống nệm, vẻ mặt chưa hết bực bội. Rita ngồi ngay ngắn trước vô-lăng, ngoảnh sang bên phải nhìn Văn Bình bằng cặp mắt chứa chan ý nghĩa, đoạn quay khóa công-tắc. Nàng chỉ đề nửa vòng là động cơ nồ êm ru. Nàng nhún vai nói với Văn Bình:

-Ông giỏi ghê! Nếu ông là cớm thì phải là cớm hạng nhất. Cớm giám đốc chẳng hạn. Tại sao ông lại biết xe không cần chữa cũng chạy?

Văn Bình cười nhẹ:

-Tôi cũng không biết nữa.

Mặt Rita sa sầm. Nàng hắng giọng rồi hỏi:

-Lên đường được chưa ông?

Ngay trong giây đồng hồ khởi hành, nàng đã gài số 2 và đạp lút ga xăng. Đường đất nhan nhản ồ gà, xe mới chạy được một quãng, Rita đã bắn vào người chàng. Chàng không hiểu nàng vô tình hay cố ý. Có lẽ nàng cố ý vì tay lái của nàng vẫn cứng, xe hơi vẫn không lệch sang bên. Bên phải là vách núi, vẫn là vách núi đầy mỏm đá nhọn, chị chạm nhẹ là vỏ xe trầy trụa. Còn bên trái là sông. Giòng sông dữ dằn, sóng bốc cuồn cuộn, nước đỏ ngầu vì nhuộm màu phù sa, màu nắng chiều sắp tắt lọc qua sương mù bẩn thỉu, và dường như pha lẫn máu tươi.

Nàng tỏ ra là tài xế điệu nghệ, không phải hạng tài xế thượng lưu lờ mờ thường thấy ở Sài Gòn hoa lệ. Tồi ra nàng cũng đã tham dự vào ba cuộc đua xe quốc tế, hoặc ít ra nàng cũng là đệ tử của thần tốc độ trên xa lộ Âu châu.

Xe hơi lại lúc lắc. Buru buột miệng chửi rủa, rồn than vãn:

-Hừ, có biết đi thuyền cho xong! Đường bộ vừa xa lại vừa nguy hiểm!

Rita trề môi

-Đi thuyền để mà xuống thăm Hà Bá ấy à? Mỗi đợt sóng cao gần bằng mái nhà, sông lại rộng mênh mông, tôi không tin là sang được đến bờ bên kia. vả lại, đường có xa gì mà xa. ông bạn sợ ma ăn thịt hả?

Qua kiếng hậu, Văn Bình thấy rõ mặt Buru chuyển sang tái nhợt. Điều này làm Văn Bình kinh ngạc vì Rita nói bằng giọng đùa cợt. Nhưng Buru đã chắt lưỡi:

-Tượng đá qua nghĩa trang nhân-thảo cũng rợn tóc gáy huống hồ người trần mắt thịt như tôi.

Thấy Văn Bình ngơ ngác, hắn cắt nghĩa tiếp:

-Dọc con đường đất ngoằn ngoèo này có một khu đất rộng nằm gọn giữa vách núi như thung lũng trong đó toàn là xương người. Một số bộ lạc ở đây ăn xương người tán nhỏ trộn với chuối nhưng cũng có bộ lạc khác vứt người chết trong thung lũng mặc cho thối rữa. Trải qua nhiều đời, nghĩa trang xương cốt này sinh sản ra một thứ cây lạ, người ta gọi là cây nhân-thảo. Giới phù thủy của mọi da đỏ cho biết cây nhân-thảo là do tủy xương người chết sinh ra, và trở nên linh thiêng vì được hấp quyện hàng ngàn, hàng vạn linh hồn người chết. Không ai dám léo hánh đến nghĩa trang nhân-thảo này, tôi tuy sinh đẻ trong vùng mà cũng mới đến đây một lần, hồi còn trẻ, và là vào ban ngày ban mặt sáng sủa. Hồi còn trẻ, tôi nổi tiếng gan lì mà còn sợ, phương chi bây giờ đã lớn tuổi, trời lại đổ chiều, ông bảo tôi không sợ sao được?

Rita rút từ túi áo trên ra một cái rễ cây khô, dúi vào tay Văn Bình:

-Rễ nhân-thảo đây, ông đã biết chưa?

Văn Bình lắc đầu, ra vẻ không biết. Sự thật chàng không lạ gì nhân-thảo. Nó thấp, nhỏ, mỏng manh như cây cà chua, lá cũng tương tự, nhưng lớn hơn, thường mọc hoang tại đảo Sicile, Tuy-ni-di và Ai-cập, bên bờ biển Địạ- trung-hải. Từ thời xưa, nó đã được coi là dâm-thảo, y sĩ dùng nó để chữa bệnh bất lực và hiếm muộn. Phơi khô xắc thành nước, nó trở thành một thứ thuốn ngủ hiền dịu mà hữu hiệu: con gái còn trinh uống nhằm sẽ nằm mơ thấy toàn chuyện dâm đãng, khiến kín cổng cao tường, danh gia thế phiệt và nghiêm nghị đến mấy cũng bị đàn ông chiếm đoạt thân xác dễ dàng. Văn Bình đã từng uống nước nhân-thảo, có lẽ chàng nhiều nội lực nên tác động của nó không lấy gì làm mạnh mẽ.

Nó mang tên nhân-thảo vì rễ của nó không khác thân người, có đủ đầu, mình, chân, tay và cả bộ phận sinh dục so sánh với nhân sâm Cao-ly, nó còn giống người hơn nhiều. Những lần Văn Bình qua vùng Địa-trung-hải, ông tổng giám đốc đều yêu cầu chàng mua nhân-thảo mang về. Có chuyến chàng phải trả một ngàn mỹ kim mới mua nồi một gói nhân-thảo, một chuyến khác, chàng đã dùng đến sức mạnh của atêmi.

Ông Hoàng chiếu cố đến rễ nhân-thảo sau khi được tin một số cơ quan điệp báo thế giới dùng nó để chế bùa yêu. Phương pháp chế bùa yêu được giới phù thủy giữ kín, tuy nhiên ông Hoàng cũng khám phá ra: thoạt đọc công thức trong văn phòng ông tổng giám đốc, Văn Bình đã trề môi vì chàng nhận thấy nó sặc mùi ngu xuẩn. Nhưng điệp báo vốn là nghề nhiều khi "mê tín" và "ngu xuẩn" nên chàng đành tôn trọng ý kiến của ông Hoàng, ông Hoàng kể cho chàng nghe là ở Ai-cập, người phù thủy thường hái nhân-thảo vào ban đêm không trăng, y mặc đồ đen, đeo đồ trang sức bằng chì, và lén lút đến nơi mọc nhân-thảo cùng một trinh nữ và con chó mực. Trinh nữ cắt tóc vứt xuống gốc cây, còn con chó mực cắn đứt cây nhân-thảo mang về. Nhân-thảo được ngâm ba ngày trong bình pha-lê chứa chất đỏ kỳ bí, và trong vòng 40 ngày, người phù thủy nuôi nó bằng sữa mèo. Sau đó, nó trở thành giống cây linh thiêng, đem ngâm vào thức ăn, đàn bà con gái ăn phải sẽ chiều chuộng bất cứ đòi hỏi nào của tình nhân...

Văn Bình không biết ông Hoàng đã chế bùa yêu nhân-thảo chưa, chàng chỉ biết là mỗi lần chàng mang về, ông Hoàng đều nâng niu thận trọng, bỏ hộp nhom, cất ngay vào két sắt trong văn phòng.

Trước cái lắc đầu quầy quậy của Văn Bình, Rita cười ròn rã:

-Đàn ông mà chưa nghe nói đến dược tính của rễ nhân-thảo kể cũng lạ! Dân mọi bản xứ dùng nó làm bùa yêu... Anh Anbe của tôi chán đời vì bị tình phụ nên mới lánh về xó rừng núi này làm bạn với cây nhân-thảo....

Bỗng Rita lái thật mạnh sang bên trái. Suýt nữa đầu xe hơi đâm vào núi. Ngồi sau, Buru thở ra phì phì. Văn Bình liếc nhìn Rita, cô gái mặc đồ săn bằng da thú thuộc bóng loáng vẫn tỉnh bơ, trên trán không hề có giọt bồ hôi nào.

Nàng bình thản nói với chàng:

-Mãi trò chuyện quên cả đường rẽ. sắp đến nghĩa trang nhân-thảo rồi đó. ông muốn dừng lại để kiếm vài ba rễ cây về làm thuốc không?

Văn Bình cười nụ:

-Khỏi cần. Được cô ôm hồi nãy, tôi không còn muốn tơ tưởng đến ai nữa!

Rita hứ một tiếng

-Cám ơn ông. Tôi hôn ông là vì ông cứu tôi thoát chết. Nhưng giá ông không cứu tôi, tôi cũng vẫn ôm ông hôn như thường. Tôi vốn có tính bốc đồng như vậy đối với đàn ông khôi ngô. Nhưng ông ơi, ông đừng vội lạc quan, phút này đây, tôi đã quên hết.

-Tôi sẽ có cách giúp cô nhớ lại.

-Ông định giở trò tán tỉnh phải không? Thôi, tôi can ông. Nếu ông mó vào người tôi, bắt buộc tôi phải có phản ứng, ông có cảm tình với tôi thật đấy, nhưng...

Rita ngưng bặt. Áo nàng bị hất lên, sau lưng để lộ khẩu súng Sì-mít oát-xông Bodyguard kiểu nòng ngắn, trái khế, bắn 5 phát, cán ngà trắng nạm vàng. Nàng giấu cái túi vải dán sát da thịt, khẩu súng hình dẹt nên bị lưng áo che khuất. Buru thòng tay qua băng trước, nhanh nhẹn rút khẩu súng của Rita. Nàng nhổm lên, giọng hơi bực dọc:

-Ông làm trò gì thế?

Buru nhếch mép:

-Mượn tạm khẩu súng của cô.

-Không được, ông phải trả lại cho tôi.

-Trả lại để cô bắn chúng tôi ấy à?

-Dĩ nhiên. Nó là phương tiện tự vệ của tôi. Nếu ông không trả, tôi sẽ đậu xe lại, và quần thảo với ông. Trong trường hợp ông hạ nổi tôi mới có thể tịch thu khẩu súng.

-Đàn bà như cô, tôi chỉ búng nhẹ là té lăn cù. Cô đừng khí khái hảo nữa kẻo ăn đòn oan uổng.

Rita đạp mạnh vào bàn thắng. Xe hơi đứng khựng lại. Bên trái, sóng nước vẫn réo hãi hùng. Buru đinh ninh cô gái dọa chơi, hắn không ngờ nàng làm thật, và nàng không phải đối thủ hạng bét. Hắn đang quay tròn khẩu súng trong tay, đang hiu hiu tự đắc bỗng sạm mặt. Rita đã chặt cạnh bàn tay vào bàn tay cầm súng của hắn. Khẩu Bodyguard rớt xuống sàn xe. Buru chưa kịp đối phó thì Rita móc thêm cú đấm khác vào cằm, hắn loạng choạng ngã dựa lưng vào ghế.

Bên trong xe Vônvaghen 1600 TL không lấy gì làm rộng nên Buru cụng đầu vào sườn sắt kêu đốp. Rita vẫn chưa tha, nàng mở toang cửa, kéo Buru xuống. Hắn mắc kẹt giữa băng xe, Rita giật mạnh thêm, và hai người ôm nhau ngã lăn xuống đường. Suýt nữa cả hai rơi xuống sông. May Buru quặp được cái rễ cây lớn vắt ngang đường.

Buru to con hơn nên đè được Rita. Nàng nằm dưới song không ở trong thế yếu. Ngón tay có móng nhọn của nàng đâm ngược tua tủa lên mặt Buru làm hắn nổ đom đóm. Trong chớp mắt, hắn bị nàng vật kềnh ra đất. Buru chồm dậy, nắm ống chân nàng giật lùi. Đến lượt Rita cụng đầu vào bánh xe hơi.

Hai người lại đứng lên, tiếp tục biểu diễn quyền thuật. Là khán giả bất đắc dĩ, Văn Bình không nhịn được cười. Buru không giỏi nhu đạo như hắn từng khoe khoang. Và Rita cũng chỉ thắt đai xanh nhu đạo là cùng.

Gần như là thông lệ, những kẻ ti toe dăm ba miếng võ thường hay gây sự nhất. Hồi chàng tập tễnh bước vào nghề võ, chàng cũng thích phô trương như vậỵ, nhưng theo thời gian và kinh nghiệm sống, chàng trở nên nhủn như con chi chi, trừ phi phải ra tay vì nhu cầu nghề nghiệp. Chàng bèn cất tiếng:

-Thế nào, ông bà làm trò xong chưa?

Rita đang nắm áo Buru vội buông ra, quay lại sừng sộ với Văn Bình:

-Tôi cấm ông không được nhục mạ.

Văn Bình cười rộ:

-Cô đánh tôi đi. Lâu lắm không được đánh, da thịt ngứa ngáy quá!

Rita quạt mạnh bàn tay vào cổ chàng. Chàng đứng yên không tránh mà cũng không đỡ. cổ là bộ phận mềm của cơ thể, vậy mà sống bàn tay của Rita chạm vào lại bật dội ra ngoài, như thể đánh nhằm bê-tông. Đau điếng, nàng thét lên:

-Trời ơi, gẫy tay em mất rồi!

Buru khoái trí:

-Đáng kiếp.

Văn Bình thoi nhẹ Buru. Hắn ngã khuỵu, hai tay chấp vái lia lịa:

-Ông nội đấm đau quá.

Chàng túm vai hắn, vặn tréo:

-Chừa chưa?

Buru mếu:

-Chừa rồi.

Văn Bình ra lệnh:

-Anh phải xin lỗi cô Rita đi.

Nghe nói Rita phá lên cười sằng sặc. Văn Bình nắm nhẹ tay nàng, kéo vào lòng, rồi hôn phũ phàng vào miệng. Nàng chỉ kháng cự lấy lệ. Trong chớp mắt nàng dính cứng người chàng, sự chống đối của nàng tan biến cấp tốc như viên đường bỏ vào ly nước sôi. Lát sau, chàng mới chịu thả ra.

-Em còn ghét tôi nữa không?

Rita lắc đầu:

-Không. Anh hôn nhẹ quá!

Văn Bình ghì mạnh:

-Để tôi làm lại lần nữa.

Buru há hốc miệng nhìn hai người. Bỗng hắn đưa tay lên miệng, giọng run run:

-Người lạ. có người lạ!

Vặn Bình nhận thấy bàn tay nóng hồi của Rita đang quấn ngang vai chàng trở nên lạnh ngắt. Chuyến đi từ Côlômbi đến Equatơ mỗi lúc một thêm gay cấn. Chàng gặp hết bọn mọi ăn thịt người, cô gái mặc đồ săn lạ lùng tự xưng là em gái kỹ sư Doarê đến hai người, một đàn ông, một đàn bà, kỳ quặc, đứng sững trên mõm đá lớn.

Phải, người lạ mặt Buru nói chính là một cặp nam nữ cách chỗ đậu xe hơi chừng 30 thước. Chắc hẳn họ đã theo dõi từ đầu chí cuối cuộc quần thảo trào lộng giữa Rita và Buru. Văn Bình cảm thấy tràn trề hối hận. Nếu chàng cương quyết bắt Rita tiếp tục lái xe thì đã tránh khỏi chướng ngại vật đầy chết chóc.

Chướng ngại vật đầy chết chóc này là một khẩu súng săn hai nòng đang chĩa lăm lăm về phía xe hơi, ngón tay gã đàn ông hườm sẵn trên cò.

Nghe tiếng kêu của Buru, Rita cũng ngước lên, nhìn qua mõm đá. Văn Bình thấy bàn tay nàng hơi run. Buru có vẻ run hơn nàng, bằng chứng là hai chân hắn lập cập, đứng không vững.

Gã đàn ông quát:

-Đứng ngay tại chỗ, không được cử động!

Quát xong, người đàn ông nhảy khỏi mõm đá và tiến lại xe Vônvaghen. Đôi nam nữ đều là người tây phương, căn cứ vào vóc dáng to lớn, sống mũi cao và nước da trắng đỏ. Gã đàn ông mặc âu phục đen may chật và ngắn theo kiểu đúng đắn. Văn Bình nhận thấy gã không mặc sơ-mi, thay vì sơ-mi, chàng thấy cái cổ tròn trắng của bộ đồ linh mục Công giáo. Mặt gã dài, gần như nhọn, cặp mắt sâu trũng, không hiểu vì thức khuya, vì vất vả, hay vì bản tính nham hiểm. Gã có bộ tóc dài, thật dài, dài gần bằng tóc thanh niên híp-py, hai bên tóc mai xà xuống dưới mũi, còn sau gáy thì bồng tròn như búi tó.

Cô gái đứng bên chỉ cao ngang miệng gã đàn ông. Chi tiết tướng mạo đập ngay vào thị giác Văn Bình là đôi mắt nâu. Nàng đảo đôi mắt nâu, hết nhìn người này đến người nọ, thoạt đầu nàng nhìn Rita, sau cùng nàng nhìn chàng, và nhìn thật lâu. Nhỡn tuyến của nàng đựợm vẻ tò mò và ngơ ngác, dường như nàng từ một hành tinh xa xăm nào vừa đổ bộ xuống địa cầu. Nàng không xấu mặc dầu da mặt nàng không có son phấn. Đối với phụ nữ tây phương quen làm đẹp, đó là một điểm son lớn: một chuyên viên thẩm mỹ hữu danh từng nhận định trong số 100 phụ nữ tây phương thì có ít nhất 95 người có bộ mặt đầy lỗ và tái mét như miếng thịt trâu buổi sáng, khi chưa được nhồi kem, trát phấn. Tự dưng, Văn Bình có cảm tình với nàng.

Lệ thường, chàng có cảm tình với phụ nữ tuyệt đẹp. Cô gái có đôi mắt nâu chẳng có nét nào tuyệt đẹp (dĩ nhiên, trừ đôi mắt) tóc nàng đựợc giấu trong cái khăn san mầu đỏ nên chàng không biết mềm mại hay cứng còng, óng ánh hay khô rụm, sự cân đối và rắn chắc của thân thể là điều kiện tiên quyết để xét định thì nàng lại mặc áo choàng dài ngang đầu gối, và rộng như áo tế khiến những lồi lõm ở ngực và mông bị che khuất. Chàng suy luận là thân thể nàng đều đặn vì cặp giò thuôn dài được lộ ra bên dưới áo choàng. Khuôn mặt nàng thuộc loại bình thường, không xấu nhưng không đẹp, tuy nhiên, lúm đồng tiền trên má và cái cằm chẻ hai hòa hợp với mắt nâu linh động đã tạo cho nàng một vẻ duyên dáng độc đáo và hấp dẫn.

Những nét quyến rũ này chưa đủ để quyến rũ Văn Bình, sở dĩ chàng có cảm tình ngay với nàng là vì một nguyên nhân kỳ cục khác. Nguyên nhân là nàng không trang điểm mà da dẻ vẫn mịn màng, va nhất là lỗ chân lông trên mặt không sâu hun hút....

Bất giác chàng ghê ở đầu răng. Chàng yừạ nhớ đến một cô gái đoạt giải hoa hậu sắc đẹp ở Sài Gòn. Trời ơi, nàng lượn đi lượn lại trên bục gỗ trong bộ đồ tắm bikini hai mảnh thì nhà tu siêu đẳng cũng muốn cởi áo... vì nàng có nước da trắng trẻo, nhỏ nhắn, êm ái, thơm tho, nhẵn nhụi khác thường. Văn Bình mê như điếu đổ nên cố chinh phục nàng. Và chàng đã thành công. Dần dà chàng ở lại đêm với nàng, và một đêm kia nàng uống rượu say mèm, lăn ra ngủ, huýt-ky đồ tung tóe vào mặt làm kem phấn loang lồ, để lộ lớp da bên trong, lớp da xám xịt, mốc meo và nồi vẩy ốn như da con kỳ đà, đó là chưa kể những cái lỗ chứa mụn trứng cá được hút ra chưa trám lại kịp

Cô gái tóc nâu ghé tai gã đàn ông nói nhỏ, Văn Bình đứng xa nên không hiểu được gì. Buru xấn lên, vẻ mặt hung hãn, một cánh tay khoa tròn:

-Ông làm gì vậy? ông biết tôi là ai không?

Úi cha, Buru chỉ là sĩ quan quèn, giá hắn đeo sao đầu vai thì dân chơi Nam-Mỹ cũng coi là đồ bỏ! Nam-Mỹ, cũng như Trung Hoa sau thế chiến thứ hai với hàng núi giấy bạc quán cấm vô giá trị và hàng đống đại tướng "nhảy dù" của bộ đội tàu phù tiếp thu, là một trong những nơi lạm phát... lon, không cần đánh trận vẫn lên tướng dễ dàng, không cần học bắn đì đòm vẫn làm sĩ quan như chơi....

Gã đàn ông tóc híp-py mặc áo linh mục, cau mặt:

-Ông là ai thì thây kệ ông. Tôi ra lệnh ông đứng tại chỗ, nếu không tôi sẽ lảy cò.

Văn Bình quan sát gã đàn ông cầm súng. Cái lối cầm súng của hắn có vẻ thành thạo, quá thành thạo. Văn Bình đã quen nhiều cha xứ biết bắn súng nhưng chưa cha xứ nào có lối cầm súng săn già dặn như hắn. Nếu quả hắn làm nghề cha xứ thì hắn phải là một... ông cha lạ lùng... Văn Bình bèn níu áo Buru:

-Đừng lộn xộn. Hắn bắn thật đấy.

Khẩu súng săn của gã tóc dài thuộc loại Griffin-Howe do Mỹ chế tạo, giành riêng cho các nhà thiện xạ trong rừng già Phi châu. Những viên đạn nhọn đầu dài ngoằng chuyên bắn voi, tê giác và sư tử này có thể xuyên phá được tường bê-tông. Nghe chàng khuyên Buru, gã tóc dài gật gù:

-Đúng thế. ông bạn của ông không nên lộn xộn. Vì tôi sẽ bắn.

-Ông không thể bắn người vô tội. Dầu sao đây cũng còn là vùng đất văn minh, không phải rừng sâu.

-Nhưng vùng đất văn minh này đã trở về đời sống tiền sử, ăn lông ở lỗ. Hết động đất đến hỏa diệm sơn phun lửa, các ông không biết ư?

-Biết.

-Vậy các ông nên quay lại. từ đây trở đi, nhiều đoạn đường bị xạt lở, người chết như rạ... Các ông đi đâu?

-Còn ông, ông đi đâu?

Gã đàn ông tóc híp-py nhổ bẹt xuống đất, lấỵ tay áo chùi mép. Dáng điệu hắn có vẻ mỏi mệt. Hắn bước lên và khi ấy Văn Bình mới thấy hắn bị thương nơi chân, ống quần trái của hắn rách bươm và bê bết máu. Hắn lia khẩu súng săn nửa vòng, giọng dấm dẳn:

-Tôi hỏi, ông phải trả lời, ông không được phép hỏi lại. Hai ông và cô gái kia định đi đâu?

Văn Bình không đáp. Cô gái mắt nâu không hiểu sao lại đỡ lời dùm Văn Bình:

-Thưa cha, có lẽ họ tìm đường đến căn cứ 4Q.

Gã tóc dài nói:

-Nếu vậy, họ càng nên quay lại. Căn cứ 4Q đã bị tàn phá gần hết.

Rồi ra lệnh cho cô gái mắt nâu:

-Côcô, mình phải lấy xe hơi của họ... Rút chìa khóa công-tắc, nhanh lên.

Văn Bình giang tay:

-Như vậy là một hình thức ăn cướp. Một lần nữa, tôi kêu gọi ông nhớ đến luật pháp, ông không thể....

Gã tóc dài gạt phắt:

-Ăn cướp là danh từ trống rỗng, vô nghĩa... Tôi đang cần phương tiện di chuyển, tôi mượn tạm của các ông, chỉ có thế thôi.

-Chúng tôi cương quyết không nộp xe hơi cho ông.

-Tôi đành phải nổ súng.

-Ông dám giết người vì một chuyện vô lý ư? ông đang mặc áo nhà tu, nếu tôi không lầm....

-Lạy Chúa, ngài đã tha tội cho tôi.

Cô gái mắt nâu nói với Văn Bình, giọng khẩn khoản:

-Xin ông hiểu cho. Như ông đã thấy, cha tôi bị thương nặng.

Té ra gã tóc dài lòng thòng là cha cô gái mắt nâu. Cha ruột, cha nuôi, hay cha tinh thần, chàng chưa biết, tuy nhiên, chàng có cảm nghĩ lạ lùng là cô gái mắt nâu đầy duyên dáng và hiền hậu này khó thể cùng chung khí huyết với gã tóc dài mặt mày hãm tài và ác độc. Chàng đang suy nghĩ vẫn vơ thì nàng tiếp:

-Cha tôi là Fêlin, còn tôi là Côcô...

Côcô là tên tắt của một thiếu phụ Pháp nổi tiếng năm châu về nghề sáng chế thời trang, Côcô Sanen. Nước hoa Sanen số 5 từng được phái yếu từ Đông sang Tây mê thích từ bao nhiêu năm nay đã do Côcô phát minh. Dường như đọc được tư tưởng Văn Bình, cô gái mắt nâu mỉm cười, giải thích thêm:

-Côcô là tên bạn bè thường gọi tôi. Nhưng Côcô không liên hệ gì đến bà Sanen. Bạn bè đặt tên Côcô vì tôi nghiện nước dừa... uống cả ngày, nhiều khi uống thay nước, uống trừ cơm...

Tiếng cười trong trẻo pha lẫn thành thật của Côcô làm không khí bớt căng thẳng mặc dầu Fêlin vẫn nắm chặt khẩu súng, ngón tay đè chặn vào cò, sẳn sàng nhả đạn.

Rita đứng yên từ nãy đến giờ, mắt không rời Côcô. Mặt nàng có vẻ khó chịu, không rõ vì nàng mệt nhọc hay vì nàng không ưa có bạn mới. Có lẽ nàng không ưa. Đàn bà muôn thuở thường có phản ứng như vậy. Họ không muốn người lạ cùng phái phá rối. Giữa đô thị đông đảo tìm kiếm đàn ông khôi ngô, lịch thiệp và cường tráng không phải dễ, huống hồ tìm kiếm trong cảnh hoang tàn dọc biên giới Equatơ sau cơn động đất khủng khiếp. Vì vậy tiếng cười trong trẻo pha lẫn thành thật của Côcô đã bị Rita coi là tiếng cười the thé pha lẫn thách thức. Nàng bèn hắn giọng:

-Thưa cô, đó không phải là lý do chính đáng để cô ăn cướp xe hơi của tôi. Xin nhắc cô lần nữa, chiếc Vônvaghen này của tôi.

Côcô đáp, giọng thản nhiên:

-Tôi cũng có xe hơi riêng. Nhưng khi chạy đến đây thì bị động đất. Nếu nó còn nguyên vẹn, tôi đã chẳng dám làm phiền cô. Nói cho đúng, dẫu không có xe, tôi vẫn thích đi bộ. Cha tôi mượn xe, chứ không phải tôi. hẳn cô thấy cha tôi đã gẫy chân. Cha tôi lớn tuổi, riêng điều này cũng đáng để cô có thiện cảm, huống hồ lại bị thương nặng...

Rita nhún vai:

-Giọng nói của cô rất êm ái, nhưng đáng tiếc là tôi không thể chiều ý cô.

-Cha tôi đang ở trong trạng thái tinh thần bấn loạn, cô nên nghe lời thì hơn.

-Tôi không nghe.

-Hậu quả tai hại có thể xảy ra.

-Nghĩa là cô dọa tôi?

Côcô chưa kịp đáp thì Fêlin đã tiến lên một bước, họng súng săn chĩa vào ngực Rita, giọng gay gắt:

-Chia khóa công-tắc đâu, cô nộp ngay cho tôi?

Văn Bình theo dõi vị trí từng người, và nhận thấy Fêlin luôn luôn hườm ngón tay vào cò súng, cặp mắt hắn đỏ ngầu như sắp bắn máu. Đúng như Côcô nói, Fêlin đang ở trong trạng thái bất bình thường.

Rita lắc đầu cương quyết:

-Không.

Fêlin rú lên cười. Tiếng cười man rợ của bọn mọi trong rừng thẳm lấy sự giết chóc làm thú giải trí thường nhật. Biết là hắn sắp bắn, Văn Bình vội giơ tay:

-Khoan đã.

Fêlin thét lớn:

-Đứng xê ra, kẻo trúng đạn.

Côcô nắm tay cha, năn nỉ:

-Thưa cha, con xin cha... cha cho con vài ba phút nữa, con sẽ rán thuyết phục họ trao chìa khóa công-tắc cho ta. Cha không nên làm bậy... Thiên Chúa sẽ không tha thứ....

Lời cầu khẩn của Côcô như cái thắng của chiếc xe đang phóng nhanh trước khi gặp tai nạn. Nó chỉ có thể giảm thiểu thiệt hại chứ không thể ngăn tránh được tai nạn chết người. Fêlin khựng lại, nói với con gái, giọng trách móc:

-Hừ, đạo đức làm gì, vô ích. Chân cha bị gẫy lỉa, có ai thương đâu. Rồi còn công việc, mình phải đi cho kịp, nếu không....

-Con biết. Con biết. Nhưng con xin cha. Cha nên nghe con, dầu sao....

Côcô chưạ nói dứt lời thì đã bị Fêlin gạt sang bên. Ánh chiều sắp tắt chiếu hắt vào gượng mặt võ vàng nhưng dữ tợn của hắn. Lông mày hắn hơi nhíu và tròng mắt mở rộng. Chỉ trong một tích-tắc đồng hồ nữa, hắn sẽ nhả đạn.

Văn Bình không còn phương kế nào đoạt súng được nữa. Chàng chỉ còn cách lấy thân làm mộc đỡ đạn cho Rita. Chàng cảm thấy có bổn phận phải hứng cái chết thay nàng mặc dầu đối với chàng, nàng chỉ là người lạ...

Nhưng đột nhiên chàng lạnh người. Trời đất tối sầm lại, những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tan biến trong bóng tối hãi hùng từ trên cao chụp xuống. Hơi lạnh chất chứa từ các hốc núi, từ giòng sông chảy xiết cũng đột nhiên tỏa cùng khắp, bắt cỏ cây, núi đá phải run rét. Không gian mênh mông chìm trong cảnh im lặng rùng rợn.

Tuy vậy Văn Bình lại nghe được một tiếng ồn đặc biệt.

Tiếng ồn này từ lòng đất dâng lên. Con đường đèo đầy đá cứng bỗng lạng sang bên, rồi nứt một vệt dài trước mặt Văn Bình. Thoạt đầu, vết nứt chỉ nhỏ bằng sợi chỉ, trong chớp mắt, nó toác rộng ra, toác rộng mãi để biến thành một cái hào lớn. Rồi tiếng ồn âm ỉ to dần, to dần khiến mọi người có cảm giác là đằng xa có một công voa xe cam-nhông chở nặng rầm rộ chạy tới, không phải một đoàn chục xe, hoặc đoàn trăm xe, mà là hàng ngàn, hàng vạn xe cùng chạy số một, ì à ì ạch leo dốc, một con dốc dài vô tận, và cao vô tận.

Fêlin cũng nghe được âm thanh xe cam-nhông trèo dốc đang nổi dậy khắp vùng. Hắn há hốc miệng, mắt trợn trừng trong niềm hoảng sợ không tả xiết, ngón tay quên bẳng bóp cò súng.

Mặt đất bắt đầu nghiêng hẳn từ trái sang phải rồi từ phải sang trái. Lần này là địa chấn thật sự, đỉnh núi ngất ngưởng cũng rung lắc mạnh mẽ như những hình thù bằng giấy mã đặt dưới quạt máy. Thật là kỳ lạ, vì bầu trời hoàn toàn êm tịnh, không một trận gió... Côcô thét lên thất thanh. Hai cây cồ thụ đứng sừng sững ở lưng chừng dốc tưởng búa tạ đập không chuyển bỗng châu đầu vào nhau, rồi, soẹt một tiếng đinh tai nhức óc, đồ sụp xuống, chắn ngang đường đèo.

Văn Bình bị mất thăng bằng tuy chàng đã cẩn thận xuống tấn. Song chàng không té ngã, bàn chân chàng như được vặn đinh vít xuống mặt đường. Chàng thản nhiên nhìn những cành cây nặng nề văng rớt chung quanh. Côcô lại thét lên trong khi Rita vẫn lầm lì. Buru mở miệng chửi thề trước khi bị một ngọn gió vô hình quét ngã, rồi Fêlin thì luống cuống với ống chân gẫy rồi ngã lăn chiên, khẩu súng săn tuột khỏi tay, lăn ra xa.

Tuy mặt đất vẫn rập rình, từ lòng đất và từ khoảng xa vẫn đưa lại những tiếng động quái đản, Văn Bình không hề bối rối. Chàng nhìn thấy cặp mắt thất vọng pha lẫn lo sợ của Fêlin khi hắn đánh mất khẩu súng. Hắn rướn mình toan chộp lại nhưng Văn Bình đã nhào tới nhanh hơn hắn một tích-tắc đồng hồ. Fêlin lồm cồm bò dậy, tay hắn chạm bá súng, Văn Bình co chân đá lẹ như chớp, hắn vội rời ra, và đoàng một tiếng lớn, viên đạn săn nồ vang, át cả những âm thanh rùng rợn đang bao trùm vũ trụ.

Fêlin chưa chịu thua hẳn. Hắn còn nghĩ đến cách làm chủ khẩu súng lần nữa. Nhưng Văn Bình đã chờ hắn với cú đìa-rét vào cằm. Vì tình nhân đạo (và có lẽ cũng vì cảm tình đối với cô gái mang tên Côcô) chàng chỉ đánh nhẹ. Tuy vậy, Fêlin cũng té ngửa.

Đột nhiên Văn Bình đau nhói sau lưng. Chàng quặn người, xương sống chàng kêu rào rào như gẫy nát, chàng tượng bị trúng đạn và Fêlin là thủ phạm, nhưng ngay sau đó chàng khám phá ra thủ phạm là một hòn đá lớn bằng cuốn tự vị La-rút từ phía sau vèo tới choảng vào bả vai chàng.

Văn Bình cuộn tròn trên đất, mắt tóa đầy đom độm. Chàng tối tăm mặt mũi, không còn nhận ra phương hướng, thậm chí không còn nhìn thấy chung quanh nữa. Biết là cục đá tai ác đã vô tình đụng vào mê hụyệt dọc xương sống, và trong khoảnh khắc chàng sẽ bất tỉnh, chàng vội vàng vận dụng chân khí và đứng vụt dậy. Đầu chàng nhức nhối như bị nện bằng búa tạ, trước mắt chàng, những đỉnh núi cao nhọn hoắt bỗng đổ nhào, mặt đất bên dưới bỗng dâng lên, dâng lên như sóng biển, như hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn đợt sóng khủng long cuốn phăng vạn vật qua vùng núi hoang tàn ra tận biển Thái Bình dương.

Khi ấy Văn Bình vẫn tỉnh. Chàng yên lòng khi thấy Buru và hai cô gái lạ đang nằm ép cạnh gốc đại thụ chỉ còn trơ khúc dưới và đống rễ nhằng nhịt to như những cọn trăn độc trong rừng thẳm, cả ba ngẩng cổ nhìn lên và như thể tuân theo một mệnh lệnh vô hình, cả ba đều cất tiếng gọi chàng.

Khí trời ngột ngạt và khét lẹt không khác khí trời trên trận địa sau khi đại bác và phi cơ hạng nặng oanh tạc dữ dội, Văn Bình ra lệnh cho Fêlin:

-Đứng lên.

Hắn chưa chịu nghe lời Văn Bình thì ren rét, ren rét... nền đất ngay bên mình hắn nứt toang ra, chỗ hắn đang nằm bỗng sụp xuống, để lộ một hố sâu đen ngòm không đáy. Hắn hoảng hồn, chìa tay cho Văn Bình nắm, miệng kêu rối rít:

-Cứu tôi với, cứu tôi với, ông ơi!

Vặn Bình mỉm cười kéo hắn giữa lúc chân hắng đã tòn teng ở miệng hố. Hắn vừạ chụp được tạy Văn Bình thì mặt đất lại đảo nghiêng, suýt nữa hắn lăn tõm xuống vực thẳm ghê rợn. Toàn thân hắn đeo cứng lấy Văn Bình. Chàng nhấc bổng hắn lên nhẹ nhàng như con nhái bén mặc dầu hắn thuộc loại đàn ông to xương, nặng ký. Miệng hắn mở rộng, tiếp tục kêu cứu. Hắn vừa đặt được hai chân lên nền đất cứng thì bị ngã khuỵu, một đống đá nhọn không biết từ đâu bay đến văng vào mặt hắn.

Một mõm đá nhọn rạch trên má hắn một vệt dài, máu chảy đỏ lòm. Viên thứ hai làm hắn trẹo quai hàm, tiếng kêu cứu của hắn bị mắc nghẽn trong cuống họng.

Côcô kêu to:

-Cha ơi cha?

Fêlin ú ớ:

-Cha đây. Cứu cha với, con ơi!

Vừa nói, hắn vừa nhoài người, bò bằng cả hai tay như con vật bốn cẳng. Hắn hấp tấp đến nỗi bổ sấp bổ ngửa một cách thảm hại.

Một tiếng ầm kinh thiên động địa vang lên. Nhiều tảng đất từ sau vách núi đột ngột đồ xuống, trong chớp mắt phủ kín chiếc Vônvaghen. Nơi chiếc Vônvaghen đậu trướcc đó một phút là khoảng đất trống bằng phẳng, giờ đây biến thành ngọn đồi nhỏ.

Fêlin buông mình xuống cạnh Côcô. Buru nhắm nghiền mắt. Văn Bình vội nằm chận lên người Rita để hứng trận mưa đất và đá sỏi đang tuôn tới tấp. Cuộc địa chấn ngưng được một vài giây đồng hồ rồi tiếp diễn, tưởng như không bao giờ chịu dứt. Mặt mũi mọi người đều bẩn thỉu như vừa từ dưới hầm mỏ than ngoi lên. Mọi người, trừ Văn Bình đều run như rẽ. Mọi người, trừ Văn Bình đều ép dẹp trên đất, không dám mở rộng mắt quan sát cảnh vật.

Kể ra Văn Bình cũng biết sợ như mọi người. Vì vô phúc chàng có thể bị núi đá đè chết. Song chàng không run như rẽ vì trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh này, chàng lại tìm thấy nguồn vui hừng lửa. Chàng dám mở rộng mắt quan sát tứ phía vì nhắm mắt là ngu dại. Nhà đạo sĩ sắp tu thành tiên cũng chẳng thể nhắm mắt huống hồ là điệp viên Z.28....

Vì cuộc địa chấn hãi hùng có nhiều cái hại, mà cũng có nhiều cái lợi. Nhất là đối với chàng... Tạo hóa oái oăm (không biết là oái oăm một cách thật thà hay nghịch ngợm...) đã biến hai cô gái phục sức kín mít như bưng thành giai nhân thoát y. Trong lúc nằm ngang người Rita, Văn Bình không để ý. Nhưng đến khi chàng lăn sang bên, chàng mới nhận thấy bộ đồ săn bằng da thú kiên cố của người đẹp đã bay đâu mất. Áo nàng rách bươm, chỉ còn lại một cánh tay, còn quần nàng thì sút hết đường chỉ và bung làm hai mảnh, một mảnh dính phơ phất vào dây lưng, mảnh thứ hai bay vèo xuống sông. Bộ ngực căng cứng của nàng được cơ hội phô trương toàn diện vì những miếng ni-lông bảo vệ phòng tuyến đã văng tứ tán. Chàng nằm nghiêng, chỉ cách nàng một gang tay, bờ vai trần của nàng cọ sát da thịt chàng, chàng nghe rõ hơi thở gấp gáp như kéo bễ.

Côcô cũng bị lõa lồ không kém Rita bao nhiêu. Nhưng may mắn là y phục của nàng chỉ bị đứt nút hoặc tốc lên chứ chưa bị gió thổi bay hết. vả lại, như vậy cũng đủ cho Văn Bình suy luận. Hồi nãy chàng đoán không sai: thân hình Côcô khá cân đối và chắc nịch.

Nhỡn tuyến Vặn Bình đảo lộn nhanh như máy điện từ. Từ Rita, chàng quay sang Côcô, rồi từ Côcô chàng quay về Rita. Chàng bắt gặp cái nhìn ý nhị của hai người, và chẳng ai bảo ai, cả hai đều cúi xuống tấm thân phơi trần và mặt đỏ gay như gấc chín.

Trận gíó đang thổi mạnh bỗng dưng ngừng lại. Những thanh âm quái đản cũng câm bặt. Vũ trụ nín lặng, một sự nín lặng não nề làm dây thần kinh căng thẳng tột độ.

Văn Bình đứng dậy trựớc tiên. Chân chàng hơi run vì nền đất còn trơn trợt. Buru đứng dậy theo, mặt hắn còn nguyên vẻ hoảng hốt. Hắn hỏi Văn Bình, giọng nhát gừng:

-Hết chưa ông?

Văn Bình không phải là chuyên viên địa chấn học. Song chàng cứ gật bừa:

-Xong rồi.

Buru thở dài:

-Xe hơi đã bị đất đá che kín. Trời sắp tối, không khéo phải đi bộ mất.

Còn "không khéo" gì nữa, chắc chắn là phải đi bộ. Fêlin đứng dậy sau cùng, tay phải vịn vai con gái. Hắn lẩm bẩm mấy tiếng "lạy Chúa, lạy Chúa... tôi thành thật xin lỗi... tôi thành thật xin lỗi..."

Văn Bình không để ý đến lời xin lỗi của Fêlin. Chàng khoác tay:

-Chúng mình lên đường thôi chứ?

Và không đợi mọi người hưởng ứng, chàng hăm hở đi trước.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:26 pm

Chương 4. Căn cứ 4Q

Nhưng chàng chỉ rảo bước được một quãng ngắn là phải dừng lại. Ngoại trừ Buru nhanh nhẹn như con nhái bén, hai cô gái và gã đàn ông bị thương nơi chân mặc đồ "linh mục" không theo kịp chàng, cả bọn hoảng sợ gọi chàng ơi ới. Con đường trước mặt khá nhẳn nhụi đã bị phủ kín đất đá, chiếc Vônvaghen bị chôn trong nấm mồ cao lêu nghêu, chàng phải rẽ tránh một thân cổ thụ đồ sộ đổ ngang, ngay sau đó là một tảng núi lớn bằng tòa nhà ba tầng nằm chềnh ềnh. Trời lại mỗi lúc một tối. Những ngôi sao cần thiết cho người đi rừng cũng trốn đâu mất. Màn sương buông tỏa dầy đặc càng làm trời thêm tối hơn.

Bỗng Buru la thất thanh:

-Ông ơi!

Bàn tay hắn chạm vào cổ chàng. Tưởng thịt ướp nước đá cũng chỉ lạnh đến thế là cùng. Ngón tay hắn cứng đét như không có khớp xương. Giọng hắn run run:

-Nghĩa địa, nghĩa địa ông ơi!

Văn Bình bật cười. Theo tay hắn chỉ, chàng chỉ thấy lờ mờ những hòn đá cao như đụn rạ sừng sững bên phải. Bên trái là con sông, con sông ngoằn ngoèo sóng cuộn rì rầm. Leo lét một luồng sáng xanh từ những hòn đá đen sì bốc lên, Buru lại la:

-Ma... ma ăn thịt người, ông ơi!

Hai cô gái đều đi nép vào bên chàng, cả hai đều thở hổn hển. Nếu họ ở trong căn phòng gắn máy điều hòa khí hậu, kê giường nệm êm lưng thì tiếng thở hổn hển này là biểu hiệu của khoái lạc thần tiên, nhưng trong cảnh hoang liêu này, tiếng thở hồn hển của hai cô gái căng cứng và hấp dẫn lại làm gai ốc mọc đầy lưng Văn Bình. Chàng hỏi Buru:

-Bên tay phải là nghĩa trang nhân-thảo phải không?

Buru đáp không ra hơi:

-Phải. Người mọi xếp xác chết thành đống chung quanh nền đá rồi mặc cho quạ mổ: lâu ngày, ma lớn, ma nhỏ, ma đực, ma cái, ma trẻ, ma già, kéo nhau về đấy hàng đoàn, ai đi qua không cúng kiến bị nó bóp cổ sặc máu tươi mà chết.

-Cúng kiến bằng gì?

-Rượu têquila và một con heo nướng chín.

-Bọn ma uống hết rượu và ăn hết con heo thui?

-Dĩ nhiên.

Nghe tiếng cười ngạo nghễ của Văn Bình, Buru vội bịt miệng chàng, giọng van vỉ:

-Ông đừng cười. Ma nhân-thảo nghe được thì khốn. Tai ma thính lắm. Có lần một người da trắng tìm mỏ dầu đi qua đây nói xấu bị ma nghe được, ma làm cho một trận thất điên bát đảo, suýt nữa phải về chầu ông bà.

Văn Bình định cười trên Buru nhưng một tiếng rú khủng khiếp đã vang lên:

-Chết tôi rồi!

Đó là tiếng rú của Fêlin. Văn Bình mở đèn bấm và nhìn thấy Fệlin đang vùng vẫy dưới một cái hố khá sâu. Hắn bước khập khễnh lại thiếu thận trọng nên bị hụt chân ngã xuống hố. Văn Bình chiếu đèn vào khuôn mặt nhợt nhạt vì mất máu của hắn:

-Ông bị đau lắm không?

Miệng hắn méo xệch:

-Không khéo tôi bị gãy thêm chân nữa.

Văn Bình ra lệnh:

-Ông ngồi xuống thử xem.

Hắn mới thụp nhẹ đã mất thăng bằng và ngã chồng kềnh. Mình mấy hắn ướt nhèm vì đáy vực toàn nước. Côcô níu cánh tay Văn Bình, giọng lo sợ:

-Cha tôi gẫy cả hai chân rồi.

Fêlin nằm mọp luôn trong vũng nước lầy lội, không sao nhỏm dậy được nữa. Văn Bình phải ép sát mặt đất, thòng tay xuống cho hắn nắm. vất vả lắm chàng mới kéo được hắn lên khỏi hố. Hắn ngã vào vòng tay Văn Bình, miệng rên khừ khừ.

Một cơn gió lạnh thốc qua mang theo mùi hôi thối thịt rữa của nghĩa trang nhân-thảo. Những lùm sáng ma trơi xa xa bỗng lập lòe, lập lòa muốn tắt. Côcô nhìn Văn Bình, vẻ mặt tuyệt vọng:

-Làm sao bây giờ, hả ông? Cha tôi không thể đi được nữa.

Buru đề nghị:

-Theo tôi, ông Fêlin nên nằm dưới gốc cây, chờ đến sáng mai, chúng tôi đến căn cứ 4Q sẽ cho người đến cứu.

Biết thân phận, Fêlin nín lặng. Cách đây 10 phút, hắn đã chĩa súng bóp cò không chút ngần ngại. Nếu cơn động đất quái ác xảy ra chậm một vài giây đồng hồ thì mọi người đã chết. Họ tha chết cho hắn đã là nhân đạo lắm rồi, hắn đâu dám nghĩ đến chuyện họ đặt hắn lên cáng khiêng theo. Vì vậy, hắn chảy nước mắt ròng ròng khi nghe Văn Bình nói:

-Không được. Mình không thể bỏ mặc ông ta ở đây. Biết bao nguy hiểm có thể xảy ra, nào thú dữ, nào bọn mọi ăn thịt người, đó là chưa kể đến động đất.

-Nhưng tôi đã mệt lả.

Văn Bình không đáp, cúi xuống vác Fêlin lên vai. Chàng trèo qua phiến đá, sắc mặt ung dung như thể Fêlin là cái gối chứa bông gòn. Một tia chớp lóe ngang vòm trời đen sạm, Văn Bình chạm luồng nhỡn tuyến đầy ý nghĩa của Côcô. Chàng thấy má nàng ướt mèm. Không rõ ướt vì sương, vì bọt nước từ dưới sông bắn lên tung tóe, hay là ướt vì nước mắt nữa.

Đã vác Fêlin trên vai, Văn Bình còn phải chìa tay cho hai cô gái nắm. Lần lượt, chàng nhấc Côcô và Ritạ qua khỏi tảng đá sang bên kia đường. Buru lóp ngóp bò theo, hắn lo thân hắn chưa xong, chàng không dám nhờ hắn giúp đỡ nữa. Ấy thế mà trung ương tình báo My khoe khoang rùm beng là chàng sẽ gặp một ngươi dẫn đường cừ khôi, nhắm mắt cũng dư sức đưa chàng đến cửa căn cứ 4Q. Không khéo lát nữa đây Buru sụp chân bong cả hai mắt cá, chàng phải vác luôn hắn lên vai cũng nên....

Hắn thở hồng hộc, chàng đập vai hắn hỏi:

-Rẽ trái hay phải?

Con đường tách làm hai nhánh nhỏ. Mặt nước như có lân tinh phản chiếu nên chàng bắt đầu nhìn thấy phần nào cảnh vật. Buru hít hà rồi đáp:

-May quá. Yêu cầu ông quẹo sang bên phải.

-Tại sao anh lại nói "may quá"? sắp đến vòng ngoài căn cứ 4Q rồi hả?

-Chưa. Nhưng sắp đến làng Dua.

-Làng Dua của nhân viên phục vụ trong căn cứ?

-Không. Làng này của dân mọi bản xứ.

-Ăn thịt người?

-Bọn mọi này hiền hơn. Cách làng Dua một cây số mới là căn cứ 4Q.

Văn Bình trượt chân, suýt té nhào. Nhờ chàng kịp thời xuống tấn, nếu không Fêlin đã bị dộng đầu xuống đất. Chàng vừa lấy lại quân bình thì Rita kêu "ối". Rồi bõm một tiếng. Nàng lăn xuống ruộng nước bên đường. Họa vô đơn chí, hai người trong đoàn bị thương người trước người sau trong khoảng một phút đồng hồ ngắn ngủi. Khi được kéo lên, nàng ướt như chuột lột, cái áo vét chàng cho nàng mượn tạm để che thân thể lõa lồ sau trận địa chấn đã nặng chình chịch như đeo chì. Tuy vậy, nàng không dám cởi ra, và cứ mặc nguyên trên người hì hục vắt nước. Cũng may, xương cốt nàng không bị suy xuyển. Chứ nếu nàng khập khễnh thì thật rầy rà....

Giá nàng nặng gấp đôi, Văn Bình cũng đặt lên vai nhẹ bỡn, nhưng còn Côcô? Bệnh ghen của đàn bà đẹp là điều chàng sợ nhất. Chàng thở phào khoan khoái khi nghe Rita đáp:

-Cám ơn anh. Em không hề gì.

Chết rồi, Rita vừa xưng em ngọt xớt... Chàng đang bối rối thì nàng hắt hơi luôn một dây dài. Nghĩa là nàng bị nhiễm lạnh. Chàng cầu Trời kkhấn Phật cho mau đến làng Dua.

Chướng ngại vật mỗi lúc một bớt dần, đường đi đã trở lại bằng phẳng. Nhưng khối thịt của Fêlin trên vai Văn Bình lại mỗi lúc một đè nặng, thêm vào đó là sức níu kéo của hai cô gái. cả hai đều mệt nhoài song vẫn chưa đến nỗi phải đeo chặt lấy chàng. Chàng có cảm tưởng là họ cố tình. Bắp thịt cánh tay chàng dường như bị tê bại. Nhưng chàng không dám phàn nàn.

Tiếng reo của Buru làm chàng tỉnh người. Hắn vỗ tay đôm đốp:

-A ha, làng Dua kia rồi....

Cái được mệnh danh một cách trịnh trọng là làng Dua chỉ gồm một dãy nhà lốc mái trên đống đá gạch và cây cối đổ nát. Mọi người hì hục trèo hết một con dốc cao, men theo lối đi nhỏ trơn trượt giữa hai vách núi thẳng tắp, trước khi đổ xuống một thung lũng chậu thau. Những đốm lửa ma trơi vẫn cháy bập bùng tạo cho cảnh tranh tối, tranh sáng một sắc thái rùng rợn. Đột nhiên, Văn Bình nghe tiếng chó tru thảm thiết. Đó không phải là tiếng chó sói chạy rông tìm mồi ban đêm mà là tiếng chó nhà. Không phải một con mà là nhiều con chó cùng tru lên một lượt. Có lẽ đàn chó may mắn thoát chết trong cơn động đất. Ban đêm, bụng đói, chúng đang kêu cứu bên xác chủ.

Rita rúc đầu vào nách chàng:

-Anh ơi, em sợ quá.

Văn Bình không đáp, ra hiệu cho mọi người trèo lên bực thềm một ngôi nhà xây bằng đá. Trong làng bị tàn phá, chỉ trừ căn nhà trơ trọi này đứng vững. Tiếng chó tru từ sau nhà vẳng lại, rền rĩ như tiếng gọi âm hồn.

Văn Bình đặt Fêlin nằm dài trên nền đất lạnh buốt. Bên ngoài, trời còn mờ mờ, có thể nhìn thấy cảnh vật phần nào, nhưng bên trong hoàn toàn đen kịt. Chàng luồn tay vào túi lấy quẹt máy. Cùi tay chàng đụng bộ ngực căng phồng của Rita. Nàng cũng đang ngồi xuống. Chàng quên bẵng hoàn cảnh khó khăn, quay mặt lại hôn nàng. Trời tối, thoạt đầu, chàng hôn lầm vào má, nhưng sau đó tự nàng kéo miệng nàng sát miệng chàng.

Chàng vội buông nàng ra vì Buru vừa bật diêm kêu soạt một tiếng. Lửa lóe cháy trong căn nhà âm u. Dưới tia sáng vàng vọt, Văn Bình nhận thấy căn nhà trống trơn, ngoại trừ cái bếp lửa ở chính giữa, với hai khúc cây lớn châu đầu vào nhau, tro than đã tàn lạnh, Fêlin rên khừ khừ, thỉnh thoảng lại kêu đau. Rita tiếp tục nhảy mũi. Nàng đang dựa lưng vào khúc gỗ bỗng nằm nghiêng. Chàng rờ trán nàng, trước đó một phút, chàng hôn nàng, cảm thấy hơi nóng bỏng da thịt, tưởng lầm là hơi nóng thèm muốn, chàng không ngờ nàng bị cảm nặng.

Buru cúi đầu hỏi nàng:

-Cô bị sốt ư?

Rita đáp bằng giọng khó khăn:

-Vâng.

Que diêm đã tắt ngúm, bóng tối dầy đặc lại bao trùm mọi vật. Văn Bình nói với Côcô:

-Ba cô bị gẫy hai chân, chỉ có y sĩ chuyên khoa mới bó xương được. Cô Rita cũng bị sốt nặng. Vì vậy, tôi quyết định để cô ngồi chờ ở đây, tôi sẽ đến căn cứ 4Q ngay bây giờ. Nếu không gặp trở ngại dọc đường, tôi sẽ trở lại đây trước nửa đêm với y sĩ của căn cứ.

Côcô đáp, giọng lo lắng:

-Đường đi từ làng Dua đến căn cứ rất nguy hiểm. Đêm tối, ông gặp quảng nào bị núi xạt thì mất mạng như chơi. Ông nên nghỉ lại đây, sáng sớm hãy đi tiện hơn.

-Nhưng còn ông Fêlin?

Chàng định nói thêm "và cô Rita" nhưng vội lặng yên. Chàng hiểu tâm tính phụ nữ hơn ai hết. Côcô thở dài:

-Em chỉ biết tin nhờ vào Chúa, vả lại, ba em chờ một đêm cũng chẳng sao. Em đã học qua lớp điều dưỡng viên, em có thể băng bó tạm thời cho ba em.

Ngừng một phút, nàng nói, giọng tha thiết làm Văn Bình mủi lòng:

-Ông đi rồi, ai giúp em chống lại bọn mọi ăn thịt người và thú dữ?

Suýt nữa, nếu không nhớ đến ông Hoàng ở Sài Gòn giờ này đang thức bên máy truyền tin, nhớ đến tủ sắt đựng tiền rỗng tuếch của sở, chàng đã nghe lợi nàng mà ở lại đến sáng hôm sau. Nàng lo sợ rất có lý: bọn mọi bị trận địa chấn đuổi ra khỏi núi có thể đổ xô xuống làng Dua, đàn chó nhà ngoan ngoãn có thể biến thành cọp dữ nhá xương người ngấu nghiến vì quá đói khát, vì tinh thần bị khủng hoảng cực độ. Lẽ ra chàng phải mang nàng đi theo, hoặc ở lại với nàng. Nàng có những đường cong ngon lành và thơm tho, ở lại một đêm với nàng dưới trời lạnh rét không phải là không thú vị.

Nhưng...

Sợ bàn bạc thêm nữa chàng sẽ dùng dằng và mềm lòng trước những giọt nước mắt nóng hổi sắp sửa lăn trên gò má Côcô, chàng bèn khoát tay gọi Buru. Hắn đã chồm dậy từ nãy:

-Ông gọi tôi?

-ừ. Khẩu súng săn đâu?

-Đây. Nhưng trời tối lắm, ông ạ.

-Tối cũng phải đi.

-Cô Côcô nói đúng đấy. Tôi đã quen thuộc vùng này. Nếu gặp núi lở thì chết. Một bên là núi, một bên là sông, tôi sợ bỏ thây ở xó thung lũng này mất. Tôi xin đề nghị với ông....

-Hiểu rồi. Anh cứ ở lại, tôi đi một mình cũng không sao.

-Nhưng ông không biết đường.

-Tôi đã nói là không sao cả mà. Nếu có chuyện gì, anh cứ bắn một loạt đạn liên tiếp để báo tin. Nghe súng nồ, tôi sẽ quay lại lập tức.

-Thưa ông....

Văn Bình không thèm đáp, quày quả ra ngoài. Côcô chạy theo níu áo chàng:

-Ông không nên đi một mình. Em sẽ ở lại đây, ông Buru phải đi với ông. ông đừng ngại, em biết bắn súng, vả lại, còn ba em nữa. Giờ này, ba em còn tỉnh.

Nàng cất tiếng gọi Fêlin. Hắn đáp ngay:

-Ba nghe hết rồi. Con mang khẩu súng lại đây. Hai ông cứ đi đi. Một lần nữa, tôi xin thành thật xin lỗi. Hồi nãy, tôi đã cư xử một cách ngu xuẩn.

Văn Bình nghe rõ hơi thở điều đặn của Rita. Cơn sốt nặng đã tác động như liều thụốc ngủ linh nghiệm. Nàng đã ngủ say. Chàng tần ngần một lát, đoạn cởi áo đắp cho nàng. Chàng vỗ nhẹ vai Côcô rồi ra hiệu cho Buru băng mình vào đêm tối.

Thật ra, trời cũng không tối lắm. Mảnh trăng lưỡi liềm đã nhô lên khỏi đỉnh núi bao quanh thung lũng vòng chảo, chiếu xuống cảnh vật thê lương những tia sáng yếu ớt màu sữa. Buru lẽo đẽo bước theo chàng, dáng điệu chán chường và mỏi mệt. Thân hình hắn cao như tháp canh, hắn phải cúi đầu, còng lưng như để trốn tránh gió lạnh. Vì những trận gió không biết từ đâu tới thổi vèo vèo mang theo khí lạnh buốt xương.. Hắn không cười tình, nhe hàm răng cải mả và cái răng chó bịt vàng ra nữa. Hắn cũng không góp chuyện như thường lệ nữa. Tính ba hoa của hắn bỗng biến mất. Và nếu không sợ lệnh trên, hắn đã bỏ về.

Hắn thường khoe có cặp giò dẻo dai nhất vùng biên giới mà mới vượt 10 cây số hắn đã bủn rủn. Hắn phải chống mũi súng dài xuống đất thay gậy mới khỏi té ngã.

Hai người trèo qua một đống đá lớn. Buru nắm áo Văn Bình giật mạnh:

-Sướng quá, ông ơi?

Chàng phì cười:

-Người đẹp đang chờ anh hả?

Hắn văng tục rồi nói:

-Chu choa, dính vào đàn bà lúc này thì chết không kịp ngáp... Tôi kêu sướng vì đã đến vòng ngoài căn cứ.

-Vòng ngoài?

-Vâng. Như ông đã rõ, căn cứ 4Q gồm ba chu vi phòng thủ. Vòng ngoài là một khu vực rộng 200 mét được chăng dây kẽm gai chuyền điện và chó bẹt-giê canh gác. Chỉ có 2 lối ra vào, ở mặt Nam và ở mặt Bắc, ở mỗi cửa có một vọng gác và 2 người thường trực. Qua khỏi vọng gác, phải đi 200 mét nữa mới đến vòng giữa, nơi đặt các cơ sở kỹ thuật điện tử của căn cứ. Và sau cùng là vòng trong.

-Vòng ngoài là đống gạch đá hỗn độn phía sau hào nước ở bên tay trái phải không?

-Phải.

Buru nghển cồ quan sát. Miệng hắn đang cười khoan khoái bỗng méo sệch. Hắn kêu to:

-Ông ơi, khổ quá ông ơi!

Văn Bình trừng mắt:

-Tại sao anh kêu khổ?

Buru thở dài sườn sượt:

-Tôi không thấy hàng rào kẽm gai và vọng gác đâu cả. Chẳng dấu gì ông, tôi xung phong dẫn đường cho ông là vì có hẹn với thằng bạn trung úy chỉ huy canh phòng vòng ngoàiT Có lẽ hắn đã chết.

-Hừ... chết thì khỏi phải sống, có gì mà anh thở dài như bị người yêu đá đít vậy?

-Ông không biết đấy thôi. Cô gái đẹp tuyệt trần mà tôi thường khoe với ông lại là vợ của thằng trung úy phòng vệ.

-Hắn chết càng lợi cho anh. Thành thật chia mừng với anh.

-Hỏng bét rồi. Chồng chết cô ả sẽ bỏ tôi. Để tôi kể cho ông nghe, cô ả thuộc loại đa tình, bạ ai cũng mê, nhựng không dám cắm sừng công khai hoặc bỏ theo người khác vì lẽ thằng chồng dữ hơn cọp xám. Hắn dọa hễ cô ả tằng tịu với ai là hắn cắt gân chân. Trước kia, nhiều cậu con trai tơ lơ mơ với vợ hắn đã bị hắn cắt gân chân trở thành tàn phế. Sở dĩ hắn chưa hành hạ cô ả vì có tôi bảo lãnh. Tôi gặp hắn hàng tuần tại căn cứ, và cho hắn biết tin tức về vợ. Hắn tin tôi kinh khủng. Tôi bảo lãnh với hắn là cô ả rất ngoan.

-Hừ... anh đòi cô ả trả công phải không?

-Thưa ông, phải. Tôi điều đình thẳng thắn với nàng, cứ hai ngày nàng gặp tôi một lần tại nhà thì tôi sẽ không tố cáo. Nàng không yêu tôi song vẫn phải nhận lời. ông ơi, nàng có bộ mặt đáng yêu nhất Nam-Mỹ, thân thể nàng vừa đều đặn lại vừa thơm phưng phức nữa.

-Nào có khó gì... mai mốt trở về Côlômbi, anh sẽ nói phịa là chồng cô ả còn sống nhăn răng.

-Phịa sao được? Nàng khôn lanh như quỷ. Mỗi lần tôi đến căn cứ, nàng đều gửi thư tay cho thằng chồng, và thằng chồng coi trong thư mà trả lời.

Buru hụt chân, nếu Văn Bình không kéo lại hắn đã tụt xuống hố. Con đường đất đỏ toàn hố là hố. Văn Bình có cảm tưởng là mặt đường vừa bị hàng trăm chiếc xẻng máy khổng lồ múc đất lên để lộ những cái hố sâu hoắm đầy nước.

Buru vất vả lắm mới lấy lại được thăng bằng. Nhưng hắn đứng chưa vững thì có tiếng đạn nhảy vào nòng súng kêu "soạch" và tiếng hô:

-Đứng lại!

Một bóng đen từ mô đất lù lù bên đường tiến ra, khẩu tiểu liên trong tư thế ngang, nghĩa là không chĩa vào hai người. Văn Bình hỏi lớn:

-Anh là lính gác?

Bóng đen gật đầu:

-Phải. Tại sao chỉ có hai ông? Còn những người khác đâu?

Những câu hỏi dồn dập của tên lính gác không làm Văn Bình ngạc nhiên. Theo sự suy luận của chàng thì tên lính đinh ninh hai người chỉ là thành phần tiền sát, còn đại đơn vị đang lục tục kéo đến sau. Cơn động đất tiếp theo hỏa diệm sơn phun lửa đã gieo tang tóc trong căn cứ 4Q, binh sĩ và nhân viên kỹ thuật sống sót đã hoàn toàn bị cô lập với thế giới bên ngoài; màn sương dầy đặc không cho phép phi cơ hoạt động, họ đành chờ đợi công cuộc tiếp tế bằng đường bộ.

Văn Bình đáp:

-Những người khác sẽ đến sau.

Tên lính gác quăng súng xuống đất, ôm chầm lấy chàng hôn hít. Hàm râu quai nón của hắn chưa được ngửi mùi dao cạo từ nhiều ngày nay, những sợi cứng tua tủa đâm vào má Văn Bình, làm chàng nhật nhạt. Trước kia, mỗi khi quên cạo râu mà ôm Nguyên Hương hôn, chàng tỏ vẻ bất mãn vì nàng nhăn mặt kêu đau. Chàng thường bảo nàng bằng giọng hờn mát "em ghét anh nên chẳng có gì cũng la oai oái". Sợ chàng giận, Nguyên Hương phải nhoẻn miệng cười làm lành. Được nàng chiều chuộng, dần dần chàng trở thành "hư thân mất nết", có khi hai ba ngày không cạo, râu ria xồm xoàm vẫn nằng nặc đòi hôn. Mà chàng có chịu hôn hai, ba phút cho cam! Xoàng ra cũng 5 phút. Cái hôn trái khoáy của tên lính trong căn cứ 4Q bất giác khiến chàng nhớ đến Nguyên Hương, nữ thư ký trung thành của ông Hoàng không bao giờ lấy chồng, Quỳnh Loan, người vợ không bao giờ cưới cua chàng, và Văn Hoàng, đứa con trai duy nhất tập tểnh bước vào nghề ruột của cha, ngày đêm thách đố với tử thần.

Buru lôi giật tên lính ra, giọng dấm dẳng:

-Anh điên hả?

Tên lính giật mình, vội đứng nghiêm:

-Xin lỗi. Em xin lỗi đại úy. Mấy ngày nay, tinh thần em bị bấn loạn. Em mừng quá nên....

Buru trợn mắt chỉ Văn Bình:

-Mày phải gọi là đại tá mới đúng.

Tên lính bồng súng chào:

-Thưa đại tá....

Văn Bình vỗ vai hắn, ôn tồn:

-Số thương vong trong căn cứ là bao nhiêu?

Hắn đáp:

-Thưa, bị thương nặng hoặc chết gần hết.

-Nghĩa là bao nhiêu?

-Em không rõ.

-Còn mấy người sống sót?

-Em cũng không rõ. Ngay sau khi đất chuyển, những tảng đá lớn trên núi đồ xuống, em bị bất tỉnh. Khi em thức dậy thì căn cứ đã biến thành đống gạch vụn, đại tá Liu đang ngồi bên giường, mặt đầy bông băng, tay chân bị đứt gãy nhiều chỗ.

-Đại tá Liu, tư lệnh căn cứ?

-Thưa vâng. Đại tá Liu bị thương nặng nhưng may mắn là tạng phủ còn nguyên vẹn. Một số sĩ quan thân cận ông ta cũng còn sống. Động đất xảy ra ban đêm, đúng 21 giờ, nếu sớm hơn, hoặc chậm hơn vài giờ đồng hồ nữa thì chắc chắn toàn thể điều thiệt mạng. Vì, thưa ông, 21 giờ, đài truyền hình Qui-tô phát một chương trình rất hấp dẫn, mọi người ở trong căn cứ buồn teo nên tụ tập trước máy tiyi đặt trong câu lạc bộ ở tầng sát mặt đất. Tầng nầy được đồ bê-tông cốt sắt kiên cố, bom rớt xuống cũng không bị hề hấn... sở dĩ đại tá Liu bị thương là do mảnh vụn gạch đá và bàn ghế.

-Anh có biết....

Văn Bình chỉ nói 3 tiếng rồi nín bặt. Chàng định hỏi hắn có biết kỹ sư Anbe Doarê ra sao không song chàng cảm thấy hớ hênh dại dột.

Tên lính lập lại:

-Thưa, biết gì ạ?

Văn Bình lắc đầu:

-Không. Lát nữa, tôi hỏi đại tá Liu cũng được. Hiện đại tá ở đâu?

-Vâng, xin mời đại tá theo em.

Tên lính đi trước, chân cao chân thấp. Giờ đây, Văn Bình mới nhận thấy hắn bị thương nơi chân, một ống quần rách tòn ten để lộ bông băng trắng xóa. Phải dùng lính què canh gác, điều này chứng tỏ căn cứ 4Q, báu vật điện tử của tình báo Hoa-kỳ và châu Mỹ la-tinh đã bị cơn địa chấn dữ dằn bất thần san thành bình địa.

Tên lính bước cà nhót qua một cánh cổng lớn. Thật kỳ lạ, mọi vật chung quanh đều đổ nát, riêng cánh cổng sắt vẫn đứng trơ trơ như muốn thi gan với tai họa. Ánh trăng xuông vờn chiếu trên những tấm lưới sắt sơn trắng. Con đường từ cổng dẫn vào bên trong trước đây được tráng xi-măng phẳng bóng, giờ đây đã lún sâu xuống hoặc trồi cao lên, cách 4, 5 thước lại có vết nứt ngang. Văn Bình nhìn bên trái: một đoàn xe đốt-cát sơn màu kaki, màu quân xa Mỹ nằm dán xuống đất. Chàng có cảm tưởng đoàn xe cam-nhông bị đặt dưới máy ép khổng lồ. Gần đó, hai chiếc xe díp nằm chổng bốn bánh lên trời. Bên phải, một cây cột lớn bằng sắt, có lẽ là kỳ đài, bị tiện đôi, nhưng nửa trên chỉ gẫy gục xuống, chứ chưa đứt lìa. Xa xa là những cột vô tuyến điện và radar, tất cả đều sụp đổ.

ống chì và dây điện nằm ngồn ngang trên mặt đất lồi lõm. Tên lính chỉ đống đá trước mặt:

-Đại tá Liu đang ở dưới hầm. Mời hai ông rẽ vào đây. Yêu cầu hai ông cẩn thận, hồi sáng, một trung sĩ trượt chân ngã luôn xuống vực mất tích, dường như vực thẳm này ăn sâu vào tận ruột trái đất. Hôm qua còn nóng như lửa cháy, đến sáng nay mới bắt đầu nguội.

Tên lính dừng lại trước cửa hầm. Văn Bình nhìn thấy một tên lính khác, phục sức có vẻ tươm tất hơn nhưng cổ lại quấn đầy bông băng. Tên lính này không cầm súng. Hắn đứng chống nạnh bên cánh cửa xuống hầm, nét mặt thờ thẫn như người vừa bị tình nhân cho "leo cây".

Từ dưới hầm hắt lên một lằn sáng vàng vọt. Mùi ẩm mốc lẫn mùi máu tanh tưởi, mùi thuốc sát trùng xông vào mũi Văn Bình. Tên lính cà nhót nhô đầu lên nói:

-Đại tá Liu mời hai ông xuống.

Đại tá Liu không thể lên miệng hầm đón hai ngựời vì lẽ dễ hiểu ông phải nằm mọp trên giường, một cái giường sắt bệnh viện bị cụt hai chân được kê ngay ngắn bằng những cái thùng gỗ đựng thực phẩm chồng chận lên nhau. Căn hầm khá rộng nhưng đồ đạc chẳng có gì hết ngoài mấy cái bàn sắt lỏng chỏng và cái giường sắt duy nhất của đại tá Liu. Các nhân viên khác bị thương đều nằm sóng sượt trên nền xi-măng gồ ghề.

Không khí trong hầm hoàn toàn im lặng. Một người đàn ông trung niên mặc quần sọt kaki rách bươm, đội mũ vải đeo dấu hiệu hồng thập tự, chắc là y sĩ, khoát tay ra hiệu cho Văn Bình. Toàn căn hầm chỉ có một ngọn đèn. Và ngọn đèn này là đèn dầu hỏa.

Thấy Văn Bình, mọi người khỏe mạnh trong hầm đều đứng dậy. Họ đều mặc quân phục nhàu nát, vẻ mặt lo lắng xanh lét. cấp cao nhất trong bọn là thiếu tá.

Viên thiếu tá từ từ tiến lại, đến gần Văn Bình, hắn cất tiếng nói thật nhỏ, gần như thì thào:

-Đại tá Liu bị thương nặng cần được tĩnh dưỡng nên ỵ sĩ không cho phép nói lớn tiếng, xin hai ông hiểu cho. Hai ông ở đâu tới, thủ đô Qui-tô phải không? Có lẽ dưới ấy cũng bị tàn phá nên các ông đến chậm. Chúng tôi đã bàn tính với nhau, nếu đêm nay không có lực lượng tiếp cứu tới nơi thì sáng mai chúng tôi phải tìm cách ra khỏi thung lũng.

Văn Bình không trả lời thẳng vào câu hỏi của viên thiếu tá. Chàng chỉ nói vắn tắt:

-Tôi có công vụ quan trọng, cần gặp đại tá tư lệnh.

Viên thiếu tá ngạc nhiên:

-Hiện tôi là quyền tư lệnh. Như ông đã thấy, đại tá Liu chưa thể tiếp ông được. Tôi sẽ thay đại tá Liu giải quyết công vụ ấy.

-Theo chỉ thị, tôi chỉ được phép liên lạc và bàn định với đại tá Liu.

-Nghĩa là công vụ của ông không dính dáng đến việc tiếp cứu khẩn cấp?

Văn Bình nói dối:

-Có. Hai việc đều liên hệ với nhau. Nhưng đội tiếp cứu chưa thể đến kịp đêm nay. Thoạt tiên, chúng tội bố trí tiếp cứu bằng đường hàng không, kế hoạch này bị hủy bỏ vì nhiều phi cơ bị rớt và hoa tiêu tử nạn. Đơn vị tiếp cứu phải dùng đường bộ. Chúng tôi đến trước để....

-Phụ trách an ninh?

-Không. Để gặp đại tá Liu.

-Mời ông ngồi chờ. Y sĩ cho biết cuống họng đại tá Liu bị rách, chưa chắc có còn nói được không.

-Vâng, tôi xin ngồi chờ.

-Như ông đã rõ, đây là căn cứ quân sự, phải có giấy phép đặc biệt mới được xuất nhập. Nếu tôi không lầm, khi ông qua vọng gác bên ngoài, lính gác của tôi quá mừng rỡ nên không đòi xuất trình giấy tờ chứng minh. Các ông là ai? Dân sự hay quân nhân?

-Tôi sẽ xuất trình chứng minh thư với đại tá Liu.

-Ông nói lạ! Nếu ông không tuân lệnh, miễn cưỡng tôi phải sai lính nhốt lại.

Vừa nói hắn vừa rút súng lục đeo thắt lưng ra, chĩa vào ngực Văn Bình. Chàng cười nhạt và nghiêm giọng:

-Thiếu tá không đượn hỗn. Theo hệ thống quân giai, tôi ở trên thiếu tá hai cấp.

-Ông là đại tá?

-Phải, nhưng thiếu tá không có quyền hỏi. Tôi đã nói hồi nãy: chỉ có đại tá Liu mới có quyền. Đồng thời, tôi cũng xin thiếu tá cất cái đồ chơi trẻ con ấy đi, kẻo tôi nổi giận thiếu tá sẽ gẫy nốt cánh tay phải.

Viên thiếu tá xạm mặt. Hắn bị thương trên tay trái, chắc gẫy xương nên đeo hai miếng gỗ dẹp tòn ten. Hắn toan làm dữ nhưng luồng nhỡn tuyến oai nghiêm của Văn Bình như mũi dao giải phẩu làm toàn thân hắn đau nhói. Hắn suy nghĩ một vài giây đồng hồ rồi buông tay xuống. Văn Bình ném khẩu súng vào cái nệm cao-su bẩn thỉu kê sát tường, rồi quay mặt về phía y sĩ:

-Đại tá Liu nằm trên giường sắt phải không?

Y sĩ gật đầu. Văn Bình tiến lại. Y sĩ kéo ghế ngồi bên giường. Đại tá Liu trạc ngũ tuần, tóc bạc gần hết, vẻ mặt khắc khổ, dáng người mảnh khảnh, đống băng trắng quấn cổ che khuất gần hết 6 hàng huy chương chói lòa trên ngực.

Y sĩ nói nhỏ:

-Có người từ thủ đô đến yêu cầu được gặp đại tá. Đại tá không nên nói. Tôi để giấy bút trong tầm tay, đại tá có thể bút đàm. Tuy nhiên, vì sức khỏe của đại tá chưa hoàn toàn hồi phục, tôi chỉ thỏa thuận cho đại tá trò chuyện trong vòng 3 phút, 5 phút là tối đa.

Hắn chìa tay mời Văn Bình:

-Xin mời ông bắt đầu.

Văn Bình ra lệnh cho Buru:

-Anh hướng dẫn mọi người lại góc hầm. Tôi muốn bàn bạc riêng với đại tá Liu.

Viên thiếu tá nhăn mặt ra vẻ không bằng lòng. Buru hắn giọng:

-Thiếu tá không nên lộn xộn nữa thì hơn. Công tác chúng tôi có tính cách tối mật. Chúng tôi có toàn quyền bắn bỏ những người không tuân lệnh.

Toàn thể sĩ quan trong hầm đều cúi gầm mặt, lừ lừ đi ra góc hầm, kể cả viên thiếu tá bướng bỉnh. Buru vừa bịp một cách trắng trợn. Cũng như chàng, hắn không có quyền bắn ai. Ngay cả trên đất Mỹ, C.I.A. hét ra lửa mà nhân viên cao cấp C.I.A. vị tất dám đụng đến lông chân thiên hạ và chà đạp luật pháp, huống hồ đây là xứ Equatơ, một nước có đầy đủ chủ quyền. Nói cho đúng, Văn Bình có quyền giết người, nhưng đó là giết lén lút, giết không lưu lại dấu vết.

Đại tá Liu ngước cặp mắt cận thị nặng nhìn Vặn Bình. Chàng dí chứng minh thư phái viên đặc biệt C.I.A. vào mũi hắn. Hắn đọc được những giòng chữ li ti trên tấm thẻ lát-tích tí hon này hay không, chàng không biết nổi, vì vẻ mặt hắn không hề thay đổi. Chàng có cảm tưởng Liu đang nửa mê nửa tỉnh, và bản tính quân nhân chuyên nghiệp kiêu hãnh bắt hắn tự coi là tỉnh. Chàng hỏi hắn:

-Đại tá đọc kỹ chưa?

Liu gật đầu. Chàng lại hỏi:

-Đại tá muốn về Qui-tô hay muốn điều trị tại đây?

Ngón tay dùng thay cho bút chì, Liu viết tháu trên nệm chữ Q. Văn Bình cười, thân mật:

-Yên tâm. Sáng tinh sương, thời tiết bớt dữ dằn, trực thăng tải thương sẽ đáp xuống chở đại tá.

Ngừng một chút, chàng hỏi:

-Tôi cần gặp kỷ sư Anbe Doarê. Gặp ngay bây giờ.

Cặp mắt đại tá Liu có vẻ ngạc nhiên. Hắn viết một chữ cộc lốc.

-Đi.

-Đi đâu?

-Khỏi đây.

-Bị thương?

-Không.

-Tại sao lại đi khỏi căn cứ?

-Không biết, vả lại, sau khi tai họa xảy ra, tôi ra lệnh cho toàn thể tự động di tản. Dầu tôi không ra lệnh, họ cũng bỏ đi, tôi bị thương nặng, họ vứt tôi một xó, không ai ngó ngàng tới, khi tôi tỉnh dậy, họ đã trốn gần hết, tôi ra lệnh chẳng ai thèm nghe.

-Bao nhiêu người bỏ đi?

-Không rõ. Vì còn rất nhiều người thiệt mạng, nằm kẹt dưới đống đá gạch, chưa dỡ lên được. Người bị thương cũng chưa kiểm điểm được. Hiện có 6 sĩ quan thân cận ở trong nhà hầm này với tôi.

-Nghĩa là còn lại 6 người?

-Phải.

-Doarê rời căn cứ hồi nào?

-Chập tối.

-Tối hôm nay?

-Vâng, tối hôm nay. Tại sao ông không quan tâm đến số phận của mọi người mà chỉ nghĩ đến riêng kỹ sư Doarê? Hắn là người dược rất ít cảm tình của đồng nghiệp trong căn cứ.

-Xin lỗi, tôi không thể trả lời, vì lẽ tôi cũng chưa quen Doarê. Lệnh trung ương giao cho chúng tôi tiếp xúc với Doarê.

-Đáng tiếc, ông đến hơi chậm.

-Doarê lên đường một mình hay với ai?

-Với một người bạn.

-Bạn nào?

-Không biết.

-Không biết, tại sao đại tá biết là bạn?

-Vì thấy họ đi với nhau.

-Tên là gì?

-Không biết.

-Cao hay thấp?

-Thấp. Rất thấp.

-Có dấu vết nào đặc biệt không?

-Không.

-Đeo đồng hồ?

-Văn Bình toan hỏi "hắn có đeo vòng sơ-men ở cổ tay không" song chàng vội hỏi trệch ra "đeo đồng hồ" vì một tiếng động lạ vừa lọt vào tai chàng. Chàng ngồi hơi nghiêng để có thể kiểm soát được toàn diện nhà hầm bằng mắt. Bọn sĩ quan bị Buru dồn vào góc vẫn im thin thít. Viên thiếu tá ba gai liếc trộm chàng, miệng lẩm bẩm như thể chửi thầm. Buru xoạc chân, dáng điệu sung mãn, khẩu súng còn quay múa trong tay. Chàng suýt phì cười, nếu phải lảy cò, không hiểu hắn phải dùng đến xạc-giơ thứ mấy mới bắn trúng mục phiêu.

Tiếng động lạ này rất nhỏ, chỉ phớt nhẹ như chiếc lá vàng rụng, song Văn Bình không thể nghe lầm. Nằm dài trên giường sắt loang lồ sơn và máu đen, đại tá Liu ho khò khè. Có lẽ đờm đang dâng lên, chặn ngang ngực viên sĩ quan ốm yếu ngũ tuần. Da mặt hắn đỏ gay, nhưng không phải là màu đỏ báo hiệu cho sức khỏe mà là màu đỏ báo hiệu cho một cuộc sống sắp sửa tàn lụi.

Ngón tay đại tá Liu ngó ngoáy trên khăn giường để bút đàm như trước nữa, Văn Bình nhận thấy tay hắn bắt đầu bắt chuồn chuồn, và hắn ngáp luôn mấy cái. Dưỡng khí thiếu hụt trong máu nên hắn phải ngáp. Nếu chàng không tiếp tục hỏi thêm, hắn sẽ ngáp liên tục trong một vài phút nữa rồi lịm luôn.

Nhưng trước hết, chàng phải vận dụng phép kuatsu để tạm kéo đại tá Liu ra khỏi nanh vuốt của Tử Thần. Chàng nín hơi, vận công vào đầu ngón tay trỏ, ấn mạnh vào yếu huyệt trên màng tang. Bệnh nhân hự một tiếng nhỏ, miệng đang quai ra để ngáp vội khép lại.

Chàng hỏi dồn:

-Người bạn cùng đi với kỹ sư Doarê có đeo cái gì nơi cườm tay không? Đại tá cố nhớ lại coi?

-Không nhớ.

-Chẳng hạn đeo đồng hồ vàng. Hoặc đeo một lô vòng sơ-men như đặc biệt...

-Vòng sơ-men? Có lẽ thế...

-Có lẽ hay đại tá đoán phỏng?

-Giờ đây tôi có thể nói chắc. Đúng rồi, người đàn ông này đeo vòng sơ-men đầy cổ tay, vòng nhỏ bằng bạch kim bóng loáng.

-Họ đi thẳng về thủ đô?

-Không.

Đại tá Liu lại thở khò khè. Phút cuối cùng sắp đến, Văn Bình thúc dục:

-Hay là họ về làng Dua?

Mắt đại tá Liu vụt sáng lên. Trên miệng hắn nở một nụ cười thỏa mãn. Nhưng hắn chưa ki.p phản ứng thì Văn Bình nghe độp một tiếng. Một vật cứng từ miệng hầm rớt xuống. Không phải tình cờ rớt xuống vì nó xiên góc 45 độ. Người đứng bên trên đã chủ tâm ném vào cái giường ở góc hầm, nơi có đại tá Liu và Văn Bình.

Chàng chưa biết vật cứng này là gì nhưng linh tính và bản năng nghề nghiệp đã xẹt nhanh như luồng điện trong óc bắt chàng phóng mình nằm nhoài ra đất.

Oác oác, ầm ầm....

Vật cứng này là trái lựu đạn. Căn hầm đóng kín, chỉ chừa một cửa mở bên trên nên tiếng lựu đạn nồ kêu ầm như tiếng bom. Nhiều tiếng la hét cùng cất lên một lượt.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:26 pm

Chương 5. Người đàn ông bí mật đeo vòng

Quả lựu đạn rơi trúng đầu giường sắt, nhảy lên như quả bóng tơ-nít trước khi nổ tung. Mảnh đạn văng tứ phía, tuy nhiên không gây thương tích cho đám quân nhân run rẩy bị Buru dồn cứng yào góc hầm. Nhờ thoát lẹ, Văn Bình cũng không bị hề hấn. Nhưng đại tá Liu lại không may mắn. Trong chớp mắt, nệm giường màu trắng ngà đã đỏ ngầu, máu chảy lênh láng. Phần trên đại tá Liu biến thành đống thịt nhầy nhụa. Nạn nhân tắt thở trước khi bị sức ép của vụ nổ hất tung xuống đất. Văn Bình chồm dậy thật nhanh. Chàng nghe tiếng chân người rồn rập trên miệng hầm. Nhưng đến khi chàng vọt lên cầu thang, ló đầu ra ngoài thì không còn nghe tiếng động này nữa. Chàng cũng chẳng nhìn thấy ai mặc dầu ánh trăng chiếu xuống rất rõ. Buru khập khiễng trèo lên theo. Chàng hỏi hắn:

- Bị thương?

Hắn lắc đầu, giọng lẩy bẩy:

- Không.

- Có ai bị thương không?

- Dường như ba, bốn người. Còn đại tá Liu...

- Chết banh xác. Bây giờ chúng mình quay về...

- Làng Dua?

- ừ, còn lối tắt nào nữa không?

- Trèo qụa núi thì đường gần hơn. Có trăng sáng, tôi có thể dẫn ông đi đường tắt được. Nhưng mình cũng phải xuống hầm cứu chữa cho bọn sĩ quan bị trúng miễng lựu đạn đã chứ?

- Phải lên đường ngay mới kịp. Sợ kỹ sư Anbe Doarê biệt tích, khó tìm lắm.

Trên nguyên tắc, Buru mù tịt về Doarê. Hắn chỉ là thiên lôi, chỉ đâu đánh đó, hắn chỉ có bổn phận hướng đạo từ biên giới đến căn cứ 4Q. Hắn đã thành bạn đường thân tín, chàng nhận thấy không nên giấu hắn nữa. Chàng tưởng hắn ngạc nhiên, không dè chàng vừa nói hắn đã đáp leo lẻo:

- Nếu quả thật kỹ sư Doarê đến làng Dua thì phải nghỉ đêm tại trạm gác.

- Tại sao anh biết?

- Bọn sĩ quan kháo với nhau. Họ nói là trạm gác liên lạc căn cứ 4Q được đặt tại làng Dua.

Văn Bình bất thần bước tréo sang bên. Chàng lại nghe tiếng chân người. Sau lưng chàng, một đống sắt vụn đứng lù lù. Tiếng chân người từ sau đống sắt phát ra. Chàng quát:

-Ai?

Im lặng. Buru rút súng chờ. Một phút nặng nề trôi qua. Tiếng động khả nghi nín bặt. Văn Bình ra hiệu cho Buru:

- Kệ nó. Thôi chúng mình đi.

Nửa giờ sau, hai người về đến làng Dua. Quả như Buru nói, đường xuyên núi gần hơn nhiều, nhưng trèo qua những tảng đá lớn và trơn trượt là chuyện hết sức vất vả, nếu trời tối như hồi nãy thì rất dễ lọt xuống vực thẳm. Nơi Fêlin và hai cô gái nghỉ lại cũng là làng Dua, nhưng là một xóm ở phía Nam, quang cảnh tiêu điều, hầu hết nhà cửa đều bị địa chấn phá nát. Lần này, con đường tắt dẫn hai người đến xóm Bắc, ở vắt vẻo trên cao, giữa những rặng thông cao vút, và những ngôi nhà xây gạch đã khá kiên cố, lại không nằm ở trong trung tâm tàn phá của trận động đất hung hãn.

Văn Bình yên lòng khi nhìn thấy những đốm lửa le lói. Cuối xóm Bắc, trạm liên lạc của căn cứ 4Q được xây trên một mô đá lớn, cao lêu nghêu như nhà ba tầng. Vì một ngẫu nhiên kỳ lạ, những ngôi nhà thấp chung quanh đều ngã rụm, trong khi trạm liên lạc vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí cột cờ bằng gỗ trước vọng gác mảnh khảnh tưởng như gíó thổi nhẹ là gẫy vẫn còn trơ trơ, và ở đầu mút là lá cờ Qui-tô bay phất phới một cách kiêu căng và thách thức.

Văn Bình xô cánh cửa khép hờ. Bên trong không có ai. Quân số trong trạm liên lạc gồm nửa tiểu đội, đặt dưới quyền chỉ huy của một trung sĩ. Văn Bình cất tiếng kêu nhưng không có ai trả lời. Chàng dạo quanh một vòng rồi bảo Buru

- Bọn lính chạy hết rồi. Nếu có, kỹ sư Doarê phải nghỉ ở đây. Hay là....

Buru nói:

- Có lẽ trạm gác ở trên mỏm đá cao nên họ sợ. Tôi chắc họ rút xuống nhà xã trưởng, vì ở dưới thấp an toàn hơn.

Buru luồn qua một bụi cây um tùm, dẫn Văn Bình xuống con đường dốc thoai thoải. Chàng nghe nước sông chảy rì rầm. Đâu đây có tiếng người. Chàng đứng lại, tìm phương hướng âm thanh. Buru reo mừng như đứa trẻ được đồ chơi mới:

- Đây rồi, ông ơi!

Không kịp giải thích, cũng như không đợi Văn Bình trả lời, Buru chạy vụt xuống. Nhưng chỉ một giây đồng hồ sau, hắn vấp rễ cây, nằm thẳng cẳng trên dốc, miệng la oai oái. Hắn chống tay, gượng đứng dậy, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng. Văn Bình thương hại cõng hắn lên lưng. Đột nhiên, hắn quên hết đau đớn, cười nói huyên thiên.

Văn Bình men theo lối nhỏ, bước qua những rặng thông lớn đến một khoảng đất bằng, bên trên nhà cửa mọc xây san sát như bát úp. Rặng thông vươn cao hơn mái nhà nên đứng trên cao chàng không nhìn thấy. Dường như trận địa chấn không bén mảng đến nơi này vì những ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng vẫn còn nguyên.

Tiếng người trò chuyện mỗi lúc một rõ. Ngaỵ bên trái, Văn Bình thấy một đống lửạ lớn, củi cháy kêu lốp bốp, hàng chục đàn ông đàn bà phục sức lôi thôi lốc thốc quây quần chung quanh. Chàng biết họ là dân tản cư từ những vùng bất an kế cận kéo tới. Dưới ánh lửa đỏ, khuôn mặt rám nắng của họ giống nhau như hai giọt nước, má người nào cũng lõm sâu, và lõm sâu nhất là đôi mắt. Họ mới mất ngủ một vài đêm mà Vặn Bình tưởng như từ nhiều tháng nay họ chưa hề được chợp mắt. cảnh tàn phá hãi hùng đã làm họ mất hẳn tinh thần.

Mọi người cùng ngoảnh lại khi Văn Bình và Buru tiến tới. Tuy vậy, họ đều im lặng. Tiếng rì rầm hồi nãy câm bặt. Trẻ con, người già co ro bên đống lửa: hầu hết đều nằm ngay trên đất, không có chăn chiếu. Gia súc trà trộn trong đám đông, một con trâu lông bạc phơ đứng một mình, đuôi phe phẩy một cách lừng khừng, dường như muốn xua đuổi đàn muỗi phiến loạn, con nào cũng lớn gần bằng con ruồi đồng, nhưng không lấy đâu ra sức, xa hơn là mấy con gà gô đỏ chót nhảy nhót lăng xăng, một con đón chào khách quý Văn Bình bằng một tiếng gáy trái cựa, thậm chí có cả khỉ con và mèo đen nữa. Con khỉ lông vàng rộm nhe cái miệng đỏ chót cười tình với chàng, trong khi ấy hai chú mèo đen tuyền đang nằm sưởi gần lửa bỗng nhảy vọt lên nắp thùng gỗ đựng nước uống, giương cặp mắt sáng như có chất lân tinh ngó Văn Bình nhưng khi Văn Bình ngó lại thì hai con giật mình kêu meo meo một tiếng kinh rợn rồi chạy biến phía sau tảng đá được dùng làm ghế ngồi cho người đàn ông lớn tuổi nhất, vẻ mặt đạo mạo nhất trong bọn.

Người đàn ông này là xã trưởng. Hắn từ từ đứng dậy nhưng cũng như dân làng, hắn không hé môi. Buru liếng thoắng chào hỏi. Văn Bình mỉm cười một mình trong khi Buru trò chuyện liên tu bất tận với xã trưởng bằng thổ ngữ. Chàng mỉm cười vì Buru phát biểu lưu loát và dõng dạc, như thể hắn là cấp chỉ huy. Giọng nói của hắn có vẻ oai, bằng chứng là xã trưởng chăm chú nghe và dạ lia lịa. Khi Buru ngưng nói, xã trưởng hắn giọng đoạn chỉ tay ra sau rồi líu la líu lô.

Buru quay lại phía Văn Bình, giọng nghiêm trọng:

- Mời ông theo tôi.

Buru trèo qua nhiều phiến đá lớn nằm ngồn ngang, rồi đặt chân lên con đường sỏi đen. Sừng sững trước mặt là cái cổng tò vò xây gạch đỏ, tạo cho cảnh vật một vẻ nên thơ quyến rũ. Nếu trận địa chấn không gây ra hàng trăm thương vong, và nếu thần Chết không lởn vởn bên bản phúc trình tối mật mà kỹ sư Anbe Doarê hứa gửi cho trung ương tình báo Mỹ; thì Văn Bình đã quyết ở lại, cùng giai nhân bản xứ nhảy ùm xuống sông tắm mát trước khi tìm nệm cỏ êm ái để kể chuyện ân tình....

MÙI thuốc sát trùng và mùi máu tanh tưởi tạt vào mũi làm Văn Bình tỉnh mộng. Bước qua cổng gạch uốn, Văn Bình khựng người, trên nền đất một nhà cầu rộng thênh thang, người nằm ngồi la liệt, phần đông là phụ nữ, con trẻ, và phần đông đều bị thương. Thì ra đây là bệnh xá tạm để chữa trị nạn nhân của cơn động đất.

Nếu trời không sáng trăng thì bệnh xá tối om. Vì cả tòa nhà chỉ có vẻn vẹn một cây đèn măng-sông. Vùng biên giới không thiếu dầu hỏa, những giếng dầu khai thác có thể cung cấp cho dân Equatơ xài thả cửa, vậy mà ngọn đèn này lại được vặn nhỏ li ti, có lẽ vì sợ hết nhiên liệu.

Buru chỉ người đàn ông gầy guộc mặc áo choàng trắng, tai đeo ống nghe mạch, đang đi lại lăng xăng giữa đám nạn nhân mình đầy bông băng:

- Bác sĩ đấy!

Tưởng Buru giới thiệu gì mới lạ, chứ chỉ nói có thế thì hắn đã phí thời giờ, và phí nước bọt một cách vô ích. Đứa trẻ ngây thơ hoặc dân mọi ngu dốt trong vùng cũng biết y sĩ đội mũ có dấu thập đỏ, và mặc bờ-lu trắng toát. Văn Bình bèn nhún vai:

- Bác sĩ hả? Thế mà tôi cứ tưởng ông ta là kỹ sư Anbe Doarê.

Buru nghiêm mặt:

- Diễu cợt tôi làm gì tội nghiệp, ông ơi! sở dĩ tôi nói đến bác sĩ vì ông ta là người duy nhất ở đây khả dĩ giúp ta tìm ra kỹ sư Doarê.

Nghe Buru nói Ồm Ồm, viên y sĩ quay lại. Trông sau lưng, y có vẻ già. Văn Bình đoán phỏng từ 50 tuồi xấp lên, căn cứ vào đôi vai rụt những những sợi tóc bạc lởm chởm, óng ánh dưới ánh trăng từ ngoài chiếu vào. Khi y sĩ quay lại, Văn Bình hơi sững sốt vì hắn không già chút nào. Hắn trạc 27, 28 tuổi là cùng, đôi môi thâm sì tố cáo hắn là đệ tử của ả Phù Dung, hoặc có tâm địa nham hiểm. Tóc hắn bạc có lẽ vì xấu máu. Hắn nhìn Văn Bình bằng cặp mắt lờ đờ, dường như hắn nhìn mà không thấy; bằng chứng là y đứng im như phỗng sành, chẳng nói chẳng rằng, đôi kiếng cận dày cộm, gọng mạ kền trễ xuống nửa sống mũi.

Buru nhanh nhẩu:

- Chào bác sĩ.

Viên y sĩ phớt tỉnh trước lời chào hỏi đậm đà của Buru. Trên tấm ván gỗ mục gần đó, một thiếu phụ da đã nhăn nheo như quả táo tầu khô đang rên khừ khừ. Y sĩ đút đầu ống nghẹ vào lỗ tai rồi cúi xuống, nghe tim. Mặt hắn vẫn phẳng lì như tảng đá cẩm thạch. Thiếu phụ cựa mình nhè nhẹ, tay bắt chuồn chuồn, miệng lắp bắp:

- Chết tôi mất, trời ơi!

Y sĩ nhấc ống nghe, dáng điệu trầm ngâm. Một phút sau, hắn lắc đầu, quay sang bên để khám người khác. Đột nhiên, Văn Bình nổi da gà, thiếu phụ nằm trên ván gỗ vừa cựa mình, cố gắng chống tay ngồi dậy, nhưng đã ngã rụp, ót dộng vào mặt ván kêu cộp một tiếng khô khan. Văn Bình bước lại gần, thiếu phụ ngửa mặt nhìn lên, hai mắt đầy tròng trắng đục lờ, miệng hơi mở ra, nhe nửa hàm răng đen sì, nứt nẻ và khập khểnh.

Thiếu phụ đã chết. Buru vội la:

- Bà này đã chết rồi, ông bác sĩ ơi!

Viên y sĩ ngó Buru bằng luồng nhỡn tuyến trách móc:

- Ông muốn gì?

- Thưa bác sĩ, bà này vừa chết.

- Phải, bà này vừa chết.

- Bác sĩ cũng biết là bà ta sẽ chết.

- Dĩ nhiên, từ hai hôm nay, gần năm chục người bị thương cũng chết như bà ta. ông cần gặp tôi phải không

- Phải.

- Tôi đang bận khám bệnh. Phiền ông chờ đến khi tôi xong việc.

Y sĩ ngừng một giây rồi tiếp:

- Sáng mai ông trở lại, tiện hơn. Vì có lẽ tôi khám bệnh đến sáng mai mới xong nổi.

- Thưa... chúng tôi có công việc cần, rất cần...

- Hừ.... ở đây, ai cũng có công việc rất cần như ông. cần nhất là chữa bệnh nhân hấp hối.

- Tôi xin bác sĩ giành cho một phút. Chỉ một phút ngắn ngủi thôi.

Buru lại bắt đầu ba hoa. Nhưng viên y sĩ đã khoát tay, mặt hơi nhăn:

- Muốn gì, ông nói ngay đi.

- Bác sĩ cho phép không?

Viên y sĩ thở dài:

- Tôi chưa gặp ai nhiều lời như ông. Thôi chào ông.

Văn Bình chặn viên y sĩ lại:

- Xin bác sĩ tha lỗi. Trong số nạn nhân điều trị ở đây, có ai tên là Doarê không?

Viên y sĩ vỗ trán, ra vẻ suy nghĩ:

- Kỹ sư Anbe Doarê làm việc tại căn cứ 4Q. Có, ông ta hiện ở đây. Bị thương.

- Nặng?

- Không. Chỉ bị bất tỉnh sau khi hụt chân ngã xuống hốc núi. Xương ống chân trái bị gẫy, thân thể chỉ bị xây xát xoàng. May gặp dân tị nạn trông thấy, khiêng về làng Dua.

- Doarê đã tỉnh lại chưa?

- Rồi.

- Tôi muốn gặp Doarê.

- Điều này không lên quan đến tôi. Tôi chỉ là y sĩ có nhiệm vụ chữa bệnh. Doa rê ở vào tình trạng đặc biệt, ông ta yêu cầu lực lượng an ninh 4Q biệt phái ở đây canh phòng cẩn mật. Nếu ông muốn gặp ông ta, xin ông giao thiệp với người gác.

- Doarê nằm ở đâu?

Viên y sĩ rút cặp kiếng cận thị ra lau vào vạt áo bờ-lu, lau xong, hắn chỉ tòa nhà gạch xiêu vẹo bên trái, cách chỗ hắn đứng gần trăm thước. Một phần tòa nhà đã tốc mái, không rõ vì địa chấn hay vì thời gian. Có lẽ đây là một trong những di tích của nền văn minh bản xứ. Theo lịch sử, cách đây cả ngàn năm, vùng Nam-mỹ, đặc biệt là ven biển Thái-Bình-Dương, là trung tâm của một nền văn minh đáng kể. Hầu hết những tác phẩm kiến trúc và mỹ thuật của thời đại nàỵ đã chìm sâu đáy biển hoặc nằm lấp trong lòng đất. Thỉnh thoảng trong rừng già, trên đỉnh núi cao, các nhà khảo cổ mới tìm thấy những mộ phần hoặc dinh thự xưa.

Viên y sĩ lại đeo ống nghe vào tai. Trước đó, hắn dặn Văn Bình:

- Kỹ sư Doarê nằm dưỡng bệnh trong phòng riêng, ông đi thẳng vào trong, rẽ tay trái đến căn phòng ở cuối hành lang, phía ngoài có người gác.

Văn Bình rảo bước về tòa nhà cổ. Nhờ ngọn gió từ đỉnh núi thốc xuống và hơi mát dưới sông dâng lên, mùi hôi thối và tanh tưởi đã bay tản. Buru phồng ngực:

- Ông bác sĩ tài thật. Tôi chỉ đứng lát nữa là ngạt thở mà chết.

Văn Bình không đáp. Chàng còn băn khoăn vì cái sân rộng đã tối, bên trong tòa nhà cổ còn tối hơn. Một cây đèn dầu sơ sài được đặt trên cái đôn sành mảnh khảnh cứ lập lòe dọa tắt. Nếu nhân viên địch núp đâu đây giở trò bắn lén, chàng khó có hy vọng tránh thoát. Khu nhà rộng mông mênh, chung quanh lại có nhiều bụi rậm và mỏm đá cao, địa hình này rất thuận tiện cho đối phương bắn sẻ.

Hai người vừa rẽ trái vào hành lang sâu hun hút thì cây đèn ngoài hiên bỗng tắt phụt. Buru cất tiếng:

- Lạ thật!

Văn Bình ép mình sát tường:

- Anh cứ chờ ở đây, để tôi đi lấy đèn.

Tuy nói vậy, chàng vẫn không nhúc nhích. Sau khi thăm dò động tĩnh, không nghe thấy tiếng động khả nghi, chàng mới men theo chân tường ra ngoài. Chàng quẹt diêm, châm ngọn đèn dầụ ở góc, đoạn bưng lộn vào hành lang. Ánh đèn đỏ quạch không đủ xua đuổi màu da trắng bệch của Buru. Chàng thấy rõ hàm răng hắn đánh cầm cập, và chân hắn không đứng vững.

Chàng đưa cây đèn dầu cho hắn:

- Anh cầm đèn, còn để mọi việc cho tôi.

Ngọn đèn lập lòe. Văn Bình bước nhanh lại căn phòng mở hé. Nhưng khi gần đến nơi, chàng vội ngừng lại. Chàng biết là chuyện chẳng lành đã xảy ra. Viên y sĩ nói là cửa phòng của kỹ sư Doarê có lính võ trang canh gác, nhưng chàng chẳng thấy ai, không lẽ tên lính sợ ma lẻn vào phòng với Doarê?

Văn Bình lên tiếng:

- Có ai trong phòng không?

Không có tiếng trả lời. Văn Bình co chân đạp cánh cửa. Cánh cửa đã long bản lề chỉ chờ chàng đụng vào là đổ văng xuống đất, những mảnh gỗ vụn bay tứ tán. Ngoài âm thanh do cánh cửa rớt xuống gây ra, chàng không còn nghe được gì nữa. Chàng lại gọi:

- Doarê? Doarê có ở trong phòng không?

Chàng rút súng cầm tay xồng xộc chạy vào. Trong phòng có hai cái giường sắt nhỏ, lọại giường sắt bệnh viện mà chàng đã thấy tại căn cứ 4Q. Giường bên trong có người nằm, còn giường bên ngoài trống không. Giường không có nệm cao-su cũng như khăn trải, bệnh nhân phải nằm trên cái chiếu rách nát.

Theo thường lệ, bệnh nhân nằm ngửa. Nhưng bệnh nhân này lại nằm sấp, chân co chân duỗi. Buru hỏi dồn:

- Đúng kỹ sư Anbe Doarê không?

Văn Bình gật đầu. Chàng vừa lật ngửa người nằm trên giường để xem xét. Đúng bệnh nhân là kỹ sư Doarê như đại tá Pít đã mô tả tường tận. Bệnh nhân đeo mục kỉnh gọng đồi mồi nạm vàng tây. Doarê vốn thích đồi mồi, có lẽ vì hắn là người Á đông sinh trưởng ở vùng ven biển, những ngày thơ ấu đùa nghịch với đồi mồi nên hình ảnh của vỏ đồi mồi đã nhập vào cơ thể hắn biến thành một phần cuộc đời.

Văn Bình vạch tai bệnh nhân: dưới vành tai trái có cục bướu nhỏ bằng hột bắp, màu trắng. Cục bướu này hoàn toàn bằng xươn sụn, khi chào đời Doarê đã có. Hai chi tiết này đủ chứng tỏ bệnh nhân là Doa rê bằng xương bằng thịt. Tuy nhiên, chàng vượt núi, băng rừng đến Equatơ không phải để nhìn kỹ sư Anbe Doarê nằm sóng sượt trên cái giường sắt lạnh lẽo. Chàng phải tiếp xúc với hắn. Và hắn phải giao tận tay chàng một cuộn băng nhựa tài liệu tối mật để chàng mang về Hoa-thịnh-đốn cho ông tổng giám đốc Sì-mít.

Công lao của chàng, công lao của đại tá Pít, công lao của ông Sì-mít đã trở thành dã tràng xe cát. Vì Doarê đang nằm trước mặt chàng là Doarê đã chết.

Buru sững sờ:

- ô kìa, tại sao ông ta lại nhăn răng ra thế?

Văn Bình chép miệng:

- Vì ông ta đã chết.

Buru lẩm bẩm:

- Chết, chết, trời ơi, định gặp ai thì người ấy chết. Không khéo tôi cũng chết, ông ơi!

Văn Bình không thèm quan tâm đến lời than thân trách phận của Buru. Hắn chết được thì nhân loại đỡ khổ. Sự sống của kẻ vô tích sự, chỉ khọái ăn, khoái chơi như hắn chỉ tổ làm nặng trái đất. Chàng bình thản vuốt mắt Doarê cho nhắm lại; Doarê không lấy gì làm đẹp trai, song người Á đông như hắn khá hiếm, vì hắn có bề cao vừa vặn, bề ngang nẩy nở, nét mặt khả ái, và làn da trắng hồng khỏe mạnh cộng với cách phục sức chững chạc đủ làm phụ nữ say mê....

Tuy nhiên Doarê không chết về mỏi mệt hoặc thương tích dọc đường, ồng chân trái bị gẫy đã được bó bột trắng xóa: nơi sườn nọn có một vết khâu lớn. Doarê chết vì cổ họng bị chặn nghẹt, kẻ giết Doarê phải là võ sĩ nhu đạo am tường bí quyết atêmi vì người thường khó thể chẹn động mạch cổ đồng thời chẹn khí quản. Nạn nhân chết vì bị bóp cổ thường sưng húp mặt, da tím ngắt, lưỡi thè lè. Ngoại trừ các nạn nhân của giới võ sư về điểm huyệt pháp.

Văn Bình lục túi xác chết. Da Doarê còn nóng, chứng tỏ hắn vừa bị hạ sát. Hắn cũng không bị hung thủ lục lọi. Văn Bình đặt những món đồ tùy thân của Doarê lên khăn giường và qụan sát tỉ mỉ. Doarê không thể giấu tài liệu trong cái quẹt máy nhỏ xíu hoặc trong gói thuốc Camel đã hút đến điếu cuối cùng, vả lại, đại tá Pít đã nói rõ là bản phúc trình mật của Doarê được ghi bằng mật mã trong băng từ thạch.

Không thấy gì, chàng lật nệm, gối và cả khăn trải giường lên. Cũng không thấy gì. Doarê nằm sóng sượt, trên mình còn nguyên bộ vét-tông xám, cái quần đồng màu bó lưng, ống chân voi. Bộ âu phục rách nhiều chỗ nhưng vẫn còn mới toanh, và được cắt hợp thời trang trong năm.

Buru hỏi Văn Bình, giọng lo lắng:

- Giờ đây, ông tính sao?

Văn Bình chưa kịp trả lời thì Buru đã kêu "ối" một tiếng lớn rồi ngã chúi vào tường. Trước đó chàng đã nghe tiếng gió ào ào và đoán biết là bị đánh trộm. Nhờ phản ứng nhậm lẹ, chàng thụp xuống, nhưng chàng không có thời giờ báo tin cho Buru. Kẻ địch núp trong khuỷu hành lang chủ tâm đánh gục cả hai người bằng thế đòn độc, với cây gậy rắn phạt tréo từ trên xuống.

Địch thu gậy về, Văn Bình vội lăn tròn trên nền đất, đề phòng đợt tấn công tiếp. Nhưng chàng đã thận trọng hơi thừa vì địch đã quăng gậy và chạy biến trong bóng tối. Văn Bình chồm dậy, chàng toan phóng theo nhưng lại nằm nhoài vì nghe một âm thanh khô khan quen thuộc, giống như tiếng "bụp" của nút bấc khui rút khỏi cồ chai sâm-banh.

Địch vừa nổ súng, Văn Bình co chân đạp đồ ngọn đèn. Căn phòng chìm vào tối om, ánh trăng bên ngoài bị mây đen giăng kín nên Văn Bình không dám rượt đuổi kẻ bắn lén. vả lại, Buru dộng đầu vào tảng đá chỉ kêu được tiếng "ối" độc nhất rồi lặng thinh, chàng phải cứu chữa cho hắn.

Cũng may, Buru chỉ bị xây sật nhẹ. Hắn khập khiễng vịn bờ tường đứng dậy. Thường ngày hắn đã có lối đi khập khiễng buồn cười, giờ đây hắn khập khiễng thêm: hoàn cảnh Văn Bình như chỉ mành treo chuông, chàng có thể trúng đạn bắn lén của địch bất cứ lúc nào, chẳng có gì là trào lộng vậy mà bàn chân cà nhót của Buru vẫn làm chàng buồn cười như bị thọc lét.

Hắn hỏi dồn:

- Ông tìm được hắn chưa?

Một tiếng "ối" nữa cất lên. Dĩ nhiên người kêu cứu không phải Buru. Tiếng kêu cứu từ ngoài sân rộng vọng vào. Vặn Bình chạy băng ra. Chàng bàng hoàng khi thấy viên y sĩ mặc bờ-lu trắng ôm ngực lảo đảo. Chàng chưa chạy đến nơi thì viên y sĩ đã ngã vật, ngực trái nhuộm đỏ máu đỏ lòm. Hung thủ đánh atêmi đã tài, bắn súng còn tài hơn nữa. Hắn chỉ cần một viên đạn là vĩnh viễn bịt được miệng viên y sĩ, nhân chứng duy nhất có thể cung cấp những tin tức quan trọng.

Kỹ sư Doarê chết. Viên y sĩ chữa cho Doarê cũng chết. Hai cái chết xảy ra trong vòng 5 phút đồng hồ ngắn ngủi. Nếu chàng né chậm một phần mười tích tắc đồng hồ, thì số người chết đã tăng thành 3.

Địch tấn công nhanh như điện xẹt nên chàng không có điều kiện nhận rõ mặt hắn. Chàng chỉ thấy thoáng qua một khối thịt tròn lẳn. Hắn đã giết Doarê cùng viên y sĩ và bắn hụt chàng, chắc chắn hắn còn lẩn quất đâu đây sửa soạn lảy cò lần nữa, lảy cò cho đến khi nào trúng đích.

"Bụp"... Văn Bình khỏi cần phải chờ lâu, chàng mới cúi xuống, nắm cườm tay viên y sĩ xem mạch thì địch núp sạu bức tường đổ bên trái đã chĩa súng bắn ra. Viên đạn vèo qua đầu chàng, đốt một mảng tóc khét lẹt. Hú vía, nếu nền đất ướt không làm chàng trượt chân mất thăng bằng thì viên đạn kinh khủng đã chui gọn vào mắt chàng. Với viên đạn 9 li trong mắt, óc chàng sẽ bị phá toang, chàng khó có hy vọng sống sót.

Như trái banh cao-su dội nẩy trên sàn quần vợt bê-tông, Văn Bình phi thân về sân vừa phát ra tia lửa da cam. Nhưng địch đã nhanh chân tháo chạy. Chàng ngã nhào vào bụi cây đầy gai nhọn lởm chởm, tay chân bị đâm lung tung, máu chảy ri rị song chàng không biết đau. Địch dẫn chân thình thịch cách chàng một quãng ngắn. Rồi chàng nghe "uỵch" một tiếng. Thiên bất dung gian, hung thủ tuột một chân xuống hố. Qua làn sương trắng lấp lánh ánh trăng xuông, Văn Bình thoáng nhìn thấy một bóng người lờ mờ đang cúi xuống, có lẽ để xoa nắn bàn chân bị bong gân.

Chàng lượm một hòn đá nhọn, nín hơi, sửa soạn ném vào mặt bóng đen. Trong vòng 30 thước, chàng có thể gây thương tích trầm trọng cho hắn. sở dĩ chàng phải nín hơi vì sợ khoảng cách hơi xa này và tiếng gió thổi mạnh làm hòn đá nhẹ lạc mục tiêu. Nhưng gã "phải gió" Buru không biết từ đâu hiện ra đã la thét mừng rỡ như đứa trẻ được cha mẹ lì xì trong dịp không phải ngày tết:

- Nó đấy, nó đấy, bắn di ông!

Tiếng kêu của Buru đủ sức đánh thức xác ướp Ai Cập từ mấy ngàn năm trước, huống hồ bóng đen là võ sĩ hữu hạng, cho nên Văn Bình vừa giơ tay thì hắn đã biến đâu mất. Nổi cáu, Văn Bình muốn nện cho Buru một cái chết giấc. Nhưng hắn đã nhãy cỡn như con choi choi:

- Nó kia kia, ông ơi!

Buru đã báo hoảng vì chàng chẳng nhìn thấy gì cả, ngoài những tảng đá trắng nằm thưỡn dưới trăng bện cạnh những bụi cây thấp um tùm. Kẻ địch bắn lén đã hoàn toàn biến dạng. Văn Bình bực bội bước qua bãi đất trống, đống lửa đốt hồi nãy vẫn còn cháy lép bép, đám đông vẫn ngồi xếp bằng chung quanh. Cũng như hồi nãy, họ chỉ nhìn chàng mà không nói. Nhưng nếu hồi nãy họ nhìn chàng bằng luồng mắt thờ thẫn, không thiện cảm cũng không ghét bỏ, thì giờ đây luồng mắt họ bỗng sôi sục căm hờn. Dường như họ coi chàng là kẻ đến phá rối sự an toàn của họ.

Thái độ của đám dân tị nạn làm Buru hoảng hốt. Hắn ghé tai chàng, hồn hển:

- Mình phải đi ngay thôi.

Buru kéo chàng rẽ trái, xuống con đường dốc thoai thoải. Tiếng lửa lép bép đã nhạt hẳn sau lưng. Ánh trăng sáng hơn nhưng cảnh vật vẫn tối. Buru đang thất thểu bỗng khựng lại, rủa một tiếng rồi kêu chàng:

- Đúng nó rồi!

Chàng bóp tay Buru:

- Nó đâu? Anh buồn ngủ lắm hả? Nếu cần, nằm luôn xuống đây ngủ một lát cho khỏe mắt.

Buru phản đối:

- Ông thử nhìn theo tay tôi xem tôi buồn ngủ hay ông buồn ngủ?

Theo ngón tay chỉ của Buru, Văn Bình thấy một người mặc đồ trắng nằm sóng sượt trên nệm cỏ. Buru la thất thanh:

- Tránh đi mau, nó sắp bắn!

Vặn Bình vẫn đứng thản nhiên vì lẽ giản dị bóng trắng đang nằm bất động. Có lẽ mắt Buru quáng gà hoặc tâm thần bấn loạn cực độ, hắn mới nhận lầm ra bóng trắng ngồi dậy, nâng súng lảy cò. Buru rạp mình trên đất, hai chân duỗi thẳng băng. Nhưng nếu bóng trắng bắn thật, Buru khó tránh khỏi viên đạn đầu tiên vì mông đít hắn gồng cao như con tôm luộc.

Văn Bình thận trọng bước lại gần bóng trắng. Nạn nhân nằm ngửa, mắt lim dim trong tình trạng nửa mê, nửa tỉnh. Thoạt trông gương mặt trắng nhợt và hơi thở yếu ớt của nạn nhân, Văn Bình biết hắn bị thương nặng. Chàng bèn cúi xuống xem xét.

Chàng chưa hề gặp bóng trắng lần nào trong đời, song đối với chàng, hắn lại là một người quen thuộc, hết sức quen thuộc. Quen thuộc đến nỗi chàng nhớ ngày, giờ và nơi sinh của hắn, cùng tên cha mẹ, tên trường học mẫu giáo của hắn. Chàng còn biết cả hắn có bao nhiêu bạn thân và bao nhiêu nhân tình, đồng thời trong trương mục ngân hàng hắn còn bao nhiêu tiền nữa.

Nghe tiếng động, nạn nhân mở rộng mắt. Hắn chỉ thoáng mê man chứ không bị nguy hiểm đến tính mạng. Văn Bình đặc biệt lưu ý đến nắm vòng bằng bạch kim nhỏ li ti trên cườm tay trái của hắn. Những cái vòng này phụ nữ làm đỏm thường đeo, người Pháp gọi là vòng sơ-men.

Riêng nắm vòng sơ-men bạch kim đã đủ chứng minh hắn là người chàng cần gặp. Tuy vậy, chàng vẫn chưa hoàn toàn tin cậy. Nhân viên gián điệp trên thế giới đội lốt nhau là chuyện xảy ra cơm bữa.

Chàng từ từ kéo áo nạn nhân. Gần khuỷu tay hiện ra một vết thẹo dài tréo góc 30 độ, dài đúng 6 phân tây. vết thẹo này là di tích một trận ấu đả trong trường.

Văn Bình không còn hoài nghi nữa. Nạn nhân chính là nhân viên thân tín C.I.A. được lệnh đến căn cứ 4Q tiếp xúc với kỹ sư Doarê và mang tài liệu bí mật về Hoa-thịnh-đốn. Nhân viên này đã mất tích.

Chàng tát má hắn và gọi:

- Vích-ky, Vích-ky, anh đã tỉnh chưa?

Dưới ánh trăng xuông, Vích-ky cựa mình. Chàng nắm tay hắn, truyền sinh lực vào thủ huyệt để giúp hắn phục hồi nhanh chóng. Công tác của chàng đã hoàn tất hai phần ba. Chàng mỉm cười khoan khoái.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:27 pm

Chương 6. Biến cố nửa đêm về sáng

Nhưng nụ cười khoan khoái của Văn Bình vội tắt ngúm. Chàng lại nghe Buru thét "cứu tôi với, cứu tôi với". Trong đêm khuya âm u, tiếng kêu cứu của Buru làm máu chàng đông lạnh trong động mạch. Tuy vậy, chàng vẫn không nhúc nhích. Chàng chỉ cất tiếng hỏi:

- Rắn cắn hả?

Buru đáp, giọng hớt hơ hớt hải:

- Không.

- Tại sao anh kêu?

- Nó đánh tôi.

- Ai đánh?

- Nó chứ còn ai nữa. Tôi vừa đi đến đây, đứng lại để thở thì nó quất vào vai tôi.

- Còn đau nữa không?

Văn Bình không quan tâm đến tiếng rên rỉ của Buru. Đại tá Pít cho hắn đi theo để giúp đỡ, nhưng trên thực tế hắn là gánh nặng cho chàng. Nằm dưới đất, Vích-kỵ bắt đầu cựa quậy, chàng dựng hắn ngồi lên, dựa lưng vào gốc thông. Hơi thở hắn đã đều đặn. Chàng ghé sát tai hắn:

- Phải anh là Vích-ky không?

Hắn gật đầu. Chàng lại hỏi:

- Anh cùng đi với kỹ sư Doarê?

- Phải. Còn anh? Anh cũng quen Doarê?

- Quen thân.

- Doarê có trao cho anh vật gì không?

-

Vích-ky ngó chàng trân trân nhưng không đáp. Dường như hắn muốn quan sát tường tận tướng mạo chàng. Lát sau hắn mới nói, giọng đắn đo:

- Không.

Nghẫm nghĩ một phút, hắn tiếp:

- Yêu cầu anh dìu tôi vào trong làng. Tôi có chuyện cần nói riêng với anh.

- Chuyện gì?

Mắt Vích-ky mở rộng:

- Chuyện đại tá Pít, nếu tôi không lầm, anh là người của đại tá Pít. Anh là đại tá Z.28.

Văn Bình đinh ninh trong điệp vụ này, ở xa quê hương cả chục ngàn cây số, cái tên Z.28 sẽ được xếp trong viện bảo tàng. Nhưng tại sao Vích-ky lại biết chàng là Z.28? Đại tá Pít đã nói là Vích-kỵ bị mất liên lạc vô tuyến với trung ương C.I.A. và được coi là biệt tích. Vì Vích-ky biệt tích nên chàng được đặc phái đến biên giới Equatơ.

Chàng không nói nửa lời. Có lẽ hắn cũng biết chàng kín miệng nên suốt dọc đường, từ khu "bệnh viện" đến khu Nam của làng Dua, nơi hai cha con mục sư Fêlin và Rita tạm nghỉ, hắn không hỏi gì nữa.

Căn nhà trống trải đã bớt phần nào lạnh lẽo nhờ đóng lửa vừa đốt. Chắc đó là công đầu của Côcô, vì Fêlin bị thương nặng. Rita sốt li bì, duy có nàng còn khỏe. Thấy chàng, Côcô mừng rơn. Nàng loay hoay nhường chỗ cho chàng ngồi sưởi bên lửa như thể chàng là người rất thân. Vch ky gieo mình nặng nề xuống nền đất cứng. Mùi thịt nướng thơm lừng căn nhà. Khi ấy Văn Bình mới nhìn thấy hai đùi thịt lớn vàng rộm đang chảy mỡ lèo xèo trên bếp lửa.

"Mục sư" Fêlin vui vẻ giải thích:

- Xin ông tha lỗi. Bụng đói cồn cào, tôi đang than thở không biết kiếm gì ăn thì con hươu này chạy qua, tôi đành tặng nó một phát đạn. Tự tay tôi cạo lông làm thịt, các ông dùng chút đỉnh cho khỏe.

Không đợi mời thêm, Buru xà xuống, rút dao cắt thịt nhai ngấu nghiến. Tuy mệt mỏi, Vích-ky ngoạm đùi thịt lại không mỏi mệt chút nào. Côcô âu yếm rót cho Văn Bình một miếng nạc thật ngon lành. Chàng chỉ ăn qua loa rồi đứng dậy săn sóc Rita. Nàng đã hạ cơn sốt, song da còn nóng, chàng luồn tay vào trong áo thấy mồ hôi ướt dầm. Chàng lấy áo đắp cho nàng, qua bóng tối, cặp mắt của nàng rực sáng như có hào quang.

Đêm đã khuya, Buru gục đầu vào vách ngủ ngoan ngoản như đứa trẻ. Fêlin nằm gối đầu trên bá súng. Khuôn mặt hắn vẫn còn những nét hung hãn nhưng so sánh với lúc hắn chĩa súng đoạt xe, hắn có vẻ hiền hậu khác thường. Ngồi bên, Côcô cũng ríu mắt, tuy nhiên, mỗi lúc liếc trộm Văn Bình, nàng lại nóng rực châu thân và hết buồn ngủ như vừa uống ly cà-phê đặc. Ở góc, Rita ngáy đều đều. Tiếng ngáy của nàng nghe êm tai khiến Văn Bình đâm ra buồn ngủ.

Nhưng chàng không hề chợp mắt vì Vích-ky hẹn nói chuyện quan trọng. Hắn tì vai vào thành cửa, hút thuốc lá, tận ngần phun khói ra ngoài sân. Văn Bình lại gần hắn. Tuy lai Á đông, Vích-ky vẫn có cốt cách tây-phương, nếu hắn không thấp lùn, người ta dễ lầm hắn là dân Bắc-Âu. Ngực hắn phồng tròn như trái banh da bơm căng, bắp thịt cánh tay nổi cuồn cuộn, bụng thót lại, ngón tay to vuông, cằm vuông, cồ chắc nịch như cậy cột nhà, toàn thân Vích-ky toát ra sự cường tráng tột độ. Cặp mắt thành thạo của Văn Bình đã chiếu cố đặc biệt đến sống bàn tay và đầu ngón tay của hắn, đại tá Pít cho biết hắn thắt đai đen đệ tam đẳng nhu đạo song Văn Bình đoán thấy tài nghệ của Vích-ky còn cao hơn đệ tam đẳng nhiều.

Hắn cười nửa miệng với chàng:

- Anh không tin tôi. Tôi biết.

Văn Bình cũng cười nửa miệng, đáp lại:

- Thì anh cũng vậy, anh không tin tôi.

- Ai bảo anh như vậy?

- Vì anh chưa đòi tôi xuất trình chứng minh thư.

- Ha, ha... tôi có cảm tưởng là anh chủ tâm nói đùa. Nhân viên trong làng điệp báo thế giới không ai không biết đến Z.28. Tôi phục vụ cho C.I.A. từ hơn 10 năm nay, tôi chưa được hân hạnh gặp anh bằng xương bằng thịt, song chân dung anh đã được treo đầy trong tổng hành doanh C.I.A., nhân viên C1A. hoạt động tại Nam-Mỹ càng phải quen mặt anh hơn nữa vì GRU và Quốc Tế Tình Báo sở đã treo giải thưởng khổng lồ để lấy mạng anh. Lăn lộn trong nghề đã lâu, tôi đánh hơi thấy anh không tin tôi. Đáng tiếc là đường dây liên lạc với Hoa-thịnh-đốn đã bị gián đoạn, nếu không....

- Anh liên lạc lần cuối với đại tá Pít hôm nào?

- Trước khi anh lên đường. Họ tưởng tôi đã chết nên nhờ anh đến gặp Doarê. Nhưng, như anh đã thấy, tôi còn sống nhăn răng, sở dĩ tôi không liên lạc với trung ương vì hai lý do: thứ nhất, đại tá Pít dặn tôi hạn chế truyền tin đến mức tối thiểu vì sợ địch nghe được, thứ hai, điện đài của tôi đã vỡ nát khi tôi được phi cơ thả xuống gần vòng đai căn cứ 4Q. Tôi tiếp xúc với Doarê và hộ tống ông ta xuống làng Dua. Tại căn cứ 4Q, tôi ráng liên lạc với đại tá Pít song toàn thể hệ thống vô tuyến điện đã bị hư hỏng, kho chứa đồ phụ tùng thay thế cũng bị níu đè xẹp lép. Dọc đường đến làng Dua, Doarê bị thương. Tôi đưa ông ta vào bệnh xá rồi trèo qua đỉnh núi ở hướng Nam, đến đài truyền tin của căn cứ 4Q, với hy vọng nối lại liên lạc với trung ương. Đài truyền tin này cũng bị tàn phá hoàn toàn, tôi đến nơi thì nhân viên phụ trách đài đã chết vùi dưới đống đá vụn, tôi lục tìm mãi mới thấy một cái điện đài ngắn tầm, bình điện lại gần cạn, tuy nhiên, tôi đã liên lạc được với C.I.A. qua trung gian đài tiếp vận ở Qui-tô.

- Và C.I.A. cho anh biết là tôi được phái đến đây.

- Phải. Họ nói rõ anh là Z.28.

- Còn vấn đề tài liệu?

- Tôi còn sống nên vấn đề này không được đặt ra.

- Nghĩa là từ phút này trở đi, nhiệm vụ mà C.I.A. trao cho tôi được chấm dứt.

- Không hẳn thế. Trung ương chỉ ra lệnh cho tôi cấp tốc trở về tổng hành doanh.

- Với tài liệu?

- Dĩ nhiên, không lẽ trở về tay không?

- Nghĩa là anh đã nắm trong tay cuộn băng nhựa ghi tài liệu của kiểm soát Doarê.

- Nếu tôi đáp không, anh vẫn không có quyền hỏi vặn, vì như tôi đã xác nhận, tôi còn tiếp tục điệp vụ của C.I.A.. Nhưng anh và tôi là đồng nghiệp nên tôi trả lời là "có" để anh yên tâm.

- Anh giấu cuộn băng ghi âm ở đâu?

- Sáng mai, sau khi lên máy bay, tôi sẽ cho anh biết.

- Lên máy bay nào?

- À, tôi quên chưa thông báo với anh là sáng sớm mai, họ sẽ cho phi cơ đáp xuống làng Dua đón chúng ta.

- Ai hứa là có phi cơ đến đón?

- Trung ương C.I.A..

- Phi cơ lớn hay nhỏ?

- Trên nguyên tắc, phi trường làng Dua có thể tiếp nhận được phi cơ cánh quạt cỡ trung bình. Trung ương cho biết thời tiết sáng mai sẽ đẹp hơn, hoa tiêu có thể hạ cánh. Tôi hy vọng là phi cơ C.l. A khá lớn để mọi người cùng lên một thể. Tôi không thích đi một mình, vả lại, về phương diện an ninh, tôi cũng có thể đi một mình.

- Tóm lại, anh vẫn còn nghi ngờ tôi, cho nên tôi cũng phải nghi ngờ anh. Trong nghề này, nghi ngờ là điều kiện cần thiết để sinh tồn phải không anh? Nhưng nói cho đúng, tôi không nghi ngờ anh đâu, vì tôi đã biết rõ anh là đại tá

Văn Bình Z.28. Tuy nhiên, tôi không thể tin cậy người đàn ông lạ cùng đi với anh và ba người đang chờ anh tại đây.

- Buru cũng là nhân viên C.I.A..

- Nhưng còn cô gái tự xưng là Rita?

- Nàng là em ruột của kiểm soát Doarê.

- Đại tá Pít cho anh biết?

- Không. Tình cờ chúng tôi gặp nàng dọc đường. Nàng đang bị bọn mọi da đỏ tra khảo thì chúng tôi đến cứu.

- Hừ.... ai cấm nàng tạo ra cuộc tra khảo với sự đồng lõa của bọn mọi da đỏ? Ai cấm nàng không là nhân viên GRU hoặc Quốc Tế Tình Báo sở?

- Vậy nàng là Rita giả hiệu?

- Tôi không quyết đoán nàng là Rita giả hiệu. Nhưng trước khi có Rita giả hiệu, anh phải biết rõ là có Rita thực thụ hay không? Theo chỗ tôi hiểu, Doarê không hề có em gái. Hoặc ít ra là trong hồ sơ của C.I.A., Doarê đã khai là không có em gái hiện sống tại tây bán cầu. Vả lại, nàng đã xuất trình giấy tờ nào chứng minh Doarê là anh ruột chưa?

- Chưa.

- Trời đất ơi, tôi tưởng anh đã bạc đầu trong nghề, ngờ đâu anh lại ngây thơ như vậy.

Văn Bình lặng người, má đỏ bừng như cậu học sinh bị thày bắt quả tang "quay phim" trong giờ thi. Vích-ky vẫn dấm dẳn:

- Anh tha lỗi cho tôi đã quá nặng lời. Nhưng đặt vào hoàn cảnh tôi, anh sẽ thấy tôi không còn cách nào khác. Công việc tôi làm liên hệ đến tính mạng nhiều người, và nhất là liên hệ đến sự tồn vong của C.I.A. nên tơi phải riết róng đôi khi trở thành lố bịch.

- Anh ngờ vực rất đúng. Tôi mới có lỗi.

- Hừ... tôi chỉ mới nhắc đến trường hợp cô gái kiều diễm tự xưng là Rita. Nhưng còn Côcô? Còn Fêlin? Nếu tôi nghe không lầm thì chính Fêlin đã chĩa súng, đòi anh phải nộp xe hơi cho hắn?

- Hắn đoạt xe hơi trong lúc tinh thần bấn loạn. Mỗi khi thần kinh bị căng thẳng cực độ, nhiều người đều có phản ứng rồ dại như Fêlin. Nhưng sau đó hắn đã tỉnh ngộ.

- Về phần anh, chừng nào anh tỉnh ngộ?

- Anh đã vượt quá ranh giới của tình đồng nghiệp. Bình sinh, tôi không ưa người lạ chơi trèo.

- Tôi xin lỗi anh lần nữa. sở dĩ tôi nóng mặt vì tôi thấy anh tin cậy Fêlin một cách vô lý và vô nguyên tắc.

- Anh lầm. Tôi chưa hề tin cậy hắn. Ngay từ khi gặp hắn, tôi đã biết hắn là mục sư giả hiệu.

- Tại sao anh chưa khám xét đồ đoàn của hắn?

- Hắn chẳng có gì cả.

- Có chứ. Cái túi vải to tướng, hai cha con cùng gối đầu lên trên. Khi vào đây, tôi đã để ý đến. Tôi xin phép anh trước, nếu anh lịch sự đối với người đẹp, không muốn lục soát thì tôi sẽ xung phong đảm nhiệm.

Văn Bình thở dài:

- Tùy anh. Dầu sao anh cũng là vai chính.

Vích-ky nín lặng nhìn ra xa. vầng trăng đã chìm sau rặng núi đen ngòm. Sương gần sáng lạnh buốt như pha tuyết. Vích-ky nhún vai ném điếu thuốc lá rồi nói:

- Chào anh, tôi đi ngủ đây.

Hắn bước lại góc phòng, dựa lưng vào tường. Trong giây lát, hắn đã cất tiếng ngáy đều. Mọi người trong nhà đều ngáy như hắn. Riêng tiếng ngáy của Buru lớn hơn bò rống. Văn Bình không muốn ngủ, chàng linh tính nhiều biến cố quan trọng sắp xay ra, và chàng cần tỉnh táo để đối phó kịp thời. Vích-ky nói là công vụ của chàng đã hết, tuy vậy, chàng lại có cảm tưởng là nó mới bắt đầu, những khó khăn lớn lao hơn những khó khăn đã gặp trên đường đến căn cứ 4Q cũng sắp xảy ra..

Chàng cảm thấy lạnh. Chàng đã cởi áo vét đấp chọ Rita nên trên mình chỉ còn cái sơ-mi lụa ngắn tay mỏng tanh. Tuy trời lạnh, chàng đoán hàn thử biểu chỉ xuống đến 5 hay 6 độ là cùng, ở độ lạnh này, chàng dư sức ở trần nhảy ùm xuống sông tắm. Chàng từng bắt chước bọn trẻ ở Bắc-Âu vùng vẫy dưới biển trong khi nước bị đông cứng, hàn thử biểu tụt dưới không độ gần đốt ngón tay. Sở dĩ chàng coi thường khí lạnh vì cơ thể trữ sẵn nhiệt lượng, một nhiệt lượng vô tận xử dụng bao nhiêu cũng không cạn.

Nhưng đêm nay chàng lại cảm thấy lạnh. Sự kiện này chứng tỏ tạng phủ chàng không bình thường. Không bình thường vì chàng vừa phải che miệng ngáp. Ngáp một lần đã là chuyện lạ đối với người quen thức thâu đêm suốt sáng như chàng, phương chi chàng cứ ngáp liên hồi, ngáp muốn trẹo quai hàm như kẻ nghiện á phiện đòi thuốc. Chàng chưa trị xong bệnh ngáp thì bệnh ríu mắt hiện ra, mí mắt chàng bỗng dưng dính chặt lấy nhau như bị may bằng chỉ ni- lông. Chàng vận công lên quai hàm và mắt bởi vậy giấc ngủ quái gỡ chỉ xâm chiếm được một phần cơ thể, tay chân chàng mỏi rã rời xong óc chàng vẫn chưa mất hết sáng suốt.

Chàng nghe nhiều tiếng động lạ nhưng chàng không phân biệt được từ đâu phát ra. Chàng quan sát chung quanh, lửa đã tắt ngúm. Fêlin nằm cách chàng một quãng ngắn, tuy trời tối om, chàng vẫn lờ mờ thấy hắn cuộn tròn bên khúc cây dài khẳng khiu. Côcô nằm úp mặt vào chân tường, ở góc phòng đối diện, Rita đang rên khừ khừ và Buru đang ngáy như kéo gỗ.

Văn Bình thoáng thấy Fêlin nghển cổ trong bóng đêm. Rồi hắn nhổm dậy, vểnh tai thăm dò động tĩnh, trước khi bò nhè nhẹ về phía chàng. Chàng nín hơi chờ hắn bò tới. Nhưng hắn bỗng nằm ép xuống nền nhà lồi lõm. Vì từ bên trái chàng vọng lại một âm thanh khả nghi. Dường như có ai gọi chàng. Một tiếng kêu rất nhỏ. Con ma ngủ đang xâm chiếm cơ thể chàng một cách thâm độc đã khiến thính giác thường ngày bén nhậy của chàng yếu hẳn. Chàng chỉ nghe loáng thoáng "ông Z.28 ơi, ông Z.28 ơi" chứ không biết ai kêu.

Chàng đoán là Fêlin kêu. Hắn cần gặp mặt chàng vào lúc nửa đêm về sáng này làm gì? Chàng toan lên tiếng vì nhận thấy trong giọng hắn một vẻ tuyệt vọng ghê gớm, như thể hắn sắp chết và chàng là ân nhân cứu sống.

Nhưng chàng chưa kịp lên tiếng và trườn lại gần hắn thì toàn gian nhà đã tràn ngập tiếng kêu the thé làm rợn tóc gáy:

- Chết tôi rồi!

Tiếng kêu này là của Rita. Tiếp theo tiếng kêu là tiếng ằng ặc, chắc nàng bị siết cổ. Văn Bình lao mình qua đống gỗ. trong chớp mắt, chàng đã đến góc nhà. Chàng nghe tiếng "huỵch" lớn, rồi tiếng Rita:

- Bắt lấy nó!

Côcô trở mình ú ớ. Văn Bình biết Fêlin còn thức, song hắn lại nằm yên, giả vờ ngủ say. Buru đã lóp ngóp bò dậy, châm lửa vào bậc đèn dầu hỏa. Tuy nhiên, Vích-ky đã đốt đèn trước Buru. Hắn cầm đèn cầy cháy leo lét, giơ lên cao, rồi hỏi, giọng sang sảng

- Chuyện gì thế?

Rita xoa cổ, giọng hổn hển:

- Không biết ai chẹn cuống họng làm tôi suýt nghẹt thở. May quá, tôi hất hắn ngã và kêu cứu, nếu không....

Văn Bình đã đến bên nàng. Dưới ánh sáng vàng ệch, nàng ngồi thở dốc, mặt xanh mét, tay còn run bần bật. Chờ nàng hoàng hồn, chàng mới hỏi:

- Cô có nhận diện được kẻ bóp cổ cô không?

Đang suýt soa kêu đau, Rita bỗng bật cười:

- Trời tối thui, cách một thước không nhìn rõ mặt, em nhìn thấy diện mạo kẻ gian sao được?

Câu hỏi của chàng có vẻ ngây ngô nên mọi người, nhất là Buru cười rộ theo. Riêng chàng không cười. Không phải vì chàng cảm thấy tự ái bị va chạm. Mà vì chàng nêu ra câu hỏi ngây ngô ấy với một ý định rõ rệt. Mọi người cười rộ một cách thành thật và vui vẻ song giác quan thứ 6 của chàng lại đoán quyết rằng tất cả chỉ là giả tạo.

Vích-ky lại kêu thất thanh:

- Nó đây rồi. Nó núp ngoài sân...

Vích-ky nhào ra hàng hiên. Hắn mập thù lu nhưng khi động dụng hắn lại xê dịch nhanh nhẹn không thua con sóc trên cành cây. Vừa thấy hắn cầm ngọn nến đứng giữa nhà, hắn đã vọt như chớp ra ngoài.

Văn Bình rượt theo hắn. Tuy nhiên, chàng không chạy ra xa, đến tảng đá lớn, chàng thụp xuống, ngồi đó chàng vẫn có thể kiểm soát sự việc xảy ra trong nhà. Vích-ky kêu tên chàng, giọng hoảng hốt:

-Anh Văn Bình?

Chàng không đáp lại, Vích-ky lại thét:

- A, mày chạy trốn đằng trời cũng không thoát khỏi tay tao.

Vích-ky chạy thình thịch xuống con đường dốc. Buru dừng lại ở lưng chừng dốc, thở phì phò rồi hỏi lớn:

- Thấy chưa?

Vích-ky lủi thủi trở lên, giọng bực bội:

- Nó lủi đâu mất rồi. Khiếp, nó trốn lẹ như chuột, tôi đuổi đã nhanh mà không cách nào kịp. Anh có nhìn thấy hắn không?

Buru lắc đầu, ra vẻ tiếc rẻ:

- Không. Nếu tìm thấy, tôi đã tặng hắn một viên kẹo đồng.

Vích-ky vịn vai Văn Bình, chân hơi khập khiễng:

- Có lẽ tôi đạp nhằm gai, chân đau lắm. Suýt nữa tôi đã thộp cồ được tên khốn kiếp hành hung cô Rita.

Nhìn khẩu súng lủng lẳng ở lưng Vích-ky, Văn Bình cười nửa miệng:

- Súng đây, anh để làm gì?

Vích-ky hừ một tiếng rồi cởi dây lưng đeo súng, phân bua:

- Nếu trong nòng có một viên, chỉ một viên thôi, tôi cũng dư sức bắn hắn ngã quỵ. Nhưng khốn nỗi súng tôi lại rỗng không.

Hắn cười xòa rồi trở vào nhà. Bên ngoài, chân trời đông bắt đầu ửng hồng. Trong vòng nửa giờ, trời sẽ hết tối. Phi cơ của C.I.A. sẽ hạ cánh, chở mọi người, trong số có chàng, về thủ đô Qui-tô. Chàng sẽ ngủ một giấc đã đời đến chiều, tắm rửa thơm tho, vứt hết công việc cho Vích-ky, rồi chờ hoàng hôn buông xuống, lên phòng ăn lộng lẫy của đại khách sạn Qui-tô ở lầu 7, phóng tầm mắt nhìn xuống thành phố. Khách sạn Qui-tô do chánh phủ quản nhiệm gồm 250 phòng đầy đủ tiện nghi sang trọng, thảm trải hành lang bằng len dầy, vô cùng êm ái, nệm giường còn êm ái hơn nhiều, giống cái có mặt trong phòng ăn đều thuộc thành phần thượng lưu quý phái, thích đàn ông đẹp và khỏe, chứ không thích tiền. Chàng sẽ làm qụen một cô gái thật kiều diễm, và sánh vai nàng vào phòng đánh bạc trong đại khách sạn, chàng sẽ đặt hàng đống tiền cho người đẹp lác mắt, sau khi cá cắn câu, chàng mời nàng đến hộp đêm Tallyho nghe nhạc. Đèn ở đây thắp rật ít, lại lù mù, thuận tiện cho trai gái yêu đương, quang cảnh nên thơ với chỗ ngồi và vách tường bằng tre, trên quầy rót rựợu nghiễu nghện cái lọng lớn phủ rơm tha thướt và nên thơ bậc nhất là những cái mặt nạ vẽ nhiều mầu sặc sỡ giống thú lạ kỳ của dân mọi da đỏ bản xứ, và cái lò sưởi bằng củi đốt bập bùng xua đuổi khí lạnh ban đêm vì câu lạc bộ dạ lạc này mở cửa từ 5 giờ chiều đến 4 giờ sáng. Chỉ tiếc là không có giàn nhạc sống, nhưng bù lại, có sàn nhảy khá rộng, khá bóng, chàng sẽ khiêu vũ say sưa....

Nhưng ước vọng thần tiên của chàng đã bị thực tế chối bỏ một cách tàn nhẫn. Vì chàng đang nghĩ đến lúc ôm cô gái đẹp vào lòng trong căn phòng đóng kín thì Vích-ky đã thét đứt quãng như bị rắn độc cắn:

- Văn Bình, Văn Bình!

Hắn đứng sững như người mất hồn, hai tạy lục túi rối rít. Lục hết túi quần, hắn lục túi áo. Lục xong túi áo, hắn trở lại lục túi quần. Túi áo, túi quần lục xong, hắn xáo tung cái mền len rách trên sàn nhà, thậm chí còn lấy móng tay cào xuống xi-măng nữa. Vừa cào, hắn vừa gọi:

- Văn Bình, Văn Bình!

Chàng cất tiếng hỏi:

- Anh làm gì thế?

Hắn nói, giọng đau khổ như muốn khóc:

- Tôi đang tìm. Đang tìm cuộn băng tài liệu.

- Anh cất ở đâu?

- Trong mình. Tôi giấu trong túi áo trong.

- Cuộng băng lớn hay nhỏ.

- Nhỏ. Bằng phần tư cuộn băng cát-sét. Khi ngủ sợ mất nên tôi nằm sấp.

- Có thể cuộn băng rơi ra ngoài trong khi anh rượt theo tên gian.

- Tôi không tin. Tôi có cảm tưởng là nó bị đánh cắp trong phòng này. Hồi nãy ăn thịt nướng xong tôi bỗng mỏi mệt và buồn ngủ lạ thường.

- Khi thức dậy, anh có kiểm soát lại không?

- Không. Tiếng kêu của cô Rita làm tôi mất tinh thần, tôi cuống quýt đốt đèn, và ngay sau đó tôi lại nhìn thấy một bóng đen lực lưỡng lấp ló ngoài sân. Đến khi trở vào tôi mới sực nhớ thì cuộn băng đã không cánh mà bay.

Buru đã châm lửa vào đống củi khô giữa nhà, cháy đỏ rực. Hắn phồng má thổi lửa và ngồi xuống hợ tay, không nói nửa lởi. Không khí căn phòng trống trở nên nghẹt thở. Vích-ky đấm hai bàn tay vào nhau, giọng dữ dằn:

- Trong số người ở đây có một tên ăn cắp, một kẻ làm tay sai cho địch. Vì quyền lợi chung, tôi yêu cầu được khám xét từng người.

Văn Bình đứng thẳng, giang rộng cánh tay:

- Mời anh khám xét tôi trước.

Vích-ky nhăn mặt:

- Tôi không ưa khôi hài.

- Nghĩa là anh không nghi tôi?

- Dầu sao anh và tôi là một. Chúng ta đều là nhân viên C.I.A., anh lấy trộm cuộn băng của Doarê làm gì?

- Cám ơn anh.

Buru quay mặt lại, giọng đay nghiến:

- Tôi không cám ơn, vì lẽ tôi không cho phép anh khám xét. Chắc hai cô Rita và Côcô cũng đồng ý với tôi. Việc lục soát đàn bà dản tới lạm dụng. Tôi không chịu nồi cảnh chướng tai gai mắt như thế.

Côcô xen vào:

- Ông đừng ngại cho tôi. Tôi sẳn sàng cho ông Vích-ky khám xét, miễn hồ không quá đáng.

Vích-ky lớn tiếng hỏi Buru:

- Côcô đã thỏa thuận, còn anh, anh còn tiếp tục giữ ý kiến cũ nữa không?

Buru gằn giọng:

- Cho đến khi nào tôi bị đánh bất tỉnh.

- Anh định gây sự cả với tôi ư?

- Nói nhiều lời vô ích. Anh ráng quật tôi ngã vì nếu hai chân còn đứng vững, tôi sẽ không tha anh.

Lời nói thách thức của Buru làm Văn Bình bực bội. Bệnh tự ái hão và ham đánh lộn đã biến hắn thành chướng ngại cho chàng. Quần thảo với Rita mảnh mai, hắn còn thất điên bát đảo, chẳng hiểu hắn có phép mầu nào để dám đọ quyền với đai đen nhu đạo Vích-ky.

Vích-ky cười nhạt, nhắc lại:

- Tôi cho anh một phút để rút lại ý kiến. Bộ mã khòng khèo của anh, chỉ một cái búng nhẹ là lăn kềnh, chúng ta là bạn, không nên đấm đá nhau vì một chuyện không đâu, hơn nữa, hai phụ nữ có mặt ở đây sẽ cười chê chúng ta.

- Anh đã hậm họe, bêu xấu tôi trước mặt phụ nữ, tôi chỉ chịu rút lui ý kiến nếu anh công khai tạ lỗi.

Vích-ky nhượng bộ:

- Vâng, tôi xin thành thật tạ lỗi.

- Vậy thì thôi, việc vừa xảy ra được xếp bỏ.

Dứt lời, Buru ngồi xuống khêu cho lửa cháy to. Vích-ky có vẻ ngạc nhiên:

- Ơ kìa, anh phải để cho tôi lục soát chứ!

Buru cau mày:

- Lục soát gì?

- Trong người anh. Tôi phải lục soát mọi người ở đây, không riêng gì anh. Vả lại, cách đây một phút, chính anh cũng đã đồng ý. Vì vậy, tôi mới xin lỗi anh.

Buru vẫn ngồi chỗng mông, thổi lửa phù phù. Hắn thản nhiên quay đít về phía Vích-ky. Thái độ vô lễ của hắn làm Văn Bình đỏ mặt. Song chàng đứng yên vì đã đoán trước Buru ăn đòn. Bướng bỉnh một cách ngu xuẩn và đáng ghét như hắn thì ăn đòn đáng đời. Chàng còn mong Vích-ky nện hắn rõ đau cho hắn cạch luôn đến già.

Vích-ky cúi xuống, tóm cồ áo Buru xách lên. Buru lơ lửng trên cánh tay lực lưỡng của Vích-ky vừa đạp lung tung, vừa la oai oái:

- Làm cái trò gì thế, Vích-ky?

Vích-ky quay Buru một vòng rồi dộng hắn ngã nhào vào đống củi đang cháy:

- Đồ bú-dù, đã chịu ngoan chưa?

Tên cúng cơm Buru bị mắng bú-dù là đúng. Thật vậy, hắn cứ xử lố bịch không kém con khỉ. Hắn bị xô nằm vắt vẻo ngang khúc gỗ đỏ ối, nếu không quẩy mình nhanh nhẹn để ngồi dậy, quần áo và râu tóc hắn đã bị cháy xém. Hắn hùng hồ xông vào đánh Vích-ky. Hắn khoa tay, toan đấm giữa mặt Vích-ky, nhưng lần lữa đã ngã chồng kềnh sau khi bị khều chân một cách nhẹ nhàng như đùa bỡn. Buru lóp ngóp bò dậy song xương sống bị đau rần khiến hắn không thể đứng lên và miệng hắn không dám cãi bướng nữa.

Vích-ky vuốt từ cổ xuống chân Buru. Trong người Buru không giấu gì hết. Vích-ky ngó hắn bằng cặp mắt thương hại

- Quả anh là người điên tàn... Anh không lấy cuộn băng thì việc gì lại không cho lục soát?

Buru nhổ bẹt bãi nước bọt, giọng khinh khỉnh:

- Cám ơn.

Vích-ky không nói gì, quaỵ về phía Fêlin. Văn Bình theo dõi từng cử chỉ nhỏ của Vích-ky, và đặc biệt lưu ý đến lối đánh đỡ chững chạc và sắc bén của hắn. Tiếc là hắn cùng ở trận tuyến với chàng, chớ nếu hắn là nhân viên GRU hoặc Quốc Tế Tình Báo sở, chàng sẽ tìm được một đối phương ngang ngửa.

Vích-ky chưa kịp nói, Fêlin đã lên tiếng trước:

- Mời ông cứ tự nhiên.

Vích-ky xoa nắn bộ vét-tông mục sư nhầu nát của Fêlin, vẻ mặt nghiêm trọng, Fêlin hỏi:

- Ông đã tìm thấy gì chưa?

Vích-ky đáp:

- Chưa. Tôi hy vọng người lấy trộm không phải là ông.

Côcô nói:

- Ông khám xét cha tôi xong rồi, giờ đến lượt tôi.

Vích-ky lắc đầu:

- Chưa xong cô ạ. Tôi còn muốn mở cái túi vải ông Fêlin dùng để gối đầu.

Văn Bình nhận thấy mặt Fêlin hơi tái. Tuy vậy, chàng chưa thể kết luận hắn tái mặt vì sợ hãi hay vì quá mỏi mệt. Hắn nghĩ ngợi vào giây đồng hồ ngắn ngủi rồi buông thỏng:

- Mời ông.

Nhưng Vích-ky vừa mở miệng túi ra, hắn vội cản lại:

- Thong thả.

Vích-ky luồn tay vào trong túi vải:

- Ông không cho phép lục soát?

- Không. Tôi rất sẳn sàng, vả lại, đứng trước người to con và giỏi võ như ông thì không cho phép tôi cũng phải cho phép. Sở dĩ tôi ngăn lại là vì muốn ông nhẹ tay, sợ thất lạc hoặc hư hỏng một số đồ vật quý giá đựng trong túi.

- Vâng, tôi sẽ hết sức thận trọng.

Trời đã sáng mờ mờ. Sự thiếu ngủ, thiếu ăn uống và thiếu điều tiện nghi in rõ trên nét mặt mọi người. Fêlin dựa vai Côcô thở ra một cách uể oải. Vích-ky lấy trong túi ra hai gói vuông bọc vải ở ngoài. Hắn hỏi Côcô:

- Gói này đựng gì hả cô?

Côcô đáp:

- Ông mở ra sẽ biết.

Vích-ky nhún vai tháo gỡ lớp băng nhựa lớn được dán trên miệng gói. Cái gói được mở ra, bên trong chỉ thấy một đống đá cứng nhiều mầu, to nhỏ đủ cỡ. Fêlin giải thích:

- Đây là quặng mỏ. Quặng mỏ kim cương. Tôi phục vụ theo khế ước cho một đại công ty kim cương. Tôi đến vùng biên giới Equatơ để tìm mỏ kim cương. Xin nói trước rằng những viên đá đựng trong gói không hẳn là quặng kim cương, còn phải chờ sự phân chất và sự xác nhận của phòng thí nghiệm nữa.

Vích-ky mở gói thứ hai. Gói này vuông vức, nên ngay từ khi chưa mở, Văn Bình đã biết đó là gói sách. Vích-ky hỏi:

- Đựng sách phải không?

Fêlin đáp.

- Sách. Nhưng không phải là sách thông thường. Mà là sách đại quý. Trong gói có ba quyển sách cả thảy, tuy là sách cũ nhưng trị giá ca chục ngàn đô-la

- Cả chục ngàn mỹ kim một cuốn? Trừ phi là sách từ thời thượng cồ.

- Cũng gần như vậy. Châu Mỹ la-tinh1 theo nền văn minh in-cạ từ ngày xửa ngày xưa: nền văn minh này đã bị tiêu diệt, chỉ còn lại một số di tích. Ba quyển sách này được đào thấy trong một ngôi mộ in-ca.

- Ở đâu?

- Ở đâu, đề nghị ông không nên hỏi, vì tôi chuyên sống bằng nghề này, tôi không thể tiết lộ bí mật nghề nghiệp.

- Vậy ông là mục sư giả hiệu?

- Không hẳn là giả hiệu, vì đã theo học mục sư ở chủng viện, nhưng thay vì làm mục sư, tôi đã làm nghề tìm quặng mỏ, nghề bắn thú và nghề buôn cổ thư.

- Ông sợ tôi cạnh tranh hả?

- Dĩ nhiên.

Vích-kỵ cằn nhằn trong miệng trong khi Fêlin dán mắt vào ba quyển sách dầy, bìa và giấy bằng da thú đã nhậu nát, chữ viết bên trên lem nhem và nhòa nét, song dẫu còn rõ cũng khó thể hiểu nghĩa. Vích-ky toan đặt xuống đất song Fêlin đã la lớn:

- Không được. Bẩn hết cả, ông ơi!

Vích-ky lật cuốn thứ nhất ra coi. Mùi da cũ mủn nát xông lên làm khó thở, Côcô phải bịt mũi, lảng ra chỗ khác. Vích- ky vẫn thản nhiên như không, ngón tay chậm rãi lật từng tờ một, mỗi cuốn sách cồ gồm từ 10 đến 15 tờ đóng giằng lại vào nhau ở gáy bằng một sợi dây đồng mềm, tờ nào cũng dày cộm và gấp đôi. Vích-ky bỗng ậ lên một tiếng ngắn, rồi bất chấp lời phản đối của Fêlin, đặt phịch quyển sách quý xuống nền đất ướt bẩn, hơn thế nữa, hắn còn giựt tung nhiều tờ ra khỏi gáy.

Quang cảnh diễn ra trước mật mọi người đã chứng tỏ Vích-ky có lý và có tài khám xét sắc bén. Nhiều gói nhỏ, dẹt, đựng một thứ bột trắng nhuyển từ gáy sách vuột ra. Văn Bình buột miệng:

- Thuốc phiện trắng!

Buru chồm dậy như bị đàn ong đốt đít. Hắn vồ lấy đống gói nhỏ đựng bột trắng, đưa vội lên mũi rồi hít hà:

- Cha mẹ ơi, đúng rồi, đúng rồi, thuốc phiện trắng!

Hắn quay sang "mục sư" Fêlin:

- Té ra đây mới là nghề thật của "cha".

Fêlin đáp, mặt hơi tái nhưng vẫn lạnh lùng:

- Tôi có mạo nhận là mục sư chính cống đâu! Đời sống mỗi ngày một thêm khó khăn, làm một nghề chưa đủ ăn, tất phải kiếm thêm nghề khác.

Buru quắc mắt:

- Ông đừng quên rằng nhập nội lén lút bạch phiến vào châu Mỹ là một tội nặng.

Fêlin cười nửa miệng:

- Thưa ông, tôi không quên. Nhưng sự khắc nghiệt này chỉ có hiệu lực trên đất Hoa-kỳ, còn đây là châu Mỹ la-tinh, cho dẫu tôi bị quan thuế tóm cổ thì chỉ đến tịch thu thuốc là cùng, còn lâu tôi mới bị lôi ra tòa, phạt tù. Đáng tiếc các ông không phải là quan thuế của nước Equatơ để có thẩm quyền bắt tôi.

Hắn bình thản quơ lấy đống gói thuốc phiện trắng, nhét vào túi áo vét-tông đen, và nói:

- Khám xét xong rồi, phiền ông trả hết lại cho tôi.

Vích-ky chận tay hắn:

- Chưa được. Còn quyển thứ ba nữa.

Vích-ky vừa lột lớp giấy bọc ngoài thì "bụp" một tiếng nhẹ, một vật tròn rớt ra, lăn xuống vũng nước nhỏ dưới chân hắn. Dưới ánh sáng rạng đông pha trộn với ánh lửa củi, Văn Bình thấy rõ vẻ mặt hớn hở như bắt được của của Vích-ky. Hắn lượm cái vật tròn rồi la lớn:

- Cuộn băng, cuộn băng tài liệu!

Văn Bình nhìn cái vật tròn lấp loáng trong bàn tay Vích-ky. Nó tròn như hộp ruy-băng máy chữ, song đường kính chỉ bằng phân nửa. Nó màu kaki, như màu nước sơn quân xa, ở đầu có nút bấm, thoạt trông Văn Bình biết ngay là băng ghi âm mật mã do C.I.A. chế tạo đặc biệt, quay trên máy thông thường không phát được thành tiếng.

Vích-ky xòe rộng bàn tay, phân bua với Văn Bình:

- Phiền anh cho biết cái này có phải là băng ghi âm mật mã không?

Văn Bình nín thinh không đáp. Vích-ky chồm tới, miệng quát tháo:

- Đồ ăn cắp!

Fêlin đã đứng dậy, xốc khẩu súng trường lên. Hai chân hắn bị thương, hắn không có mảy may hy vọng chế ngự được gã khổng lồ Vích-ky; cho dẫu hắn lành lặn, tài nghệ của hắn cũng chỉ là trò đùa đối với một võ sĩ đai huyền đen gìà dặn và cường tráng như Vích-ky. Nhưng hắn vẫn liều mạng dùng bá súng làm khí giới quét mạnh ngang hông Vích-ky.

Vích-ky cười hà hà, vung tay gạt, khẩu súng nặng nề bắn vào chân tường. Văn Bình đinh ninh Vích-ky sẽ buông tha Fêlin hoặc quá lắm thì cũng tát nổ đom đóm mắt cho cạch đến già. Chàng đinh ninh như vậy nên không sửa soạn can thiệp. Đến khi chàng biết lầm thì đã muộn. Đòn Vích-ky phóng ra không phải đòn cảnh cáo. Mà là đòn thù. Đòn chết.

Hắn bước xéo lên, chém cạnh bàn tay vào màng tang Fêlin. Từ đỉnh vai xuống rái tay bên dưới có 3 huyệt: huyệt trên đỉnh tai là kasumi, theo nhu đạo, điểm trúng là táng mạng vì dây thần kinh tại đó tượng đối rất mỏng manh, nhiều khi chỉ điểm nhẹ cũng làm nạn nhân điếc tai tức khắc, huyệt ở rái tai cũng là huyệt chết, tụy nhiên người thiếu kinh nghiệm khó thể điểm trúng và chỉ gây ra sự man, nhu đạo gọi là huyệt yên miên, huyệt nằm ngay giữa lỗ tai. Thiếu Lâm quyền đặt tên là huỳnh phong xào nhĩ ít nguy hiểm hơn, nạn nhân bị điếc tai hoặc bất tỉnh mà thôi. Cách điểm huyệt của Vích-ky bắt Văn Bình nồi gai ốc. Rõ ràng hắn tấn công huyệt kasumi của Fêlin. Lệ thường, võ sĩ điểm huyệt có hạng như Vích-ky chỉ cần đánh bằng đầu ngón tay, vậy mà hắn xử dụng cả sống bàn tay, và chém hơi nghiêng, điều này chứng tỏ hắn cố tình chạm mạnh vào khúc dây thần kinh thính giác, và cố tình hạ thủ gã mục sư giả hiệu buôn bạch phiến lậu và đánh cắp cuộn băng tài liệu tối mật.

Không riêng Văn Bình, Côcô cũng biết Fêlin bị Vích-ky đánh đòn chết. Vì vậy nàng rú lên. tiếng rú của nàng làm Fêlin bủn rủn, và trong đường tơ kẻ tóc, miếng atêmi ghê gớm của Vích-ky bị trượt xuống huyệt huỳnh phong xảo nhĩ. Fêlin lăn kềnh, tuy nhiên, hắn chỉ bị bại liệt chứ chưa tắt thở. Đoán được thâm ý của Vích-ky, Văn Bình phóng lại.

Song Vích-ky đã hành động trước khi Văn Bình can thiệp kịp. Hắn phi mũi giầy nhọn vàọ hạ bộ Fêlin. Thế là hết. Cho dẫu Fêlin mặc quần lót bằng kẽm cũng bị trọng thương, phương chi yếu huyệt của hắn chỉ được bảo vệ bằng một lớp vải mỏng, hắn lại mất quá nhiều sức. Fêlin nẩy người lên rồi nằm thẳng băng.

Vích-ky ngồi thụp xuống rồi kêu thất thanh:

- Khổ quá, khổ quá, tôi đã giết chết Fêlin.

Văn Bình tưởng Côcô khóc thét. Nhưng không, nàng vẫn ngồi bất động, đôi mắt nhìn ra ngoài một cách khó hiểu. Dường như nàng quên bẳng vụ án mạng vừa xảy ra, và nạn nhân là người được nàng gọi là "cha". Cha như thế nào, chàng chưa biết, song ít ra nàng cũng có liên hệ khá chặt chẽ với Fêlin.

Văn Bình lắc vai Vích-ky:

- Tại sao anh lại làm như vậy?

Vích-ky thở dài, giọng buồn rầu:

- Chính tôi cũng không hiểu nữa. Có lẽ tôi điên mất. Như có thể một sức mạnh bí mật nào xui khiến tôi ghét hắn, thù hắn và giết hắn. Anh tha lỗi cho tôi, cuộn băng ghi âm của kiểm soát Doarê đã khiến tôi trở thành kẻ tàn bạo.

Buru trề môi:

- Hừ, anh bạn nói dễ nghe nhỉ? Khi không, dùng độc thủ giết người mà chỉ xin lỗi thôi ư?

Vích-ky nghiêm nét mặt:

- Anh là thằng ngu. Tôi xin lỗi vì lẽ ra tôi nên giữ hắn sống, mang về Hoa-thịnh-đốn, lôi ra tòa rồi lên ghế điện. Tội của hắn là tội phản quốc. Theọ tập tục nghề nghiệp, tôi có quyền giết hắn, dẫu hắn vô tội, tôi giết cũng chẳng ai mó đến lỗ chân lông tôi, huống hồ hắn có tội đầy mình. Một lần nữa, tôi lập lại anh là thằng ngu. Anh thử đối đáp lại xem. Anh là nhân viên C.I.A. thật đấy, nhưng cái đồ C.I.A. hạng bét ấy tôi có thể giết hàng tá như chơi.

Văn Bình nhận thấy Vích-ky đã mất lương tri. Rõ ràng là hắn gây sự với Buru, và chờ Buru phản ứng để giải quyết bằng độc thủ. Chàng sợ Buru thất thố, may thay, trận đòn hồi nãy cộng thêm cái chết thê thảm của gã mục sư giả hiệu đã làm hắn tỉnh ngộ. Hắn im thin thít, không phản đối nửa lời, thậm chí không có cả cử chỉ tức giận nữa. Đột nhiên Buru nhủn như con chi chi.

Cuộc đấu khẩu giữa Vích-ky và Buru bị cắt đứt vì ngoài trời có tiếng động cơ máy bay. Buru bỗng reo mừng như đứa trẻ:

- Phi cơ, phi cơ sắp đến!

Vích-ky gõ ngón tay vào khớp xương vai Buru, giọng đàn anh:

- Đừng mừng vội, chú em. Không được lên máy bay đâu.

Buru năn nỉ:

- Tội nghiệp quá, ông anh không cho về thì chỉ ngày nay tôi chết.

Vích-ky cười:

- Giờ đây, còn lộn xộn nữa thôi?

Buru cười theo:

- Thôi, em sợ mất mật rồi.

Mặt trời chưa mọc chứ giá mặt trời đã mọc cũng không xuyên qua nồi màn sương dầy đặc, tầng tầng lớp lớp. Từ khi địa chấn xảy ra, màn sương mỗi lúc một thêm dầy đặc, giữa trưa vạn vật vẫn trắng xóa một mầu, ánh nắng chỉ lởn vợn trên các đỉnh núi cao bao quanh thung lũng lòng chảo. Không hiểu sao sáng hôm ấy bức tường sa mù lại sụp dần, phi cơ nặng chưa thể hạ cánh song trực thăng cỡ nhỏ có nhiều hy vọng đáp xuống miễn hồ hoa tiêu quen thuộc địa hình, địa vật, và được trang bị dụng cụ điện tử thích hợp.

Vích-ky chạy vội ra sân, trong chớp mắt, hắn đã đồ xăng thành vệt dài song song rồi đốt lửa. Văn Bình không rõ hắn lấy bi-đông xăng ở đâu ra. Chàng mới vác được Rita lên vai, tay giắt Côcô thì lửa đã sáng rực. Tiếng trực thặng kêu ầm ầm trên đầu. Trực thăng sơn mầu trắng, không vẽ ngôi sao trắng của không lực Mỹ, cũng không vẽ số... như thường lệ. Văn Bình toan hỏi Vích-ky nhưng hắn đã lăng xăng đến cửa trực thăng để đón hai nhân viên phi hành lực lưỡng từ trên nhảy xuống.

Văn Bình thấy rõ hai nhân viên phi hành lực lưỡng mặc đồ bay đen, cổ quấn phu-la đỏ hối hả phóng xuống đất như thể bị ai rượt đuổi. Người thứ nhất đứng lại khi thấy Vích-ky và giơ hai ngón tay lên thành chữ V. Quân nhân phương Tây thường giơ ngón tay chữ V chào nhau, chúc mừng hoặc báo hiệu chiến thắng. Và Vích-ky cũng giơ tay chào lại, nhưng lại chào bằng một ngón cái bẻ quặp. Đứng hơi xa Văn Bình không thấy rõ nét mặt của nhân viên phi hành và Vích-ky song giác quan thứ sáu cho chàng biết là họ không cười.

Buru cười, Côcô cười, song Văn Bình không bụng dạ nào cười nổi. Rita mảnh dẻ nhưng khi nằm vắt vẻo trên vai chàng, nàng trở nên nặng khác thường. Nàng càng nặng hơn vì sau một ngày lặn lội, một đêm khát nước giữa trăm ngàn nguy hiểm, chàng đã thấm mệt. Chàng không thể nhoẻn miệng cười theo thói quen thiên phú vì những sự việc đang diễn ra trước mắt nhuốm đượm một bí mật kinh khủng. Chàng lái phi cơ thành thạo, chàng thuộc lòng mọi kiểu phi cơ lớn nhỏ, cánh quạt hoặc phản lực trên thế giới, vậy mà chàng không biết kiểu chiếc trực thăng nhẹ đang đậu chềnh ềnh trên bãi cỏ dưới sương mù trắng xóa. Chàng nhủ thầm "có lẽ đây là trực thăng cứu cấp của C.I.A...."

Vích-ky bắc loa miệng gọi:

- Nhanh lên, kẻo thời tiết sắp sửa xấu lại.

Văn Bình dấn bước đến gần trực thăng. Đến cửa, chàng dừng lại, toan hạ Rita xuống thì một họng súng lạnh ngắt đã được dí sát lưng:

- Ông nội, đứng yên cho người ta lục soát.

Kẻ ra lệnh cho chàng là người Mỹ chính cống, sinh trưởng ở vùng Nam ruộng nương cò bay thẳng cánh, và nhan nhản bò rừng, vì giọng hắn khàn như nói bằng mũi. Chàng đứng yên. Tuy vậy, chàng vẫn hỏi lại:

- Các anh điên hả? Bắt tôi đứng như phồng đá để làm gì?

- Hừ, anh điên thì có. Chúng tôi cần anh đứng yên trong một phút để xem anh có mang khí giới trong mình không?

Văn Bình quay sang Vích-ky. Chàng tưởng hắn được thảnh thơi, ngờ đâu hắn còn khổ hơn chàng. Chàng vác Rita trên vai nên không phải giơ tay trong khi Vích-ky phải ngoan ngoãn chắp tay lên đầu, bộ điệu vô cùng thiểu não.

Buru còn ngơ ngác thì một nhân viên phi hành đã gõ bá súng vào đỉnh đầu:

- Cậu này nữa, què tay rồi hả?

Buru quắc mắt:

- Đồng nghiệp với nhau cả, định chơi xỏ nhau ư?

Sự phản đối bằng miệng của Buru đã được đáp lại bằng trái đấm ác liệt vào xương sống. Gã phi công có lối đánh gọn gàng và lợi hại của kẻ được huấn luyện tinh vi về cận chiến và đã hấp thụ nhiều kinh nghiệm sống. Buru khuỵu xuống. Trái đấm dữ dội của gã phi công vừa đánh tan thành kiến của Văn Bình đối với C.I.A. Mỹ. Chàng thường chê C.I.A. chỉ có một số ít nhân viên hành động am tường quyền cước, còn hầu hết đều là công chức thịt mỡ bèo nhèo, bụng to bự, trói gà không chặt. Giờ đây, chàng mới biết họ "chịu chơi", tỷ lệ võ sĩ trong tổng số nhân viên không thua Sở Mật Vụ của ông Hoàng, cơ quan điệp báo thứ nhất trên thế giới mà toàn thể nhân viên, từ nữ thư ký văn phòng đến chuyên viên cơ khí đều nắm vững bí quyết cận vệ chiến.

Gã phi công dựng Buru dậy rồi xách hắn nhẹ như con nhái bén trao cho bạn hắn đang đứng xoạc chân trên nền trực thăng để giắt mọi người lên. Văn Bình trèo lên sau cùng. Trong chớp mắt, trực thăng đã biến dạng sau màn sương trắng xóa.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:27 pm

Chương 7. Trên biển mênh mông

Tứ phía chỉ thấy màu trắng. Màu trắng rợn người của vải liệm xác chết. Trực thăng được sơn màu trắng, hầu hết dụng cụ, máy móc bện trong cũng được sợn trắng nên quang cảnh làm rợn người hơn, bất giác Văn Bình liên tưởng đến tòa nhà thấp nhỏ, trắng xóa ở cuối bệnh viện, tường trắng xóa, những xác chết nằm thành hàng dài sóng sượt trên kẽm trắng xóa, phủ vải trắng xóa đến mặt, chờ thân nhân đến nhận.

Không khí trong nhà xác thường được điều hòa. Hòa lẫn với hơi người chết, không khí này luôn luôn lạnh ngắt. Không khí trong phi cơ trực thăng đang bay là là trên vùng biên giới Equatơ cũng lạnh ngắt không kém không khí trong nhà xác mặc dầu phía Đông đã ửng hồng, mặt trời đi vắng nhiều ngày đã hân hoan trở lại với vùng rừng núi bị trận động đất kinh khủng tàn phá.

Cả hai gã phi công đều trạc tuồi bằng nhau. Nét mặt và thân hình họ còn khá trẻ, song căn cứ vào những nếp nhăn li ti ở mép và đuôi mắt, Văn Bình đoán biết họ phải xấp xỉ tứ tuần, vả lại, người trên ba mươi khó có thể có lối đấm già dặn như chàng được chứng kiến tận mắt hồi nãy. Tuy cả hai có nước da trắng đỏ của người Mỹ, và nói giọng nói quen thuộc của người Mỹ miền Nam, Văn Bình vẫn chưa tin họ là người Mỹ chính cống. Một gã ngồi ngay ngắn trong ca-bin, chăm chú điều khiển phi cơ, gã thứ hai ở lại phía sau, lăng xăng bưng cà-phê nóng cho mọi người uống.

Hắn vỗ vai Văn Bình, giọng thân mật:

- Đừng giận nhé, anh bạn!

Nói đoạn, hắn cười hà hà. Vích-ky tợp một ngụm cà-phê đặc, khói bốc nghi ngút rồi giải thích:

- Tôi quên chưa nói rõ, anh tha lỗi giùm cho. Tuy đây là máy bay nhà, chúng ta là người nhà nhưng theo chỉ thị đặc biệt của trung ương mà hai phi công triệt để tuân hành, họ phải lục soát trước khi trực thăng cất cánh. Vì trên nguyên tắc họ chỉ chở một mình tôi, họ chưa biết anh là ai, họ càng có lý do để nghi ngờ hai cô Rita và Côcô nữa.

Văn Bình hỏi Vích-ky:

- Tại sao anh lại giơ tay cho họ khám?

Vích-ky lấy tay quẹt giọt cà-phê đọng trên mép:

- Vì tôi không muốn rềnh rang mất thời giờ. Phe địch có thể thọc gậy bánh xe bất cứ lúc nào.

- Anh tin là địch sẽ ra mặt?

- Như tôi đã nói với anh, trong số những người cùng đi với chúng ta, tôi chỉ có thể tin anh mà thôi. Cho đến khi nào có bằng chứng tôi mới thay đổi thái độ.

Gã phi công nằm trên sàn phi cơ, dựa lưng vào đống áo bơm hơi cứu cấp, phì phèo điếu xì-gà to bằng ngón chân cái. Dường như hắn không quan tâm đến ai. Rita vẫn còn mệt, nhưng so sánh với lúc còn ở làng Dua, nàng có vẻ tỉnh táo hơn. Hai mắt nàng nhìn bâng khuâng vào khoảng không trắng xóa. Nàng không thay đồi thế ngồi cũng không thay đồi lối nhìn, tâm hồn nàng như lạc lõng đâu đâu. Côcô cũng ngồi im như pho tượng, mắt đỏ hoe, mỗi khi Văn Bình nhìn nàng, nàng đều tìm cớ né tránh như thể nàng sợ luồng nhỡn tuyến xuyên phá của chàng sẽ bắt nàng òa khóc hoặc bộc bạnh nỗi niềm đau đớn.

Buru bị ăn đòn liên tiếp nên lần này thấm mệt thật sự. Hắn ngồi bệt, mặt gục vào khoảng giữa hai đầu gối. Có lẽ hắn đã ngủ say. Hắn ngủ say là hơn, nếu không hắn có thể lãnh thêm nhiều quả thôi sơn nữa.

Trực thăng chỉ bay là là mặt đất một quãng ngắn rồi gia tăng độ cao. Căn cứ vào chân trời ửng hồng sau lưng, Văn Bình biết là phi cơ đang bay ra bờ biển. Chàng hỏi Vích-ky:

- Mình về Qui-tô?

Vích-ky gật đầu:

- Phải.

- Sắp đến chưa?

- Khoảng một giờ nữa.

Vích-ky lim dim ngủ. Văn Bình có cảm tưởng hắn không muốn nói chuyện với chàng. Chàng bèn nhẩn nha thả khói thuốc lá thành vòng tròn.

Đột nhiên, chàng bắt gặp đuôi mắt nhìn trộm của gã phi công đang hút xì-gà. cả hai tên phi công đều to con, song tên này to con hơn, hắn lại có đôi lông mày rậm như con sâu róm nằm vắt vẻo trên mắt. Mắt hắn cũng sâu hơn, và sáng hơn, và nhất là trong tia sáng có chất hung hãn và thâm độc. Không phải hắn mới bắt đầu nhìn trộm, từ khi nằm dài, vắt chân chữ ngũ đốt điếu xì-gà, chốc chốc hắn lại liếc chàng. Thấy chàng lồm cồm đứng lên, hắn giơ tay ngăn lại, giọng thân mật gượng gạo:

- Anh cần gì? Tôi có thể giúp anh được không?

Chàng đáp:

- Không. Tôi cần gặp anh bạn đang ngồi lái.

- Thời tiết mỗi lúc một xấu, bạn tôi phải tìm hướng bằng dụng cụ điện tử phức tạp, nên để yên cho anh ta làm việc.

Văn Bình không lạ gì kỹ thuật lái phi cơ trong đêm tối và sa mù. Lái phản lực cơ nhanh như tên bắn chàng còn coi như trò chơi huống hồ lái trực thăng. Dụng cụ điện tử phức tạp thật đấy, nhưng không phức tạp đến nỗi hoa tiêu phải tập trung tư tưởng. Máy đã điều khiển hộ người tất công việc của người được giảm thiểu.

Vích-ky cũng đứng dậy, vẻ mặt lo lắng:

- Anh muốn nói chuyện với phi công trưởng?

Văn Bình đáp thỏng:

- Tôi có cảm tưởng là phi cơ bay lạc đường.

Gã phi công trợn mắt:

- Ai bảo với anh là chúng tôi bay lạc đường?

- Thủ đô Qui-tô ở phía Nam, song trực thăng lại bay về phía Tây, nghĩa là ra biển.

- Anh nói đúng, chúng ta đang bay về phía Tây, nhưng không ra biển, chỉ đến giáp bờ biển thì quay lộn lại. Vì lẽ thủ độ Qui-tô nằm lọt trong trung tâm điểm của một trận bão. Hết động đất đến hỏa diệm sơn phun lửa, hết phun lửa đến bão lớn. Trung ương đã uống thuốc liều khi cử chúng ta lái trực thăng đến rước các anh. Anh đừng quên chúng tôi có thể hy sinh tánh mạng cho anh được sống. Trực thăng cũng có thể đâm nhằm phi cơ nặng bay ngược chiều. Nếu anh biết lái phi cơ, anh sẽ hiểu rõ tình hình hơn.

- Về khoản lái phi cơ, anh đừng ngại. Tôi đã có cả chục ngàn giờ bay chính thức.

- À, té ra anh cũng là phi công như bọn tôi. Tuy vậy anh cũng chưa hội đủ tư cách để lái trực thăng này. Vì nó không giống mọi trực thăng anh từng điều khiển. Nó là sản phẩm tồng hợp giữa phi cơ phản lực nhẹ và phi cơ lên thẳng nặng.

Văn Bình nhận thấy chiếc trực thăng đang bay không giống những chiếc quen tên, quen mặt trong kỹ nghệ hàng không. Nó được gắn cánh quạt khổng lồ phía trên, và bốc từ mặt đất lên nhẹ nhàng và gọn ghẽ như trực thăng, song khi đạt được độ cao cần thiết, nó lại xếp cánh quạt và xòa hai cánh tam giác ra.

Trực thăng từ từ hạ thấp. Văn Bình hỏi gã phi công phụ:

- Các anh bay theo tín hiệu dưới đất đánh lên phải không?

Gã phi công gật đầu:

- Phải. Tuy nhiên công việc điều khiển máy bay an toàn là của chúng tôi, anh không chết đâu mà sợ. Mỗi người một nhiệm vụ, xin ông đừng xía vào địa bàn hoạt động của chúng tôi.

Giọng hắn có vẻ gay gắt, Vích-ky vội dàn xếp:

- Thôi, tôi can hai anh. Anh nói đúng, mỗi người có một nhiệm vụ. Nhưng chúng ta là đồng nghiệp, tôi thiết tưởng câu nói của anh bạn Văn Bình không lấy gì làm quá đáng.

Gã phi công phụ nín lặng song hắn vẫn chắn ngang lối đi vào ca-bin phi hành. Văn Bình có thể quạt hắn ngã bằng atêmi, không hiểu sao chàng lại nhẫn nhục. Vì chàng có linh tính là một chuyện quan trọng - còn quan trọng gấp trăm lần tác phong đáng ghét của gã phi công phụ C.I.A. - sắp xảy ra, và chàng cần dành dụm sinh lực để có thể đối phó hữu hiệu vào phút chót.

Trực thăng cứ hạ thấp, hạ thấp mãi. Thoạt đầu, nó hạ từ từ, nhưng dần dà nó tuột xuống mạnh mẽ: động cơ đang nồ dòn bỗng ho sặc sụa rồi câm lặng.

Vích-ky lớn tiếng:

- Cái gì vậy?

Gã phi công trưởng cũng lớn tiếng đáp, qua hơi gió thổi vù vù:

- Hỏng máy.

Trực thăng lạng sang tả, sang hữu, bập bềnh như con thuyền nan trên biển sóng dữ. Đột nhiên Văn Bình nhìn thấy cảnh yật bên dưới. Đó không phải là núi đồi trùng điệp của vùng biên giới. Cũng không phải là những thửa ruộng khô cằn và những đồn điền trồng cà-phê và mía của vùng nội địa, gần thủ đô Qui-tô.

Mà là biển rộng trắng xóa một mầu.

Vích-ky kêu thất thanh:

- Biển, biển trời ơi, làm ăn nỗi gì mà phi cơ lại bay lạc ra biển?

Phi công trưởng vẫn dán mình trên ghế, vận dụng kinh nghiệm bản thân và sự chính xác của máy móc để giữ cho trực thăng khỏi mất thăng bằng và đáp xuống. Chắc phi cơ đã rời đất liền từ lâu vì Văn Bình đã phóng tầm mắt tứ phía mà không trông thấy bờ biển đâu cả.

Buru ngã vập mặt xuống sàn trực thăng và lồm cồm tỉnh dậy. Hắn là hiện thân của sự xui xẻo, hễ nơi nào có tai nạn là có hắn. Trực thăng nghiêng hẳn sang bên. Rita phải tựa vào vai Văn Bình để khỏi tuột trong phi cơ trong khi Côcô mím môi, hai tay nắm chặt lấy thân ghế sắt. Rita thở hồn hển hỏi viên phi công phụ:

- Tại sao các ông không đánh điện xin cấp cứu?

Phi công phụ đáp

- Rồi.

- Có lẽ ông lầm. Tôi chưa nghe thấy.

- Đó là nhiệm vụ của chúng tôi, không can dự đến cô.

- Nhưng lại can dự đến tính mạng của tôi và mọi người trên phi cơ. Tôi đã học qua lớp vô tuyến điện phi hành. Nếu ông cho phép, tôi sẽ sẳn sàng giúp đỡ.

- Yêu cầu cô ngồi yên.

- Tôi không thể ngồi yên chờ chết. Hành động của các ông thật ám muội. Các ông có đúng là nhân viên trung ương tình báo Mỹ không, hay là...

Gã phi công phụ xấn đến tát giữa mặt Rita. Bàn tay kếch xù của hắn in đỏ trên má trái mũm mĩm của nàng. Nàng dộng đầu vào vách trực thăng. Cùng lúc ấy, sàn phi cơ nghiêng 45 độ, chốt cửa được Văn Bình mở hờ từ nãy, cánh cửa bật ra ngoài, gió thổi vào ào ào. Văn Bình thuận tay kéo viên phi công phụ làm hắn mất trớn nhào qua khung cửa trống. Vặn Bình xử dụng đòn chết thật lẹ đến nỗi viên phi công phụ lao đầu ra ngoài không khí Vích-ky mới nhìn thấy. Hắn thét lớn một tiếng:

- Chết!

Tiếng thét ngắn của hắn đã bị tiếng máy và tiếng gió khỏa lấp. Văn Bình ngáng chân làm chướng ngại vật vì suýt nữa Côcô bị nạn. Nàng vuột tay khỏi thân ghế cuộn tròn trên sàn, chỉ cách khung cửa hãi hùng trong gang tấc.

Nàng ôm lấy chân Văn Bình. Trực thăng bắt đầu lấy lại được quân bình. Màn sương giãn rộng ra, để lộ mặt biển sóng vỗ rập rình, trong giây lát trực thăng bay là là sát mặt nước, bọt trắng li ti bắn lên làm Văn Bình bỏng da thịt, như thể ngồi trên chảo mỡ sôi sùng sục. Tuy nhiên, phi công không đáp thẳng xuống mặt biển. Vì ngay trước mắt, một giẻo đất nhỏ vừa hiện ra. Có lẽ đây là một tiểu đảo san-hô. Loại tiểu đảo san-hô này mọc lên và lặn xuống hàng năm như trò quỷ thuật dọc bờ biển tây bộ Nam-Mỹ.

Tiểu đảo san-hô chỉ rộng bằng sân chơi của một trường tiểu học, mặt đất gập ghềnh, lồi lõm một màu xám ảm đạm, trông như nền đất trên nguyệt cầu. Văn Bình đinh ninh trực thăng chỉ rung chuyển mạnh trong khoảnh khắc rồi đậu lại trên mặt san-hô cứng như xi-măng phi đạo, trái lại, chàng nghe "bụp" một tiếng lớn. Nền đất không cứng mà lại mềm nhũn. Trong phút bối rối, phi công đã hạ xuống bải lầy, bùn ngập lún bánh xe.

Không riêng Văn Bình, mọi người đều tái mặt. Phi công lảo đảo đứng dậy trên ghế. Miệng hắn lẩm bẩm:

- Bùn... bùn... cẩn thận kẻo trực thăng sụt xuống thì bị chôn sống hết.

Văn Bình từng bị mắc kẹt trong bùn nên đoán biết được những nguy hiểm đang chờ đợi. Cách đây không lâu, chàng bị lạc trong rừng lim gần biên giới Lào-Miến, đột nhiên hai chân đang bước đều bị chôn cứng trong bùn, may thay, đó là bùn do mủn lá thâm niên gây ra, và may thay trong tầm tay chàng có hàng hà sa số rễ lim dai bền nên chàng thoát chết. Nếu không nắm được rễ cây, chàng cũng khó thể bỏ mạng, vì ngay từ thế chiến thứ hai, hoạt động tại Âu châu trong hàng ngũ o.s.s. chàng đã học qua phương pháp chống kẹt bùn tại trường đào tạo biệt kích điệp báo.

Vích-ky níu vai Văn Bình, giọng băn khoăn:

- Anh tính sao?

Văn Bình nhìn ra ngoài. Mặt bùn sắp mấp mé ngưỡng cửa trực thăng. Cho dẫu người trong trực thăng nín thở, ngồi như phỗng đá, sức nặng của trực thăng vẫn làm lớp bùn dâng lên, và chẳng bao lâu nữa, bùn sẽ tràn vào, toàn thể sẽ chết ngập. Giá phi công sáng suốt, bình tĩnh và tinh mắt, hắn đã lái trệch sang bên phải và trực thăng đã hạ xuống nền san-hô. Vũng bùn rộng bằng cái ao nhỏ, trực thăng rớt tõm giữa ao, cách bờ chừng 5, 6 mét. 5, 6 mét không lấy gì làm xa, nhưng vượt qua bằng chân không phải dễ.

Trừ phi...

Phi công quay lại hỏi Vích-ky:

- Đến bờ chỉ 6 mét là cùng. Tôi có thể nhảy xa được gần 6 mét. Nhưng phải có bàn đạp lấy trớn. Nếu nhún mạnh thì trực thăng lún xuống mất. Anh có nhảy qua nồi không?

Vích-ky lắc đầu, ngao ngán:

- Anh nhỏ bé hơn tôi còn không vượt được, phương chi tôi lại béo thù lù... Cho dẫu tôi thoát lên bờ thì mình tôi an toàn, mọi người sẽ chết.

Hắn ngó Văn Bình bằng cặp mắt khẩn cầu:

- Tôi tin là anh có thể cứu chúng tôi.

Văn Bình chưa kịp đáp thì Buru đã buông ra một tiếng chửi đổng tục tĩu. Miệng hắn độc như miệng rắn hoa, há ra là nói bậy, bất kể người nghe là ai. Tuy nhiên, hắn chửi đổng không phải để biểu lộ sự bực tức. Hắn chửi đổng để báo tin những giọt bùn đen ngòm đầu tiên đã chui qua kẽ hở vào phi cơ. Trực thăng đáp xuống nghiêng, phía đuôi mấp mé mặt bùn trong khi ca-bin phi hành còn cách xa gần hai mét.

Văn Bình nhún vai đeo cuộn giây thừng ni-lông đoạn nhẹ nhàng men lên nắp ca-bin phi hành. Vích-ky hỏi:

- Liệu anh nhảy qua được vũng bùn không?

Văn Bình đáp:

- Có thể. Trên bờ không có thân cây hoặc tảng đá lớn nào cả nên tôi dự định nắm một đấu dây, đầu kia buộc chặt vào nốc trực thăng. Sau đó, từng người một sẽ lần lượt bám đường dây đi từ trực thăng lên bờ. Chúng ta không cần hấp tấp vì theo tôi ước đoán, phải từ 15 phút đến nửa giờ nữa, trực thăng mới lún hết xuống bùn được.

Buru reo lên, giọng khoái trá:

- Đúng lắm, đúng lắm.

Song chỉ nửa phút sau, hắn đã xụ mặt:

- Anh giữ một đầu dây e không xong. Sức nặng sẽ làm anh toét các ngón tay, rồi anh phải buông ra. Thú thật với anh, tôi không muốn là người bị rớt xuống bùn.

Văn Bình cười

- Yên tâm. Anh sẽ được cứu trước tiên.

Viên phi công hỏi:

- Còn hai cô này? Không lẽ anh Buru là đàn ông khỏe mạnh mà lên bờ trước hai người đàn bà yếu đuối?

Côcô xen vào bằng tiếng thở dài buồn bã:

- Các ông lên bờ trước thì hơn. Vì không hiểu cô Rita nghĩ sao, riêng tôi, tôi không thể chuyền tay trên dây thừng từ đây sang bờ được.

Lời nói của Côcô làm Văn Bình toát bồ hôi. Nàng nhận xét rất đúng. Muốn đi dây từ trực thăng lên bờ phải là lực sĩ được tập luyện, với cánh tay vô cùng dẻo dai. Vì hai chân chơi vơi trên không, chỉ có thể xê dịch bằng hai tay. Nhưng Văn Bình không dám trì hoãn thêm nữa. Chàng hy vọng ba người đàn ông ra khỏi trực thăng sẽ làm sức nặng giảm bớt, và trong khi đó chàng sẽ tìm cách cứu thoát Côcô và Rita. Chàng bèn nhún vai, vẻ mặt vui vẻ:

- Không sao. Tôi sẽ có kế hoạch.

Tuy chàng hết sức rón rén, sàn phi cơ cũng tròng trành. Trong loáng mắt chàng đã trèo lên nốc. Rita và Côcô nhìn theo chàng, dường như cả hai đều muốn nói thầm với chàng bằng mắt những nói u uẩn dằn giấu dưới đáy lòng.

Bầu trời bắt đầu quang đãng. Sương mù tan nhiều nên vòm trời trở nên cao hơn, tròn hơn và rộng hơn, chân trời Đông vàng rộm ánh nắng. Mặt biển trắng xóa một mầu, tứ phía toàn nước là nước, chỉ trông cảnh trời nước bao la Văn Bình cũng hoảng kinh.

Trên tiểu đảo san-hô không có bóng cây, đến cả những cây kè lùn hoặc bụi rong cũng không thấy. Mặt đất gồm toàn sỏi trắng xám lổn nhổn. Khi sóng biển nương theo gió vỗ vào bờ đảo, Văn Bình thấy cả giẻo đất san-hô đang rung rinh như sắp sửa xụp xuống.

Khoảng cách từ nóc trực thăng đến bờ ao vùn không lấy gì làm xa và nếu chàng được phép đạp chân thật mạnh lấy trớn nhảy lên thì phép phi thân sẽ giúp chàng bay bỗng nhẹ nhàng. Nhưng nếu chàng đạp chân thật mạnh vào mái trực thăng, bùn sẽ tràn vào xối xả. Chàng bèn nín thở cho thân thể nhẹ đi, đoạn áp dụng lối tấn "tiền cung hậu tiển" trong Thạch Đầu quyền, chân trước hơi cong, chân sau duỗi thẳng. Phép tấn này hòa hợp với phép vận chân khí sẽ có thể đưa chàng sang bên kia bờ.

Chàng cứ nín thở, rồi hít hơi đầy ngực thở thán khí ra, rồi tiếp tục nín thở, cứ xen kẽ ba động tác nhịp nhàng này một hồi lâu. Nhiệt lượng toàn thân chạy dồn dập từ thượng bộ đến hạ bộ, tập trung vào bắp đùi và bàn chân. Như động cơ phản lực của hỏa tiển được đốt cháy, đẩy hỏa tiển lên không gian, nhiệt lượng tập trung theo phép phi thân đã tạo trớn cho hai chân Văn Bình mặc dầu chàng vẫn đứng nguyên vị trí trên trần trực thăng.

Vút một tiếng nhẹ như tiếng gió thổi, Văn Bình đã cất mình khỏi nóc trực thăng, bay lướt qua vũng bùn đen ngòm và hạ xuống nhẹ nhàng trên bờ ao san-hô. Chàng lăn tròn một vòng trước khi đứng dậy. Nét mặt chàng không hề biến đổi, chàng tháo cuộn dây đeo trên vai ra, cột lại thành dây lát-sô của giới cao-bồi giữ bò rừng tây bộ Mỹ châu, quay thử nhiều vòng rồi quăng mạnh về phía trực thăng. Sợi dây như được thoa chất cồn dính, ngay trong phút đầu đã quấn chặt lấy trục cánh quạt. Vích-ky ló cổ ra khỏi ca-bin phi hành, dùng dao cắt đứt sợi dây, buộc thành nhiều vòng nhằng nhịt quanh thân ghế trực thăng.

Văn Bình giật kéo để thử mực độ kiên cố trước khi cất tiếng gọi lớn:

- Buru, anh khánh thành cầu nồi đi!

Buru bò ra ngoài, hai tay chụp lấy sợi dây, từ từ tụt xuống. Nóc phi cơ cao hơn bờ, sợi dây lại đựợc kéo thật căng, Buru di chuyển nhẹ nhõm và dễ dàng hơn sự dự tính của Văn Bình. Trong vòng nửa phút đồng hồ, hắn đã đặt chân lên nền đất san-hô. Hắn trút ra tiếng thở phào khoan khoái.

Tiếp theo đến viên phi công. Vích-ky tuột dây sau cùng. Thân thể hắn nặng nề song hắn chuyền tay gọn gàng như con mèo làm xiếc. Văn Bình trao đầu dây cho Vích-ky rồi nói:

- Giờ đây, tôi quay lại trực thăng để cứu hai cô gái. Phiền anh cầm chặt đầu dây.

Vích-ky hỏi, giọng sửng sốt:

- Anh bế từng người một ư?

Chàng đáp

- Phải. Vì tôị đã nghĩ kỹ, không có lối thoát thân nào khác. Từ nãy đến giờ, trực thăng đã lún xuống thêm, nhưng cũng phải gần một mét nữa mới ngập được đến nóc, trong thời gian này, tôi hy vọng đưa hai cô gái ra khỏi.

Dứt lời, chàng nắm dây thừng thoăn thoắt leo ngược lên trực thăng. Côcô và Rita đều chờ sẵn trên mái, thời tiết bình thường mà cả hai đều run cầm cập. Họ run vì sợ hơn là vì lạnh. Một cuộc giằng xé diễn ra trong lương tâm chàng. Giữa Rita và Côcô, chàng sẽ cứu ai trước? Chàng chìa tay cho Rita nắm vì nhận thấy nàng còn mệt mỏi. Chàng nói với Côcô:

- Cô chịu khó đợi vài ba phút. Rita phải sang bờ trước vì sức lực quá suy yếu.

Côcô đáp:

- Ông nói đúng. Rita cần được đưa sang bờ trước em. Nàng đáng sống hơn em nhiều.

Văn Bình lặng thinh. Rita rút tay lại:

- Thôi, anh hãy đưa Côcô sang trước. Nàng đáng sống hơn em nhiều.

Cả hai đều nhường cho nhau sang trước. Đúng ra, người nào cũng muốn sang trước, sự nhường nhịn chỉ là một hình thức của sự tranh giành và giận lẫy. Văn Bình đành hăm dọa:

- Trực thăng sắp ngập bùn, và chúng ta sẽ bị chết ngạt, tôi không thể nán thêm lại đây nữa... Yêu cầu hai cô quyết định ngay. Tôi vẫn giữ ý kiến hồi nãy, Rita còn mệt mỏi nên cần được cứu trước.

Côcô trề môi:

- Anh nói rất đúng. Rita không những đáng cứu mà cũng đáng yêu hơn nữa.

Rita cũng chanh chua không kém:

- Cô nói sai. Cô đẹp hơn tôi, cô dễ thương hơn tôi nên cô đáng được hưởng quyền ưu tiên.

Văn Bình đành giơ hai cánh tay lên trời, ra dáng tuyệt vọng:

- Mời hai cô xuống chân, mực bùn đang dâng lên, chẳng bao lâu nữa sẽ tràn qua nóc, khi ấy tôi có ba đầu sáu tay cũng không thể tiếp cứu, không khéo tôi sẽ bỏ mạng luôn tại đây với các cô. Tôi kêu gọi sự thông cảm của hai cô. Nào, ai muốn sang trước thì chìa tay cho tôi nắm.

Chàng đinh ninh Côcô sẽ chìa tay trước vì nàng ghen hơn Rita một bậc. Cách cư xử của Rita có vẻ quý phái hơn nhiều. Chàng chưa biết rõ đời sống thật của hai người, nhưng căn cứ vào ngôn ngữ và cử chỉ, chàng cảm thấy Rita là cô gái có học, còn Côcô dường như dạn dầy và lọc lõi sau nhiều năm lăn lộn.

Nhưng sự thật xảy ra trước mắt làm chàng sửng sốt. Dĩ nhiên Côcô chìa tay. Song nàng chỉ chìa tay ra sau Rita. Kết quả là hai cô gái cùng chìa tay, đòi Văn Bình đưa sang bên kia bờ. Mọi việc đều quay lại khởi điểm, chàng phải tự lấy quyết định thật nhanh vì mực bùn không chờ đợi chàng lâu nữa.

Chàng bèn phóng ra hai atêmi. Cả hai, Rita lẫn Côcô đều lãnh đòn vào huyệt trên đầu. Côcô gục trước tiên, mấy tích tắc đồng hồ sau, Rita mới chịu bất tỉnh. Rita ngã chặn lên bụng Côcô. Văn Bình xuất chiêu nhanh như điện xẹt nên hai cô gái bị mê man mà không có thời giờ tìm hiểu nguyên nhân. Lối xử trí miễn cưỡng này sẽ giúp Văn Bình thoát khỏi lưới ghen tuông vô lý của hai cô gái. Sau khi lên bờ, họ sẽ không biết chàng đã cứu aí trước, ai sau, và cả hai đều tin tưởng được chàng đáp ứng nồng nhiệt.

Viên phi công và Vích-ky vẫn chăm chú theo dõi hành động của Văn Bình trong khi Buru quay lưng về phía trực thăng bị ngập bùn, nhẩn nha nhìn ra biển rộng, miệng phì phèo thuốc lá. Hắn có thái độ phớt tỉnh kỳ quặc khiến người có tánh nhẫn nhục nhất cũng phải khinh ghét.

Viên phi công hơi cau mày khi thấy Văn Bình vung đòn, đánh mê hai cô gái trên nóc trực thăng và nhanh nhẹn cặp Rita vào nách, tuột dây sang bờ. Nét mặt của Vích-ky không thay đổi, tuy nhiên, trong cặp mắt sáng quắc của hắn hiện lên một tia đỏ.

Văn Bình đặt Rita nằm dài trên đất san-hô rồi quay trở lại trực thăng. Suýt nữa Côcô rớt xuống bùn. Trong cơn mê, nàng quẫy mình, hai chân buông thỏng vào khoảng không, chỉ chờ một phần mười giây đồng hồ mất thế thăng bằng là nàng bật khỏi nóc trực thăng.

Bùn đã mấp mé cửa ca-bin phi hành. Văn Bình xốc Côcô lên vai. Chàng tuột được nửa đường thì Côcô tỉnh dậy. Chàng đã tính sai sức chịu đựng của nàng. Chàng không ngờ Côcô được luyện tập ngoại công, khiến lớp da của nàng dầy hơn lớp da người thường, do đó chàng trù liệu nàng ngất 10 phút thì nàng chỉ ngất trong 5 phút. Con ngươi tỉnh cơn mê đột nhiên nặng hơn, Côcô lại vùng vẫy nên sức nặng đeo lấy sợi dạy ni-lông được gia tăng gấp bội. Văn Bình vội co chân để khỏi vướng bùn. Đứng trên bờ, viên phi công nhìn thấy mối nguy trước tiên. Hắn giằng đầu dây ni-lông trong tay Vích-ky và nâng lên cao, đặt vào xương vai hắn.

Hắn phải là lực sĩ có sức khỏe phi thường mới gánh đỡ được hai khối xương thịt của Văn Bình và Côcô mà vai không gẫy lìa. Vích-ky ghì một bên vai để chia xẻ gánh nặng với hắn. Trong nháy mắt Văn Bình thoát hiểm. Nhưng vì hai đầu dây trở nên cao bằng nhau nên Văn Bình không thể tiếp tục tuột xuống bờ như trước nữa. Chàng bèn bấm ngón tay vào yếu huyệt sau lưng cho Côcô mê man lại rồi quập nàng quanh cổ để hai tay chàng được tự do chuyền trên sợi dây.

Chàng hạ chân xuống bờ và khuỵu xuống. Chàng xử dụng tối đa sức lực và nguyên khí của cơ thể nên bị mệt nhoài. Vích-ky đỡ Côcô và giải huyệt cho nàng.

Văn Bình gượng đứng dậy, miệng nhoẻn cười biểu lộ sự cám ơn. Thật vậy, nếu viên phi công không tinh mắt và nhanh trí, và nếu hắn non nớt về võ thuật, Văn Bình đã phải buông thả Côcô, mặc nàng chìm lỉm dưới bùn và chết ngập. Chàng đeo nàng trên vai thì chàng sẽ chết theo nàng. Cho nên chàng không còn cách nào, ngoài cách hy sinh nàng để tìm sự sống.

Miệng cười thân thiện của chàng bỗng tắt ngúm.

Vì viên phi công không cười lại. Hắn chằm chằm ngó chàng bằng cặp mắt không thân thiện chút nào.

Kèm với cặp mắt không thân thiện này là một miệng súng lục dữ dằn. Và tiếng quát cộc lốc:

- Tại sao anh hạ thủ bạn tôi?


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:28 pm

Chương 8. Ngư thuyền của Tử Thần

“Bạn tôi" là gã phi công phụ mà Văn Bình vừa lừa xô qua khung cửa trống. Có lẽ hắn đã biết nội vụ ngay sau khi trực thặng đáp xuống tiểu đảo san-hô. Nếu phi cơ không mắc kẹt trong ao bùn, hắn đã dùng súng uy hiếp chàng từ nãy. Hắn đã dằn lòng chờ đợi. Hắn đã cứu chàng sau khi chàng an toàn, hắn mới quay sang hỏi tội.

Chàng giả vờ bối rối:

- Tôi hạ thủ ai?

Chàng hy vọng hắn hớ hênh để cướp súng. Song hắn tỏ ra khôn như ranh, chàng toan tiến lên thì hắn đã lùi lại, miệng súng vẫn không rời ngực chàng nửa li:

- Anh đóng trò hơi vụng về. Anh đã thừa cơ cửa mở để hất thằng bạn thân của tôi xuống biển. Giờ đây, chắc nó đã chết. Tội ác của anh không thể tha thứ được.

Văn Bình chống chế:

- Giữa anh và tôi có sự hiểu lầm. Bọn anh Ịà nhân viên C.I.A., tôi làm thuê cho C.I.A., chúng ta nếu chưa là bạn thiệt thì cũng không thể là kẻ thù, do đó vấn đề tôi giết bạn anh không thể được đặt ra. Sự thật là bạn anh vô ý bị mất thăng bằng và bị gió mạnh hớp xuống, tôi nhoài người định nắm chân giữ lại nhưng không kịp, và giá tôi vuột tay, tôi cũng đã rớt xuống biển, và chết đuối như bạn anh.

- Nói láo. Trước mặt tôi có một tấm kiếng lớn, tôi ngồi lái mà vẫn theo dõi được mọi việc xảy ra phía sau. Tôi thấy rõ anh xô hắn. Anh còn chối nữa không?

- Anh đừng bắt nọn. Nếu anh thấy rõ, anh đã có phản ứng.

- Hừ... lý luận chạy tội của anh hơi yếu. Tôi chỉ có phản ứng nếu anh là nhân viên điệp báo tầm thường. Đằng này thế võ anh dùng để hạ thủ thằng bạn đáng thương của tôi lại thuộc loại tinh vi, nhu đạo đai đen đệ tam trở lên mới quán triệt được tinh túy. Nghĩa là về võ thuật, anh hơn tôi một bậc. Tôi đành phải nén giận.

- Thành thật ngợi khen anh. Anh sắp lảy cò chưa, xin báo trước để tôi chuẩn bị?

- Anh dư biết là tôi chưa giết anh. Vì nếu muốn giết, tôi đã có thể buông sợi dây thừng ra để anh rớt xuống bùn.

- Anh sẽ mang tôi về Mỹ?

- Hừ... Anh lại đóng trò nữa rồi. Nói thật đi, anh bạn, dầu sao chúng mình cũng là cáo già trong nghề. Tôi đã đọc thấu tâm can anh trong cặp mắt ngay sau khi anh trèo lên trực thăng. Phi cơ cất cánh được 10, 15 phút, anh đã biết chúng tôi không bay về Qui-tô, mà là hướng thẳng ra biển, và anh nẩy ra ý định cướp đoạt phi cơ nhưng không kịp đấy thôi.

- Ha ha... anh đã vô tình thú nhận anh không phải là nhân viên C.I.A..

- Tôi không vô tình mà là cố tình thú nhận. Thà tôi nói toạc móng heo. Vì nếu úp mở, anh cũng chẳng tha tôi. Tôi phải rút súng ra trước, vì nếu tôi chậm phản ứng, anh sẽ ra tay hạ thủ.

Vích-ky bật la lên:

- Trời ơi, té ra... té ra....

Gã phi công cười gằn:

- Té ra anh đã bị chúng tôi lôi vào cạm bẩy dễ dàng. Phải, chúng tôi chỉ là nhân viên C.I.A. giả hiệu. Còn anh nữa, từ nãy đến giờ anh cười nói phây phây, bắt đầu từ giờ phút đồng hồ này trở đi, phiền anh giơ tay lên đàng hoàng. Bì đạn của toi còn đủ 8 viên, viên nào cũng tốt nguyên, chạm cò nhẹ nhàng là nổ, anh đừng tí toe mà thiệt mạng vô ích.

Vích-ky tái mặt đứng yên.

Gã phi công lùi lại hai bước, Văn Bình, Vích-ky và Buru đều lọt trong tấm bắn của hắn. Buru càu nhàu, chắc hắn đang chửi đổng, song như thường lệ, hắn chỉ dám lầm bầm không dám lớn tiếng. Vừa lầm bầm, hắn vừa giơ tay lên một cách ngoan ngoãn.

Vích-ky đã nhảy xô lại. Nhưng hắn chưa chạm được bàn tay cầm súng thì gã phi công đã đạp hắn ngã nhào. Vích-ky là võ sĩ có hạng mà bị đánh ngã chớp nhoáng. Văn Bình không thể trù trừ thêm nữa, Vích-ky vừa nằm chổng bốn vó trên đất, chàng đã phóng ra một ngọn cước tuyệt diệu, theo thế thượng đơn thối của Thạch Đầu quyền Trung quốc.

Thạch Đầu quyền là một trong các bộ quyền nhập môn của phái Thiếu Lâm, thạch đầu là "đá" nên bộ quyền này lấy cứng làm căn bản. Thế thượng đơn thối nhằm đá hất một chân lên thật cao để chặt gãy cườm tay, bắt gã phi công buông súng, đồng thời bàn tay trái của Văn Bình chụm kín 5 ngón xỉa mạnh vào hông địch. Dụng ý của chàng là đâm xuyên yếu huyệt của địch dưới nách. Lối phát chưởng bằng năm ngón chụm kín và ngửa lên được gọi là "cân la thủ", Văn Bình đã đào luyện đến mực độ cao siêu, khả dĩ chọc thủng mặt bàn gỗ dầy.

Tuy nhiên, kế hoạch phản công táo bạo của chàng chỉ thắng lợi phân nửa. Gã phi công trúng cước vào cồ tay, phải nhả súng song hắn đã kịp thời né gọn khiến cân la thủ cực hiểm của Văn Bình đã phóng vào khoảng không, và trong khoảnh khắc, chàng bị hỗng chân. Tuy vừa tránh thoát miếng đòn thập tử nhất sinh, gã phi công vẫn còn đủ bình tĩnh và sáng suốt để khoèo ngang đầu gối làm Văn Bình loạng choạng.

Nhưng chàng chỉ loạng choạng chứ không ngã. Điều làm chàng ngạc nhiên là gã phi công mũi lõ, da trắng hồng, và giọng nói tếch-xát khèn khẹt chính cống lại am tường quyền cước Trung Hoa. Mới đặt chân đến biên giới Equatơ, chàng đã ngạc nhiên trong cuộc chạm trán bọn mọi da đỏ bán khai đấu võ Tàu. Không phải võ Tàu học lỏm mà là võ Tàu chân truyền được giảng dạy đúng quy củ.

Gã phi công còn làm chàng ngạc nhiên hơn khi hắn đáp lễ chàng bằng quyền Thạch đầu bộ pháp, thủ pháp, thân pháp và yêu pháp của hắn đều chững chạc, chứng tỏ hắn được thụ giáo những võ sĩ Trung Hoa nồi tiếng. Chàng ghi nhận thấy nơi hắn một nhược điểm: ấy là nhãn phập của hắn chưa được sắc bén. Nhãn pháp nghĩa là cách dò xét, theo dõi, tấn công đối phương bằng luồng mắt, muốn có nhãn pháp xảo diện phải mất nhiều công phu.

Nhược điểm về nhãn pháp của gã phi công là lợi điểm quan trọng của Văn Bình, vì không những chàng có cặp mắt xuyên thấu như quang tuyến X, chàng còn có thể dùng mắt làm bàn cân đo sức lực nặng nhẹ và tài nghệ cao thấp của địch. Gã phi công đành rằng có lối đánh đỡ Thiếu Lâm chân truyền song lại thiếu kinh nghiệm và thiếu kình lực.

Vì vậy cú đấm móc của hắn không làm Văn Bình nao núng mặc dầu hắn đã vận hết tài sức, hòng đánh gẫy xương sườn non của chàng. Chàng nhẹ nhàng hoành tay gạt, và nâng đầu gối lên. Cũng là một thế cước Thạch Đầu, nhưng vì chàng ra đòn quá nhậm lẹ, đòn lại nặng như quả tạ ngàn cân đè xuống nên gã phi công không thể nào ngăn chặn hữu hiệu.

Hắn kêu hự một tiếng rồi ngã vật. Văn Bình trườn theo tặng thêm một cái đá bằng mũi giầy. Mục tiêu của chàng là kết thúc luôn cuộc đời của gã phi công lộn xộn. Ngọn cước hiểm độc này đủ sức phá nát óc hắn và đưa hồn hắn xuống âm phủ tức khắc. Nhưng mũi giầy của chàng đã trượt ra ngoài tuy chàng nhắm rất chính xác. Và ngay khi ấy, chàng đã tìm ra nguyên nhân. Vích-ky vừa dùng gót chân cứu gã phi công khỏi chết.

Vừa cản đòn, hắn vừa la lớn:

- Không nên giết hắn!

Gã phi công muốn chồm dậy song cơn đau đã kéo hắn ngã nhoài. Hắn nằm dán xuống nền đất san-hô miệng rên hừ hừ. Văn Bình trách Vích-ky:

- Anh nhân đạo một cách vô ích. Hắn là điệp viên địch, nếu cho hắn sống, mọi bí mật của ta sẽ bị bại lộ.

Vích-ky cười:

- Kể ra chúng mình chẳng có gì là bí mật cả. Địch giả phi công C.I.A. đến rước sự việc này chứng tỏ địch đã biết tôi có cuộng băng của kỹ sư Doarê. Địch lừa ta lên trực thăng và đáp xuống đây tất đã có kế hoạch hẳn hòi. Theo tôi nghĩ, có lẽ tàu ngầm địch đang lảng vảng đâu đây, sửa soạn ngoi lên để bắt chúng mình. Chính vì vậy tôi mốn hắn sống. Dĩ nhiên giữ hắn sống là để bắt hắn cung khai, sau đó, anh muốn băm vằm hắn thành bùn tôi cũng không ngăn cản.

Buru chêm vào một câu ngỗ ngược:

- Cậu bé Vích-ky nói đúng... Tôi và cậu không khác mặt trăng mặt trời, không thể gần nhau, nhưng tôi phải thành thật khen là cậu lý luận rất xác đáng. Thằng cha phi công là sợi dây liên lạc duy nhất giữa ta và tiềm thủy đĩnh của địch, giết hắn đi thì ta trở về đất liền bằng cách nào? Chẳng lẽ chắp cánh vào nách mà bay về Qui-tô. Đề nghị nắn xương, xoa thịt cho hắn khỏe lại rồi hỏi hắn cách thức liên lạc với tàu ngầm.

Vích-ky trợn mắt khi nghe Buru gọi xách mé là "cậu bé". Hắn giơ nắm tay kếch xù lên nhưng Buru đã lỉnh ngay ra sau lưng Văn Bình.

Văn Bình cúi xuống, xốc nách cho gã phi công đứng dậy rồi thét vào tai hắn:

- Chừng nào tàu ngầm nồi lên?

Gã phi công thở hổn hển:

- Tàu ngầm nào? Làm gì có tàu ngầm?

- Vậy người ta đến đây đón anh bằng gì? Tàu đánh cá hay thủy phi cơ?

- Hừ... cái trò dọa dẫm con nít của các anh không làm tôi sợ đâu. Dầu tôi bị thương, thân cô, thế cô, tôi vẫn nắm phần chủ động. Không có tôi, các anh sẽ chết đói, chết khát trên giẻo đất san-hô này.

Dứt lời, hắn nhắm nghiền mắt. Văn Bình biết là hắn giã vờ nghỉ khỏe để khỏi bắt gặp luồng mắt sắc nhọn như mũi dao mổ xẻ của chàng. Chàng nhận thấy hắn có vẻ bối rối. Tại sao hắn lại bối rối?

Văn Bình thả cho gã phi công đứng thẳng một mình. Song không rõ vì đau đớn thật sự hay giả vờ, hắn loạng choạng không vững như người say rượu. Văn Bình bèn xóc ngón tay, nhưng chỉ dùng riêng ngón giữa của bàn tay phải thọc nhanh vào khoảng đùi non gần bẹn của đối phương. Trên đùi non, theo Thiếu Lâm tự, có huyệt ma-cốt, chạm vào thì gây ra bất tỉnh. Huyệt này rất dễ điểm, võ sĩ Trung Hoa thường chụm 5 đầu ngón tay lại theo phép ưng trạo công, không cần đánh trúng, chỉ đụng bên ngoài huyệt thì hạ bộ nạn nhân cũng bị tê liệt. Nếu điểm huyệt ma- cốt sâu hơn thì có thể làm thần kinh hệ nạn nhân bị rung chuyển dữ dội. Mục đích đánh huyệt ma-cốt bằng một ngón tay của Văn Bình nhằm khiến gã phi công thành đống thịt vô nghị lực, hầu dễ khai thác.

Nhưng một lần nữa, Vích-ky lại đoán biết ý định của chàng. Tuy hắn đứng hơi xa, hắn vẫn luôn luôn theo dõi phản ứng của chàng. Chàng vừa hươi bàn tay, hắn đã chặn lại. Cánh tay hắn vươn ra nhẹ nhàng và khoan thai nhưng kình lực tuôn tỏa cuồn cuộn khiến chàng phải kiêng dè. Hắn ở cùng phe với chàng, chứ nếu hắn là nhân viên của địch thì chàng phải vất vả lắm mới có hy vọng triệt hạ được hắn.

Văn Bình trừng mắt:

- Thái độ của anh thật khó hiểu. Hai lần tôi điểm huyệt hắn, hai lần anh đều tìm cách gỡ đòn. Yêu cầu anh giải thích nguyên nhân.

Vích-ky gằn giọng:

- Tôi không có bổn phận phải giải thích với anh, vì tôi là người chỉ huy điệp vụ, còn anh chỉ là phụ tá. Nếu anh bất bình, anh sẽ khiếu nại sau này với trung ương C.I.A. và ông Sì-mít. Tôi không chấp nhận cho anh giết gã phi công. Một lần nữa, tôi yêu cầu anh để mặc hắn cho tôi xử trí.

Trong khi ấy Văn Bình quay lưng lại, không để ý đến gã phi công đang oằn oại trên đất, mặt nhăn nhó vì đau đớn. Đột nhiên, mắt hắn hết nhăn nhó, hắn nhảy vụt lên như có pháp thuật, nắm tay thôi sơn của hắn choang vào gáy Văn Bình. Chàng đã dụng tâm giết hắn nên vai hơn rùn xuống, tiếng gió lạ vừa khởi lên sau lưng, chàng liền đánh lui bằng cùi trỏ.

Độc hiểm của Văn Bình trúng giữa mỏ ác gã phi công. Hắn vập mặt xuống nền đất san-hô sau khi kêu lên được một tiếng "oái" ngắn ngủi thảm thiết.

Vích-ky trở tay không kịp, vội quỳ xuống nâng mặt nạn nhân ngửa lên, bấm ngón tay cái vào mắt. Tròng mắt đã bất động hoàn toàn. Hắn ngẩng nhìn Văn Bình bằng luồng nhỡn tuyến đục ngầu:

- Sát nhân, anh là đồ sát nhân! Tôi có cảm tưởng là anh cố tình giết hắn.

Văn Bình cười nhạt:

- Tôi cũng có cảm tưởng là anh cố tình cứu hắn.

- Vì tôi có trách nhiệm trong vụ này. Công việc xong xuôi, anh trở về Sài-gòn, còn tôi phải ở lại. Thái độ sát nhân có dụng ý của anh không thể tha thứ được: thứ nhất, chúng ta không biết đến khi nào tàu ngầm của địch nồi lên, và nổi lên tại đâu để chuẩn bị đối phó hữu hiệu, thứ hai, hắn còn sống, ta có thể dùng hắn làm con tin bắt địch phải nhượng bộ. Hừ.... nếu tôi chưa biết rõ về anh, tôi đã có ý nghĩ anh là đại tá Z.28 giả hiệu... vì chỉ có kẻ mạo nhận danh nghĩa Z.28 mới hành động hấp tấp và ngu xuẩn như anh.

- Anh muốn đấu võ với tôi?

- Không. Tôi lên tiếng phản đối, chứ không xử dụng quyền cước. Tôi không sợ thua anh đâu, anh đừng tưởng lầm.

Dầu tôi biết anh giỏi võ, tôi cũng hầu tiếp như thường, tôi không phải hạng người bỏ chạy trước đối thủ hùng mạnh. Sở dĩ tôi nhịn anh là vì đường về Hoa-thịnh-đốn còn dài, chúng ta đang mắc kẹt trên hòn đảo cô quạnh này, chưa tìm ra phương tiện thoát hiểm, tiềm thủy đĩnh của địch lại sắp sửa ghé lên. Nếu tôi đi người không, có lẽ tôi đã không ngần ngại. Nhưng hiện giờ....

- Hiểu rồi. Anh vừa nhắc đến cuộn băng của kỹ sư Doarê?

- Anh riễu tôi phải không? Anh trêu tức tôi, tôi không động lòng đâu. Tôi là kẻ có nhiều tự ái, nhưng lại rất sáng suốt, giờ phút này, tự ái của cá nhân tôi chỉ là hạt bụi vô cùng nhỏ bé trước cuộn băng nhựa. Bằng mọi cách, tôi phải mang cuộn băng mật mã về nộp cho ông Sì-mít. Giờ phút này, anh chửi tôi, anh khạc nhổ vào mặt tôi, anh hành hung tôi, tôi cũng ráng nhịn.

Văn Bình giơ cao nắm tay:

- Tôi không thèm chửi anh, hoặc khạc nhổ vào mặt anh, nếu anh tiếp tục lên giọng thầy đời, tôi sẽ tặng anh quả đấm.

Vích-ky nhún vai:

- Trái thôi sơn của anh khét tiếng trong võ lâm từ nhiều năm nay, tôi rất lấy làm vinh dự được bái lãnh. Đây, tôi xin lấy hai cô Rita và Côcô làm chứng. Sau khi về đến Hoa-thịnh-đốn an toàn, chúng ta sẽ giao đấu với nhau, giao đấu bằng quyền, hoặc bằng võ khí, tôi đều sẳn sàng.

Côcô từ nãy giờ ngồi bần thần nhìn ra khơi sóng vỗ bập bùng bỗng quay ngoắt lại, giọng căm hờn:

- Vâng, tôi xin làm chứng. Nhưng tôi lại sợ là tôi không còn được sống sau khi về đến Mỹ nữa.

- Tại sao? Cô sợ tàu ngầm của địch chở chúng ta đi mất tích ư? Đó chỉ mới là giả thuyết. Biết đâu trong ít phút nữa ta sẽ gặp máy bay nhà đến cứu?

Lời nói của Vích-ky bỗng ứng nghiệm ngay như trong truyện giải trí hoang đường. Hắn chưa dứt câu thì từ hướng Đông vọng lại tiếng rừ rừ quen thuộc, tiếng động cơ máy bay. Hướng Đông là hướng đất liền, có lẽ phi cơ từ căn cứ trên đất liền bay đến.

Bầu trời đã trở nên quang đãng, những đám mây đen cuối cùng đã tan hết. Tuy nhiên ở phía Tây, phía thẳng ra biển Thái Bình rộng mênh mang, sương mù vẫn còn ngự trị, kết thành nhiều lớp dầy cộm bay là là trên mặt nước

Một chấm đen xuất hiện trên không trung bát ngát, Buru thấy trước tiên. Hắn rú lên trong cơn sung sướng:

- Đúng rồi, đúng rồi, máy bay... máy bay cứu cấp của chánh phủ Equatơ.

Máy bay mỗi lúc một lớn. Đang vui mừng, Buru vụt có thái độ hốt hoảng:

- Nguy quá, nguy quá, làm cách nào báo hiệu cho phi công biết bọn mình bị kẹt trên đảo?

Hắn xoay vòng tròn nhìn Vích-ky. Vích-ky chắp tay sau đít, đứng im như phỗng đá. Văn Bình cũng không hé răng. Hắn nắm vai Vích-ky lắc mạnh:

- Anh đã nghĩ ra phương kế chưa?

Vích-ky chưa kịp đáp, Buru đã bỏ hắn ra, reo lớn:

- Tôi nghĩ ra rồi. Chúng mình sẽ đốt lửa làm hiệu.

Hắn hỏi Văn Bình:

- Anh có quẹt máy trong túi không?

Văn Bình lắc đầu. Trước khi chuyền dây từ trực thăng qua ao bùn lên bờ, chàng đã bỏ lại mọi vật dụng cồng kềnh. Vích-ky và Buru cũng làm như chàng. Hai cô gái thoạt đầu còn quyến luyến những đồ tùy thân, rốt cụộc đều không mang theo. Cho dẫu có đồ để nhóm lửa cũng vô ích, vì hòn đảo bập bềnh trên biển rộng, bọt nước bắn lên tung tóe cũng đủ làm tắt, chứ chưa nói đến những trận gió từ tứ phía liên tiếp thổi lại nữa.

Vích-ky cổi phăng áo vét mặc trên người. Hắn ngó quanh quất tìm cách biến cái áo màu trắng cháo lòng thành lá cờ cấp cứu nhưng trên nền đất trắng chỉ có những hòn sỏi san-hô lổn nhổm. Hắn ngoảnh nhìn chiếc trực thăng đã lún gần hết trên ao bùn đen sì, mặt đầy vẻ tiếc nuối.

Phi cơ chỉ còn cách tiểu đảo một quãng ngắn. Nếu dùng viễn kính, hoa tiêu có thể nhìn thấy những người bị nạn mắc kẹt trên giẻo đất san-hô. Vích-ky cầm cái áo phất thành vòng tròn, miệng kêu rối rít:

- Lạy Trời, lạy Trời cho phi công nhìn thấy!

Có lẽ Trời đi vắng nên không nghe được tiếng cầu khẩn tha thiết của Vích-ky. Bằng chứng là phi cơ không tiến thẳng đến đảo san-hô mà lại bay vụt lên cao rồi đột ngột rẽ trái. Hồi nãy phi cơ là cái chấm đen, giờ đây nó lại trở thành chấm đen như cũ. Tiếng máy rừ rừ ấm áp cũng biến theo vào màn sương mù. Niềm hy vọng vừa chớm nở đã tan biến như bọt sà-phòng. Vích-ky quăng áo vét, thở dài chán nản, rồi ngồi phịch xuống đất.

Mọi người lại bâng khuâng gậm nhấm những ý nghĩ riêng. Rita đùa nghịch với đống vỏ sò xanh xám, diện mạo nàng vẫn ung dung như thể không có chuyện quan trọng xảy ra. Cô gái vô tư lự đùa nghịch trên bãi biển mùa hè cũng khó thể ung dung bằng nàng.

Liếc nàng, Văn Bình có cảm tưởng nàng đã tách ra khỏi hiện tại, đang lùi về quá khứ. Cách Rita ba thước, Côcô nhẩn nha lấy cái gọt móng tay xúc đất chơi. Được muỗng nào, nàng lại tung hất qua vai, và cười nho nhỏ một mình.

Bỗng Rita giẫy nẫy:

- Ơ kìa, làm cái gì thế?

Văn Bình đoán Buru phá thối nên chẳng buồn quay lại. Chàng đã đứt hơi nhiều lần vì hắn. Nhưng tiếng Côcô đã léo xéo phía sau, bắt chàng phải chú ý:

- Người ta lỡ tay một chút mà cũng làm toáng lên. Vâng, em có lỗi, em xin kính cẩn xin lỗi chị.

Rita gằn giọng:

- Tôi không thích phụ nữ hàm hồ.

Côcô trả đũa:

- Tôi cũng vậy. Tôi không thích phụ nữ thâm độc.

Theo kinh nghiệm, nam nữ sống trên đảo vắng thường sinh ra ghen tuông, nam đông hơn nữ thì phái nam châm ngòi xung đột. Nhưng ở đây, phái nữ lại phát động ghen tuông. Một muỗng đất san-hô của Côcô đã rớt vào áo Rita. Sạu một đêm thử thách, y phục của Rita đã nhàu nát, không phải là đồ dạ hội lộng lẫy đắt tiền may tại một tiệm danh tiếng Ba Lê để nàng phải gìn giữ cẩn trọng. Nàng bực tức chẳng qua vì Côcô là cái gai đâm vào mắt nàng, và dường như Côcô cũng thích gây gỗ với Rita.

Văn Bình biết sắp nổ lớn song không dám can thiệp. Lời nói hòa giải của chàng có thể sẽ bị hiểu lầm là bỏ thêm dầu vào lửa. Hai cô gái ghen tuông phần nào cũng do chàng mà ra. Chàng không nhớ đã làm những gì khiến hai cô gái rung động mãnh liệt. Dầu sao chàng cũng cảm thấy hối hận. Chàng hy vọng hai cô gái tình địch chỉ giao đấu bằng miệng, và để dành quyền cước cho một dịp khác.

Nhưng ngay từ giây phút đầu tiên, trận chiến đã trở nên gay cấn. Rita không thèm đáp, ném vỏ sò xuống biển, vẻ mặt khinh khỉnh.

Côcô bĩu môi:

- Đồ hèn.

Chết rồi, phi cơ oanh kích đã thả xuống mục phiêu một trái bom dò đường. Tuy là dò đường nhưng là trái bom hạng nặng ngàn kí-lô.

Rita chồm dậy:

- Cô bảo là ai hèn?

Côcô cười nhạt:

- Dĩ nhiên là tôi bảo cô hèn. Tôi chửi cô hèn nhưng cô sẽ không dám đối lại. Vì cô tự cho cô là phụ nữ trí thức thượng lưu. Vả lại, cô sợ tôi. Cô chạm đến tôi, tôi chỉ búng nhẹ là cô ngã kềnh, chàng ta sẽ cười chê, không phải người đẹp quý phái.

Buru vỗ tay đôm đốp:

- Thôi, tôi xin hai cô. Sắp chết đến nơi mà còn ganh tị. Hai cô nên hà tiện hơi sức để lát nữa còn phải đối phó với các đồng chí tàu ngầm sô viết.

Côcô trợn mắt:

- Chuyện riêng giữa đàn bà chúng ta, đàn ông không được quyền xía vô. Phải, chúng ta ganh tị, nhưng không phải ganh tị vì anh.

- Tôi xấu trai, đời nào các cô lại ganh tị vì tôi. sở dĩ tôi mau miệng là vì....

Buru không thể nói hết câu vì một hòn sỏi cứng đã rớt trúng miệng hắn. Một tia máu đỏ ri rỉ chảy ra mép. Hắn hùng hồ xăn tay áo song Vích-ky đã ngăn cản:

- Yêu cầu anh ngồi xuống, đàn bà họ hục hặc nhau thì mặc kệ người ta, không liên quan đến anh. Nếu anh ngo ngoe, tôi sẽ làm anh rụng nốt mớ răng sún còn lại.

Rita thích chí cười vang. Buru tiu nghỉu ngồi yên, tay áo đưa lên miệng chấm máu. Trong khi ấy, hai cô gái lần lượt đứng lên, đối diện nhau. Văn Bình không lạ gì tài nghệ của Rita, nàng từng đánh ngã Buru tất Côcô chỉ có thể là cái bao cát cho nàng tập đấm. Nghệ thuật ném hòn sỏi của nàng cũng làm cho chàng chột dạ. Nàng khó thể là cô em gái hiền lành của kỹ sư điện tử Doarê. Sự thật nàng là ai, đến căn cứ 4Q với mục đích gì? Và nàng là đồng minh hay là kẻ thù của chàng? Văn Bình chưa hết ngạc nhiên về Rita lại ngạc nhiên về thế xuất chiêu dũng mãnh và thần tốc của Côcô. Té ra kẻ nửa cân người tám lạng, Côcô không phải là liễu yếu đào tơ tầm thường nhu chàng lầm tưởng.

Ngón atêmi đầu ngón tay chụm lại của Côcô vừa ngầm báo với Văn Bình nàng là võ sĩ nhu đạo có hạng. Xoẹt một tiếng nhẹ, Rita nghiêng đầu tránh, ngón tay của Côcô xé toạc một mảnh áo vai của Rita. Hai người ôm ghì lấy nhau, và cả hai đều dùng các thế khóa cực hiểm nhu đạo để chẹn họng nhau. Côcô túm được cổ áo của Rita nhưng nàng chựa kịp ấn vào động mạch gần yết hầu thì Rita đã quẫy mình, chém ngang gáy Côcô. May thay đòn hiểm này trượt xuống xương quai xanh vì nếu rớt đúng huyệt kôchu ở đốt xương sống thứ nhất, Côcô sẽ khó vẹn toàn tính mạng. Cho dẫu Côcô tránh thoát thì miếng atêmi cũng chạm huyệt đà-cốt trên cổ, và huyệt này cũng là tử huyệt.

Văn Bình thở phào vì Côcô đá chân trái, nhằm trung bộ của đối phương trong khi Rita dùng chân phải để tấn công hạ bộ Côcô.

Cả hai đều bị trúng đòn. Rita loạng choạng. Côcô cũng loạng choạng theo. Nhưng cả hai lại tiếp tục lăn xả vào nhau, tiếp tục thi thố đòn hiểm.

Văn Bình không thể tiếp tục giữ vai trò bàng quang được nữa. Chẳng nhiều thì ít, chàng đã liên hệ đến trận đòn thù giữa hai cô gái lạ. Nếu chàng mặc họ giao đấu, một trong hai người sẽ chết, hoặc ít ra cũng bị thương. Chàng bèn tiến lên, nắm tay Côcô kéo ra, đồng thời dùng thân làm mộc ngăn Rita đánh tiếp. Chàng không ngờ Côcô vùng vằng, tông khuỷu tay vào ngực chàng. Chàng chưa tránh xong đòn của Côcô thì Rita đã xỉa ngón tay nhọn hoắt suýt nữa làm da mặt chàng rách toạc.

Sau cùng, chàng đã xô được mỗi người ra một nơi. Côcô tức tối nắm vạt áo chàng:

- A, anh đứng về phe nó phải không?

Văn Bình vội la:

- Không, không.

Rita thừa cơ khoèo chân, Côcô ngả ngửa. Côcô nhẩy xô đến, Vích-ky đành phải gia nhập cuộc chiến. Hắn ôm cứng lấy Côcô mặc dầu bị nàng cấu xé dữ dội. Đến khi mệt nhoài nàng mới buông Vích-ky ra, ngồi bệch xuồng thở hồng hộc như kéo bễ. Tuy vậy, nàng vẫn không quên hăm dọa Rita:

- Giữa hai đứa mình, phải có một đứa chết.

Rita xông lại, toan đấu nữa nhưng bị Văn Bình giang tay, giọng nghiêm khắc:

- Lần này là lần cuối, tôi thành thật van xin hai cô, nếu cô nào không nghe, miễn cưỡng tôi phải trừng trị. Khi ấy đừng trách tôi là thằng đàn ông vũ phu.

Cuộc xung đột giữa hai cô gái ghen tuông tạm chấm dứt vì ở chân trời vừa nồi lên thân hình gọn nhỏ của một con tàu biển.

Vích-ky lấy tay che ánh sáng bị mặt nước phản chiếu rực rỡ để nhìn cho rõ. Rồi hắn lẩm bẩm:

- Tàu Nga.... đúng là tàu đánh cá sô viết.

Con tậu đen sì chỉ còn cách tiểu đảo san-hô từ 3 đến 5 trăm thước. Trong khoảng xa này, nếu không bị sóng biển che lấp và ánh sáng phản chiếu thì có thể nhìn thấy rõ ràng, tuy nhiên Văn Bình chỉ đảo mắt ra ngoài khơi là biết ngay Vích-ky nói đúng. Nhân viên C.I.A. hoạt động tại hải ngoại đều phải học thuộc hình thù của mọi loại tàu biển sô viết. Dọc bờ biển châu Mỹ la-tinh, Liên Sô có rất nhiều tàu nhỏ, bề ngoài được trang bị là tàu đánh cá, nhưng bên trong là những trạm quan sát gián điệp của GRU và KGB.

Con tàu đánh cá đang lừ lừ rẽ sóng tiến đến hải đảo san-hô thuộc loại thông thường, trang bị động cơ chạy dầu cặn trên dưới 500 mã lực, mũi và đuôi tàu được gắn thêm những phiến thép dầy, dụng cụ truyền tin vô cùng tối tân giấu kín trong khoang, khi cần có thể được mang ra xử dụng trong vòng một vài phút, phi cơ quan sát bay bên trên không tài nào khám phá ra, đôi khi tàu đánh cá còn có máy phát tín hiệu đặc biệt nhằm phá rối hệ thống radar của phi cơ quan sát nữa.

Mọi người đều đứng ngay, trong khoảnh khắc những mối xích mích được quên bẵng. Rita không còn thái độ dữ dằn nữa mặc dầu Côcô đứng gần nàng, gần như chạm vai. Vẻ mặt của Côcô đang đỏ gay đã đổi sang xanh tái. Buru bặm môi, dáng điệu suy tư và lo sợ. Vích-ky tỏ ra bình tĩnh nhất trong bọn, tuy nhiên, Văn Bình nhận thấy hắn luôn luôn thay đổi vị trí của tay chân, như thể nội tâm đang bị giằng xé mãnh liệt.

Con tàu đánh cá đến gần thêm nữa, gần thêm nữa. Khoảng cách từ 500 mét được thu ngắn còn trên dưới 100 mét. Trong khoảng cách này, nó trở nên đồ sộ và hung hãn, màu đen tương phản tàn nhẫn với màu nước biển xanh xanh và màu san-hô trăng trắng, khiến chàng có cảm tưởng nó là con thủy thú khổng lồ từ đáy đại dương ghê rợn hiện lên mang theo ám hiệu của Tử Thần.

Trên thực tế, Văn Bình cũng đã nhìn thấy những ám hiệu cuủa Tử Thần. Tàu không treo cờ nên chưa biết thuộc quốc tịch nào song chàng đã biết rõ là của hải quân Liên Sô, đúng hơn là của sở Mật Vụ GRU, và trong chốc lát, thuyền trưởng sẽ ra lệnh thượng kỳ.

Nếu có đồng hồ đo sự lo sợ của mọi người thì Văn Bình là người làm kim đồng hồ chạy loạn nhất. Tuy vậy, trông ngoài mặt, chàng vẫn thản nhiên như không, miệng chàng vẫn cười mỉm, mắt chàng vẫn bắn những tia rí rõm, da mặt chàng vẫn không đổi khác. Đó là do chàng vận dụng nghị lực, và nhất là vận dụng nguyên khí, nếu không tay chân chàng đã run lẩy bẩy, trống ngực đập thin thình. Sự lo sợ của chàng có lý do rất chính đáng: từ nhiều năm nay, ảnh chàng, tướng mạo chàng, hồ sơ về chàng, một trong các hồ sơ cá nhân đầy đủ chi tiết nhất thế giới - đã nằm chềnh ềnh trong văn phòng giám đốc GRU và KGB ở Mạc-tư-khoa. Riêng GRU đã chiếu cố đến chàng một cách hết sức đặc biệt, hồ sơ của chàng đã được cập nhật hóa hàng năm, kèm theo các hình chụp mới. Hàng năm, cứ đến mùa thu là các chánh sở GRU nhóm họp tại thủ đô Liên Sô để rút được kinh nghiệm, và một phần của nghị trình nhóm họp tối mật được dành cho việc cứu xét các "hồ sơ hải ngoại thuộc ưu tiên số 1 chưa giải quyết".

Hoạt động hải ngoại của GRU được chia làm nhiều mức ưu tiên. Ưu tiên số 1 là việc loại trừ các nhân viện gián điệp được coi là lợi hại nhất đối với khối xã hội chủ nghĩa. Văn Bình được hân hạnh liệt vào bảng ưu tiên số 1 liên tiếp trọng nhiều năm: nghĩa là liên tiếp trong nhiều năm nhân viên sô viết được lệnh hạ sát chàng nếu không thể bắt sống được chàng. Dĩ nhiên, họ không thể bắt sống được chàng, nên biện pháp duy nhất của nhân viên sô viết là giết.

Các hồ sơ thuộc mức "ưu tiên số 2" đựợc tập trong trong văn phòng tồng giậm đốc nhưng phần thực hiện lại được giao riêng cho một ban mang cái tên rất hiền lành là "ban giải quyết các vụ ối đọng hải ngoại". Một trong số các tàu đánh cá trá hình của Liên Sô có mặt trên ngũ đại dương thuộc quyền điều động của "ban giải quyết các vụ ối đọng hải ngoại", nếu con tàu sắp sửa vớt chàng thuộc ban này thì tính mạng chàng còn mong manh hơn sợi chỉ mành treo tảng đá ngàn cân nữa.

Nhưng chàng đã hết lối lùi. Tiểu đảo san-hô chỉ nhỏ bằng chiếc mù soa hỉ mũi, chàng không tìm ra nơi nào ẩn núp an toàn. Chàng vẫn có thể nhảy đại xuống biển. Song nhảy xuống biển rồi đi đâu? Bờ biện xa lắc xa lơ, chàng không có hy vọng bơi đến nơi, vả lại tàu đánh cá chỉ nã một phát súng là chàng tan xác. Chi bằng lì lợm chờ đợi...

Con tàu đánh cá lại gần thêm nữa, gần thêm nữa....

Nó rẽ sóng phăng phăng, bọt nước trắng bắn tung tóe che khuất cả luồng khói dầu cặn đen sì. Từ nãy đến giờ, Văn Bình không hề thấy bóng con chim biển nào, đột nhiên hàng chục con cò đen, cổ dài ngoằng, mỏ trắng lông lấm chấm đen từ sau màn bọt nước bay vụt tới, lượn nhiều vòng trên tiểu đảo san-hô, thả xuống những tiếng kêu kỳ dị.

Tàu đánh cá giảm tốc độ rồi quay mũi. Một ngôi sao đỏ chói hiện lên ở đầu tàu. Không ai có thể lầm được nữa, đúng con tàu này là của Liên Sô.

Nhưng bóng người vạm vỡ mặc đồng phục xanh thợ máy đã đứng đầy trên boong, tay chỉ chỏ huyên thiên. Rồi đến giọng nói oang oang:

- Bị nạn phải không?

Giọng nói oang oang này là của người Nga. Vích-ky có vẻ thất vọng song hắn vẫn lên tiếng trả lời.

Trời bỗng tối sầm. Những đám mây hồng rực rỡ vừa ra khỏi màn sương dầy đặc ậm đạm đã rũ nhau tan biến trong chớp mắt. Ánh sáng ban ngày trên mặt biển rộng mênh mông đang được thay thế bằng những tia vàng hoàng hôn mặc dầu đồng hồ mới chỉ giờ xế trưa.

Tàu đánh cá buông neo ngay sát bờ đảo. Và cuộc tiếp cứu được tiến hành ngay tức khắc.

Gió biển thổi dữ dội, mặt biển cũng cuộn sóng dữ dội. Sườn tàu vừa ghé sát bờ đã bị đẩy ra. Loa vi âm trên boong được mở hết độ lớn song không át nổi tiếng gió thét và tiếng sóng gầm. Sau những phút ngậm miệng, thần biển đột ngột vùng dậy gieo rắc sự kinh hoàng và tàn phá trên mặt biển bao la...

Con tàu thuộc loại nhỏ nên bị lay chuyển dữ dội. Thuyền trưởng phải là tay đi biển cừ khôi nếu không con tàu đã bị chìm lỉm nhiều lần. Có lẽ nó đã lênh đênh ngoài khơi từ mấy ngày qua, và đã là nạn nhân của trận động đất và trận bão tiếp theo, bằng cớ là vỏ tàu đã bị méo mó nhiều chỗ, lan can sắt trên boong tàu bị gãy phăng một phía, phía còn lại thì quăn queo như thể một bàn tay khổng lồ nắn từng thanh thép mà bẻ cong.

Hai ngọn đèn pha từ hông tàu chiếu xuống bờ sáng rực. Thuyền trưởng hét lên:

- Bắn dây mau lên!

Phụt một tiếng, khẩu súng nhỏ giấu dưới đống lưới cá vừa được dỡ lên, khạc ra một mũi dùi dài và nhọn hoắt, trông như cây lao của lực sĩ thế vận. Đuôi cây lao có lỗ tròn như lỗ kim may, một sợi dây thừng ni-lông được luồn sẵn. Mũi dùi của cây lao cắm phập vào nền đất san-hô rắn chắc. Một cây lao khác được phóng tiếp, trong giây lát, hai sợi dây ni-lông đã buộc chặt mạn tàu vào hòn đảo san-hô.

Thuyền trưởng lại hô:

- Nắm dây mà lên!

Buru hấp tấp dành trước, nhưng thuyền trưởng đã quát tháo:

- Đàn ông chưa được phép. Đàn bà lên trước!

Buru tẽn tò nhường chỗ cho Rita và Côcô. Văn Bình lên sau cùng. Từ khi Rita đặt chân đầu tiên lên sàn tàu sô viết đến khi Văn Bình rời hòn đảo nhỏ xíu bềnh bồng trên biển cả, hơn một giờ đồng hồ dài giằng dặc đã trôi qua. sở dĩ cuộc cứu cấp mất nhiều thế giới vì hai người đàn bà lóng cóng ngã lên ngã xuống nhiều lần, con tàu chạy ra chạy vào nhiều lần làm dây ni-lông tuột đứt, thủy thủ phải vất vả cắm lại mũi dùi.

Những tia nước bắn xối xả vào Văn Bình. Chàng có cảm giác như kim nhọn xuyên thấu da thịt làm chàng tê buốt. Sàn tàu tròng trành, suýt nữa chàng té ngã. Chàng chưa kịp đứng vững thì một quả đấm từ bên hông quạt tới, trúng cằm chàng. Đòn thôi sơn được tung ra khá mạnh khiến chàng loạng choạng. Chàng nhận ra kẻ đánh lén là một thủy thủ râu ria xồm xoàm. Nhưng chàng không đánh trả, phần nào vì tay chân chàng bắt đầu rời rã sau nhiều giờ phút vận sức, phần khác vì chàng không muốn cho địch biết chàng giỏi võ. Chàng lồm cồm vịn cột bườm, một trái thôi sơn khác lại vèo tới. Và lần này thì chàng khuỵu thật sự, không phải giả vờ. Tên thủy thủ vừa đánh chàng là võ sĩ săm-bô có hạng. Săm-bô là môn võ ruột của dân Nga la tư, sở mật vụ GRU và KGB từ sau thế chiến thứ hai đã rút gọn những miếng tuyệt diệu của võ săm-bô làm thành cận vệ chiến nhập môn giảng dậy cho nhân viên điệp báo sô viết.

Chàng nghe gã thuyền trưởng ra lệnh cho tên thủy thủ:

- Thôi, người ta ngã rồi, mày còn đánh gì nữa? Đỡ người ta dậy.

Văn Bình được xốc nách dìu vào ca-bin. Chàng tưởng chỉ có mình chàng bị đánh phủ đầu, khi đến nơi, chàng mới thấỵ cả Vích-ky lẫn Buru nằm sóng sượt trên sàn tàu, đang được hai thủy thủ dội nước lạnh vào mặt cho tỉnh lại. Thì ra tất cả đều bị đánh. Ngoại trừ hai người đàn bà.

Nếu Văn Bình lên tàu sớm hơn 5 phút, chàng còn chứng kiến nhiều chuyện lạ hơn nữa. Vích-ky đặt chân lên boong cùng một lúc với Buru. Giữa tiếng sóng gầm và gió rú, Vích-ky lon ton chạy ngay về phía gã thuyền trưởng.

Thuyền trưởng trạc 45, mặt vuôn chữ điền, lông mày sâu róm một đống thù lù trên làn da bánh mật lấp la lấp lánh tia sáng của cặp mắt soi mói. Hắn cao gần hai mét, miệng mím chặt, dường như từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay chưa hệ biết cười. Thật ra hắn có cười song chỉ cười nửa miệng. Khi hắn hé môi, cái răng cửa bịt vàng sáng lóe, tạo cho hắn một vẻ anh chị gớm ghiếc. Tuy nhiên, điều làm hắn thêm gớm ghiếc là vết thẹo dài ngoằng nằm vắt vẻo trên má. Vết thẹo này mang hình thù kỳ dị, nó giống như cặp sừng trâu cong veo châu đầu vào nhau.

Bộ đồng phục của hắn cũng kỳ dị không kém, áo vét thì chật ních tưởng như thở nhẹ là đứt bùng các đường chỉ khâu trong khi quần rộng thùng thình, ống quần trên 30 phân quét lòa xòa trên mặt thuyền đầy nước và đất bùn bẩn thỉu. Hắn đội cái mũ lưỡi trai cũng màu xanh đậm như màu quần áo, trên mũ được đính ngôi sao đỏ tí xíu, dấu hiệu chứng tỏ hắn là ông chúa trên tàu đánh cá.

Tuy là tàu đánh cá nhưng Văn Bình lại không nhìn thấy thùng cá nào. Thậm chí cả mùi tanh tưởi, mùi cố hữu của mọi con tàu đánh cá, cũng không có nữa. Như thể con tàu đã được chùi rửa và phun thuốc trừ hôi kỹ lưỡng, hoặc giả nó chỉ mang theo lưới cá làm gì, những lưới cá mới toanh quanh năm, chưa được quăng xuống nước, chứ đừng nói là chứa cá nữa.

Văn Bình lên tàu sau cùng nên không thể biết rằng Vích-ky và Buru dành nhau để tiếp xúc với thuyền trưởng. Ngoài mặt, họ không tỏ vẻ hối hả, nhưng nhìn cách chạy như bị ma đuổi của họ, người kém trí cũng không thể lầm lẩn. Vích-ky gặp thuyền trưởng trước Buru. Thuyền trưởng cất mũ cát-két, vuốt chùm tóc lơ thơ trên cái trán hói bóng loáng, miệng hô một tiếng ngắn. Vích-ky đứng khựng. Thuyền trưởng lập lại, Vích-kỵ vẫn tỏ vẻ không hiểu. Thuyền trưởng to tiếng gắt ngậu xị, Vích-ky quay lưng lại, chỉ Văn Bình đang chờ trên bờ tiểu đảo và Buru vừa nhảy xuống sàn tàu trơn trợt. Thuyền trưởng khum bàn tay làm loa quanh tai để nghe được rõ, mặt hơi cau ra vẻ chú ý đặc biệt. Nhưng chỉ nửa phút sau, hắn trợn mắt, méo miệng, gạt cánh tay lông lá vào ngực Vích-ky.

Thuyền trưởng quật đòn khá mạnh song Vích-ky vẫn không bị trọng thương. Hắn chỉ rên lên một tiếng khẽ, hai chân tiếp tục đứng vững. Thuyền trưởng lẩm bẩm chửi rủa và đánh tiếp. Vích-ky lùi lại, tuy vậy hắn không trả đòn. Hắn lớn giọng với thuyền trưởng, nếu hồi nãy giọng hắn đượm thân mật thì khi ấy, giọng hắn trở nên hách dịch, như thượng cấp ban lệnh cho thuộc viên, cử chỉ kẻ cả của Vích-ky chỉ có tác dụng đổ thêm dầu vào lửa, hắn mới tuôn ra được mấy tiếng thì hai thủy thủ đã bẻ quẹp tay hắn ra sau lưng, và thuyền trưởng lên gối vào bụng hắn. Bị đánh thật đau, hắn chưa chịu ngất, thuyền trưởng phải lên gối lần nữa, hắn mới ngã vùi như đống giẻ rách xuống nền tàu.

Buru cũng nhi nhô với thuyền trưởng. Vừa nói hắn vừa khoa chân múa tay, nhưng hắn không chỉ trỏ huyên thuyên như Vích-ky. Thuyền trưởng đạp Vích-ky một cái nên thân. Lúc ấy Vích-ky đang nằm dài như con cá sắp bị làm thịt. Buru nhổ nước bọt, rồi thuận chân đạp theo. Nhưng nếu thuyền trưởng chỉ đạp vào mông thì Buru lại chơi hiểm, đạp vào đầu. Suýt nữa, nếu thuyền trưởng không ngăn chặn kịp thời thì Vích-ky đã bị thương nặng ở sọ. Hoặc hắn có thể thiệt mạng.

Vích-ky bị mê man. Buru quạy ra cãi vã tay đôi với viên thuyền trưởng. Rốt cuộc hắn cũng bị đo ván như Vích-ky. Hắn đau hơn Vích-ky vì thuyền trưởng ra đòn nặng hơn. Chưa hết, khi hắn nằm mọp, thuyền trưởng còn ngoắt tay ra hiệu cho hai tên hộ pháp nện gót giầy săng-đá tới tấp xuống lưng hắn nữa. Hắn không bị gẫy xương sống thì thật là vận hên tột đỉnh.

Vích-ky và Buru bị đánh ngất nên Văn Bình được tiếp đón bằng thôi sơn chỉ là chuyện đáng đến đã đến. Chàng ngồi dựa lưng vào ghế sắt gắn chìm trong sườn tàu. Hai cô gái mặt xanh mét, tóc rũ rượi, ngồi đối diện chàng. Tuy nhiên, chàng nhận thấy cả hai được đối xử tử tế, chỉ bị xô đẩy chứ không bị hành hung, cả hai đều nhìn chàng với vẻ trìu mến khác thường. Côcô mấp máy trên môi:

- Anh ngồi sang đây.

Văn Bình không nhúc nhích vì sợ Rita phản đối. Nhưng Rita đã nhích sang bên. Chàng đã hiểu vì sao nàng chấp thuận. Vì chàng sẽ ngồi cạnh nàng. Côcô cười mỉm: mặt nàng mất vẻ cau có đầy thù hận. Hai cô gái tình địch đã làm lành được với nhau rồi chăng?

Trên sàn tàu, Vích-ky và Buru đang lần lượt tỉnh dậy. Tuy ở gần đường xích đạo, nước biển lại lạnh ngắt. Những tia nước bắn tung tóe vào mặt Văn Bình tạo cho chàng cái cảm giác run rẩy của những buổi sáng trong động lang thang trên đồi núi Hoa-Nam.

Vừa mở mắt, Buru đã cất tiếng the thé:

- Chính hắn... chính hắn....

Thuyền trưởng quát:

- Câm miệng.

Buru nghển cổ:

- Anh không chịu nghe tôi, đến khi mang lụy vào thân thì đừng trách.

Thuyền trưởng đạp lưng Buru:

- Tao đã bảo câm miệng mà mày cứ tuôn ra ong ỏng như máy hát dĩa. Lần này là lần cuối, tao cảnh cáo mày, khi nào tao hỏi mày mới được mở miệng, nếu mày còn lắc xắc, tao sẽ ra lệnh cho bọn thủy thủ lấy kềm bẻ hết răng.

Nghe nói bẻ hết răng, Buru im thin thít, nhưng mắt hắn vẩn lấm lét ngó Văn Bình. Dường như hắn muốn nói gì với chàng. Chàng chỉ ngất đi trong khoảnh khắc mà quá nhiều chuyện kỳ lạ đã xảy ra. Hồi nãy Buru đã nói gì với thuyền trưởng? Tại sao hắn lại bị thuyền trưởng hạ đo ván? "Chính hắn... chính hắn", những tiếng này ám chỉ ai và có ý nghĩa gì?

Sự ngạc nhiên của Văn Bình đã gia tăng vì Vích-ky chống tay đứng dậy, và nói với viên thuyền trưởng, giọng đủ nghe nhưng quyết liệt:

- Tại sao anh dám đánh tôi? Anh không biết tôi là ai ư? Hậu quả tai hại sẽ xảy ra cho anh, cho gia đình anh nếu anh tiếp tục bướng bỉnh, không tuân theo lệnh tôi.

Thuyền trưởng nhăn mặt:

- Tuân theo lệnh anh?

- Phải. Vì tôi mới là thượng cấp của anh.

- Ha... ha.... anh tự nhận là thượng cấp, thằng cha mặt bú rù kia cũng tự nhận là thượng cấp của tôi, rồi lát nữa người đàn ông và hai người đàn bà đang ngồi trong ca-bin này cũng tự nhận như vậy, rốt cuộc tôi có 5 thượng cấp cả thảy.

- Anh đừng lý luận ngu xuẩn... Trong só 5 người này, chỉ có một người là bạn anh.

- Và người này không phải là anh.

- Ai bảo với anh như thế?

- Thằng bú rù.

- Hắn là nhân viên C.I.A.. Nhân viên gián điệp Mỹ chính cống, tên hắn là Buru. Còn tôi là Vích-ky...

Buru bỗng chồm tới:

- Đúng, anh là Vích-ky, đặc phái viên C.I.A. do Hoa-thịnh-đốn gửi tới trung tâm 4Q. Chính anh mới là gián điệp Mỹ chính cống.

Vích-ky xoay tay toan đánh Buru nhưng gã thuyền trưởng lực lưỡng đã chắn ngang. Giọng hắn oang oang:

- Tôi đã bảo mà các anh không thèm nghe. Anh Buru, anh là C.I.A. phải không?

Buru đáp:

- Không.

Vích-ky cướp lời:

- Dĩ nhiên, hắn phải trả lời "không". Vì hắn chẳng dại gì trả lời "có" trên con tàu của Liên Sô. Trả lời "có" nghĩa là tự ký vào bản án tử hình, anh sẽ giết chết hắn và quăng xác hắn xuống biển cho cá mập ăn.

Thuyền trưởng dậm gót giầy cồm cộp:

- Câm miệng, câm miệng....

Một tên thủy thủ dựa lưng vào cửa ca-bin quật cho Vích-ky một phát đau điếng bằng roi gân bò. Bị đánh bất thần, Vích-ky uặn người rên rỉ. Buru cười:

- Đáng kiếp.

Một ngọn roi gân bò khác giáng xuống vai Buru:

- Đã bảo câm miệng mà cứ bô bô!

Đến lượt Buru gục xuống. Phát roi gân bò để lại một vệt dài rớm máu trên cổ hắn.

Thuyền trưởng quay về phía Văn Bình, giọng nói hách dịch bỗng trở nên ngọt ngào:

- Tên anh là gì?

- Là gì, anh đã biết.

- Trong bọn anh, ai là Đôbin?

Văn Bình vụt hiểu. Bài toán đầy ắp con số nhức đầu vụt trở nên một câu đố tầm thường. Gã thuyền trưởng con tàu đánh cá do thám sô viết được lệnh tiếp xúc với một người tên là Đôbin. Đôbin có lẽ là tên của một trong hai viên hoa tiêu trực thăng. Điều mà gã thuyền trưởng chưa biết là cả hai viên hoa tiêu đã thiệt mạng. Lúc chạm mặt trên boong tàu, thuyền trưởng đã hô mật khẩu nhưng cả Vích-ky lẩn Buru đều không biết. Sự việc phải đến đã đến: vì thù riêng, vì muốn bảo vệ mạng sống, nhiệm vụ mà nhân viên điệp báo của mọi quốc gia đều phải làm tròn với bất cứ thủ đoạn nào, hoặc vì một lý do thầm kính mà Văn Bình chưa phăng ra, Vích-ky và Buru đều vỗ ngực tự xưng là Đôbin và người này đổ cho người kia là nhân viên tình báo trung ương C.I.A..

Gã thuyền trưởng hỏi chàng "trong bọn anh, ai là Đôbin", điều này có nghĩa là hắn đang bối rối, chàng không thể không lợi dụng cơ hội để làm hắn bối rối thêm. Chàng bèn giả vờ nhìn quanh quất rồi đáp nhỏ:

- Là tôi.

Mắt gã thuyền trưởng rực sáng. Hắn bước lại gần Văn Bình, quan sát chàng từ đầu đến chân:

- Anh có mang theo giấy tờ nào chứng minh anh là Đôbin không?

Chàng đáp, thản nhiên:

- Có.

Buru phá lên cười, quên hẵn nỗi đau đớn do roi gân bò gây ra:

- Ha, ha, tấn tuồng vui ghê!

Gã thuyền trưởng quắc mắt:

- Anh cười gì?

Buru vẫn cười:

- Tôi chẳng cười gì cả.

Sực nghĩ ra sự ngu xuẩn của mình, gã thuyền trưởng quát Văn Bình, bắt chàng ngồi xuống. Hắn dõng dạc ra lệnh cho bọn thủy thủ võ trang tiểu liên:

- Chúng mày hãy canh gác cẩn thận. Đứa nào ngo ngoe thì bắn gãy giò.

Gã thụyền trưởng đẩy cái tủ đựng thuốc cấp cứu sang bên, phía sau là ô cửa vuông. Hắn luồn tay vào, lấy ra cái hộp sắt. Trong hộp sắt có cuốn sổ nhỏ bia bằng da thuộc màu đen. Đó là cuốn sổ ghi mật mã. Hắn kéo ghế lại bàn đặt máy truyền tin ở góc ca-bin. Hắn giơ cuốn sổ mật mã, viết hí hoáy bằng bút chì trên giấy trắng, đoạn mở điện cho máy chạy. Trước khi đặt ngón tay vào cần mã tự, hắn lẩm bẩm một mình:

- Hừ, có 3 thằng... thằng nào cũng xưng là Đôbin... hai thằng lại tố cáo lẫn nhau là gián điệp Mỹ, không khéo mình điên đến nơi.

Văn Bình chăm chú theo dõi từng cử chỉ của gã thuyền trưởng. Trên nguyên tắc, để bảo toàn bí mật công tác, hắn không được phép liên lạc - dầu bằng vô tuyến điện mật mã - với trung ương, trừ phi trong trường hợp bất khả kháng. Trung ương tình báo sô viết có thể không biết rõ về các bọn đồng hành của chàng, nhưng không thể không biết rõ về chàng. Nghĩa là chân tướng của chàng sắp sửa bị bại lộ... Chàng phải hành động ngay, nếu không....

Gã thuyền trưởng đã đeo mũ nghe vào đầu. Văn Bình nhổm đít, toan đứng dậy song một tên cầm súng sau lưng chàng đã gằn giọng:

- Ngồi xuống.

Chàng đành ngồi xuống. Nhưng chàng vừa ngồi xuống thì Buru đã hấp tấp đứng lên. Hắn đứng lên mà chẳng làm nên cơm cháo gì vì một bá súng đã rơi vào ót, hắn loạng choạng trước khi dộng đầu vào ghế sắt. Gã thuyền trưởng vẩn say sưa với bức mật điện vừa viết xong, không quan tâm đến quang cảnh ồn ào sau lưng.

Bỗng hắn văng tục rồi nói:

- Quái lạ, quái lạ, tại sao máy không chạy?

Hắn mở, tắt, mở, tắt bằng cách nhấn nút liên tiếp trên máy. Một làn hơi khét từ trong máy truyền tin bốc ra. Gã thuyền trưởng hắt xì một tiếng làm tờ giấy đặt trước mặt bay vèo như bị gió thổi, rồi lẩm bẩm:

- Quái lạ, quái lạ, máy có mùi khét.

Mồ hôi toát đầy trán, hắn cất tiếng gọi một thuộc viên đang lấp ló ngoài cửa ca-bin:

- Nè mày, máy có mùi khét... dây điện bị cháy thì bỏ mẹ....

Mùi khét đột nhiên gia tăng. Một luồng khói trắng xanh xông vào mũi miệng gã thuyền trưởng. Hắn bịt miệng ho sặc sụa, tuy vậy hắn vẫn không ngớt văng tục. Ngưòi Nga sinh trựởng ở miền biển có thể cạnh tranh với các chú con Trời về biệt tài văng tục nên tuy thông làu tiếng Nga, kể cả tiếng lóng, Văn Bình cũng chỉ hiểu được lõm bõm gã thuyền trưởng chửi những gì. Vả lại, chàng không có thời giờ suy luận nữa vì đến lượt chàng ngồi gần hắn bị hơi khói khét lẹt làm tối tăm mặt mũi. Chàng nghe Rita nói:

- Cúi đầu xuống, anh.

Gã thuyền trưởng lảo đảo đứng dậy, mặt đỏ phừng phừng. Bọn thuộc viên chạy rậm rập từ ngoài vào ca-bin, con tàu rung rinh như muốn chìm. Thủy thủ đoàn gồm từ 10 đến 12 tên vì hầu hết công việc trên tàu được làm bằng máy, cơ hội tập trung nhân viên này là cơ hội bằng vàng cho chàng. Nếu chàng tóm được gã thuyền trưởng, chàng có thể bắt bọn thủy thủ quăng súng.

Mắt chàng bị khói trắng che kín, chàng chỉ có thể nhìn thấy lờ mờ. Toàn ca-bin bị tràn ngập khói trắng, một thứ khói khét lẹt, tức ngực và ngứa cổ họng. Một thứ khói kỳ lạ bắt nước mắt, nước mũi chảy ra dầm dề. Chàng ngửi thấy một mùi hăng hắc đặc biệt, đây là mùi một hóa chất riêng được dùng để chế tạo một loại bom nhỏ như bút chì nguyên tử, có tác dụng tạo ra khói trắng và phá hoại các hệ thống điện tử. Nhân viên hành động C.I.A. thường được cấp phát loại bom nhỏ này để phá hoại các cơ xưởng sản xuất máy móc điện tử tinh vi tại Đông-Đức.

Xẹt... xẹt... nhiều tiếng xẹt nồi lên. Rồi bùng.... bùng... bộ máy truyền tin đồ sộ, kiên cố trở thành đống sắt vô dụng trong chớp mắt.

Gã thuyền trưởng đã ra đến ngưỡng cửa ca-bin. Hắn rút súng lục cầm tay. Buru vịn vào tàu, toan đứng lên thì bị gã thuyền trưởng nhắm cánh tay lảy cò. Viên đạn lệch khỏi mục tiêu nhưng đã đủ cho Buru xanh mặt, buông mình

Bỗng đoàng đoàng...

Hai phát súng nồ liên tiếp.

Rồi tiếng người kêu thét...


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:29 pm

Chương 9. Người đẹp Qui-tô

Đó là tiếng kêu của Vích-ky. Tiếng kêu đau đớn chứng tỏ hắn bị trúng đạn. Văn Bình không ngờ ngoài chàng ra đã có nhiều người khác lợi dụng tình thế hỗn độn trong ca-bin để triệt hạ thuyền trưởng và bọn thủy thủ sô viết. Buru đã chùn gân nhưng còn Vích-ky. Không lẽ một tay võ nghệ cừ khôi, giàu kinh nghiệm trận mạc như hắn lại chịu khoanh tay. Cho nên hắn đã thót dậy, phóng cước vào lưng gã thuyền trưởng.

Ngọn đá của Vích-ky phát ra như cuồng phong, nếu trúng đòn, thuyền trưởng có thể gẫy xương sống và ngã sấp. Nhưng Vích-ky đã bị một tên thủy thủ tinh mắt nhìn thấy, chĩa súng bắn. Hắn bắn bừa không kịp nhắm nên viên đạn bay hú họa chạm mũi giầy của Vích-ky, do đó ngọn cước bị trệch khỏi lưng viên thuyền trưởng gặp hên.

Ngay khi ấy, khẩu súng trên tay gã thuyền trưởng nồ đoàng. Hắn có thời gian nhìn kỹ mục phiêu hơn tên thủy thủ, song chẳng hiểu sao viên kẹo chì 9 li của hắn lại chỉ xuyên thủng vạc áo Vích-ky và giựt theo một miếng thịt. Vích-kỵ kêu thét, không phải vì viên đạn trúng hiểm huyệt, mà chính vì hắn muốn gia tăng sức lực bản thân và làm đối phương rối loạn tinh thần. Nhưng một tên thủy thủ chực sẵn phía sau đã choảng cho hắn một phát bá súng thừa sống thiếu chết vào trũng gáy.

Lần này hắn đo ván luôn không ngóc dậy được nữa. Gã thuyền trưởng lách sang bên, nhường lối cho hai thuộc viên mang bình chữa lửa vào trong ca-bin. Trong nháy mắt, làn tuyết thán khí trắng xóa hăng xè đã dập tắt được những ngọn lửa nhỏ vừa nhú lên trong máy.

Quang cảnh trong ca-bin đã trở lại bình thường.

Thuyền trưởng chỉ Buru và Vích-ky, ra lệnh cho thuộc viên, giọng bực bội:

- Trói lại.

Nghiễm nhiên Văn Bình được hưởng đặc ân của tình báo sô viết. Thuyền trưởng cho phép chàng ngồi đàng hoàng trên ghế, trong khi cặp bài trùng "lắm chuyện" Buru-Vích-ky bị trói nghiến bằng dây lưới cá ni-lông vào chân ghế sắt. Dây ni-lông dao sắc cắt mới đứt, giỏi nội ngoại công cũng không bứt nổi, vì càng cựa quậy nó càng ăn sâu vào da thịt.

Con tàu đánh cá lừ lừ ra khơi. Giữa biển rộng mông mênh, Văn Bình cảm thấy lẻ loi vì không thấy bóng thuyền bè nào hết. Dường như sau cơn bão lớn, mọi thuyền bè đều cặp bến.

Thuyền trưởng đứng im như phỗng đá trên sàn tàu. Văn Bình biết hắn đang suy nghĩ. Cái máy truyền tin là sợi dây liên lạc duy nhất giữa con tàu đánh cá cô đơn trên đại dương và trung ương điệp báo sô viết. Sợi dây móc nối vo hình này đã bị cắt đứt.

Văn Bình nghe loáng thoáng tiếng lẩm bẩm của gã thuyền trưởng:

- Quái lạ, quái lạ, đứa nào là thủ phạm nhỉ?

Văn Bình biết gã thuyền trưởng đang băng khoăng về nguyên nhân máy vô tuyến bị nổ cháy. Trong hai người đàn bà và ba người đàn ông lạ có mặt trên tàu, phải có ít nhất một người là thủ phạm. Giây phút này, chắc gã thuyền trưởng đang tìm cách trả lời cho câu hỏi rối beng "thủ phạm của vụ phá hoại là ai?" Văn Bình suýt phì cười khi nghe hắn hỏi một mình hai tiếng "quái lạ" quen thuộc. Hễ mở miệng là hắn thốt ra tiếng "quái lạ".

Bỗng gã thuyền trưởng quay lại. Hắn nhìn qua khung cửa vào ca-bin, luồng nhỡn tuyến ngừng lại hồi lâu trước Vích-kỵ và Buru đoạn ngoắt một tên thủy thủ đứng gần. Tên thủy thủ vâng dạ một cách kính cẩn rồi ra hiệu cho Côcô theo hắn lên boong. Hắn dẫn Côcô đi xuyên qua phòng máy dầu cặn đến ca-bin riêng của thuyền trưởng.

Côcô thản nhiên bước theo hắn. Mặt nàng trở lại lì lợm như thường lệ. Nàng không tỏ ra sợ hãi như trước nữa. Mọi người nhìn nàng khuất sau cánh cửa gỗ. Văn Bình đoán là gã thuyền trưởng kêu nàng lên hỏi cung. Sau nàng chắc chắn sẽ đến lượt những người khác. Chắc chắn là gã thuyền trưởng sẽ tìm đủ cách khám phá ra trong bọn ai là nhân viên C.I.A..

Văn Bình chờ đợi không lâu. Độ nửa giờ sau, Côcô được áp giải trở về ca-bin. Tên thủỵ thủ hất hàm gọi Rita. Đợi tên thủy thủ ra khỏi ca-bin, Văn Bình hích cùi tay vào ngực Côcô, và hỏi nàng bằng giọng rất nhỏ song đủ nghe:

- Thuyền trưởng hỏi cô những gì?

Sau khi trông trước trông sau, nàng đáp:

- Hắn hỏi em ai là Đôbin. Em đáp không biết. Hắn hỏi đi hỏi lại cả chục lần như vậy, em cũng đáp đi đáp lại cả chục lần hắn vẫn không tin. Sau đó hắn hỏi em có phải em gài lựu đạn vào máy truyền tin hay không, em liền bảo hắn là đồ ngu, hắn nổi giận toan đánh em, em sửng cổ thách hắn, chẳng hiểu sao hắn lại không dám làm dữ nữa. Hắn đổi sang giọng ngọt ngào, vỗ về em, xin lỗi em, rồi yêu cầu em tố cáo trong bọn mình ai là nhân viên C.I.A.. Không cần suy nghĩ, em nói ngay là Vích-ky. Em ghét thằng mập ấy nhất, em chỉ mong cho gã thuyền trưởng khệnh cho Vích- ky một chập.

- Cô thù hắn là chuyện dĩ nhiên. Vì dầu sao hắn cũng đã giết cha cô.

- Anh lầm.

- Nghĩa là ông Fêlin không phải cha cô.

- Không phải.

- Vậy cô là... gì của Fêlin?

- Chẳng là gì hết.

- Tại sao cô lại đi với Fêlin?

- Vì hoàn cảnh bất khả kháng.

- Thế nào là hoàn cảnh bất khả kháng?

- Em không thể giải thích. Đúng hơn, trong hiện tình, em chưa thể giải thích, sau này anh sẽ rõ.

- Tốt hơn cô nên giải thích ngay bây giờ.

Côcô nín lặng.

Văn Bình ghé sát tai nàng, giọng khẩn khoản:

- Thật ra cô là ai?

Côcô đáp:

- Rồi đây anh sẽ rõ.

- Tôi xin chờ. Nhưng ngay từ bây giờ tôi cần biết cô có liên hệ ra sao với những quặng mỏ kim cương tìm thấy trong hành lý của Fêlin?

- Em có thể lấy danh dự nói với anh là em không có liên hệ.

- Kể cả gói bạch phiến lậu?

- Vâng. Kể cả gói bạch phiến lậu.

- Những vật này là của Fêlin?

- Hắn làm nghề buôn lậu?

- Có lẽ thế.

- Cô gặp hắn tại đâu?

- Qui-tô. Ô kìa, em đã quyết định không nói, tại sao anh cứ tra hỏi em? Vâng, em đã gặp hắn tại thành phố Qui-tô. Chẳng giấu gì anh, em ở trong danh sách những người hiện bị công an F.B.I. tầm nã. Em phải trốn xuống Nam-Mỹ. Em đã làm đủ nghề để sinh sống. Em ca hát, nhảy múa, làm đủ việc để kiếm tiền, Fêlin cần một người quen đường dẫn hắn lên vùng biên giới nên em đi theo, ngoài ra em chẳng được biết gì nữa.

- Công an Mỹ truy nã em về tội gì?

- Tham gia hoạt động của một số tồ chức chính trị tả khuynh.

- Cộng sản?

- Không, vả lại, anh không hiểu sâu thì hơn.

- Fêlin đến vùng biên giới để làm gì?

- Em không biết, và em cũng không hỏi hắn. Hắn yêu cầu em làm hướng đạo và trả em một số tiền khá lớn nên em nhận lời.

- Trả bao nhiêu?

- Một ngàn mỹ kim. Trong lúc này, một đô-la đối với em đã là quý giá, huống hồ hắn chi những một ngàn đô-la. Giá hắn chỉ trả em một vài trăm, em cũng đi ngay, không ngần ngại.

- Fêlin đi đến đâu?

- Căn cứ 4Q.

- Hắn gặp ai trong căn cứ?

- Em không biết. Vì khi đến vòng đai của trung tâm 4Q thì đột nhiên em bị sốt, chân em lại bị sưng vù vì dẫm nhằm gai độc

- Cô có giầy tại sao lại đạp gai độc?

- Điều đó cũng làm em thắc mắc không ít. Nếu là gai nhọn thì phải là gai sắt mới có thể đâm xuyên qua đế giầy của em. Em đã kiểm soát lại và không thấy lỗ thủng nào do dùi nhọn gây ra cả. Tự dưng gan bàn chân em sưng vù và thâm tím, em không tài nào cất bước được nữa, em đành phải ở lại trên sườn núi.

- Fêlin vào căn cứ một mình?

- Như em đã nói, em không hiểu hắn đi đâu nữa. Hắn dặn em chờ và em nằm trên tảng đá chờ hắn một đêm. Đến gần sáng hắn trở lại và vượt núi xuống thung lũng. Được nửa đường thì đụng phải anh.

- Quặng mỏ kim cương và gói bạch phiến được cất trong túi hành trang từ khi nào?

- Khi Vích-ky khám phá ra em mới biết.

- Tại sao Fêlin lại cải trang làm linh mục?

- Có lẽ để dễ di chuyển trong vùng. Hắn rất ít nói, và hay gắt gỏng song tâm địa rất tốt. Trong thời gian em ở bên hắn, hắn không hề có cử chỉ sàm sỡ. Luôn luôn hắn đối xử với em đúng đắn, đến nỗi nhiều khi em có cảm tưởng hắn là nhà tu thật sự. Em...

Côcô ngưng bặt.

Nàng ngưng bặt sau khi nhận thấy Vích-ky đang lắng tai nghe. Nàng nói rất nhỏ nhưng hắn vẫn có thể nghe được nếu hắn nín thở và tập trung tư tưởng. Văn Bình để ý đến Vích-ky từ nãy. Chàng biết hắn ngồi im, không cử động tay chân, lưng quay lại, song vành tai mở rộng, cố gắng thu những lời nói của Côcô vào thính giác. Chàng đã biết từ đầu đến cuối, biết mà vẫn thản nhiên như không. Chàng nghĩ rằng tấn tuồng đang diễn đến màn chót, chàng không cần tiếp tục thận trọng nữa.

Lý do thứ hai khiến Côcô ngưng bặt là sự hiện diện của hai tên thủy thủ. Một tên ló đầu qua khung cửa ca-bin. Tên thứ hai vừa áp giải Rita về. Người được kêu lên thẩm cung kế tiếp là Vích-ky. Hắn cười mỉm ra vẻ thỏa mận khi được tên thủy thủ nắm vai áo kéo đứng dậy. Hắn không còn bị trói vào cột sắt nữa, nhưng hai bàn tay của hắn lại bị kẹp cứng trong cái mơ-nốt sáng loáng. Tàu đánh cá của GRU có khác! Mọi dụng cụ cần thiết đều có đủ, kể cả xiềng chân và còng tay...

Vích-ky vừa ra khỏi, Buru ngước mặt lên và nhăn răng cười. Hắn cười với Rita. Thấy Rita nghiêm trang, hắn liền quay ra cười với Văn Bình. Chàng cũng phớt tỉnh, hắn đành phải lên tiếng trước:

- Chà, hai người nói chuyện ngon quá ta!

Côcô nhíu lông mày:

- Nói chuyện gì mà ngon?

- Chuyện gì thì cô đã biết. Cô cũng nên biết thêm là Vích-ky đã theo dõi cuộc trò chuyện từ đầu đến cuối.

- Còn anh?

- Tôi cũng vậy. Dầu sao, tai tôi cũng thính hơn tai nhiều người. Tôi đồng ý với cô là chúng ta nên loại trừ thằng khốn kiếp Vích-ky.

Rita chép miệng:

- Anh chỉ nói mà không làm.

Bị người đẹp mắng, Buru xịu mặt. Rita quay sang phía Văn Bình, nghiêm giọng:

- Gã thuyền trưởng đã căn vặn em nhiều về anh. Thật ra em mới quen anh, và em đã khai với hắn như vậy. Nhưng hắn không tin. Hắn nghi anh phá nổ máy truyền tin. Hắn đang sai nhân viên ráp gấp một điện đài khác. Nghĩa là từ giờ đến chập tối, hắn sẽ có thể liên lạc được với trung ương của hắn. Và em tin là hắn sẽ hạ sát anh.

Văn Bình đáp:

- Hắn sẽ không hạ sát tôi đâu, cô đừng ngại. Nạn nhân của hắn sẽ là Vích-ky. Vì lẽ giản dị Vích-ky là đặc phái viên chính thức của C.I.A..

- Cho dẫu Vích-ky là đặc phái viên C.I.A. chính cống, cũng chưa nguy hiểm bằng anh. Trung ương GRU sẽ hạ lệnh thủ tiêu anh đầu tiên. Nhưng anh ơi, đó chỉ mới là giả thuyết. Anh còn đóng kịch với em làm gì nữa? Hơn ai hết. Anh đã biết Vích-ky có mặt trên con tàu đánh cá này không phải là nhân viên C.I.A..

Văn Bình hơi giật mình. Thật ra, chàng đã đóng kịch, chàng cũng chẳng lạ gì những vai kịch mà các bạn đồng hành đang đóng với chàng, tuy nhiên, chàng đã đánh giá Rita quá thấp, chàng ngờ vực Rita song chàng không hề ngờ vực nàng là...

Lời nói của Rita làm cả Buru lẫn Côcô bàng hoàng. Côcô trố mắt nhìn cô bạn gái tình địch. Buru vươn vai như muốn giật phăng những vòng dây ni-lông kiên cố.

Rita bình thản nói tiếp:

- Em nói đúng hay sai hả đại tá Văn Bình Z.28?

Văn Bình đáp:

- Tôi chưa thể trả lời là đúng hay sai vì sự suy luận của cô có vẻ tiểu thuyết quá.

- Anh Văn Bình, chúng ta không còn thời giờ để tiếp tục tấn trò mèo vờn chuột vô ích này nữa. Anh đã biết Vích-ky chỉ là kẻ địch giả hiệu.

- Trí tưởng tượng của cô hơn hẳn tôi nhiều bậc. Cô là ai? Cô là ai mà quen Vích-ky?

- Em không hề quen cũng như anh không hề quen Vích-ky. Em rất ngạc nhiên về thái độ này của anh. Anh sợ hả? Anh sợ trong số những người trong ca-bin này có vành tai của địch hả? Dầu sợ, anh cũng chẳng còn lối thoát nào khác nữa. Lẽ ra em phải giữ im lặng đến phút chót, phút hạ màn. Nhưng em không thể ngậm miệng nhìn anh chết dưới tay gã thuyền trưởng hung bạo. Vì vậy, em phải nói, và em không ngần ngại nói hết sự thật, dầu em sẽ gặp hiểm nguy. Em là ai, rồi anh sẽ biết. Nhưng ngay từ phút này, anh phải thành thật đồng ý với em rằng Vích-ky không phải là đặc phái viên C.I.A. có nhiệm vụ đến căn cứ 4Q móc nối với kỹ sư Anbe Doarê.

- Tại sao cô dám đoan quyết hắn là nhân viên C.I.A. giả mạo?

- Hừ... anh muốn điều tra em hả? Thôi, để em nói hết, Vích-ky thật sự đeo vòng sơ-men ở cổ tay trái. Vích-ky giả mạo này cũng đeo đủ số vòng bạch kim ở cổ tay trái, nhưng... nhưng hắn lại quên một điều căn bản khiến người kém quan sát vẫn có thể phăng ra hắn đội lốt. Vích-ky chính hiệu chuyên đeo đồng hồ ở cườm tay phải, vòng sơ- men ở cườm tay trái, vì vậy trên cườm tay trái không thể nào có một vệt trắng. Nam-Mỹ là xứ nắng quanh năm, đeo đồng hồ vài ba ngày là nơi đeo trắng hếu trong khi da tay nâu sẫm. Nếu hắn là Vích-ky giả hiệu, vệt da trắng hếu chỉ có thể có trên cườm tay phải, đằng này hắn lại có trên cườm tay trái. Giờ đây, anh đã hoàn toàn đồng ý với em chưa?

Văn Bình nín thinh. Không cần Rita giải thích, chàng đã biết. Chàng đã biết ngay từ khi gặp Vích-ky (giả hiệu) gần căn cứ 4Q. Nhưng chàng giả vờ không biết để theo dõi hành động của hắn, chờ đến phút chót mới ra tay.

Giọng Rita vẫn đều đều như tiếng mục sư trên tòa giảng:

- Anh ghê gớm lắm, anh qua mặt được Vích-ky chứ đừng hòng qua mặt em. Anh đã phăng ra chân tướng của Vích- ky nên mới chủ tâm xô tên hoa tiêu ra khỏi trực thăng trong khi bay, đến khi đáp xuống thì tìm đủ cách loại trừ tên hoa tiêu mặc dầu Vích-ky tìm đủ cách che chở. Chẳng qua anh chặt lông, chặt cánh của Vích-ky. Hắn tưởng anh lỡ tay, nhưng em, em đã thấy rõ là anh cố tình. Tội nghiệp cho gã Vích-ky giả hiệu dại dột....

Lời nói của Rita đưa Văn Bình đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chàng ngạc nhiên vì nàng đã nói đúng, rất đúng, đúng đến nỗi chàng không còn giiữ được bình tĩnh nữa. Dầu nàng là ai, nàng vẫn là đối thủ đáng gờm của chàng. Nàng là nhân viên điệp báo đồng minh hay là nhân viên GRU, Quốc Tế Tình Báo sở, chàng cũng lo ngay ngáy.

Vì nàng đã có cặp mắt thông thiên nhìn thấu bề sâu ruột gan chàng...

Nàng chưa chịu buông tha Văn Bình. Chàng còn bối rối thì nàng đã nói tiếp:

- Anh giết hai tên phi công với hai mục đích rõ rệt. Thứ nhất, chặt lông, chặt cánh của Vích-ky; thứ hai, quan trọng hơn, là ngầm hại hắn. Hắn không biết mật khẩu liên lạc với thuyền trưởng, vì đã có hai tên phi công. Vì nguyên tắc an ninh, thuyền trưởng chỉ có nhiệm vụ liên lạc với kẻ nào nói trúng mật khẩu. Hai tên phi công bị chết, Vích-ky trở thành bơ vơ, tính mạng hắn cũng bị đe dọa không kém tính mạng mọi người. Hắn không còn cách nào khác ngoài cách xuất đầu lộ diện, công khai tuyên bố là nhân viên GRU. Vì Buru phá quấy, Vích-ky bị ăn đòn đau, nhưng sớm muộn gã thuyền trưởng sẽ tin hắn. Ý em đã quyết, còn anh, anh tính sao?

Văn Bình chỉ đáp bằng cái nhún vai. Chàng không thể nói thành tiếng vì hai tên thủy thủ khác vừa dõng dạc kêu tên chàng:

- Đại tá Z.28.

Buru và hai người đàn bà đều nhìn chàng, vẻ mặt lo sợ. Nhưng chàng vẫn thản nhiên như không. Tên thủy thủ cầm súng bước vào ca-bin hất hàm với Văn Bình:

- Ông là đại tá Văn Bình?

- Không phải.

Tên thủy thủ quay sang hỏi Buru:

- Ông này chính là đại tá Văn Bình?

Buru trề môi:

- Thằng mập Vích-ky nói láo. Trong bọn chúng ta không có ai là đại tá, và không có ai mang tên Văn Bình cả.

Tên thủy thủ ngẫm nghĩ một phút rồi chỉ Văn Bình:

- Ông này theo tôi.

Văn Bình ngoan ngoãn đứng dậy. Chàng nhận thấy tia mắt của Rita vụt sáng. Dường như nàng đang tìm cách ra hiệu cho chàng. Có lẽ nàng nghĩ rằng nếu muốn áp đảo đối phương trên tàu đánh cá thì đây là cơ hội thuận lợi nhất. Hai gã thủy thủ đều được trang bị súng tiểu liên nhưng ở trong ca-bin chật chội, những dụng cụ giết người tân tiến này trở nên kềnh càng bất tiện. Hơn nữa, chàng không tin đối phương là nhà thiện xạ. Trong trường hợp phản công, chàng có thể hành động nhậ lẹ, và nhất là hành động thật lặng lẽ. Chàng chỉ cần vung tay, hai phát atêmi trúng yết hầu sẽ đưa hồn hai tên thủy thủ xuống địa ngục.

Rồi với hai khẩu tiểu liên và băng đạn còn đầy, chàng dư sức chế ngự gã thuyền trưởng và bọn thuộc viên. Đó là chưa nói đến khẩu tiểu liên thứ nhì mà một trong ba người, Buru, Rita hoặc Côcô có thể xử dụng để triệt hạ phe địch.

Tuy vậy, chàng vẫn ngoan ngoãn đứng dậy. Chàng không tỏ cử chỉ nào khiến Rita có thể hiểu lầm là chàng cướp súng. Vì chàng muốn chờ đợi thêm một thời gian nữa. Chàng phải gặp gã thuyền trưởng và chạm mặt Vích-ky.

Con tàu đánh cá sô viết trông vỏ ngoài nhỏ nhắn, tưởng gặp sóng lớn là đắm, nhưng bên trong lại khá rộng rãi, kiên cố, và được thiết trí đầy đủ tiện nghi tân tiến. Ca-bin riêng của thuyền trưởng phía sau phòng máy dầu cặn không thua kém phòng ngủ hạng nhất trên tàu biển thương mãi là bao: về kích thước nó rất hẹp, song so sánh đồ đạc nó lại không thiếu thứ gì, từ cái giường xếp mở lật vào vách tàu đến cái bàn làm việc xinh xắn trên đặt một số máy móc điện tử. Một thủy thủ đội ca-lô trắng đang cặm cụi với đống bộ phận rời của máy truyền tin. Văn Bình liếc nhìn và nhận thấy công cuộc gắn ráp của hắn sắp hoàn thành. Trong một giờ đồng hồ nữa, thuyền trưởng sẽ có thể liên lạc điện đài với trung ương GRU ở Mạc-tư-khoa.

Thời tiết chỉ thoáng đẹp được một lát rồi xấu lại như cũ. Những tảng băng khổng lồ nâng con tàu lên cao trong khi gíó lớn thổi vù vù. Chàng phải vịn lan can tàu mới giữ được thăng bằng trên sàn gỗ tròng trành.

Thuyền trưởng ngồi dựa vào vách, miệng ngậm điếu xì-gà Ha-van lớn bằng ngón chân cái. Vích-ky đã được mở còng, vẻ mặt hớn hở. Thấy chàng vào, Vích-ky đứng dậy, giọng ngọt ngào:

- Chào anh bạn đại tá Z.28. Anh bạn đã biết tôi là Vích-ky giả hiệu. Bọn anh tìm đủ mọi cách phỉnh gạt thuyền trưởng, nhưng giờ đây tôi đã nắm chủ động, thuyền trưởng đã tin tôi. Anh đã chịu thú nhận anh là Z.28, nhân viên C.I.A. chưa?

Văn Bình cười nhạt:

- Tôi có hai điều cần xác định. Thứ nhất, Z.28 không phải là nhân viên C.I.A. mà là cộng sự viên thân cận của ông Hoàng, tổng giám đốc sở Mật Vụ Nam Việt. Thứ hai, tôi không phải là Z.28 chính cống. Mà là Z.28 giả hiệu. Cũng như anh là Vích-ky, nhân viên giao liên C.I.A. giả hiệu vậy.

Vích-ky chồm dậy nhưng thuyền trưởng đã vung tay cản hắn lại. Vích-ky hậm hực ngồi xuống. Thuyền trưởng nghiêm giọng nói với Văn Bình:

- Ông Z.28, ông đừng hòng lừa tôi. Tôi đã biết rõ ông là nhân viên C.I.A.

- Ông đã biết rõ thì còn hỏi tôi làm gì nữa?

- Để ông tự ý cung khai. Vì nhân đạo, tôi không muốn áp dụng những phương pháp khác.

- Chẳng hạn tra tấn?

- Dĩ nhiên. Hẳn ông đã đoán biết con tàu đánh cá này chính là một khoái đỉnh trang bị dụng cụ truyền tin điện tử và võ khí bí mật của hải quân sô viết.

- Ông khỏi phải dạy. Thuộc viên của tôi chỉ có 13 người nhưng người nào cũng am tường nghệ thuật tra tấn. Nếu ông không chịu nói, chúng ta sẽ tiếp tục tra tấn đến chết. Biển rộng mênh mông, vứt ông xuống thì trong chốc lát ông sẽ tan thành nhiều mảnh và chui gọn vào bụng cá, cho dẫu xác ông còn nguyên thì cũng không đời nào tìm thấy.

Văn Bình không đáp vì vành tai chàng vừa nhận được một âm thnh quen thuộc. Đó là tiếng máy bay. Mặc dầu phi cơ còn xa, tiếng gió và tiếng sóng lại mạnh, chàng vẫn nghe rõ mồn một như chàng đang đứng giữa phi trường. Có lẽ vì tiếng động cơ máy bay lúc này là tia hy vọng cuối cùng trên đại dương bao la nên nó vang dội thật lớn.

Gã thuyền trưởng cũng nghe tiếng máy bay như chàng. Hắn ra lệnh như quát cho tên cận vệ cầm súng lăm lăm đứng án ngữ bên cửa ca-bin:

- Bảo chúng nó kiểm soát lại xem trên boong đã được ngụy trang chu đáo chưa? Cẩn thận đấy, có lẽ là máy bay địch.

Tiếng phi cơ mỗi lúc một gần, và càng bay đến gần, phi cơ càng hạ thấp. Chắc hoa tiêu đã nhìn thấy con tàu đánh cá lẻ loi. Nếu là phi cơ C.I.A. tất hoa tiêu phải bay lượn trên tàu và liên lạc vô tuyến với người trên tàu. Hệ thống liên lạc vô tuyến của tàu đánh cá đã bị tê liệt, hoa tiêu sẽ nghi ngờ và sẽ báo cáo về đất liền để xin chỉ thị...

Và thuyền trưởng không còn cách nào khác ngoài cách thủ tiêu chàng cho phi tang....

Nếu muốn thoát chết, chàng phải phản công ngay từ bây giờ. Tên cận vệ cõ trang đã trèo lên boong trên, trong ca- bin chỉ còn gã thuyền trưởng và Vích-ky. cả hai đều giỏi võ, tuy nhiên, chàng tin tưởng là có thể đoạt phần thắng trong trận đấu xáp lá cà.

Vích-ky đã đọc được ý định lật ngược thế cờ trong cặp mắt sáng rực của chàng nên vội bước lại. Một đợt sóng lớn bằng ngôi nhà hai tầng xô vào mạn tàu. Con tàu đánh cá mảnh khảnh lạng sang bên, Vích-ky không quen hoạt động trên mặt nước nên bị mất thăng bằng, suýt nữa ngã chúi vào người gã thuyền trưởng.

Văn Bình bèn phóng bàn chân trái, đồng thời xỉa năm ngón tay ra đằng trước. Vích-ky hốt hoảng gồng cánh tay lên đỡ. Trong cơn hấp tấp, hắn không kịp quan sát thế đánh hiểm độc của Văn Bình. Chàng chỉ đánh dưới thượng bộ, còn đòn chính được tập trung vào bàn chân trái. Sàn tàu nghiêng gần 45 độ nên ngọn cước của Văn Bình không hoàn toàn trúng đích. Chàng chỉ có thể làm bắp chân của hắn tê liệt trong chốc lát.

Vích-ky khuỵu xuống. Chàng không còn thời giờ tiếp tục đối phó với hắn nữa vì gã thuyền trưởng đã rút súng khỏi túi áo. Mặt biển chuyển động mạnh mẽ song hắn vẫn giữ được quân bình như đang ngồi trong ghế xa-lông phòng khách. Cử chỉ lấy súng của hắn có vẻ nhanh nhẹn và gọn gàng, điều này chứng tỏ hắn có khả năng và kinh nghiệm tác xạ, nếu hắn lảy cò, chàng sẽ khó có hy vọng thoát chết.

Ngọn cước thần tốc chân phải, Văn Bình để dành cho gã thuyền trưởng. Hắn chưa nắm chặt khẩu súng Tôkarếp đen sì trong lòng bàn tay kếch xù thì đòn chân của Văn Bình đã vèo tới. Hắn né không kịp, khẩu súng bị đá văng vào cái máy truyền tin đang được ráp dở trên bàn. Tên thủy thủ ngồi sau bàn cũng rút súng. Nhưng hắn đã phản ứng quá muộn.

Gã thuyền trưởng rút súng nhanh như điện xẹt mà còn bị Văn Bình hóa giải dễ dàng, huống hồ tên thủy thủ chậm nhự rùa bò. Trước khi rút súng, hắn đẩy lùi cái ghế sắt ra sau để khỏi vướng, nghĩa là hắn đã dại dột để mất một phần mười giây đồng hồ, hắn lại để mất thêm một phần mười giây khác với khẩu súng mắc kẹt trong bao vải đeo dưới nách, và thời gian rềnh ràng này của hắn đã quá đủ cho Văn Bình tống vào mặt hắn một trái thôi sơn, du hồn hắn vào giấc ngủ mê man.

Hai địch thủ của chàng là Vích-ky và gã thuyền trưởng chỉ mới bị hóa giải, chứ chưa bị triệt hạ. Vích-ky đáng ngại hơn vì hắn là điệp viên hành động chuyên nghiệp, số vốn võ thuật của hắn cũng khá phong phú. Muốn loại hắn ra khỏi vòng chiến, Văn Bình phải tốn phí nhiều cố gắng.

Vì vậỵ, chàng phải đánh gục gã thuyền trưởng trước. Và chàng phải đạt mục đích thật nhanh, nếu không Vích-ky sẽ có thể can thiệp.

Gã thuyền trưởng còn loạng choạng, mắt tóe đom đóm thì Văn Bình đã chém cạnh bàn tay vào cổ. Hắn né sang bên, song phát atêmi của Văn Bình vẫn rớt trúng khớp xương vai. Miếng đòn trời giáng của chàng đã làm gân vai của hắn đứt lìa. Hắn ngã lộn vào vách tàu, miệng chỉ kịp kêu "ối" một tiếng ngắn. Thoạt gặp hắn, Văn Bình đinh ninh hắn rất giỏi võ, nhưng đến khi so tài, chàng mới rõ hắn chẳng biết gì hết, ngoài cái thân hình chắc nịch và nắm tay to tướng tưởng như có thể đấm nát sọ dừa của đương kim vô địch quyền Anh hạng nặng thế giới. Gã thuyền trưởng chưa chết, nhưng vết thương bại liệt này đã biến tay chân hắn thành những khúc cây bất động. Trừ phi hắn có phép hô phong hoán vũ, hắn mới có thể khuất phục được Văn Bình.

Hạ xong gã thuyền trưởng, Văn Bình dồn hết sức lực vào phát atêmi bằng đầu ngón tay vào ngực Vích-ky. Một cuộc đấu atêmi kinh khủng diễn ra giữa hai cao thủ nhu đạo.

Trước đó mấy phút, sóng gió cũng đã diễn ra hãi hùng trong ca-bin ở gần mũi thuyền, nơi Côcô, Rita và Buru bị canh giữ. Ngoài trời, trên boong tàu được phủ kín bằng lưới đánh cá ngụy trang, và ở mạn tàu đầy vết tàn phá loang lỗ của trận bão vừa qua, những đợt sóng lớn mỗi phút một lớn thêm ào ào kéo tới, tiếng sóng ào ào hòa trộn với tiếng gió ào ào, tạo ra hàng chục, hàng trăm âm thanh quái dị khiến người cứng bóng vía cũng bủn rủn.

Cơn giận dữ của thần Hà Bá đã giúp cơ hội cho Buru châm ngòi phản công thắng lợi. Côcô và Rita vẫn ngồi trên ghế. Ngoài cửa ca-bin, một tên thủy thủ cầm tiểu liên đứng gác. Bọt nước bắn rát, hắn quay mặt vào trong ca-bin vẫn không tránh khỏi những tia li ti buôn buốt. Hắn đành cúi gập mặt xuống ngực và kéo xụp mũ kết. Hắn quên bẵng trong giây phút, nhiệm vụ canh phòng tù nhân.

Buru lặng lẽ nhìn Côcô. Trong lúc ấy Rita cũng choàng dậy. Nàng tỉnh khô như thể chưa bao giờ nàng mỏi mệt. Nếu có Văn Bình ở đó, chàng sẽ tưởng nàng vừa được chích thuốc khỏe đặc biệt hoặc nàng đã giả vờ mỏi mệt. Rita mấp máy đôi môi ra hiệu cho Buru. Và Côcô chỉ ngón tay ra cửa ca-bin.

Những cử chỉ thầm lặng của ba tù nhân trong ca-bin như có chất điện làm tên thủy thủ giật bắn người.

Nhưng hắn đã để tuột khẩu tiểu liên xuống sàn tàu. Giá không có cảnh sóng gió ồn ằo điếc tai thì tiếng kêu của khẩu súng nặng nề có thể báo động toàn thể thủy thủ. Thành thử ra tiếng kêu thật lớn mà chỉ như tiếng động của cây tăm tre rớt xuống nền gạch. Buru thường ngày chậm chạp, vụng về, vậy mà khi cần triệt hạ đối thủ nhanh nhẹn và giỏi dắn, hắn lại tỏ ra nhanh nhẹn và giỏi dắn không thua các võ sĩ thượng thặng về khinh công.

Hắn bay vụt ra cửa ca-bin nhẹ nhàng như chiếc lá bay. Tên thủy thủ chỉ biết bị Buru tấn công sau khi đánh tuột khí giới và lãnh cú đá ác liệt vào mạng mỡ. Buru đá mạnh đến nỗi nạn nhân ngã lộn ra sau hai vòng như diễn viên đu bay trong rạp xiếc, không kịp kêu cứu. Hắn cũng không kịp đứng dậy nữa vì sức cuốn của trận cuồng phong trên biển rộng, cộng với sức đẩy của ngọn cước katatê, đã xô luôn hắn xuống biển. Hắn chới với, toan bám lấy mạn tàu song sức người có hạn, không thể cưỡng lại sức thiên nhiên, và trong chớp mắt hắn đã biến dạng dưới làn nước xanh đục.

Buru lượm khẩu tiểu liên nhảy lên boong. Hai cô gái vọt theo. Những vòng dây trói trên mình Buru đứt rơi lả tả. Thì ra hắn giã vờ. Hắn đã thủ sẵn lưỡi dao bén, chờ cơ hội thuận tiện cắt đứt dây thừng ni-lông, rồi cầm đầu cuộc phản công chiếm đoạt chiếc tàu đánh cá gián điệp sô viết.

Thủy thủ đoàn gồm trên 10 thì phần đông bận việc tíu tít ở tầng dưới và trong phòng máy. Bởi vậy, ba người không gặp trở ngại nào trên đường đến phòng máy, tọa lạc gần ca-bin của thuyền trưởng.

Đám thủy thủ đang tập trung sự quan sát vàọ các bộ phận điều khiển tàu. Khác với tàu đánh cá thông thường, loại tàu gián điệp trá hình này được điều khiển hầu như bằng máy. Buru đếm bằng mắt được cả thảy 7 tên. Hắng nâng miệng súng tiểu liên ngang ngực, giọng nhỏ đủ nghe song vẫn làm mọi người giật mình:

- Giơ tay lên đầu, các cha nội!

Cả bọn líu ríu tuân lệnh. Ngoại trừ tên già nhất, cho lẽ là chỉ huy trưởng phòng máy, râu ria xồm xoàm, cánh tay để trần xâm tràm loạn xạ, hai má hóp đầy thẹo ngang thẹo dọc, chứng tích của nhiều năm tháng giang hồ anh chị. Hắn giơ tay một cách chậm chạp như cố tình khệnh khạng để ước lượng tình thế.

Buru bước lại, thét vào tai hắn:

- Muốn ăn đạn hả?

Tên râu xồm quay nửa người lại, bàn chân khèo cho Buru mất thăng bằng. Hắn không ngờ Buru đã tính trước nên tránh đòn không mấy khó khăn. Và Buru không trả lời bằng tiếng quát hoặc bằng đòn bá súng. Mà là bằng đạn chì.

Đẹt một tiếng, viên đạn bay khỏi nòng, xuyên qua hông, trúng tim nạn nhân. Tên râu xồm chỉ huy phòng máy rịm người xuống, hai bàn tay xòe ra như thể cầu thủ khuôn thành đang rình bắt gắn quả da.

Rồi hắn xỉu luôn.

Những tên thủy thủ còn lại không dám nhúc nhích. Rita hỏi Buru:

- Lấy giây trói họ lại nhé?

Buru lắc đầu. Hắn ra lệnh cho nàng đứng tránh ra, rồi vẻ mặt tỉnh bơ, hắn lia một loạt đạn. Bọn thủy thủ ngã rạp như trái chín rụng. Buru giết người một cách chóng vánh và tàn nhẫn khiến ai nhìn thấy cũng bàng hoàng. Dường như hắn đã quen giết người nên đống xác nóng hổi lần lượt nằm chồng chất lên nhau không làm hắn mảy may xúc động.

Con tàu tròng trành sang tả, sanh hữu dưới vòm trời thấp, mây xám và sương mù che kín. Buru giao một khẩu súng cho Rita rồi dặn:

- Cô đứng gác ở cầu thang.

Côcô tự ý cầm lấu khẩu tiểu liên dựng sát vách tàu, và lên đạn kêu soạch. Nàng nói:

- Anh cùng đi với cô Rita, còn tôi cứu đại tá Văn Bình.

Buru gạt phắt:

- Không được. Vích-ky và gã thuyền trưởng rất giỏi võ. Gã thuyền trưởng lại có súng. Cô nhường việc này cho tôi. Từ tầng dưới lên boong, có hai cầu thang, mỗi cô nên chặn một lối. Hễ đứa nào ló mặt ra là bắn chết, đừng tình cảm vụn vặt mà hỏng việc.

Nói đoạn, hắn xăm xăm bước về phía ca-bin riêng của thuyền trưởng.

Tiếng động cơ máy bay nồi lên từ xa, trong khoảnh khắc lấn át tiếng gió gào, sóng réo. Buru ngẩng đầu nhìn nền trời đùng đục. Hắn không thấy phi cơ. Nhưng hắn biết chắc là phi cơ đang từ đất liền bay tới.

Mặt hắn đang tươi cười bỗng sa sầm. Nhưng hắn lại nhoẻn miệng cười. Diện mạo hắn xấu xí như khỉ đột nên cái cười vui vẻ của hắn tạo ra cảm tưởng là hắn đang mếu.

Buru vướng mũi giầy trong lưới cá. Hắn cúi xuống gỡ. Khi đứng dậy, hắn suýt đụng phải tên cận vệ vừa từ ca-bin của thuyền trưởng phom phom chạy tới.

Tên cận vệ phải vẹo người mới tránh khỏi chạm vai. Thoạt tiên, tên cận vệ tưởng Buru là bạn đồng nghiệp. Nhưng hắn chỉ lầm trong một phần trăm phút đồng hồ. Hắn hạ khẩu súng đeo trên cai xuống, miệng hỏi:

- Đi đâu?

Buru quật nòng tiểu liên vào cổ tên cận vệ. về chiều cao cũng như về sức nặng, Buru không thể so sánh cân xứng với đối thủ, nhưng cách né đòn trái khoáy của tên cận vệ chứng tỏ bọn thủy thủ chỉ là khổng lò đất sét. Nòng súng thép nằm gọn trên yết hầu tên cận vệ, hắn rú ằng ặc rồi ngã khuỵu.

Sau khi hạ thủ tên cận vệ, Buru sồng sộc chạy vào ca-bin thuyền trưởng. Tuy có súng trong tay, hắn không dám can thiệp vì Văn Bình và Vích-ky đang quấn chặt lấy nhau, vị trí mỗi người thay đổi luôn luôn trên sàn tàu rập rình, viện đạn có thể trật mục tiêu. Bởi vậy, hắn vừa nâng súng lên ngắm vội bỏ xuống. Hắn ngây người theo dõi cuộc quần thảo ác liệt giữa hai người.

Văn Bình đã dồn được Vích-ky vào góc. Trên sàn ca-bin, gã thuyền trưởng và tên cận vệ đang nằm co quắp, Vích-ky áp lưng vào võ tàu, toàn thân hơi hạ xuống, hai tay vươn ra, mông quặp vào phía trong như móng chim ưng. Hắn đang vận dụng phép ưng cầm thủ để chống lại cuộc tấn công bén nhọn của Văn Bình.

Mới đầu Buru tỏ vẻ ngạc nhiên vì Văn Bình và Vích-ky đều xuất thủ họặc đỡ đòn rất chậm. Chậm như thể đùa bỡn. Chậm như thể hai người đã kiệt sức. Nhưng sau một vài giây đồng hồ quan sát, Buru không dám khinh nhờn nữa. Cả hai có thế đánh rất chậm nhưng rất lợi hại.

Vì họ không đấu bằng quyền mà là bằng chưởng, cả hai đều vận kình lực lên tay để móc mắt, bóp cổ đối phương. Đột nhiên Văn Bình quật cánh tay trái vào trung bộ của Vích-ky. Tuy là quật cánh tay nhưng đòn lại đánh ra nhẹ nhàng. Vích-ky nâng cánh tay lên đỡ, và hắn cũng đỡ nhẹ nhàng. Hai cánh tay vẫn ghìm nhau, mặt Vích-ky dần dần đỏ bừng, hắn thở phì phò như kéo bễ, bồ hôi chảy đầy trán.

Thì ra cả hai đang "ăn thua đủ" với nhau bằng phép tha-thủ. Thế đánh này hết sức giản dị, thoạt nhìn tưởng như bất cứ ai cũng thực hành được. Nhưng, tri dị hành nan, trong hàng vạn môn sinh của trường võ, nhiều lắm là hai, ba người đạt tới trình độ hữu hiệu của tha-thủ pháp. Căn bản của phép thạ-thủ là tấn công và phòng vệ bằng kình lực, chuyển kình lực vào cánh tay mình ép cho cánh tay đối phương xụp xuống. Trong trường hợp đối phương ráng sức kháng cự, xương tay có thể bị dập nát. Và không riêng gì xương tay, tạng phủ cũng có thể bị rung chuyển dữ dội, và nạn nhân sẽ gục chết, ngoài da không thấy một vết thương nhỏ, song tim, phổi, gan, ruột bị rách toang, những đường dây thần kinh hoàn toàn bị tê liệt.

Phép tha-thủ là một trong những phép bí truyền của môn phái Võ Đang ở Trung Hoa. Văn Bình là cao thủ về ngạnh công - một bộ môn làm cho da thịt võ sĩ cứng rắn như sắt - lại ham trau dồi nghệ thuật nên đã cất công sang tận Trung quốc, mày mò tìm đến một hòn núi nhỏ ở miệt Tây-Nam để học hỏi bí quyết chân truyền về ngạnh công của phái Võ Đang. Tục truyền sư tổ của phái Võ Đang là Trương Tam Phong, họ Trương cũng thuộc đại phái Thiếụ Lâm mà ra, song lại chuyên về kình lực trong khi Thiếu Lâm chuyên về quyền cước. Núi Võ Đang tọa lạc trong Hồ Bắc, mấy chục năm chiến tranh liên tục làm cho đường sá nhiêu khê, hiểm trở, Văn Bình không thể đến tận nơi; tuy nhiên, chàng lại có cơ hội may mắn gặp được một người cháu thuộc hàng chút chít của võ sĩ Trương Tùng Khê. Trương Tùng Khê là một trong các đồ đệ của Trương Tam Phong, nổi danh về ngạnh công và tha-thủ pháp. Cuộc tao ngộ này đã giúp Văn Bình đạt được tiến bộ nhanh chóng và vững chắc trong nghệ thuật ngạnh công và trong nhiều năm đã thành vô địch.

Điều làm chàng ngạc nhiên không ít là Vích-ky lại am hiểu ngạnh công không thua các võ sự Võ Đang chân truyền. Hắn cũng ngạc nhiên như chàng, song sự ngạc nhiên này không hiện được trên mặt vì thần sắc hắn đã thay đồi hoàn toàn, hơi thở hồng hộc của hắn đã chuyển qua khò khè và đứt quãng.

Vích-ky lùi sát vách tàu, chân rùn xuống, cánh tay phải lớn như thân cây chuối nồi gân cuồn cuộn, mạch máu căng cứng như muốn phá tung làn da nâu để nhảy ra ngoài. Trong những giây đồng hồ đầu tiên, tay hắn đè tay Văn Bình nghiêng tréo. Thắng lợi sơ khởi này làm hắn phấn chấn, hắn vận hết hơi sức vào gân tay, đè mạnh thêm nữa, mạnh thêm nữa.

Hắn tin tưởng tài tha-thủ của hắn trội hơn Văn Bình và hắn chỉ cần nhấn mạnh thêm nữa là phần thắng chắc chắn sẽ đến với hắn. Hắn có đủ lý do để hy vọng và tin tưởng, vì trông mã ngoài, hắn to con hơn Văn Bình: làn da đồng hun của hắn chứng tỏ hắn quen với mưa nắng và tập luyện thường trực, làn da của Văn Bình cũng nhuộm màu nâu, song lại màu nâu quí phái của người thừa tiền chỉ biết nằm dài tắm nắng trên bãi biển.

Nhưng Vích-ky biết một mà không biết hai. Hắn giỏi tha-thủ nhưng chưa biết rằng một số ít võ sư tha-thủ thuyết luân có tài hút sức lực của đối phương. Văn Bình giả vờ đuối sức để lừa Vích-ky gia tăng sức lực. Chàng chờ hắn gia tăng sức lực tối đa mới quật ngược lại. Như trái bóng liệng vào tường, càng liệng mạnh bao nhiêu thì nó càng dội ra xa bấy nhiêu. Vích-ky gia tăng sức lực tối đa nhưng không điều động được nó vì Văn Bình đã "dĩ độc trị độc" dùng sức lực của Vích-ky để hại Vích-ky.

Mặt Văn Bình vẫn không xuy xuyển, mặt chàng vẫn phát ra tia sáng ngạo nghễ pha lẫn rí rỏm, miệng chàng vẫn cười mĩm. Vích-ky không dám ngó chàng nữa, hắn phải cúi đầu xuống để vận khí. Nhưng như nước sông chảy ra biển, chảy nhiều đến mấy cũng bị đại dương thu gọn, hắn càng vận khí, thân thể và tâm thần hắn càng kiệt quệ. Văn Bình hừ một tiếng nhẹ, Vích-ky bị xô bắn vào vách tàu. Hắn loạng choạng rồi ngã mọp, miệng hộc máu tươi.

Văn Bình đã nhìn thấy Buru nhưng không nói gì hết. Buru cũng khựng người như bị sét đánh. Tài tha-thủ độc nhất vô nhị của Văn Bình làm hắn bàng hoàng. Hắn đã biết Văn Bình là cao thủ nội công, song hắn không ngờ chàng lại có thể triệt hạ một võ sĩ có hạng như Vích-ky dễ dàng đến thế.

Nằm dài trên nền ca-bin, Vích-ky vẫn tuôn máu miệng ồng ộc. Tuy còn sống, gã thuyền trượng cũng chỉ còn là đống xương thịt mễm nhũn, sống không khác chết là bao. Văn Bình không thèm quan tâm đến tiếng than van của gã thuyền trưởng. Chàng cúi xuống hỏi Vích-ky:

- Anh giết hắn?

"Hắn" là Vích-ky thực thụ, nhân viên giao liên C.I.A., người đeo vòng sơ-men kỳ cục, Văn Bình không nói rõ, nạn nhân nằm trên sàn tàu cũng đã biết rõ ý nghĩa của câu hỏi ngắn ngủi. Hắn gật đầu:

- Hắn ngu như bò. Hắn chết là chuyện dĩ nhiên.

- Anh giết hắn tại đâu?

- Bên ngoài căn cứ 4Q.

- Bắn lén?

- Hừ, anh đừng vội khinh tôi. Tôi thua anh thật đấy, song về tư cách chưa chắc ai hơn ai. Hắn đang trèo núi thì đụng phải tôi. Hắn không thiếu can đảm song tài nghệ của hắn lại quá thấp kém nên tôi chỉ mất vài phút đồng hồ để bịt miệng hắn.

- Anh là sĩ quan GRU?

- Trung tá hiện dịch. Tên thật tôi là Svốp. Theọ nguyên tắc, tôi không được phép cho người lạ, nhất là kẻ địch, biết được tên thật của tôi. Nhưng tôi đang hấp hối. Trúng đòn tha-thủ của anh, tôi khó có hy vọng sống sót. Nếu anh truyền kình lực cho tôi, tôi có thể phục hồi được một phần nguyên khí nhưng trong trường hợp này, tôi vẫn bị thương tật suốt đời, người ham hoạt động như tôi mà phải sống trên giường, trong căn phòng kín, ăn uống phải có người đút thì chết sướng hơn... Vì thế, tôi yêu cầu anh đừng truyền kình lực cho tôi nữa... Trong nghề gián điệp này, chúng ta không tha kẻ địch song một khi kẻ địch bị thua, chúng ta không thể có cử chỉ tàn nhẫn. Nhân danh trung tá Hồng Quân, tôi yêu cầu anh....

- Nếu đó là lời yêu cầu về phương diện nhân đạo, tôi xin sẳn sàng.

- Tôi sẽ cho anh biết một tin quan trọng, vô cùng quan trọng, nếu anh cam kết làm tròn công việc sau đây.

- Anh cứ nói đi.

- Tôi phục vụ cho cơ quan GRU ở châu Mỹ la-tinh từ 6 năm nay và mới được thuyên chuyển đến Qui-tô 8 tháng nay, tôi tứ cố vô thân, tại Liên Sô tôi không còn ai, cha mẹ đã mất sớm, anh em cũng thất tán. Tôi chỉ có một người thân, rất thân sống tại Qui-tô. Người ấy sẽ lâm vào cảnh túng thiếu sau khi tôi chết.

- Anh cần tôi săn sóc cho người ấy phải không? Anh yên tâm, tôi xin long trọng cam kết với anh. Anh muốn tôi trao cho người ấy bao nhiêu tiền? Bao nhiêu tiền tôi cũng không từ chối... Nếu tôi không có đủ, tôi sẽ liên lạc với C.I.A..

- Không nên. Chuyện này cần được giữ kín giữa anh và tôi. Vì liên lạc với C.I.A. sẽ bị lộ. Điệp vụ do C.I.A. ủy thác cho anh đã được phúc trình cho chúng tôi. Cho nên chúng tôi đã biết rõ đường đi nước bước của anh.

- Hiện tôi có trên dưới năm chục ngàn đô-la...

- Tôi không đòi một số tiền lớn hơn thế. Xin anh đưa tận tay người ấy ba chục ngàn. Vâng, ba chục ngàn cũng quá đủ rồi. Trước khi từ giả cõi đời, tôi xin cám ơn anh.

- Người ấy là đàn bà?

- Phải. Người yêu của tôi. Chúng tôi dự định làm lễ thành hôn sau khi tôi quay về Qui-tô. Địa chỉ của nàng được ghi trên mảnh giấy để trong bóp phơi của tôi.

- Hình dáng nàng ra sao?

- Trong bóp-phơi có cả ảnh của nàng. Thôi chào anh... À, còn cuộn băng nhựa của kỹ sư Anbe Doarê....

- Anh có thể nhường cuộn băng nhựa cho tôi được không?

- Người yêu của tôi được anh giúp đỡ thì xả thân tôi cũng không tiếc huống hồ chỉ là một cuộn băng mật mã. Tôi rất muốn tặng anh món quà này để anh khỏi phải trở về tay không, nhưng đáng tiếc là...

- Nó đã bị mất?

- Vâng, nó đã bị mất.

- Anh đã tìm thấy nó trong hành trang gã mục sư giả hiệu Fêlin.

- Đó chỉ mới là cuốn một.

- Nghĩa là có cả thảy hai cuốn?

- Vâng, hai cuốn cả thảy. Vì điều kiện an ninh, kỹ sư Doarê chế tạo hai cuốn, ghi bằng sơn chữ A hoặc chữ B. Cuốn A là cuốn giả. Cuốn B mới là cuốn thật.

- Fêlin đánh cắp cuốn A hay B?

- Cuốn A.

- Còn cuốn B?

- Cả hai cuốn đều bị mất trộm đêm ấy. Tôi có cảm giác là bị ai cho ngửi thuốc mê, loại thuốc mê làm bằng chất thảo mộc trong rừng Equatơ, rồi ngủ thiếp đi. Trong khi tôi mê man, người lạ này đã lấy luôn hai cuộn băng mật mã. Tôi lục trong hành trang của Fêlin như anh đã thấy, chỉ tìm được cuốn giả.

- Ai đã trộm cuốn thật?

- Tôi không biết. Thoạt đầu tôi nghi kẻ trộm là anh. Nhưng giờ đây, tôi đã biết rõ anh không phải là thủ phạm. Thủ phạm có thể là Fêlin. Nhưng tôi không tin Fêlin ăn trộm. Thủ phạm phải là một trong ba người có mặt đêm ấy: Buru, Rita và Côcô.

Buru trợn mắt:

- Mày nói nhảm! Mày dám nghi cả tao nữa ư? Để tao giáng cho mày một đòn hết đời.

Văn Bình cản tay Buru:

- Anh không được làm tàng, ở đây, người chỉ huy là tôi. Nếu anh có cử chỉ táng tận, tôi sẽ hạ anh đo ván.

- Nhưng hắn đã bôi nhọ thanh danh tôi.

- Làm nghề này, thanh danh chỉ là trò đùa vô nghĩa. Vích-ky sắp chết, yêu cầu anh cầm súng đứng gác ngoài cửa, tôi cần căn dặn Vích-ky một vài điều nữa. Buru thở dài không nói nửa lởi. Văn Bình hỏi Vích-ky - Svốp:

- Anh còn giữ cuốn băng giả trong mình không?

Svốp thều thào:

- Còn.

Lưỡi hắn bắt đầu líu lại. Văn Bình nhìn thẳng vào mắt hắn:

- Đêm qua, tôi đã thấy rõ anh giết Fêlin. Anh cố ý giết hắn. Hắn bò lại phía tôi, sửa soạn nói với tôi điều gì chắc là quan trọng lắm, và anh đã nhìn thấy, anh mượn cớ Fêlin ăn trộm tài liệu để đánh đòn chết. Anh giết hắn vì hắn đã nhận diện được anh là Vích-ky giả hiệu phải không?

Vích-ky - Svốp húng hắn ho. Giòng máu ở mép ngừng chảy đựợc một lát, lại tiếp tục chảỵ. Hắn đã kiệt sức trông thấy. Hắn cố nằm nghiêng để bớt tức ngực. Tròng mắt hắn đã bắt đầu lờ đờ. Văn Bình hỏi hắn:

- Anh còn muốn dặn cô bạn của anh tại Qui-tô điều gì nữa không?

Mắt Svốp bỗng sáng lên. Môi hắn mấp máy ra hiệu cho Văn Bình cúi sát miệng hắn. Bàn tay run rụn của Svốp từ từ nhấc lên. Nhưng chỉ giơ được nửa chừng lại rụp xuống, mồ hôi lạnh toát đầy trán hắn. Văn Bình lấy khăn chấm khô giòng máu trên miệng, giọng thân mật:

- Anh cần lấy cái gì?

Svốp đáp nhẹ như gió thoảng:

- Trong túi.

- Lấy bóp-phơi?

- Không. Nếu anh thương tôi, xin anh trao luôn cho người yêu tôi kỹ vật này.

- Kỷ vật nào?

Lời nói của Svốp tắt nghẽn trong cuống họng. Hắn muốn nói song đàm đã chặn cứng khí quản. Nước mắt nóng hồi của viên trung tá gián điệp sô viết trào ra như suối. Hắn khóc. Khóc như đàn bà. Văn Bình đột nhiên mủi lòng. Chàng không hiểu tại sao lại rung động trước cái chết của gã đàn ông lạ. Chàng rung động khi thấy đàn bà đẹp chết là chuyện còn có thể hiểu được. Đằng này chàng lại rung động khi thấy kẻ địch chết... và kẻ địch là đàn ông.

Mắt Vích-ky-Svốp dừng lại trên cườm tay phải. Văn Bình chợt hiểu. Trên cườm tay phải của hắn có cái đồng hồ Citizen do Nhật Bản chế tạo. Đặc điểm của đồng hồ đeo tay Citizen là nó không có lò so như mọi đồng hồ thông thường, nó chỉ gồm 12 chân-kinh vậy mà máy chạy rất tốt và ít khi sai giờ. Gần đây, giới chơi đồng hồ trên thế giới thích dùng kiểu điện tử, chạy bằng bin ôxít-bạc, một năm mới phải thay. Đồng hồ Citizen là một trong các kiểu đồng hồ chạy bằng "pin". Văn Bình cũng có cảm tình với kiểu đồng hồ nó chạy bằng "pin", vừa nhẹ, bền, không thấm nước, ít hư, vừa rẻ, khá thích hợp với những người hành động.

Văn Bình đặt ngón tay lên mặt chiếc đồng hồ Citizen vỏ vàng óng ánh:

- Anh muốn tôi đưa cho nàng cái đồng hồ này?

Hắn gật đầu, mặt lộ vẻ sung sướng:

- Vâng. Cám ơn anh. Chúng tôi mua một cặp, nàng đeo cái vuông, tôi đeo cái tròn: đó là quà cưới thiêng liêng của hai đứa tôi.

Svốp ngừng một phút để lấy hơi. Đoạn hòi:

- Anh có nhận lời giúp tôi không?

Văn Bình nắm chặt tay hắn:

- Tôi xin hứa.

Nụ cười nở rộng trên môi Svốp. Hắn rướn lên rồi nằm vật xuống. Tắt thở.

Văn Bình ngoảnh nhìn Buru. Gã đàn ông có gương mặt xấu như khỉ đột đang cúi đầu, tay vòng làm dấu thánh giá. Trong khi ấy Côcô cầm tiểu liên đã chạy đến cửa ca-bin. Nàng hỏi Buru:

- Thanh toán xong chưa?

Buru đáp "rồi". Văn Bình mân mê trong bàn tay cái đồng hồ Citizen và cuộn băng giả, đoạn thờ thẩn bước ra ngoài. Côcô trao khẩu tiểu liên cho chàng:

- Mọi thủy thủ trên tàu đều bị loại khỏi vòng chiến. Giờ đây mình là chủ. Rita đang canh chừng trên boong xem còn tên nào sống sót không.

Văn Bình hơi ngạc nhiên:

- Cô đã bắn súng?

Nàng cười:

- Nếu không bắn súng thì làm cách nào triệt hạ được hơn mười tên thủy thủ lực lưỡng, hả anh?

- Tại sao tôi không nghe tiếng nồ?

- Chính em cũng không rõ nguyên nhân. Đầu súng không thấy gắn ống cao su hãm thanh, em bắn ra cả tràng mà không nghe tiếng nồ. Em cứ tương đạn chì không dè lại là đạn thuốc mê, bọn thủy thủ trúng đạn là ngã lăn chiêng.

- Chết?

- Không. Họ chỉ mê man. Nhưng chắc là mê man lâu. Để được an toàn, yêu cầu anh trói họ lại.

Vòm trời không xà xuống thấp như hồi nãy nữa. Những đám sa mù nặng nề dày đặc cũng đã tan bớt. Không gian đã trở lại quang đãng phần nào. Chiếc phi cơ từ phía Đông bay tới đang lượn vòng trên cao.

Có lẽ hoa tiêu phát giác ra chàng nên khi chàng vừa bước lên boong thì phi cơ quay lại. Phi cơ bay mỗi lúc mỗi thấp. Văn Bình thấy rõ gương mặt bầu bĩnh của phi công. Và trong khoanh khắc, hoa tiêu đã đáp chiếc thủy phi cơ nhỏ xuống mặt biển bồng bềnh.

Buru không reo mừng như thường lệ. Hắn lầm lì nhìn Văn Bình. Hiểu ý hắn, chàng bèn vỗ vai, giọng an ủi:

- Buồn bã làm gì thêm tổn thọ. Không lấy được cuộn băng ghi âm thì thôi.

Buru nhíu mày:

- Đâu được? Nhiệm vụ của anh là cứu kỹ sư Doarê và tiếp nhận cuộn băng. Doarê đã chết, cuộn băng đã mất tăm, về Hoa-thịnh-đốn anh sẽ ăn làm sao, nói làm sao với họ?

- Cũng chẳng sao. Chúng mình đang có đủ thời giờ lấy lại.

- Anh nghi ai?

- Một trong hai cô gái.

- Rita hay Côcô?

Văn Bình không đáp vì Côcô đã đến gần. Phi cơ vừa đáp xuống biển là của C.I.A. địa phương. Dầu muốn dầu không, công việc của chàng đã chấm dứt. Chấm dứt cùng với những nguy hiểm chết người rình rập, bao vây chàng từ lúc chàng dấn vào xa lộ 14, tiến đến căn cứ điện tử 4Q giữa cảnh hoang tàn ghê rợn của trận động đất và bão táp không tiền khoáng hậu ở châu Mỹ la-tinh. Tuy vậy, công việc chỉ chấm dứt chứ chưa hoàn tất.

Vì Văn Bình chưa nắm được trong tay cuộn băng kỳ lạ của kỹ sư Doarê.

Chàng hơi nhăn mặt khi nhận thấy người đàn ông ngồi cạnh hoa tiêu thủy phi cơ là đại tá Pít, thuộc trung ương C.I.A.. Lẽ ra, được gặp lại bạn thân sau những giờ phút căng thẳng, Văn Bình phải biểu lộ niềm hoan hỉ. Chàng còn có thêm lý do để hoan hỉ cực độ vì lát nữa đây, hoặc đêm nay đây, chàng sẽ được tận hưởng thời khắc thần tiên với gìaì nhân trong thành phố tình ái Qui-tô...

Vậy mà Văn Bình không hoan hỉ. Nhưng chàng chỉ nhăn mặt thoáng qua rồi quay trở lại vui vẻ.

Chàng mỉm cười với đại tá Pít đang giơ tay vẫy chàng. Đại tá Pít ở xa không thể nhìn thấy. Nhưng trong số những người đứng trên boong con tàu đánh cá sô viết đã có một người tinh mắt nhìn thấy.

Người ấy đã nhìn thấy Văn Bình cười gượng.

Tại sao Văn Bình Z.28 cười gượng?

Thái độ lạ lùng khó hiểu này sẽ được giải thích trong đoạn chót của "Người đẹp Qui-tô".


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   Wed Nov 08, 2017 2:29 pm

Đoạn kết. " O, O, O"

“O, O, O" là ba con số dêrô này là những con số được viết trên một tấm bảng ở một ngọn đồi cách mặt biển khoảng hai ngàn thước. Ba con số dêrô này báo hiệu cho du khách biết đó là vị trí của đường xích đạo, con đường tưởng tượng được vẽ trên mọi bản đồ địa cầu, cách xa thủ đô Qui-tô, xứ Equatơ 15 dặm về phía Bắc.

Du khách ghé Qui-tô không thể không dành 5 đô-la để trả tiền cuốc tắc-xi đến thăm con đường xích đạo ngăn đôi bắc bán cầu và nam bán cầu. Người ta tưởng lầm Qui-tô ở đường xích đạo nên nóng chảy mỡ, sự thật khác hẳn, nếu là người sợ lạnh thì ban đêm phải choàng áo len, và ban ngày thì khí hậu quanh năm rất dịu hiền, cũng dịu hiền như khí hậu miền đất phía Bắc con sông Bến Hải ở Việt Nam.

Chiếc thủy phi cơ C.I.A. chở Văn Bình và các bạn đồng hành vể Qui-tô. Dọc đường không gặp trở ngại cỏn con nào, kể cả những trở ngại bất ngờ về thời tiết. Khi chàng đặt chân xuống phi trường Marátcan Sucơrê thì trời vừa chạng vạng tối.

Qui-tô hoàng hôn đẹp như trong bức tranh thủy mạc Tàu. Thành phố nằm gọn trong lòng chảo, tứ phía có núi cao bao bọc, xa xa hai miệng núi lửa nhô lên, tưởng như muốn chạm vòm trời óng ánh nắng vàng.

Trước khi hạ cánh, phi cơ đã bay qua đường xích đạo, bên trên tấm bảng đề chữ o, ó, ó'. Văn Bình dựa lưng vào ghế, mắt lim dim, chàng ngủ thật sự, chứ không phải ngủ giả vờ. Mọi người có vẻ cũng ngủ thật sự như chàng sau nhiều giờ đồng hồ mỏi mệt và khẩn trương. Đại tá Pít loay hoay với cuốn sổ tay đặt trên đùi và điếu thuốc tắt ngúm trên môi. Chàng không trò chuyện với Văn Bình vì thấy bạn bơ phờ, mới ngả mình đã ngủ say và ngáy tròn trịa.

Về đến trung tâm thành phố, Văn Bình mới tỉnh hẳn. Thủ tục an ninh và quan thuế tại phi trường được rút ngắn triệt để, trên thực tế, trừ Côcô ra, không ai có hành lý và nhân viên kiểm soát chẳng buồn xét giấy tờ chứ đừng nói là xét hành lý nữa. Có lẽ đại tá Pít đã thông báo từ trước cho sở Mật Vụ bản xứ. Nhưng cũng có thể nhân viên kiểm soát mắc bệnh... lười. Trèo lên tắc-xi, Văn Bình lại ngủ tiếp. Nhưng lần này chàng ngủ giả vờ. Vì từ phi trường về trung tâm thành phố, quang cảnh đẹp. Qui-tô chia thành 2 khu riêng biệt, khu cổ thành và khu tân lập, cách phi trường 20 và 10 phút đồng hồ tắc-xi. Cũng như Sài-gòn, thủ đô Qui- tô cũng có con đường Độc-Lập, với công trường rộng lớn và một nhà thờ lớn. Sông Qui-tô lại khác Sài-gòn ở điểm có những con đường hai bên trồng cây cao ngất, cành lá xum xuê và được săn sóc, nâng niu, chứ không bị chặt tay chặt chân, hoặc bứng rễ một cách tàn bạo, để nhường chỗ cho xe hơi.

Đại tá Pít là nhân viên C.I.A. Mỹ nên phòng trọ của "phái đoàn" được thuê trong khu tân lập đầy đủ tiện nghi, và nhất là ở sát nách đại sứ qụán Mỹ. Tuy nhiên, đại tá Pít lại không lấy phòng trong khách sạn Alcron, được coi là sang trọng bậc nhất mà lại đến một lữ quán hạng nhì, lữ quán Lutecia, chỉ gồm 18 phòng.

Sau khi tắc-xi đậu lại trước sân, mọi người bước vào phòng khách vắng tanh, Văn Bình mới hiểu lý do. Thì ra C.I.A đã thuê trọn 18 phòng trong lữ quán. Tuy nó thuộc hạng nhì, lữ quán Lutecia lại được dân sành ẩm thực tôn làm "số dách", chủ nhân theo học bên Pháp nên món ăn ngon tuyệt trần, đối xử lại đúng cung cách quốc tế. Nhưng Văn Bình không quan tâm đến thực đơn mặc dầu chàng đói meo, chàng cũng không quan tâm đến những căn phòng khang trang đầy ắp không khí cao nguyên và ánh nắng, cầu thang gỗ chạm trổ đánh si bóng loáng, những bức danh họa bản xứ treo đầy tường, quầy rượu kín đáo mà lộng lẫy, và đặc biệt là sân trước trồng toàn cây nho và những loại trỗ bông quanh năm làm mặt tiền của tòa nhà đồ sộ luôn luôn tươi tắn.

Chàng chỉ quan tâm đến địa chỉ người đàn bà bạn lòng của Vích-ky-Svốp.

Chàng vừa tắm rửa qua loa, và thay quần áo xong thì trời tối hẳn. Theo lời hẹn với đại tá Pít, chàng phải xuống nhà dùng bữa. Mọi ngựời sẽ ngủ đêm ở Qui-tô, chờ sứ quán liên lạc với Hoa-thịnh-đốn, rồi sáng sớm lên đường về Mỹ. Lẽ ra đại tá Pít muốn lên đường trong đêm nhưng khốn nỗi nhân viên phi trường làm không làm việc. Hễ mặt trời tắt là hoạt động phi trường cũng tạm ngừng.

Mặt trời tắt, hoạt động điệp báo lại không ngừng. Vì vậy, Văn Bình lẻn ra cửa sau, nhảy qua tường xuống đường. Chàng gặp xe buýt chạy rần rần nhưng lại vòng qua một hẻm tròn, ra đường lớn và vẫy tắc-xi. Tắc-xi ở Qui-tô không có đồng hồ tính tiền, nhưng được cái may là trong túi chàng còn một xấp đô-la nên tài xế rồ ga chạy liền không mè nheo. Tài xế cười toét miệng vì theo thông lệ, mỗi cuốc xe 15 phút trong thành phố đáng giá 5 sucờrê - tiền Qui-tô - nghĩa là khoảng 30 xu Mỹ - Văn Bình đã ấn vào tay gã tài xế những 5 đô-la. Với 5 đô-la, hắn có thể lái đến trăm cây số giờ huống hồ chàng chỉ dặn hắn "chạy nhanh hơn chút nữa" và hứa tặng thêm một tờ 5 đô-la khác.

Chàng ung dung dựa lưng vào nệm xe, không ngả người về phía trước, gần tài xế, để liếc nhìn trong kiếng chiếu hậu như thường lệ mỗi khi đi tắc-xi lạ. Chàng không cần quan sát đằng sau vì cảm thấy vô ích. Nếu có người bí mật rượt theo chàng đã có thể đoán biết là ai. Như người cho quà Giáng Sinh bắt đến nửa đêm 24 mới được mở giấy bọc ngoài, chàng không muốn nhìn ngay vào thực tế, sợ tấn kịch mất thú vị.

Tắc-xi phóng qua đại lộ Colon, con đường nỗi tiếng ở Nam-Mỹ với những cửa hiệu bán kỷ vật, đặc biệt là thảm dệt bằng tay rẻ tiện mà đẹp, và mặt nạ ông Địa bằng gỗ nhẹ, sơn vẽ nhiều màu sặc sỡ. Đến một ngã ba, Văn Bình ra hiệu cho tài xế thắng lại, và ném xuống băng trước tờ giấy 10 đô-la Mỹ. Tuy hứa 5, chàng đã cho hắn 10. Hắn cám ơn rối rít bằng hai thứ tiếng Bồ đào nha và Tây ban nha:

- Obờrigađô (obrigado), Gờraxiát...(gracias)

Dưới ánh hoàng hôn, căn nhà trệt ở đầu hẻm tạo ra một cảnh tượng êm dịu. Tuy đường hẻm này không xa trung tâm thành phố mà mọi âm thanh của xã hội văn minh lại biến dạng. Tứ bề vắng vẻ, song không làm du khách cảm thấy cô đơn. Sự vắng vẻ ở đây gần giống với sự vắng vẻ của đôi trai gái tâm đầu ý hợp hẹn nhau tại một địa điểm không bóng người bén mảng tới.

Văn Bình nhẩm trong miệng "Ambatô, Ambatô". Ambatô là tên nàng. Tên của người đẹp Qui-tô. Không rõ vì ngẫu nhiên hay tiền định mà tên nàng lại trùng với tên một thôn chợ nên thơ của dân da đỏ bản xứ. 100 cây số phía Tây Qui-tô. Chợ Ambatô chỉ họp những ngày thứ hai trong tuần: đối với Qui-tô, nó cũng như Đà lạt với Sài-gòn, nó tọa lạc trên sườn núi cao vắt vẻo, khí hậu mát rợi, dân nhà giàu xây cất những biệt thự xinh đẹp để nghỉ ngơi mùa hè, từ Qui-tô đến chợ Ambatô phải qua một xa lộ tối tân ngoằn ngoèo giữa những ngọn đồi xanh um, hai bên là hỏa diệm sơn, với những tòa nhà làm bằng phún thạch màu xám nhạt. Văn Bình đã nghe nhiều người ca tụng Ambatô, phụ nữ địa phương thường phơi trần bộ ngực chắc nịch, cặp giò của họ chuyên leo trèo nên có sức dai bền độc nhất vô nhị, đàn ông thiếu luyện tập dễ bị hụt hơi, hoặc vô phúc có thể quá mệt mà... chết. Chàng thầm hẹn với lòng sẽ không lỡ cơ hội ghé thăm chợ Ambatô: thứ nhất, để so tài với giai nhân trường túc, thứ nhì, để mua những chiếc mũ rơm thổ sản đẹp nhất thế giới, tục gọi là mũ Panama....

Nhưng trước khi ghé thăm chợ Ambatô, Văn Bình đã được ghé thăm người đẹp mang tên Ambatô. Chàng chắc mẫm là nàng rất đẹp, vì có đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nàng mới chinh phục được gã sĩ quan gián điệp sô viết không tim Vích-ky-Svốp, và khi sắp từ giã cõi đời Svốp đã dành toàn vẹn cảm tình cho nàng....

Căn nhà trệt của Ambatô nằm lọt giữa khu vườn trồng cây ăn trái, rộng gần một mẫu tây. Hàng rào bao quanh nhà bằng cọc gỗ sơn xanh, Văn Bình chỉ rún nhẹ là nhảy qua dễ dàng. Song chàng không thể đến nhà người đẹp bằng thủ đoạn trèo tường khoét vách. Chàng sửa soạn một nụ cười thật tươi, chờ cửa phòng khách mở hé, để làm món quà sơ kiến với Ambatô.

Chàng bước nhẹ trên con đường trải đá sỏi lạo xạo. Có lẽ Qui-tô sống dưới thời thanh bình thịnh trị như thời Nghêu Thuấn bên Tàu, không có gian phi, nên cánh cổng đồ sộ đã mở toác hoác, cửa phòng khách mới đụng nhẹ cũng mở toác hoác.

Phòng khách được bầy biện đơn sợ nhưng sang trọng. Trên tường treo rải rác mấy bức họa thiếu phụ khỏa thân. Không thấy ai, Văn Bình đằng hắn rồi tiến thẳng vào trong.

Bên trong là phòng ăn, kiêm phòng làm việc. Chàng đinh ninh người đẹp Ambatô mới tắm xong - đàn bà đẹp thường tắm buổi chiều để lấy sức thức khuya - chỉ mặc áo choàng mỏng lét, và đang ngồi gỡ tóc trước bàn trang điểm.

Tuy nhiên, khi vào đến phòng trong, chàng không gặp người đẹp Ambatô nũng nịu và si mê.

Người đón chàng là một gã đàn ông trung niên, da mặt răn rúm như trái táo tàu khô.

Thấy Văn Bình, hắn đứng dậy, giọng nghiêm nghị pha lẫn sửng sốt:

- Chào ông, ông là ai?

Gã đàn ông trung niên là người tây phương trăm phần trăm, không phải là dân Nam-Mỹ lai giống. Hắn mặc bộ com- lê bằng hàng sẫm sọc, may tréo, sơ-mi xanh, thắt cà-vạt đen, trông ảm đạm và đáng ghét. Thoạt gặp, chàng đã có ác cảm với hắn. Giấc mộng đang nở hoa rực rỡ trong lòng chàng bỗng tàn lụi một cách thê thảm.

Chàng đáp bằng tiếng Tây ban nha:

- Chào ông. Tôi muốn gặp Ambatô, cô Ambatô.

Gã đàn ông trung niên khựng một giây, đoạn chỉ ghế mời chàng:

- Ông là bạn của Ambatô?

- Thưa không. Một người bạn nhờ tôi đến gặp nàng để trao một đồ vật. Xin ông tha lỗi cho sự đường đột của tôi. Ông là... gì của Ambatô?

- Là cha. Ambatô là con gái tôi. Bạn ông tên là gì?

- Vích-ky.

- Vích-ky? Con tôi có nhiều bạn trai, nhưng không có ai tên là Vích-ky.

- Svốp.

- Svốp hả? Bạn ông là Svốp. Nếu là Svốp, tại sao ông lại nói là Vích-ky. Vâng, Svốp là bạn thân của con tôi. Nhưng đáng tiếc là nó đi vắng. Nó đi vắng từ hôm qua, đến mai hoặc mốt nó mới trở về. Nếu không có gì trở ngại, xin ông cứ đưa đồ vật ấy cho tôi. Khi nó trở về, tôi sẽ trao lại cho nó.

Không khí bên ngoài nên thơ bao nhiêu thì không khí trong nhà lại tẻ lạnh bấy nhiêu. Văn Bình có cảm giác căn phòng ấm cúng này là khu nghĩa trang rộng mênh mang trồng toàn nhân thảo sặc mùi xác chết thối rữa như chàng đã mục kích trên đường đến căn cứ định mạng 4Q. Gã đàn ông trung niên có những nét khắc khổ và những cử chỉ cứng nhắc làm chàng bực dọc. Chàng muốn quay ra nhưng một mãnh lực ghê gớm bắt chàng lưu lại.

Gã đàn ông trung niên lại nói:

- Đâu, đồ vật của Svốp đâu, xin ông đưa cho tôi.

Văn Bình rút trong túi ra cái đồng hồ Citizen 12 chân-kinh xinh xắn, đặt trên bàn. cặp mắt khô ráo của gã đận ông trung niên vụt sáng rực. Như đứa trẻ thèm đồ chơi, hắn chộp lấy và không quan tâm đến luồng nhỡn tuyến sắc như dao cạo của Văn Bình, hắn bỏ luôn vào túi trong vét-tông.

Hắn từ từ bước ra cửa, ngụ ý đuổi khéo Văn Bình. Nhưng chàng vẫn ngồi yên trên ghế, bắt chân chữ ngũ, phì phèo thuốc lá. Hắn phải lên tiếng một cách miễn cưỡng:

- Thành thật cám ơn ông. Svốp còn dặn con gái tôi điều gì nữa à?

Chàng lắc đầu:

- Không. Svốp chỉ dặn là cái đồng hồ này phải được trao tận tay cho Ambatô.

- Tôi là cha ruột nó. ông đưa cho tôi, cũng như đưa tận tay nó.

- Thưa, Svốp đã chết. Tôi phải làm đúng di ngôn của người đã khuất.

Gã trung niên hơi tái mặt. Văn Bình đứng dậy:

- Tại sao ông tái mặt? Sự thay đồi này chứng tỏ ông không phải là cha ruột của Ambatô.

- Ông không được buông lời hỗn xược. Nếu tôi không phải là cha ruột của Ambatô thì tôi là ai?

- Là ai, tôi không cần biết. Yêu cầu anh trả cái đồng hồ gia bảo lại cho tôi.

- Về phần tôi, tôi ra lệnh anh phải ra khỏi căn nhà này.

- Đồ khốn. Mày là đồ khốn. Mày không phải là cha ruột của Ambatô.

Văn Bình đã có dụng ý rõ rệt trong cách xưng hô. Từ "ông" chàng hạ ngay xuống "anh" và "mày". Dụng ý của chàng là chọc tức đối phương và hắn đã xập bẫy một cách dễ dàng. Bị gọi xách mé bằng mày, hắn trợn mắt xỉa xói:

- Chính mày mới là đồ khốn.

Văn Bình tát trái vào mặt hắn. Chàng chỉ đánh nhẹ, chứ nếu dùng tận lực, gã trung niên đã nhào xuống ghế xa-lông. Dầu sao cái tát hạ nhục cũng làm hắn giận sôi sùng sục. Hắn luồn tay vào túi rút súng. Văn Bình có đủ thời giờ phóng cước song lại đứng im.

Khẩu súng 9 li đã giúp hắn phục hồi phong độ tự tôn. Hắn nhìn chàng, sẵng giọng:

- Tôi định tha chết cho anh, nhưng thái độ quá trớn của anh bắt buộc tôi phải hành động. Khôn hồn giơ tay lên.

Văn Bình cười nhạt:

- Ái chà, cha ruột của cô Ambatô cũng có súng hả? cất giùm cái võ khí nguy hiểm ấy đi, kẻo đạn cướp cò thì mệt...

- Anh lầm. Người giàu kinh nghiệm như tôi không thể nào để súng cướp cò. Anh chưa tin tôi, tôi sẽ biểu diễn anh coi chơi. Cách xa 15 mét, tôi có thể bắn xẻ đôi cái nút bấc đấy, anh bạn ạ.

- Té ra anh đội lốt ông thân của Ambatô?

- Dĩ nhiên. Mãi đến phút này anh mới khám phá ra ư? Tội nghiệp.

- Ông thân của Ambatô ở đâu?

- Đồ ngu. Trên cõi đời này làm đếch gì có "ông thân của Ambatô".

- Nàng không có cha?

- Đồ ngu. Ambatô chỉ là mật khẩu. Trên cõi đời này làm gì có cô gái mang tên Ambatô. Đồ ngu. Ambatô là tên một cái chợ của dân mọi da đỏ, không phải tên người.

- Trời ơi, tôi đã bị lừa! Anh là đồng nghiệp của Svốp phải không?

- Phải. Không những là đồng nghiệp, tôi còn là thượng cấp trực tiếp của Svốp nữa. Theo kế hoạch, hắn phải về Qui- tô trình diện tôi với cuộn băng nhựa của kỹ sư Doarê. Nhưng hắn đã chết dọc đường. Nếu tôi không lầm, hung thủ là anh. Anh giết được Svốp, song ngược lại, Svốp lại khôn ngoan đưa anh vào chỗ chết. Chúng tôi đã có ước hẹn với nhau rằng kẻ lạ nào hỏi thăm cô Ambatô chính là thù địch. Bất đắc dĩ tôi phải hạ sát anh. Tuy nhiên, trước khi bắn lũng bụng anh, tôi xin thành thật cám ơn anh.

- Cám ơn?

- Vâng. Cám ợn anh đã mất công lao khó nhọc mang cuốn băng đáng giá chục triệu đô-la về tận đây trao tận tay cho chúng tôi. Svốp đã chết nhưng chết vinh quang, chết trong sự toàn thắng sau khi hoàn thành công tác.

- Cuộn băng được giấu trong ruột đồng hồ ư?

- Thì còn giấu ở đâu nữa? Tôi mắng anh ngu là đúng. Cuộn băng này không bằng chất nhựa dẻo mà là bằng thép mỏng li ti, tất cả công trình của Doarê và đồng bọn được ghi lại trong cuộn thép nhỏ hơn sợi tóc này. Thôi, phiền anh quay lưng lại để khỏi sợ. Tôi bắn sau lưng, anh chết ngon lành hơn.

- Thong thả, trước phút vĩnh biệt cõi đời, tôi xin anh ban một ân huệ.

- Ồ, tôi sẳn sàng chấp thuận ước nguyện cuối cùng của anh. Anh muốn gì? cầu kinh, xưng tội, uống rượu mạnh để lấy can đảm, hoặc nhắn nhủ lại với gia đình?

- Không. Tôi chỉ xin anh mở vỏ đồng hồ để xem kỹ bên trong.

- Xạo.

- Xạo hay không, sau khi mở đồng hồ ạnh sẽ thấy rõ. Anh sẽ thấy rõ là cuộn băng từ thạch vi ti đã biến mất. Tôi đã cẩn thận cất giấu giùm anh trước khi đến đây.

- Trời, anh nói thật hả?

- Tôi đã bảo anh mở đồng hồ ra coi, anh lại lừng khừng. Bộ anh cho tôi là nhân viên mới tập tễnh vào nghề hả?

Bàn tay gã trung niên run lẩy bẩy. Hắn lật mặt sau chiếc đồng hồ Citizen do Nhật chế tạo, nửa muốn mở, nửa không, cử chỉ lần khần dại dột của hắn đã tạo dịp may cho Văn Bình phản công bằng cước pháp thần tốc. Hắn bị đá trúng hông, oằn oại rồi khuỵu ngã. Chàng tưởng hắn là đối thủ cừ khôi, phải phối hợp đòn chân và đòn tay mới hòng triệt hạ được. Chàng không dè hắn đã té nhào ngay sau cú đá móc khởi đầu. Thì ra gã trung niên chỉ là nhân viên văn phòng, không quen nếp sống điệp báo hành động.

Gã trung niên vừa dộng đầu vào tường và nằm thẳng cẳng trên nền phòng thì Văn Bình nghe tiếng mở cửa và tiếng đạn nhảy lên nòng súng kêu "soạch" khô khan sau lưng. Trong những trương hợp tương tự, chàng thường đối pho nhanh như chớp xẹt, hoặc phóng mình rạp xuống tránh đạn, hoặc quay ngoắc lại, xử dụng thần cước để hóa giải kẻ địch.Nhưng lần này chàng lại phớt tỉnh, không thèm có cử chỉ nào hết.

Kẻ địch chưa kịp lên tiếng thì chàng chặn họng:

- Chào anh. Tôi chờ anh đã lâu. Anh Buru thân yêu ơi, anh định bắn tôi ư?

Người vừa xô cửa và nạp đạn vào nòng súng chính là Buru, hỗn danh "bú-rù", nhân viên văn phòng hướng đạo ăn lương C.I.A. do đại tá Pít giới thiệu với Văn Bình, và từng dẫn chàng vượt biên giới Côlômbi - Equatơ trên đường đến căn cứ 4Q, đồng thời tháp tùng chàng như bóng với hình qua bao thử thách đầy nguy hiểm chết chóc.

Hai người đứng cách nhau khoảng 4 thước. Văn Bình từ từ xây mặt lại, Buru cầm khẩu súng sáu đen sì trong tay, vẻ mặt hơi sửng sốt khi nghe Văn Bình gọi đích danh nhưng trong loáng mắt đã trở lại bình tĩnh lạnh lùng của kẻ sát nhân chuyên nghiệp. Lối cầm súng và thế đứng của hắn không còn lỏng lẻo và vụng về như trong thời gian hắn cùng đi với Văn Bình nữa.

Hắn nghiến răng:

- À, anh đã biết rõ về tôi!

Văn Bình nhún vai:

- Biết rõ lắm chứ! Tôi đã biết rõ anh không phải là một nhân viên hướng đạo tình báo hạng xoàng. Anh đóng tuồng rất giỏi, nhưng anh Buru ơi, chẳng may anh lại gặp tôi.

- Ngậm miệng. Anh còn nói nữa, tôi sẽ bắn nát lưỡi.

- Tôi không tin anh bắn nát lưỡi tôi trong lúc này. Vì anh còn cần cái lưỡi của tôi cho anh biết nơi cất giấu cuộn băng tài liệu.

- Đúng. Tôi đang cần cái lưỡi của anh. Nếu anh chịu nói, tôi sẽ cho phép anh ra đi nguyên vẹn.

- Hừ hừ.... tại sao anh là nhân viên C.I.A. đồng minh của tôi, mà lại dùng súng bức bách tôi nộp tài liệu?

- Anh thừa biết tôi chỉ là nhân viên C.I.A. giả hiệu. Tôi là nhân viên Tình Báo sở, trà trộn trong hàng ngũ C.I.A.. Tôi đi theo anh với nhiệm vụ đoạt lại cuộn băng. Giờ đây tôi đã thành công.

- Cám ơn anh đã thú nhận thành thật. Nhưng giá anh không thú nhận tôi cũng sẽ nói là ngay trong những giờ đồng hồ đầu tiên trên xa lộ 14 gần cây cầu gẫy, tôi đã khám phá ra anh là nhân viên Tình Báo Sở. Anh quen đường như quen đồ đạc trong nhà, vậy mà anh đã dẫn tôi đi lạc. Anh cố tình đi lạc vì anh muốn cho Svốp có thời giờ gặp kỹ sư Doarê và đoạt cuộn băng trước tôi. Anh ẩu đả với cô Rita, giả vờ múa võ vụng về nhưng đến khi anh chẳng may trượt ngã xuống vực, anh lại xử dụng phép nhuyễn công để quặp lấy rễ cây. Nhuyễn công là một bộ môn của khinh công được dậy trong trường Tình Báo Sở, nhân viên trung cấp trở lên mới được theo học, và nó đòi hỏi nhiều công phu rèn luyện. Phải am tường bộ cầm nã thủ Thiếu Lâm và tốt nghiệp đệ nhị đẳng đai huyền đen mới được Tình Báo Sở đưa vào khóa học nhuyễn công, cho nên vô hình chung anh đã xuất đầu lộ diện.

- Giỏi lắm, tôi xin ngợi khen anh. Nhưng dầu sao anh cũng đã thua tôi, anh nên khai thật để bảo toàn tính mạng.

- Anh Buru ạ, trong khi ngồi tắc-xi, tôi đã nhìn phía sau và thấy bóng anh trong xe hơi phía sau. Anh đến đây sau tôi độ vài ba phút nhưng núp bên ngoài, hơi thở dồn dập của anh đã lọt vào tai tôi. Tôi luyện công nhiều năm nên tai nghe hơi thở người lạ rất thính. Anh đến đây nhưng không vào phòng là vì tin tưởng đồng nghiệp của anh đoạt được cuộn băng. Rốt cuộc anh phải ra tay vì đồng nghiệp của anh bị tôi đánh ngã và cuộn băng không còn trong chiếc đồng hồ Citizen nữa.

Buru tiến lên một bước, giọng dấm dẳng:

- Tôi không thích nghe anh phô trương thành tích. Cuộn băng ở đâu, anh đưa cho tôi.

- Thong thả một chút, anh Buru. Anh nên bình tĩnh nghe tôi nói nốt. Nếu lần này anh thoát chết, lần sau anh nên thận trọng hơn nữa. Lần sau, nếu phải gọi điện thoại báo tin cho đồng nghiệp thì nên dùng điện thoại bên ngoài. Hồi nãy, anh gọi qua điện thoại của khách sạn, tuy anh đã đóng cửa phòng chặt chẽ, tôi vẫn nghe được. Và không riêng gì tôi, cả đại tá Pít cũng nghe được. Và trên thực tế, đại tá Pít còn nghe rõ hơn tôi. Vì anh Buru ơi, C.I.A. đã đặt máy ghi âm bí mật trong khách sạn Lutecia.

Buru quát lớn:

- Câm họng, câm họng, nếu không tôi bắn.

Buru chưa kịp bắn thì tiếng súng đã nổ. Người bắn Buru là đại tá Pít. Tuy đã có vợ, có con, vòng bụng gia tăng, cử chỉ mỗi ngày một thêm chậm chạp, Pít vẩn còn bắn nhanh và bắn trúng đích như hồi còn trẻ. Chàng nả luôn hai phát liên tiếp. Phát thứ nhất trúng cườm tay cầm súng, Buru nhăn mặt, buông võ khí, và quay lạng nửa vòng. Nhưng phát thứ hai đã xuyên qua yết hầu hắn. Hắn bắt Văn Bình "câm họng" song lại phải câm họng trước, và câm họng ngàn thu.

Sự can thiệp kịp thời của đại tá Pít không làm Văn Bình kinh ngạc. Ngược lại, Pít có vẻ sửng sốt sau khi Buru ngã sóng soài trên vũng máu đỏ lớn. Chàng đứng sững trong khi Văn Bình điềm nhiên hút thuốc lá. Cả hai người đều không quan tâm đến hai xác chết nóng hổi.

Mấy phút sau, đại tá Pít mới hỏi Văn Bình:

- Tại sao anh lại biết chúng tôi gắn loa vi âm bí mật trong phòng Buru tại lữ quán Lutecia?

Văn Bình đáp:

- Vì anh thuê luôn cả 18 phòng. Các anh thiếu gì tiền mà phải chui rúc vào khách sạn hạng nhì, phải không anh? Và các anh cần gì phải mướn trọn khách sạn? Việc đầu tiên của tôi khi vào phòng là nhấc điện thoại lên nghe. Không cần có dụng cụ thính thị điện tử, tôi chỉ nghe qua là biết, vả lại, anh không ghi âm điện đàm của Buru, anh cũng dư biết hắn là nhân viên của địch. Nếu tôi không lầm, anh đã khám phá ra chân tướng hắn từ trước khi nhờ tôi rời Mễ- tây-cơ đi Nam-Mỹ.

Giọng đại tá Pít có vẻ ngượng ngùng:

- Anh không lầm chút nào. Anh suy dẫn rất đúng.

- Ở Nam-Mỹ, C.I.A. thiếu gì cộng sự viên, tại sao anh lại dùng Buru?

- Buru là một phần quan trọng trong hệ thống C.I.A. ở Côlômbi và Equatơ. Chúng tôi nghi ngờ hắn nhưng chưa có cơ hội thử lại đáp số bài toán. Nên phải tạo điều kiện cho hắn xuất đầu lộ diện.

Hai người đã ra đến phòng ngoài. Văn Bình bèn hỏi đột ngột:

- Trong hai cô gái, Rita và Côcô, ai là nhân viên trung ương tình báo Mỹ?

Đại tá Pít khựng lại, một giọt mồ hôi lóng lánh trên mũi tuy trời mát lạnh:

- Trời ơi!

- Rita hay Côcô, nói đi?

- Cả hai. Cuộc động đất làm chúng tôi mất hết liên lạc với căn cứ 4Q, do đó chúng tôi phải cử nhiều nhân viên dùng đường bộ đến đó. Rita mạo nhận là em gái của Doarê theo chỉ thị của ông Sì-mít. Trên thực tế, Doarê có một cô em út khá xinh xắn. ông Sì-mít nghĩ rằng trong trường hợp Buru ám hại anh, Rita sẽ có thể giúp anh đắc lực. Cũng có thể Buru bắt cóc Rita và khi ấy hắn phải lộ diện.

- Côcô cũng được ông Sì-mít phái đến biên giới?

- Không. Nàng chỉ là mật báo viên, chưa phải là nhân viên chính thức như Rita. Côcô liên hệ đến một vài vụ phạm pháp bên Mỹ, nàng làm việc cho chúng tôi với hy vọng được giảm tội sau khi tự ý hồi hương.

- Fêlin?

- Cũng vậy. Hắn lợi dụng C.I.A. để buôn lậu song chúng tôi nhắm mắt làm ngơ, vì trong quá khứ hắn đã cung cấp được khá nhiều tin tức đáng giá.

- Rita và Côcô có biết nhau là nhân viên của ông Sì-mít không?

- Không. Họ cũng không biết gì về anh và Buru. Họ chỉ được trao một nhiệm vụ hạn chế và phụ thuộc.

- Tuy vậy, nhiệm vụ hạn chế và phụ thuộc của họ còn quan trọng hơn nhiệm vụ của tôi nhiều. Bằng chứng là trong suốt thời gian ở biên giới, trên trực thăng và trên biển, họ đã liên lạc vô tuyến với trung ương C.I.A., nghĩa là với anh.

- Anh đã khám phá ra máy vô tuyến?

- Dĩ nhiên. Giấu trong đế giày của Rita. Ban đêm nàng cáo ốm, nằm riêng một mình là để tiện liên lạc vô tuyến. May mà Buru mù tịt, nếu hắn phăng ra thì giờ đây chúng tôi đã nằm yên trong lòng đất.

Đại tá Pít nói:

- Lần này nữa, tôi lại thua anh. Đáng tiếc là Rita và Côcô không thể gặp anh. Nói cho đúng, họ rất muốn gặp anh, nhưng vào phút chót, trước khi tôi lái xe theo anh và Buru đến đây, một sự kiện bất thường đã xảy ra trong lữ quán Lutecia.

- Ẩu đả?

- Phải. Tôi chưa hiểu nguyên nhân, nhưng loáng thoáng những lời họ nói với nhau một cách hằn học trước khi xử dụng nhu đạo thì nguyên nhân xâu xa có lẽ là anh.

- Là tôi?

- Họ ghen vì anh. Họ bắt đầu xé quần xé áo nhau sau khi tôi xuống cầu thang. Dọc đựờng, tôi được nhân viên báo cáo bằng vô tuyến rằng là cả hai đều bị thương nơi mặt. Anh đào hoa thật, tôi thèm muốn rệu nước miếng.

- Đừng nói xạo. Giá hoa hậu sắc đẹp thế giới thoát y trước mặt anh và đòi lên giường, anh cũng lắc đầu lia lịa, tôi đã hiểu tài anh. vả lại, anh đang bận, tôi cũng đang bận, chúng mình nên đi ngay vào vấn đề, không nên đánh trống lảng nữa.

- Khổ quá, tôi đánh trống lảng ra sao?

- Anh ráng hiểu lấy. Vụ này do anh bố trí từ đầu đến cuối. Anh tổ chức lộn xộn tại Mễ-tây-cơ để gián tiếp thông báo cho địch biết sự hiện diện của tôi và điệp vụ tôi sẽ thực hiện cho các anh tại nam bán cầu. Suýt nữa, tôi đã bỏ mạng. Tiền công của vụ này được thanh toán cho ông Hoàng ở Sài-gòn chưa?

- Dường như chưa. Lát nữa, có phi cơ về Hoa-thịnh-đốn, anh sẽ giáp mặt ông Sì-mít và thảo luận về việc này.

- Không được. Bạn là bạn, còn công việc là công việc, business is business, người Mỹ các anh thường nói dứt khoát như vậy, phải không anh?

Đại tá Pít nín lặng. Ngoài vườn gió thổi rạt rào, hương thơm của một loài hoa lạ bay thoảng vào mũi làm Văn Bình ngây ngất. Chàng đinh ninh công việc xong xuôi, được khoát tay Rita hoặc Côcô la cà đến các hộp đêm uống rượu đã đời rồi về kéo một giấc vụ sơn đã đời. Nhưng sự vắng mặt của họ lại hên cho chàng. Vì họ chưa phải là siêu giai nhân. Thành phố Qui-tô thiếu gì hỏa diệm sơn nhan sắc, đêm còn dài, xương sống của chàng còn dẻo, sức lực của chàng còn tràn trề...

Xe hơi của đại tá Pít là một chiếc 124 mui trần. Loại xe đua này của hãng Fiat ngốn đường nhanh kinh khủng, chàng rất ưa thích. Nhưng chàng lại mở cửa chiếc Simca 1000 cà tàng của Buru đậu khuất dưới một cây cồ thụ đồ sộ bên đường.

Pít vội nắm cánh tay chàng, giọng khần khoản:

- Anh lên xe tôi chứ?

Văn Bình lắc đầu:

- Không.

- Anh trở về lữ quán Lutecia không?

- Không. Tôi đi chơi.

- Trời đất, ông Sì-mít đang đợi anh.

- Cám ơn. Để ông Sì-mít thảo luận với ông Hoàng tiện hơn. Công việc xong xuôi, anh cũng phải cho tôi du hí với các em Qui-tô nữa chứ!

Nói đoạn, Văn Bình trèo lên xe Simca. Đại tá Pít tiếp tục năn nỉ:

- Anh không còn thương tôi nữa ư?

Văn Bình nhăn mặt:

- Kỳ cục. Tình bạn giữa chúng mình vẫn vậy từ bao năm nay. Tại sao anh lại có ý nghĩ sai lầm là tôi hết thương anh?

- Vì cuộn băng của kỹ sư Anbe Doarê. Giờ này, anh vẫn chưa đưa lại cho tôi.

- Tôi không mang theo mình, và đang cất giữ tại một nơi an toàn.

- Anh hại tôi, anh bạn Z.28 ơi Tôi thú nhận là không hoàn toàn thành thật với anh. Nhưng vì tình bạn thâm niên, anh đừng cố chấp. Với lại.... như anh đã rõ, tôi chỉ là thiên lôi, chỉ đâu đánh đó, mọi việc đều do ông già Sì-mít sắp đặt, tôi là cấp nhỏ, đâu dám phê bình. Tôi về Hoa-thịnh-đốn tay không, ông già Sì-mít khó tính sẽ giết tôi mất.

Đại tá Pít nói bằng giọng khổ sở như khóc. Văn Bình vỗ vai bạn an ủi:

- Anh yên tâm, ông Sì-mít không dám giết anh đâu: thứ nhất, anh là cộng sự viên tin cậy anh hoàn toàn tuân lệnh, thứ hai, ông Sì-mít còn cần đến anh làm trung gian giữa C.I.A. và Z.28. Anh cứ báo cáo thẳng là nếu ông già lộn xộn, Z.28 sẽ không nộp cụộn băng tài liệu nữa. Và trong trường hợp ông già tiếp tục lộn xộn, Z.28 sẽ không ngần ngại dạm bán cho Quốc Tế Tình Báo sở, giá cả lại gấp chục, gấp trăm lần số tiền chết đói hứa trả cho ông Hoàng.

- Ấy chết, nói nhỏ một chút, anh Z.28, ông Sì-mít cho gắn máy vi âm trong xe hơi thì khốn. Tôi lạy anh... điều kiện của anh ra sao?

- Phiền anh trình với ông Sì-mít rằng thằng Z.28 chỉ là "thiên lôi, chỉ đâu đánh đó", mọi việc đều do ông Hoàng xếp đặt, hắn là cấp nhỏ, đâu dám phê bình, phản đối.

- Thôi, anh đừng diễu tôi nữa, nếu ông Sì-mít không giết tôi thì tôi cũng vỡ tim mà chết.

- Ồ, tim anh còn tốt kinh khủng, còn lâu mới vỡ. Cái hạng đàn ông râu quặp như anh, chập tối đã phải đóng cửa kín mít ở nhà hầu hạ mẹ đĩ thì sống lâu trăm tuồi thì cũng chưa mỏi tim... Nhưng thôi, tôi không dám bắt anh chờ thêm nữa. Tôi nhận lời làm việc cho C.I.A. trong hoàn cảnh bất khả kháng, ông Hoàng chưa đánh điện xác nhận tôi đã phải tất tả lên đường. Giờ đây, tôi đi nhảy đầm cho dẻo chân. Đúng 3 giờ sáng, chúng mình sẽ gặp nhau tại lữ quán Lutecia. Từ giờ phút này, hẹn anh phải liên lạc với Sài-gòn. Tôi chỉ nộp cuộn băng tài liệu sau khi được ông Hoàng cho phép. Nếu ông Sì-mít không "gài" tôi, tôi đã giữ thái độ sòng phẳng tuyệt đối. Chuyến này, ông già sẽ mất nhiều tiền hơn, tại vì ông già toan hà tiện.

Chiếc Simca cổ lỗ sĩ rùng mình như cửa xe sắp bung khỏi sườn sắt. Văn Bình vẫy tay từ biệt đại tá Pít. Phụ tá hành động của ông tổng giám đốc C.I.A. đứng thần người giữa đường, mặt ngẩn tò te như cậu con trai khờ khạo bị giai nhân cho "leo cây" một cách đột ngột và tàn nhẫn.



HẾT



[1] Tiếng Tây-ban-nha là perdoneme.

[2] OAS, Organisation of American States, Tổ chức các qước gia Mỹ châu là tổ chức gồm Hoa-kỳ và các quốc gia Nam-Mỹ, mục đích giúp nhau phòng vệ nhưng hiện nay là nhằm loại trừ ảnh hưởng cộng sản phiến động.

[3] Coi chừng, nếu trong số 11 con bài xếp theo hình cánh quạt này chẳng may có 4 con mang số 9 thì chắc chắn 80 phần trăm là một cuộc chia ly tình ái não lòng sắp sửa xảy ra, có thể dẫn đến chia ly vĩnh viễn.

[4] Xin theo dõi điệp vụ kỳ thú này trong bộ tuyển truyện "Huệ trắng phiêu linh", tức "kẻ cắp bà già", đã phát hành tháng 12 - 1970.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám   

Về Đầu Trang Go down
 
Người Đẹp Qui Tô - Người Thứ Tám
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Nhanbkvn 2017 :: THƯ VIỆN SÁCH TRUYỆN :: Truyện Trinh Thám-
Chuyển đến