Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:42 pm

Hồi 18
Trong thạch trận hào tình xóa hờn căm
Đêm trăng bờ hồ từ ý dò lòng nhau

Trương Đan Phong đọc lại quyển Huyền công yếu quyết, mỉm cười nghĩ: “Sáng nghe đạo hiều chết cũng vui. Nên mình có quyển sách này cũng giống như có một đại tôn sư truyền cho đại đạo. Có duyên này còn không biết thỏa mãn lại còn so đo tính toán, chẳng phải bị bậc tiên hiền cười chê hay sao!” Thế rồi chàng gạt chuyện sống chết qua một bên, bắt đầu luyện tập nội công thượng thừa trong quyển sách.
Trương Đan Phong đã ác đấu nửa ngày, người mệt mỏi nay luyện tập môn nội công này, khí trong người đưa đi khắp nơi, đầu lưỡi tươm nước bọt cảm thấy thư thái, đến khi tỉnh dậy thì chẳng biết bên ngoài là ban ngày hay ban đêm. Trương Đan Phong lại luyện tập Đại Lực Kim Cang thủ theo nguyên lý của quyển Huyền công yếu quyết, thể lực phục hồi, chàng vỗ vào cánh cửa, cánh cửa ngọc kêu lên ầm ầm nhưng không hề hấn gì, có điều chàng nghe tiếng chưởng đánh vào đá thì biết Đại Lực Kim Cang thủ của mình tăng lên mấy phần.
Trương Đan Phong nhịn đói cả một ngày nhưng không hề cảm thấy khác lạ, chỉ có điều khát đến cháy cổ người bình thường không ăn thì có thể chịu được bảy ngày nếu không uống nước thì có thể chịu được ba ngày, nhưng đã hơn một ngày không uống nước trong bụng lại như lửa đốt. Khó khăn lắm mới uống được vài giọt nước tiết ra từ trên vách đá nhưng cũng không thể nào hết khát. Trương Đan Phong ngưng thần định khí cố nhớ lại Huyền công yếu quyết từ đầu đến đuôi sau đó đọc ngược trở lại, cho nên tạm quên cơn khát, chàng đọc đi đọc lại mấy lần, đang để tâm suy nghĩ thì chợt nghe bên ngoài có tiếng vật cứng bổ vào đá. Trương Đan Phong đứng dậy kêu lên, người bên ngoài chẳng nói tiếng nào vẫn tiếp tục đào đá Trương Đan Phong ngạc nhiên nói: “Nếu có ý cứu mình tại sao lại không đáp lời?”
Người ở bên ngoài đào rất lâu, chàng cố gắng vận thần lực vỗ ra một chưởng vào cánh cửa ngọc.
Ầm một tiếng cánh cửa vẫn không di chuyển, còn cánh tay thì suýt nữa bị trật khớp, Trương Đan Phong nghĩ lại cánh cửa này cứng rắn vô cùng, không thể nào đập vỡ ra được, nếu đào một đường hầm dưới đất thì được nhưng đến khi đào xong đường hầm thì e rằng mình đã chết. Chàng lắng nghe tiếng đào đất ở bên ngoài thì càng lo lắng hơn.
Trương Đan Phong đang suy nghĩ thì chợt thấy bụi trên cánh cửa bay lên chàng liền khoét một cái lỗ, bên ngoài chợt có ánh sáng lọt vào, té ra người đó đã đào dưới cánh cửa đó một cái lỗ nhỏ như ngón tay. Trương Đan Phong ngạc nhiên nhủ thầm: “Sao lại thế này? Chả lẽ muốn đưa thức ăn trước cho mình?”
Nhưng cái lỗ này cũng quá nhỏ chàng lắng nghe tiếng đào đất ở bên ngoài đã dừng lại, người ấy nhét một cái vật cứng vào trong cái lỗ nhỏ, Trương Đan Phong để ý đột nhiên ở cái lỗ nhỏ xuất hiện chiếc chìa khóa sáng lấp lánh. Trương Đan Phong cầm lên và nhìn chiếc chìa khóa này giống như chiếc chìa khóa lấy ở Khoái Hoạt lâm. Trương Đan Phong vội vàng lấy chiếc chìa khóa thử đút vào cái lỗ khóa, đột nhiên cánh cửa ngọc bật ra, bên ngoài có một thiếu nữ mỉm cười nhìn chàng. Trương Đan Phong vừa cứ tưởng mình nằm mơ, thiếu nữ này là con gái của Động Đình trang chủ!
Chỉ thấy nàng tay trái cầm thanh kiếm, tay phải cầm dùi đục, mũi kiếm còn dính đất ở cửa động còn treo một cái đèn lồng chắc là chính nàng đã mang đến đây. Trương Đan Phong ngạc nhiên nói: “Đa tạ cô nương tương cứu”.
Thiếu nữ ấy chợt cười khanh khách, che miệng: “Chủ nhân, nhà tôi đã đợi người ba đời. Đêm qua chúng tôi không biết là người suýt nữa đã lấy mạng người, người không trách chúng tôi lại còn đáp tạ!”
Trương Đan Phong chợt hiểu ra cười ha hả rồi nói: “Hãy mau đổi cách xưng hô. Tổ tiên của tôi đã từng xưng vương xưng đế có liên quan gì đến tôi! Tôi họ Trương tên, Đan Phong cô nương cứ gọi tôi là Đan Phong cũng được”.
Thiếu nữ nói: “Hai tháng trước tôi đã biết tên thíếu chủ. Lúc đó tôi nghĩ cái tên này thật là đẹp ở sườn núi Động Đình của chúng tôi cũng có rất nhiều cây phong. Thiếu chủ nhân có thấy không?”
Nàng nói năng dịu dàng thân thiện với Trương Đan Phong, Trương Đan Phong bất giác nằm thầm cười, Vân Lối là một thiếu nữ hồn nhiên có một chút ngang ngạnh còn thiếu nữ này cũng hồn nhiên nhưng pha chút hào sảng mỗi người một vẻ tựa như xuân lan với thu cúc. Trương Đan Phong liếc nhìn nàng: “Cô nương khoan hãy cho tôi biết tên để tôi đoán thử xem, cô nương có phải là họ Đàm Đài, tên có một chữ Minh hay không?” Thiếu nữ nói: “Thiếu chủ nhân đã đoán đúng, ngài có biết Đàm Đài Diệt Minh không?” Trương Đan Phong cười: “Đàm Đài tướng quân chưa hề cho tôi biết là có một em gái thông minh lanh lợi như thế này”.
Thiếu nữ cũng cười: “Tháng trước y vội vàng về đây nhận họ hàng một đêm rồi vội vã ra đi”. Trương Đan Phong thầm tính, ngày Đàm Đài Diệt Minh đến Thái Hồ cũng là ngày về nước, y lẳng lặng rời Bắc Kinh. Thiếu nữ nói: “Vậy là sau khi Đàm Đài Diệt Minh đến đây vẫn chưa gặp ngài. Tháng trước y bảo ngài đã lẻn vào Trung Nguyên đến Tô Châu để tìm bảo tàng, bảo chúng tôi cẩn trọng đáng tiếc y đi quá vội, không nói rõ tướng mạo của ngài chúng tôi còn tưởng rằng ngài cũng giống như như người Mông Cổ, ai ngờ ngài còn tuấn tú hơn người Tô Châu”.
Nói xong thì mỉm cười tựa như mình nói bất giác lỡ lời. Trương Đan Phong thầm nhủ: “Đàm Đài Diệt Minh giống người Mông Cổ. Cha ông của y lấy phụ nữ Trung Quốc, chứ không phải vì ở Mông Cổ lâu ngày mới giống người Mông Cổ. Thật buồn cười cho thiếu nữ ngây thơ này. Cả điều này mà nàng cũng không hiểu”.
Thiếu nữ lại nói: “Gần đây chúng tôi phát hiện có một chuyện có tên phản tặc đánh cắp bức họa đồ Tô Châu để lấy bảo tàng, đã đoán được bảo tàng ở Khoái Hoạt lâm, tháng trước lại có người đến Khoái Hoạt lâm để dò tìm. Tuy không ai biết bí mật này, chúng tôi không thể không đề phòng, thành thử nghĩ rằng ngài là kẻ gian”.
Trương Đan Phong nói: “Cô nương thấy tôi giống kẻ gian không?”
Thiếu nữ nói: “Không giống! Nếu không ngài chẳng còn mạng. Cha tôi nghe ngài nói chuyện rất nhã nhặn, chẳng hiểu được lai lịch của ngài cho nên muốn thử xem sao, lại e ngại bí mật này sẽ lọt ra ngoài. Cho nên chỉ đành vay ngài vào giữa trận, lại sợ đả thương chính người tốt cho nên đã nương tay. Nếu không cho dù ngài có tài giỏi thì cũng không thể thoát ra được”.
Trương Đan Phong nói: “Vậy làm sao các ngươi biết được lai lịch của ta”.
Thiếu nữ cười nói: “Trong thiên hạ chỉ có ngài là mở được cánh cửa ngọc!”
Trương Đan Phong cũng cười: “Trong khắp thiên hạ này chỉ có một mình cô nương là đến cứu tôi”. Thiếu nữ ấy lộ vẻ đắc ý cười rằng: “Đúng thế, còn chiếc chìa khóa của tôi thì không thể mở cửa”. Nói đến đó thì sắc mặt đỏ ửng. Té ra lúc còn bé nàng đã nghe mẹ nói thế này: “Chuyện nhân duyên giống như một chiếc chìa khóa và một ổ khóa, không thể nào miễn cưỡng được”.
Trương Đan Phong rất ngạc nhiên không hiểu tại sao nàng lại lúng túng như thế mới cười khan một tiếng: “Họ tên của cô nương tôi chỉ biết được ba chữ còn một chữ nữa thì không biết”.
Thiếu nữ nói: “Tôi thấy chủ nhân nên vui mừng đến nỗi quên nói cả họ tên, tôi tên Đàm Đài Kính Minh, cha tôi là Đàm Đài Trọng Nguyên, Thái tổ của tôi là Đàm Đài Quy Chân, là đại tướng của Trương hoàng đế”.
Trương Đan Phong cười rằng: “Tên của Thái tổ cô nương thì tôi biết nói như thế tôi phải đa tạ cả nhà cô nương. Đàm Đài tướng quân đã theo tổ tiên tôi đến nước người, còn các người vì nhà tôi canh ở núi này đến mấy đời”. Đàm Đài Kính Minh cười rằng: “Sống ở đây có gì không tốt? Sớm chiều đều thấy cảnh núi non sông hồ, ngài không hài lòng ư?”
Trương Đan Phong mỉm cười, Đàm Đài Kính Minh kêu ối chao một tiếng: “Quên một chuyện nữa rồi!” Trương Đan Phong nói: “Quên cái gì?” Đàm Đài Kính Minh nói: “Quên rằng ngài đã ở trong động một ngày một đêm. Ngài xem, tôi đã đem cho ngài một ít thức ăn ngon”. Thế rồi bước ra xách một cái làn nhỏ, trong làn có một ít trái cây và thịt khô.
Đàm Đài Kính Minh nhìn quanh trong động, cười: “Rất nhiều người từ xưa đến nay đều thích làm Hoàng đế. Thái tổ của ngài chỉ làm Hoàng đế mấy năm mà tích góp được nhiều như thế này” rồi cầm mấy viên minh châu tung hứng như trẻ con, lại cười: “Những món này thật hay nhưng không thể chống đói được, tôi thấy viên minh châu này chẳng bằng trái cây của tôi”.
Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Thế nên tôi chỉ muốn trái cây của cô nương chứ không muốn minh châu”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Ngài nói rất hay, nếu ngài không muốn những thứ châu báu này thì tại sao phải mạo hiểm chạy từ Mông Cổ đến Thái Hồ”. Trương Đan Phong nói: “Tôi muốn tặng chỗ châu báu này cho người khác!”. Đàm Đài Kính Minh nói: “Tặng cho ai?”
Trương Đan Phong nói: “Tặng cho Hoàng đế của triều Minh”. Đàm Đài Kính Minh nói: “Cái gì? Hoàng đế của triều Minh chẳng phải là kẻ thù của ngài sao?”
Trương Đan Phong nói: “Hoàng đế của triều Minh là kẻ thù của nhà tôi”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Thế tại sao ngài lại tặng báu vật cho Hoàng đế của triều Minh?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế tôi phải tặng cho y!” Đàm Đài Kính Minh nói: “Không được, không được... châu báu tuy là của nhà họ Trương nhưng nhà tôi đã canh mấy đời, nếu ngài muốn tặng cho Hoàng đế của triều Minh thì cũng phải hỏi chúng tôi...”.
Trương Đan Phong nói: “Tôi nói ra mọi người chắc chắn mọi người sẽ đồng ý”. Đàm Đài Kính Minh cười rằng: “Ồ, té ra không phải là tặng cho Hoàng đế của Triều Minh mà là tặng cho người đánh đuổi bọn thác tử ngài làm tôi sợ”.
Trương Đan Phong ăn uống xong xuôi, Đàm Đài Kính Minh vẫn còn ngồi trò chuyện với chàng. Họ quên còn có người còn đang đợi tin phía bên ngoài, Trương Đan Phong nhờ đó mới biết chuyện về gia đình Đàm Đày. Té ra trước khi Trương Sĩ Thành thất bại đã trao con côi cho Đàm Đài Quy Chân, người này chính là tổ phụ của Đàm Đàt Diệt Minh, rồi đưa bản đồ cho võ sĩ tâm phúc của Trương Sĩ Thành, tức là tổ tiên của Oanh Thiên Lôi Thạch Anh rồi,âm thầm nhờ em trai của Đàm Đài Quy Trân là tổ phụ Đàm Đài Kính Minh trấn giữ núi Tây Động Đình, đồng thời để lại một chiếc chìa khóa bằng vàng để mở từ bên trong ra. Có thể nói cách sắp xếp này rất chu đáo. Nói về vai vế thì Đàm Đài Diệt Minh và Đàm Đài Kính Minh là anh em họ nhưng một chi thì ở tận miền Bắc còn một chi thì ở tận Giang Nam mấy đời không có tin tức, cho đến tháng trước Đàm Đài Diệt Minh trở về họ mới biết chúa công, tức là Trương Sĩ Thành đã để lại hậu duệ ở Mông Cổ.
Trương Đan Phong cười nói: “Tiểu huynh đệ của tôi mà gặp cô nương thì rất thích”. Đàm Đài Kính Minh nói: “Cái gì tiểu huynh đệ của ngài, tôi đâu cần y thích tôi!”
Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ của tôi từ nhỏ đã mồ côi không ai cùng chơi với y, cô nương trạc tuổi y. Chắc chắn sẽ là bạn bè thân thiết!”
Đàm Đài Kính Minh giận dỗi: “Sao bảo tôi chơi cùng với tiểu đệ của ngài! Hừ, tôi không thích chơi với bọn tiểu tử thối!”
Thật ra Trương Đan Phong cũng là “tiểu tử thối”. Đàm Đài Kính Minh nói xong cảm thấy mình lỡ lời đỏ mặt, chỉ nghe Trương Đan Phong cười: “Tiểu huynh đệ của tôi không phải là một tiểu tử thối”. Đàm Đài Kính Minh nói: “Không phải tiểu tử thối thì là tiểu tử thơm, hừ, tiểu tử thơm tôi cũng không ưa”.
Trương Đan Phong cười rằng: “Cũng không phải tiểu tử thơm, nàng là một tiểu cô nương...” Đàm Đài Kính Minh nói: “Là một tiểu cô nương”. Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, là một tiểu cô nương. Khi tôi quen biết nàng nàng đã cải nam trang tôi cứ gọi quen là tiểu huynh đệ, không sửa được nữa”.
Đàm Đài Kính Minh thấy ít khi chàng nhắc đến “tiểu huynh đệ” thì rất thân thiết không biết thế nào mà trong lòng cảm thấy rất có cảm giác ghen tỵ chưa từng có trong đời nhưng cũng biến mất nhanh chóng, mặt cũng không có điều gì khác lạ. Trương Đan Phong đã nhận thấy được điều gì cho nên cảm thấy áy náy với nàng ta.
Hai người im lặng một lúc lâu, Trương Đan Phong chợt nhớ tới một chuyện: “Sao cha của cô nương không đến đây?”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Người đã phát hiện ra kẻ địch lên núi nên đã đi bày Bát trận đồ”. Nàng ta nói tựa như rất hờ hững, Trương Đan Phong lo lắng nói: “Nếu có kẻ địch lên núi thì chúng ta phải ra xem thử!”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Cần gì phải sợ, bọn chúng có thể thoát khỏi cây ngư xoa trong tay cha tôi, thoát được cây ngư xoa của cha tôi cũng không thoát được Bát trận đồ”. Nàng hình như rất tin tưởng vào võ công và Bát trận đồ của cha mình.
Trương Đan Phong nghĩ bụng: “Ngoài trời có trời, ngoài người có người. Kẻ địch lần này không phải là cao thủ đại nội thì cũng là bọn Hồng Phát Yêu Long”.
Rồi nói: “Chúng ta hãy đi lên xem thử”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Được, đi thì đi!” Rồi cùng Trương Đan Phong ra khỏi thạch động, đi men theo đường hầm, ở cửa động có một sợi dây thừng dài, hai người đu lên tới bên trên thì bên trời đã đứng bóng.
Động Đình sơn trang đóng chặt cửa, trong đống loạn thạch ở sườn núi, có bóng người lô nhô, văng vẳng tiếng binh khí chạm nhau, Trương Đan Phong vội vàng bước nhanh. Đàm Đài Kính Minh nói: “Ngài lo gì? Mẹ và em gái tôi đã tới, chẳng sợ kẻ cường địch nào cả”.
Trương Đan Phong đêm hôm qua ngủ ở Động Đình sơn trang, không hề thấy nữ chủ nhân, ngạc nhiên nói: “Ồ, té ra cô nương còn có mẹ nữa!”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Sao tôi lại không có mẹ, người sống ở ngoài mười ngày nửa tháng mới về một lần, vừa rồi tôi gặp người mới xuống cứu ngài đấy thôi”.
Trương Đan Phong ngạc nhiên lắm, thầm nhủ: “Chốn tiên cảnh này mà lại không ở, lại sống ở ngoài, không biết tại sao?”
Lúc này chàng đang nóng lòng đến giúp bọn họ một tay nên không hỏi nhiều.
Hai người chạy đến trước Bát trận đồ thì không khỏi thất kinh, kẻ bị vây trong trận toàn là những kẻ võ công cao cường. Lợi hại nhất là một ông già và một đạo nhân, ông già sử dụng một món binh khí quái lạ tựa như cây trượng, nhưng trên cây trượng còn có một vật như bàn tay, như năm móc câu sáng loáng tựa như năm nón tay. Trên cây trượng toàn là gai nhọn, còn đạo nhân kia thì sử dụng một cây trường kiếm, tuy không quái dị, nhưng kiếm pháp của lão rất hiểm hóc. Ngoài có một võ quan trẻ tuổi, chưởng phong của y kêu lên vù vù, những luồng chưởng phong của y làm cho những tảng đá nhỏ trong thạch động đều bay vù vù. Khi Đàm Đài Kính Minh nhìn lại, chỉ thấy cha của mìnhâ đang giữ ở cửa Tử, nhưng kẻ cường địch tấn công cho nên không thể nào thi triển thế trận được.
Đàm Đài Kính Minh quát lớn một tiếng, rút kiếm xông vào trong thạch trận, chợt thấy Trương Đan Phong đứng ngẩn người ra đấy. Đàm Đài Kính Minh kêu lên: “Ngài sao thế? Còn chờ gì nữa?” Trương Đan Phong kêu khổ, té ra Thiết Tý Kim Viên Long Trấn Phương và Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử, còn võ quan trẻ tuổi kia là anh trai của Vân Lối. Hai bên đánh rất kịch liệt, e rằng sẽ có tử thương. Trương Đan Phong nghĩ bụng: “Mình tuy âm thầm giúp đỡ Vân Trọng lấy được chức Võ trạng nguyên, nhưng y vẫn coi mình là kẻ địch, nói rõ chân tướng thì không chịu tin, làm thế nào đây? Nếu mình bước lên động thủ, há chẳng phải hiểu lầm sẽ càng sâu hơn hay sao?”
Chợt thấy Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử thi triển tuyệt chiêu, từng đóa kiếm hoa đâm về phía bà lão giữ cửa Đỗ, bà lão cũng cầm gậy đánh trả lại hai chiêu, Vân Trọng đột nhiên liên tục đánh ra ba chưởng, giúp Huyền Linh Tử đánh bà lão lui ra khỏi cửa Đỗ, Trương Đan Phong lại thất kinh!
Thiếu nữ giữ cửa Kinh cũng luống cuống tay chân. Trương Đan Phong nói: “Hai người này có phải là mẹ và em gái của cô không?”. Đàm Đài Kính Minh giận giữ nói: “Còn đợi gì nữa?”. Đang nói thì đã vung ra mấy chưởng, Trương Đan Phong cười rằng: “Té ra đều là người quen”. Rồi chàng phóng vọt người lên, vượt qua cả Đàm Đài Kính Minh, nhảy vào trong thạch trận, vung kiếm ra kêu lên: “Đàm Đài đại nương, hãy giữ chặc cửa Đỗ, Ngọc Minh muội muội hãy chuyển sang cửa Hưu!” Rồi tung mình vọt tới, lướt qua đỉnh đầu Thiết Tý Kim Viên, xông vào trong cửa sinh, đứng sánh vai cùng với Động Đình trang chủ Đàm Đài Trọng Nguyên, giữ chặt môn hộ Bát trận đồ.
Té ra khi Vân Trọng đến Khoái Hoạt lâm thì thấy mảnh giấy của Trương Đan Phong để lại, tưởng rằng Trương Đan Phong có ý cười cợt mình. Thật ra Trương Đan Phong chỉ muốn khuyên chàng, chàng tức giận trở về phủ nha. Sáng sớm hôm sau thì bảy cao thủ ở Bắc Kinh cũng tới đầy đủ, biết Trương Đan Phong đã vào Thái Hồ, vì thế cả bảy người cùng với Vân Trọng là tám người vội vàng đuổi theo.
Khi đang lục xét trên núi, chợt nghe tiếng cười lạnh, ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy một bà lão tóc bạc trắng, tay cầm một mảnh gấm, trên mảnh gấm thêu mười đóa hoa, trong đó có bảy đóa được thêu một vòng tròn màu đỏ bên ngoài, một thị vệ ngạc nhiên hỏi: “Này, đó chẳng phải là bà già ở trà đình làng Đàm Đài sao? Con gái của bà ta đâu? Hôm trước tôi còn thấy nàng thêu những đóa hoa này”.
Một người khác nói: “Đúng thế, ngày tôi đi ngang trà đình cũng thấy nàng đang thêu mảnh gấm này”.
Vân Trọng ngạc nhiên, nhớ lại khi mình rời khỏi trà đình, trên mảnh gấm chỉ có tám đóa hoa, vội vàng hỏi hai thị vệ kia: “Có phải các người hỏi thăm họ về Trương Đan Phong không?”
Hai thị vệ đều nói: “Đúng thế, vậy có liên quan gì đến những hai đóa hoa này”.
Vân Trọng nói: “Bà già này chắc chắn là bè đảng của Trương Đan Phong!” Thế rồi vội vàng nhảy vọt đuổi theo, bà già giơ mảnh gấm lên, lạnh lùng nói: “Ồ, đáng tiếc, đáng tiếc! Ngươi cũng đến, phải để Minh nhi ngắt mấy đóa hoa này xuống mới được”.
Thiết Tý Kim Viên hả giận, quát rằng: “Mụ yêu phụ dám giả thần giả quỷ”. Thế rồi phóng vọt đuổi theo, thân pháp của bà lão rất nhanh, chỉ trong chớp mắt đã dụ Vân Trọng và bảy đại cao thủ vào trong Bát trận đồ. Vân Trọng thấy loạn thạch xếp thành từng đống, lòng rất lo lắng, chàng tuy không biết Bát trận đồ nhưng đã từng đọc nhiều binh thư nên không khỏi do dự ngừng bước lại. Chợt thấy trong đống loạn thạch có một thiếu nữ bước ra cười rằng: “Ồ, các người đều đã đến cả rồi ư? Bọn họ đã đợi từ lâu rồi”. Thế rồi nàng chỉ tay có đám loạn thạch bên trái có bảy cái đầu lâu, không biết bảy cái đầu này được ngâm nước thuốc gì mà ánh mắtù mở to như còn sống. Vân Trọng nhận ra một người trong số đó, đó chính là một võ sĩ đã đi ngang qua trà đình ngày hôm trước Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm không nhận ra hai người là vệ sĩ trong phủ của Tư lễ thái giám Vương Chấn, một người khác thì nhận ra Phó bang chủ của Hải Long bang, chắc là họ đều đến đây hỏi thăm tin tức Trương Đan Phong cho nên hai mẹ con nhà này cắt đầu. Bảy cao thủ đều nổi giận, thế rồi xông vào trong trận một lượt, Vân Trọng cũng bất đắc dĩ theo vào trong, nghe âm thanh lạ vang lên, chỉ thấy một ông già để râu ba chòm, tay cầm một cây ngư xoa xuất hiện, tiếp theo là mấy nông phu, trên tay không phải là cuốc mà là đao thương kiếm kích, lúc ẩn lúc hiện trong đám loạn thạch. Thiết Tý Kim Viên cả giận: “Hãy bắt lão già kia trước”.
Động Đình trang chủ cười ha hả, đâm tới một xoa, Thiết Tý Kim Viên gạt ngang cây gậy, Động Đình trang chủ đột nhiên biến mất, chợt nghe phía sau có tiếng gió nổi lên, thiếu nữ ấy sử dụng đôi song đao múa tròn xông tới, Vân Trọng vỗ ra một chưởng, thiếu nữ kêu: “Lợi hại lắm!” Thế rồi biến mất ngay trước mắt chàng, Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử vung kiếm đuổi theo, bà lão chợt nhảy bổ ra, mười ngón tay chụp vào cổ tay và đỉnh đầu của Huyền Linh Tử, quả nhiên đó là công phu Đại lực ưng trảo. Tam Hoa Kiếm lo lắng vội vàng phát ra ba đóa kiếm hoa, bà lão chụp hụt, lập tức lẫn vào cửa khác, trận đồ đã triển khai, trong khoảnh khắc tám cao thủ đều bị vây trong Bát trận đồ.
Tám người này tuy ai cũng có tuyệt kỹ nhưng không hiểu trận pháp, kẻ địch lại xuất hiện bất ngờ, cho nên đầu đuôi không thể tiếp ứng lẫn nhau, Vân Trọng tương đối biết tỉnh táo hơn, thấy thế liền vội vàng kêu: “Bọn chúng có tám người, chúng ta cũng có tám người, mỗi người chúng ta chọn một. Không nên đánh bừa”. Thế là tình hình tạm ổn. Bát trận đồ tuy kỳ diệu vô cùng, như Động Đình trang chủ chỉ hiểu được ba phần, chưa thể phát huy tác dụng, lại thêm ngoài vợ chồng họ công lực cao cường nhất, có thể đối địch với bọn Vân Trọng, số người kia thì kém xa các cao thủ đại nội cho nên một bên nhờ vào sự ảo diệu của trận đồ, một bên nhờ vào công lực cao cường, trong nhất thời hai bên đều gặp nguy hiểm.
Đến lúc kịch chiến, Vân Trọng dần dần thấy ra sơ hở, đang định cùng hợp sức Thiết Tý Kim Viên hợp lực đánh lui bà lão, chợt thấy Trương Đan Phong vung đánh vào vừa ngạc nhiên vừa tức giận kêu lên: “Để ý”.
Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đều thua với tay của Trương Đan Phong và Vân Lối, cho nên cả hai nhảy lên chặn Trương Đan Phong. Trương Đan Phong vung kiếm kêu lên xoàn xoạt, tà áo trắng phất phới, luồng qua lách lại trong Bát trận đồ. Không ứng phó với ba người Thiết Tý Kim Viên, Tam Hoa Kiếm và Vân Trọng, mà là chỉ tấn công năm cao thủ đại nội, Đàm Đài Kính Minh cả mừng quát lớn: “Hay lắm!”
Động Đình trang chủ thấy Trương Đan Phong thanh đông kích tây, chỉ nam đánh bắc, bảo vệ kỹ cửa Tử, rõ ràng hiểu Bát trận đồ còn hơn mình, không khỏi mừng rỡ kêu lên: “Lão chúa công có hậu, Đại Châu có thể trùng quang!” Trương Sĩ Thành tuy đã chết bảy tám mươi năm, nhà Đàm Đài vẫn gọi ông ta là lão chúa công, Bát trận đồ này là do Bành hòa thượng truyền lại cho Trương Sĩ Thành, vì ông ta muốn Đàm Đài Quy Chân bảo vệ bảo tàng nên đã truyền cho, nay Động Đình trang chủ Đàm Đài Trọng Nguyên thấy Trương Đan Phong hiểu rõ trận pháp, không cần phải hỏi nhiều thì biết chàng chắc chắn là thiếu chủ nhân.
Trương Đan Phong và Đàm Đài Kính Minh nhảy vào trong trận thì tình thế đột nhiên thế trận thay đổi, bảy tám cao thủ hơi chiếm thế thượng phong nhưng lúc này chỉ đành chóng đỡ. Đàm Đài Kính Minh vung kiếm đánh một vòng.
Thiếu nữ đứng giữ cửa Kinh tên là Đàm Đài Ngọc Minh, em gái của Đàm Đài Kính Minh, nàng vừa mới bị Vân Trọng đánh một chưởng, lúc này đã thấy tình thế tạm ổn, kẻ địch chỉ có thể phòng thủ, thế nhảy ra khỏi vị trí của mình, chỉ tay về phía Vân Trọng rồi cao giọng nói: “Tỷ tỷ, tỷ hãy giết tên này, y vừa mới bắt nạt muội”.
Đàm Đài Kính Minh cười rằng: “Được, muội hãy bước vào cung Càn, tiến vào vị Khảm đánh vào phía sau của y”.
Thế rồi đâm thẳng về phía Vân Trọng, Vân Trọng đẩy ra một chưởng, thanh đoạn môn đao vung lên đang định trả đòn, chợt thấy bên cạnh ánh xanh lóe lên, nhát kiếm của Đàm Đài Kính Minh đã đánh tới, đó là nơi chưởng lực của chàng đánh không tới, Vân Trọng phóng người né tránh. Đàm Đài Kính Minh lướt qua chưởng của chàng đâm soạt cho một kiếm vào mặt. Nhát kiếm này nhanh vô cùng, Vân Trọng lại đang bị nhốt giữa hai đám loạn thạch, không thể nào lách người né tránh. Xem ra, dù có tránh được mặt thì vai cũng bị kiếm đâm thủng.
Công lực của Vân Trọng tính ra còn cao hơn của chị en Đàm Đài Kính Minh một bậc, nếu lấy một địch hai thì dù không thắng cũng không đến nỗi thất bại, thế nhưng hai người họ đã nhờ vào sự ảo diệu của thạch trận, trước tiên dồn Vân Trọng vào chỗ không có lợi, sau đó cùng tấn công, lập tức Vân Trọng gặp nguy hiểm.
Đàm Đài Kính Minh xoay cổ tay, đâm soạt một tiếng, chợt nghe tiếng Trương Đan Phong từ cửa Thương nhảy ra, hất nhẹ mũi kiếm lên đẩy bạt mũi kiếm của nàng ra. Đàm Đài Kính Minh không ngờ Trương Đan Phong lại làm thế, ngạc nhiên nói: “Ngài làm gì thế?”
Trương Đan Phong nói: “Hãy nể mặt ta, đừng đánh kiếm này!” Đàm Đài Kính Minh cứ ngạc nhiên, khi thấy Trương Đan Phong mỉm cười nhìn mình, nàng chợt chột dạ. Tự nhiên cảm thấy ánh mắt của chàng có một ma lực, khiến cho nàng tự động rút kiếm về. Động Đình trang chủ cũng ngạc nhiên cao giọng hỏi: “Võ quan này là ai?”
Trương Đan Phong nói: “Y bảo y là kẻ thù của tôi”.
Vân Trọng nói: “Ai cần ngươi phải nương tay, mối thù của hai nhà chúng ta đời này kiếp này đừng hòng hóa giải”.
Thế rồi chém xéo qua một chưởng, Động Đình trang chủ càng ngạc nhiên hơn, hình như Vân Trọng có mối thù sâu với chàng, không hiểu tại sao Trương Đan Phong lại bảo vệ.
Trương Đan Phong nhẹ nhàng đẩy chưởng trái thành một vòng cung, Vân Trọng ngạc nhiên: “Y đã học Đại Lực Kim Cang thủ từ lúc nào”.
Thế là hai chưởng giao nhau hai bên thoái lui ba bước, Trương Đan Phong nói: “Vân Trọng huynh đệ, chạy là thượng sách”.
Vân Trọng càng tức giận hơn, nói: “Ai xưng huynh gọi đệ với ngươi?” Thế rồi đánh ra một chưởng nữa: “Tôi hỏi huynh tại sao đến đây?”
Thiết Tý Kim Viên nói rằng: “Ngươi giao bảo tàng ra thì bọn ta sẽ đi”.
Câu nói này thật sự có chút khiên cưỡng, y biết chẳng thể nào thắng nổi trận này, nhưng y cũng mong Trương Đan Phong buông tha cho mình, còn chuyện bảo tàng là nói ra cho đỡ bẽ mặt mà thôi. Nào ngờ Trương Đan Phong ngửa mặt cười lớn, nói rằng: “Té ra các người đến đây vì bảo tàng, ta vốn muốn tặng cho Hoàng đế đại Minh có các người đem đi hộ ta thì thật là tốt”.
Chàng vừa nói ra, ngoại trừ Đàm Đài Kính Minh, nhưng nguời khác đều thất kinh. Động Đình trang chủ nói: “Thiếu chủ, sao người lại nói thế!”
Vân Trọng cứ nghĩ Trương Đan Phong đùa cợt mình, nói: “Đại trượng phu thà chết chứ không chịu nhục, Trương Đan Phong, sao ngươi cứ nhiều lần bỡn cợt ta?”
Trương Đan Phong nói: “Các người muốn thế nào mới tin đây”.
Vân Trọng không nói một lời, lại vỗ ra liên tục ba chưởng, Trương Đan Phong nổi giận.
Chợt nghe tiếng kêu vang lên tứ bề, trong đám loạn thạch dưới sườn núi xuất hiện một toán người, cao thấp mập ốm đều có, từ bốn bên xông tới. Trương Đan Phong nhìn lại, nhận rõ hai người đi đầu có mái tóc màu đỏ rối bời tựa như có một đám mây đỏ vờn quanh trên đầu, đó chính là Hồng Phát Yêu Long Quách Hồng, người kia thì mũi diều, mắt ưng, người cao bảy thước, tay cầm hai cây Khai sơn phủ, y chính là một dũng sĩ của Thái sư nước Ngõa Thích, tên gọi Sát Lỗ Đồ, võ công thua mỗi mình Đàm Đài Diệt Minh. Trương Đan Phong thấy thế thì thất kinh lòng thầm nhủ: “Quách Hồng là tâm phúc của Vương Chấn. Hai người này sao có thể đi chung với nhau, chả lẽ quân Ngõa Thích đã đánh vào Trung Nguyên?”
Thiết Tý Kim Viên kêu lên: “Các người đến đây thật đúng lúc, phản tặc Trương Đan Phong đang ở đây”.
Quách Hồng cười lạnh, phất tay một cái, đám người lập tức bao vây cả bọn người Động Đình trang chủ cùng với tám cao thủ đại nội.
Thiết Tý Kim Viên thấy thế liền ngạc nhiên kêu lên: “Này, này! Ngươi không nhận ra chúng ta sao? Tám người chúng ta đều được lệnh của Hoàng thượng đến đây!”
Quách Hồng cười lạnh: “Bọn ta thì không! Hừ, hừ, trao địa đồ và bảo tàng ra đây!”
Vân Trọng quát: “Các ngươi dám tạo phản? Địa đồ và bảo tàng là của Hoàng thượng!”
Quách Hồng nói: “Các ngươi đến Ngõa Thích mà tìm Hoàng thượng, còn bảo tàng và địa đồ thì phải trao cho Vương công công!”
Vân Trọng ngạc nhiên, nói: “Ngươi nói gì? Hoàng thượng nói thế nào?”
Quách Hồng cười: “Chẳng thế nào cả, đại quân Ngõa Thích đã tiến vào Nhạn Môn quan! Hoàng thượng của ngươi đã bị quân Ngõa Thích bắt làm tù binh”.
Trương Đan Phong kêu lên: “Vân Trọng huynh đệ, bây giờ huynh đã hiểu chưa? Hợp lực đối với ngoại xâm mới là thượng sách”. Thế là bước tới vung kiếm đâm Quách Hồng. Vân Trọng quát lớn một tiếng, chém thanh đoạn môn đao ra, Sát Đồ Lỗ vung tay lên gạt, hổ khẩu của Vân Trọng đổ máu suýt nữa đoạn vô đao suýt nữa vuột khỏi tay. Chỉ thấy Sát Lỗ Đồ vung búa lên quát rằng: “Hay lắm, tên nhảy nhép nhà ngươi cũng có chút công phu!” Thế rồi chém búa tới!.
Trương Đan Phong đâm kiếm nhanh như điện chớp, Quách Hồng đã biết chàng lợi hại, nào dám tuốt kiếm, chỉ đành chạy vòng quanh thừa thế phát chiêu. Trương Đan Phong đâm hờ một kiếm, đột nhiên lộn người trở tay đâm lại một kiếm, Sát Lỗ Đồ đang chém búa tới, bị chàng dùng xảo lực kéo ra ngoài cửa. Vân Trọng đang bực tức, nhờ có Trương Đan Phong đỡ cho một chiêu, miệng thì chẳng nói gì nhưng trong lòng rất cảm kích.
Sát Lỗ Đồ trợn mắt quát: “Ồ, Trương công tử, té ra là ngươi!”
Trương Đan Phong nói: “Ngươi không ở Ngõa Thích mà đến đây làm gì? Đây không phải làchỗ của ngươi, cút về cho ta?”
Sát Lỗ Đồ nói: “Nhà ngươi nhiều đời nhận đại ơn của quốc chủ, sao phản bội?”
Trương Đan Phong nói: “Dù ta có bị cháy thành tro cũng là người Trung Quốc, làm sao có thể nghe theo quốc chủ của ngươi!”
Sát Lỗ Đồ cả giận nói: “Từ lâu ta đã biết ngươi có ý khác, té ra ngươi đã thật sự chạy về đây đối chọi với chúng ta, hừ, hư, hãy nếm một búa của ta!”
Trương Đan Phong đâm soạt soạt hai kiếm, Sát Đồ lỗ vung tròn cây búa giáng xuống, Trương Đan Phong biết y có sức mạnh, chỉ có thể đánh bằng trí, do đó di chuyển khinh công chạy quanh. Sát Đồ Lỗ chẳng kém gì Đàm Đài Diệt Minh, nhưng lại không giỏi thuật kinh công. Hai người trong khoảnh khắc đã đánh nhau mấy mươi chiêu, Sát Đồ Lỗ múa tiếp hai câu búa, trong vòng một trượng toàn là phủ ảnh kiếm quang.
Lúc này hai bên đã hỗn chiến, Quách Hồng dắt tới đến ba bốn chục người, có kẻ là võ sĩ của gian thần Vương Chấn, có kẻ là nhân vật hắc đạo của miền Giang Nam.
Phía Quách Hồng có đông người, nhưng phía Trương Đan Phong lại có những cao thủ thuộc hạng nhất lưu, Thiết Tý Kim Viên, Tam Hoa Kiếm, Vân Trọng và bọn vợ chồng Động Đình trang chủ đều là người võ công cao cường, nhưng số ít chống với số nhiều rõ ràng lại mất sức hơn.
Trương Đan Phong nói: “Hãy lui vào Bát trận đồ”.
Sát Đồ Lỗ nói: “Chỉ một thạch trận làm sao có thể vây được ta?”
Thế là vung hai búa lên, giáng xuống một tảng đá, hai cao thủ của phía Vân Trọng xông lên chặn lại, nhưng vì không hiểu trận đồ cho nên bị chém chết ngay tại trận, còn hai người nữa thì đạp vào cửa Tử, Trương Đan Phong kêu lớn: “Lui ra!”
Sát Đồ Lỗ vung hai cây búa chém tới, hai cao thủ bị vây trong thạch trận nhỏ hẹp, né tránh không tiện, đều đã bị Sát Đồ Lỗ bổ đôi ra.
Sát Đồ Lỗ cười ha hả đột nhiên cảm thấy gió lạnh ở sau lưng xoay người bổ ra một búa, chỉ nghe soạt một tiếng ống tay áo đã bị Trương Đan Phong đâm trúng, Sát Đồ Lỗ vội vàng chống đỡ, nhưng đột nhiên chẳng thấy bóng chàng đâu. Đang định nhảy vọt ra thì chợt thấy ánh sáng loáng lên trước mặt, Trương Đan Phong cười hì hì, xuất hiện ở đống loạn thạch bên trái, đâm soạt một kiếm, vạch một đường trên tay phải của Sát Đồ Lỗ.
Sát Đồ Lỗ vung hai búa bổ loạn xạ, chỉ nghe ầm ầm như tiếng pháo nổ, đá vụn bay tứ tán, Trương Đan Phong lách người, lại đâm trên vai Sát Đồ Lỗ một kiếm, Sát Đồ Lỗ muốn trả đòn nhưng bụi bay mù mịt chẳng thấy Trương Đan Phong đâu. Vốn là võ công của Sát Đồ Lỗ hơn Trương Đan Phong, nhưng một là vì Trương Đan Phong hiểu cách giữ bát quái trận, tiến lùi hợp lý; hai là vì kinh công tương đối cao hơn cho nên chiếm được phần lợi; ba là vì Trương Đan Phong đã tập Huyền công yếu quyết, biết rõ nguyên lý né mạnh đánh yếu. Cho nên chỉ trong khoảnh khắc đã đâm Sát Đồ Lỗ ba nhát kiếm.
Hai búa của Sát Đồ Lỗ bổ xuống đá, lưỡi búa cũng đã méo mó. Y còn ngạc nhiên, biết rằng nếu dựa vào sức mạnh thì sẽ thua thiệt, lại thêm Trương Đan Phong xuất thần nhập quỷ càng khiến cho y hoảng hốt hơn. Sát Đồ Lỗ chẳng còn hung hăng nữa, vội vàng nhảy ra một chỗ tương đối trống hơn, múa tiếp đôi búa đến nổi gió mưa không lọt, Trương Đan Phong cười ha hả, chẳng màng đến y, chỉ chạy Đông lướt Tây trong thạch trận, trong khoảnh khắc đã đánh bị thương thêm mấy tên. Nhưng kẻ địch quá đông cho nên hết kẻ này ngã xuống, kẻ kia tiến lên, trong lúc hỗn chiến thì phía chàng lại có hai cao thủ đại nội chết dưới binh khí của kẻ địch.
Vân Trọng dùng thủ pháp Đại Lực Kim Cương đánh chết mấy người, chợt thấy Hồng Phát Yêu Long Quách Hồng đã bị Động Đình trang chủ từng bước ép thoái lui, cách mình chỉ có mấy bước. Vân Trọng căm giận Quách Hồng, chàng đẩy lùi kẻ địch bên cạnh, nhảy vọt về phía trước chém vù một chưởng xuống đỉnh đầu của Quách Hồng.
Chợt nghe Trương Đan Phong: “Cẩn thận, chưởng có độc!”
Vân Trọng ngẩn người không kịp nhưng chưởng thế đã chém xuống. Chỉ thấy Quách Hồng xoay cổ tay lại, lòng bàn tay đỏ như máu.
Bốp một tiếng, hai chưởng giao nhau, Quách Hồng kêu lên thê thảm, khớp cổ tay đã bị Vân Trọng chặt gẫy, bàn tay xụi xuống, Vân Trọng cũng cảm thấy lòng bàn tay tê rần, vội vàng thoái lui.
Trương Đan Phong nói: “Vân huynh, hãy mau vận chân khí ngăn độc khí xâm nhập vào nội phủ”.
Vân Trọng ngước nhìn Trương Đan Phong, ngồi bệch xuống đất. Trương Đan Phong nói: “Kính Minh cô nương hãy bảo vệ cho y, đừng để kẻ địch chạm vào”.
Đàm Đài Kính Minh cũng liếc nhìn Trương Đan Phong, chẳng nói một lời xách kiếm đến đứng bênh cạnh Vân Trọng.
Đàm Đài Kính Minh thông hiểu trận thế, lại có bọn Trương Đan Phong chặn kẻ địch ở bên ngoài, quả nhiên phòng thủ rất kín kẽ. Cổ tay Quách Hồng bị chưởng lực của Vân Trọng đánh gẫy nát, đau đớn vô cùng, nhưng y đột nhiên cướp một thanh đao từ tay đồng bọn chém soạt xuống, bàn tay lập tức đứt lìa, y bôi thức kim sang rồi xé tà áo băng lại, gào lên: “Ta không chết được, các người cứ mặc sức tấn công”.
Mọi nguời thấy y hung dữ như thế cũng không khỏi kinh hãi.
Phe bên kia mất một cao thủ như Quách Hồng, thực lực tuy hơi giảm xuống nhưng cũng chẳng hề hấn gì. Còn phía Trương Đan Phong thiếu đi Vân Trọng, Đàm Đài Kính Minh phải bảo vệ, vốn người đã ít, thế trận lập tức rời rạc. Quách Hồng ngồi xuống đất, chỉ huy cuộc tấn công cho nên trái lại chiếm ưu thế hơn.
Trương Đan Phong thấy kẻ địch thế mạnh, nếu cứ dằn co nữa thì sẽ thua to, nhưng lại không nghĩ ra cách phá địch, trong lòng thầm kêu khổ. Đang lúc kịch chiến, tuy kẻ địch chết rất nhiều, nhưng phía bên mình cũng có thêm một cao thủ đại nội và hai trang đinh bị trọng thương, tình thế càng nguy ngập hơn. Đang lúc lo lắng, chợt nghe tiếng kêu từ dưới sườn núi vọng lại, có người ca rằng: “Có ai hát khúc Tô Hàng? Hoa sem thơm mười dặm, quế dài ba thu, nào biết cỏ cây chẳng phải vô tình, thế mà vẫn gợi mối sầu vạn cổ, ôi, ôi, gợi mối sầu vạn cổ!”. Lời ca mênh mang như ai như oán, đó chính là bài thơ trong bức họa của Trương Đan Phong.
Trong khoảnh khắc trong lòng Trương Đan Phong như có điện lướt qua, chàng đứng ngẩn ra. Chỉ thấy từ xa có một thiếu nữ tay cầm tay sáo ngắn chậm rãi bước tới. Thiếu nữ này mặc bộ quần áo màu xanh nước hồ, xinh xắn tuyệt trần, nàng liền nhẹ bước cứ như thiên tiên. Đàm Đài Kính Minh giật mình nghĩ: “Chả lẽ tiên nữ của Thái Hồ bay lên núi?”
Nàng trước nay tự cho mình xinh đẹp, nay thấy thiếu nữ này thì bất giác cảm thấy thổ thẹn không bằng.
Chỉ nghe Trương Đan Phong rung giọng kêu lên: “Tiểu huynh đệ!”
Đàm Đài Kính Minh kêu ồ một tiếng, trong lòng chợt thấy xốn xang. Vân Trọng lộ vẻ ngạc nhiên.
Thiếu nữ ấy xuất hiện bất ngờ khiến cả hai bên đều bất giác ngừng tay lại. Quách Hồng nói: “Ả này chắc chắn tà môn, hãy mau chia người ra chặn ả lại”.
Thiếu nữ ấy vẫn chậm rãi tiến về phía trước mà chẳng nói lời nào.
Trương Đan Phong phấn chấn tinh thần, đột nhiên hú dài một tiếng, phóng lưới qua đống đá, vung kiếm đánh bị thương mấy tên địch, chỉ trong khoảnh khắc đã nhảy ra ngoài trận nắm tay thiếu nữ ấy, rơi nước mắt rồi nói: “Tiểu huynh đệ, đệ cũng đến đây ư?”
Thiếu nữ ấy rút tay ra kéo soạt thanh kiếm nói: “Ca ca của tôi đâu?”
Nàng ta chính là Vân Lối. Vì đến miền Giang Nam thanh bình cho nên nàng đã ăn mặc theo lối nữ nhi.
Trương Đan Phong nói: “Ca ca của đệ bị vây trong thạch trận, chúng ta hãy đánh kẻ địch rồi tính tiếp”.
Quách Hồng ngồi chỉ huy chia binh chống địch. Điều ra năm cao thủ chặn hai người Trương, Vân bọn chúng tưởng Vân Lối là một thiếu nữ yếu ớt chỉ có ba tên nhảy bổ về phía Vân Lối. Chỉ thấy Vân Lối rút kiếm rạch nhẹ một đường, một mảng thanh quan tỏa ra. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Trương Đan Phong xuất chiêu sau nhưng lại ra trước, đột nhiên vạch ra một màn bạch quang, hai màng ánh sáng đan vào nhau tạo thành một bức màn màu sắc kỳ lạ, kiếm hoa túa ra như sao sa, hai kiếm hợp nhất huy lực tăng lên gấp nhiều lần, chỉ trong vòng một chiêu đã đâm trúng huyệt đạo của năm kẻ địch, năm kẻ này ngã xuống đất mà không kịp kêu lên.
Quách Hồng thất kinh, Trương Đan Phong và Vân Lối vừa lách mình thì đã nhảy vào trận. Hai người luồn qua lách lại trong thạch trận, tựa như chuồn chuồn giỡn nước, bươm bướm xuyên hoa, hai kiếm cứ múa liên tiếp, kiếm quang tỏa ra xung quanh, bốn phương tám hướng chỉ thấy bóng hình của hai người Trương, Vân. Trong thạch trận, hai màu kiếm tung bay tựa cầu vồng, mềm mại tựa du long, chợt đông chợt tây, chợt tụ chợt tản, Bát trận đồ tuy hẹp, nhưng hai luồng kiếm quang cứ dồn tới dồn lui tựa như thủy ngân đổ xuống đất, hai nơi kiếm quang lan tới thì ở đó có kẻ ngã xuống, chỉ trong khoảnh khắc phía Quách Hồng đã có tám chín kẻ bị thương.
Sát Đồ Lỗ xông ra múa tít đôi búa, Trương Đan Phong cười dài một tiếng trở tay từ bên trái đâm sang bên phải, vẽ thành một hình vòng cung; Vân Lối vung kiếm, đâm từ bên phải qua bên trái vẽ thành một đường vòng cung, hai kiếm hợp nhất tạo thành vòng tròn ánh sáng che kín cả hai người lại. Chỉ nghe tiếng kim khí giao nhao, đôi búa của Sát Đồ Lỗ cuộn ngược trở lại, hổ khẩu đổ máu, suýt nữa đánh rơi búa, trước nay y tự phụ thần lực của mình, không ngờ Trương Đan Phong và Vân Lối vừa mới xuất chiêu thì đã không chống đỡ nổi.
Trương Đan Phong thấy y vẫn giữ chặt búa, cũng thầm kinh ngạc, cười rằng: “Tiếp thêm chiêu này!” Thế rồi lách người đâm kiếm tới, Sát Đồ Lỗ thì tách hai búa ra, đánh một chiêu Chỉ Thiên Hoạch Địa, bên trên hộ đầu bên dưới chém xuống chân, chợt thấy mũi kiếm của Trương Đan Phong lệch sang một bên, kiếm của Vân Lối đâm thẳng vào, rồi cả hai người Trương, Vân đều nhảy vọt qua, Sát Đồ Lỗ quét hai búa, loạn thạch tung bay như núi lở. Trương Đan Phong nhẹ nhàng đâm một nhát vào đại huyệt ở sau lưng y, Sát Đồ Lỗ đột nhiên quát lớn một tiếng, hai cây búa vuột khỏi tay miệng thì đổ máu, ngã xuống tắt thở.
Quách Hồng kinh hoảng, nhân lúc cát bụi bay mù trời, đột nhiên lăn người xuống đất, thoát ra ngoài. Đàm Đài Kính Minh thấy thế thì quát: “Chạy đi đâu?”
Thế là nhảy vọt ra đâm một kiếm từ trước ngực thấu ra sau lưng.
Cuộc chiến này kịch liệt vô cùng, bọn người của Quách Hồng chết không còn một mống. Bảy cao thủ trong đại nội thì đã chết bốn bị thương một, chỉ có Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm thì vẫn an toàn, trang đinh của Động Đình trang chủ cũng bị chết mất vài người, còn Vân Trọng thì bị thương bởi độc chưởng, thương thế thì thế nào thì vẫn chưa biết.
Đến khi mọi chuyện đã yên, Trương Đan Phong dắt Vân Lối đến trước mặt Vân Trọng, chỉ thấy Vân Trọng khép hờ đôi mắt, cánh tay tựa như sưng to lên.
Vân Lối chảy nước mắt nhảy bổ lên: “Đại ca!”
Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ, hãy để cho đại ca của đệ nghỉ ngơi một lát chúng ta sẽ cõng y về sơn trang”.
Chưởng ấy của Hồng Phát Yêu Long độc vô cùng, may mà Vân Trọng có nội công thâm hậu, vận khí ngăn độc, cho nên độc khí mới không công tâm, tạm thời giữ được tính mạng. Trương Đan Phong ngăn không cho Vân Lối nói chuyện với Vân Trọng là có ý tốt để y khỏi phân thần.
“Ca ca, huynh thế nào rồi? Đại... Đan Phong y bị thương có nặng không?”
Trước đây nàng quen gọi Trương Đan Phong là đại ca, nhưng giờ đây phải gọi là Đan Phong, mặt bất giác mặt đỏ ửng, Trương Đan Phong nói: “Không... không sao, nhưng phải để y nghĩ một lát”.
Vân Trọng chợt mở mắt nhìn: “Cô nương là ai?”
Vân Lối nói: “Ca ca, muội là em gái của ca ca đây!”
Vân Trọng liếc nhìn Trương Đan Phong, chợt cười lạnh: “Cô nương là em gái của tôi, có nhận nhầm người không?”
Vân Lối khóc rằng: “Ca ca, huynh đừng nhẫn tâm, muội tìm huynh đến khổ!”
Vân Trọng nói: “Ta nào có em gái tốt đến thế?”
Vân Lối nói: “Muội đúng là em gái của huynh, nếu huynh không tin...”.
Vân Trọng chợt rằng giọng: “Có bằng chứng gì?”
Vân Lối nghiến răng, lấy ra tấm huyết thư bằng da dê nói: “Ca ca huynh nhìn xem!”
Vân Trọng liếc mắt nhìn, chỉ thấy nước mắt Vân Lối rơi lả chả. Vân Trọng nói: “Hừ, ngươi còn mặt mũi nào lấy ra huyết thư của gia gia?”
Vân Trọng thật ra đã biết nàng là em gái của mình, cố ý buộc nàng lấy ra tấm huyết thư! Vân Lối chợt chua xót trong lòng, nước mắt cứ tuôn rơi mà không khóc thành tiếng được. Vân Trọng vừa chỉ cho Trương Đan Phong, ta định nói nhiều lời kêu Trương Đan Phong đột nhiên vọt tới phía trước, xỉa ngón tay vào cánh tay của Vân Trọng. Vân Lối kinh hoảng: “Huynh làm gì thế?”
Vân Trọng hít một hơi, nói: “Trương Đan Phong, ngươi không cần giả vờ tử tế, dù ta có chết cũng không chịu nhận ơn của ngươi”.
Vân Lối lúc này mới hiểu ra, Trương Đan Phong dùng khí chân nguyên của mình, giúp Vân Trọng đến thông máu huyết, để khỏi động khí tấn công lên đầu.
Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, chúng ta hãy trở về Động Đình sơn trang, nào, nào chúng ta đi thôi!” Thế rồi nắm tay áo của Vân Lối, Vân Lối liếc nhìn Vân Trọng giật tay khỏi tay Trương Đan Phong, sắc mặt tái nhợt, chẳng nói một lời nào. Trương Đan Phong ái ngại vô cùng, chàng buồn bã lui xuống.
Đàm Đài đại nương lắc đầu, Đàm Đài Kính Minh thì rất kinh ngạc, thầm nhủ: “Khi Trương Đan Phong nói về nàng ta nghe rất thân mật, thiếu nữ này chắc chắn là ý trung nhân của y, tại sao nàng lại lạnh lùng với y đến thế?” Ngẩng đầu nhìn lên, chợt thấy Trương Đan Phong vẫy tay về phía nàng. Đàm Đài Kính Minh thắc mắc bước tới. Chỉ nghe Trương Đan Phong hạ giọng nói: “Vân Trọng đã bị thương. Ta có đan dược tổ truyền, ta sẽ dạy cô nương cách chữa trị, cô nương hãy giúp ta trị cho y”.
Đàm Đài Kính Minh nhận lấy viên thuốc rồi hỏi: “Thiếu nữ này là ai?” Trương Đan Phong cười khổ sở nói: “Ồ, ta là kẻ thù của nàng?”
Đàm Đài Kính Minh ngạc nhiên nói: “Cái gì, nàng là kẻ thù của ngài!”
Trương Đan Phong nói: “Không, tôi là kẻ thù của nàng, mà không, nàng coi ta là kẻ thù”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Tại sao ngài không đích thân chữa trị cho y để giải mối thù này?”
Trương Đan Phong cười nói: “Nếu ta để y biết, y lại bảo ta cố ý nhân lúc y nguy ngập ra ơn để mong được báo đáp”.
Động Đình trang chủ gọi một trang đinh cõng Vân Trọng, Vân Lối đi ở phía sau, liếc nhìn thấy Trương Đan Phong và Đàm Đài Kính Minh đang to nhỏ thì thầm với nhau, trong lòng chợt dâng lên nỗi chua xót bẽ bàng, nghĩ bụng: “Được, ngươi không để ý đến ta cũng chẳng để ý đến ngươi. Từ nay cứ coi như là không quen người này!” Nàng như đứt từng khúc ruột, nước mắt trào ra.
Động Đình trang chủ ngạc nhiên nói: “Cô nương, thương thế của lệnh huynh vẫn không nặng hơn, cô nương sao lại khóc?”
Vân Lối tựa như chẳng hề nghe thấy, vẫn chỉ khóc rấm rức mãi không thôi.
Vừa đến Động Đình sơn trang, dưới chân núi khói lam chiều trôi lãng bãng. Động Đình trang chủ sai người đưa Vân Trọng vào phòng nghỉ ngơi.
Đến khi mọi việc xong xuôi thì giục trang đinh thổi cơm, Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm rất ái ngại, nhưng Động Đình trang chủ thì rất phóng khoáng, không hề nhắc đến chuyện tìm bảo tàng, cả hai người đều nhận ơn Trương Đan Phong, cho nên nạnh ai nấy về phòng nghỉ ngơi.
Đàm Đài Kính Minh được Trương Đan Phong nhờ vả, đến khi ăn xong bữa cơm tối thì mang thuốc lẳng lặng vào phòng Vân Trọng, dưới ánh nến lung linh, bóng Vân Lối in lên cửa sổ. Đàm Đài Kính Minh ngừng bước, chỉ nghe Vân Lối: “Ca ca! Gia gia không phải bị cha y hại. Vu các lão đã nói rất rõ ràng, chúng ta cũng không cần trả mối thù này nữa”.
Vân Trọng nói: “Vậy gia gia phải chăn ngựa hai mươi năm thì trả lời như thế nào?”
Vân Lối trả lời: “Cha của y lẽ ra không nên làm chuyện này, nhưng cũng không đến nỗi chẳng đội trời chung”.
Vân Trọng cười lạnh: “Như thế muội đỡ lời cho kẻ thù!”
Vân Lối khóc: “Ca ca!”
Vân Trọng nói: “Sao? Con gái của nhà họ Vân không được khóc, sao lại chẳng có chí khí đến thế? Ta biết muội thích tên tiểu tử họ Trương này!”
Vân Lối vốn đã nín, nàng nghe như thế thì vừa thổ thẹn vừa tức giận nói: “Ai bảo muội thích y... y...”.
Vân Trọng chợt nói: “Muội thích y cũng được, không thích cũng được, tóm lại ta không cho muội lấy y!”
Vân Lối nén không được, buộc nói: “Y đã có ý trung nhân, suốt đời này muội không lấy ai cả, huynh đừng lo cho muội!”
Vân Trọng ngạc nhiên, chàng tức giận hơn, nghĩ bụng: “Té ra muội không lấy được y nên mới trả lời như thế!” Đang định mắng thì thấy Vân Lối hai mắt đỏ ửng, nghĩ lại mình chỉ có một đứa em gái, mười mấy năm sau mới gặp lại, trong lòng cũng cảm thấy bất nhẫn, thế rồi thở dài, chợt nghe bên ngoài cửa có tiếng người ho, cửa phòng mở ra, Vân Lối chạy ra mở của phòng, Đàm Đài Kính Minh bước vào.
Vân Lối vừa nhắc đến nàng, đột nhiên thấy nàng cười gượng. Vân Trọng nói: “Không dám làm phiền cô nương đến thăm!”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Để tôi xem thương thế của công tử!”
Vân Trọng nói: “Không có gì, xin đa tạ đã quan tâm. Vân Lối, muội hãy thay ta tiễn Đàm Đài cô nương trở về”.
Đàm Đài Kính Minh cố nén giận, liếc mắt nhìn chàng, thấy chàng giả vờ như chẳng hề có chuyện gì, chợt bật cười nói: “Thật là chẳng có gì không, công tử hãy hít một hơi xem thử”.
Vân Trọng lúc nãy cãi cọ với Vân Lối đã nổi giận, vết thương phát tác, độc khí đã dâng lên, lúc này hít vào một hơi thì thấy tức ngực như muốn nôn. Đàm Đài Kính Minh nói: “Nếu ngài không chịu chữa trị, chắc chắn sẽ chẳng qua khỏi giờ tý đêm nay. Đại trượng phu tuy bảo xem cái chết như trở về nhưng chết như thế thật không đáng. Nếu là tôi, tôi sẽ chẳng làm anh hùng hảo hán kiểu này”.
Vân Trọng biến sắc, bất giác chợt thấy đau nhói lên. Vân Lối nói: “Đàm Đài cô nương, có chữa trị được không?”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Chỉ e đại ca của cô nương không chịu chữa mà thôi”.
Ý nàng muốn bảo là Vân Trọng đã từ chối Trương Đan Phong. Vân Trọng thì hiểu nghĩ thế và bảo: “Cô nương thật nặng lời, tôi làm khách ở quý trang thật không dám làm phiền nhiều”.
Vân Lối chợt hiểu ra nhủ thầm: “Té ra Trương Đan Phong đã cho nàng biết tất cả”. Thế rồi trong lòng cảm thấy ghen tỵ nhưng vì tính mạng của đại ca nên đành phải nín nhịn, miệng bảo rằng: “Nếu được cô nương chữa trị anh em chúng tôi cảm kích không nguôi”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Cảm kích thì không cần”. Nàng vốn định nói tiếp: “Chỉ mong ngươi đừng căm ghét ta nữa là ta đã thỏa mãn”. Nàng nghĩ đến đó trong lòng hiện ra ánh mắt chân thành của Trương Đan Phong. Thế rồi nghĩ bụng: “Mình cần gì phải làm tổn thương người y yêu thương!” Rồi liếc nhìn Vân Lối, trong lòng thầm than: “Nàng rốt cuộc có phước nhiều hơn mình”.
Đàm Đài Kính Minh lấy thuốc ra, rồi lấy một cây dao bạc, một túi bông, bảo Vân Lối cuốn tay áo của Vân Trọng lên, dùng cây dao bạc rạch hai đường hình chữ thập lên cánh tay của Vân Trọng, rồi sau đó bóp mạnh cho máu ứ chảy ra, thế rồi bôi thuốc vào. Cánh tay của Vân Trọng vốn chẳng còn cảm giác, chàng dần dần cảm thấy mười ngón tay của Đàm Đài Kính Minh xoa nhẹ trên da thịt khiến chàng cảm thấy rất thoải mái. Vân Trọng lớn lên ở một vùng Mạc Bắc, rất ít khi gặp thiếu nữ, chàng chưa bao giờ gặp một người xinh đẹp như thế nào, nhất thời cảm thấy tim đập thình thịch, mặt nóng rang nói: “Ơn lớn của cô nương tại hạ không dám quên, chỉ là quá thiệt thòi cho cô nương!”
Đàm Đài Kính Minh vẫn tiếp tục bôi thuốc cho chàng, thản nhiên nói: “Ngài cũng là một nam tử hán, sao thẹn thùng như thiếu nữ thế này?”
Vân Trọng xưa nay vẫn tự nhận mình là một thiết hán, nếu bình thường có người bảo chàng giống phụ nữ, chàng sẽ cho rằng đó là một nỗi nhục rất lớn. Nay nghe Đàm Đài Kính Minh nói như thế thì cảm thấy rất dễ chịu, mặt càng nóng hơn. Vân Lối nói: “Đa tạ tỷ tỷ, thuốc đã bôi xong, hãy để tôi chăm sóc”.
Đàm Đài Kính Minh bôi thuốc xong, toan bỏ đi, chợt nghe Vân Lối nói như thế thì ngừng tay, chỉ cho nàng cách chăm sóc người bệnh, nhưng chẳng nói thêm một lời dư thừa nào. Rồi điềm nhiên gật đầu chào Vân Lối. Vân Lối nghĩ bụng: “Nàng ta đến tặng thuốc, tại sao lại lạnh lùng đến thế, chả lẽ nàng đã nghe thấy lời của mình”. Thế rồi trong lòng lo lắng không yên.
Vân Trọng nghe bước chân dần xa, ngẩng đầu lên nói: “Đàm Đài cô nương quả thật rất dịu dàng!” Thế rồi lòng dâng lên một thứ tình cảm rất êm ái và nhẹ nhàng.
Vân Lối chợt nhớ đến chuyện giữa mình với Trương Đan Phong, nàng nhìn ca ca như muốn nói gì đấy nhưng rồi lại thôi. Vân Trọng thấy khóe môi em gái mấp máy, trong mắt lộ vẽ kỳ lạ tựa như tiếc thương, tựa như lo lắng, chàng cũng cảm thấy thắc mắc.
Còn Đàm Đài Kính Minh thì buồn bã trở về gặp Trương Đan Phong. Trương Đan Phong đứng lặng lẽ dưới trăng, nhìn thấy bóng dáng chàng, Đàm Đài Kính Minh cũng thấy bẽ bàng, chợt nghe Trương Đan Phong lẩm bẩm: “Ôi, tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ, dù đệ có hành hạ ta đến mức nào, ta cũng không oán trách đệ”.
Nàng đứng nhìn một hồi thì đã nghe tiếng trống báo hiệu canh ba.
Đó chính là:
Tình này đã buộc khó tự giải, trăm mối sầu biết tỏ cùng ai?
Muốn biết sao đó thế nào, mời xem tiếp hồi sau sẽ rõ.

Xem tiếp hồi 19
Dương liễu xanh xanh nỗi sầu trôi theo nước
Khói tỏa mịt mùng mạo hiểm về kinh sư
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:43 pm

Hồi 19
Dương liễu xanh xanh nỗi sầu trôi theo nước
Khói tỏa mịt mùng mạo hiểm về kinh sư


Đàm Đài Kính Minh cứ đứng lặng lẽ trong đêm, đến khi ngẩng đầu lên thì chẳng thấy Trương Đan Phong đâu nữa. Nàng nhủ thầm: “Chắc là y không thấy mình nên đã trở về ngủ”.
Nàng bước qua hòn giả sơn, chẳng thấy một bóng người, xuất hiện trước mặt, chính là Vân Lối.
Đàm Đài Kính Minh hỏi: “Đêm tối thế này mà Vân cô nương vẫn chưa ngủ sao?”
Vân Lối nhìn thấy nàng thì khựng người lại đáp ấp úng: “Lúc nãy tôi chờ đại ca ngủ nên mới đi ra đây”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Thương thế của lệnh huynh thế nào rồi?”
Vân Lối nói: “Đa tạ tỷ tỷ, nhờ tỷ tỷ mà người đã đỡ được bảy tám phần, xem ra ngày mai có thể ngồi dậy”.
Thế rồi nàng mới nghĩ: “Lúc nãy nàng ta rất lạnh lùng, tại sao đột nhiên thân mật với mình đến thế?”
Đàm Đài Kính Minh mỉm cười, nhẹ nhàng kéo tay Vân Lối, ghé sát tai nàng nói: “Cô nương không cần phải đa tạ tôi, phải nên đa tạ Trương Đan Phong mới phải”.
Vân Lối ngạc nhiên hỏi: “Cái gì?”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Chính y đã trao thuốc cho tôi, lại còn chỉ tôi cách chữa trị”.
Vân Lối kêu à một tiếng, nhất thời nghẹn lời. Chỉ nghe Đàm Đài Kính Minh tiếp tục nói: “Y thấy hôm qua Vân đại ca buộc cô nương lấy ra bức huyết thư bằng da dê, không muốn các người biết y đã tặng thuốc cho nên mới nhờ đến tôi”.
Vân Lối nghĩ thầm: “Té ra hôm qua hai người họ nói về chuyện này, thế mà mình đã hiểu nhầm”.
Nàng chợt nghĩ đến tấm lòng của Trương Đan Phong, buột miệng nói: “Ôi, y cần gì phải làm thế!”
Đàm Đài Kính Minh lại mỉm cười, nói: “Nếu tôi thật sự thích một người tôi cũng sẽ làm thế. Chỉ cần người đó hạnh phúc, bao nhiêu nỗi đắng cay nào có đáng là chi”.
Vân Lối lại ngẩn người ra, thầm nhủ: “Nàng ta vừa mới quen biết mình làm sao lại nói đùa như thế?” Nhưng Vân Lối lại cảm thấy lời nàng rất thành thật, cứ nhìn vào mắt thì chợt thấy trong nụ cười của nàng thoáng nét buồn, Vân Lối lại chột dạ.
Đàm Đài Kính Minh rất thông minh, nhìn Vân Lối như thế thì biết nàng ta đã không còn nghi ngờ mình nữa, thế rồi mới nghiến răng, cố nén cơn sóng lòng, cười rằng: “Ca ca của cô nương cũng là một hảo hán tử, nhưng đáng tiếc quá cứng cổi”.
Vân Lối nghe nàng ta khen anh trai của mình thì cảm thấy bất ngờ, thế rồi mỉm cười. Đàm Đài Kính Minh chợt hỏi: “Cô nương chỉ có một người anh này thôi hay sao?”
Vân Lối nói: “Đúng thế, tôi chỉ có một người anh này”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Trong nhà còn có ai nữa không?”
Vân Lối nói: “Còn có mẹ hiện giờ đang ở Mông Cổ, nhưng không rõ tung tích, sao này tôi còn phải tìm người”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Ngoài mẹ còn có người nào khác hay không?”
Vân Lối nói: “Không còn, anh trai của tôi vẫn chưa thành thân”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Ồ, y vẫn chưa thành thân”.
Vân Lối nghe nàng hỏi như thế thì đã biết ý nàng, trong lòng mừng rỡ, nghĩ anh trai của mình cũng có ý với nàng, còn mình thì tưởng rằng nàng thích Trương Đan Phong, nào ngờ nàng cũng có ý với Vân Trọng, suýt nữa buột miệng nói: “Nếu cô nương chịu làm đại tẩu của tôi thì tốt còn gì bằng?”
Chỉ là Vân Lối tính tình nghiêm nghị, không thích nói đùa với người mới quen biết. Nhưng chỉ tỏ vẻ mừng rỡ, gật đầu cười nói: “Đúng thế, tôi vẫn chưa có đại tẩu”.
Vân Lối nào ngờ Đàm Đài Kính Minh cố nén nỗi đau, có ý giải mối nghi ngờ của Vân Lối đối với nàng.
Hai thiếu nữ ngồi sát bên nhau, dưới ánh trăng, mỗi người đều theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Đôi mắt nhìn qua phía bên kia hồ, trên cửa sổ vẫn còn hiện bóng người, Đàm Đài Kính Minh cười nói: “Trương Đan Phong vẫn chưa ngủ, y đang chờ cô nương đấy!”
Vân Lối kêu suỵt một tiếng, mặt lập tức nóng ran, khi nàng bước ra đây tản bộ, lòng đang ngổn ngang trăm mối, muốn né tránh Trương Đan Phong, nhưng lại vừa muốn gặp Trương Đan Phong, cho nên bất giác đi về phía phòng. Trương Đan Phong, thế là bí mật ấy đã bị Đàm Đài Kính Minh chỉ ra, thẹn thùng đến đỏ ửng cả mặt. Đàm Đài Kính Minh cười khanh khách, chạy vòng qua hòn giả sơn, ẩn mình trong đám cây cối, nàng quay đầu lại nhìn, chỉ thấy Trương Đan Phong mở cửa sổ thò đầu ra, thì thầm kêu: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ!”
Vân Lối không trả lời, tựa như rất hoang mang, nhưng cuối cùng cũng lầm lũi đi về phía phòng Trương Đan Phong. Đàm Đài Kính Minh vừa vui vừa buồn, lòng chợt đau nhói, nước mắt cứ tuôn trào.
VânTrọng suốt đêm không ngủ, đến khi tỉnh dậy thì mặt trời đã quá ba cây sào. Vân Trọng thử xoay trở cánh tay thì đã thấy khỏe hẳn, chỉ người là yếu ớt. Vân Trọng cố uống hớp nước rồi thay đồ bước ra khỏi phòng. Động Đình sơn trang được xây dựng rất thanh nhã, trong các nơi đều là hoa thơm cỏ lạ, hồ nước cá lội tung tăng tựa như trong bức tranh, Vân Lối chậm rãi bước ra, chợt nghe sau hòn giả sơn có người tranh cãi.
Một người nói: “Mấy đời nhà chúng tôi đã canh giữ bảo tàng này cho lão chúa công, nhưng hôm nay lại tặng cho kẻ thù của ông ta, chúa công nếu có linh thiêng cũng không nhắm mắt được!”
Một giọng già nua lại nói: “Thiếu chủ nói cũng phải, ngày xưa hai nhà tranh đoạt thiên hạ, nay dị tộc xâm lăng, chi bằng cứ đồng tâm hiệp lực cùng chống kẻ ngoại địch thì hơn”.
Một người lại nói: “Tôi không tin Thiên tử họ Chu thật lòng muốn chống ngoại địch”.
Giọng già nua lúc nãy lại nói: “Thời thế đã thế, y không chống cũng không được. Huống chi còn có những đại thần một lòng vì nước như bọn Vu Khiêm, ta đã quyết định tuân theo lời thiếu chủ, các người đừng nhiều lời!”
Vân Trọng nhận ra, những nói lúc nãy chính là Động Đình trang chủ. Tranh luận một hồi, những người kia cũng đồng ý.
Vân Trọng giật mình, nghĩ bụng: “Hoàng thượng tưởng rằng Trương Đan Phong lấy bảo tàng và địa đồ là có ý muốn tạo phản, té ra y thật lòng hiến cho Hoàng thượng!”
Rồi trong lòng xốn xang máu nóng dâng trào, chợt nghe có người cười rằng: “Ồ, Trạng nguyên đại nhân, đại nhân cũng đến rồi ư?”
Vân Trọng nhìn lên thấy hai người bước tới, đó chính là hai mẹ con đã gặp ở trà đình ngày hôm trước, Vân Trọng biết thân phận của họ, kêu một tiếng bá mẫu. Đàm Đài đại nương nói: “Sao, khỏe rồi ư, coi như ngài may mắn!”
Tiểu cô nương Đàm Đài Ngọc Minh thì cười hì hì nói: “Con nghe tỷ tỷ bảo, đêm qua y còn tỏ ra cứng rắn lắm”.
Vân Trọng đỏ mặt Đàm Đài Ngọc Minh chợt cười lạnh, lấy ra một tấm khăn lụa, trên có thêu mười đóa hoa hồng lớn. Vân Trọng giật mình, Đàm Đài đại nương cười: “Minh nhi không được hù dọa khách”.
Đàm Đài Ngọc Minh cười khanh khách, chỉ vào bảy đóa hoa hồng có vòng tròn đỏ ở bên ngoài nói: “Chúng tôi đã giết bảy tên khốn kiếp muốn hại Đan Phong đại ca, hì hì, còn ba đóa hoa này thì Đan Phong đại ca không cho chúng tôi động tới!”
Vân Trọng biết ba đóa hoa này chính là đại diện cho mình Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm, trong lòng hơi giận. Đàm Đài đại nương lại cười: “Trong trà đình tôi đã biết Vân công tử là người tốt, Minh nhi, đừng bày trò nữa!”
Té ra cả nhà Đàm Đài có trách nhiệm canh giữ bảo tàng, cho nên Động Đình trang chủ Đàm Đài Trọng Nguyên thì giữ ở núi Tây Động Đình, Đàm Đài đại nương cùng con gái út mở quán trà ở bên ngoài làm tai mắt. Trước khi đến Động Đình sơn trang, cả Trương Đan Phong cũng không biết họ là vợ con của Động Đình trang chủ.
Đàm Đài đại nương nói: “Vân công tử, tôi sẽ cho người xem một vật này”.
Vân Trọng theo nàng bước ra khỏi hành lang vòng qua hòn giả sơn, chỉ thấy trên bãi cỏ trước mặt có một đống kim ngân châu báu, Động Đình trang chủ và mấy nông phu đều ngồi ở đấy. Động Đình trang chủ nói: “Ồ, Vân đại nhân đến rất đúng lúc!”
Rồi sai trang đinh: “Mời Trương công tử đến đây!”
Động Đình trang chủ vốn gọi Trương Đan Phong là “Thiếu chủ”, Trương Đan Phong không chịu cho nên mới gọi là công tử.
Một lát sau chỉ thấy Trương Đan Phong và Vân Lối bước ra, Vân Lối vừa thấy ca ca thì lập tức đi chậm lại phía sau lưng Trương Đan Phong. Vân Trọng thầm thở dài, sắc mặt rất khó coi nhưng không tức giận như đêm hôm qua nữa.
Trương Đan Phong nói: “Thương thế của Vân huynh thế nào rồi?”
Vân Trọng vốn không muốn nói, nhưng vẫn lạnh lùng gật đầu, nói: “Không cần lo, ta vẫn còn sống được!”
Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Tốt lắm!” Thật ra chàng đã biết Vân Trọng chắc chắn sẽ khỏe lại, Động Đình trang chủ nói: “Mấy đời nhà tôi đã canh bảo tàng này, giờ đây đã coi như trút được gánh nặng ngàn cân. Vân đại nhân hãy nghỉ ngơi thêm vài ngày, rồi hãy mang số châu báu này về kinh trao cho Hoàng đế của các ngài”.
Trương Đan Phong nói: “Hôm qua Hồng Phát Yêu Long đã nói thật, quân Ngõa Thích quả nhiên đã đánh vào Nhạn Môn quan, hai nước bắt đầu khai chiến!”
Vân Trọng nổi giận, vỗ một chưởng vào hòn giả sơn rồi nói: “Ta không quét sạch quân Ngõa Thích thề không làm người. Được, ta sẽ lập tức áp tải châu báu về kinh!” Rồi chàng lảo đảo phun ra một ngụm máu. Vân Lối cả kinh vội vàng chạy đến đỡ chàng, Trương Đan Phong bắt mạch cho chàng rồi nói: “Không nên xúc động, Vân huynh, hai ngày sau huynh có thể hoàn toàn hồi phục. Số châu báu này rất quan trọng, đến lúc đó nhờ Trang chủ sai người giúp đỡ, nếu không trên đường lại bị cướp?”
Động Đình trang chủ nói: “Còn công tử thì sao?”
Trương Đan Phong nói: “Tôi còn một thứ quý hơn số châu báu này!”
Động Đình trang chủ hỏi: “Ồ, có phải là bức địa đồ không?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, lúc này địch mạnh ta yếu, có bức địa đồ này chúng ta ở ngoài sáng, địch ở trong tối, còn hơn cả có thêm mười vạn hùng binh!”
Động Đình trang chủ lắc đầu, lộ vẻ lo lắng.
Trương Đan Phong nói: “Sao thế?”
Động Đình trang chủ nói: “Trương công tử, ngài tuy trí dũng song toàn, nhưng chỉ có một mình thì tôi cũng không yên tâm, bức địa đồ này liên quan đến số phận Trung Hoa, gian thần Vương Chấn cũng đã nghe tiếng, ngày trước đã sai bọn người Hồng Phát Yêu Long đến đây, tuy bọn chúng đã thất bại, nhưng sau này có kẻ khác đến. Đường xa vạn dặm một mình ngài đi đường nếu có xảy ra chuyện gì, chúng tôi cũng không biết”.
Trương Đan Phong buồn bã không nói. Động Đình trang chủ lại bảo: “Tôi vốn sẽ sai người đi cùng ngài nhưng người ở đây đều kém hơn công tử, lỡ nếu như gặp phải cường địch, chỉ e không giúp được công tử”.
Trương Đan Phong nói: “Lần này tôi đi, tuy có mạo hiểm, nhưng có thể giấu bức địa đồ này. Giúp người để vận chuyển châu báu, không cần phải lo cho tôi”.
Vân Trọng nghe bọn họ tranh cãi mãi, chợt ngẩng đầu lớn giọng nói: “Vân muội, muội hãy đi cùng y!”
Chàng vừa nói ra thì mọi người đều ngạc nhiên, Vân Lối vừa lo, vừa mừng, tim cứ đập thình thịch. Vân Trọng nói: “Tôi biết hai người song kiếm hợp bích thì có thể ứng phó với mọi kẻ địch, muội đi cho sớm cứ yên tâm”.
Trương Đan Phong thở dài chàng nói: “Đa tạ Vân huynh”.
Vân Trọng hừ một tiếng: “Đa tạ cái gì! Ta chẳng phải lo cho ngươi”.
Trương Đan Phong nói: “Tôi biết huynh vì tấm địa đồ ấy, tôi chỉ kính trọng huynh vì tấm lòng của huynh đối với giang sơn Đại Minh!”
Vân Trọng nói: “Được, nếu ngươi chịu vì giang sơn Đại Mnh, vậy ta trả lại một lễ”. Thế rồi mới vái dài lại Trương Đan Phong, Vân Lối bất giác nở nụ cười. Vân Trọng nói: “Lối muội, muội đến đây”.
Rồi hai người dắt tay nhau đến chỗ khuất, Vân Trọng nhẹ nhàng vuốt mái tóc Vân Lối, trong mắt đầy vẻ thương yêu, chàng dịu dàng hỏi: “Muội muội, muội có trách ta không?”
Vân Lối nói: “Ca ca, muội vui lắm!”
Vân Trọng nói: “Từ khi chúng ta thất lạc nhau, lúc nào ta cũng nhớ đến muội, có lúc còn nằm mơ gặp muội, trong mơ muội chỉ là cô bé ba tuổi, cùng mẹ chăn cừu trên thảo nguyên”.
Vân Lối buồn vui lẫn lộn, ứa nước mắt mà nói: “Ca ca, muội biết huynh thương muội!”
Vân Lối chợt thở dài: “Sau đó, chúng ta lần đầu tiên gặp nhau tại Thanh Long hiệp, lúc đó muội lại cải nam trang giúp cho kẻ thù, ta nghĩ trong bụng, không biết đã gặp gã này ở đâu rồi, thật giống người thân của mình, cho nên lúc đó ta không thể nào ra tay”.
Vân Lối nói: “Huynh muội chúng ta tâm ý tương thông, lúc đó muội cũng nghĩ như thế”.
Vân Trọng chợt nói: “Hôm qua ta biết muội quả nhiên là em gái của mình, ta vừa vui mừng ta vừa đau lòng. Còn muội thì lại thân mật với y”.
Vân Lối giật mình, nàng cuối đầu mà nước mắt rơi lã chã. Vân Trọng: “Muội muội, kiếm pháp của muội đủ đi lại trên giang hồ, nhưng đáng tiếc quá yếu mềm. Muội muội, muội là con gái nhà họ Vân, muội phải hứa với ta một chuyện”.
Vân Lối tái mặt, hạ giọng nói: “Ca ca cứ nói”.
Vân Trọng nói: “Ta có thể không trả thù Trương Đan Phong, nhưng dù thế nào, cha y cũng là kẻ thù đã hành hạ gia gia của chúng ta, suốt đời này muội cũng không được kết thành phu thê với y. Muội cùng y hộ tống địa đồ cũng là vì giang sơn Đại Minh, trên đường đi muội không được động lòng trước lời ngon tiếng ngọt của y. Nếu muội thật sự thích y, vậy thì tình huynh muội ta cứ chặt đứt làm đôi!Vân Lối, huynh không cho phép muội kết thành phu phụ, muội có chấp nhận hay không, chỉ cần muội nói một câu!”
Trong khoảnh khắc ấy, lòng Vân Lối đau đớn tột cùng, nếu ca ca cứ mắng nàng như hôm qua, có lẽ nàng sẽ im lặng chịu đựng. Thế nhưng lúc này, ca ca lại nhìn nàng với ánh mắt van xin, trong lúc kích động, Vân Lối cố nén nỗi đau đớn trong lòng, ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào Vân Trọng, thì thầm đáp: “Ca ca muội hứa với huynh!”
Ăn điểm tâm xong Trương Đan Phong cùng Vân Lối từ biệt mọi người, cha con nhà Đàm Đài đưa họ đến bờ hồ. Dưới bóng liễu ven hồ đã có sẵn một chiếc thuyền. Trong thuyền có bày thức ăn và rượu ngon, đó chính là tâm ý của Động Đình trang chủ. Đàm Đài Kính Minh đưa họ lên thuyền, lòng thầm nhủ: “Muôn ngàn tơ liễu mà không cột nổi chiếc thuyền”.
Vân Lối nói: “Kính Minh tỷ tỷ, làm phiền tỷ hãy chăm sóc cho ca ca của tôi, ngày sau chúng ta sẽ gặp lại ở Kinh Đô”.
Đàm Đài Kính Minh cũng cười rằng: “Làm phiền Vân Lối cô nương hãy chăm sóc cho Thiếu chủ chúng tôi”.
Động Đình trang chủ tiếp lời: “Chúc hai người lên đường bình an, mang bức địa đồ đến kinh thành, không phụ tâm ý mấy đời nhà chúng tôi”.
Vân Lối đỏ mặt, nhưng thấy Động Đình trang chủ nói trang trọng như thế, chỉ đành đáp tạ. Trương Đan Phong trải qua nhiều sóng gió, nay lại có thể đi cùng Vân Lối trong lòng sung sướng vô cùng.
Rồi chàng chèo thuyền ra xa, đến khi ngẩng đầu nhìn lên, thì chỉ thấy Đàm Đài Kính Minh vẫn còn đứng đấy nhìn theo mình.
Tuy Vân Lối cũng rất vui mừng, nhưng trong niềm vui của nàng vẫn vương vấn nỗi u sầu. Nỗi ám ảnh bức huyết thư đã nhạt phai, nhưng nỗi ám ảnh về lời hứa lúc nãy lại dấy lên trong lòng. Trương Đan Phong thấy Vân Lối âu sầu, cười rằng: “Tiểu huynh đệ, sao đệ chẳng cười!”
Vân Lối nhẹ vâng vê tà áo: “Có gì đáng cười?”
Trương Đan Phong nói: “Chúng ta có thể đi cùng nhau, chẳng phải vui hay sao?”
Vân Lối nói: “E rằng quãng đường này quá ngắn!”
Trương Đan Phong sửng người rồi hiểu ngay ý nàng, thế rồi nghĩ bụng: “Đúng thế, đường đời xa xôi đến thế, nhưng chúng ta chỉ đi cùng nhau một đoạn”. Thế rồi chàng mới nói: “Đệ không cần nói ta cũng đoán được ca ca của đệ nói gì, nhưng không cần lo lắng, ca ca của đệ đã hứa cho chúng ta đi cùng một đoạn, có lẽ sau này cũng sẽ cho chúng ta đi với nhau trên quãng đường dài hơn”.
Vân Lối nghe thế thì chợt nghĩ: “Chỉ mới một đêm mà ca ca quả nhiên đã đổi khác. Nếu trước đây, y nào chịu cho mình đi cùng Đan Phong? Y trước đây rất cố chấp, cứ đòi trả thù Trương Đan Phong, nhưng giờ đây hình như thù hận đã giảm đi không ít. Ôi, Đan Phong nói rất có lý, trên đời này thường có những điều mãi mãi không thể thay đổi được”. Thế rồi nàng chợt suy nghĩ: “Sáng hôm nay ca ca nói câu nào cũng là chân tình, chỉ e y không chịu nhượng bộ nữa”.
Lòng lại cứ rầu rĩ mãi không thôi, nhưng nàng cũng nghĩ lại, mình chưa bao giờ tính đến chuyện hôn nhân, chỉ cần hai người thường gặp mặt nhau, không coi nhau là kẻ thù thì nàng cảm thấy mãn nguyện.
Trương Đan Phong cứ mỉm cười nhìn nàng, chàng đã biết nàng đang nghĩ gì, cho nên không gọi nàng nữa, cứ để mặc cho nàng trầm tư.
Đến lúc trời chạng vạng, thì đã ra khỏi Thái Hồ, cả hai nghĩ lại ở Tô Châu một đêm. Trương Đan Phong khi lên núi Động Đình, đã gởi con Chiếu dạ sư tử mã cho một người chăm sóc. Lần này chàng trở về lấy ngựa, sáng hôm sao chàng cùng Vân Lối tiến lên phía Bắc, trên đường chỉ thấy xe ngựa chở lương đi không ngớt, rõ ràng việc quân đã rất nguy cấp. Hai người tiến vào Hà Bắc thì tình thế càng căng thẳng hơn, người lên phía Bắc rất ít, còn dân tránh nạn xuống phía Nam thì lại càng lúc càng nhiều, đi được hai ngày thì chỉ có hai người Trương,Vân tiếp tục đi lên phía Bắc, trên đường toàn gặp những người chạy nạn, già trẻ lớn bé gồng gánh nhau, tiếng kêu la í ới tạo nên cảnh tượng hỗn loạn của thời chiến tranh. Có người bảo quân Mông Cổ đã đánh vào Cư Dung quan, có người bảo, đã đánh vào huyện Hoài Nhu và Mật Vân (tức hai huyện phía Bắc của Bắc Kinh) có người bảo đã đánh đến Bát Đạt lĩnh, thậm chí có người còn bảo đã bao vây Bắc Kinh, dân chạy nạn nghe được Trương Đan Phong và Vân Lối đang chạy đến Bắc Kinh thì đều ngạc nhiên khuyên họ không nên nạp mạng. Trương Đan Phong lo lắng vô cùng, thế là bỏ đường lớn đi đường nhỏ, hai ngày sau thì chẳng thấy bóng người, nơi đây gần chiến trường nên dân đều bỏ chạy cả.
Hôm nay hai người Trương, Vân đến một ngôi làng nhỏ gần chân núi, tìm cả nửa ngày chỉ thấy một gia đình nông dân vẫn chưa bỏ chạy. Gia đình này chỉ có một bà lão với một thiếu niên, hai mẹ con sống dựa vào nhau, bà lão tuổi già sức yếu không thể đi được, người con lại không nỡ bỏ mẹ chạy một mình.
Trương Đan Phong gõ cửa xin ngủ nhờ, tuy thời loạn lạc nhưng bà lão cũng bảo con trai mình tiếp đãi, nhưng trong nhà chỉ còn vài hạt gạo, may mà Trương Đan Phong còn đem theo lương khô cho nên tặng lại một nữa cho họ, rồi lại xem bệnh cho bà lão, biết đó chỉ là bệnh bình thường, Trương Đan Phong lấy thuốc cho bà lão uống, quả nhiên thấy hiệu quả, đến khi hỏi tin tức chiến sự, họ cũng không rõ lắm, nhưng hai ngày trước nghe người chạy nạn đi qua đây nói thành Hoài Lai đã thất thu, mà thành Hoài Lai chỉ cách nơi này không qúa trăm dặm.
Lúc này Vân Lối đã cải dạng nam trang, bà lão nhường cho họ một căn phòng, nhưng cả hai người đang lo lắng việc nước nên chẳng thể nào ngủ được. Đến canh ba thì chợt nghe ầm một tiếng, cánh cửa gỗ bị đá bật ra, Trương Đan Phong vội vàng ngồi dậy chạy ra ngoài chỉ thấy một người ăn mặc theo kiểu võ quan, mặt đầy máu kẹp cổ thiếu niên, miệng gào thét: “Hãy mau thổi cơm, bằng không ta giết!”
Bà lão loạng choạng bước ra, kêu lên: “Ngài hãy thả con tôi ra trước”.
Viên võ quan ấy hừ một tiếng: “Được, ngươi hãy thổi cơm cho ta. Hay lắm, ở đây có hai thớt ngựa, ta sẽ lấy một con, còn con trai của bà hãy cõng đồ cho ta”.
Bà lão khóc lóc: “Thổi cơm thì được nhưng tôi có ba đứa con thì các ngài đã bắt mất hai đứa, giờ chỉ còn lại một đứa mong ngày giơ cao quý thủ tha cho nó”.
Võ quan ấy mắng: “Bà già này thật lẩm cẩm, quân Mông Cổ đã đánh vào, ai cũng phải ra trận” Thế rồi liếc mắt nhìn, chợt thấy Trương Đan Phong đứng ở góc nhà. Viên võ quan ấy cười lớn: “Mụ già đã nói dối, chẳng phải còn một tên đấy ư?”
Viên võ quan ấy vẫn nắm tay thiếu niên, nhảy bổ tới chụp Trương Đan Phong. Trương Đan Phong lạnh lùng liếc y nói: “Ngươi không ra trận mà trái lại bắt nạt bá tánh!” Thế rồi trở tay tung ra một cú đánh, Trương Đan Phong chỉ dùng ba phần công lực, chợt thấy viên võ quan ấy sử dựng công của phái Điểm Thương, nội công cũng rất hùng hậu, chàng rất kinh ngạc hạ người xuống tung một cước vào cổ tay của y.
Võ quan vội vàng thả thiến niên, quyền trái đẩy vào mũi chân của Trương Đan Phong, Trương Đan Phong đột nhiên nhả kình lực, chém nhẹ qua một bên, võ quan ấy kêu một tiếng ối chao ngã lăn xuống đất, chợt ngẩng đầu lên hỏi: “Ồ, ngươi chẳng phải là Trương Đan Phong đấy ư? Ngươi... ngươi hãy tha cho ta, đừng bắt ta về Mông Cổ”.
Trương Đan Phong nói: “Nói bậy, ai bắt ngươi về Mông Cổ?” Thế rồi kéo tay áo của y lên, lau vết máu trên mặt cho y, đến khi nhìn lại thì chàng ngạc nhiên, võ quan ấy chính là Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải.
Bà lão già thở phào, nói: “Quan gia này thật ngang ngược” Rồi chợt thở dài nói: “Ồ, y cũng rất đáng thương”.
Khang Siêu Hải đã trúng mấy mũi tên trên người, quần áo bê bếch máu, có hai mũi tên vẫn chưa rút ra, đôi mắt đã thất thần,rõ ràng rất mệt mỏi.
Trương Đan Phong nghĩ bụng: “Gã này cũng thật ghê gớm, đã bị thương sức cùng lực kiệt mà vẫn tiếp được hai chiêu của mình”.
Trương Đan Phong nhìn lại, chỉ thấy y bị thương ở bên ngoài, thế rồi nhẹ nhàng rút hai mũi tên ra, bôi thuốc kim sang cho y. Bà lão hỏi: “Quan gia này là bằng hữu của công tử ư?”
Trương Đan Phong hổ thẹn, thầm nhủ: “Nếu bọn họ biết người này là Đại nội tổng quản, Hoàng thượng cũng sẽ mất mặt”.
Bà lão bước vào thổi cơm, Trương Đan Phong nói: “Không cần. Các người hãy đi ngủ đi, để ta chăm sóc cho y”.
Thế rồi Khang Siêu Hải ngày trước đã từng hạ lệnh bắt Trương Đan Phong, lúc này thấy chàng chẳng nhớ thù, lại còn trị thương cho mình, nào dám nói nhiều. Đến khi cơm nước xong xuôi thì tinh thần cũng dần dần hồi phục. Trương Đan Phong hỏi: “Khang tổng quản, sao ông không chạy theo Hoàng thượng mà một mình về đây?”
Khang Siêu Hải nói: “Ôi, một lời khó nói hết. Tôi đi theo Hoàng thượng, năm mươi vạn đại quân của chúng ta đã tan vỡ, tôi không chạy cũng khó giữ mạng!”
Trương Đan Phong thất kinh, hỏi: “Cái gì? Ông đi theo Hoàng thượng kia mà? Chả lẽ quân Mông Cổ đã vào đến Bắc Kinh?”
Khang Siêu Hải nói: “Không, Hoàng thượng ngự giá thân chinh, giờ đây bị địch bao vây ngoài thành Hoài Lai”.
Trương Đan Phong càng ngạc nhiên hơn: “Cái gì? Hoàng thượng đã ngự giá thân chinh? Là ý của ai?”
Khang Siêu Hải nói: “Là ý của Vương công công”.
Trương Đan Phong cả giận vỗ bốp một chưởng, đánh gẫy mặt bàn, tức giận nói: “Tên thái giám Vương Chấn này thật độc ác!”
Khang Siêu Hải không dám lên tiếng, Vân Lối bước ra nói: “Huynh đừng tức giận, cứ hỏi y đã!”
Trương Đan Phong nói: “Tại sao không bảo Vu Khiêm lãnh binh?”
Khang Siêu Hải nói: “Tôi làm sao biết chuyện triều đình! Chỉ nghe bọn họ bảo Vu Khiêm là quan văn không thể cầm binh!”
Trương Đan Phong nói: “Hừ, bọn họ cầm binh thì thế nào?”
Khang Siêu Hải nói: “Hoàng thượng cùng Vương công công cầm binh ra khỏi Bắc Kinh vào ngày mười sáu tháng bảy, đến ngày nười chín thì vượt Cư Dung quan, đến ngày hai mươi ba thì đến Tuyên Phủ, ngày mùng một tháng tám vào đến thành Đại Đồng. Lúc đó mưa to gió lớn suốt mấy ngày, quân sĩ không có áo chống rét, đã chết mấy vạn người ở thành Đại Đồng, chưa gặp kẻ địch thì đã rối loạn. Binh bộ thượng thư Quảng Trần ngã ngựa trọng thương, hộ bộ thượng thư Vương Tả dâng tấu xin lui binh, Vương công công không chịu, trong lúc hành quân đã trừng phạt ông ta. Ngày mùng hai tháng tám tiên phong Thạch Thưởng giao chiến với quân Ngõa Thích, toàn quân bị đánh thua to, quan Tổng binh là Võ tiến bá Chu Miễn, Tổng đốc quân vụ của thành Đại Đồng là Tây Ninh hầu Tống Anh lần lượt chết trận. Tổng binh của Đại Đồng là Quách Đăng khuyên Hoàng thượng từ Tử kinh quang rút lui về, Vương công công không nghe. Vương công công là người Úy Châu, ông ta mời nhà vua đến phủ đệ của mình, chỉ huy đại quân tiến về Úy Châu, đi được bốn mươi dặm, lại đột nhiên ra lệnh cho đại quân chuyển sang phía Đông, bảo rằng sợ quân Ngõa phá hủy vườn tược của mình, vì thế theo đường cũ trở về Tuyên Phủ. Ngày mùng mười về đến Tuyên Phủ, quân địch cũng đã đuổi tới, trong cuộc chiến ở dãy Giao Lĩnh, toàn quân tan rã mấy ngày trước, Hoàng thượng chạy đến thành thành Thổ Mộc, quân tiên phong của địch đã từ đường nhỏ quay trở lại bao vây”.
Trương Đan Phong càng nghe càng bực, lần này ngự giá thân chinh, việc hành quân và rút lui đều do Vương Chấn sắp xếp, khiến cho quân Minh thua chẳng còn manh giáp. Chỉ nghe Khang Siêu Hải nói: “May mà tôi thấy thời cơ vẫn còn sớm, nhân lúc đêm tối đã thoát ra. Nếu không cũng bị bao vây ở thành Thổ Mộc, không chết vì tên bay đạn lạc cũng chết vì đói”.
Trương Đan Phong hừ một tiếng, chợt nói: “Ông đang mang theo thứ gì mà nặng đến thế?”
Khang Siêu Hải biến sắc, Trương Đan Phong chợt giật túi đồ trên lưng y ném xuống đất, toàn là vàng bạc châu báu. Trương Đan Phong cười lạnh: “Té ra ông bắt người để mang cho ông những thứ này”.
Khang Siêu Hải cười hềnh hệch, nói: “Những thứ này đều là Hoàng thượng ban tặng, chẳng phải đồ bất nghĩa. Nay được ngài ra tay tương cứu, chúng ta hãy chia đôi”.
Trương Đan Phong cười lạnh, mắng rằng: “Ông là Đại nội tổng quản, nhận ân điển của Hoàng thượng, Hoàng thượng đối với ông không tệ, sao trong lúc nguy nan lại bỏ chạy”.
Khang Siêu Hải ngạc nhiên, y biết Trương Đan Phong là kẻ thù của nhà vua, không ngờ chàng lại trách y như thế. Chỉ nghe Trương Đan Phong tiếp tục nói: “Đêm nay ông ở lại đây, ngày mai ta sẽ cùng ông đến thành Thổ Mộc”.
Khan Siêu Hải nói: “Đi nạp mạng à?”
Trương Đan Phong nói: “Ông ăn lộc của quốc gia, dù biết rõ sẽ chết cũng phải đành chịu! Huống chi chẳng phải một mình ông sẽ nạp mạng”.
KhangSiêu Hải tái mặt, đột nhiên cúi người xuống, nhặt châu báu lên Trương Đan Phong và Vân Lối thì cười lạnh, cũng mặt kệ y, có vài món châu báu lăng ra bên ngoài, gần chỗ hai con ngựa của Trương Đan Phong và Vân Lối. Khang Siêu Hải bò xuống bụng ngựa nhặt châu báu, y ngựa đột nhiên vọt dậy, vỗ vào cổ con ngựa trắng!.
Con Chiếu dạ sư tử mã hí dài, tung vó đá hậu, Trương Đan Phong quát lên: “Ngươi muốn gì?”
Trong lúc gấp gáp, Khang Siêu Hải không kìm chế nổi con ngựa trắng cho nên phóng lên lưng con ngựa của Vân Lối, cười lớn: “Khang Siêu Hải này còn muốn hưởng phước thêm vài năm nữa, xin thứ không thể chìu!” Thế rồi đâm đao vào lưng con ngựa, con ngựa đau đớn lồng lên, trong khoảnh khắc đã mất hút trong đêm tối.
Vân Lối nói: “Đại ca, hãy đuổi theo y!”
Trương Đan Phong lắc đầu: “Người như thế có đuổi theo cũng vô ích”. Thế rồi thở dài rầu rĩ ngồi xuống nói: “Năm xưa, Nhạc Vũ Mục nói rất hay, văn võ tham tiền, quan văn tham mạng làm sao có thể làm nên chuyện lớn? Nay quan văn quan võ đều tham tiền tiếc mạng như nhau, Vương Chấn chẳng kém gì Tần Cối, e rằng lịch sử của thời Tống sẽ lặp lại”.
Vân Lối: “Trong triều tuy có Tần Cối nhưng cũng có Nhạc Phi, lòng trung của Vu các lão chẳng kém gì Nhạc Võ Mục, đại ca đừng nản lòng”.
Trương Đan Phong nói: “Đáng tiếc ông ta không có binh quyền trong tay. Ta hận không mọc cánh bay về Bắc Kinh giúp cho ông ta một tay”.
Hai người nôn nóng lạ thường, nếu như trời sáng thì cáo biệt hai mẹ con bà lão, cùng nhau cưỡi ngựa mà đi. Đi không bao lâu thì chợt nghe ở phía trước có tiếng trống và tù và. Trương Đan Phong thúc ngựa lên đỉnh núi đưa mắt nhìn ra xa, chỉ thấy ở phía trước cờ hiệu Mông Cổ phất phới, Vân Lối cười khổ: “Không thể qua được!”
Trương Đan Phong nói: “Còn có cách”. Thế rồi bảo Vân Lối nấp ở trên núi, còn chàng thúc ngựa xuống núi xông thẳng vào trong trận địch. Vân Lối cả kinh thất sắc, chợt thấy Trương Đan Phong cùng hai võ quan Ngõa Thích quay trở lại, Vân Lối rất ngạc nhiên. Té ra Trương Đan Phong tinh thông tiếng Mông Cổ, lại còn giấu được một cây lệnh tiễn của quân Ngõa Thích, chàng giả mạo thành thám tử do quân Ngõa Thích phái đến ẩn nấp ở Trung Quốc, quả nhiên khiến cho hai võ quan ấy tin ngay. Trương Đan Phong nói ở rừng đồi núi gần đấy có người đáng ngờ, bảo họ cùng ra truy tìm, giữa đườngTrương Đan Phong ra tay đánh chết cả hai tên.
Nơi này lại cách chiến trường bảy tám dặm, phía trước quân Ngõa Thích tuy nhiều nhưng không ai biết.
Trương Đan Phong nói: “Chúng ta hãy cải trang thành võ quan Ngõa Thích, muội có còn nhớ tiếng Mông Cổ không?”
Vân Lối cười rằng: “Vẫn chưa quên. Không ngờ hôm nay lại phải sử dụng”.
Trương Đan Phong nói: “Ta đã dò hỏi kỹ càng, bọn họ là đội thứ ba trong hữu vệ quân, toán quân của họ hôm qua đã đánh một trận, hình như là gặp phải Ngự lâm quân của Trương Phong Phủ, cho nên thương vong mất tám chín phần, bọn họ đang được ghép vào đội khác, chúng ta cải trang thành bọn họ là hợp nhất. Hãy nhớ, đệ tên là Ha Hỏa, còn ta là Đạt Lai. Thế rồi hai người lột quần áo của hai võ quan Ngõa Thích, tuy không vừa người lắm nhưng cũng có thể che đậy được. Hai người mai phục ở trên núi, để đến tối thì mới len lén trở ra, thúc ngựa tiến vào doanh trại của quân Ngõa Thích. Trương Đan Phong hiểu rõ tình hình của quân Ngõa Thích, sau khi thắng trận quân Ngõa Thích lại không phòng bị kỹ càng, thế là hai người lừa được bọn họ.
Sáng sớm hôm sau, quân Ngõa Thích xuất phát đến thành Thổ Mộc tăng viện, sau buổi cơm trưa thì đến chiến trường chỉ thấy quân Minh đã bị cắt thành nhiều nhóm nhỏ, tháo chạy tán loạn Trương Phong Phủ vừa nhìn vừa không khỏi thất sắc!”
Đó chính là:
Cát bụi bay sơn hà nguy biến, nam nhi ra trận thề chẳng cúi đầu.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Xem tiếp hồi 20
Hổ trướng man hoa tật tình đế uyên phổ
Thanh thu lệ ảnh diệu ngữ đính tâm minh
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:43 pm

Hồi 20
Hổ trướng man hoa tật tình đế uyên phổ
Thanh thu lệ ảnh diệu ngữ đính tâm minh

Chỉ nghe quân Ngõa Thích rúc tù và xung phong, tiếng trống vang lừng, ở trên đỉnh núi xuất hiện một lá cờ lớn có chữ “Soái” một người oai phong lẫm lẫm, thúc ngựa lên đỉnh núi giơ roi chỉ xa, đó chính là Thái sư Dã Tiên, kẻ nắm đại quyền trong quân Ngõa Thích. Quân Ngõa Thích chia nhau chặn đánh, đang lúc hỗn chiến, chợt thấy ở phía đông có một toán quân Minh phất lên ngọn cờ rồng, quân Ngõa Thích kêu lên: “Hoàng đế nhà Minh ở phía đó!”
Trương Đan Phong tức đến nỗi nghiến răng, nghĩ bụng: “Tên hoạn quan Vương Chấn này đúng là kẻ lòng lang dạ sói, sợ kẻ địch không biết Hoàng đế ở nơi ấy”.
Ngọn cờ rồng ấy là do Vương Chấn phất lên, có ý báo cho kẻ địch biết.
Hoàng đế Minh triều Chu Kỳ Trấn bị vây trong thành Thổ Mộc một ngày một đêm, còn đại quân thì sắp tan rã đến nơi. Đang bàn bạc với Trương Phong Phủ tìm cách đột phá vòng vây, chợt thấy Vương Chấn sắc mặt tái nhợt, tiến vào bảo: “Hoàng thượng, việc lớn không xong, quân thiết giáp của địch đã xông vào trận tiền, hãy mau bảo Trương thống lĩnh ra chống cự”.
Trương Phong Phủ nói: “Hoàng thượng đừng sợ, hôm nay dù thần có liều mạng cũng mở đường máu cho Hoàng thượng”. Trương Phong Phủ vội vàng ra khỏi trướng, Vương Chấn đột nhiên nở nụ cười gian xảo, nói: “Chúa thượng, hôm nay ngoại trừ chịu thiệt thòi đầu hàng, chúng ta chẳng còn đường sống nào khác, mong Hoàng thượng đến trại quân Ngõa Thích cầu hòa”.
Chu Kỳ Trấn cả kinh nói: “Sao ái khanh lại nói như thế?”
Vương Chấn đanh mặt quát: “Võ sĩ đâu?”
Võ sĩ tâm phúc của Vương Chấn xông tới bắt trói Hoàng đế. Trương Phong Phủ xông ra ngoài trướng, chợt thấy trong trận phất lên ngọn cờ rồng, lúc này mới biết đó là gian kế của Vương Chấn, khi định quay trở lại bảo vệ cho Hoàng đế thì quân Ngõa Thích đã xông tới, trong chớp mắt đã bị bao vây chặt.
Vân Lối kêu lên: “Đại ca, chúng ta hãy giết Vương Chấn cứu Hoàng đế”.
Họ đang đứng ở trung quân, phiá trước người đông như kiến cỏ, dù có ngưạ tốt cũng khó vượt qua. Trương Đan Phong cười khổ sở nói: “Hôm nay không thể liều mạng được. Chúng ta lên cao xem thử”.
Chỉ thấy Vương Chấn buộc Hoàng đế lên ngựa, đích thân cầm cờ trắng phất lên, có vài vệ sĩ trung thành với Hoàng đế đến cứu nhưng đều bị võ sĩ của Vương Chấn chặn lại, kẻ địch thấy thế thì xông lên.
Chợt nghe tiếng quát như sấm dậy, hộ vệ tướng quân Phàn Trung tít đôi chùy, từ xa phóng ngưạ tới, võ sĩ Ngõa Thích và Vương Chấn nhất thời phóng tên, Phàn Trung múa đôi chùy hộ ở trước người, trên vai và lưng của y đã bị trúng mười mấy mũi tên, nhưng y vẫn có gắng ngồi vững không ngã, lao thẳng đến như cơn gió.Vương Chấn thấy y thần oai lẫm lẫm thì bất giác kinh hoảng kêu lên: “Phàn tướng quân có gì hãy từ từ nói”.
Phàn Trung quát lớn: “Hôm nay ta sẽ trừ tên gian tặc cho hiên hạ!”
Thế là vung búa lên giáng xuống ngựa của Vương Chấn, nhưng trên người cũng đã bị trúng mấy đao. Phàn Trung cười ha hả trở trùy đập ngược vào đầu mình.
Quân Ngõa Thích dồn lên bắt sống Hoàng đế Minh triều. Dưới vó ngựa sắt, những quan đại thần đi cùng Hoàng đế như thượng thư Quảng Trần, Vương Tả, học sĩ Trương Ích, Anh quốc công Trương Bồ đều hy sinh, võ sĩ của Vương Chấn cũng chết mất tám chín phần. Đây là trận đau lòng nhất trong lịch sử triều Minh, sử sách sau này gọi là Thổ Mộc chi biến.
Trương Phong Phủ thấy Hoàng đế bị bắt thì phun một bún máu, trong khoảnh khắc đã chém chết mười mấy tên quân Ngõa Thích rơi xuống ngựa. Nhưng kẻ địch càng lúc càng đông tựa như bức tường đồng, không thể nào xông qua được. Trương Phong Phủ quát lớn: “Vua nhục tôi chết!”
Rồi vung đao cứa ngang cổ toan tự sát, chợt một mũi tên từ phía quân địch bắn tới trúng vào cổ tay, thanh đao rơi xuống đất, lập tức cũng bị bắt sống.
Quân Ngõa Thích thu được toàn thắng, giống trống thu binh, cắm trại trong thành Thổ Mộc. Giết bò mổ dê ăn mừng. Trương Đan Phong và Vân Lối cũng lẫn trong quân sĩ nghe bọn họ bàn bạc. Chỉ nghe một viên võ quan nói: “Đêm nay trong trướng chủ soái sẽ rất náo nhiệt, đáng tiếc ta chỉ là một thiên phu trưởng, chẳng có tư cách tham gia cuộc vui này”.
Một viên võ quan khác hỏi: “Có trò vui gì?”
Người lúc nãy trả lời: “Nghe nói đêm nay chủ soái của chúng ta sẽ buộc Hoàng đế Minh Triều hầu rượu, thật là hay!”
Một người lại bảo: “Hoàng đế Minh triều đã bị chúng ta bắt sống, ta thấy chiến sự cũng sắp kết thúc, chúng ta có thể về nhà ăn tết”.
Người khác bảo: “Chúng ta vẫn chưa tiến vào Bắc Kinh, Trung Hoa đất rộng người đông giết mãi không xong làm sao có thể dễ dàng kết thúc?”
Người lúc nãy cười rằng: “Người Hán ta coi vua như rồng, ngươi nghĩ xem bầy rồng không có đầu thì có thể làm trò trống gì? Nếu Hoàng đế này muốn giữ mạng thì phải ngoan Ngoãn đầu hàng chúng ta, nếu xảy ra mệnh lệnh chấp nhận làm thuộc quốc của chúng ta, lúc đó giang sơn triều Minh há chẳng phải thuộc về chúng ta rồi sao”.
Trương Đan Phong lo lắng như lửa đốt trong lòng, nghĩ bụng: “Nếu là thế thì thật đáng lo. Mong rằng Hoàng đế này chẳng phải là người tham sống sợ chết”.
Viên võ quan lúc nãy lại nói: “Quân triều Minh chẳng có gì đáng sợ, nhưng Kim Đao trại chủ ở bên ngoài Nhạn Môn quan mới là mối lo”.
Một người cười rằng: “Đại trại của y đã bị chúng ta san bằng, cha con Kim Đao lão tặc tuy trốn thoát nhưng cũng là mối lo bên ngoài mà thôi mà thôi. Nay đã có Đàm Đài tướng quân trấn giữ ở Nhạn Môn quan, y không thể nào làm loạn, cần gì phải sợ”.
Trương Đan Phong và Vân Lối nghe cha con Châu Kiện đều an toàn, lại biết tung tích của Đàm Đài Diệt Minh, trong lòng mới hơi an ủi.
Lại nói sao khi vua nhà Minh Chu Kỳ Trấn bị bắt, Dã Tiên đã nhốt y trong trại, bên ngoài lại có ba lớp phòng vệ, trong trại lại có ba võ sĩ võ công cao cường canh giữ, trong đó có một người là hổ tướng dưới trướng của Dã Tiên tên gọi Nghạch Cát Đa, kẻ này không những xưng hùng miền Mạc Bắc với bảy mươi hai đường Phong Lôi kiếm, y cũng còn là kẻ rất cảnh giác. Chu Kỳ Trấn vốn là Hoàng đế của nhà Minh, chỉ trong khoảnh khắc đã biến thành kẻ tù binh Ngõa Thích trong lòng vừa hổ thẹn, vừa tức giận, vừa hối hận, nghe nói Dã Tiên đêm nay sẽ buộc y hầu rượu, trong lòng rất lo lắng, đang nghĩ cách để không đi dự tiệc tối nay. Nếu đến dự thì chẳng khác gì hai vua Huy Tông và Khâm Tông thời nhà Tống đã bị quân Nguyên bắt giữ, không những làm nhục quốc thể mà sau này sẽ bị hậu thế cười chê, nhưng nếu không đi thì lại nguy hiểm đến tính mạng, trong lòng đang rất bồn chồn.
Chợt nghe bên ngoài truớng có người nói: “Thái sư mời Ngạch Cát Đa tướng quân đến Trại chủ soái nói chuyện”.
Một võ quan cầm lệnh tiễn bước vào, Ngạch Cát Đa rất cẩn thận, cầm cây lệnh tiễn kiểm tra, quả nhiên đó là lệnh tiễn cao nhất trong quân, bởi vì loại lệnh tiễn này do vua ban tặng, được làm bằng lục ngọc. Ngạch Cát Đa tưởng rằng Dã Tiên có chuyện gấp cần hỏi cho nên cầm lệnh tiễn vội vàng bước đi.
Tên võ quan truyền lệnh thấy Ngạch Cát Đa vừa ra khỏi trướng, đột nhiên xoay người vung tay đánh mạnh vào eo hai tên võ sĩ còn lại, thủ pháp của y rất nhanh, hai tên võ sĩ tuy là cao thủ trong nhưng cũng không thể nào chống đỡ nổi đòn bất ngờ này, thế là lập tức đổ xuống đất. Võ quan ấy mỉm cười, bỏ mũ xuống nói: “Hoàng thượng, người có nhận ra tôi không?”
Kẻ này chính là Trương Đan Phong, Hoàng đế Chu Kỳ Trấn mở mắt, thấy thế thì ngạc nhiên. Trương Đan Phong nói: “Khi tỷ võ ở lôi đài, tôi đã tặng cho ngài một bức thư, ngài đã xem chưa?”
Hoàng đế run rẩy nói: “Ngươi chính là Trương Đan Phong?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, tôi chính là kẻ thù mà ngài muốn truy bắt”.
Hoàng đế nói: “Hay lắm, hôm nay ta đã rơi vào tay ngươi, ngươi hãy mau mau giết ta cho xong”.
Trương Đan Phong cười: “Tôi muốn giết ngài thì cần gì đợi đến hôm nay? Tôi tuy mặc Hồ phục nhưng vẫn là người Hán”.
Hoàng đế nói: “Vậy ngươi hãy cứu ta ra”.
Bên ngoài lớp lớp phòng vệ, muốn cứu y ra nào phải dễ dàng. Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Hoàng thượng, hôm nay chỉ có người mới tự cứu nổi mình”.
Hoàng đế nói: “Sao lại nói thế?”
Trương Đan Phong nói: “Đêm nay Dã Tiên chắc chắn sẽ buộc người đầu hàng, nếu người đầu hàng không những sẽ đánh mất giang sơn chín vạn dặm của nhà Minh, mà cũng khó giữ mạng. Nếu ngài không đầu hàng Vu Khiêm chắc chắn sẽ tụ tập nghĩa quân tiếp tục chiến đấu. Trong nước Ngõa Thích nội bộ bất hòa, Dã Tiên phải lo chuyện cả trong lẫn ngoài, y phải kiêng dè, ngài hãy cứ chịu đựng cái khổ nhất thời, không những có thể giữ được giang sơn mà sau này chúng tôi cũng có cách cứu ngày. Ngài không phải là kẻ u tối, chắc cũng có thể hiểu những điều tôi nói”.
Hoàng đế trầm ngâm không nói. Trương Đan Phong bảo: “Tôi đã lấy được bảo tàng và địa đồ của tổ tiên tôi, trong ngày hôm nay sẽ đưa đến kinh sư, tôi chắc chắn sẽ giúp Vu Khiêm, việc nước đã có người lo, ngài đừng nghĩ ngợi nhiều!”
Ánh mắt Trương Đan Phong sáng quắc, có vẻ rất quyết đoán khiến cho người ta tin phục, Chu Kỳ Trấn mấp máy môi tựa như muốn nói điều gì đó, nhưng đột nhiên im lặng. Trương Đan Phong lại mở mắt, nói: “Đại thần Vân Tĩnh của ngài chăn ngựa ở đất Hồ hai mươi năm mà không hề khuất phục, ngài là vua của một nước sao không bằng kẻ tôi thần của mình?”
Hoàng đế nói: “Được, ta cũng chẳng muốn sống nữa, nghe lời ngươi là xong”.
Trương Phong Phủ định nói tiếp, chợt nghe soạt một tiếng, tấm trướng bị xé làm đôi, chỉ thấy Ngạch Cát Đa lướt thẳng vào như cơn gió, quát lớn rằng: “Tên giặc lớn gan, hãy nếm một kiếm của ta”.
Rồi vung ra một kiếm đâm thẳng vào cổ họng Trương Đan Phong. Trương Đan Phong biết giả truyền lệnh tiễn chỉ có thể giấu được một lúc, nhưng không ngờ Ngạch Cát Đa lại quay lại nhanh đến thế!.
Té ra Ngạch Cát Đa hết sức rất cảnh giác, vừa mới bước ra khỏi trướng thì chợt nghĩ: “Thái sư bảo mìmh canh giữ Hoàng đế Minh triều, chuyện này quan trọng đến mức nào, có lý gì lại bảo mình ra ngoài? Vả lại tên võ quan truyền lệnh tiễn rất lạ mặt, nếu thật sự là Thái sư truyền lệnh, ông ta sẽ sai người thân tín mới đúng. Mà kẻ này truyền xong lệnh tiễn thì không chịu đi ra với mình, thật là đáng ngờ”.
Càng nghĩ càng cảm thấy không xong thế là vội vàng quay lại, lập tức xé bức trướng ra, chỉ thấy hai phó thủ của mình đều ngả xuống đất rõ ràng đã bị kẻ địch điểm huyệt đạo, tên võ quan này chắc chắn là gian tế, cho nên không hỏi đã xuất chiêu.
Y đâm nhát kiếm ấy ra rất nhanh, Trương Đan Phong thầm than: “Phong Lôi kiếm pháp quả nhiên danh bất hư truyền”.
Thế là cúi đầu né qua, nào ngờ Phong Lôi kiếm pháp của Ngạc Cát Đa nhanh tựa như gió bão, hết chiêu này đến chiêu khác hiểm hóc vô cùng, căn lều này chẳng qua rộng chỉ có một trượng, Trương Đan Phong thi triển khinh công tuyệt đỉnh tránh phải né trái cũng cảm thấy cũng rất khó ứng phó. Bên ngoài trại tiếng người huyên náo, viện binh của Ngạch Cát Đa trong chớp mắt đã kéo tới.
Ngạch Cát Đa đã chém trúng mũ của Trương Đan Phong, chợt thấy mũi kiếm trượt qua, đâm chếch sang một bên. Té ra Trương Đan Phong trong lúc nguy cấp đã mạo hiểm, cố ý để cho y chém trúng đầu, rồi nghiêng đầu qua một bên, hóa giải kình đạo của y, gạt kiếm y qua một bên. Chiêu này thật sự rất mạo hiểm, nếu không dùng lực hợp lý, công phu mượn lực không đến mức thượng thừa, thì với công lực của Ngạch Cát Đa cũng có thể chém nứt chiếc mũ ra, lúc đó chàng cũng khó giữ mạng.
Ngạch Cát Đa ngạc nhiên, Trương Đan Phong chỉ trong khoảnh khắc đã rút thanh Bạch Vân kiếm, trở tay chém lại, chỉ nghe keng một tiếng, kiếm của Ngạch Cát Đa đã bị chém mất một đoạn. Cây Thích hổ thanh phong trong tay Ngạch Cát Đa sắc bén lạ thường, nặng hơn kiếm người bình thường, không ngờ vừa mới chạm vào kiếm của Trương Đan Phong thì bị chặt thành hai đoạn, bất đồ cả kinh. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Trương Đan Phong vung ra một luồng kiếm quang, phóng người thẳng tới phía trước. Soạt một tiếng, chàng đã vạch trên trướng một đường, rồi chui tọt ra khỏi mái lều. Ngạch Cát Đa thấy Trương Đan Phong nhanh nhạy như thế thì không khỏi kinh ngạc: “Tên gian tế này sao lại giỏi công phu đến thế!”
Ngạch Cát Đa lập tức phóng vọt theo sau. Khi Trương Đan Phong đã lướt qua, Ngạch Cát Đa kêu lớn: “Bắt lại!”
Bèn đuổi gấp theo sau, chợt thấy mấy tiếng soạt soạt vang lên, Trương Đan Phong trở tay vung lên, một luồng ngân quang tỏa ra như mưa bão ở phía trước mặt. Đó chính là ám khí của Trương Đan Phong, Ngạch Cát Đa biết lợi hại, vội vàng múa tiếp thanh trường kiếm đến nỗi gió mưa không lọt, mấy món ám khí của Trương Đan Phong đều bị đánh dạt ra, nhưng chàng cũng đã vượt qua lớp trại thứ ba. Lúc này trời mới chạng vạng tối, võ sĩ Ngõa Thích đuổi theo sau, hàng ngàn mũi tên phóng về phía Trương Đan Phong. Trương Đan Phong không dám ngừng lại, chạy một mạch ra đến mười mấy lớp trại, Ngạch Cát Đa và bọn võ sĩ vẫn nối đuôi đuổi theo sau.
Khinh công của Trương Đan Phong hơn hẳn Ngạch Cát Đa, Ngạch Cát Đa biết không thể đuổi theo kịp chàng, nhưng quân Ngõa Thích đã rút tù và, võ sĩ ở các doanh trại đều đã xông ra, Trương Đan Phong đã trở thành mục tiêu của nhiều người, muốn chạy thoát càng khó khăn hơn. Trương Đan Phong vung kiếm gạt tên, luồn trái lách phải trong các doanh trại. Chỉ nghe tiếng tên lướt qua mình kêu lên vun vút.
Trương Đan Phong chạy được mấy mươi lớp trại, chợt thấy phía trước mặt có mảnh đất trống, ở nơi này đều đèn đuốc sáng trưng, ở trước mỗi trại đều có võ sĩ canh gác, Ngạch Cát Đa chạy ra, đuổi theo mình, Trương Đan Phong ngạc nhiên, theo chàng biết quân Ngõa Thích đã nhận được tin báo, người ở các trại đều đã chạy ra truy bắt chàng, nhưng quân bên này lại lơi lỏng như thế, lòng thầm nhủ: “Chả lẽ đây là trại chỉ huy của hai tên Thống soái?”
Trương Đan Phong rất thắc mắc, nhưng tình thế đang cấp bách không thể nghĩ nhiều, chàng lập tức nhảy ra mấy mươi trượng, chỉ thấy phía sau vẫn còn khoái mã đuổi theo. Trên mảnh đất trống mày có mười mấy đống cỏ, mỗi đống cỏ đều chất cao như một ngọn núi nhỏ, Trương Đan Phong nấp vào một đống cỏ lòng quyết định, nếu bọn chúng không phát hiện, thì đến khuya vắng người sẽ len lén chuồn đi. Nếu bọn chúng lụt soát trên đống cỏ này, chắc chắc sẽ phải có rất nhiều người, mình lại đang mặc võ phục của quân Ngõa Thích chắc chắn sẽ có cơ hội trà trộn vào rồi len lén chuồn ra.
Trương Đan Phong vừa mới nấp vào đống cỏ, chợt nghe tiếng cười vang lên, một vật cứng như sắt, lạnh như băng chạm vào lưng mình, một giọng nói trong trẻo vang lên: “Ta đã đợi ngươi rất lâu, ngươi không được động đậy, nếu ngươi cử động thì ta sẽ kêu lên”. Trương Đan Phong kinh hãi vô cùng, ở chiến trường sao lại có một thiếu nữ thế này? Nghe giọng điệu hình như nàng không có ác ý, thế là liền nói: “Được, ta không cử động!”
Thiếu nữ lại bật cười, ném cho chàng một bộ đồ, rồi nói: “Ngươi hãy thay bộ đồ này, lát nữa ta sẽ đến gặp ngươi”.
Nói rồi chui ra khỏi đống cỏ, tiếp theo là tiếng người ngựa rầm rộ, có người hỏi: “Cách cách, có thấy một võ quan chạy đến đây không?”
Thiếu nữ nói: “Thấy, y chạy rất nhanh, ta đuổi theo không kịp, ồ, y chạy về hướng này”.
Đám người ấy vội vàng hò hét đuổi theo, trong khoảnh khắc chẳng còn bóng người.
Nhờ ánh sáng trong trại hắt ra, Trương Đan Phong nhìn kỹ lại thì thấy bộ y phục này là của nữ kỵ sĩ Mông Cổ, người Mông Cổ và người Mãn Châu quen gọi phụ nữ trong hoàng thất là Cách cách, chàng vừa kinh hãi vừa thắc mắc, vì thoát hiểm chàng đành phải giả làm nữ kỵ sĩ Mông Cổ, một hồi sau thiếu nữ ấy kêu lên: “Đã thay đồ chưa? Bây giờ xông ra đây”.
Trương Đan Phong cuộn bộ quần áo của mình nhét vào đống cỏ, chỉ nghe thiếu nữ ấy cười khúc khích: “Theo ta”.
Trương Đan Phong chỉ cảm thấy thiếu nữ này rất quen thuộc, tựa như đã gặp mặt ở đâu, trong nhất thời không nhớ nổi.
Thiếu nữ đi trước dẫn đường, bước vào trong lều, trong lều toàn là nữ binh, Trương Đan Phong lúc này mới vỡ lẽ, té ra đây là trại nữ binh, nữ binh sợ đụng chạm với bọn nam binh cho nên mới giữ ở đây không chạy ra truy bắt. Các nữ binh cứ đưa mắt nhìn Trương Đan Phong, tựa như rất ngạc nhiên, Trương Đan Phong bất giác cúi đầu trước ánh mắt của bọn họ. Chỉ nghe họ hỏi: “Cách cách đã về rồi đấy ư? Ở ngoài xảy ra chuyện gì thế”.
Thiếu nữ nói: “Nghe nói bắt một tên phi tặc, các người đừng nghĩ ngợi nhiều”.
Thế rồi họ chỉ dám đưa mắt nhìn Trương Đan Phong chứ không dám hỏi nhiều.
Thiếu nữ ấy dắt Trương Đan Phong vào trong một căn lều, vừa giở rèm ra chỉ nghe mùi thơm thoang thỏang, Trương Đan Phong nhìn lại trong lều chỉ đốt một lò đèn hương, bộ bàn ghế bằng ngọc, trên bàn còn có vài đóa hoa mơ, tuy là doanh trại nhưng tựa như khuê phòng của thiếu nữ, thiếu nữ ấy lột khăn đội đầu xuống, đưa mắt hỏi: “Đan Phong, huynh có nhận ra tôi không?”
Dưới ánh nến lung linh, chỉ thấy thiếu nữ này xinh đẹp rực rỡ, nàng nhoẻn miệng nhìn mình, Trương Đan Phong ngạc nhiên, chợt nhớ ra rồi nói: “Cô nương là Thoát Bất Hoa”.
Thiếu nữ gật đầu: “Đúng thế. Xa cách bao nhiêu năm, huynh còn nhớ đến tôi”.
Trương Đan Phong thầm kêu khổ. Thoát Bất Hoa chính là con gái của thống soái quân Ngõa Thích Dã Tiên, lúc còn bé họ đã chơi đùa bên nhau, đến năm chàng mười ba mười bốn tuổi thì vì Trương Tôn Châu và Dã Tiên bằng mặt mà không bằng lòng, cho nên đã ngăn không cho con cái qua lại với nhau nữa.
Chỉ nghe thiếu nữ cười khanh khách: “Nhớ lúc còn bé, có một ngày chúng ta đi săn, cùng nhau soi bóng ở suối Ngọc Cảnh, huynh bảo tôi giống con trai, tôi bảo huynh giống con gái, huynh có còn nhớ không?”
Trương Đan Phong đáp ậm ừ cho qua chuyện, thiếu nữ ấy đột nhiên kéo Trương Đan Phong đến trước tấm gương, cười nói: “Hôm nay huynh mặc áo quần của tôi, càng giống thiếu nữ hơn, huynh hãy nhìn xem”.
Trương Đan Phong đỏ mặt, thầm nhủ: “Vân Lối cải trang thành nam nhân, mình lại cải trang thành nữ nhân, nếu để nàng biết được chắc chắn sẽ cười mình”.
Thoát Bất Hoa mỉm cười, lại nói: “Trước khi xuất chinh, nghe nói huynh đã lẻn về Trung Quốc, Trương thừa tướng lại không chịu nói, chỉ tưởng rằng suốt đời này chúng ta không gặp lại nhau nữa, nào ngờ trời phù hộ, chúng ta lại có thể gặp nhau ở đây. Chúng ta đã nhiều năm không gặp, hôm nay huynh phải ở lại với tôi vài ngày”.
Trương Đan Phong ngạc nhiên nói: “Sao mà được?”
Thoát Bất Hoa nói: “Có gì mà không được? Đảm bảo không ai biết, dù có người biết thì họ cũng đều là tâm phúc của tôi, họ cũng chẳng dám nói điều gì?”
Trương Đan Phong xua tay, Thoát Bất Hoa biến sắc, nói: “Nếu huynh không chịu, tôi sẽ kêu lên cho mọi người cùng nghe?”
Trương Đan Phong nói: “Được, Cách cách cứ việc kêu lên, nói thật với Cách cách hôm nay tôi đã là kẻ địch của các người, Cách cách có thể trói tôi đem đến cho phụ thân của Cách cách. Tôi đã dám đến doanh trại của các người, vốn đã muốn liều chết”.
Thiếu nữ ấy nghe xong cười khanh khách, trong xinh đẹp vô ngần.
Trương Đan Phong giận dữ: “Cách cách cười cái gì?”
Thoát Bất Hoa nói: “Huynh vẫn giống như hồi còn bé, cứ thích đối chọi với tôi. Huynh bảo huynh là kẻ địch của tôi, tôi lại không coi huynh là kẻ địch. Lại nói huynh muốn liều mạng, chả lẽ huynh không nghĩ cho cha già của mình sao?”
Trương Đan Phong thất kinh, thầm nhủ: “Cha mình còn ở Ngõa Thích, không thoát nổi bàn tay của Dã Tiên. Vả lại sau này mình muốn gây nội loạn ở Ngõa Thích cũng phải nhờ cha giúp đỡ, mình phải tạm thời nuốt cái nhục hôm nay”.
Thoát Bất Hoa thấy chàng cúi đầu không nói, biết chàng đã chấp nhận, rồi lại cười rằng: “Thật ra ở đây có gì là không tốt? Huynh chẳng tìm được chỗ nào thoải mái hơn chỗ của tôi”.
Trương Đan Phong nhảy dựng lên: “Cái gì? Cách cách muốn tôi sống ở đây?”
Thoát Bất Hoa nói: “Không sống ở đây thì ở đâu? Chả lẽ huynh ra ngoài ở cùng bọn nữ binh hay sao?”
Trương Đan Phong cảm thấy rất khó xử, chàng nhớ lời Vân Lối thì trong lòng thầm kêu khổ.
Thoát Bất Hoa bảo người đem vào thùng nước nóng, nói: “Huynh hãy ra sau tắm rữa sạch sẽ, để khỏi bị người ta biết, huynh không còn lo lắng, chẳng ai nhìn huynh đâu?”
Thế rồi mở bức màn đẩy chàng vào, rồi lại kéo bức màn lại cười rằng, nói: “Huynh yên tâm lát nữa tôi sẽ nói chuyện lại với huynh”.
Trương Đan Phong thầm nghĩ kế thoát thân, nhưng suy đi nghĩ lại cũng chẳng có cách nào, chợt nghe bên ngoài có tiếng nữ binh bước vào báo: “Cách cách, Thái sư đến”.
Thoát Bất Hoa nói: “Mời người vào”.
Nữ binh ấy vừa bước ra khỏi trại, Thoát Bất Hoa lại cười khanh khách: “Huynh đừng lên tiếng, tôi sẽ cũng chẳng nói gì đâu”.
Trương Đan Phong có thể nghe thấy tim mình đang đập thình thình, một lát sau tiếng bước chân của Dã Tiên đã vọng vào, Thoát Bất Hoa hỏi: “Cha, nghe nói đêm nay Hoàng đế nhà Minh sẽ hầu rượu cho cha, sao cha lại rảnh đến đây thăm con? Có chuyện gì thế? Cha, hình như cha không vui lắm?”
Trương Đan Phong nín thở, chỉ nghe Dã Tiên nói: “Chuyện hôm nay quả thật rất bất ngờ!”
Thoát Bất Hoa nói: “Sao?”
Dã Tiên nói: “Cha tưởng Hoàng đế Minh triều chắc chắn tham sống sợ chết, chỉ cần y đầu hàng, chúng ta có thể uy hiếp Thiên tử đã ra lệnh cho triều thần nhà Minh, lúc đó cũng sẽ dễ dàng lấy giang sơn của nhà Minh, nào ngờ y dám chống lệnh không chịu đến dự yến”.
Thoát Bất Hoa ngạc nhiên nói: “Y lớn gan như thế sao?”
Dã Tiên nói: “Đúng thế, ta cũng không ngờ”.
Trương Đan Phong nghe thấy thì thầm mừng, nghĩ bụng: “Chu Kỳ Trấn coi như cũng có chút chí khí, tốt hơn hai vua Huy Tông và Khâm Tông thời nhà Tống cũng không uổng phí công mình”.
Chỉ nghe Dã Tiên lại nói tiếp: “Giết y thì dễ, nhưng sau đó chỉ e sẽ chọc giận sĩ khí của Minh triều, chiến tranh kéo dài cũng chẳng có lợi cho chúng ta. Nghe nói A Thích đã âm thầm chiêu binh mãi mã trong nước, hình như nhưng lúc ta xuất chinh, âm mưu đoạt quyền bính của ta, ta thật sự không yên tâm”.
Thoát Bất Hoa nói: “Cha có võ công trùm đời, cần gì phải lo. Hơn nữa hôm nay chúng ta toàn thắng, càng không nên nói những lời xui xẻo như thế”.
Dã Tiên cười rằng: “Con nói phải lắm. Ta sẽ cho con biết một chuyện vui. Con đã còn nhớ con trai của Trương Tôn Châu hay không?”
Trương Đan Phong nghe nói thì không khỏi cả kinh.
Thoát Bất Hoa nói: “Sao?”
Dã Tiên nói: “Trương Tôn Châu tuy không chịu nói, nhưng ta đã dò hỏi biết được y trở về Trung Quốc, chỉ là chuyện này khiến cho ta nghi ngờ”.
Thoát Bất Hoa nói: “Cha nghi ngờ gì?”
Dã Tiên nói: “Mấy đời nhà họ Trương có mối thù với Hoàng đế triều Minh, theo lý Trương Đan Phong không thể nào giúp đỡ cho kẻ địch. Nhưng từ ngày ta khởi binh đến nay đã một tháng, nếu Trương Đan Phong đang ở Trung Quốc, tại sao không đến gặp ta? Đây chẳng phải là cơ hội tốt cho y trả thù hay sao?”
Thoát Bất Hoa nói: “Có lẽ đường xa xôi trắc trở không thể đến đây được, sau khi cha đã bình định xong Trung Hoa, lo gì không tìm được y?”
Dã Tiên cười rằng: “Đương nhiên là thế. Ta đưa binh vào Trung Quốc là muốn bắt hai người”.
Thoát Bất Hoa nói: “Hai người nào?”
Dã Tiên nói: “Người đầu tiên là Hoàng đế nhà Minh, bắt được y thì dù y có đầu hàng hay không, giang sơn đại Minh sớm muộn cũng lọt vào tay ta”.
Thoát Bất Hoa nói: “Còn người thứ hai?”
Dã Tiên nói: “Người thứ hai chính là Trương Đan Phong”.
Thoát Bất Hoa nói: “Cha bắt y để trị tội y lén trở về Trung Quốc”.
Dã Tiên nói: “Phải, mà cũng không phải”.
Thoát Bất Hoa nói: “Tại sao lại nói như thế?”
Dã Tiên nói: “Trương Đan Phong văn võ toàn tài có thể dùng được, nếu đã tìm được y, y không chịu đầu hàng thì ta sẽ trị tội y lẻn về Trung Quốc, giết chết y để phòng ngừa hậu hoạn”.
Thoát Bất Hoa kêu lên: “Như thế chẳng phải quá độc ác hay sao?”
Dã Tiên cười rằng: “Y có thù với Triều Minh, chắc chắn sẽ huy thuận chúng ta, đó cũng chính là chuyện vui của con”.
Thoát Bất Hoa tỏ vẻ e thẹn, nàng đỏ mặt nói: “Cha lại cười con rồi”.
Dã Tiên cả cười nói: “Cha chẳng phải là kẻ ngốc, đã thấy con thích tên tiểu tử Trương Đan Phong, năm nay con đã hai mươi ba tuổi, theo quy cách của Ngõa Thích chúng ta thì con đã sớm sinh cháu cho ta bồng, bao nhiêu vương tôn công tử mà con không chịu, cha cũng không ép con, đó là bởi vì cha biết con đợi Trương Đan Phong. Được, cha sẽ giúp con được như ý muốn”.
Thoát Bất Hoa mừng rỡ, cúi đầu không nói gì.
Dã Tiên chợt nói: “Tên phi tặc đêm nay thật lớn gan, dám lén vào hộ trướng, mưu toan cướp vua nhà Minh, lại còn có Lục ngọc lệnh tiễn, cho nên ta có chút nghi ngờ”.
Thoát Bất Hoa nói: “Nghi ngờ ai?”
Dã Tiên nói: “Ta nghi ngờ đó chính là Trương Đan Phong”.
Thoát Bất Hoa nói: “Cha chẳng phải đã nói nhà y có thù với vua nhà Minh hay sao?”
Dã Tiên nói: “Cho nên ta cũng chưa dám đoán chắc đó là y, theo ta biết, tiên đế đã ban Lục ngọc lệnh tiễn cho ba người, một người là cha, một người là Trương Tôn Châu, người kia là thân vương A Thích, cho nên tên phi tặc đêm nay nếu không phải là Trương Đan Phong thì là người của thân vương A Thích, có lẽ y muốn cướp Hoàng đế nhà Minh để tranh bá với ta. May mà chuyện này không khó điều tra, sau này ta trở về nước chắc chắn sẽ tìm cho ra lẽ. Nếu đó là do Trương Đan Phong, ta tuy yêu thương y nhưng chắc chắn sẽ giết y”.
Thoát Bất Hoa nghe xong thì thầm kêu nguy hiểm!
Rồi nàng nghĩ bụng: “May mà mình vẫn chưa nói tung tích của Trương Đan Phong ra”.
Dã Tiên quay đầu lại bước đến rót chén trà trên bàn ngọc, liếc mắt nhìn thì chợt thấy trong trướng lay động, Dã Tiên đứng dậy, quát: “Trong trướng có ai?”
Đến khi quay đầu lại thì thấy Thoát Bất Hoa phe phẩy cây quạt cười rằng: “Làm gì có người? Cha, chắc cha lo lắng quá cho nên cứ nghi thần nghi quỷ?” Dã Tiên biến sắc, đột nhiên cười ha hả.
Thoát Bất Hoa cũng rất bình tĩnh, cứ quạt mạnh cây quạt, chỉ nghe Dã Tiên cười rằng: “Khí hậu Trung Hoa khác hẳn Mông Cổ chúng ta, ở Mông Cổ đến tháng chín là tuyết đã rơi, còn ở đây vẫn nóng nực. Té ra là con đang quạt, khiến cho ta lo lắng”.
Nói xong thì cười ha hả. Y không biết rằng, Thoát Bất Hoa đã nhìn thấy bức trướng lay động trước, cho nên mới cầm cây quạt, quạt lấy quạt để. Chì vì nàng ra tay nhanh nên Dã Tiên không nhận ra.
Thoát Bất Hoa thầm trách Trương Đan Phong không cẩn thận, chỉ nghe Dã Tiên lại nói: “Nay ta sẽ truyền lệnh cho toàn quân, nếu không có loan thư do chính tay ta viết, đóng ấn tướng quân, không ai được đến gần Hoàng đế triều Minh. Ta lại sai thêm mười hai võ sĩ trong quân đến phòng vệ, bất cứ tên phi tặc có bản lĩnh to bằng trời cũng không thể xông vào lần nữa. Ta đã nghe Đàm Đài Diệt Minh nhắc đến Thống lĩnh Ngự lâm quân Trương Phong Phủ của nhà Minh, y quả là một hảo hán, nếu có thể thu phục được y thì thật là tốt. May mà y bị trúng tên, không cần nhiều người canh gác, cho nên ta mới điều hai mươi võ sĩ đến canh giữ Hoàng đế nhà Minh”.
Thoát Bất Hoa chẳng muốn biết chuyện Trương Phong Phủ, nàng đang lo là hôn sự của mình với Trương Đan Phong, thế rồi hỏi: “Cha và Trương Tôn Châu có còn xích mích nữa không?”
Dã Tiên cười rằng: “Cũng chẳng có gì xích mích, sau này kết thành thân gia thì sẽ tốt hơn”. Rồi lại cười rằng: “Trương Tôn Châu không thể nào thoát khỏi bàn tay của ta. Mấy đời nhà họ Trương giúp nước ta xây dựng chế độ điển chương, coi như cũng có công lớn, nhưng chỉ vì bọn chúng cứ muốn mượn binh lực của Ngõa Thích chúng ta để khôi phục lại giang sơn đại Châu, nhưng sự đời nào dễ dàng như thế. Cho nên lần này ta để y trấn giữ trong nước. Cũng thật kỳ lạ, y ngày đêm mong muốn ngày khởi binh này, nhưng khi ta bảo y ở lại trấn giữ thì y không hề phản đối, xem ra còn rất vui, điều đó khiến cho ta thật khó đoán. Song y cũng là một bậc nhân tài, đợi ta bình định xong Trung Quốc, tự lập làm vua, lúc đó ta sẽ bảo y làm tể tướng cho ta. Con gái, cha làm Hoàng đế thì con chính là Công chúa!”
Chợt nghe bên ngoài trống đã đánh canh ba, Thoát Bất Hoa cười rằng: “Cha, thời gian không còn sớm nữa, cha cũng nên nghỉ ngơi. Ngày mai cha còn phải hành quân đến Bắc Kinh, cha làm Hoàng đế thì con mới có thể làm Công chúa được!”
Dã Tiên cười rằng: “Con nói phải”.
Thế rồi bước ra khỏi trại.
Dã Tiên vừa đi, Thoát Bất Hoa thở phào, chỉ cảm thấy mồ hôi lạnh toát ra, thế là vừa thay áo vừa cười rằng: “Trương đại ca, huynh có thấy cha tôi tốt với huynh bao nhiêu, huynh có thể yên tâm rồi!”
Trong trướng không hề có động tĩnh gì. Thoát Bất Hoa lại cười: “Cha tôi đã trở về rồi. Này, huynh hãy tắm mau lên, nếu không lại nhiễm lạnh, có cần thay một thùng nước nóng cho huynh không?”
Trong trướng chẳng có ai trả lời, Thoát Bất Hoa nói: “Này, sao huynh lại không màng đến tôi?”
Nhưng không ai trả lời. Thoát Bất Hoa nghía rồi bước đến gần, nàng đưa tay ra nhưng lại không dám kéo bức màn, chỉ sợ Trương Đan Phong đã cởi đồ, nếu nhìn thấy một người lõa lồ thì chẳng không hay ho tí nào. Thế rồi nàng lại gọi hai tiếng nữa, Trương Đan Phong vẫn không trả lời, Thoát Bất Hoa nổi giận, nghiến răng, kéo toạt bức màn ra!
Nàng đứng sững sờ nhìn, bởi vì Trương Đan Phong đã biến mất! Khi nhìn kỹ lại, chỉ thấy bức vách phía sau đã bị vạch ra, Trương Đan Phong chắc chắn đã chui ra từ lối này, Thoát Bất Hoa nổi giận, đến khi nhìn lại, chỉ thấy dưới đất có mấy dòng chữ: “Đội ơn cứu mạng, ngày sau sẽ trả, thời gian cấp bách không thể nói được nhiều chuyện, hai nước tương tranh chẳng phải là lúc luận quân tử, ta đi đây! Trương Đan Phong”.
Thoát Bất Hoa nổi giận đùng đùng, chạy ra khỏi trại, hỏi hai nữ binh canh giữ, thì biết Trương Đan Phong đã đi từ lâu.
Thoát Bất Hoa nói: “Tại sao các người không cản y lại!”
Nữ binh ấy nào biết Trương Đan Phong là một người đàn ông, thế rồi mới nói: “Nàng ta đi cùng Cách cách, Cách cách dặn chúng tôi không được nhiều lời. Nàng ta ra trở lại, chúng tôi nào dám ngăn cản”.
Thoát Bất Hoa nổi cơn thịnh nộ nhưng cũng chẳng dám làm lớn chuyện, lại nói sau khi Trương Phong Phủ bị bắt, người Ngõa Thích nhốt trong trại, trước cửa trại có hai võ sĩ canh giữ, Trương Phong Phủ thấy Hoàng đế nhà Minh bị bắt, một lòng muốn chết theo vua cho nên chẳng thèm ăn uống gì.
Võ sĩ Ngõa Thích cạy miệng y đổ nhân sâm vào, lại chăm sóc vết thương, Trương Phong Phủ chẳng qua chỉ bị thương ngoài da, không nghiêm trọng lắm khi uống nhân sâm, bôi thuốc nghỉ ngơi một hồi thì tinh thần dần dần hồi phục, lòng thầm nhủ: “Mình dù có chết cũng phải liều mạng với bọn chúng”.
Y bắt đầu chịu ăn cơm. Võ sĩ Ngõa Thích chỉ nghĩ rằng y đã hồi âm chuyển ý cho nên cả mừng. Nào ngờ Trương Phong Phủ giữ vững tinh thần, vận công lực bức đứt dây trói, chạy ra ngoài.
Sau canh ba, trại quân Ngõa Thích lặng như tờ. Ngoại trừ bọn vệ sĩ thay phiên nhau trực đêm, binh lính đã ngủ cả, Trương Phong Phủ thấy thời cơ đã đến, ngầm vận khí ở đan điền, hai tay vung lên, không ngờ cùm chân quá rắn chắc cho nên chỉ phát ra tiếng kêu lạch cạch.
Hai võ sĩ nghe thấy thì chạy vào quát: “Ngươi muốn làm gì?”
Trương Phong Phủ lại vận lực vung lên. Chỉ nghe bốp một tiếng, dây xích tay đã bị y giật đứt một mắc xích, hai võ sĩ cả kinh vung đao tiến tới kiềm chế y, Trương Phong Phủ quát lớn: “Ai đến gần ta sẽ chết!”. Thế rồi lao bổ tới, quật ngang sợi dây xích ra, hai tên võ sĩ thấy y quá hung dữ, không dám đến gần y, lại không dám giết y, chỉ đánh hờ một đao rồi nhảy lách sang bên trái, toan chặt đứt gân chân y, nào ngờ Trương Phong Phủ biết y có chiêu này, thế rồi ngả người ra, quét chân xuống đất một vòng, tên võ sĩ ấy kêu thảm, đầu gối đã bị cùm chân của Trương Phong Phủ quét trúng gẫy lìa.
Tên còn lại võ công cao hơn, cũng lanh lẹ hơn, thấy thế thì xông lên chém một đao. Trương Phong Phủ lăn xuống đất, hai chân quét ngang, võ sĩ ấy nhảy bật lên, chém ra ba đao liên hoàn, Trương Phong Phủ vẫn bị cùm chân, tay vẫn còn dính sợi dây xích cho nên né tránh khó khăn, tên võ sĩ ấy đã chém xuống xương tỳ bà của y, nếu trúng đao này Trương Phong Phủ chắc chắn sẽ thành phế nhân.
Chợt nghe ken một tiếng, thanh đao rơi xuống đất, Trương Phong Phủ rất ngạc nhiên, vội vàng nhảy bật dậy, chỉ thấy có hai võ sĩ che mặt phóng vào như cơn lốc!
Võ sĩ trong tại cả mừng kêu lên: “Hãy mau kiềm chế tên tù nhân này!”
Rồi nhảy vọt tới cúi mình nhặt thanh đao, nào ngờ hai võ sĩ che mặt chẳng nói lời nào,vung kiếm chém tên võ sĩ ấy thành hai đoạn!
Trương Phong Phủ cả mừng kêu lên: “Là huynh?”
Hai võ sĩ che mặt kéo khăn mặt ra một bên, cười rằng: “Đúng thế, là tôi!”
Hai người ấy chẳng phải ai khác mà chính là Trương Đan Phong và Vân Lối. Té ra Trương Đan Phong nghe Dã Tiên nói chuyện, biết việc canh phòng Trương Phong Phủ rất sơ sài, vì thế dùng diệu kế thoát khỏi thân, lại thay y phục của võ sĩ Mông Cổ, thi triển khinh công chạy ra thì gặp Vân Lối, cả hai cùng kéo đến đây.
Trương Đan Phong và Vân Lối vung kiếm, chỉ trong chớp mắt đã chặt đứt dây xích, chân tay và cùm chân của Trương Phong Phủ, lúc này đã nghe tiếng người la hét, xem ra sắp xông vào trong trại, Trương Phong Phủ cả cười nói: “Được, hôm nay chúng ta chết cũng có giá trị! Giết một tên thì đủ vốn, giết hai tên có lời, đêm nay ta phải kiếm một vốn mười lời mới được!”. Thế rồi cướp lấy một thanh đao, toan xông ra liều mạng, Trương Đan Phong đột nhiên vung tay, Trương Phong Phủ kinh hãi: “Ngươi... ngươi” vừa mới nói được hai chữ ngươi thì đôi mắt sụp xuống, lập tức ngã lăn ra đất. Vân Lối nhìn Trương Đan Phong, chỉ nghe Trương Đan Phong nói: “Đừng để y liều mạng!”
Thế rồi cõng Trương Phong Phủ cùng Vân Lối xông ra, chỉ thấy có vô số võ sĩ xông tới. Trương Đan Phong vung kiếm, vạch nữa hình vòng cung bên tay phải, Vân Lối cũng vung kiếm mở nữa hình vòng cung bên tay trái, hai kiếm hợp lại uy lực vô cùng, tạo thành một màng kiếm lạnh lẽo. Chỉ nghe tiếng binh khí giao nhau, tất cả những món binh khí chạm phải lưỡi kiếm của hai người đều bị chặt gẫy, bọn võ sĩ thấy thế thì đều dạt ra hai bên, hai người Trương, Vân lập tức xông ra phía trước.
Mười hai dũng sĩ lợi hại nhất trong quân Ngõa Thích đều đến canh giữ Hoàng đế Chu Kỳ Trấn, những kẻ ở đây có công phu khinh công kém xa hai người Trương, Vân, chỉ mở to mắt nhìn họ lướt qua mấy lớp trại, không ai có thể ngăn cản.
Trương Đan Phong mỉm cười, chím môi hít một tiếng sáo, chỉ nghe có riếng ngựa hí vang lên gần đó. Trương Đan Phong nói: “Hay lắm, chúng ta đã thoát hiểm!”
Vừa nói xong đã thấy con Chiếu dạ sư tư mã đứng ở phía trước chờ đợi chủ nhân. Lúc này đã sắp tới canh bốn, ngoại trừ võ sĩ trực đêm, số còn lại đều đã ngủ say, lại thêm Trương Đan Phong và Vân Lối chạy quá nhanh cho nên bọn chúng đuổi theo không kịp, Trương Đan Phong mang theo Trương Phong Phủ, cưỡi con ngựa trắng thoát khỏi nguy hiểm.
Trương Đan Phong buộc Trương Phong Phủ dưới bụng ngựa, cười rằng: “Cứ để y ngủ cho say”.
Té ra thủ pháp điểm huyệt của Trương Đan Phong rất thần kỳ, chàng chỉ điểm cho Trương Phong Phủ ngủ say chứ không làm tổn hại đến y. Trương Đan Phong làm thế là vì Trương Phong Phủ vừa mới được chữa trị vết thương, không thể nào liều mạng, dù có khuyên nhủ y cũng không chịu nghe, cho nên Trương Đan Phong chỉ đành làm thế.
Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, đệ hãy nhảy lên cho mau!”
Vân Lối hơi nấn ná rồi cuối cùng cũng phóng lên lưng ngựa, hai người cùng cưỡi một con ngựa, khó tránh va chạm nhau, Vân Lối thì cảm thấy hơi ấm tựa như từ người Trương Đan Phong truyền sang, nàng bất giác đỏ ửng mặt, lòng ngây ngất. Thớt ngựa trắng hí dài, chở ba người tung vó phóng về phía trước, quân địch tuy đuổi theo nhưng không kịp.
Chạy nửa canh giờ thì được ba bốn mươi dặm, quân địch đã ở phía sau. Trên đường cũng có kỵ binh Ngõa Thích tuần đêm, nghe tiếng ngăn cản nhưng nào có thể tránh được, hai người Trương, Vân.
Trương Đan Phong thoát hiểm, trong lòng đương nhiên vui mừng. Thớt ngựa đón gió mà chạy, mái tóc dài của Vân Lối bay bay theo gió, Trương Đan Phong ở phía sau bất giác thấy mái tóc của Vân Lối chạm vào cổ mình nhồn hột, bất giác bật cười. Vân Lối nói: “Đại ca, huynh cho ngựa chạy chậm lại được không?”
Trương Đan Phong buông cương ngựa, thớt ngựa chầm chậm tiến về phía trước, chỉ thấy vầng trăng tròn sáng vằng vặc ở đường chân trời. Ánh trăng dịu dàng tỏa xuống, xung quanh như được phủ một lớp sương mỏng, cảnh sắc đẹp đẽ vô cùng. Đến khi nhớ lại thì đêm nay là đêm trung thu, bất giác mỉm cười: “Tiểu huynh đệ, năm nay chúng ta ăn tết Trung Thu thật có ý nghĩa”.
Vân Lối cười rằng: “Đúng thế, tết Trung Thu còn gọi là tết đoàn viên, không ngờ huynh và con gái của Dã Tiên đêm nay cũng chính là người trăng đều đoàn viên?”.
Trương Đan Phong liếc mắt nhìn, chợt cảm thấy Vân Lối mỉm miệng cười, lòng xốn xang, chợt cười rằng: “Ở chiến trường cưỡi ngựa ngắm trăng, tiểu huynh đệ, mong rằng năm nào chúng ta cũng được như thế, đêm nay chính là người trăng đều đoàn viên, con gái của Dã Tiên đã ngưỡng mộ đệ mới phải”.
Câu nói chan chứa tình cảm của Trương Đan Phong, trái lại đã khiến Vân Lối bật cười, nàng đỏ mặt nói: “Đại ca, đại ca mà cười nữa, muội sẽ nhảy xuống ngựa không đi cùng với đại ca nữa”.
Trương Đan Phong quay đầu lại, chỉ thấy Vân Lối tựa như vui mừng tựa như giận dỗi, bất giác cõi lòng ngây ngất.
Hai người trải qua phong ba, vượt qua nguy hiểm, nên đêm nay có thể cùng nhau ngắm trăng, cho nên đều cảm thấy cuộc đời tươi đẹp biết bao.
Thớt ngựa chậm rãi vung vó, bất giác thấy đằng đông đã sắc trắng, hai người có thể thấy doanh trại quân Ngõa Thích thấp thoáng ở phía trước, quân chủ lực của Dã Tiên đang ở thành Thổ Mộc, quân tiên phong đã đến gần Bắc Kinh, cho nên cứ cách mỗi tám mười dặm thì có doanh trại của quân Ngõa Thích.
Trương Phong Phủ vẫn chưa tỉnh ngủ, Trương Đan Phong vỗ nhẹ vào người y, Trương Phong Phủ bừng tỉnh, mở mắt hỏi: “Đây là đâu?”
Trương Đan Phong nói: “Nơi đây cách thành Thổ Mộc khoảng một trăm dặm”.
Trương Phong Phủ thở dài: “Đan Phong, sao huynh không cho tôi chết vì vua?”
Trương Đan Phong nói: “Huynh chết là chyện nhỏ, nhưng ai cũng chết theo vua, vậy thì ai sẽ giữ giang sơn đại Minh? Hoàng đế chết thì có Hoàng đế khác, nếu giang sơn rơi vào tay quân giặc, thì trăm họ đều lầm than, huống chi Hoàng đế của huynh vẫn chưa chết!”
Trương Phong Phủ tự nhiên hiểu ra, lại hỏi: “Nhưng chúng ta làm thế nào trở về Bắc Kinh!”
Chính là:
Giao long tuy xuất hải, lửa chiến vẫn đầy trời.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Xem tiếp hồi 21
Đại lực trừ kẻ ác tướng quân tỏ lòng trung
Một lòng vì nước hiệp sĩ tới biên quan

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:43 pm

Hồi 21
Đại lực trừ kẻ ác tướng quân tỏ lòng trung
Một lòng vì nước hiệp sĩ tới biên quan


Chỉ nghe tiếng vó ngựa lộc cộc, té ra đó là hai kỵ binh Ngõa Thích đi tuần tra. Trương Đan Phong cười nói: “Đã có hai người này, tôi đảm bảo Trương đại ca sẽ về đến Bắc Kinh”.
Hai kỵ binh tuần tra thấy Trương Đan Phong và Vân Lối, đều ăn mặc kiểu võ quan Ngõa Thích, nhưng lại đi cùng võ quan người Hán, bất giác ngạc nhiên lắm, vội vàng chạy tới hỏi, Trương Đan Phong và Vân Lối rút soạt thanh kiếm, đến rơi binh khí trên tay hai người, kề kiếm vào cổ họ, Trương Đan Phong quát hỏi: “Ngươi muốn sống hay chết?”
Hai người ấy nói: “Muốn sống!”
Trương Đan Phong lại nói: “Được, tiểu huynh đệ, kéo kẻ này ra một trăm bước, hỏi khẩu lệnh hôm nay của y!”
Vân Lối kéo người này ra đến một trăm bước, chỉ nghe Trương Đan Phong cao giọng nói: “Được, bây giờ hãy hỏi khẩu lệnh của chúng, nếu hai người bọn chúng nói không giống nhau chắc chắn là giả, đệõ có thể giết chết y.
Trương Đan Phong có nội công thâm hậu, đứng từ xa một trăm bước mà nói rất to, người bình thường thì dù có kêu gào cũng không nghe cho rõ được.
Trương Phong Phủ rất khâm phục, nghĩ thầm: “Trương Đan Phong quả nhiên suy nghĩ chu đáo, nếu không tách bọn chúng ra, chúng sẽ nói khẩu lệnh giả, chúng ta cũng khó phân biệt”.
Trương Đan Phong hỏi xong khẩu lệnh thì hỏi Vân Lối,Vân Lối nói: “Y nói khẩu lệnh hôm nay là Thường Nga”.
Té ra quân Ngõa Thích cũng biết đêm qua là tết Trung Thu của người Hán, cho nên lấy hai chữ Thường Nga làm khẩu lệnh. Trương Đan Phong cười lạnh: “Bọn chúng không nói dối”.
Vân Lối kéo người ấy trở lại, Trương Đan Phong lột áo ngoài của chúng, trói cả hai tên lên góc cây gần đó: “Các người chịu thiệt thòi một lát, sẽ có đồng bọn đến cứu”.
Thế rồi bảo Trương Phong phủ thay đồ, rồi lại cướp chiến mã phóng đi.
C Trương Phong Phủ hiểu rõ địa hình, cho nên chỉ đi bằng đường nhỏ, né tránh đại quân Ngõa Thích, tuy trên đường gặp không ít quân Ngõa Thích tra hỏi, nhưng vì nói đã được khẩu lệnh cho nên chẳng gặp chuyện gì. Trước khi mặt trời lặn cả ba người khi đến ngoại ô Bắc Kinh. Quân Ngõa Thích đã lập trại bày trận ở ngoại ô Bắc Kinh, hai quân đắp lũy đối địch nhau, ở giữa là một mảnh đất trống. Bọn ba người Trương Phong Phủ mạo hiểm phóng tới, quân Minh phóng tên ào ào, ba người vừa gạt tên vừa chạy thẳng tới. Tướng đánh ở vòng ngoài Bắc Kinh là Phó thống lĩnh Ngự lâm quân Dương Oai và Xa kỵ đô uý Phàn Tuấn, Dương Oai nhận ra Trương Phong Phủ ở phía trước nên lập tức hạ lệnh ngừng bắn tên, đón cả ba người vào trong trại.
Trương Đan Phong chưa kịp nghỉ ngơi đã lập tức hỏi: “Sĩ khí trong quân thế nào?”
Dương Oai thì thầm nói: “Có lời đồn bảo rằng Hoàng đế bị bắt làm tù binh ở thành Thổ Mộc, thật không dám dấu, lòng quân có hơi dao động”.
Trương Đan Phong nói: “Hoàng thượng bị bắt không phải là lời đồn. Ông hãy mau đưa chúng tôi vào thành, gặp mặt Vu đại nhân”.
Phàn Tuấn nói: “Ca ca của tôi thế nào?”
Ca ca của y là Phàn Trung, Trương Phong Phủ nhỏ nước mắt mà nói: “Ca ca của ông đã khảng khái hy sinh, mong ông có thể nối chí, giữ vững kinh đô”.
Thế rồi kể lại chuyện Phàn Trung vung chùy đánh Vương Chấn, chết mà cũng không cúi đầu, mọi người đều rất cảm động.
Dương Oai mời ba người vào trong thay đồ, rồi lập tức đưa họ vào thành. Dân trong thành túm năm tụm ba dò hỏi tin chiến sự, ai nấy điều lộ vẻ bi phẫn. Trương Đan Phong và Vân Lối vội vàng chạy đến nhà Vu Khiêm, lúc này đã canh ba nhưng nhà Vu Khiêm đèn đuốc vẫn sáng trưng.
Trương Đan Phong gõ cửa cầu kiến. Trong chốc lát cửa lớn đã mở quản gia ra báo: “Đại nhân đang ở trung đường, mời ngài vào bên trong”.
Trương Đan Phong bước lên bậc thềm, chỉ thấy Vu Khiêm một mình đi qua đi lại trong sảnh đường, Trương Đan Phong nói: “Vu đại nhân, chúng tôi đã trở về”.
Vu Khiêm nói: “Ồ, các người đã về đấy ư?”
Nhưng vẫn không ngừng bước. Vân Lối ngạc nhiên nghĩ bụng: “Vu Khiêm và Trương Đan Phong là bạn vong niên, coi chúng ta như con cháu, tại sao hôm nay gặp lại mà lại lạnh lẽ thế?”. Rồi buộc miệng nói: “Chúng tôi đã mang tấm địa đồ trở về, còn có cả bảo tàng của tổ tiên Trương đại ca”.
Vu Khiêm tỏ vẻ hơi mừng, nhưng lập tức rầu rĩ trở lại: “Thế ư? Chỉ e đã quá muộn”.
Thế rồi vẫn đi qua đi lại trong sảnh đường. Trương Đan Phong biết ông ta có chuyện quan trọng khó quyết định, chàng ngửa mắt nhìn lên tường, thấy chính giữa có bài thơ bảy chữ, thơ rằng: “Ngàn vạn nhát búa ra khỏi núi, lửa cháy phừng phừng chẳng sợ chi, thịt nát xương tan chẳng hề gì, phải để thanh bạch ở nhân gian!”
Đây là bài thơ Vịnh đá vôi, góc bên trái phía dưới có một hàng chữ nhỏ: “Ngày quân Ngõa Thích vây thành, chợt nhớ lại bài thơ cũ, cảm động nên ghi ở đây, Vu Khiêm tự đề”.
Trương Đan Phong chợt lớn giọng nói: “Vu đại nhân, đã thịt nát xương tan chẳng sợ chi, sao lại sợ những lời nghị luận của bọn tiểu nhân”.
Vu Khiêm ngửa mặt thở dài, nói: “Hiền điệt, chỉ có một mình ngươi là hiểu ý ta. Chuyện này rất quan trọng, thịt nát xương tan là chuyện nhỏ, chỉ e ta sẽ mang nỗi oan này suốt đời”.
Trương Đan Phong nói: “Nay Thiên tử đã bị bắt, đại nhân suy nghĩ cho giang sơn đại Minh thì cần phải quyết đoán, dù cho ngày sau Hoàng đế có giáng tội, thịt nát xương tan, nhưng đại nhân cũng giữ được sự thanh bạch ở nhân gian, muôn năm nghìn đời vẫn sáng danh trong sử xanh, có điều gì đáng sợ nữa?”
Vu Khiêm nghe thế thì như giải được mối gút trong lòng, vỗ áo nói: “Hiền điệt nói phải. Ngày mai ta sẽ lập vua mới, giết hết nghịch đảng, đích thân đấp chiến cửu môn!”
Té ra Vu Khiêm nhận được tin Hoàng đế bị bắt, đã liệu đến việc quân Ngõa Thích uy hiếp Thiên tử, giờ đây chỉ còn một cách là lập vua khác để tỏ ra quyết tâm chống lại kẻ địch. Nhưng mình không phải là người trong hoàng thất, nếu ra mặt lập Hoàng đế thì sẽ gánh vác tránh nhiệm nặng nề. Ông cũng đoán truớc sẽ bị bọn gian đảng và người trong hoàng thất chỉ trích.Vả lại ngày sao nếu Hoàng đế trở về mà không tha thứ, chắc chắn cũng sẽ chịu họa diệt tộc. Cho nên ông đã suy nghĩ một ngày một đêm mà vẫn chưa quyết định, nay Trương Đan Phong phân tích lợi hại, khảng khái khuyên nhủ, Vu Khiêm mới gạt tất cả sang một bên đễ lo cho việc nước.
Ngày hôm sau Vu Khiêm tập hợp các đại thần chính trực trong triều, quyết định cách đối địch, trước tiên là lập em trai của Chu Kỳ Trấn là Chu Kỳ Ngọc làm Hoàng đế, tức là Minh Đại Tông, tôn Chu Kỳ Trấn là Thái thượng hoàng. Sau đó hạ lệnh giết hết vây cánh của Vương Chấn.
Kỳ Ngọc nối ngôi, đặt niên hiệu là Cảnh Thái, nghe theo kế sách của Vu Khiêm, trong một ngày đã giết hết hơn ba trăm vây cánh của Vương Chấn trong triều, lập tức phong cho Vu Khiêm làm Binh bộ thượng thư, Đề đốc chiến cửu môn, quân tâm phấn chấn, dân khí đằng đằng, một cuộc chiến bảo vệ kinh đô đã diễn ra ở Bắc Kinh.
Dã Tiên bắt được Hoàng đế triều Minh Chu Kỳ Trấn, vốn tưởng rằng có thể dễ dàng lấy được Bắc Kinh, sớm chiếm được Trung Nguyên, nào ngờ Vu Khiêm lập vua mới kêu gọi nghĩa binh trong thiên hạ, dấy binh Cần vương, Dã Tiên vừa kinh vừa sợ, lập tức xua quân tấn công Bắc Kinh. Ngày mùng chín tháng mười phá Tử Kinh quan, ngày mười một quân tiên phong đã đánh vào Tây Trực môn, Chu Kỳ Ngọc đã muốn giảng hòa, Vu Khiêm cực lực chủ chiến, một cuộc chiến năm ngày năm đêm diễn ra ở Bắc Kinh, quân Ngõa Thích tuy đã phá được Chương Nghĩa môn, Đức Thắng môn, nhưng quân sĩ giữ thành một mực tử chiến, hàng triệu dân Bắc Kinh không phân biệt già trẻ lớn bé, đều lên thành trợ chiến, cung tên không đủ, dân dỡ nhà mình, lấy gạch đá ném kẻ địch, quân Ngõa Thích tuy mạnh mẽ nhưng cũng phải núng thế. Đến ngày thứ sáu, có vài cánh quân Cần vương cũng vừa về tới nơi. Ngọn cờ quân Minh phất phới bay trên thành Bắc Kinh. Trương Phong Phủ từ bên cầm Ngự lâm quân xông ra, liên tục chém ba tên mãnh tướng, Vu Khiêm hạ lệnh một tiếng, quân dân trong thành Bắc Kinh mở cửa xông ra đánh địch. Dã Tiên e rằng cứ dằng co mãi, quân Minh kéo ra hết, lúc đo chắc chắn trong ngoài sẽ bị tấn công, đường về cũng bị quân Minh chặt đứt, thế rồi cân nhắc tình thế cho nên hạ lệnh lui quân, ngày mười một tháng mười quân Ngõa Thích đánh vào Tây Trực môn, đến ngày mười bảy tháng mười thì lui binh, thương vong bảy tám vạn người.
Ngày mười tám, ngoài thành Bắc Kinh sạch bóng giặc, những cánh nghĩa quân, từ Thông Châu, Hà Nam nối đuôi kéo vào thành, những cánh nghĩa quân này chỉ có vài vạn người rất nhỏ bé so với binh lực của quân Ngõa Thích, không ngờ nhờ vào sĩ khí của quân dân Bắc Kinh, huy thế tấn công cả trong lẫn ngoài khiến cho quân Ngõa Thích phải bỏ chạy khiến cho ai cũng vui mừng. Vu Khiêm tiếp đón các cánh nghĩa quân, phát hiện một cánh quân đã đến từ Giang Tô xa xôi, chỉ có mấy trăm người. Té ra cánh nghĩa quân này vốn là do Vân Trọng tổ chức với nồng cốt là trang đinh của Đàm Đài trang chủ, vốn có hơn một ngàn người, nhưng sau kịch chiến cho nên thương vong quá nửa, Vân Trọng cũng thất lạc trong cuộc chiến, giờ đây cánh nghĩa quân do Thiết Tý Kim Viên Long Trấn Phương xuất lệnh. Họ không phụ lòng Trương Đan Phong, quả nhiên đã đem bảo tàng của Trương Sĩ Thành về đến Bắc Kinh không sót một món nào.
Vu Khiêm vội vàng mời Thiết Tý Kim Viên Long Trấn Phương và Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử về nhà mình gặp Trương Đan Phong, Vân Lối, Vân Lối nghe ca ca mất tích, cả kinh thất sắc vội vàng hỏi tình hình. Thiết Tý Kim Viên nói: “Trong cuộc kịch chiến ngày hôm qua, Vân trạng nguyên bảo chúng tôi bảo vệ báu vật, mở một con đường máu, ông ta chặn hậu ở phía sau, chống kỵ binh cho chúng tôi, Đàm Đài cô nương suất lãnh hơn mười trang đinh yểm hộ ở bên cánh trái. Chúng tôi biết rõ nguy hiểm nhưng vì bảo vệ bảo tàng cũng nghe theo ý của y, Vân trạng nguyên và Đàm Đài cô nương bị quân Ngõa Thích chặn đánh, Vân trạng nguyên rất dũng mãnh, y sắp mở được một con đường máu, không ngờ nghe một tiếng tên bật lên, Đàm Đài cô nương trúng một mũi tên không xông ra được Vân trạng nguyên quay lại cứu nàng ta, thế là cả hai đều mất tích!”
Vân Lối nghe xong thì càng lo lắng hơn. Vu Khiêm nói: “May mà quân giặc đã lui, tôi sẽ lập tức sai người đến ngoại ô Bắc Kinh tìm kiếm”.
Vân Lối nghe xong thì hơi yên tâm, chỉ nghĩ đến ca ca trong lúc thiên quân vạn mã bao vây mà vẫn bảo vệ cho Đàm Đài Kính Minh, có thể thoát hiểm hay không vẫn cho biết, nhưng việc đã đến nước này cũng chỉ mong Vu Khiêm có thể tìm được ca ca cho mình.
Ngày hôm đó Vân Trọng quả nhiên nguy hiểm vô cùng, sau khi Đàm Đài Kính Minh trúng tên, Vân Trọng chạy đến lọt vào vòng vây. Vân Trọng múa tít thanh đao trên tay phải, nhốt Đàm Đài Kính Minh vào màn đao quang, tay trái vận công phu Kim Cương chưởng, kẻ địch nào đến sát người đều bị chàng đánh chết, trong lúc kịch chiến đã đánh chết mấy chục tên giặc, nhưng kẻ địch đông vô cùng, dần dần cảm thấy sức cùng lực kiệt.
Đang lúc nguy cấp, chợt nghe phía bên trận địch vang lên tiếng trống, tiếng tù và, kẻ địch đang bao vây bỗng dồn về phía trước.
Té ra quân dân trong thành đánh ra, Dã Tiên điều binh lên phía trước tăng viện, cho nên áp lực đối với Vân Trọng đương nhiên giảm nhẹ.
Vân Trọng không biết nguyên cớ này, vừa thấy như thế thì lập tức phóng ngựa chạy ra, bảo vệ cho Đàm Đài Kính Minh, nửa canh giờ sau thì đã chạy xa chiến trường. Vân Trọng thở phào, chợt thấy Đàm Đài Kính Minh mặt tái nhợt, Vân Trọng hỏi: “Sao thế?”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Không sao cả!”
Nhưng nàng chợt buông dây cương, người lắt lư như muốn đổ xuống khỏi lưng ngựa, Vân Trọng mỉm cười, dịu dàng hỏi: “Đàm Đài muội tử, trước đây khi ta bị thương được muội cứu chữa, muội từng bảo ta không nên ngang ngạnh, muội có còn nhớ không?”
Nói xong thì phóng qua lưng ngựa của Đàm Đài Kính Minh, giật dây cương rồi đỡ lấy Đàm Đài Kính Minh nói: “Đàm Đài muội tử, muội nghỉ ngơi một lát, chúng ta tìm nhà dân nấp vài ngày, rồi chúng ta lại vào kinh”.
Đàm Đài Kính Minh vốn chẳng có tình cảm gì với Vân Trọng, nhưng thấy chàng dịu dàng tử tế nên cũng dần dần cảm động.
Làng mạc gần chiến trường, tiêu điều chẳng còn bóng người. Vân Trọng lo lắng trong lòng, chợt thấy ở ngôi làng phía trước có một tòa nhà to lớn vẫn còn nguyên vẹn, mừng rỡ nói: “Trời không diệt được người, ở nơi này vẫn có người ở”.
Đàm Đài Kính Minh lắc đầu, nói: “Ngôi nhà đó e rằng chẳng có gì tốt lành, Vân huynh hãy cẩn thận”.
Vân Trọng nói: “Mặc kệ, có gì không tốt, muội hãy dưỡng thương trước đã”.
Thế rồi đỡ Đàm Đài Kính Minh xuống ngựa, đến gõ cửa, có người lớn tiếng hỏi: “Ai?”
Vân Trọng nghe giọng nói này rất quen thuộc, đáp rằng: “Tôi là nghĩa quân đến từ Giang Tô, xin nghỉ nhờ một lát!”
Cánh cửa mở kẹt ra, chỉ nghe người bên trong nói: “Té ra là Vân trạng nguyên”, giọng nói run run, tựa như vừa lo vừa mừng. Vân Trọng vừa nhìn thì thấy bên trong có hai người đứng sánh vai nhau, đó chính là Lộ Minh và Lộ Lượng.
Vân Trọng ngạc nhiên hỏi: “Hai vị sao lại ở đây?”
Lộ Minh nói: “Nửa tháng trước, tôi thấy quân giặc đánh vào, nên xin phép trở về hộ tống người nhà lánh nạn, không ngờ kẻ địch đến quá nhanh không trở về kinh được, cho nên tạm thời đành ở đây. Ồ, nữ anh hùng này cũng là nghĩa quân ư? Thật hiếm có, nàng ta đã bị thương? Hãy mau mau vào đây, chúng tôi có thuốc kim sang” Thế rồi dắt Vân Trọng vào trong hoa sảnh.
Lộ Minh nói: “Hai người hãy nghỉ ngơi, uống chén trà nóng trước”.
Thế rồi kêu người nhà dâng trà, Đàm Đài Kính Minh suy nghĩ rất chu đáo, thầm nhủ rằng: “Hai người này là võ sĩ trong cung, tại sao trong lúc kinh thành đang nguy cấp mà lại được phép về nhà? Vả lại nơi quân Ngõa Thích đi qua đều trở nên hoang tàn, tại sao nhà họ lại còn nguyên vẹn thế này?”
Rồi đưa mắt nhìn xung quanh, chỉ thấy trong sảnh có bày các loại binh khí thì càng nghi ngờ hơn. Lúc này Vân Trọng đã bưng chén trà, Đàm Đài Kính Minh vội vàng nháy mắt, Vân Trọng tựa như không hề biết, cứ kề chén trà lên môi, Đàm Đài Kính Minh lo lắng lắm, suýt nữa đã kêu lớn lên.
Chợt nghe bốp một tiếng, chén trà rơi xuống đất, Vân Trọng kêu lên: “Ối chao, không song, xin thứ cho tiểu đệ lở tay, xin hãy đổi một chén khác”.
Nói chưa xong thì đã thấy chén trà bốc khói, trong chén nào phải là trà, mà là chén độc dược! Thế là Vân Trọng đã xin nghi, chợt nghĩ lại Lộ Minh, Lộ Lượng là tâm phúc của Vương Chấn, Vân Trọng tuy chưa biết Vương Chấn bị Phàn Trung đánh chết như thế nào, nhưng thiên hạ ai cũng biết Vương Chấn là kẻ gian xảo, Đàm Đài Kính Minh không nháy mắt Vân Trọng cũng để ý.
Anh em nhà họ Lộ thấy âm mưu đã bại lộ, thế là quát lớn, tuốt ra binh khí bao vây Vân Trọng. Lộ Minh sử dụng một cây trường kiếm, Lộ Lượng sử dụng một cái thiết bài, thiết bài múa tít kêu lên vù vù, thanh trường kiếm cứ thập thò sau thiết bài, đánh vào ba mươi sáu đại huyệt của kẻ địch. Vân Trọng một tay thủ ở trước ngực, một tay cầm đơn đao nghênh địch, quát lớn: “Anh em nhà ngươi muốn tạo phản ư?”
Lộ Minh cười lớn: “Đúng thế, chính là tạo phản. Ngươi thật chẳng biết trời cao đất dày?”
Vân Trọng nói: “Sao?”
Lộ Lượng nói: “Ta hỏi ngươi đưa nghĩa quân vào vào kinh cung có phải là Cần vương hay không?”
Vân Trọng chém ra ba đao, chặn chiếc thiết bài lại và thanh trường kiếm, lớn giọng nói: “Điều đó đương nhiên!”
Lộ Lượng cười lớn bảo: “Hoàng đế của ngươi đã bị quân Ngõa Thích bắt làm tù binh. Lời xưa nói rấy hay, kẻ hiểu thời thế là bậc tuấn kiệt, ngươi hãy mau mau buông binh khí xuống đi theo bọn ta đầu hàng quân Ngõa Thích thì có thể giữ được công danh phú quý, bằng không ngươi là trạng nguyên của nhà Minh, dù ta không giết ngươi, ngươi cũng khó thoát!”
Vân Trọng phẫn nộ vô cùng, cố nén lửa giận trong lòng, cười lạnh nói: “Té ra hai vị là bậc tuấn kiệt hiểu thời thế, thất kính thất kính”.
Lộ Minh tưởng rằng Vân Trọng đã bị lay động, thế rồi bước lên hỏi: “Ý Vân huynh thế nào?”
Vân Trọng quát lớn: “Ta muốn lấy mạng chó của ngươi!”
Thế rồi chém mạnh một đao xuống, chỉ nghe soạt một tiếng, thanh trường kiếm của Lộ Minh gãy thành hai đoạn, Vân Trọng chém đao này rất mạnh, đà đao vẫn còn đánh keng một tiếng trên tấm thiết bài của Lộ Lượng, cả hai người đều cảm thấy hổ khẩu nóng rang.
Lộ Lượng tức giận nói: “Ngươi có bản lĩnh thế nào mà dám nói lời cuồng ngôn ấy!”
Thế rồi cổ tay xoay lại đẩy thiết bài ra, đánh một chiêu Thái Sơn Áp Đỉnh. Hỗn Nguyên bài pháp của nhà họ Lộ chủ yếu là đánh bằng thiết bài, khí lực của Lộ Lượng hơn hẳn Lộ Minh, thiết bài đè xuống ít nhất cũng có đến ngàn cân!.
Vân Trọng xoay cổ tay, chuyển sóng đao qua, chém keng một tiếng lên cái thiết bài, nhát kiếm này mạnh hơn lúc nãy, chỉ thấy lửa bắn lên tung tóe, thiết bài của Lộ Lượng đã mẻ mất một miếng, đao của Vân Trọng cũng cong lại. Hai bên đều thất kinh, mỗi bên thoái lui ba bước, Lộ Minh bước lên tấn công tiếp, ánh hào quang lóe lên, đâm thẳng về phía Đàm Đài Kính Minh, nàng ta đã bị trúng tên cho nên đôi tay rất yếu ớt, chỉ đỡ hờ một kiếm thì loạng choạng suýt nữa ngã xuống. Vân Trọng gầm lớn một xoay đau chém nhanh tới, chiếc thiết bài của Lộ Lượng lại đã đẩy tới, Vân Trọng liên tục chém ba đao, đẩy anh em nhà họ Lộ lui mấy bước. Đàm Đài Kính Minh đã chạy sang một góc, kêu lên: “Vân đại ca, huynh cứ giết địch, đừng lo cho tôi”.
Vân Trọng vung đao xông lên quay trở lại. Lộ Minh cười lạnh: “Ngươi đúng là không đến Hoàng Hà không cam lòng, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, ta sẽ cho ngươi biết lợi hại, khai kiếm”.
Thanh kiếm như thập thò như độc xà nhả nộc ở phía sau tấm thiết bài, mũi kiếm toàn chĩa vào chỗ yếu hại trên người Vân Trọng.
Vân Trọng triển khai đao pháp Ngũ Hổ Đoạn Môn thành một màn ngân quang che khắp người, chốc chốc lại phát chưởng trong màn đao quang, hai bên đều có công có thủ, trong căn sảnh nhỏ hẹp, đôi bên đều né tránh khó khăn, hầu như mỗi chiêu đều phải chạm nhau.
Lộ Minh và Lộ Lượng cùng thi triển thiết bài và kiếm, phối hợp với nhau rất kín kẽ, lúc thì kiếm đánh theo bài, lúc thì bài che cho kiếm tấn công, trong công có thủ, đầu đuôi hô ứng lẫn nhau, đúng là kín kẽ như áo trời. Lúc trước Lộ Minh, Lộ Lượng đã từng tỷ võ với Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ cũng không chiếm được tiện nghi, võ công của Vân Trọng hơi kém hơn của Trương Phong Phủ, cho nên càng khó khăn hơn, lại thêm Vân Trọng vừa mới thoát khỏi trận chiến, khí lực đã giảm hết mấy phần, đấu được hơn một trăm chiêu thì dần dần đuối sức, mỗi chiêu số đánh ra đều bị kẻ địch kềm chế.
Thêm hai ba chiêu mươi nữa, thế công của anh em nhà họ Lộ càng mạnh hơn Lộ Minh cười rằng: “Vân Trọng nhà người còn chưa phục ư? Nếu buông đao chịu thua, ta sẽ tha chết cho ngươi”.
Vân Trọng cả giận nghiến răng, lại chém thêm mấy đao mữa, chỉ cảm thấy thiết bài của kẻ địch nặng như núi, áp lực càng lúc càng nặng, bắt đầu lo lắng: “Mình dù có chết cũng không chịu nhục!” Thế rồi định giơ ngang đao tự sát, nếu mình chết đi, Đàm Đài muội tử há chẳng phải lọt vào tay kẻ địch hay sao?”. Thế rồi liếc mắt nhìn qua chỉ thấy Đàm Đài Kính Minh mặt lộ vẻ lo lắng, cứ nhìn chăm chăm vào mình, trong ánh mắt đầy vẻ cảm kích, khích lệ, tin tưởng. Vân Trọng phấn chấn tinh thần, đột nhiên quát lớn một tiếng, quét ra một chưởng, chưởng này đã dồn hết khí lực toàn thân của chàng, thi triển chiêu số hiểm hóc nhất trong Đại Lực Kim Cang thủ. Chỉ nghe một tiếng bốp vang lên, phép chưởng đã vỗ trúng thiết bài, Lộ Lượng kêu lớn, chiếc thiết bài đã vuột khỏi tay, hổ khẩu tóe máu, một cánh tay đã tê rần không thể cử động được nữa.
Điều này gây bất ngờ cho anh em nhà họ Lộ, Vân Trọng đánh ra một chiêu đắc thủ, xông tới tựa như mãnh hổ, quát lớn một tiếng, lại quét thêm một chưởng nữa vào eo Lộ Minh. Lộ Minh cũng lanh lẹ, vội vàng né tránh, Vân Trọng chém xuống một chưởng, thế rồi xoay tay đoạt lấy kiếm của Lộ Minh.
Rắt một tiếng, thanh trường kiếm cũng gẫy đôi. Lộ Minh, Lộ Lượng đồng thời nhảy vọt ra, cả hai anh em đều cười lớn.
Vân Trọng ngẩn người định nhảy bổ ra chợt nghe Đàm Đài Kính Minh kêu lớn: “Không xong!”
Căn phòng đột nhiên xoay chuyển, chỉ trong chớp mắt trời đất tối sầm, rồi một tiếng ầm vang lên. Té ra căn hoa sảnh này có sắp đặt cơ quan, chỉ trong chốt lát căn phòng đã trở thành nhà ngục.
Vân Trọng vỗ ra một chưởng, chàng chỉ cảm thấy cánh tay như muốn gẫy, bức tường chẳng hề suy suyễn. Lộ Minh, Lộ Lượng ở cười lớn: “Nhà ngươi hãy bớt nóng nảy, cứ nghỉ ngơi trong vòng vài ngày, xin thứ bọn ta không thể tiếp đãi ngươi”. Ý muốn bảo để Vân Trọng đói vài ngày sau đó sẽ thu phục chàng. Vân Trọng tức tối nhưng cũng chẳng làm gì được.
Vốn là Lộ Minh, Lộ Lượng trong mấy ngày trước dã chạy thoát ra khỏi Bắc Kinh, lúc đó Vu Khiêm lặp vua mới, đang truy bắt bè đảng của Vương Chấn. Lộ Minh, Lộ Lượng thường ngày ra vào phủ của Vương Chấn, rất nhiều người biết chúng là tâm phúc của Vương Chấn, bọn chúng cũng rất nhanh nhạy, nghe có tin xấu, lập tức bỏ chạy, trước tiên lại về nhà sắp xếp, toan lập công lao để làm quà ra mắt quân Ngõa Thích, thế là Vân Trọng lại dẫn xác tới cho nên mới hạ độc thủ.
Vân Trọng sờ soạn trong bóng tối, Đàm Đài Kính Minh nói: “Tôi ở đây”.
Vân Trọng cẩn thận tiến sát qua, chỉ nghe Đàm Đài Kính Minh kêu ối chao một tiếng, té ra chàng đã đụng vào vết thương của nàng. Vân Trọng nói: “Đàm Đài cô nương, tôi chết không tiếc, nhưng hôm nay đã liên luỵ đến cô nương”.
Đàm Đài Kính Minh nghe chàng nói như thế thì cảm thấy bất an, cúi đầu thì thầm nói: “Không, chính là tôi liên lụy cho huynh, huynh cũng có thể chạy ra ngoài”.
Vân Trọng cảm thấy trong lòng rất ngọt ngào, nói: “Vết thương của cô nương thế nào rồi?”
Đàm Đài Kính Minh nói: “Dù sao chúng ta cũng chết, cứ mặc kệ nó?”
Vân Trọng nói: “Nhưng tôi không muốn thấy cô nương đau khổ!”
Trong phòng tối đen, ngoại trừ đôi mắt của Đàm Đài Kính Minh, Vân Trọng thật sự chẳng thấy gì. Đàm Đài Kính Minh trải qua hoạn nạn lại có thiện cảm hơn với Vân Trọng, nghe chàng nói như thế thì càng cảm động hơn, cuối đầu không nói. Vân Trọng nói: “Cô nương hãy cởi áo ra để tôi bôi thuốc”.
Thông thường những người biết võ đều mang theo thuốc kim sang, trị thương bên ngoài, Vân Trọng vừa nói vừa đưa tay ra, nói: “Cô nương hãy nắm lấy tay tôi, chỉ vào vết thương của cô nương”.
Đàm Đài Kính Minh nóng rang mặt, nhưng nghĩ lại trong phòng tối vén hết áo cũng chẳng hề gì, nàng vốn là người phóng khoáng, cho nên không đẩy tay Vân Trọng ra, mà cởi áo để cho chàng bôi thuốc.
Đàm Đài Kính Minh bị trúng tên ở trên vai, Vân Trọng sờ vào vết thương của nàng, cảm thấy một làn da trơn mịn, trong lòng dâng lên một cảm giác khó hình dung, chợt nghe Đàm Đài Kính Minh nói: “Vân huynh anh hùng trẻ tuổi, chết một cách không rõ ràng như thế này thật là đáng tiếc!”
Vân Trọng nói: “Hôm nay bảo tàng chắc chắn đã đưa về đến Bắc Kinh, tôi một lòng báo quốc, coi như đã làm một chút chuyện, chết cũng không có gì đáng tiếc”.
Đàm Đài Kính Minh xốn xang trong lòng, nhủ thầm: “Người này tuy cố chấp, lòng dạ cũng hơi hẹp hòi, nhưng cũng có chỗ đáng quý”.
Cả hai người ở trong phòng tối cũng không biết trải qua bao lâu, chợt nghe bên ngoài có tiếng ngựa hí, Vân Trọng nói: “Không xong. Kẻ địch đang bao vây Bắc Kinh, chắc chắn quân Ngõa Thích đã đến đây. Nếu bọn chúng bắt chúng ta giao cho Ngõa Thích, tôi thà tự sát còn hơn, cô nương hãy thứ lỗi tôi không chăm sóc”.
Đàm Đài Kính Minh cười nói: “Vân huynh chết, lẽ nào tôi còn sống một mình? Nếu tôi tham sống sợ chết làm sao đối mặt với Trương Đan Phong!”
Vân Trọng nghe xong, thấy mát lòng mát dạ, nhưng nghe nàng nhắc đến Trương Đan Phong thì lại khó chịu, nhủ thầm: “Té ra nàng coi Trương Đan Phong quan trọng hơn cả mình”.
Chỉ nghe tiếng vó ngựa càng lúc càng gần, tiếng trước cổng ngừng lại, một hồi sau thì nghe tiếng bước chân bước vào, Vân Trọng nắm chặt hai tay Đàm Đài Kính Minh, một hồi sau chợt nghe một giọng nói ồm ồm vang lên: “Ai bị nhốt trong đó?”
Vân Trọng giận mình ghé sát tai Đàm Đài Kính Minh nói nhỏ: “Đó là Đàm Đài Diệt Minh! Đệ nhất dũng sĩ ở Ngõa Thích”.
Đàm Đài Kính Minh nói: “Tôi cũng đã nghe được, y là đường huynh của tôi, tháng trước y đã từng đến Tô Châu, thăm Động Đình son trang”.
Vân Trọng vẫn chưa biết chuyện của nhà Đàm Đài, trong lòng lo lắng muôn phần, nghĩ thầm: “Đàm Đài Diệt Minh võ công cao cường, nếu bị y bắt thì tự sát cũng không xong”.
Chợt nghe Đàm Đài Kính Minh lại nói: “Đừng lên tiếng, có lẽ hôm nay chúng ta không mất mạng, Vân huynh hãy nghe họ nói gì?”
Chỉ nghe Lộ Minh đáp rằng: “Bẩm cáo Đàm Đài tướng quân, trong này có nhân vật phi thường!”
Đàm Đài Diệt Minh hỏi: “Là ai?”
Lộ Lượng nói: “Nói ra chắc tướng quân sẽ mừng, ở trong này chính là Võ trạng nguyên Vân Trọng, trước đây là Phó thống lĩnh Ngự lâm quân, lần trước tướng quân vào kinh, chắc đã từng gặp y, trong Ngự lâm quân y chỉ thua Trương Phong Phủ, ngoài ra người còn lại là một thiếu nữ nghe nói là nữ tướng nghĩa quân gì đó đến từ Giang Tô rất xinh đẹp! Chúng tôi vốn định bỏ đói bọn chúng vài ngày, sau đó sẽ trói bọn chúng đem dâng lên, tướng quân đến đây thật đúng lúc, hai người này cứ để mặc cho tướng quân xử lý”.
Đàm Đài Diệt Minh kêu ồ một tiếng: “Đến từ Giang Tô? Nàng ta họ gì?”
Lộ Minh nói: “Chúng tôi vẫn chưa kịp thẩm vấn, tướng quân thấy nếu thích thì cứ giữ nàng lại, chúng tôi không để lộ nữa câu trước mặt Thái sư”.
Thái sư ở đây chính là Dã Tiên, hai anh em nhà họ Lộ dâng Đàm Đài Kính Minh cho Đàm Đài Diệt Minh khiến cho nàng vừa cảm thấy buồn cười vừa tức giận.
Chỉ nghe Đàm Đài Diệt Minh nói: “Được, thả bọn chúng ra đây để cho ta xem thử”.
Đột nhiên căn phòng lại xoay chuyển, cửa sắt mở ra hết, Vân Trọng chưa kịp nhìn thấy gì thì Đàm Đài Diệt Minh đã hỏi: “Chính là bọn chúng ư?”
Lộ Minh nói: “Vâng, chính là bọn chúng. Tướng quân, có gì không phải?” Nói chưa dứt lời, chỉ nghe ầm một tiếng, Đàm Đài Diệt Minh ra tay nhanh như điện, một tay tóm lấy nhấc lấy hai em nhấc bổng bọn chúng lên, táng hai cái đầu vào nhau, cả hai chết không kịp kêu lên một tiếng.
Đàm Đài Kính Minh thấy thế liền chạy đến ôm Đàm Đài Diệt Minh: “Ca ca”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Ồ, muội đã bị thương, để ta xem, vẫn không sao. Lần này muội trải qua bao gian nan vừa rồi lại bị anh em nhà họ Lộ bắt nhốt. Song, người trẻ tuổi phải trải qua nhiều nguy hiểm mới cứng cỏi được”.
Vân Trọng đứng một bên, ngây người nhìn Đàm Đài Diệt Minh, nói không ra lời. Đàm Đài Diệt Minh nói: “Vân Trọng huynh, sao lại trùng hợp, chúng ta lại gặp mặt. Lần này huynh không cần liều mạng với tôi nữa”. Thế rồi mỉm cười hỏi: “Lần này đến Tô Châu, huynh có gặp Trương Đan Phong không?”
Vân Trọng nói: “Đã gặp”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Hai nhà đã hóa giải mối thù hận chưa?”
Vân Trọng yên lặng không đáp, Đàm Đài Kính Minh lắc đầu.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Đó chính là chuyện nhà của các người, tôi là người ngoài không tiện để ý tới. Chỉ là tôi nhờ huynh chuyển lời, lần này nếu vào kinh gặp Trương Đan Phong thì bảo y hãy yên lòng, Bắc Kinh đã được giải vây, quân Ngõa Thích có lẽ đã trở về”.
Đàm Đài Kính Minh vui mừng nói: “Ồ, thật không? Ca ca, Dã Tiên đã cho huynh biết ư?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Y không nói. Nhưng trong tình thế này thì phải lui binh. Ta muốn phụng lệnh y đến trấn thủ Nhạn Môn quan, y sợ các cánh nghĩa quân của Minh triều kéo đến, chặn đường rút lui cho nên mở ra chia một nửa quân ở Nhạn Môn quan đến tiếp ứng cho y, ta âm thầm thông báo cho Kim Đao trại chủ, bảo họ hãy đột kích Nhạn Môn quan trong ngày ta lên đường, hôm kia đã nhận được tin quân Ngõa Thích trấn thủ Nhạn Môn quan và kỵ binh tuần tra bên ngoài bị Kim Đao chạy chủ đánh thương vong quá nữa, Dã Tiên không ngờ rằng đó là do ta, chỉ nghĩ rằng vì ta rút khỏi Nhạn Môn quan cho nên binh lực mỏng manh mới thất bại. Chuyện này khiến cho lòng quân chấn động, lại thêm tình hình nước Ngõa Thích không yên. Ta thấy trong vòng nửa tháng y sẽ lui binh”.
Vân Trọng nghe thấy thì ngạc nhiên, y không ngờ Đàm Đài Diệt Minh lại làm như thế, Đàm Đài Kính Minh hỏi: “Chúa công giờ như thế nào?”.Ý nàng muốn hỏi Trương Tôn Châu, Vân Trọng nghe nhắc đến tên kẻ thù thì chột dạ. Đàm Đài Diệt Minh cười khổ sở rồi nói: “Mấy ngày nay chúa công rất khổ não, người lúc nào cũng muốn thu phục lại giang sơn đại Châu, nhưng lại không muốn để cho người Ngõa Thích chiếm Trung Hoa, lòng rất mâu thuẫn. Ta cũng không khuyên giải được”.
Đàm Đài Diệt Minh nhìn bóng mặt trời rồi nói: “Ta phụng lệnh Dã Tiên đến đưa Lộ Minh, Lộ Lượng trở về, nay chỉ đành báo lại y bị kẻ thù giết chết. Thời gian không còn sớm nữa, ta phải đi đây”.
Nói xong rồi bước ra khỏi nhà họ Lộ, vệ sĩ y mang theo đều canh gác bên ngoài cửa, đương nhiên cũng đi cùng y.
Vân Trọng và Đàm Đài Kính Minh đợi quân Ngõa Thích rút lui, vội vàng phóng ngựa lên kinh, Bắc Kinh đã được giải vây, mấy mươi dặm xung quanh không có bóng giặc, hai người chạy được hơn ba mươi dặm thì gặp quân Minh dắt vào kinh đô, hội ngộ với Trương Đan Phong, Vân Lối, Vân Lối vui mừng ra mặt. Trải qua trận chiến này, Vân Trọng đã bớt thù hận Trương Đan Phong mấy phần.
Nghĩa quân lần lượt kéo vào kinh, Vu Khiêm đổi báu vật của Trương Sĩ Thành làm ngân lượng phát lương cho quân, lại có được tấm địa đồ quân dụng, sĩ khí phấn chấn, thắng liên tiếp mấy trận, sau nửa tháng quân Ngõa Thích quả nhiên đã lui khỏi Nhạn Môn quan.
Một ngày nọ, Vu Khiêm gọi Trương Đan Phong và Vân Lối đến, nói: “Có một chuyện rất mạo hiểm, hiền điệt có chịu làm không?”
Trương Đan Phong nói: “Nếu đại nhân căn dặn, dù dầu sôi lửa bỏng cũng không từ”.
Vu Khiêm trầm ngâm một chốc rồi nói: “Đêm qua ta đã làm một bài thơ, hiền điệt hãy xem trước đã”.
Trương Đan Phong mở tờ giấy, trên có bài thơ thất luật, thơ rằng: “Lỗ bố tinh trì thượng ngọc kinh, tam biên khấu lỗ nhất thời bình, dân gian ngọc thạch huân nghiệp, thiên thượng ngân hà tẩy giáp binh. Hùng hổ hữu công hàm tiến thiếp, khuyển dương cô kế khả thâu sinh, tùng kiêm hải vũ công trần tịnh, diệu toán tấn tri xuất thánh minh”.
Lỗ bố chỉ những tướng sĩ đó lập công lao. Ý nghĩa đại khái của bài thơ là, giờ đây những tiến sĩ có chiến công đã được thăng chức, bọn gian tặc bán nước đã bị tiêu diệt, mong rằng biên giới yên tĩnh, bớt động can qua. Trương Đan Phong xem bài thơ thì ngâm rằng: “Dân gian ngọc thạch huân nghiệp thiên thượng ngân hà tẩy giáp binh. Thơ hay, tấm lòng của nhà thơ càng đáng quý hơn. Ý của đại nhân là muốn hòa hảo với Ngõa Thích?”
Đúng thế, thiên hạ không ngừng can qua nay chúng ta đánh thắng trận, giản hòa với họ, chẳng có gì thiệt thòi, Thái thượng hoàng giờ đây đang ở nước người, chúng ta hãy tìm cách rước ngài về
Trương Đan Phong giật mình, nghĩ thầm: “Té ra là ông ta muốn cứu Hoàng đế. Nhưng nay đã lập vua mới, Thái thượng hoàng trở về e rằng sẽ làm khó Vu Khiêm, lúc đó chẳng phải ông ta đã gặp họa hay sao?” Chỉ nghe Vu Khiêm nói: “Hiền điệt, ta đã quyết. Vinh nhục thành bại của riêng ta là chuyện nhỏ, vua của thiên triều không thể làm tù binh cho kẻ địch. Các người hãy dò hỏi tin tức hộ ta, sau này ta sẽ sai sứ thần đến giảng hòa, đón Thái thượng hoàng trở về. Hơn nữa dã tâm của Dã Tiên không nhỏ, chỉ e sau khi thất bại thì lại tấn công lần thứ hai”.
Trương Đan Phong nghĩ ngợi rồi sảng khoái nói: “Được ngày mai tôi sẽ lên đường, vốn tôi không muốn về Ngõa Thích, nhưng vì chuyện này cho dù đao kề đứt cổ cũng phải đi. Nhưng chỉ một mình tôi đi ư?”
Vu Khiêm nói: “Ta đã nói với Vân Trọng, để Vân Lối đi cùng với hiền điệt nghe nói hai người song kiếm hợp bích sẽ không ai địch nổi, có đúng không?”
Trương Đan Phong nói: “Không dám. Nếu có nàng cùng đi thì thật là tốt, có thể ứng phó với mọi cường địch”.
Vu Khiêm mỉm cười, trong nụ cười đầy hàm ý.
Ngày hôm sau hai người Trương, Vân cáo biệt mọi người cùng rời khỏi Bắc Kinh, chuyến đi lần này hai người chợt thấy lòng dạ thơi thới. Trương Đan Phong bước lên cười rằng: “Tiểu huynh đệ, lần trước từ Giang Tô đến bắc Kinh, đều bảo quãng đường quá ngắn, nay đến Ngõa Thích đường sẽ xa hơn nhiều”.
Vân Lối mỉm cười: “Rồi cũng sẽ có một ngày tới nơi”.
Trương Đan Phong mỉm cười ngâm rằng: “Đời người không biết chông gay, dù sương dù tuyết cũng phải xông pha lên đường. Cuộc đời này chúng ta có đi rất nhiều, làm gì có ngày đi hết!”
Vân Lối cảm thấy xao xuyến trong lòng, nếu chàng muốn mình làm bạn đi hết cuộc đời, trong lòng đương nhiên cảm kích mối tình si của chàng, nhưng nghĩ lại lời căn dặn của ca ca thì lại không khỏi buồn bã, chỉ đành giả vờ không hiểu dụng ý của chàng, mỉm cười: “Tú tài nghèo, đừng ngâm thơ nữa, nếu chậm chỉ e chưa ra đến Nhạn Môn quan thì tuyết đã rơi, lúc đó mới thật là dầm sương đội tuyết!”
Hai người đi đường cười cười nói nói không hề cảm thấy thô tịch, nhưng mỗi lần Trương Đan Phong nhắc đến chuyện riêng hai người Vân Lối lại né tránh. Hôm nay đến Dương Khúc, quân giặc đã rút lui, quán các cửa tiệm trong thành đều đã mở cửa, quán rượu lần đầu tiên Trương Đan Phong và Vân Lối gặp nhau cũng thế. Trương Đan Phong cười rằng: “Tiểu huynh đệ, đệ có còn nhớ quán rượu này không?”
Vân Lối nói: “Suốt đời cũng không quên!”
Trương Đan Phong mừng rỡ nói: “Ồ, tiểu huynh đệ! Thật hiếm có chúng ta đều nghĩ như nhau...”. Vân Lối ngắt lời chàng: “Cái gì mà đều nghĩ như nhau, tôi không quên huynh đã đánh cắp tiền của tôi!”
Trương Đan Phong cười rằng: “Thôi được chúng ta đừng đấu khẩu nữa, về lại nơi cũ, chuyện xưa khó quên, chúng ta hãy uống vài chén cho say. Tiểu huynh đệ, đệ hãy yên tâm, lần này ta sẽ mời không bảo đệ ăn quỵt nữa!”
Vân Lối nghe chàng nhắc lại chuyện cũ, bất giác mỉm cười, rồi hai người buộc ngựa trước cửa tiệm cùng bước và bên trong. Quân giặc lui không lâu, khách uống rượu trong tiệm không nhiều, Trương Đan Phong còn nhớ lúc trước mình đã ngồi ở gần cửa sổ phía nam, thế là cùng Vân Lối chọn một bàn, bảo tiểu nhị bưng ra một bình rượu, cắt hai cân thịt bò, nộc một hơi ba chén rồi cười rằng: “Lúc đó ta ngồi uống rượu một mình, đệ cũng thế, ta còn nhớ đệ cứ liếc mắt nhìn ta, hay lắm, giờ đây chúng ta đã ngồi với nhau, đệ không cần nhìn lén ta nữa”.
Vân Lối e thẹn nói: “Ai nhìn lén huynh, lúc đó tôi thấy huynh như đã say, rất buồn cười, lại giống hai tên trộm cứ liếc nhìn huynh, huynh cũng không hề biết cho nên tôi mới nhìn huynh, nào ngờ huynh lại có ý bỡn cợt tôi, không nhắc thì thôi nhắc lại đến lúc này tôi vẫn còn rất giận huynh!”
Trương Đan Phong nói: “Thật không!” rồi tỏ vẻ nửa thật nửa đùa. Vân Lối giận dỗi nói: “Lòng dạ huynh thật là xấu xa!”
Trương Đan Phong nói: “Thật không? Vậy ta là một ca ca xấu ư?”
Vân Lối nói: “Huynh còn trêu tôi, tôi sẽ không nói chuyện với huynh nữa!”
Trương Đan Phong lại uống cạn một chén cười rằng: “Hai tên tiểu tặc theo dõi ta lúc trước ngồi ở phía đông”.
Khi quay đầu nhìn lại chỉ thấy ở phía đông cũng có người ngồi, đó là một đạo sĩ mặc áo xanh tướng mạo hiên ngang. Vân Lối nói: “Người này chắc chắc không phải là một tên tiểu tặc”. Thế rồi cũng uống cạn một chén.
Vân Lối tuy không muốn nhắc lại chuyện xưa, nhưng cũng trở về nơi cũ, nhớ lại tình cảnh lần đầu tiên gặp rở Trương Đan Phong trong lòng cũng có nhiều cảm xúc, nàng nghĩ bụng: “Lúc ấy mình căm ghét chàng, không ngờ nay lại trở thành tri kỷ, cũng không ngờ rằng chàng lại là kẻ thù của mình, còn đại ca của mình thì cứ nhớ mối thù đời trước. Chuyện đời quả thật khó đoán”.
Trương Đan Phong chợt nói: “Tiểu huynh đệ, Hắc Thạch trang cách đây hơn mười dặm. Đệ có cần đến thăm nhạc phụ đại nhân của đệ không?”
Vân Lối ngạc nhiên, nhớ lại tình cảnh buồn cười hơn cùng Thạch Thúy Phượng động phòng, suýt chút nữa đã phun rượu ra. Trương Đan Phong nghiêm mặt nói: “Phu nhân của đệ đã đợi lâu như thế, giờ đây đã qua cơn chiến loạn, đệ cũng nên đến thăm nàng để cho nàng yên tâm”.
Vân Lối giật mình, nghĩ lại tấm tình sy của Thạch Thúy Phượng thầm nhủ: “Đúng thế mình nên đến thăm nàng. Nhưng làm sao cho nàng biết thân phận thực của mình?”
Đến khi ngẩng đầu lên thì thấy Trương Đan Phong đang mỉm cười của mình Vân Lối giận dỗi, nói: “Huynh cười cái gì? Huynh chẳng phải đã từng mặc đồ phụ nữ đó sao, suýt nữa cũng đã động phòng với con gái của Dã Tiên!”
Trương Đan Phong cười nói: “Nhưng ta đâu có thành thân với người ta”.
Vân Lối nói: “Thôi được chúng ta hãy uống xong rồi đến tìm nàng, cho nàng biết thân phận của tôi. Nhưng không biết Châu Sơn Dân đang ở đâu?”
Trương Đan Phong nói: “Chuyện của đệ vốn lo chưa xong, còn muốn làm mai nữa ư? Ta hỏi đệ, đệ có thay bộ y phục khác, nếu không Thạch tiểu thư thấy đệ thì sẽ không buông đệ đi”.
Khi Vân Lối ra khỏi Bắc Kinh đã cải dạng nam trang, nàng cúi đầu nhìn mình thì thầm cười: “Huynh nói nhỏ tiếng, đạo sĩ ấy hình như đang chú ý đến chúng ta”.
Trương Đan Phong nói: “Y không phải là kẻ trộm, đệ hãy yên tâm”.
Vân Lối đang có tâm sự trong lòng, uống vội chén rượu rồi nói: “Chúng ta đi thôi!” Rồi gọi tiểu nhị đến lấy tiền, nhưng túi tiền không cánh mà bay. Nàng ngạc nhiên nghĩ bụng: “Chả lẽ đại ca lại bỡn cợt mình” Rồi nàng kêu lên: “Mau trả lại túi tiền!” Quay đầu nhìn lại thì thấy đạo sĩ áo xanh đứng một bên, Trương Đan Phong vỗ bốp một chưởng về phía y quát rằng: “Giữa thanh thiên bạch nhật mà ngươi dám giở trò!”
Đạo sĩ ấy đột nhiên ngiêng vai, né tránh chưởng lực của Trương Đan Phong, nói: “Ngươi dám đánh người?”
Vân Lối thất kinh đạo sĩ này ra tay thật nhanh, y có thể né tránh một chưởng của Trương Đan Phong, Trương Đan Phong ra tay rất nhanh, đột nhiên chụp tới cười lạnh nói: “Té ra ngươi là kẻ trong nghề!” Thế rồi giật được túi tiền của Vân Lối, quát rằng: “Tang vật ở đây, ngươi còn dám nói gì nữa?”
Chỉ nghe soạt một tiếng, đạo bào của đạo sĩ ấy bị Trương Đan Phong kéo rách một mảng, y lướt ra khỏi chưởng lực của Trương Đan Phong, phóng ra khỏi cửa sổ.
Lão chủ quán kêu lớn: “Ối chao, tiền rượu của tôi, người đâu, có cường đạo”.
Trương Đan Phong vội vàng mở túi tiền, ném ra một đĩnh bạc đặt trên bàn: “Hãy tính trả cho tôi”.
Đĩnh bạc này trả tiền rượu cho cả ba người vẫn còn dư, lão chủ quán vui mừng, đã định đáp tạ, Trương Đan Phong đã kéo Vân Lối cùng nhảy xuống.
Trên đường người rất ít, chỉ thấy đạo sĩ cưỡi một thớt khoái mã phóng ra cửa thành. Trương Đan Phong vội vàng phóng lên ngưạ đuổi theo.
Vân Lối nói: “Đã lấy lại túi tiền, còn đuổi theo làm gì?”
Trương Đan Phong nói: “Không, đạo sĩ này thân phủ phi phàm, chắc chắc không phải là tên tiểu tặc bình thường, ta phải hỏi cho rõ ràng!”
Con Chiếu dạ sư tử mã hí dài, tung vó phóng về phía trước.
Đó chính là:
Quái tặc ở nơi nào, hiệp sĩ vội đuổi theo.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Xem tiếp hồi 22
Đứng trước quần hùng hiệp nữ lộ chân tướng
Phu tế chẳng thành đành kết nghĩa kim lan
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:44 pm

Hồi 22
Đứng trước quần hùng hiệp nữ lộ chân tướng
Phu tế chẳng thành đành kết nghĩa kim lan


Hai người chạy ra khỏi thành Dương Khúc, không bao lâu thì đuổi kịp đạo sĩ áo xanh.
Trương Đan Phong quát: “Dừng lại!”
Đạo sĩ ngạc nhiên quay lại, chợt cười lớn: “Ngươi biếu tiền cho ta đấy ư?”
Trương Đan Phong nói: “Trong tửu lầu này đông không tiện nói nhiều, đạo trưởng còn muốn bỡn cợt nữa không!”
Đạo sĩ ấy biến sắc: “Ai muốn bỡn cợt với ngươi!”
Trương Đan Phong nói: “Đã không phải bỡn cợt, xin hãy nói ra lai lịch”.
Đạo sĩ áo xanh nói: “Ta bình sinh đến cắp tiền chưa bao giờ thất thủ, hôm nay bị ngươi bắt được, ta đã trả lại cho ngươi, ngươi còn lại đuổi theo ta, rõ ràng ngươi đang bỡn cợt ta, hừ, hừ, hãy nếm một kiếm!”
Y nói tựa như không phải đùa, nói vừa xong quả nhiên rút thanh trường kiếm đâm tới một chiêu Kim Châm Dẫn Tuyến.
Trương Đan Phong lướt qua, đạo sĩ ấy ra tay như gió, liên tục chém ra ba kiếm, Trương Đan Phong nhìn thấy kiếm pháp của y đúng là Liên Hoàn Đoạt Mạng kiếm pháp của phái Võ Đang, thế rồi ngạc nhiên. Chỉ nghe đạo sĩ quát: “Ngươi ỷ ngựa chạy nhanh, đâu có phải anh hùng gì?”
Trương Đan Phong chợt nghĩ: “Chả lẽ y muốn thử kiếm pháp của mình?” Thế rồi nhảy xuống ngựa nói: “Được, ta sẽ chìu theo đạo trưởng vài chiêu!”
Đạo trưởng ấy cũng nhảy xuống chẳng nói một lời trở tay đâm ra một kiếm vào huyệt Hồn Môn của Trương Đan Phong, Trương Đan Phong bực tức trong lòng, trả lại một chiêu Thành Giá Kim Lương, rồi đánh tiếp ra thêm một chiêu Kim Thiềm Hí Lãng, một lưỡi kiếm phải ra ba đóa kiếm hoa đánh vào ba đại huyệt của đạo sĩ, đạo sĩ ấy kêu lên: “Lợi hại lắm!” Thế rồi bước xoay người gạt ngang kiếm, giải thế công của Trương Đan Phong thì đột nhiên thoái lui, lại đâm ra thêm một kiếm. Trương Đan Phong thầm phục trong lòng, nghĩ bụng: “Kiếm pháp của kẻ này hơn hẳn Tùng Thạch đạo nhân, chắc là cao thủ có tên tuổi trong phái Võ Đang”.
Rồi chàng tập trung chú ý, thi triển kiếm pháp Bách Biến Huyền Cơ, kiếm ảnh loang loáng, kiếm thép như cầu vòng, biến hóa vô định, một mạch đánh ra tám nhát kiếm, chàng vừa đánh xong tám nhát kiếm thì đạo sĩ ấy thở phào, Trương Đan Phong bất ngờ đâm ra một kiếm Vân Hoàng Phái Lĩnh rồi đổi thành Tuyết Phủ Tam Quang, chỉ nghe soạt một tiếng, mũ của đạo sĩ ấy đã bị Trương Đan Phong chém rớt xuống.
Đạo sĩ kêu ối chao một tiếng, thoái lui mấy bước rồi kêu lên: “Đúng là trộm gà không được còn mất nắm gạo, chả trách nào Tùng Thạch sư đệ thua to”.
Trương Đan Phong nghe thế thì hỏi: “Đạo trưởng đến đây phải chăng là muốn trả thù cho Tùng Thạch đạo nhân?”
Đạo nhân mắc áo xanh ấy cười ha hả, rồi nói: “Chỉ có một chuyện nhỏ như thế mà cũng phải báo thù, ta đâu có rảnh đến thế? Chắc ngươi là Trương Đan Phong, may mà ta thử ngươi, nếu không ngươi đi uổng chuyến này. Ta hỏi ngươi, các người có phải đến Hắc Thạch trang không?”
Trương Đan Phong ngạc nhiên hỏi rằng: “Sao thế?”
Tùng thạch đạo nhân nói: “Không sao cả, sao ông đến Hắc Thạch trang thì sẽ không gặp Oanh Thiên Lôi nữa”.
Trương Đan Phong nói: “Ông ta không ở Hắc Thạch trang thì ở đâu?”
Đạo sĩ ấy bảo: “Ông ta đang ở sơn trại của Sa Đào”.
Thạch Anh và Sa Đào trước kia tuy thân thiết, nhưng từ khi hứa gã con gái cho Vân Lối, thì dần dần nhạt nhẽo. Trương Đan Phong nghe thế thì nghi ngờ hỏi rằng: “Có thật không?”
Đạo sĩ ấy bảo: “Lừa ngươi làm gì? Gần đây Sa Đào mời hào kiệt lục lâm, bần đạo cũng được y mời đến đó, nhưng không muốn đi mà thôi. Ta chỉ gởi tạ thiếp, sau đó bỏ đi, trùng hợp gặp Thạch Anh đang ở trên núi”.
Vân Lối chen vào hỏi: “Con gái của ông ta ở đâu?”
Đạo sĩ ấy nói: “Con gái của y đương nhiên đi cùng y, sao tiểu ca nhà ngươi lại quan tâm đến thế?”
Trương Đan Phong nói: “Dám hỏi đại danh của đạo trưởng?”
Đạo trưởng nói: “Bần đạo là đạo sĩ núi Võ Đang, đạo hiệu Xích Hà”.
Trương Đan Phong nói: “Té ra là Xích Hà đạo trưởng, nghe danh đã lâu!”
Trương Đan Phong nói như thế chẳng phải khách sáo, thật ra Xích Hà đạo nhân cũng là người có tên tuổi trong phái Võ Đang, Xích Hà đạo nhân chợt nói: “Bần đạo còn nghe một lời đồn, không biết là thật hay giả?”
Trương Đan Phong nói: “Lời đồn gì?”
Xích Hà đại nhân nói: “Nghe nói khi quân Ngõa Thích chiếm vùng này, đã có qua lại với cha con Sa Đào cho nên sơn trại của y mới được an toàn”.
Trương Đan Phong nghe thế thì thất kinh, nói: “Thạch Anh có biết không?”
Xích Hà nói: “Không biết, ta không biết. Ta vốn cho Thạch Anh biết, nhưng có người cử Sa Đào đi cùng y, không có dịp nói chuyện riêng với y”.
Trương Đan Phong kêu ối chao một tiếng, cung tay nói: “Đa tạ đạo trưởng đã chỉ dẫn” Thế rồi phóng người lên ngựa lập tức chạy về phía trước. Xích Hà đạo nhân rẽ sang hướng Đông.
Trên đường Vân Lối hỏi: “Đạo nhân này muốn gì?”
Trương Đan Phong nói: “Nghe khẩu khí của ông ta, cha con Sa Đào chắc có âm mưu, có thể đã bày cạm bẫy dụ Thạch Anh mắc lừa, lúc nãy ông ta đã thử thách chúng ta, muốn xác định thân phận của chúng ta rồi chỉ dẫn chúng ta đi cứu Thạch Anh”.
Vân Lối kinh ngạc nói: “Nguy hiểm đến thế sao?”
Trương Đan Phong nói: “Dù sao ngựa của chúng ta cũng rất nhanh, trước tiên hãy đến Hắc Thạch trang xem thử, nếu Thạch Anh không có ở đó, chúng ta sẽ tìm Sa Đào tính nợ”.
Thế rồi hai ngựa phóng đi, không đầy nửa canh giờ đã đến trước Hắc Thạch trang. Chỉ thấy cửa sơn trang mở rộng, bên trong có tiếng người ồn ào, khi Trương, Vân rút kiếm xông vào, có hai kẻ tựa như đầu mục trong sơn trại chạy ra ngăn cản, không được ba hiệp thì bị hai người Trương, Vân chém bị thương, chỉ thấy trang đinh trong Hắc Thạch trang đã bị trói gô lại, vài người có võ công tương đối cao cường đang liều mạng với bọn lâu la. Trương Đan Phong Vân Trọng Vân Lối đại triển thần oai, không đầy nửa canh giờ, bọn lâu la đánh lén Hắc Thạch trang đều đã bị điểm huyệt đạo, trang đinh đều được giải cứu, khi hỏi nguồn cơn thì trang đinh bảo rằng: “Trang chủ ra đi không đầy nửa ngày, thì đám cướp này đã đến, lúc đầu chúng tôi còn tưởng bọn chúng là thủ hạ của Sa Đào, có giao tình với Trang chủ, cho nên mời bọn chúng vào, nào ngờ bọn chúng lại dám cướp bóc trắng trợn!”
Trương Đan Phong giải huyệt đạo cho một tên đạo mục, quát rằng: “Có phải Sa Đào bảo bọn ngươi hay không! Đến đây làm gì?”
Đầu mục ấy nói: “Trại chủ sai chúng tôi đem đồ đạc của Hắc Thạch trang về sơn trại, nhất là tranh chữ của ông ta, không được thiếu một tấm”.
Trương Đan Phong nghe thế thì nghĩ thầm: “Sa Đào chắc chắn không phải cướp của cải, y muốn tìm tranh chữ, xem ra y tưởng rằng bức tranh ấy vẫn còn ở nhà Thạch Anh, nhưng sao y lại biết chuyện này?”
Vân Lối nói: “Đại ca, đại ca đang nghĩ gì thế?”
“Xích Hà nói rất đúng, Sa Đào này đã tư thông với bọn Ngõa Thích”.
Thế rồi nói với quản gia với Hắc Thạch trang: “Các người hãy trói bọn cường đạo này lại, đợt Trang chủ của các người trở về sẽ xử lý sau”.
Trương Đan Phong và Vân Lối rời khỏi Hắc Thạch trang, vội vàng lên đường. Sơn trại của Sa Đào nằm ở núi Lục Trương gần đó, cách Hắc Thạch trang hơn ba mươi dặm, hai người Trương, Vân phóng ngựa không đầy nửa canh giờ thì đã đến chân núi. Chỉ thấy sơn trại kéo dài trên núi tựa như con trường long, núi non trùng điệp, cây cối cao ngất trông rất hùng vĩ.
Trương Đan Phong và Vân Lối cùng lên núi, một tên lâu la quát hỏi: “Ngươi là ai?”
Trương Đan Phong nói: “Khách của Sa trại chủ”.
Tên lâu la bảo: “Thiệp mời đâu”.
Trương Đan Phong vung tay, nói: “Nhận lấy!”
Tên lâu la ấy thấy trong tay chàng trống trơn, định quát hỏi thì đột nhiên cảm thấy người tê rần, lập tức ngã xuống đất bất tỉnh. Té ra Trương Đan Phong đã phóng phi trâm đâm và các huyệt đạo của y, sau mười hai canh giờ sẽ tự giải.
Hai người Trương,Vân thi triển khinh công tuyệt đỉnh, trong chốc lát là lên đến đỉnh núi, thấy có một vách núi dựng đứng, phía trước có một cây cầu đá. Trương Đan Phong nói: “Nơi này hiểm yếu, hãy cẩn thận!”
Thế rồi bước lên cây cầu đá, Vân Lối đi ở phía sau, đi được nửa đường thì chợt nghe phía sau có tiếng tên phóng tới, Vân Lối rút kiếm múa ra một vòng ngân hồng, cười rằng: “Loạn tiễn này thì có thể làm gì được ta?” Nói chưa dứt, trên vách núi có một người nhảy xuống. Trương Đan Phong đánh ra một chiêu Cử Hỏa Thiêu Thiên, đâm kiếm lên trên, chỉ cảm thấy người ấy phóng xuống hai người ở giữa hai người Trương, Vân toan đẩy Vân Lối rơi xuống cây cầu đá!.
Cây cầu đá rất nhỏ hẹp song kiếm khó hợp bích, Trương Đan Phong đột quát lên một tiếng, phóng vọt người ra khỏi cây cầu đá. Vân Lối kêu lên kinh hoảng, người ấy tưởng rằng Trương Đan Phong đã hụt chân rơi xuống nên trong lòng cả mừng, tung chân đá tới. Nào ngờ Trương Đan Phong thi triển Thiên Cân Trụy, hai chân móc vào cây cầu đá, đột nhiên tung ra một nắm phi châm, người ấy không thể né tránh được, trong lúc nguy cấp đã phóng vọt người lên đến hơn cả trượng, né được nắm phi châm ấy, nhưng Trương Đan Phong và Vân Lối nhân cơ hội này cũng đã vượt qua cây cầu đá. Người ấy quát lớn một tiếng lao bổ tới, đồng thời trên vách núi cũng có mấy người chui ra, bày thành thế ỷ giác. Trương Đan Phong thấy người ấy võ công cao cường, trong lòng thầm ngạc nhiên.
Chợt người ấy kêu hoảng: “Ồ, té ra là ngươi”.
Trương Đan Phong cũng quát: “Hừ, té ra là ngươi!”
Lúc nãy trên câ cầu đá, hai bên đã đổi nhau mấy chiêu, trong lúc nguy cấp, cả hai đều tập trung chú ý, cho nên không nhìn rõ diện mạo của nhau, đến khi nhìn rõ lại thì không khỏi kêu lên.
Người này chính là Ngạch Cát Đa, Trương Đan Phong đã từng giao thủ với y trong thành Thổ Mộc, biết y võ công cao cường, ở nước Ngõa Thích chỉ kém Đàm Đài Kính Minh, thế rồi không dám sơ ý, vội vàng kêu lên: “Tiểu huynh đệ, bắt giặc, bắc vua, trước tiên ta hay trừ người này”.
Vân Lối vung iếm đâm ra, hai kiếm hợp bích kỳ dịu vô cùng, Ngạch Cát Đa chưa kịp phát ra chiêu số thì hai thanh kiếm đã đâm tới trước mặt. Ngạch Cát Đa quát lớn một tiếng, vung ngang kiếm gạt ra, nhưng nào có thể được, chỉ nghe kêu một tiếng, thanh trường kiếm trong tay đã chặt thành, bốn đoạn, Ngạch Cát Đa phóng người vọt lên vẫn chưa hết uy thế, chém ngang qua, lập tức hai kẻ bị thương. Ngạch Cát Đa vội vàng giật một thanh trường kiếm trong tay của đồng bọn, hai người Trương, Vân lại đánh kiếm tới, lúc này y nào dám chống trả, ném ra tuyệt chiêu Lôi Điện Giao Quang, đây chỉ là một thanh kiếm bình thường nhưng qua tay của y, tiếng chiêu kêu lên vù vù, kiếm hoa chói mắt, một thanh kiếm tự nhiên đã biến thành mấy mươi thanh kiếm. Trương Đan Phong kêu lên một tiếng: “Hay”.
Hai kiếm vừa lướt qua thì chỉ nghe soạt một tiếng, khăn cột đầu của Ngạch Cát Đa đã bị chém đứt. Như một chiêu này của y hư hư thật thật, biến hóa rất nhiều, dù bị hai kiếm tấn công, nhưng vẫn có thể né tránh được, Trương Đan Phong không chặt gẫy được binh khí của y, cũng cảm thấy bất ngờ.
Nói thì chậm nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, Vân Lối đâm soạt tới một kiếm, Trương Đan Phong chém tiếp xuống hạ bàn, hai kiếm hợp lại tựa như một vòng ánh sáng, nhốt Ngạch Cát Đa vào ở giữa. Hai kiếm hợp bích, uy lực tăng lên rất nhiều, nếu Ngạch Cát Đa né tránh nhát kiếm của Vân Lối thì hai chân sẽ bị Trương Đan Phong chặt đứt; nếu né tránh chiêu kiếm của Trương Đan Phong thì mũi kiếm của Vân Lối sẽ đâm vào ngực, không chết cũng bị thương, giữa hai chỉ có thể chọn một.
Ngạch Cát Đa nghĩ bụng: “Mình dù có chết cũng không thể chịu nhục, chặt chân”.
Thế rồi trở mũi kiếm, thủ ở phần hạ bàn, Vân Lối đâm kiếm tới, như sắp đâm thẳng vào ngựa Ngạch Cát Đa, đột nhiên một luồng kình công dồn tới trước mặt, Vân Lối nhẹ nhàng né qua, đang định đổi chiêu bỗng nghe keng một tiếng, Ngạch Cát Đa kêu hoảng, phóng vọt ra đến hơn một trượng. Tiếp theo một giong nói ồm ồm vang lên: “Ngừng tay!”
Ở phía trước xuất hiện thêm một người, người này che mặt, chỉ để lộ đôi mắt sáng quắt, hai quyền đánh gấp ra, chính y đã cứu mạng Ngạch Cát Đa!
Hai người này ra tay rất nhanh nhẹn, thanh trường kiếm của Ngạch Cát Đa tuy bị Trương Đan Phong chặt gẫy, chân cũng đã bị thương, nhưng vẫn giữ được tính mạng, lúc đó y đang đứng một bên thở phì phò, người che mặt nói: “Hai vị phải lên núi, xin hãy theo quy củ giang hồ, vào trong đại trại, nói chuyện, sau lại không phân rõ trắng đen, đến trước trại đã chém giết”.
Người này có thể cứu được Ngạch Cát Đa thì có thể thấy võ công của y cao cường biết dường nào, Trương Đan Phong cũng thầm thất kinh: “Sao cha con Sa Đào lại có thể mời được một cao nhân như thế này? Chuyện hôm nay e rằng khó giải quyết!”
Vân Lối chợt nói: “Ngươi là người Hồ hay người Hán?”
Người ấy ngạc nhiên, nói: “Ngươi hỏi như thế là có ý gì?”
Vân Lối nói: “Nhìn bề ngoài ngươi là một ngưới Hán, nhưng lại giúp cho người Hồ, chẳng lẽ ngươi cũng biết thổ thẹn nên dùng khăn che mặt hay sao?”
Người ấy đột nhiên cả giận, phóng vọt người tới, quét ra một chưởng, Trương Đan Phong vội vàng đâm kiếm ra, hai kiếm hợp lại đâm vào hai bên huyệt Kiên Tĩnh của y, chưởng thế của người che mặt nhanh chóng vô cùng, mỗi chiêu phát ra đều đồng thời đánh hai người, chỉ trong chớp mắt đôi bên đã đánh nhau ba chiêu. Người ấy đỡ ba chiêu kiếm rồi tiếp tục đánh ra chiêu thứ tư, chiêu thứ năm, dần dần cảm thấy không thể ứng phó nữa, thế công của hai bên đều rất gấp, đánh thêm một mạch ba chiêu nữa, người ấy thoái lui mấy bước. Vân Lối cười lạnh: “Loạn thần tặc tử, ai cũng có thể biết, cần gì phải nói quy củ giang hồ?”
Khi nàng đang nói thì đã đánh thêm ba chiêu nữa, người ấy chỉ có chống đỡ chứ không thể nào trả đòn được. Trương Đan Phong chợt kêu lên: “Tiểu huynh đệ, hãy ngừng tay”.
Vân Lối nói: “Sao?”
Trương Đan Phong nói: “Người này dùng đôi chưởng mà được tiếp mười chiêu chúng ta, cũng coi như là một trang hảo hán, có giết y y cũng không phục, được, chúng ta hãy theo y vào trại xem thử”.
Vân Lối rất ngạc nhiên, nhưng trước mặt kẻ này cũng không tiện tranh cãi với Trương Đan Phong cho nên chỉ đành ngừng tay. Nàng đâu biết, Trương Đan Phong đang suy đoán tên lai lịch của người này, võ công của người này tuy quái dị, nhưng chỉ sau hơn mười chiêu thì Trương Đan Phong đã phát dát ra manh mối, người che mặt nhìn hai người, Trương, Vân, chợt nói: “Ai đã truyền kiếm pháp cho các người?”
Vân Lối nói: “Ngươi không xứng hỏi tên sư phụ ta!”
Người ấy cả giận, toan ra tay nhưng rốt cuộc đã ném lại được. Y ngừ một tiếng, rồi nói: “Bọn nhãi nhép chẳng biết tốt xấu, lát nữa các ngươi sẽ biết tay ta!”
Người che mặt dắt họ vào Tụ Nghĩa sảnh trong sơn trại. Đại sảnh này rất rộng lớn, tựa như một sân tập võ, trong sảnh ngồi đầy những nhân vật tam sơn ngũ ngạc, thấy hai người, Trương, Vân bước vào mà vẫn ngồi yên, chẳng hề liếc mắt nhìn. Vân Lối đưa mắt nhìn, chỉ thấy cha con Thạch Anh bị vây ở giữa, Thạch Thúy Phượng cứ nhìn thẳng vào mình, vẻ mặt như ai oán như mừng rỡ, chợt lên tiếng gọi: “Hiền tế, con đến đây làm gì? Chuyện ở đây không liên quan đến con!”
Trương Đan Phong mỉm cười, nói: “Không liên quan đến y, vậy chắc chắn liên quan đến tôi?”
Thế rồi ngồi xuống bên cạnh Thạch Anh, Sa Đào trừng mắt nhìn: “Hay lắm! Ngươi tự dẫn sát đến đây thì tốt còn gì bằng!”
Sa Vô Kỵ trừng mắt nhìn Vân Lối, tựa như muốn ăn tươi nuốt sống nàng. Té ra y cứ tưởng rằng Vân Lối là Thạch Thúy Phượng đã thành vợ chồng, y căm giận Vân Lối đến cướp mất người trong mộng của mình.
Trương Đan Phong nói: “Thạch lão anh hùng, chuyện gì đã xảy ra?” Thạch Anh chưa kịp trả lời, Sa Đào đã lớn giọng nói: “Thạch đại ca, kẻ hiểu thời thế là trang tuấn kiệt, giờ đây khí số triều Minh đã hết, triều Châu của Trương Sĩ Thành cũng chẳng còn gì nữa, đại ca có bao giờ thấy tro tàn bốc cháy trở lại chưa? Sao đại ca còn cam lòng làm gia nô cho người chết, giúp y bảo vệ báu vật?”
Thạch Anh đúng là gừng càng già càng cay, nghe thế thì cả giận, nhưng cũng cố nén lại, cười lạnh nói: “Theo ý ông, chúng ta nên làm nô tài cho Ngõa Thích?”
Sa Đào đỏ mặt, tỏ vẻ lúng túng, ngượng cười nói: “Đại ca, không nên nói thế!”
Thạch Anh rằng giọng: “Vậy sẽ nói thế nào?”
Sa Đào nói: “Đại ca cứ đưa bức tranh ấy ra, chúng ta sẽ tìm bảo tàng của Trương Sĩ Thành, nhân lúc thiên hạ đại loạn dựng cờ khởi nghĩa, dù không đầu hàng Ngõa Thích cũng có thể tự lập làm vua!”
Thạch Anh nói: “Ai bảo ngươi biết có bức tranh ấy, nói mau, nói mau!”
Thạch Anh tuy nằm trong tay địch nhưng vẫn còn uy phong, Sa Đào chợt lạnh mình ấp úng đáp không ra lời. Chợt nghe một giọng khàn khàn: “Là ta đã cho y biết, thế nào?”
Thạch Anh nhìn lại, chỉ thấy người ấy tướng mạo rất thô kệch, đang chợt thấy mắt nhìn mình. Thạch Anh nổ giận chỉ người ấy quát: “Ngươi là ai?”
Trương Đan Phong lạnh lùng nói: “Đây chính là thủ hạ dưới tay Dã Tiên võ sĩ Ngạch Cát Đa, ta nói không sai chứ?”
Ngạch Cát Đa tính tình lỗ mãng, chẳng biết lợi hại, y vừa rồi đã thua trong tay hai người Trương, Vân bị đánh đến nổi mặt mày sưng vêu, không thể nào trút giận được, nghe Sa Đào ấp úng như thế, y không biết đó là do Sa Đào e ngại Thạch Anh cho nên mới xông ra.
Y nghe Trương Đan Phong nói như thế ngạo mạng trả lời: “Ngõa Thích bọn ta, binh mạnh tướng tài, mời ngươi lui binh chính là nể mặt ngươi, nếu tên tiểu tử nhà ngươi không phục thì chúng ta đơn đả độc đấu”.
Y vừa nói ra câu này, ngoại trừ bọn tâm phúc của Sa Đào và những kẻ đã bị Ngõa Thích mua chuộc, một nửa số người còn lại, quyết định không bán mạng cho Sa Đào nữa.
Thạch Anh chợn tròn mắt, định lên tiếng, chợt nghe Trương Đan Phong nói: “Các người đều uổng phí tâm cơ. Chỉ vì bức tranh này mà dù Thạch lão anh hùng tới đây, cướp nhà ông ta, nhưng cũng chẳng được gì, đường đường là một Trại chủ mà làm chuyện lén lúc thậm thụt, không sợ thiên hạ anh hùng che cười hay sao?”
Thạch Anh nghe nói nhà mình bị cướp, càng phẫn nộ hơn. Ông ta vỗ bốp một chưởng lên bàn, chiếc bàn gẫy bớt một góc, lớn giọng nói: “Người xưa nói, cắt chiếu tuyệt giao, sao hôm nay chặt bàn tỏ ý. Sa Đào lão tặc, tình huynh đệ giữa ta và ngươi đã chấm dứt, nếu ngươi buộc ta nữa ta sẽ không khách sáo!”
Sắc mặt Sa Đào lúc xanh lúc đỏ, lớn giọng quát: “Lão thất phu họ Thạch kia, nếu hôm nay ngươi không giao bức tranh ra, đừng hòng sống sót!” Thế rồi phất tay lên định xông tới cướp đoạt.
Chợt thấy ánh hào quang lóe lên, Trương Đan Phong đã rút kiếm ra khỏi đao, chàng thúc chỏ, đánh bật Sa Đào ra đến cả một trượng, vây cánh của Sa Đào định la hét đã định xông lên, chỉ thấy Trương Đan Phong tay phải cầm kiếm, tay trái lấy ra một bức tranh, cười ha hả rồi nói: “Ai muốn lấy tranh thì xông về phía ta? Ta mới là chủ nhân của bức tranh này! Nhưng các ngươi có lấy được cũng vô dụng, ta đã bảo bảo tàng và địa đồ ở Tô Châu đều đã dâng cho Thiên tử nhà Minh!”
Lời ấy vừa nói ra, tất cả mọi người đều kinh ngạc, đều không đoán được lai lịch của thiếu niên này, vốn muốn biết là lời thiếu niên này là thật hay giả! Ngay lúc đó chợt có một người cười lạnh nói: “Trương Đan Phong, ngươi làm sao gạt nổi ta”.
Người ấy chính là trợ thủ của Ngạch Cát Đa, tên gọi Cát Chương A, y là vệ sĩ trong phủ Dã Tiên, cho nên nhận ra Trương Đan Phong. Ngạch Cát Đa nói: “Ngươi là con trai của Hữu thừa tướng Trương Tôn Châu ư? Thái sư đang tìm ngươi, ngươi hãy mau mau theo ta trở về!”
Trương Đan Phong nói: “Ta cũng đang muốn tìm Thái sư của các người, nhưng không phải đi theo ngươi bởi ta là người Trung Quốc, sau có thể làm việc trong Ngõa Thích các ngươi?”
Cát Chương A nói: “Họ Trương nhà ngươi có thù truyền kiếp với họ Chu, nếu ngươi đào được bảo tàng và địa đồ làm sao lại dâng cho kẻ thù? Thế này nhé, ngươi cứ giữ lại bảo tàng, còn địa đồ thì trao cho ta, để ta dâng cho Thái sư, ngươi đừng đùa nữa”.
Trương Đan Phong đặt một chân lên ghế, giở tấm tranh ra quát rằng: “Ai đùa với ngươi? Ngươi có gan hãy tự đến lấy!”
Cát Chương A vẫn còn nấn ná, vài võ sĩ Mông Cổ cũng không dám lộ mặt, các nhân vật hắc đạo, quá nửa lại theo đóm ăn tàn, bè đảng của Sa Đào rất kinh hoảng trước oai thế của chàng nhất thời cũng không ai dám bước ra.
Thạch Thúy Phượng nhẹ nhàng nhích sát vào người Vân Lối, kề tay nàng nói nhỏ: “Mấy ngày nay huynh có nhớ muội không?”
Vân Lối thì thầm: “Có nhiều người đang nhìn chúng ta, hôm e rằng nay khó thoát, cô nương còn lòng dạ nào nói với tôi như thế?”
Đột nhiên có hai đại hán bước ra, lao bổ về phía Trương Đan Phong. Sa Đào đã mời hai kẻ này tới, cả hai thấy Trương Đan Phong tuổi còn trẻ thì coi thường, vừa lao lên thì một tên di chuyển công phu cầm nã thủ vặn cánh tay của Trương Đan Phong, một tên toan đoạt bức tranh. Nói thì chậm sự việc diễn ra rất nhanh, chợt thấy ánh hàng quang lóe lên, Trương Đan Phong tung ra một cú đá, đá gẫy tay kẻ toan đến chụp bản đồ, chém ra một kiếm đứt cánh tay của kẻ toan đến vặn cánh tay chàng. Trương Đan Phong chỉ nghe tiếng quát: “Thật vô sĩ, các người ỷ đông hiếp yếu?”
Sa Đào nghĩ thầm: “Lúc này còn kể gì đến quy củ giang hồ nữa?”
Thế rồi định ra lệnh tất cả cùng xông lên, người che mặt đã cứu Ngạch Cát Đa lúc này đột nhiên lên tiếng: “Hay lắm, hay lắm, hôm nay trời thu mát mẻ thư giản gân cốt cũng tốt, nếu đơn đả độc đấu thì còn gì hay bằng”, giọng nói của y tựa như chuông đồng, chấn động cả căn đại sảnh. Sa Đào nhì y nghĩ bụng: “Nếu đơn đả độc đấu thì cũng khó hạ bọn chúng!”
Thạch Thúy Phượng dựa vào người Vân Lối, thì thầm nói những lời tình tứ, chợt thất Sa Vô Kỵ nhảy bổ tới, lớn giọng nói: “Ta sẽ lãnh giáo Vân công tử vài chiêu!”
Y căm hận Vân Lối, lúc này lại thấy hai người thì thầm to nhỏ với nhau càng ngứa mắt hơn, cho nên xông tới khiêu chiến. Vân Lối vội vàng đẩy Thạch Thúy Phượng ra, rút cây Thanh Minh kiếm.
Vân Lối đã từng giao đấu với Sa Vô Kỵ biết võ công của y không kém nhưng cũng không phải là đối thủ của mình, cho nên rất coi thường y. Nào ngờ Sa Vô Kỵ phóng đến rất nhanh, chưởng pháp kiểu rất quái dị, cánh tay co vào, chưởng trái từ bên trong, múa ra một vòng cung, chưởng phải đẩy ra theo sau, Vân Lối dùng một chiêu Thoát Bào Nhượng Vị, chân trái đạp xéo ra một bước, vai thu lại, trở tay chém kiếm ra, trước khi né chiêu sau đó chém vào cổ tay của kẻ địch, vốn đã nắm chắc phần thắng, nào ngờ Sa Vô Kỵ đánh ra chưởng trái trước, nhưng được nửa đường thì chưởng phải ra trước, trong chưởng phong có mùi tanh. Vân Lối rất ngạc nhiên, chỉ nghe Sa Vô Kỵ nói: “Xem chiêu!” rồi một bàn tay màu tím đen chém tới trước ngực!”
Trong chưởng phong kiếm ảnh, chỉ thấy một bóng người phóng vọt lên.
Soạt một tiếng, Sa Vô Kỵ loạng choạng bước chân, đùi của Sa Vô Kỵ đã bị kiếm đâm qua, Vân Lối cố nhảy vọt ra đến hơn một trượng, lúc này cả hai người đều cảm thấy rất bất ngờ.
Té ra Sa Vô Kỵ từ sau lần thất bại đó, tìm mọi cách báo thù, đã bái một quái nhân Miêu Động làm thầy, luyện loại Âm Phong Độc Sa chưởng cựa kỳ quái dị, chưởng lực càng độc địa hơn, người có võ công bình thường bị chưởng phong của y quét trúng thì sẽ bị trúng độc, người có võ công cao cường bị đánh trúng thì sau bảy ngày sẽ chết.
Sa Vô Kỵ lúc nãy mới đánh ra quái chiêu, tưởng rằng chắc chắn sẽ đánh trúng, nào ngờ Vân Lối tuy không biết loại chưởng pháp này nhưng võ công và khinh công hơn hẳn Sa Vô Kỵ cho nên trong lúc nguy cấp vẫn có thể tùy cơ ứng biến, nàng đã né tránh đồng thời trả lại một kiếm.
Sa Vô Kỵ đã trúng kiếm, may mà nhát kiếm vẫn chưa thấu xương, nhưng cũng rất đau đớn, tức giận đến nỗi kêu ầm lên, vung hai chưởng nữa bổ tới.
Lần này Vân Lối rất cẩn thận, nàng thi triển thân pháp Xuyên hoa như thụ dù đấu với y, trong khoảnh khắc, chỉ thấy bốn phương tám hướng chỉ thấy toàn là bóng dáng của Vân Lối, Sa Vô Kỵ chẳng chạm được vào gấu áo nàng. Sau hơn hai mươi chiêu, kiếm pháp của Vân Lối đột nhiên gấp gáp Sa Vô Kỵ biết không thể địch lại nàng, nhưng cũng không chịu thất bại, y muốn liều mạng để lưỡng bại câu thương, cho nên đột nhiên nhảy bổ vào vòng kiếm quang, đánh ra một chiêu Tà Tích Hoa Sơn, toan hy sinh một cánh tay để vỗ chưởng lên mặt Vân Lối. Vân Lối rất lanh lẹ, nàng trở tay hất thanh kiếm lên, trong chớp mắt lẽ ra cánh tay của y đã bị nàng chặït xuống.
Đột nhiên có một bóng người nhảy vọt ra, tay trái kéo Sa Vô Kỵ thoái lui, tay phải chụp vào mạch môn của Vân Lối. Người ấy có bộ mặt rất quái dị, thân hình gầy nhu que củi, mười móng tay đen óng, lạnh lùng cười nói: “Ái tế của Thạch trang chủ quả nhiên bất phàm, để ta lãnh giáo vài chiêu”.
Người ấy chính là sư phụ của Sa Vô Kỵ, dị nhân ở chốn miêu cương tên gọi Xích Thần Tử, y từ miền Vân Quý lên phía Bắc, hào kiệt ở phía Bắc rất ít người biết y.
Khi nói thì hai người đã giao thủ. Tuy cùng là một bộ chưởng pháp nhưng Xích Thần Tử sử dụng thì lại lợi hơn Sa Vô Kỵ gấp mười lần! Trong màng kiếm quang mà y cũng có thể xuất chiêu tựa như ma quỷ, mỗi chiêu thì các khớp đều kêu lên răn rắc, Vân Lối rất kinh hãi, vội vàng múa cây Thanh Minh kiếm thành một màn ngân hồng.
Xích Thần Tử liên tục xuất chiêu mà vẫn không thể tấn công được, đột nhiên gầm lớn một tiếng, hai chưởng quét ra liên tục, một luồn hàn khí dồn tới, mũi kiếm của Vân Lối bị đánh bật ra, điều kỳ lạ hơn là trong lòng dần dần cảm thấy bồn chồn, lửa giật bốc cao, tựa như bị người chọc giận, không thể kềm chế nỗi. Nàng vốn chỉ muốn thủ chứ không công nhưng đấu được vài mươi chiêu, lửa giận bốc lên không thể kềm chế thân mình, thế là lao vào tấn công Xích Thần Tử. Vốn là Âm Phong Độc Sa chưởng của Xích Thần Tử không những hai chưởng có kịch độc mà trong luồn chưởng phong cũng có khí lạnh, có thể kích thích thần kinh của kẻ địch, khiến cho kẻ địch phân tâm.
Xích Thần Tử đang muốn dụ nàng tấn công, trong lúc kịch chiến, Vân Lối đâm ra một kiếm, kiếm này vừa chuẩn vừa dữ, xem ra Xích Thần Tử không thể nào né tránh nữa, chợt thấy y gầm lên một tiếng rồi phóng vọt người lên, từ trên cao chụp mười đầu ngón tay xuống Thạch Thúy Phượng kêu hoảng, suýt chút nũa thì bất tĩnh, chợt nghe mọi người cười ầm, đến khi nàng mở mắt ra thì không khỏi ngạc nhiên! Xích Thần Tử đứng cách Vân Lối khoảng một trượng, áo quần rách rưới, bộ dạng trông rất thảm hại. Nhưng Vân Lối thì còn tả tơi hơn y gấp mười lần, vòng buộc tóc trên đầu đã gẫy, khăn đầu cũng bị xé rách, lúc này đã trông nàng giống như một thiếu nữ! Té ra lúc nãy hai bên đều liều mạng, Vân Lối ở thế hạ phong, thế là đánh liều ra chiêu kiếm Cực Mục Thương Ba, Xích Thần Tử vẫn dùng lực chụp xuống, cũng có thể chụp được vào đầu của nàng nhưng nhát kiếm của Vân Lối cũng có thể đâm vào ngực của y. Cho nên cả hai bên đều di chuyển, vì thế đòn đánh chệch chuẩn, Vân Lối móc rách áo của y còn y thì chụp được dây cột tóc của nàng!
Mọi người cười ầm lên, Xích Thần Tử phun một bãi nước bọt rồi nói: “Coi như lão tử xui xẻo, gặp phải tên nhân yêu nhà ngươi, lão tử không động thủ với đàn bà!”
Vân Lối tức giận đến mặt tái xanh, nàng vung Thanh kiếm địnnh xông lên liều mạng, chợt nghe Trương Đan Phong dịu dàng nói: “Tiểu huynh đệ, đệ hãy nghỉ ngơi một lát!” Đang nói thì đã chặn Xích Thần Tử lại, cả hai bên bắt đầu động thủ với nhau.
Tiếng cười kéo dài không dứt, toàn bộ ánh mắt đều nhìn về phía Vân Lối, cha con Thạch Anh thì ngạc nhiên vô cùng, Thạch Thúy Phượng đứng như trời trồng, những cảm giác, chua xót, thất vọng, ngạc nhiên, đau đớn, dâng lên trong lòng nàng. Nàng không ngờ người mà nàng ngày đêm mong nhớ lại là một thiếu nữ giống mình! Chỉ thấy Vân Lối cắn môi, vẻ mặt lúng túng, buộc lại tóc, vẻ e thẹn ấy càng giống như một thiếu nữ khuê các. Thạch Thúy Phượng vẫn không tin nàng là phụ nữ, mặc cho mọi người đang đứng nhìn, vội bước sát tới Vân Lối, ghé tay nàng hỏi nhỏ nàng hỏi nhỏ: “Vân công tử, tại sao công tử để tóc dài như thế? Công tử... là nam tử hay nữ yêu nương?”
Vân Lối đỏ mặt, nàng vốn định nói sự thật cho Thạch Thúy Phượng nghe, nhưng trong tình cảnh lúc này, bị Thạch Thúy Phượng hỏi dồn như thế, nàng nói muốn không ra lời, Thạch Thúy Phượng nói: “Oan gia, ngươi nói đi!”
Chợt tiếng cười trong đại sảnh dứt hẳn, té ra Trương Đan Phong và Xích Thần Tử đang đánh nhau rất kịch liệt, mọi người đều chú ý đến họ.
Vân Lối cũng chăm chú nhìn, ánh mắt đầy vẻ quan tâm lo lắng, Thạch Thúy Phượng chợt xốn xang trong lòng, vẻ mặt ấy, ánh mắt ấy, ngoại trừ là tình nhân, không thể tìm được cách giải thích nào. Xem ra sự quan tâm của “y” đối với Trương Đan Phong cũng giống như sự quan tâm của mình đối với “y”, vậy thì sự thật đã bày ra trước mắt, tia hy vọng nhỏ nhoi trong lòng Thạch Thúy Phượng vỡ tan như bọt biển, nàng không biết là tiếc nuối, hay đau đớn!.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:45 pm

Trương Đan Phong và Xích Thần Tử đã đỗ nhau đến hàng trăm chiêu, nội lực và hỏa hầu của Trương Đan Phong hơn hẳn Vân Lối, Âm Phong Độc Sa chưởng của Xích Thần Tử cũng chẳng làm gì được chàng, Trương Đan Phong thấy chiêu phá chiêu, thấy thức phá thức, không chậm không nhanh, không hề nôn nóng tí nào. Xích Thần Tử cũng chẳng chiếm được tiện nghi, trái lại lửa giận bốc lên, y gầm lớn một tiếng phóng vọt người lên, chụp mười đầu ngón tay xuống! Còn Trương Đan Phong thì trông rất nhẹ nhàng tự nhiên! Kiếm quang lúc tụ lúc tản, tựa như nước chảy mây bay mà không hề mất sức, nhưng lúc nào cũng chiếm tiên cơ. Xích Thần Tử bắt đầu lạnh mình, trong lòng ngạc nhiên thầm nhủ: “Mình đã sáng tạo ra bộ chưởng pháp này, đã truyền cho Sa Vô Kỵ nhưng y cũng không hoàn toàn hiểu được. Không biết người này tại sao tựa như rất thông thuộc, trước khi mình đổi chiêu đón đầu mình khiến cho mình không thể thi triển được?” Y nào biết Trương Đan Phong sau khi học được Huyền công yếu quyết của Bành hòa thượng, đã lãnh ngộ được nguyên lý võ học của các môn các phái, cho nên chỉ nhìn được môn võ mới là chàng đã thông hiểu ngay. Chàng đã thấy Sa Vô Kỵ đánh một trận với Vân Lối, lại thấy Xích Thần Tử đấu với Vân Lối, bản thân cũng đã tiếp hơn một trăm chiêu của Xích Thần Tử, cho nên đã nắm bộ pháp này trong lòng bàn tay, lại thêm công lực của chàng hơi nhỉnh hơn Xích Thần Tử, thanh Bạch Vân kiếm lại là bảo kiếm, Độc Sa chưởng của Xích Thần Tử tuy lợi hại nhưng y cũng không làm gì được chàng. Lúc này Xích Thần Tử chỉ có thể chống đỡ, chẳng thể nào trả đòn được! Xích Thần Tử thấy thế lại càng lo lắng đang tìm cách bỏ chạy thì Trương Đan Phong đã cười lạnh, quát: “Tên yêu nhân nhà ngươi hãy xem chiêu!”
Trong chưởng phong kiếm ảnh, chỉ nghe chát một tiếng, cánh tay của Xích Thần Tử đã bị chàng chặt gãy. Những nhân vật hắc đạo trong sảnh đường đều kêu ồ lên, Xích Thần Tử đỡ lấy cánh tay gãy, chạy ra khỏi sơn trại, quay đầu lại mắng: “Tiểu tử kia mười năm sau, tổ sư gia sẽ tìm nhà ngươi trả thù!”
Trương Đan Phong cầm kiếm nói: “Được, ta sẽ đợi ngươi!”
Mọi người thấy sau khi Xích Thần Tử bị chặt tay mà vẫn chạy như bay thì không khỏi kinh hãi. Trương Đan Phong vốn không có ý chặt tay y, nhưng gì y mắng Vân Lối một câu “Nhân yêu”, cho nên mới chặt tay của y, lúc này cũng có chút hối hận. Mọi người thấy Xích Thần Tử hung hăng như thế, mà chẳng hơn được Trương Đan Phong, trong lòng lo lắng, không ai bước ra khiêu chiến nữa, Sa Đào lại đánh liều định xui thuộc hạ ra, vây công. Chợt nghe có người cười nói: “Kiếm pháp hay, kiếm pháp hay, ta cũng muốn lãnh giáo vài chiêu?”
Trương Đan Phong nhìn lại, thấy chính là người che mặt lúc nãy, ánh mắt của y trông sáng quắt, rõ ràng rất bí hiểm. Vân Lối lạnh mình, đơn đả độc đấu chỉ e Trương Đan Phong không phải là đối thủ của y. Người che mặt thủ thế quát: “Xuất chiêu đi!”
Trương Đan Phong đút kiếm vào vỏ, nói: “Nếu các hạ không dùng binh khí, tại hạ cũng sẽ chìu các hạ đi một bài quyền”.
Vân Lối nhíu mày, thầm nhủ: “Trương Đan Phong cũng quá tự đại, kẻ này dùng hay tay và có thể chống được mười chiêu song kiếp hợp bích, công lực không tầm thường tí nào. Nếu dùng kiếm thì có thể chống chọi được, chỉ đấu quyền của y thì chắc chắn thất bại”.
Nàng bắt đầu lo lắng cho Trương Đan Phong.
Người ấy cười ha hả rồi nói: “Nếu như thế, mong các hạ ban cho vài chiêu”.
Trương Đan Phong nói: “Hắc phong hoa chủ, mời các hạ chỉ giáo”.
Người ấy cười: “Trương công tử không hề chiếm phần hơn của người khác, quả thật là đệ tử danh gia, thật ra chúng ta đều là khách. Nếu Trương công tử đã nhường, tôi chỉ đành chìu theo”. Thế rồi co cánh tay lại, đột nhiên đánh ra một chiêu Loan Cung Xạ Nguyệt, ngón tay điểm huyệt Huyền Cơ trước ngực của Trương Đan Phong.
Thủ pháp điểm huyệt của người che mặt nhanh nhạy lạ thường, nhưng khi đầu ngón tay chạm vào áo của Trương Đan Phong, chàng lập tức hóp bụng thu ngực, thoái lui ra sau đến một thước, chưởng phải dở lên đánh ra một chiêu Bôn Lưu Để Trụ, chặt ngang vào cánh tay của y, chưởng này của Trương Đan Phong có thể đánh nát bia vỡ đá, dù là người có nội công hỏa hầu cũng không thể nào chịu nổi. Nào ngờ ngón tay của người che mặt ấy cứng rắn lạ thường, y mau chóng rút tay về khen rằng: “Trẻ tuổi mà có công lực như thế thật đáng khen, tiếp thêm chiêu này nữa”. Thế rồi biến chỉ thành chưởng, bàn tay từ dưới phải chĩa ra, nhẹ nhàng vỗ ra một chưởng.
Trương Đan Phong giật mình, lúc nãy chàng chém một chưởng trúng vào cánh tay của y cảm thấy tê rần, nếu không phải gần đây nội công có tiến bộ, chàng đã không thể nào chịu đựng nổi, đang kinh ngạc, chỉ thấy chưởng của người ấy dồn tới, chàng nào dám chậm trễ, vội vàng dùng nội lực Kim Cương thủ pháp vừa mới học được tiếp lấy chưởng ấy, nhẹ nhàng ra tay rất mạnh, hai luồn kình lực vỗ ra như dời núi lấp biển, nội lực Kim Cương thủ pháp của Trương Đan Phong bị y phản công, kình lực giảm sút, hai bên đều thoái lui ba bước, nhưng người ấy không hề biến sắc, còn Trương Đan Phong thì cảm thấy hổ khẩu tê rần, những người đứng gần đó tuy không nhận ra, nhưng Trương Đan Phong rất thắc mắc, lúc nãy người đó đã sử dụng Nhất chỉ thiền công, nhưng chưởng này thủ phát Thiết Tỳ Bà, Thiết Tỳ Bà thủ là môn võ nhiều người biết, nhưng có thể sử dụng xuất thần nhập hóa như y thì rất hiếm. Trương Đan Phong thần nhủ: “Kẻ này là nhân vật nổi tiếng trên giang hồ, tại sao lại nhập bọn với bọn Sa Đào, hình như y biết sư môn của mình”, chỉ nghe người ấy cười: “Đã lâu rồi mới gặp một địch thủ như thế này, hôm nay ta phải xem thử cao chiêu của đệ tử danh gia như thế nào!”
Thế rồi vỗ liền ra ba chưởng, Trương Đan Phong thi triển thân pháp Công Loạn Lạc Hoa, khi né tránh cũng liên tục tung ra ba chiêu phản công, chiêu đầu tiên là Như Phong Tự Bế của Thái Cực quyền, hóa giải chưởng thế của người che mặt; chiêu thứ hai là Khôi Tinh Thích Đấu của Thiếu Lâm quyền, dùng tấn công làm thủ, buộc kẻ địch phải đổi chiêu; chiêu thứ ba là Bách Biến Huyền Cơ chưởng pháp của sư môn, đẩy chưởng thế của kẻ địch ra ngoài. Người che mặt thấy chỉ trong khoảnh khắc mà chàng đã dùng ba loại chưởng pháp khác nhau thì không khỏi kinh ngạc, chỉ kêu ồ một tiếng.
Hai người lại đấu hai ba mươi chiêu nữa. Người che mặt vẫn sử dụng Thiết Tỳ Bà thủ, chốc chốc lại kèm thêm một đòn Nhất chỉ thiền công, thế công không hề giảm.
Trương Đan Phong tuy dùng thủ pháp của các phái, nhưng chỉ có thể làm rối loạn kẻ địch trong một lúc, cứ đánh mãi thì cuối cùng cũng thua thiệt. Sau ba mươi chiêu, chàng dần dần đuối sức, không dùng võ công của các phái khác nữa, chỉ dùng chưởng pháp Đại Tu Di của bổn môn, dùng song chưởng hộ toàn thân chỉ thủ chứ không công.
Chưởng pháp Đại tu di này tạo ra một vòng đánh nhỏ, nhưng phòng bị rất kín kẽ, vững chắc vô cùng, lực phản công rất mạnh, người ấy cũng không thể tấn công được chàng nữa, nhưng Thiết Tỳ Bà thủ của y thần dịu vô cùng, có lúc chưởng lực kèm theo gió kêu lên vù vù, mạnh mẽ vô cùng, có lúc lại nhẹ nhàng vỗ ra, khi sát đến người Trương Đan Phong thì kình lực đột nhiên phát ra, khiến cho chàng không thể nào lường được, còn Nhất chỉ thiền công thì lại càng lợi hại hơn, chiêu nào cũng đánh vào đại huyệt trên người Trương Đan Phong. Trương Đan Phong càng lúc càng nghi ngờ, người này dùng Thiết Tỳ Bà thủ để đánh đến xuất thần nhập hóa chẳng kém gì Đàm Đài Diệt Minh nhưng Đàm Đài Diệt Minh lại không biết Nhất chỉ thiền công của y, nếu hai người không cùng một môn phái, tại sao thủ pháp Thiết Tỳ Bà thủ lại giống nhau? Nếu bảo cùng một môn phái, tại sao y lại biết Nhất chỉ thiền công? Chả lẽ sư phụ của họ thiên vị? Vả lại Đàm Đài Kính Minh chỉ nói y cũng có một sư muội, chưa bao giờ nói y có huynh đệ. Hai người đánh được khoảng năm mươi chiêu nữa, người che mặt lúc phóng chưởng lúc đâm chỉ, Đại tu di thủ pháp của Trương Đan Phong tuy thần dịu nhưng nội công của chàng hơi kém hơi dần dần khó chống nổi võ công thượng thừa của kẻ địch, người che mặt quát: “Cẩn thận tiếp chiêu!” Thế rồi chưởng trái đẩy khủyu tay của Trương Đan Phong lên, chưởng phải đột nhiên đâm tới, nếu Trương Đan Phong né Nhất chỉ thiền công của y thì bị Thiết Tỳ Bà thủ của y đẩy tới!.
Chỉ thấy Trương Đan Phong xoay người, chợt hai ngón tay vạch ra phía trước, một tay trở chưởng quét lại, chưởng ấy chính là thủ pháp Thiết Tỳ Bà còn chưởng lúc nãy trông giống như Nhất chỉ thiền công. Nhưng tật ra muốn luyện Nhất chỉ thiền công phải tốn ít nhất mười năm, không thể học lén trong chốc lát, chỉ pháp mà Trương Đan Phong sử dụng chỉ tương tự như Nhất chỉ thiền công. Nhưng như thế cũng đủ cho người ấy kinh ngạc vô cùng, y chỉ ùa lên một tiếng. Trương Đan Phong nhân lúc đó, tấn công bằng Bách Biến Huyền Cơ chưởng pháp. Người ấy ngạc nhiên, chợt cười ha hả nói: “Ngươi rất thông minh, suýt nữa đã gạt được ta!” Thế rồi lại vung tay điểm vào huyệt Thiên Trụ ở xương sống của Trương Đan Phong.
Trương Đan Phong nhẹ nhàng lách qua, người ấy mau chóng xuất chiêu, chưởng lực nặng như núi, Trương Đan Phong cố gắng lắm mới chống chọi nổi. Lại hơn hai mươi chiêu nữa trôi qua, người ấy vung hai chưởng ra, một hư một thực, chưởng trái kêu lên vù vù như là hư chiêu, chưởng phải chỉ vỗ nhẹ xuống nhưng lại là thực chiêu, Trương Đan Phong vận kình tiếp chưởng trái của y,vừa chạm vào thì đã biết mắc lừa. Người này nhả kình lực ở chưởng phải ra, dồn Trương Đan Phong thoái lui, chợt cười ha hả nói: “Quả nhiên ngươi đã đào bảo tàng của Trương Sĩ Thành và kỳ thư của Bành hòa thượng, ta ở đây còn có ý nghĩa gì?” Thế ra vung ra một chưởng, đột nhiên nhảy vọt ra sau chạy thẳng ra sơn trại. Người che mặt này đến cũng bất ngờ, đi cũng bất ngờ tựa như con thần long chỉ thấy đầu mà không thấy đuôi, mọi người đều ngạc nhiên cả Trương Đan Phong cũng thắc mắc: “Nếu có đánh tiếp, người ấy rõ ràng đã thắng, nhưng tại sao lại dừng tay?”
Người che mặt đi theo Ngạch Cát Đa, từ đầu đến cuối không hề cho người ta thấy mặt thật, cả cha con Sa Đào cũng không biết lai lịch của y, chỉ thấy võ công của y cao cường, cho nên e ngại. Người che mặt vừa bỏ đi, Sa Đào đã thấy tình thế không xong, lập tức hạ lên cho bọn thủ hạ xông lên. Ngạch Cát Đa lúc này cũng nôn nóng báo thù xông lên trước tiên, Trương Đan Phong cười ha hả, vẫy tay với Vân Lối, đồng thời cả hai kiếm cùng phóng ra, Ngạch Cát Đa cướp được một thanh kiếm, chỉ chặn được hai chiêu, hai người Trương, Vân, ra tay quá nhanh, vây cánh của Sa Đào chưa kịp tiếp ứng thì chỉ nghe chát một tiếng, thanh kiếm của Ngạch Cát Đa đã bị chặt gãy. Cát Chương A hỏi: “Trương Đan Phong, họ Trương nhà ngươi nhận ơn của nước ta lẽ nào ngươi không hiểu điều đó?”. Rồi rút đao ra chống đỡ, Trương Đan Phong chém kiếm ra, thế kiếm vẫn chưa hết, chỉ thấy kiếm quang loáng lên, chặt đứt thanh đao của Cát Chương A, Cát Chương A kinh hoàng thất sắc, kêu lên: “Trương Đan Phong... ngươi... ngươi”. Nói chưa dứt lời thì tiếng chiêu của Vân Lối đánh tới, võ nghệ của Cát Chương A kém hơn của Ngạch Cát Đa, làm sao có thể tránh được song kiếm hợp bích? Bị Vân Lối chém tới một kiếm mất mạng. Ngạch Cát Đa nhảy vọt ba bước, chợt nghe có một tiếng quát đuổi theo, người chưa tới thì kình công đã tới trước ngực, té ra Thạch Anh đã ra tay, chưởng này nặng đến hàng ngàn cân, Ngạch Cát Đa vừa mới bị Trương Đan Phong và Vân Lối đánh cho đầu óc choáng váng, chẳng phân biệt được phương hướng, lúc này lại đụng phải Thạch Anh, thế là né tránh không kịp, bị Thạch Anh vỗ bốp một chưởng vào hậu tâm, tấm áo giáp cũng rách toạt, thế là phung một ngụm máu tươi, may mà nhờ có áo giáp, nếu không đã khó giữ mạng, dù như thế cũng ngã xuống đất bất tỉnh, bọn võ sĩ đi cùng vội vàng khiêng y lếch thếch bỏ chạy.
Những nhân vật tam sơn ngũ nhạc do Sa Đào mời tới quá nữa lại có hai lòng, thấy thế thì tự động chuồn mất, số còn lại là tâm phúc của Sa Đào, thấy kiếm thế của hai người Trương, Vân quá ghê gớm, cho nên cũng hoảng sợ. Cho nên Trương Đan Phong cười ha hả, chỉ đông đánh Tây, chỉ Nam đánh Bắc, nhưng địch đông mà ta ít, trong nhất thời cũng chưa thể thoát khỏi vòng vây. Thạch Anh quát lớn: “Sa lão tặc, ta sẽ tính nợ với ngươi” Thế rồi nhảy bổ tới đuổi theo Sa Đào, Sa Đào đột nhiên hú dài một tiếng, bọn lâu la thoái lui, bọn Trương Đan Phong ngạc nhiên, chợt nghe ầm một tiếng, một tấm sắt từ trên trần nhà đổ xuống, chặn hai bên lại!
Bên ngoài có cao liên thủ và cung thủ đang mai phục, với sức của Thạch Anh và Trương Đan Phong, dù cho có thể dỡ tấm sắt này lên cũng không thể thoát khỏi độc tiễn, Thạch Anh thở dài, nói: “Chúng ta đã bị y nhốt ở đây!”
Sa Đào bên ngoài kêu lên: “Hãy mau đưa bức tranh cho ta, buông khí giới xuống, ta sẽ nhớ đến tình kết bái lúc trước, tha cho ngươi xuống núi”.
Vân Lối mỉm cười, nói: “Đại ca, bọn chúng vẫn chưa tin, huynh đã lấy bảo tàng dù đưa tấm bản đồ y cũng chẳng làm gì được”.
Trương Đan Phong nói: “Nhưng ta cứ không đưa”.
Thạch Anh nói: “Đúng thế! Đây là di vật của chúa công, làm sao có thể đưa cho y”.
Vân Lối cũng cười rằng: “Tôi chỉ nói đùa mà thôi, chúng ta dù có chết ở đây cũng không thể chịu nhục”.
Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, ta cứ cười đệ yếu đuối, té ra đệ cũng có khí khái nam tử”.
Chàng chỉ nói đùa nhưng Vân Lối lại cho là thật, bĩu môi nói: “Hừ, chả lẽ chỉ có nam tử các người mới là anh hùng hào kiệt?”Lúc này trong Tụ Nghĩa sảnh, chỉ còn lại bốn người bọn họ, Vân Lối vừa nói như thế, cha con Thạch Anh đều biến sắc. Thạch Thúy Phượng tiến tới gần Vân Lối, nắm tay nàng run rẩy hỏi: “Vân công tử? Ngươi là nữ nhi ư?”
Vân Lối đỏ mặt, hạ giọng nói: “Tỷ tỷ, tỷ nói không sai, tôi là một nữ nhi!”
Thạch Thúy Phượng tái mặt, chỉ Vân Lối nói: “Tiểu oan gia... ngươi... ngươi...”, rồi ấp úng nói không ra lời. Vân Lối thổ thẹn vô cùng, nói: “Hảo tỷ tỷ, là tôi đã gạt tỷ. Tỷ tỷ, tỷ đừng giận nữa, tôi... tôi... vẫn còn có một nghĩa huynh...”.
Thạch Thúy Phượng giận dỗi nói; “Mặc kệ tên nghĩa huynh gì đó của ngươi, hừ, tiểu oan gia, ngươi chẳng biết tâm sự của ta tí nào!”
Lúc này Thạch Thúy Phượng đã biết rõ nàng là một nữ tử, nhưng vẫn coi nàng như nam nhi, Trương Đan Phong nghe thấy thì không khỏi cười gượng. Thạch Anh là người già dặn, kéo Trương Đan Phong qua một bên hỏi cho kỹ càng, Trương Đan Phong nói xong lai lịch của Vân Lối thì cười rằng: “Lúc ấy ông nóng lòng chọn con rể, Vân Lối lại có tính trẻ con, cho nên đã gây ra chuyện buồn cười này, may mà chỉ giấu các người một năm, không đến nỗi làm lỡ tuổi thanh xuân của lệnh ái, ông đã gặp con trai của Kim Đao Châu Kiện, y coi như cũng là một trang thiếu niên tuấn kiệt.
Thạch Anh vừa nghe thì đã hiểu ý chàng, tìm hiểu đáp rằng: “Ta không quản hôn sự của con gái nữa. Châu Sơn Dân ư, nếu so với Vân công tử thì cũng chưa bằng, nhưng coi như cũng khá!”
Thạch Anh đã quen miệng gọi Vân Lối là công tử. Trương Đan Phong lại buồn cười. Thạch Anh chợt nói: “Thiếu chủ, tôi mất đi một ái tế, nhưng cũng xin chúc mừng người”.
Câu nói đùa của ông ta đã khơi dậy tâm sự của Trương Đan Phong chàng thở dài nói: “Có vui gì đâu!”
Thạch Anh nói: “Các người là một đôi người ngọc trời đất tạo ra, a đầu của tôi nào có thể xứng với Vân công tử. Chừng nào các người uống rượu tôi đây, ha ha, đây cũng là một giai thoại trong võ lâm!”
Trương Đan Phong nói: “Nói vẫn còn quá sớm! Thạch lão anh hùng, ông có điều vẫn chưa biết”. Thế rồi kể ra mối thù của hai nhà Trương, Vân.
Thạch Thúy Phượng coi Vân Lối là phu tế lý tưởng của mình, lúc này đương nhiên rất đau buồn. Vân Lối cũng rất ái ngại, nhưng cũng cảm động, chợt nói: “Hảo tỷ tỷ, tôi sẽ không lấy chồng, cứ ở mãi bên cạnh tỷ tỷ!”
Thạch Thúy Phượng mỉm cười hỏi: “Thật không?”
Vân Lối vẫn còn tánh trẻ con, cười rằng: “Sao mà không thật? Nhưng tôi còn có một huynh trưởng, tỷ tỷ thì không có. Tôi đương nhiên không cần phải gả cho người khác, nhưng nếu tỷ tỷ không lấy chồng, ai sẽ lo chuyện hương hỏa cho nhà họ Thạch các người?”
Thạch Thúy Phượng liếc nhìn Trương Đan Phong rồi nói: “Vân công tử, tôi biết người không nói đúng với lòng, tôi tuy chỉ là một ả nha đầu ngốc, nhưng đã biết ai là ý trung nhân của công tử”.
Vân Lối nghe thấy thì thở dài buồn bã nói: “Kiếp này tôi sẽ chẳng lấy ai cả, nếu tỷ tỷ không tin, tôi sẽ thề!”
Thạch Thúy Phượng che miệng nàng nói: “Đang vui vẻ tại sao lại thề? Tôi có được một hảo muội muội như thế này trong lòng đã thỏa mãn lắm”.
Thạch Anh là người phóng khoáng, tuy không vui lắm nhưng cũng mỉm cười với con gái rằng: “Hay lắm, hay lắm, các con đã nhận nhau làm tỷ muội, sao không mau bái kiến nghĩa phụ này?” Vân Lối bước tới trước mặt Thạch Anh quỳ xuống, bái lạy, Thạch Anh đỡ nàng dậy, nói: “Vân công tử! Hãy đứng dậy!”
Trương Đan Phong cười ha hả nói: “Sao còn gọi là Vân công tử?” Chàng vừa nói ra câu ấy thì mọi người đều cười, lúc này đã đến hoàng hôn, tiếng quát tháo bên ngoài vẫn vang dậy, trong Tụ Nghĩa sảnh lại không có thức ăn. May mà Vân Lối và Trương Đan Phong có mang theo lương khô, Vân Lối nói: “Ngày mai sẽ làm thế nào?”
Trương Đan Phong cười rằng: “Chuyện ngày mai thì chờ ngày mai tính, cần gì phải lo bây giờ?” Bốn người cứ ngồi trò chuyện với nhau, bọn Sa Đào ở bên ngoài sợ uy lực song kiếm hợp bích nên không dám vào đánh lén.
Đêm nay Trương Đan Phong và Thạch Anh thay phiên nhau canh gác, Vân Lối và Thạch Thúy Phượng nằm bên nhau trò chuyện thân mật tựa như một đôi tỷ muội. Vân Lối hỏi: “Lần trước chúng ta chia tay ở Thanh Long hiệp, Thạch tiền bối bảo tỷ quay về là có chuyện gì?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Vẫn là bức tranh ấy. Cha bảo, nước Ngõa Thích biết bức tranh ấy ở trong nhà của tỷ, sắp sai người đến cướp đoạt. Do đó cha bảo tỷ quay về, rồi cả nhà đến chỗ Lam trại chủ tránh nạn, sau khi quân Ngõa Thích rút đi mới trở về. Không ngờ tên lão tặc Sa Đào cấu kết với Dã Tiên không chịu Thạch Anh cho chúng ta”.
Vân Lối cười nói: “Bọn chúng làm sao biết bức tranh này đã sớm lọt vào tay đại ca của muội”.
Thạch Thúy Phượng nghe chàng gọi Trương Đan Phong thân mật như thế, lòng chợt nhói đau, nói: “Muội có đại ca, quên mất tỷ tỷ này!”
Vân Lối thở dài, nàng là phụ nữ cho nên rất e dè, dù trong lòng có nỗi buồn cũng không dám nói cho Thạch Thúy Phượng nghe.
Thạch Thúy Phượng thấy vẻ mặt của nàng khác lạ, trong lòng rất ngạc nhiên, nhưng cũng không hỏi nhiều, hai người bất giác chìm vào giấc ngủ. Không biết ngủ bao lâu chợt nghe bên ngoài có tiếng người la hét, Trương Đan Phong kêu: “Tiểu huynh đệ, đệ mau dậy xem thử! Nghĩa huynh của đệ đã tới!”
Vân Lối thức dậy thì thấy trời đã sáng, trên tấm sắt chặn ở phía trước có lỗ nhỏ có thể ghé mắt nhìn ra ngoài, chỉ thấy bên ngoài có hai lá cờ lớn phất phới, một lá có hình mặt trời một lá có hình mặt trăng, đó chính là dấu hiệu của Kim Đao trại chủ, Nhật Nguyệt song kỳ.
Bên ngoài tiếng la hét ầm trời, Trương Đan Phong nói: “Châu Sơn Dân đến thật đúng lúc!”
Lời này có hàm ý, Vân Lối bất giác mỉm miệng cười, một lát sau tiếng la hét dần dần yên lặng, tấm sắt cũng được người ở bên ngoài hợp lực kéo lên, ánh sáng bên ngoài ùa vào, Châu Sơn Dân chậm rãi bước vào Tụ Nghĩa sảnh.
Vân Lối đã mặc nữ phục, Châu Sơn Dân vừa nhìn thì rất ngạc nhiên, chào hỏi mọi người rồi liếc mắt nhìn Vân Lối. Vân Lối mỉm cười: “Chuyện muội nhờ huynh, muội đã tự nói rõ”.
Vân Lối đã mặc y phục của nữ, nét cười tựa như hoa bách hợp mới nở, nàng càng trở nên xinh đẹp hơn trong mắt Châu Sơn Dân, Châu Sơn Dân bất giác xốn xang trong lòng nhưng chợt thấy Trương Đan Phong cứ mỉm cười nhìn mình, bất giác lòng thấy bẽ bàng. Châu Sơn Dân vốn yêu đơn phương Vân Lối nhưng từ sau biết Vân Lối có tình cảm với Trương Đan Phong thì đã cố nén lòng mình, đến khi Đàm Đài Diệt Minh âm thầm giúp họ đánh thắng trận. Kể rõ tấm lòng của Trương Đan Phong đối với đất nước, Châu Sơn Dân càng hạ quyết tâm rút khỏi cuộc tình vô vọng này, lúc này tuy xốn xang nhưng lại kềm nén được.
Thạch Anh nói: “Châu hiền diệt làm sao biết chúng tôi bị nhốt ở đây mà đến cứu?” Câu hỏi cũng chính là đều mọi người thắc mắc tất cả đều nhìn Châu Sơn Dân, chỉ nghe Châu Sơn Dân nói: “Khi quân Ngõa Thích đánh vào, chúng tôi lưu lạc khắp nơi giờ đây chiến sự đã kết thúc, chúng tôi đã tập hợp trở lại, muốn quay trở lại nơi củ, hôm qua đã cắm trại ở gần đây, đến tối thì có một chuyện lạ xảy ra”.
Thạch Anh nói: “Chuyện lạ gì?”
Châu Sơn Dân nói: “Một người che mặt nữa đêm đột nhập vào doanh trại, phóng đao gởi thư, trong thư viết rõ ràng rằng các người đã trúng kế của Sa Đào, bị nhốt ở đây. Người che mặt này võ công cao cường, đến khi chúng tôi phát hiện thì đã chạy nhanh như luồng khói”.
Trương Đan Phong ngạc nhiên, nói: “Người che mặt?” Trong lòng đầy nghi hoặc.
Châu Sơn Dân nói: “Đúng thế, người che mặt lay vô ảnh khứ vô hình, cũng không biết y có lai lịch như thế nào? Gia phụ nói thà tin là có, chứ không nên nghĩ là không, vả lại Thạch lão anh hùng đã gặp nạn, chúng tôi không thể không cứu, cho nên bảo tiểu điệt đến đây”.
Vân Lối và Trương Đan Phong đều thầm ngạc nhiên, không biết người che mặt mà Châu Sơn Dân nói có phải là kẻ đã tỷ thí với họ hay không?
Châu Sơn Dân lại nói: “Khi quân Ngõa Thích đánh vào Trung Thổ, gia phụ đã nhiều lần sai người đến thăm Hắc Thạch trang, nhưng Thạch lão bá lánh nạn chưa về”.
Thạch Anh nói: “Đa tạ Kim Đao trại chủ đã quan tâm, ngày sau tôi sẽ đến thăm hỏi”.
Mọi người dùng cơm trưa trong sơn trại của Sa Đào, Trương Đan Phong và Vân Lối đang lên đường gấp, cho nên cáo biệt đi trước. Cha con Thạch Anh và Châu Sơn Dân đưa xuống núi, Vân Lối và Trương Đan Phong huýt một tiếng sáo, hai con ngựa nối đuôi nhau chạy tới, Châu Sơn Dân thấy Vân Lối nhảy lên lưng ngựa, chợt nhớ đến một chuỵên, nói: “Vân cô nương khoan đã”.
Vân Lối quay đầu lại hỏi: “Châu đại ca, có chuyện gì chỉ giáo?”
Châu Sơn Dân nói: “Cô nương đã nói rõ ràng chuyện với Thạch cô nương vậy không cần tôi phải giúp cô nương nữa. Cô nương hãy giữ lại vật này”. Nói xong lấy ra cây bích ngọc sang hô.
Đó chính là:
Dời hoa ghép cành kế đã xong, cần gì lấy lại bích san hô?
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Xem tiếp hồi 23
Chuyện mười năm trước làm hiệp nữ đau lòng
Hai phen kịch đấu đất bằng nổi sóng gió

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:22 pm

Hồi 23
Chuyện mười năm trước làm hiệp nữ đau lòng
Hai phen kịch đấu đất bằng nổi sóng gió

Cây san hô này là do Châu Kiện tặng cho Vân Lối, rồi Vân Lối lại tặng cho Thạch Thúy Phượng làm sính lễ, sau đó Vân Lối lại gởi cho Châu Sơn Dân, nhờ chàng nói rõ sự thật với Thạch Anh. Châu Sơn Dân lấy ra cây san hô, Thạch Thúy Phượng bất giác đỏ mặc. Châu Sơn Dân định đưa cây san hô cho Vân Lối, Vân Lối cười nói: “Cây san hô này vốn là vật của nhà họ Châu, trả cho tôi làm gì?” Thế rồi vỗ nhẹ, thớt ngựa hí dài, cùng thớt ngựa của Trương Đan Phong phóng như bay như bay trên đường trong chốc lát đã khuất dạng, Châu Sơn Dân đứng thẩn người dưới chân núi, không biết làm thế nào.
Hai người phóng ngựa thật nhanh, đến sáng hôm sau thì qua khỏi Nhạn Môn quan, bên ngoài Nhạn Môn Qua là nơi tiếp giáp giữa Hán với Hồ, người Mông Cổ chủ yếu sống du mục, phụ nữ cưỡi ngựa là điều rất bình thường. Do đó Vân Lối cũng không cần đổi nam trang. Trương Đan Phong cùng người ngọc cưỡi ngựa tung vó trên thảo nguyên, lòng càng thơi thới hơn, cười rằng: “Nếu có thể cùng đệ rong ruổi suốt đời như thế này ta cũng cam tâm tình nguyện”.
Vân Lối vỗ nhẹ vào cổ ngựa mỉm cười: “Ca ca ngốc toàn nói những lời ngốc nghếch!”
Trương Đan Phong cảm thấy lòng lân lân, không thể kềm chế được. Ngựa chạy qua Nhạn Môn quan, võ quan ở Nhạn Môn quan của triều Minh vẫn chưa quay lại, sau chiến hỏa chỉ thấy một đống hoang tàn, Trương Đan Phong đang cảm khái, chợt nghe Vân Lối thở dài, Trương Đan Phong hỏi: “Tiểu huynh đệ, sao thế!”
Vân Lối nói: “Muội nhớ lại lúc nhỏ, cảnh tượng quay về cùng với gia gia lúc nhỏ, hỡi ơi, thế mà đã mười năm trôi qua, cũng ở nơi này, muội còn nhớ đó là đêm mười lăm tháng mười, gia gia đã trao bức huyết thư cho muội ở đây”. Nhắc đến bức huyết thư trong lòng cảm thấy buồn bã, nàng chỉ im lặng cúi đầu Trương Đan Phong nói: “Đời người có được mấy lúc? Sau cứ nhớ những chuyện không vui”.
Hai người buông ngựa đi chậm. Vân Lối nói: “Đời người cũng thật là kỳ lạ!”
Trương Đan Phong nói: “Kỳ lạ thế nào?”
Vân Lối nhìn chàng đắm đuối tựa như muốn nói gì đấy lại thôi Trương Đan Phong nói: “Thế sự có lắm điều thay đổi chuyện nào cũng bất ngờ, ví dụ như ta, ta vốn tưởng rằng suốt đời này không ra Nhạn Môn quan nữa, nhưng nào ngờ hôm nay lại đến đây. Cho nên những chuyện đệ cho rằng kỳ lạ thì chưa chắc kỳ lạ. Có những chuyện xem ra không thể nào, nói không chừng đột nhiên lại giải quyết dễ dàng”.
Trong lời nói hàm chứa thâm ý, trong khoảnh khắc lòng Vân Lối dấy lên nỗi ám ảnh về bức huyết thư của gia gia, vẻ mặt nghiêm khắc của đại ca, khi ngẩng đầu lên lại thấy nụ cười ấm áp của Trương Đan Phong, nỗi ám ảnh ấy chợt tan biến
Trương Đan Phong vỗ ngựa đi bên cạnh Vân Lối đang định khuyên giải, con Chiếu dạ sư tử mã hí dài một tiếng, phóng về phía trước thớt ngựa này chưa bao giờ như thế. Trương Đan Phong kéo dây cương, chợt nói: “Thớt ngựa chạy lồng lên như thế chắc là có nguyên cớ, ta hãy xem nó đưa ta đến nơi nào”. Thế rồi buông nhẹ dây cương, thớt ngựa không phóng về phía truớc mà chạy vòng qua con đường nhỏ bên chân núi, trên đường cứ hí mãi không thôi, Vân Lối phóng ngựa đuổi theo nhưng trong chốc lát đã ở phía sau đến cả nữa dặm. Chạy một hồi, chợt nghe phía truớc có tiếng ngựa hí, tựa như hội ứng với nhau. Trương Đan Phong nhìn về phía trước, ở dưới chân núi có hai người đang giao đấu, có một thớt ngựa trắng giống như con Chiếu dạ sư tử mã chạy vọt ra.
Trương Đan Phong nhìn kỹ lại thì không khỏi thất kinh. Té ra một người là Triều Âm sư bá, đối thủ của ông ta là một người hơn bốn mươi tuổi, người hơi béo nhưng ra tay rất mạnh mẽ. Triều Âm hòa thượng sử dụng cây thiền trượng to như miệng bát, quét ngang bổ dọc kêu lên vù vù. Hán tử kia lúc dùng trượng, lúc dùng chỉ, lúc chém lúc đâm, chiêu số nhanh nhẹn vô cùng, mà thủ pháp cũng rất quái dị Phục Ma trượng pháp của Triều Âm hòa thượng lợi hại đến thế nhưng đều nhẹ nhàng đẩy ra, trong chưởng phong trượng ảnh, y lướt sát người lên đột nhiên vung chỉ điểm vào huyệt đạo của Triều Âm hòa thượng, Triều Âm hòa thượng tuy có thể né tránh nhưng không khỏi rùng mình. Trương Đan Phong thầm nhủ: “Pháp và chỉ pháp của hán tử này tựa như người che mặt đó. Đây chính là công phu Thiết Tỳ Bà thủ và Nhất chỉ thiền công!”
Dưới sườn núi còn có một người phụ nữ mỉm cười đứng nhìn, nàng ta khoảng ba mươi tuổi, mặt như trăng rằm, tư dung đoan chính, tựa như một thiếu phụ nhà quyền quý, nhưng đó thật ra là một lão cô cô nương đã xuất giá. Nàng vừa nhìn vừa mỉm cười, Triều Âm hòa thượng tuy người cao lớn vạm vỡ, nhưng chỉ bằng đôi chưởng mà hán tử ấy có thể làm cho ông ta luống cuống tay chân, Triều Âm hòa thượng chợt đánh ra một ra một chiêu Lực Phách Hoa Sơn, bổ thiền trượng xuống, hán tử ấy nhẹ nhàng né tránh, Triều Âm hòa thượng đánh quá mạnh cho nên thu thế không kịp, trượng ấy giáng xuống khiến cho đất đá bay lên mù mịt. Hán tử ấy cười ha hả, xuất chỉ nhanh như điện chớp xỉa vào be sườn của Triều Âm hòa thượng, võ công của Triều Âm hòa thượng cũng cao cường, trong lúc nguy hiểm mà có thể chống cây thiền trượng xuống đất, lộn người nhảy vọt lên. Thiếu phụ trung niên lúc nãy cười ha hả, rồi nói: “Đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ chẳng qua chỉ có thế!”
Trương Đan Phong nhíu mày, toan xông lên, chợt nghĩ bụng: “Hán tử này rõ ràng là người che mặt, y là võ sĩ của Dã Tiên cùng đến sơn trại của Sa Đào, sau đó lại chỉ cho Châu Sơn Dân đến cứu, quả thật không thể nào biết được lai lịch của y. Không hiểu tại sao y lại làm khó nhị sư bá của mình?” Chàng quay đầu nhìn thì thấy thớt khoái mã của Vân Lối phóng nhanh như bay. Con chiếu dạ sư tử mã của mình và thớt ngựa trắng của Triều Âm hòa thượng thì đứng cọ vào nhau.
Trong khoảnh khắc Vân Lối đã tới nhìn vào trong vòng chiến, lạnh giọng kêu lên: “Chẳng phải Triều Âm sư bá đấy sao? Triều Âm sư bá!”
Triều Âm hòa thượng đang kịch đấu bị hán tử ấy dồn ép đến nỗi không kịp thở, nghe tiếng gọi của Vân Lối cũng không thể nào trả lời. Còn hán tử ấy thì xông về phía hai người Trương, Vân, cười hì hì nói: “Lại gặp các người, lão hòa thượng này là sư bá của các người ư?” Triều Âm hòa thượng cả giận, múa cây thiền trượng quét tới, nhưng người ấy trở tay điểm một chỉ vào vai ông ta, khiến cho ông ta loạng choạng thoái lui Trương Đan Phong kêu lên: “Nhị sư bá hãy nghỉ ngơi một lát để cho bọn tiểu bối thay người tiếp vài chiêu”. Thế rồi rút kiếm ra khỏi bao, nhìn hán tử ấy nói: “Chúng tôi là đệ tử đời thứ ba của Huyền Cơ Dật Sĩ, mong tiền bối ban cho mấy chiêu”. Thế rồi vung kiếm lên nói: “Tiểu huynh đệ, đệ cũng nên lên tiếp lão tiền bối vài chiêu”.
Vân Lối rút kiếm ra, hai kiếm hợp lại lập tức múa ra hai luồng ngân hồng, hán tử ấy vỗ một chưởng về phía Trương Đan Phong, đâm một chỉ về phía Vân Lối.
song kiếm hợp bích rất lợi hại, kiếm chiêu tuông ra tựa như Trường Giang dâng sóng, biển rộng nổi cuồng phong, cứ chiêu này nối tiếp chiêu kia, lại thêm võ công của Trương Đan Phong ngang hàng với võ công của Triều Âm hòa thượng, sau khi chàng lấy được Huyền công yếu quyết thì võ công càng tiến bộ hơn, cho nên chỉ sau mười chiêu thì lập tức khiến cho người ấy chỉ có chống đỡ, chẳng hề trả đòn được. Người ấy nói: “Song kiếm hợp bích quả nhiên uy lực bất phàm, sư muội, muội cũng đến đây xem thử”.
Thiếu phụ ấy vâng một tiếng, cũng không thấy nàng bước chân, chỉ trong chớp mắt đã xuất hiện trước mặt hai người, chỉ nghe nàng ta rút soạt ra hai món binh khí, tay trái là một cây kim câu, tay phải là một thanh trường kiếm lấp lánh ánh bạc, trường kiếm xỉa ra phía trước, kim câu móc lại phía sau khiến cho Vân Lối và Trương Đan Phong bắt đầu thoái lui ba bước, Trương Đan Phong thi triển kiếm thế ở bên trái,Vân Lối thi triển kiếm thế ở phía bên phải hợp thành một vòng tròn, đẩy hai người kia ra khỏi vòng kiếm quang.
Thiếu phụ ấy không biết lợi hại, cứ tiến thẳng lên, hai món binh khí trong tay trong chớp mắt đã đánh ra ba chiêu.
Thiếu nữ ấy lúc thì sử dụng Thiết Tỳ Bà thủ, lúc thì sử dụng Nhất chỉ thiền công, thế công trở nên mạnh mẽ, Trương Đan Phong chặn hai chiêu, rồi đánh ra một chiêu Phi Long Tại Thiên phối hợp với chiêu kiếm Tiềm Long Nhập Địa của Vân Lối, chia nhau tấn công trên và dưới, chặn lại bốn luồng tấn công bằng câu, kiếm, chưởng, chỉ của kẻ địch. Thiếu phụ ấy bất đồ mấp máy môi, khen một chữ “Hay”. Trương Đan Phong chợt nói: “Xin hỏi hai vị xưng hô thế nào với Đàm Đài Diệt Minh?” Té ra không những Thiết Tỳ Bà của hán tử này giống với Đàm Đài Diệt Minh mà lộ số Kim câu của thiếu phụ kia cũng tương tự như Ngô câu kiếm pháp của Đàm Đài Diệt Minh. Nhưng Đàm Đài Diệt Minh sử dụng đội song câu còn thiếu phụ ấy lại sử dụng một câu một kiếm cho nên chiêu số càng quái dị hơn.
Thiếu phụ ấy ngạc nhiên, chợt cười rằng: “Bọn ta chỉ muốn tìm hiểu võ công của Huyền Cơ Dật Sĩ, không rỗi trả lời!” Thế rồi tay trái vung lên, ánh vàng lấp lánh lại đánh tới một câu, Trương Đan Phong hơi bực dọc thầm nhủ: “Được, ta sẽ cho bọn ngươi thấy võ công của sư tổ!” Thế rồi kiếm thế càng lúc càng gấp gáp hơn, hai kiếm lúc phân lúc hợp, tựa như song long giỡn nước, kiếm thế tựa như cầu vồng, biến đổi vô cùng, trong nhất thời nhốt đôi nam nữ ấy vào trong vòng kiếm quang.
Nhưng võ công của hai người này thật sự cao cường, nhìn bề ngoài tựa như họ bị song kiếm nhốt vào luồng kiếm quang, nhưng thật sự chiêu nào cũng phản công mạnh mẽ. Chỉ trong chốc lát, đôi bên lại đổi nhau năm bảy mươi chiêu, Trương Đan Phong thì không sao, nhưng Vân Lối thì có căn cơ kém hơn, nội công yếu hơn, bị tiềm lực của họ phản kích, ngực như bị đè nặng, hơi thở gấp gáp dần dần đuối sức. Trương Đan Phong hít một hơi, nghĩ bụng: “Quả nhiên ngoài trời có trời, ngoài người có người, mình chỉ tưởng song kiếp hợp bích thì vô địch, nào ngờ đôi nam nữ này đã chiếm thượng phong”.
Thật ra uy lực của song kiếm hợp bích rất mạnh mẽ, nhưng công lực của Vân Lối kém xa kẻ địch, cho nên không thể phát huy trọn vẹn mà thôi.
Triều Âm hòa thượng nghĩ một hồi, thấy Trương Đan Phong và Vân Lối chẳng kém gì kẻ địch, thế là vung cây thiền trượng nhảy vào vòng chiến, công lực của Triều Âm hòa thượng kém Trương Đan Phong nhưng lại trên Vân Lối, hai người Trương, Vân song kiếp hợp bích, vốm kém kẻ địch vài phần, nhưng Triều Âm hòa thượng nhảy vào vòng chiến, thì thành ra ba chống hai cho nên dần dần đã cân bằng nhau.
Lại kịch đấu hơn năm mươi chiêu nữa vẫn không phân cao thấp, chợt nghe có tiếng vó ngựa lộc cộc từ xa vọng tới, trong chốc lát đã thấy bóng người phóng ngựa tới, người này eo mang trường kiếm dáng vẻ tiêu soái, ông ta liếc nhìn rồi chợt nói: “Cả đồ đệ của ta mà ngươi cũng hạ không xong, làm sao giữ sĩ diện cho Thượng Quan lão quái?”
Trương Đan Phong vừa nhìn thì mừng rỡ kêu lên: “Sư phụ!”
Té ra người ấy chính là Tạ Thiên Hoa.
Tạ Thiên Hoa nói: “Triều Âm sư huynh, huynh hãy nghỉ ngơi một lát, để đệ xem thử đệ tử của Thượng Quan lão quái. Kim Câu Tiên Tử, tôi sẽ thỉnh giáo ngươi trước, Ô lão nhị ngươi hãy đấu thêm vài hiệp với học trò của ta”.
Té ra người đàn ông tên là Ô Mông Phu, vốn là đệ tử thứ hai của Thượng Quan Thiên Dã, năm xưa Thượng Quan Thiên Dã tranh hùng với Huyền Cơ Dật Sĩ, kịch đấu ba ngày ba đêm mà vẫn không phân thắng bại. Y có mấy môn võ công rất lợi hại. Công phu Nhất chỉ thiền công của y rất quái dị, chỉ có người đồng nam đồng nữ mới có thể luyện được, dù sao sau khi luyện thành mà kết hôn thì công lực sẽ giảm. Cho nên sau khi Thượng Quan Thiên Dã thu nhận học trò, trước tiên phải hỏi học trò nếu chịu suốt đời không kết hôn thì mới có thể truyền cho Nhất chỉ thiền công, đại đệ tử Đàm Đài Diệt Minh thì ở xứ người cho nên không muốn tiệt hậu do đó không chấp nhận, vì thế chỉ học được Ngô Câu kiếm pháp và vài môn công phu khác không biết Nhất chỉ thiền công. Nhị đệ tử Ô Mông Phu ham võ công thượng thừa, vừa nhập môn đã hứa suốt đời không kết hôn, còn thiếu phụ kia tên gọi Lâm Tiên Vận, ngoại hiệu Kim Câu Tiên Tử, là đệ tử thứ ba của Thượng Quan Thiên Dã, cũng không chịu kết hôn. Mười năm trước Lâm Tiên Vận xinh đẹp vô cùng, Ô Mông Phu cùng nàng học võ nghệ, ngày đêm bên nhau cho nên nảy sinh tình cảm, Lâm Tiên Vận là phụ nữ, tương đối trầm tĩnh hơn, không thể hiện ra ngoài, nhưng Ô Mông Phu lại mạnh dạn theo đuổi, tất cả những người đó đều không qua nổi cặp mắt của Thượng Quan Thiên Dã.
Thượng Quan Thiên Dã vốn định dạy vài đê tử xuất sắc để quyết một trận thư hùng Huyền Cơ Dật Sĩ, y lại ghét nhất người ta không giữ lời hứa, phát hiện đệ tử Ô Mông Phu có tình cảm với Lâm Tiên Vận thì không khỏi cả giận, trong lúc tức tối đã đuổi Ô Mông Phu ra khỏi sư môn, cho nên Đàm Đài Diệt Minh chỉ nói với người khác rằng, mình chỉ có một sư muội chứ không nhắc đến Ô Mông Phu.
Sau khi Ô Mông Phu bị đuổi ra khòi sư môn, một mặt vẫn quyến luyến sư môn, một mặt vẫn đau đớn vô cùng, trong lòng thầm nhủ: “Chả lẽ trên đời này không còn võ công nào thượng thừa hơn, hai vợ chồng có thể cùng tập hay sao? Môn Nhất chỉ thiền công của sư phụ sau khi kết hôn thì công lực giảm sút, theo sư phụ nói là vì khí chân nguyên tiết ra, phá hoại Đồng Tử công; nhưng nếu có một loại nội công thương thừa có thể giữ khí chân nguyên, vậy thì kết hôn có hề gì?” Do đó Ô Mông Phu mới đi khắp thiên hạ, tìm kiếm nội công thượng thừa chính tông hơn, nhưng mười năm qua vẫn chưa tìm được. Thời còn trẻ y nghe Đàm Đài Diệt Minh kể chuyện Trương Sĩ Thành và Bành hòa thượng nghe nói Bành hòa thượng có một quyển di thư gọi là Huyền công yếu quyết, tuy không biết nội dung, nhưng nghĩ bản lĩnh của Bành hòa thượng cao cường đến thế và tên sách lại là Huyền công yếu quyết thì chắc có ghi nhiều loại võ công cao siêu. Cho nên y cũng muốn tìm quyển sách này. Một tháng trước, y trở về Mông Cổ gặp võ sĩ thủ hạ của Dã Tiên là Ngạch Cát Đa, Ngạch Cát Đa kể rằng bảo tàng của Trương Sĩ Thành và quyển di thư của Bành hòa thượng đều được chôn ở Tô Châu, mấu chốt nằm trong bức tranh ở nhà Thạch Anh. Ngạch Cát Đa biết y là sư đệ của Đàm Đài Diệt Minh cho nên nhờ giúp đỡ, thế là y cùng Ngạch Cát Đa đến sơn trại của Sa Đào, vừa khéo gặp Trương Đan Phong lúc đó mới biết Huyền công yếu quyết đã lọt vào tay Trương Đan Phong. Y là bậc trưởng bối, lại tự phụ là nhân vật có tiếng trong võ lâm, đương nhiên không tiện giành sách của bậc tiểu bối, cho nên buồn bã thoái lui. Y vốn chẳng có thiện cảm với người dị tộc, nhưng vì một lòng muốn học nội công thượng thừa, cho nên chẳng hề quan tâm chuyện đánh nhau giữa hai nước Ngõa Thích và Trung Hoa, nhưng cũng không muốn y và Trương Đan Phong chết trong tay Sa Đào và Ngạch Cát Đa để quyển kỳ thư ấy lọt vào tay võ sĩ Mông Cổ cho nên sau khi rời khỏi sơn trại của Sa Đào thì âm thầm đến báo tin cho Kim Đao trại chủ.
Còn Kim Câu Tiên Tử Lâm Tiên Vận, tuy bề ngoài không để lộ ra, nhưng trong bụng cũng nhớ nhung Ô Mông Phu. Sau mười năm ở sư môn, võ công của nàng cũng có chút thành tựu, Thượng Quan Thiên Dã sai nàng xuống núi tự lập môn hộ, nàng đã chọn một ngọn núi bên ngoài Nhạn Môn quan, cố công khổ luyện nhưng cũng không thu học trò. Mấy ngày trước Ô Mông Phu đã tìm đến, hai người nhắc lại chuyện xưa, đôi bên đều buồn rầu. Nhưng vì quy tắc của sư môn, cả hai vẫn không dám nhắc đến chuyện hôn nhân. Sau đó Ô Mông Phu kể rằng, hai đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ sắp ra Nhạn Môn quan, Lâm Tiên Vận nói: “Tâm nguyện mười năm qua của sư phụ là đánh thắng Huyền Cơ Dật Sĩ, không biết mấy mươi năm nay Huyền Cơ Dật Sĩ có sáng tạo ra võ công gì đặc biệt hay không. Người cũng muốn đệ tử thắng đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ làm rạng rỡ sư môn. Chi bằng chúng ta ra Nhạn Môn quan chặn đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ, thắng thì tốt, nếu không thể thắng thì tìm ra hư thực, để lập công lớn cho sư môn. Có lẽ sư phụ sẽ cho huynh trở lại”.
Ô Mông Phu nghe nói thế thì lập tức cùng đến Nhạn Môn quan. Cả hai vốn dò hỏi được hai đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ là một nam một nữ, nhưng chỉ gặp được một mình Triều Âm hòa thượng. Đó là lý do Ô Mông Phu đánh nhau với Triều Âm hòa thượng khi hai bên đang kịch chiến, Tạ Thiên Hoa vỗ ngựa chạy đến gọi Triều Âm hòa thượng. Nhưng Triều Âm hòa thượng chỉ liếc nhìn Tạ Thiên Hoa chứ chẳng thèm nói gì. Lâm Tiên Vận nói: “Ngươi có phải là Tạ Thiên Hoa đấy không?” Tạ Thiên Hoa nói: “Đúng thế, chính là Tạ Thiên Hoa”.
Lâm Tiên Vận nói: “Ta nghe trong số đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ, Tạ Thiên Hoa có võ công cao nhất, nay ngươi đến thật đúng lúc, ta cũng muốn thử võ công của ngươi”. Thế rồi tay trái vung lên, móc tới trước một câu, Tạ Thiên Hoa trở tay đâm ra một kiếm, người nương theo kiếm kéo giật qua một bên, Lâm Tiên Vận bị ông ta kéo đi hai bước, cây kim câu suýt nữa vuột khỏi tay, không khỏi cả kinh. Loại binh khí như câu đoạt vốn dùng để khắc chế đao kiếm, nhưng trái lại cây kim câu của Lâm Tiên Vận lại bị thanh kiếm của Tạ Thiên Hoa khắc chế, làm sao khiến nàng không kinh hãi cho được! Tạ Thiên Hoa nương theo kiếm xoay người, giám sát thân kiếm vào mũi kim câu đâm vào cổ tay của Lâm Tiên Vận, đó là chiêu số tinh diệu nhất của Bách Biến Huyền Cơ kiếm pháp. Lâm Tiên Vận vung cây kiếm trong tay phải ra, đánh một chiêu Ngọc Nữ Xuyên Châm, đâm vào huyệt Huyền Cơ trước ngực Tạ Thiên Hoa, đó chính là kế vây Ngụy cứu Triệu, buộc Tạ Thiên Hoa phải rút kiếm về tự cứu. Tạ Thiên Hoa cười thầm: “Ta làm sao có thể để ngươi đâm trúng?” Thế rồi người hơi lách qua một bên, thân kiếm vẫn giám sát vào kim câu, mũi kiếm hất lên. Nào ngờ chỉ trong khoảnh khắc ấy, Lâm Tiên Vận nhân lúc Tạ Thiên Hoa hơi mất thăng bằng, cây kim câu kéo giật về, thoát ra khỏi cây kiếm, kiếm quang lóe lên, lúc này bà ta không đâm mà gạt qua một chiêu Bình Sa Lạc Nhạn, hai chiêu đánh ra rất nhẹ nhàng gọn gàng, lại nắm đúng thời cơ không hề sai sót, có thể xoay chuyển cục diện. Tạ Thiên Hoa không khỏi khen rằng: “Kim Câu Tiên Tử quả nhiên danh đồn không ngoa!” Thế rồi gạt ngang kiếm, đẩy kim câu và ngân kiếm ra, trong chốc lát Tạ Thiên Hoa đã đánh ra một mạch tám nhát kiếm, đều dùng một loại thủ pháp, xem ra chẳng có gì lạ, nhưng tám kiếm này nối liền với nhau, Lâm Tiên Vận chỉ có thể chống đỡ trong lòng thầm bội phục: “Võ công của Tạ Thiên Hoa quả nhiên cao hơn sư huynh của y”.
Khi Tạ Thiên Hoa động thủ, Trương Đan Phong cũng giao thủ trở lại với Ô Mông Phu, lần này Trương Đan Phong một mình tiếp chiến, có ý nhường nhịn, không dùng song kiếm dồn ép y. Vốn Trương Đan Phong không phải là đối thủ của Ô Mông Phu, nhưng đầu tiên Ô Mông Phu đã đánh nhau với Triều Âm hòa thượng, sau đó phải chống chọi với Trương Đan Phong và Vân Lối cho nên khí lực đã giảm rất nhiều, trong vòng ba mươi chiêu mà cũng không hơn nỗi Trương Đan Phong.
Tạ Thiên Hoa liếc mắt nhìn, thấy võ công của học trò mình tiến bộ, trong lòng ngạc nhiên, cười ha hả nói: “Ô Mông Phu, cả học trò của ta mà ngươi đánh không lại sao?”Ô Mông Phu cả giận, vỗ ra vù vù ba chưởng, trong vòng chưởng phong kiếm ảnh, chỉ thấy y lướt người lên, vận dụng công phu Nhất chỉ thiền đâm vào huyệt đạo của Trương Đan Phong. Trương Đan Phong nhanh nhẹn vô cùng, vội vàng thu nhỏ vòng kiếm, bảo vệ cho toàn thân, thế công của Ô Mông Phu tuy mạnh mẽ, nhưng cũng không thể nào phá nổi thế thủ của Trương Đan Phong.
Một hồi sau, hai bên đã giao nhau bảy tám mươi chiêu, kiếm thế của Tạ Thiên Hoa ngang dọc, đẩy Lâm Tiên Vận từng bước thoái lui, rõ ràng đã chiếm được ưu thế rất lớn, Ô Mông Phu cũng chiếm được thượng phong, nhưng Trương Đan Phong vẫn còn có thể tự bảo vệ mình được. Tạ Thiên Hoa ha hả nói: “Ôi lão nhị, đã sắp đến một trăm chiêu, ngươi vẫn chưa thắng nỗi đồ đệ của ta sao?” Ô Mông Phu không thắng nổi một tên tiểu bối, lòng cũng cảm thấy rất ngượng ngùng, lại thấy Lâm Tiên Vận đã lọt xuống thế hạ phong, y đã không muốn tiếp tục đánh nữa, thế rồi gượng cười nói: “Tạ Thiên Hoa, học trò của ngươi quả nhiên danh đồn không ngoa, ta thấy y còn cao mimh hơn ngươi nhiều. Ta xưa nay thương yêu bọn hậu bối có bản lĩnh, cứ để y nghỉ ngơi một lát, hôm nay không cần đánh nữa, ngày sau ta sẽ lãnh giáo ngươi”.
Thế rồi cùng Lâm Tiên Vận nhảy ra khỏi vòng chiến, chạy về hướng Tây bắc. Tạ Thiên Hoa thấy bọn họ tự bỏ đi, mỉm cười nói với Trương Đan Phong: “Con học võ công ở đâu thế này, chỉ mới hai năm mà ta thật sự không dám làm sư phụ của con nữa!” Rồi xoay sang Triều Âm hòa thượng nói: “Hôm nay chúng ta tuy chiếm được thượng phong, nhưng công phu của hai người này thật hiếm có trong võ lâm, đồ đệ đã như thế, võ công của Thượng quan lão quái càng cao thâm khó lường, sư phụ của chúng ta không muốn đích thân động thủ với y, đệ e rằng đệ và tứ sư muội liên thủ đối phó với y cũng khó thắng nổi”.
Trương Đan Phong vốn định nói với sư phụ chuyện mình đã kiếm được quyển di thư của Bành hòa thượng, chợt thấy Triều Âm hòa thượng đanh mặt nói: “Hừ, ngươi còn nhớ đến sư phụ ư?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Sư huynh nói gì thế?”
Triều Âm hòa thượng nói: “Ta còn tưởng hôm nay ngươi không đến!”
Tạ Thiên Hoa nói: “Sư huynh, có phải huynh trách đệ đến muộn không!”
Triều Âm hòa thượng nói: “Vân Lối, con đến đây thật đúng lúc, con biết hôm nay là ngày gì không?”
Vân Lối ngạc nhiên, nàng đi đường mà quên cả ngày tháng, nhưng hai hôm trước là đêm trăng tròn, lại nghĩ bụng nói không phải là ngày mười lăm thì cũng là ngày mười sáu.
Trương Đan Phong nói: “Hôm nay là ngày mười sáu tháng mười năm Chính Thống mười ba”.
Vân Lối chợt nhớ lại, nay là tròn mười năm ngày gia gia của nàng tử nạn. Cảnh tượng ngày trước lướt qua trong đầu, những cảnh tượng này vốn đã mờ nhạt nhưng đột nhiên bày ra trước mắt nàng không khỏi rơi nước mắt.
Triều Âm hòa thượng nói: “Mười năm trước chúng ta đã nói gì ở đây?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Ngày trước chúng ta đã vỗ tay thề ở đây, một người nuôi con côi, một người báo thù. Huynh đưa cháu gái của Vân Tĩnh về cho tứ sư muội nuôi dưỡng thành người, còn đệ đến Ngõa Thích giết Trương Tôn Châu”.
Triều Âm hòa thượng ngửa đầu cười lạnh nói: “Té ra ngươi vẫn còn nhớ rõ đến thế. Vân Lối, con đến đây”.
Vân Lối bước tới phía trước. Triều Âm hòa thượng nói: “Ngươi xem, đứa nhỏ ngày trước đã trở thành nữ kiếm khách xuất sắc, coi như ta đã làm xong. Còn ngươi? Ngươi đã lấy đầu Trương Tôn Châu chưa?”
Tạ Thiên Hoa đáp: “Chưa!”
Triều Âm hòa thượng hừ một tiếng nói: “Té ra chỉ vì ngươi tham phú quý!” Thế rồi vỗ vù một chưởng xuống đầu Tạ Thiên Hoa. Tạ Thiên Hoa lách người né tránh, nói: “Khoan đã, tứ sư muội đâu? Nàng đã đến chưa?”
Triều Âm hòa thượng cả giận, quát rằng: “Ngươi dám ỷ võ công cao cường ức hiếp sư huynh? Ta không cần tứ sư muội giúp đỡ, ta đánh ngươi ba trăm trượng trước, ngươi có gan khi sư diệt tổ, thì hãy giết chết ta!”
Tạ Thiên Hoa nói: “Không, đệ không có ý đó, đệ cứ tưởng rằng tứ sư muội lẽ ra đã đến cùng huynh, sau lúc này vẫn chưa thấy?”. Triều Âm hòa thượng vốn hẹn Diệp Doanh Doanh cùng ra Nhạn Môn quan tìm Tạ Thiên Hoa tính sổ, Triều Âm hòa thượng phóng ngựa nhanh hơn nên tới trước.
Nhưng nghĩ bụng lúc này lẽ ra Diệp Doanh Doanh đã tới, bất giác ngạc nhiên. Tạ Thiên Hoa nói: “Đợi tứ sư muội đến, chúng ta sẽ nói cho rõ ràng”.
Triều Âm hòa thượng quát lớn: “Hừ, té ra trong mắt ngươi chẳng có sư huynh này!” Thế rồi quát lớn một tiếng, bổ tới một trượng!
Triều Âm hòa thượng nóng tính vô cùng, cứ động thủ mãi không ngớt, không chịu nghe ai phân giải, liên tục đánh ra đến bảy tám trượng, khiến cho Tạ Thiên Hoa dở khóc dở cười, buộc phải thi triển công phu nội gia, phất tay áo cuộn cây triền trượng của Triều Âm hòa thượng lại cười nói: “Đan Phong, con đến thật đúng lúc, con hãy giải thích cho nhị sư bá biết”.
Triều Âm hòa thượng nói: “Chuyện của Trương Đan Phong ta đã biết quá nửa, hắn không hổ là hảo nam nhi. Nhưng cha là cha, con là con, mỗi người đều khác nhau. Trương Tôn Châu rốt cuộc vẫn là Thừa tướng của Ngõa Thích, là gian tặc bán nước thông gian. Việc này chẳng liên quan đến Trương Đan Phong, ta chỉ hỏi tội bội ước của ngươi”.
Triều Âm hòa thượng cứ nói hàng tràng chẳng cho ai xen vào, nói chưa xong thì lại rút thiền trượng ra bổ xuống đầu Tạ Thiên Hoa. Ôâng ta thi triển Phục Ma trượng pháp ào ạt tựa như sóng vỗ vào bờ, cứ hết đợt này đến đợt khác, xem ra nếu không giật cây thiền trượng thì ông ta không ngừng tay.
Tạ Thiên Hoa cười khổ sở, tránh trái né phải, Trương Đan Phong ho một tiếng, nghĩ bụng không biết bắt đầu nói từ đâu, chợt nghe một âm thanh quái dị vang lên trên không trung, âm thanh này tựa như tiếng tù và của người Hồ, nhưng lại cứ kêu lên lanh lảnh. Vân Lối biến sắc kêu: “Đại ca hãy theo muội”.
Trương Đan Phong nói: “Chuyện gì?” Nói chưa dứt lời, Tạ Thiên Hoa phất tay áo, đẩy cây thiền trượng của Triều Âm hòa thượng ra, người nhảy bổ tới con ngựa trắng của Triều Âm hòa thượng. Con ngựa trắng tựa như thất kinh, ngửa đầu chổng hai vó trước lên, Tạ Thiên Hoa nhảy lên mình ngựa đè cổ ngựa xuống vỗ nhẹ, con ngựa cứ đá loạn xạ, hí dài không ngớt, tựa như không phục, nhưng Triều Âm hòa thượng cả giận quát: “Ngươi dám cướp thớt ngựa ta?” Thật ra con ngựa này là do Tạ Thiên Hoa tặng cho ông ta, Trương Đan Phong nghe thế thì cũng thấy buồn cười.
Chợt thấy Vân Lối đã phóng lên ngựa chạy về phía trước, nàng không ngừng quay đầu lại vẫy tay về phía Trương Đan Phong.
Triều Âm hòa thượng nói: “Đan Phong, hãy nhường ngựa cho ta!”
Trương Đan Phong nói: “Nhị sư bá, hôm nay người đã mệt, hãy nghỉ ngơi một lát, lát nữa con sẽ quay lại thỉnh an người”. Thế rồi chàng phóng người lên lưng ngựa, không thèm để ý đến Triều Âm hòa thượng, vỗ ngựa đuổi thẳng về phía trước, Triều Âm hòa thượng tức tối, chỉ đành lấy con ngựa của Tạ Thiên Hoa. Nhưng ba thớt ngựa phía trước đều là ngựa quý hiếm có, con ngựa của Tạ Thiên Hoa cũng là ngựa Mông Cổ nhưng còn kém xa.
Con ngựa của Trương Đan Phong chạy nhanh nhất, trong chốc lát đã vượt qua sư phụ, Tạ Thiên Hoa tuy đã chiếm một con ngựa trắng nhưng vẫn ngồi chưa quen, trên đường con ngựa cứ lồng lên, cho nên đi phía sau Vân Lối. Trương Đan Phong kêu: “Sư phụ, chuyện gì?”
Tạ Thiên Hoa vẫy tay nói: “Con cứ chạy theo Vân cô nương trước, không cần hỏi”.
Trương Đan Phong vỗ ngựa đuổi theo, trong chốc lát đã theo kịp Vân Lối, chỉ nghe âm thanh quái lạ vẫn vang vọng trên không trung lúc ngắn lúc dài, càng lúc càng rõ ràng. Trương Đan Phong vỗ ngựa đi sau Vân Lối, một hồi sau âm thanh quái lạ ấy lại vang lên thêm vài lần nữa, rồi sau đó tắt hẳn. Vân Lối biến sắc, nhưng tay lắng nghe. Nàng vừa kêu ồ một tiếng rồi nói: “Sao lại không nghe nữa?”
Trương Đan Phong nén không được, lại hỏi: “Tiểu huynh đệ, chuyện gì thế? Sao đệ lại căng thẳng đến thế?”
Vân Lối nói: “Sư phụ của muội gặp nguy hiểm!”
Trương Đan Phong thất kinh, nói: “Sư phụ của muội!”
Vân Lối nói: “Đúng thế, chỉ có muội và tam sư bá mới hiểu được âm thanh này!”
Trương Đan Phong nói: “Trên đời này có mấy ai hơn sư phụ của muội, sao người có thể gặp nguy hiểm được!”
Vân Lối nói: “Đây đúng là âm thanh báo nguy của người!”
Ở núi Tiểu Hàn có một loại tre, dùng tre này làm sáo thổi, âm thanh nghe rất chói tai, có thể phát ra âm thanh trong vòng mười dặm, lại thêm Phi Thiên Long Nữ có nội công thâm hậu, cho nên thổi lên ở nơi hoang vắng, âm thanh có thể vang xa đến cả hai mươi dặm. Phi Thiên Long Nữ trong lúc bị phạt diện bích, thường đem ra thổi chơi, nói đùa với Tạ Thiên Hoa rằng sau này nếu gặp chuyệïn gì nguy hiểm thì thổi lên. Khi Vân Lối đến núi Tiểu Hàn, hai thầy trò ở bên nhau đến mười năm, nên Vân Lối biết công dụng của loại sáo ấy. Còn những đồng môn khác thì không hề hiểu.
Tiếng sáo chợt dừng, rõ ràng đã bị kẻ địch phá hủy, có lẽ bà ta đã gặp nguy hiểm. Trương Đan Phong bất giác thầm nghĩ: “Thượng Quan Thiên Dã đang ở vùng giao giới giữa Mông Cổ và Tây Tạng, ngoại trừ lão ta, trên đời này e rằng chỉ có Huyền Cơ Dật Sĩ là có thể thyết phục được Phi Thiên Long Nữ, những người khác nghe Đàm Đài Diệt Minh, Tạ Thiên Hoa cũng chỉ ngang sức. Chả lẽ Thượng Quan Thiên Dã đã đến? Với thân phận và địa vị của lão ta, chả lẻ từ ngàn dặm xa xôi đến đây để làm khó một kẻ hậu bối? Nhưng ngoại trừ lão thì còn ai? Ai có bản lĩnh cao cường như thế?” Vân Lối càng lo lắng hơn. Đến khi tiếng sáo ngừng lại, hai người không biết cứ tiếp tục đuổi về đâu, Vân Lối nói: “Đại ca phải làm thế nào đây?”. Tiếng sáo lúc nãy thoát ra từ vùng núi, cho nên không dễ xác định phương hướng như ở vùng đồng bằng, Trương Đan Phong cũng chẳng biết làm thế nào.
Chợt thấy có hai thớt ngựa tung vó phía trước, té ra ngựa của hai người Trương, Vân chạy nhanh cho nên đã đuổi kịp Ô Mông Phu và Lâm Tiên Vận. Ô Mông Phu quay đầu cười: “Trương Đan Phong, ngươi còn muốn đánh nhau nữa ư?”
Trương Đan Phong nói: “Không dám, xin hỏi ở đây có cao nhân nào hay không?”
Ô Mông Phu cười nói: “Làm sao các ngươi có thể gặp được thế ngoại cao nhân?”
Trương Đan Phong nói: “Mặc cho họ có gặp hay không, nhưng mong tiền bối chỉ dẫn cho”.
Ô Mông Phu nói: “Coi như ngươi cũng lễ phép, tam muội hãy hỏi thử xem?”
Kim Câu Tiên Tử Lâm Tiên Vận huýt một tiếng sáo, một hồi sau chỉ nghe một tiếng sáo từ trên trời sa xuống, tựa như có người thổi bên tai, công lực của người này rất thâm hậu. Lâm Tiên Vận lắc đầu nói: “Hôm nay cao nhân này không chịu gặp ai cả”.
Trương Đan Phong cung tay nói: “Đa tạ chỉ dẫn!”
Rồi cùng Vân Lối vỗ ngựa phóng tới. Lâm Tiên Vận nói: “Các người chưa được cho phép mà tự tiện xông tới, muốn chết? Hừ, trẻ tuổi như thế thật đáng tiếc?”. Hai người Trương, Vân không thèm để ý đến bà ta, phóng ngựa như bay đến chân núi, bỏ Ô Mông Phu và Lâm Tiên Vận ở phía sau. Hai người xuống ngựa thi triển khinh công phóng lên núi, lên được nửa đường thì nghe trong gió có làn hương thơm rất dễ chịu. Vân Lối nói: “Đây là Bách Hoa hương của sư phụ thường dùng”.
Trương Đan Phong nghe thế thì bớt lo trong lòng, quả nhiên Phi Thiên Long Nữ đã ở đây. Hai người trong chốc lát đã đến đỉnh núi.
Đó chính là:
Chợt nghe tiếng lạ bên ngoài gọi, trong núi lại gặp một kỳ nhân.
Muốn biết sau đó thế nào mời xem hồi sau sẽ rõ.

Xem tiếp hồi 24
Trong rừng tử trúc cao nhân thử song kiếm
Nơi phủ Thái sư hiệp sĩ vờ say rượu
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:23 pm

Hồi 24
Trong rừng tử trúc cao nhân thử song kiếm
Nơi phủ Thái sư hiệp sĩ vờ say rượu

Trên núi có một am ni cô, bên cạnh là một mảnh rừng tử trúc, bên ngoài am là bức tường màu đỏ, cảnh sắc rất thanh nhã. Càng đến gần mùi thơm càng nồng. Trương Đan Phong nói: “Sao lại không nghe tiếng binh khí?”
Vân Lối cũng ngạc nhiên vô cùng, nàng rút thanh kiếm rồi phóng vọt người lên. Trương Đan Phong nói: “Nơi này chắc chắn có cao nhân tiền bối, không được mạo muội”. Thế rồi chàng đưa tay kéo lại như đã không kịp nữa.
Vân Lối nhảy vọt lên bức tường, chợt nghe một tiếng cười lạnh, tựa như có người quát bên tay: “Buông kiếm!”
Giọng nói ấy nghe rất dịu dàng, như tiếng của phụ nữ, Vân Lối giật mình, chỉ cảm thấy chuôi kiếm vung lên, tựa như bị vật gì kéo ra ngoài, Vân Lối lảo đảo suýt ngã xuống tường. May mà gần đây võ công của nàng tiến bộ, kiếm vẫn chưa bị giâït mất, quay đầu nhìn lại chỉ thấy Trương Đan Phong đã nhảy lên, mặt lộ vẻ ngạc nhiên. Té ra khi chàng nhảy lên, bên tay cũng nghe có tiếng người quát buông kiếm, công lực của chàng cao hơn Vân Lối một bậc, lập tức phân biệt âm thanh ấy, thế là vội vàng phất ống tay áo, chỉ nghe soạt một tiếng, ba món ám khí đã dính vào ống tay áo, khi cưới đầu nhìn xuống thì ra đó chỉ tiếng lá tre, ống tay áo của chàng bị rạch một đường tựa như bị dao mỏng chém vào, Trương Đan Phong cũng thất kinh, chàng đã từng nghe loại công phu có thể phóng lá đả thương người khác nhưng đây là lần đầu tiên mới thấy!.
Khi nhìn lại kiếm Vân Lối thì thấy trên sóng kiếm bị hai miếng lá tre mỏng manh bọc lại, thanh kiếm của Vân Lối có thể chém sắc như bùn, nhưng hai miếng lá tre này chẳng hề gì. Không ngờ người ấy có thể hái lá tre làm ám khí, quả lại có được kình địch như thế, mạnh mẽ như thế. Lúc này, trong rừng trúc vang lên tiếng kêu ngạc nhiên, tựa như tiền bối cao nhân ấy cũng cảm thấy bất ngờ trước công lực của hai người Trương, Vân.
Trương Đan Phong nói: “Vạn bối Trương Đan Phong, Vân Lối đi ngang qua núi này, không biết tiền bối ở đây cho nên thứ cho tội mạo muội”.
Chàng nói xong, chỉ nghe giọng nói ở phía trước vang lên: “Các ngươi có phải là đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ hay không? Được, xuống đây cho ta”.
Vân Lối cùng Trương Đan Phong nhảy xuống, chỉ thấy ờ trong rừng tre có hai phụ nữ tỷ chiến với nhau, một người là một thiếu phụ trung niên xinh đẹp, còn một người kia là một bà lão tóc bạc phơ.
Vân Lối vừa lo vừa mừng, kêu lên: “Sư phụ, đệ tử đã trở về!”
Thiếu phụ trung niên đang đánh rất gấp, bà ta chỉ ừ một tiếng chứ không dám phân tâm nói chuyện.
Nghe Vân Lối gọi như thế, Trương Đan Phong đương nhiên biết thiếu phụ xinh đẹp ấy chính là Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh, khi nhìn lại thì thấy bà ta đánh những chiêu số giống như Vân Lối nhưng cao minh hơn nhiều! Chiêu kiếm của bà ta rất nhanh, nhưng không hề có tiếng gió, tựa như nước chảy may bay. Trương Đan Phong nghĩ bụng: “Quả nhiên danh bất hư truyền. Đáng tiếc sư phụ của mình vẫn chưa tới, nếu không cả hai người song kiếp hợp bích có thể thắng được già này!”
Té ra Phi Thiên Long Nữ rất lợi hại, nhưng bà già kia còn cao minh hơn nhiều, bà ta chỉ sử dụng một thanh kiếm được đang bằng lá tre, tuy bị kiếm hoa của Phi Thiên Long Nữ bao trùm, nhưng Trương Đan Phong có thể thấy Phi Thiên Long Nữ đang bị bà ta khắc chế.
Lần này Phi Thiên Long Nữ xuống núi với nhiều tâm sự. Triều Âm hòa thượng muốn bà ta cùng đi hỏi tôi Tạ Thiên Hoa, nếu chứng minh Tạ Thiên Hoa đã đầu hàng kẻ địch thì hợp lực trừ Tạ Thiên Hoa. Bà ta và Tạ Thiên Hoa từng có tình cảm với nhau, tuy xa cách mười hai năm nhưng vẫn nhớ nhau, bà ta biết Tạ Thiên Hoa là người có tâm cơ, nếu ông ta đầu hàng Trương Tôn Châu chắc chắn có dụng ý khác, nhưng trước khi chưa biết sự thực thì không thể nào Thuyết phục Triều Âm hòa thượng. Vì thế bà không thể biện giải cho Tạ Thiên Hoa, thế là cùng Triều Âm hòa thượng xuống núi. Khi đến Nhạn Môn quan, bà ta nôn nao trong lòng, một mặt là vì sắp gặp mặt với ý trung nhân; một mắt là vì sợ Tạ Thiên Hoa không chịu nói ra sự thật. Nếu Triều Âm hòa thượng bảo bà động thủ thì sẽ rất khó xử.
Sau khi tính toán, bà ta nghĩ ra một kế, đêm hôm qua khi ở trong khách sạn, bà ta đã nói với Triều Âm hòa thượng rằng, mình nhiều ngày đi đường, không hợp khí ở Quan ngoại cho nên không khoẻ trong người, đêm nay phải vận công chữa trị, e rằng sáng mai không thể đi sớm, bảo Triều Âm hòa thượng đi trước còn mình sẽ theo sau. Thật ra chưa đến canh bốn thì bà ta đã đi trước, bà ta muốn chặn Tạ Thiên Hoa lại hỏi cho rõ nguồn cơn. Bà ta e rằng Tạ Thiên Hoa làm thế là vì một chuyện bí mật nào đó, có lẽ sẽ không nói cho Triều Âm hòa thượng biết, nhưng chắc chắn sẽ cho mình hay. Triều Âm hòa thượng là một người nóng nảy, nào biết dụng tâm của sư muội, khi ông ta kên đường còn tưởng rằng Diệp Doanh Doanh vẫn đang còn ngủ say.
Khinh công của Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh đứng hàng thứ nhất trong sư môn, đến trời sáng thì bà ta đã đến Nhạn Môn quan, rồi tiếp tục đi về phía trước mong rằng sẽ gặp Tạ Thiên Hoa trước. Bà ta đến quá sớm, lại đi khoảng một canh giờ nửa mà vẫn chẳng thấy bóng dáng Tạ Thiên Hoa đâu, bà ta không khỏi cười rằng mình đã quá nôn nóng, thế là chậm rãi bước vào một sơn cốc. Sơn cốc này là nơi hiểm yếu từ Ngõa Thích đi vào Nhạn Môn quan, trong cốc khí hậu ấp áp, trên sườn núi hoa mai nở rộ, phong cảnh rất đẹp, Phi Thiên Long Nữ ngồi ở đấy đợi Tạ Thiên Hoa. Gió bấc thổi bà ta chợt nghe trong gió có mùi thơm kỳ lạ, Diệp Doanh Doanh ngạc nhiên, té ra bà ta đã ngửi được mùi thơm trong mật thất của Huyền Cơ Dật Sĩ. Lúc ấy Diệp Doanh Doanh rất ngạc nhiên, sư phụ tuổi đã thất tuần, tại sao cũng thích dùng hương liệu như mình? Nhưng bà ta không dám hỏi.
Lúc này, bà lại ngửi mùi thơm kỳ lạ ấy, càng ngạc nhiên hơn. Ngửa lên nhìn sắc trời thì thấy vẫn còn lâu mới đến trưa, thế rồi bắt đầu theo dấu mùi hương đi lên đến đỉnh núi, chỉ thấy một tòa am ni cô, bên cạnh am ni cô ấy là một mảnh rừng trúc, mùi hương kỳ lạ xuất phát từ mảnh rừng trúc này.
Diệp Doanh Doanh bước vào vườn tử trúc, bà ta bị món ám khí bằng lá trúc tấn công, cho nên biết trong rừng trúc có một cao nhân tiền bối, thế rồi mới cất giọng nói: “Vãn bối là đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ, xin hỏi pháp hiệu của tiền bối”.
Nào ngờ nói vừa dứt lời, chỉ thấy bà già ấy biến sắc, phát ra giọng cười lạnh.
Diệp Doanh Doanh đang ngạc nhiên, bà già nói: “Ngươi là đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ? Nghe nói võ công Huyền Cơ Dật Sĩ đệ nhất, ngươi đã dám mang kiếm vào rừng thì chắc giỏi kiếm pháp lắm, được ta phải thử ngươi xem sao, xem thử kiếm thuật của Huyền Cơ Dật Sĩ có gì mới mẻ!”
Diệp Doanh Doanh nghe bà ta nói như thế thì cảm thấy hình như bà ta có quen biết với sư phụ của mình, nào dám động thủ thế rồi mới nói: “Đệ tử không hiểu quy củ ở đây, cho nên đã mang kiếm vào rừng, mong tiền bối thứ tội”.
Nào ngờ bà già ấy lại rất khó chịu, Phi Thiên Long Nữ càng từ chối, bà ta càng nổi giận, buộc Phi Thiên Long Nữ phải ra tay.
Diệp Doanh Doanh đành rút kiếm ra nói: “Mời tiền bối ban cho vài chiêu”.
Bà ta bẻ một cành tre, quặt hết lá trên cành nói: “Nếu ngươi có thể chặt được cành tre trên tay ta, ta sẽ cho ngươi xuống núi. Bằng không sẽ giữ ngươi lại bầu bạn với ta, đợi sư phụ của ngươi đến lãnh ngươi về”.
Diệp Doanh Doanh cũng là người rất cứng cỏi, nghe thế thì thầm nổi giận, nghĩ bụng: “Bách Biến Huyền Cơ kiếm pháp của mình thần diệu đến thế, có lý nào không thể chặt gẫy cây tre này, mình chẳng qua là kính bà ta là tiền bối, chả lẽ mình sợ bà ta?” Thế rồi mới rút ra thanh kiếm, Phi Thiên Long Nữ đánh chiêu đầu là tuyệt chiêu Vân Mão Tam Vũ, một chiêu ba thức, kiếm vừa điểm ra thì lập tức phân thành ba đường, toan chặt gẫy cành tre. Nào ngờ bà già ấy quả thật rất thần kỳ, cây tre bị kiếm quang bao vây nhưng vẫn đánh thẳng tới, Phi Thiên Long Nữ tuy chém vào kiếm của bà ta, nhưng kiếm của bà ta lúc nào cũng nằm trên kiếm của Phi Thiên Long Nữ, dù cho Phi Thiên Long Nữ ra tay nhanh đến mức nào người bà ta vẫn lắc lư theo kiếm lộ của Phi Thiên Long Nữ, đừng nói là không thể chặt gẫy kiếm tre của bà ta, dù cho áo của bà ta cũng không chạm vào được. Phi Thiên Long Nữ cả kinh, thi triển một đợt tấn công gấp gáp, thế nhưng vẫn bị bà ta nhẹ nhàng hóa giải, rồi cười lạnh nói: “Kiếm pháp của Huyền Cơ Dật Sĩ chẳng qua chỉ có thế, xem ra ngươi phải đi theo ta suốt đời này!”
Bóng mặt trời dần dần di chuyển, giờ ngọ đã sắp đến, Phi Thiên Long Nữ vừa lo vừa giận, vốn thoát khỏi kiếm tre của bà ta nhưng không thể nào được. Vì thế mới lấy ra ống sáo tre thổi lên. Bà già ấy nghe một hồi thì nói: “Ồ, cây sáo này thật thú vị, sao ta không thể tìm được loại tre nào tốt như thế này? Tiếng sáo nghe rất hay, cho ta mượn xem thử!”
Diệp Doanh Doanh không thèm để ý, chỉ một mạch động thủ ra chiêu, một mạch vận đủ khí lực thổi càng lớn hơn, bà già ấy xỉa kiếm về phía trước, kéo thanh kiếm của Diệp Doanh Doanh sang một bên, cướp lấy cây sáo của Diệp Doanh Doanh. Diệp Doanh Doanh ở núi tiểu hàn mười hai năm, ngoại trừ tu luyện kiếp pháp, cũng đã luyện thành hai món công phu rất lợi hại, một là Lưu vân tụ pháp, có thể vung ống tay áo cuộn binh khí của kẻ địch; Một loại là Cửu tinh định hình châm, có thể dùng phi châm đồng thời bắn vào chín đại huyệt của kẻ địch. Bà già vung tay giật ống sáo, binh, phải lộ ra sơ hở, thế là Diệp Doanh Doanh vung ống tay áo, cuốn thanh kiếm tre của bà ta, đang định giật lấy thì chỉ nghe soạt một tiếng, ống tay áo bị bà già vạch hai đường nhưng ống sáo cũng bị bà ta giật mất. Bà già ấy cười: “Công phu của ngươi cũng khá lắm, nhưng đáng tiết nội kình còn kém, nếu không đã làm gãy thanh kiếm tre của ta, đừng nói nữa, đừng nói nữa ngươi cứ ở đây chơi với ta”.
Thanh kiếm tre của bà già bị Phi Thiên Long Nữ dùng tay áo cuộn lại, trong chớp mắt đã thoát ra, tuy cũng bị chấn động nhưng vẫn chưa gãy. Còn ống tay áo của Phi Thiên Long Nữ thì bị bà ta vạch rách một mảng, ống sáo cũng bị giật mất, tính ra bà già vẫn chiếm thượng phong. Nhưng bà ta thấy công phu của Phi Thiên Long Nữ thì không khỏi thầm bội phục. Phi Thiên Long Nữ cả kinh, giở ra món tuyệt kỷ thứ hai, ngón tay búng nhẹ một cái, Cửu tinh định hình châm liên tiếp bay ra, cửu tinh định hình châm có thể đánh vào chín huyệt đạo, lợi hại vô cùng. Bà già giật ống sáo xong thì cười rằng: “Thứ này rất thú vị, ta thổi xem thử”.
Thế rồi đưa ống sáo lên môi thổi, âm thanh nghe rất trong trẻo hơn Phi Thiên Long Nữ mấy phần, Phi Thiên Long Nữ vừa phóng ra Cửu tinh định hình châm thì bị bà ta thổi bay dạt qua một bên. Bà già ấy cười: “Ngươi vẫn chưa thi triển hết sở trường kiếm pháp, chúng ta hãy tỷ kiếm với nhau”. Thế rồi vung thanh kiếm tre lên, cuộn lấy thanh kiếm của Phi Thiên Long Nữ.
Đến trưa thì hai người đã đấu hơn một canh giờ, Phi Thiên Long Nữ không thể đến chỗ hẹn với Tạ Thiên Hoa, lại không biết ông ta có nghe tiếng sáo của mình không, trong lòng rất lo lắng. Chợt thấy bên ngoài có người nhảy vào, lúc đầu thì còn tưởng là Tạ Thiên Hoa, nhưng không ngờ đó là Vân Lối, sau lưng Vân Lối lại có một thiếu niên anh tuấn. Phi Thiên Long Nữ chưa hề gặp Trương Đan Phong, nhưng nhìn chàng hiên ngang thì cảm thấy chàng là người có bản lĩnh, quyết chẳng kém gì đệ tử của mình.
Vân Lối thấy sư phụ của mình bị bà già khống chế, trong lòng thấy ngạc nhiên, thế rồi nháy mắt với Trương Đan Phong rồi tiến lên phía trước nói: “Sư phụ, xin cho chúng con tiếp vị tiền bối này vài chiêu để mở rộng tầm mắt”.
Phi Thiên Long Nữ nhìn họ rồi nghĩ bụng: “Cả mình cũng không làm gì được bà ta huống chi là bọn chúng, quả thực không biết trời cao đất dầy”. Nhưng không ngờ bà già ấy cũng nghe câu này, Diệp Doanh Doanh đang nấn ná thì bà già ấy đột nhiên nhảy ra khỏi vòng chiến, cười rằng: “Được, ta thích nhất những thiếu niên có đẳng thức, các người có phải là đệ tử đời thứ ba của Huyền Cơ Dật Sĩ hay không? Học được bản lĩnh gì hãy đem ra cho ta xem thử?”
Phi Thiên Long Nữ thở phào, nghe bà già nói không có ác ý gì, nghĩ bụng bà ta sẽ không ra tay hiểm độc với hai kẻ tiểu bối, rồi nói: “Được, các con hãy tiếp vài chiêu của lão tiền bối”.
Bà già giơ ngang cây kiếm tre trước ngực, nói: “Sao không xuất chiêu!”
Trương Đan Phong và Vân Lối cấm kiếm thì lại nói: “Mời lão tiến bối chỉ giáo!” Thế rồi đột nhiên hai kiếm phóng ra, nửa đuờng thì hợp thành một vòng tròn chém vào hai bên eo!
Lúc đầu bà già còn tưởng công phu của hai nguời này cũng tầm thường, cho nên chỉ muốn đùa, nào ngờ song kiếm hợp bích thì lợi hại như thế! Vừa thấy uy lực của kiếm thế thì không khỏi cả kinh, khoảng cách giữa hai bên lúc này đã gần cho nên muốn thi triển lối đánh dán kiếm cũng không được nữa. Trong khoảnh khắc ấy, chỉ thấy một bóng đen phóng vọt người lên.
Trương Đan Phong đẩy Vân Lối thoái lui mấy bước, chỉ thấy bà già ấy đã đứng trước mặt mình cười hì hì, lớn giọng khen rằng: “Hay lắm! Đến đây, đến đây!”
Té ra trong lúc gấp gáp, bà già ấy không thể nào chống đỡ kiếm chiêu, chỉ đành giở tuyệt kỷ bình sinh, phóng vọt người lên mấy trượng, trong lúc phóng vọt người lên thì phất ống tay áo gạt hai thanh kiếm tạt qua một bên, lực quét ấy nặng đến ngàn cân, không những đẩy dạt hai thanh kiếm sang một bên mà còn quét vào cả hai người. Trương Đan Phong biết lợi hại, vội vàng thi triển tuyệt kỹ, Vân Lối thoái lui mấy bước, còn mình thì vội vàng né tránh cho nên cả hai mới không bị thương.
Bà già ấy buộc phải thi triển tuyệt chiêu, trong lòng đang hối hận e rằng sẽ làm trọng thương hai thiếu niên, chợt thấy Trương Đan Phong thi triển công phu thượng thừa, không khỏi kinh ngạc, thế rồi mừng rỡ vung kiếm lên lại lao về phía hai người.
Bà già đã biết uy lực của song kiếm hợp bích, không còn thái độ giỡn chơi nữa, chỉ thấy kiếm tre múa tít, còn mạnh mẽ hơn cả lúc đấu với Phi Thiên Long Nữ. Hai người Trương,Vân cũng thi triển toàn lực cố gắng phát huy uy lực của song kiếm hợp bích, trong vòng mười chiêu bà già ấy cũng không chiếm được phần hơn.
Phi Thiên Long Nữ đứng ở một bên ngẩn người ra, kiếm pháp của chàng thiếu niên phối hợp rất kín kẽ với kiếm pháp của Vân Lối, mỗi chiêu đánh ra đều rất tự nhiên, nhưng có thể phối hợp kín kẽ vô cùng. Điều đáng tiếc là, Phi Thiên Long Nữ thấy kiếm pháp của Trương Đan Phong rất quen thuộc nhưng lại không nhớ nỗi tên. Bà ta thầm ngạc nhiên, lòng chợt nghĩ: “Năm xưa sư phụ truyền cho mình và Tạ Thiên Hoa hai bộ kiếm pháp, không cho hai bên truyền thụ lẫn nhau. Chả lẽ kiếm pháp của thiếu niên này chính là bộ kiếm pháp của Tạ Thiên Hoa?” Trận đánh càng lúc càng kịch liệt, một lát sau bà già đã dần dần chiếm được thượng phong, trong tay bà ta chỉ là một thanh kiếm tre nhưng bà ta đã dồn lực vào mủi kiếm, khi đánh ra tựa như mưa gió, khiến cho hai người Trương,Vân không thể hiểu nổi. Từ sau khi Trương Đan Phong và Vân Lối quen biết nhau, không ai địch nổi song kiếm của họ, dù cho Ô Mông Phu và Kim Câu Tiên Tử, Lâm Tiên Vận liên thủ cũng chỉ ngang tài ngang sức với họ, không ngờ bà già này chỉ dùng một thanh kiếm tre, không những có thể hóa giải song kiếm hợp bích mà còn chiếm tiên cơ, khiến co Vân Lối và Trương Đan Phong chỉ có thể chống đỡ chứ không thể trả đòn. Trương Đan Phong đang muốn nhận thua, chợt bà già kêu lên: “Ai? Buông kiếm!”
Thế rồi xoay người ngắt một mảnh lá tre dùng thủ pháp Mãn Thiên Hoa Vũ phóng ra. Chỉ trong khoảnh khắc có tiếng soạt soạt vang lên, mười mấy phiến lá tre bay lượn trong không trung, nhẹ nhàng rơi xuống. Bà già không ngờ kẻ ấy lại có thân thủ cao cường đến thế, có thể đánh rơi mười mấy mảnh ám khí bằng lá tre của mình, có thể thấy công lực của người này hơn hẳn Phi Thiên Long Nữ một bậc.
Phi Thiên Long Nữ nhìn lên, chỉ thấy người trên tường nhẹ nhàng nhảy xuống, người đó chính là Tạ Thiên Hoa. Tạ Thiên Hoa nói: “Xin chào tứ sư muội”.
Diệp Doanh Doanh nói: “Xin chào tam ca, có gặp nhị sư huynh không?” Tạ Thiên Hoa đang định đáp trả lời, chỉ thấy bà già kêu lên: “Ngươi cũng là đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ ư? Nào, nào, ngươi cũng thử vài chiêu”. Tạ Thiên Hoa cười rằng: “Tứ sư muội, chúng ta khoan hãy nói chuyện, hiếm có khi nào gặp được một cao nhân như thế này, chúng ta sẽ cùng nhau luyện một bộ kiếm pháp. Đan Phong, các con không phải là đối thủ của lão tiền bối, sao còn chưa nhận thua?”
Trương Đan Phong và Vân Lối thu kiếm lại, nhảy ra khỏi vòng chiến, cầm chuôi kiếm nói: “Đa tạ lão tiền bối đã ban cho mấy chiêu!”
Bà già ấy nói: “Hai người các ngươi có thể tiếp được hơn năm mươi chiêu coi như đã không thua. Được, bảo sư phụ ngươi đến đây”.
Phi Thiên Long Nữ bước tới, nói: “Hai người chúng tôi cùng lên”.
Bà già nói: “Vậy tốt còn gì bằng, ta muốn xem võ công tinh diệu nhất của Huyền Cơ Dật Sĩ”.
Tạ Thiên Hoa nhìn bà già, chợt nói: “Lão tiền bối có mối quan hệ thế nào với gia sư, có thể cho biết hay không?”
Bà già chợt cả giận, nói: “Huyền Cơ Dật Sĩ tự phụ thiên hạ đệ nhất, mụ già này làm sao dám trèo cao. Các người không cần hỏi nhiều, hãy cố gắng thi triển hết võ công của Huyền Cơ Dật Sĩ ra cho ta xem”.
Phi Thiên Long Nữ tựa như rất ngạc nhiên, nghe lời lẽ của bà già thì đoán được hình như bà ta có xích mích gì đó với sư phụ của mình. Chỉ nghe Tạ Thiên Hoa mỉm cười, nói: “Cung kính chi bằng tuân lệnh, xin thứ cho tiểu bối vô lễ”.
Thế rồi xoay cổ tay đâm soạt thanh kiếm ra, Phi Thiên Long Nữ cũng đâm kiếm theo. Chiêu thức đầu tiên trong bộ kiếm pháp của Phi Thiên Long Nữ rất bình thường, bà ta cũng không hy vọng dùng chiêu này uy hiếp kẻ địch, nào ngờ hai kiếm vừa đâm ra thì uy lực tăng lên, tuy chỉ là chiêu thức bình thường nhất nhưng cũng buột bà già thoái lui đến ba bước. Phi Thiên Long Nữ cả mừng, nghĩ bụng: “Kiếm pháp này của sư phụ quả thật cao thâm khó lường!”
Hai người Tạ, Diệp cũng sử dụng bộ kiếm pháp lúc nãy nhưng hai người Trương, Vân nhưng công lực khác nhau cho nên công lực tăng lên mấy lần. Bà già nói: “Hôm nay mới biết võ công thật sự của Huyền Cơ Dật Sĩ”. Thế rồi bà ta vung kiếm ra, lập tức chỉ thấy bốn phương tám hướng điều là thân ảnh của bà già, ống tay áo bay phất phới, lá tre bay lả tả, dù bà ta dùng kiếm tre nhưng uy lực cũng rất kinh người!
Tạ Thiên Hoa vẫn bám chặt hai chân xuống đất, thi triển từng chiêu kiếm, Diệp Doanh Doanh cũng thế, múa tít bộ kiếm pháp Bách Biến Huyền Cơ đến nỗi gió mưa không lọt, mặc cho thân ảnh bà già nhanh nhẹn như thế nào cũng bị hai kiếm chặn lại, không thể nào tiến vào gần hai người.
Trương Đan Phong và Vân Lối nhìn đến nỗi hoa cả mắt, càng lúc càng lãnh ngộ được chỗ hay của song kiếm hợp bích. Hai bên đấu khoảng năm mươi chiêu, chợt nghe Tạ Thiên Hoa nói: “Xin thứ cho tiểu bối mạo phạm”. Thế rồi phóng người lên tựa như một con đại nhạn, Diệp Doanh Doanh thì xoay tròn người, trở tay chém ngược lại, hai kiếm cùng đánh ra, chỉ nghe tiếng vải rách và tiếng tre gẫy đồng thời vang lên, cây kiếm tre của bà già ấy bị chặt thành bốn khúc, ống tay áo cũng bị chém rách một mảng.
Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh đồng thời thâu kiếm, vội vàng nói: “Đắc tội”.
Bà già buông cây tre, buồn bã nói: “Ta không giữ được các người, các người hãy đi đi”.
Bà ta tu luyện trong rừng tử trúc này mấy mươi năm, tưởng rằng có thể sánh cùng Huyền Cơ Dật Sĩ, nào ngờ đến nay lại bị bại trong tay của đồ đệ ông ta.
Bốn người bước ra khỏi rừng trúc, Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh nói: “Võ công của bà lão ấy hơn chúng ta rất nhiều, muội thấy trên đời này ngoại trừ sư phụ và Thượng Quan Thiên Dã, e rằng chỉ còn có bà ta là võ công cao nhất”.
Vân Lối chen vào nói: “Nếu bọn họ tỷ thí với nhau rất hấp dẫn đây”, Tạ Thiên Hoa cười nói: “Có lẽ họ đã tỷ thí, nhưng chúng ta sinh ra quá muộn nên không có phước được thấy mà thôi”.
Diệp Doanh Doanh nói: “Muội thấy bà ta hình như có mối quan hệ với sư phụ chúng ta, tam ca, nghe lời lẽ của huynh, hình như huynh đã biết lai lịch của bà ta”.
Tạ Thiên Hoa nói: “Trong sư môn chúng ta, trừ sư phụ, chỉ e đại sư huynh mới biết lai lịch của bà ta. Huynh từng nghe đại sư huynh nói, sư phụ và Thượng Quan Thiên Dã xích mích với nhau, không chỉ là vì tranh giành chức Minh chủ võ lâm, mà còn liên quan đến một phụ nữ bản lĩnh cao cường, lúc ấy ta cũng hỏi tới, nhưng đại sư huynh lại không chịu nói”.
Diệp Doanh Doanh nói: “Đại sư huynh đâu?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Đã nhiều năm huynh không gặp. Hình như các người có hiểu lầm đối với ta?”
Diệp Doanh Doanh nói: “Đúng thế, huynh ở Ngõa Thích mười năm, rốt cuộc đã làm những chuyện gì, sao lại đầu hàng Trương Tôn Châu?”
Tạ Thiên Hoa mỉm cười, nói: “Tứ sư muội, Trương Đan Phong chính là con trai của Trương Tôn Châu, cũng là đồ đệ ta thâu nhận ở Ngõa Thích”.
Diệp Doanh Doanh ngạc nhiên, nói: “Té ra hắn là đồ đệ của huynh, chả trách nào lúc nãy song kiếm hợp bích cùng Vân Lối, trong vòng ba mươi chiêu mà vẫn có thể ngang tài ngang sức với bà lão kia”. Thế rồi trong lòng nghi hoặc: “Chả lẽ Tạ Thiên Hoa chỉ vì thâu nhận một học trò giỏi mà chịu cúi mình trước Trương Tôn Châu?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Chuyện này nói ra thì dài, chúng ta hãy tìm nhị sư huynh trước đã”.
Bốn người đến chân núi, Vân Lối cùng sư phụ cưỡi chung một con ngựa, Trương Đan Phong và Tạ Thiên Hoa cùng cưỡi con Chiếu dạ sư tử mã, không đầy nửa canh giờ thì đã đến nơi hẹn bên ngoài Nhạn Môn quan. Trên đường chẳng thấy tông tích của Triều Âm hòa thượng đâu cả, Diệp Doanh Doanh ngạc nhiên, nói: “Nhị sư huynh đi đâu rồi?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Ngựa chúng ta chạy rất nhanh, có lẽ sẽ tìm được”.
Trương Đan Phong nói: “Vậy chúng ta hãy chia nhau ra tìm”.
Tạ Thiên Hoa nói: “Không cần các con đi cùng, nước Ngõa Thích sắp có biến, cha của con có lẽ sẽ gặp nguy hiểm, nếu ta không vì lời hẹn với nhị sư huynh thì hôm nay đã không đến đây. Con và Vân Lối hãy mau về Ngõa Thích trước”.
Trương Đan Phong ngạc nhiên hỏi: “Nguy hiểm gì?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Dã Tiên hoài nghi cha của con có lòng riêng. Sau khi y lui binh về nước, đã lôi kéo bè đảng, toan tính chuyện cướp ngôi”.
Trương Đan Phong nghe sư phụ nói như thế, chàng biết hình như cha của mình đã đổi ý, chấp nhận âm thầm giúp đỡ Triều Minh, cho nên vừa mừng vừa lo, thế rồi không kịp hỏi nhiều, lập tức cáo biệt sư phụ, cùng Vân Lối cưỡi ngựa ra đi. Tạ Thiên Hoa nhìn theo bóng dáng của họ, mỉm cười nói: “Bọn chúng may mắn hơn chúng ta nhiều”.
Phi Thiên Long Nữ không khỏi đỏ mặt, Trương Đan Phong và Vân Lối tựa như là hình bóng của bà ta và Tạ Thiên Hoa.
Lại nói hai người Trương, Vân thúc ngựa vào Ngõa Thích, sau bảy ngày đã đến thảo nguyên Chu Mục Tâm, băng qua thảo nguyên này, đi thêm hai trăm dặm nữa thì đến kinh thành của Ngõa Thích. Trương Đan Phong cười nói: “Còn hai ngày nữa thì sẽ đến”.
Thế rồi chàng lấy hồ lô trên yên ngựa xuống, trong hồ lô có rượu sữa ngựa của Mông Cổ, Trương Đan Phong nói: “Đã lâu không nếm mùi vị của loại rượu này, tiểu huynh đệ, đệ cũng uống một chút đấy?” nhiều đời nhà họ Trương sống ở Ngõa Thích, cho nên Trương Đan Phong có tình cảm nồng hậu đối với sản vật của Ngõa Thích, rượu sữa ngựa tuy chẳng bằng các loại rượu nổi tiếng ở Trung Quốc, nhưng chàng uống rất ngon lành. Vân Lối lắc đầu nói: “Muội không uống, muội sợ mùi chua của rượu sữa ngựa”.
Trương Đan Phong ngửa cổ uống cạn bầu rượu, Vân Lối chỉ im lặng buồn bã.
Trương Đan Phong hỏi: “Tiểu huynh đệ, đệ đang nghĩ gì thế?”
Vân Lối cười gượng: “Muội đang nghĩ, muội đang nghĩ... tại sao chúng ta đã đi nhiều ngày mà không gặp dân du mục xuống phía Nam tránh rét”.
Mỗi khi đến mùa đông, dân Dương Du Mục Mông Cổ thường xuống phía Nam tránh rét, buôn bán, làm những vật dụng thường ngày, đến mùa xuân thì trở về bán những thứ này. Mấy ngày hôm nay, Trương Đan Phong cũng thấy kỳ lạ, tại sao không thấy bầy ngựa của dân du mục. Hai người đang nói chuyện, chợt nghe tiếng chuông lạc đà vang lên, Trương Đan Phong cười: “Đó chẳng phải là dân du mục xuống miền Nam đấy ư?” Rồi chàng đưa mắt nhìn ra xa, chỉ thấy có một thớt lạc đà và mấy thớt ngựa, Vân Lối nói: “Hình như đó chỉ là một gia đình Du Mục, di chuyển xuống miền nam. Ngày xưa họ thường đi theo từng nhóm”.
Trương Đan Phong nói: “Đệ xem kìa, đó không phải là dân du mục mà là lính Mông Cổ”.
Trước mặt bụi đất tung mù mịt, có khoảng mười mấy thớt ngựa Mông Cổ đuổi theo, chỉ chốc lát đã bắt kịp những mục dân này, trong chốc lát chỉ nghe tiếng tháo và tiếng khóc của đàn ông và tiếng khóc than của phụ nữ vang lên inh ỏi. Vân Lối nói: “Sao bọn chúng bắt nạt phụ nữ, chúng ta đã thấy thì không thể bỏ qua”.
Trương Đan Phong lúc này đã ngà ngà say, nói “Được, chúng tôi sẽ giết đất nước Mông Cổ ấy”.
Vân Lối nói: “Không, không, huynh không được giết một ai cả, đuổi bọn chúng đi là được”.
Trương Đan Phong biết Vân Lối lòng dạ hiền từ cho nên, chỉ đùa với nàng, thế rồi mới cười nói: “Được, ta sẽ nghe theo đệ”.
Hai người phi ngựa lên phía trước, chỉ thấy vài tên quân Mông Cổ đang kéo một thiếu nữ, vài tên khác thì kéo cung tên chỉa về phía hai người dân du mục, lớn giọng mắng: “Sao các người không chịu nghe lệnh của Thái sư mà tự tiện bỏ chạy?”
Người lớn tuổi hơn nói: “Chúng tôi sẽ trở về theo các ngài, mong các ngài buông tha cho con gái của tôi!”
Bọn lính Mông Cổ quát: “Các ngươi chống lệnh Thái sư, cả nhà đều bị xử phạt”.
Vân Lối cả giận, vỗ ngựa xông lên phía trước, tên lính Mông Cổ ấy kêu lên: “Ồ, hai thớt ngựa thật tốt, lại còn có cả hai người Hán nữa?”
Thế rồi cả bọn ùa lên. Trương Đan Phong cười rằng: “Các người muốn ngựa ta sẽ tặng cho, ta e rằng các người không cưỡi được!”
Con chiếu dạ sư tử mã lồng lên đá loạn xạ, chỉ trong khoảnh khắc bọn lính Mông Cổ đều ngã chỏng gọng, một tên võ quan Mông Cổ thấy Vân Lối là phụ nữ nên chạy đến bắt nàng, Vân Lối phất ống tay áo, quét y té lộn nhào, Trương Đan Phong quát: “Nếu các người muốn hung hăng nữa, hãy xem chưởng này!”
Thế rồi chàng nhẹ nhàng vỗ ra một chưởng, đó chính là thủ pháp Đại Lực Kim Cương thủ, chỉ một chưởng đã vỗ chết con ngựa của tên võ quan ấy.
Tên võ quan thấy thế thì hồn bay phách tán, cứ sững người ra. Vân Lối có vẻ nguôi giận, thấy bọn họ tỏ vẻ kinh hãi không khỏi bật cười: “Các ngươi sao còn chưa mau chạy, muốn chết ư?”. Bọn lính Mông Cổ vội vàng co giò chạy thụt mạng, ông già mục dân đến phía trước bái tạ. Trương Đan Phong hỏi: “Thái sư Dã Tiên đã ra lệnh gì?”
Ông già mục dân ấy đáp: “Sau khi về nước Thái sư đã ra lệnh cấm người dân chúng tôi di chuyển xuống miền Nam, đợi bắt tân binh xong mới xuống miền nam chăn ngựa. Có rất nhiều thanh niên trai tráng đã bị bắt lính. Tôi tuổi đã già, chỉ có một thằng con và ả nha đầu này, nếu nó cũng bị bắt đi lính, chúng tôi cũng chẳng thiết sống nữa. Bởi vậy mới lén trốn đi, nếu bị tra xét thì cứ coi như đã xuống miền nam từ trước, không biết mệnh lệnh đó. Nào ngờ bọn chúng không dễ bị gạt đến thế, lại còn cướp con gái của tôi”.
Trương Đan Phong nghĩ bụng: “Dã Tiên nôn nóng bắt lính như thế, chỉ e là sắp có chuyện”.
Lại nhớ đến sự an toàn của cha mình, chàng không có thời gian hỏi nhiều đành cáo từ. Chỉ thấy Vân Lối kéo tay thiếu nữ ấy chợt hỏi: “Các người là người ở đâu? Cô nương tên là gì?”. Trong mắt nàng lộ vẻ vui mừng.
Thiếu nữ ấy nói: “Chúng tôi là người của bộ lạc Ngạc La, vốn sống ở thung lũng phía nam của núi Đường Cổ Lạc, tôi tên là...”.
Vân Lối tiếp lời: “An Mỹ! An Mỹ tỉ tỉ, có đúng là tỉ không?”
Thiếu nữ ấy nghe Vân Lối gọi tên mình thì không khỏi ngẩn người ra, khi nhìn lại khuôn mặt Vân Lối thì tựa như đã thấy ở đâu, nhưng lại không nhớ nổi. Trương Đan Phong cũng ngạc nhiên, chỉ nghe Vân Lối hỏi giọng run run: “Mật Vân đại nương có còn sống ở đó không?”
Thiếu nữ ấy nói: “Có phải là người đã lấy người Hán không?”
Vân Lối nói: “Đúng vậy”.
Thiếu nữ người Mông Cổ kêu ối chao một tiếng, rồi nói: “Vậy người là Vân...Vân...”.
Vân Lối nói: “Tôi chính là Vân Lối. Tỉ tỉ có còn nhớ không, thời còn bé chúng ta thường ra thung lũng xem họ chăn cừu”.
Vân Lối rời Mông Cổ năm bảy tuổi, nàng vẫn còn nhớ chuyện thời còn bé, An Mỹ là bạn thời ấu thơ của nàng, còn Mật Vân đại nương chính là mẹ của nàng. Cha của Vân Lối đã mai danh ẩn tích sống ở Mông Cổ, lấy Mật Vân đại nương làm vợ, khi Vân Đăng rời khỏi Mông Cổ, sợ để lộ tin tức, cho nên không hề cho vợ mình biết.
An Mỹ thấy người bạn ấu thơ của mình giờ đây đã là một nữ hiệp, lòng vui mừng vô hạn, nhưng khi nghe Vân Lối hỏi đến mẹ, thì vẻ mặt của nàng trở nên buồn bã. Ông già ấy trả lời thay cho con gái: “Năm các người mất tích, mẹ của con đã khóc suốt đêm ngày, đến nỗi mờ cả mắt, Tù trưởng thương sót bà ta nên bảo bà ta đến nuôi ngựa, giờ đây hình như vẫn còn ở nhà Tù trưởng. Vì thế Tù trưởng bảo người Hán không thê tin được. Cho nên tuyên bố không cho người trong tộc thông hôn với người Hán”.
Vân Lối nghe xong thì khóc òa lên. Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, đợi sau khi chúng ta giải quyết xong mọi chuyện sẽ lập tức đến tìm mẹ của đệ. May mà bá mẫu vẫn còn sống. Thật là may mắn!”
Vân Lối nghe Trương Đan Phong khuyên nhủ như thế thì cũng lau nước mắt, nhảy lên ngựa tiếp tục cuộc hành trình.
Trương Đan Phong buồn bã trong lòng, chàng cũng rất lo lắng cho mẹ của Vân Lối. Nhất là nghĩ đến mẹ Vân Lối lâm vào cảnh này, nói cho cùng cũng là do sai lầm của cha mình, lòng càng lo hơn, chàng thầm thề rằng sau này chắc chắn sẽ tìm cách chuộc tội cho cha.
Trên đường lên phía bắc, hai người gặp rất nhiều quân Mông Cổ, may mà ngựa hai người chạy nhanh cho nên hễ thấy là đi đường vòng, quân Mông Cổ muốn tra hỏi cũng đuổi theo không kịp.
Sau hai ngày thì đã đến kinh đô Ngõa Thích, Trương Đan Phong và Vân Lối thay y phục của dân du mục, giả vờ vào kinh thành mua vật dụng cho mùa đông.
Hai người Trương, Vân ở trong một căn khách sạn, sau khi đã sắp xếp xong mọi chuyện thì ra ngoài. Tướng phủ của nhà họ Trương nằm sát hoàng cung, phía trước là một ngã tư, bình thường xe ngựa như nêm, trông rất nhộn nhịp, nhưng hôm nay người đi đường rất ít, Trương Đan Phong bước vào con đường thì cảm thấy có không khí khác lạ, trong lòng thầm biết không xong. Vốn là băng qua con đường này thì có thể nhìn thấy tướng phủ, nhưng Trương Đan Phong kéo tay Vân Lối từ một con hẻm nhỏ, nấp ở góc đường nhìn, chỉ thấy trước tòa tướng phủ nguy nga có rất nhiều vệ binh canh phòng, những vệ binh này trông rất lạ mặt, rõ ràng không phải võ sĩ trong phủ.
Trương Đan Phong kéo Vân Lối, vội vàng bỏ đi. Khi qua mấy con phố, hai người vào một quán rượu nhỏ ngồi.
Trương Đan Phong uống xong mấy chén rượu, gọi tên tửu bảo lại hỏi với vẻ hờ hững: “Căn nhà lớn ở phía trước là của ai thế?”
Tên tửu bảo nói: “Chả lẽ khách quan không biết ư? Đó chính là tướng phủ của Hữu thừa tướng Trương Tôn Châu”.
Trương Đan Phong nói: “Ồ chả trách nào lại nguy nga đến thế. Phía trước tướng phủ có nhiều vệ binh như thế, người đi đường không dám đi qua, những cửa tiệm ở đây chắc là chẳng buôn bán được gì!”
Tên tửu bảo thì thầm nói: “Trước đây không có nhiều vệ binh như thế, nghe nói đó là vệ binh của Thái sư”.
Trương Đan Phong nói: “Vậy sao? Chắc là Trương thừa tướng đã đắc tội với Thái sư cho nên Thái sư mới chiếm phủ đệ của ông ta”.
Tên tửu bảo lắc đầu: “Cái đó thì chúng tôi không biết, nhưng mỗi ngày cũng còn thấy người trong tướng phủ ra chợ mua thức ăn, nghe nói Trương thừa tướng vẫn còn trong phủ”.
Trương Đan Phong nói: “Tin tức của ngươi thật nhanh nhạy”.
Thế rồi thưởng cho y mấy lượng bạc lẻ, tên tửu bảo được thưởng tiền, lại được Trương Đan Phong khen ngợi, lại nói tiếp: “Chúng tôi tuy cách tướng phủ một con đường, nhưng cũng coi như là láng giềng, mỗi ngày Trương thừa tướng đi lên triều đều đi ngang chỗ chúng tôi, nhưng mấy hôm nay lại không thấy ông ta. Trương thừa tướng rất thích ăn gan cừu, mấy ngày nay vẫn mua như thường lệ”.
Trương Đan Phong đã bớt lo hơn, thầm nhủ: “Té ra cha đã bị y giam lỏng, y không dám ra tay giết hại. Nhưng giam lỏng cha để làm gì?”
Sau khi dò hỏi tin tức, hai người Trương, Vân trở về khách sạn, Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, đệ hãy thuê thêm một phòng bên cạnh, nếu đêm nay không có chuyện gì xảy ra, ta sẽ cùng đệ đến tướng phủ một chyến”.
Vân Lối nói: “Tại sao phải làm thế?”
Trương Đan Phong nói: “Chuân bị trước sẽ không lo, đệ hãy nghe lời ta”.
Vân Lối nói: “Đã thế muội sẽ nghe theo huynh. Đêm nay đệ sẽ đợi huynh tới. Nhưng muội sẽ không đến nhà huynh!”
Trương Đan Phong biết nàng còn có gút mắc trong lòng, thế rồi mỉm cười nói: “Cũng được, sau này hẳn tính tiếp. Ta muốn nhờ đệ một chuyện, đệ hãy âm thầm khắc những ký hiệu này trên những con đường gần đây”. Thế rồi nói với Vân Lối ám hiệu của sư môn, bảo nàng làm theo lời mình đã nói.
Ăn cơm tối xong, Trương Đan Phong định tìm Vân Lối, tên tiểu nhị chạy vào báo: “Có quan nhân đến thăm quý khách”.
Trương Đan Phong giật mình, chỉ thấy ở cửa phòng có một võ quan Mông Cổ bước vào, đó chính là Ngạch Cát Đa.
Chỉ thấy Ngạch Cát Đa cười ha hả rồi nói: “Trương Đan Phong nhà ngươi thật lớn gan, đã dám tới nơi này!”
Trương Đan Phong cười nói: “Ngươi cũng thật lớn gan, lại còn dám tới nơi này, vết thương nhà ngươi đã lành chưa?”
Khi ở sơn trại của Sa Đào, Ngạch Cát Đa đã thua to trong tay Trương Đan Phong, lại còn trúng một chưởng của Thạch Anh, may mà có Kim giáp hộ thân nên chỉ dưỡng thương nữa tháng thì đã khoẻ hẳn. Ngạch Cát Đa nói: “Xin đa tạ, coi như bộ xương của ta vẫn còn chịu nổi. Không đến nỗi để cho ngươi chê cười”.
Trương Đan Phong nói: “Đêm nay ngươi đến đây là ý gì? Đây không phải là nơi đánh nhau”.
Ngạch Cát Đa nói: “Ta đến đây không phải tìm ngươi trả thù, đương nhiên nếu ngươi muốn ngày sau chúng ta sẽ tỷ thí tiếp. Lần này ta đến đây là để chúc mừng ngươi!”
Trương Đan Phong nói: “Chúc mừng chuyện gì?”
Ngạch Cát Đa nói: “Nhà ngươi cũng may mắn lắm, Thái sư biết ngươi tài giỏi cho nên mời ngươi hôm nay đến dự yến”.
Trương Đan Phong nói: “Mời ta đến dự tiệc?”
Ngạch Cát Đa nói: “Đúng thế, ngươi hãy mau thay đồ, vì đến nước này thì giấu đầu cũng lòi đuôi, đừng cải trang”.
Trương Đan Phong vừa thay đồ vừa cười nói: “Tay mắt Thái sư thật lanh lẹ”.
Ngạch Cát Đa cười nói: “Ngươi thông minh người khác cũng chẳng ngốc! Thái sư bảo ngươi cả đời thông minh nhưng cũng hồ đồ một lúc”.
Trương Đan Phong nói: “Sao?”
Ngạch Cát Đa cười: “Ngươi ra tay rất rộng rãi, cho tiền tên tửu bảo ấy để hỏi tin tức, sau đó tên tửu bảo nghĩ lại, làm sao không dám báo lại với quan sai”.
Thật ra Trương Đan Phong đã đoán được điều này, chàng liệu rằng Dã Tiên có thể sẽ mời như thế này, cho nên sau khi về khách sạn thì bảo Vân Lối dọn sang căn phòng khác.
Ngạch Cát Đa lại nói: “Người vợ xinh đẹp ấy của ngươi đâu?”
Trương Đan Phong cả giận nói: “Nói bừa, nàng là sư muội của ta”. Mặc kệ ả là vợ hay là muội của ngươi, ả đang ở đâu?”
Trương Đan Phong cười rằng: “Thái sư quả thật thần cơ diệu toán, nhưng tại sao lại không đoán ra được điều này? Sư muội của ta thông minh hơn ta rất nhiều ta liều chết về đến đây, nhưng nàng còn muốn sống thêm vài năm nữa. Nàng sợ liên luỵ cho nên đã bỏ đi trước”.
Ngạch Cát Đa đã điều tra, biết rằng Vân Lối đã dọn ra khỏi khách sạn từ giờ Ngọ, cho nên tin lời Trương Đan Phong, y cười rằng: “Coi như ả thông minh, Thái sư không muốn giữ ả ở kinh đô. Đi mau, Thái sư đối xử với ngươi rất tốt, nhưng không cần phải liều mạng”.
Trương Đan Phong thay y phục, Ngạch Cát Đa đã trả tiền phòng, Trương Đan Phong cùng Ngạch Cát Đa và mấy tên võ sĩ lên xe ngựa, chỉ trong chốc lát xe đã đến phủ Thái sư. Phủ Thái sư còn nguy nga sang trọng hơn phủ thừa tướng của Trương Tôn Châu, bên ngoài ba lớp, bên trong ba lớp, sau khi tiến vào sáu lớp cửa, bọn võ sĩ cao giọng kêu: “Khách đã dến!”
Cánh cửa bật mở ra, chỉ thấy bên trong đèn đuốc sáng trưng, Dã Tiên ngồi ở trung đường, truyền lệnh rằng: “Mời khách vào!”
Trương Đan Phong thản nhiên bước lên bậc thềm, chỉ thấy có một tên võ sĩ bước tới, toan đưa tay đỡ rằng, định kêu lên: “Bật cửa nay quá cao, xin hãy cẩn thận”.
Trương Đan Phong vừa nhìn thì đã biết y sử dụng đại lực ưng trảo công, thế rồi mỉm cười nói: “Ta có thể tự đi, ngươi cũng nên cẩn thận!”
Thế rồi hai tay vung lên, hất tên võ sĩ ấy loạng choạng, nhưng hai cánh tay cũng bị y chụp đau nhói, Trương Đan Phong thất kinh, tên võ sĩ này có bản lĩnh cao hơn cả Ngạch Cát Đa. Nhưng chàng vẫn bình tĩnh bước vào trung đường. Chỉ nghe Dã Tiên cười ha hả: “Hai năm không gặp, hiền điệt quả nhiên đã trở thành bậc nhân tài. Quả thật đáng chúc mừng!”
Trương Đan Phong trả lại một lễ, cũng cười lớn rằng: “Hai năm không gặp, công lao của Thái sư ngày càng lớn. Người trong nước chỉ biết đến Thái sư, chứ không biết đến Hoàng thượng, quả thật đáng chúc mừng!”
Hai câu này rất sắc bén nghe như lời khen nhưng thật sự đó là lời mỉa mai, câu trước cười Dã Tiên xâm lấn Trung Hoa thất bại, câu sau mắng y có dã tâm đoạt ngôi vua. Dã Tiên cười khan mấy tiếng rồi nói: “Quá khen, quá khen, hiền điệt từ xa trở về, hãy ngồi xuống uống chén rượu”.
Bên cạnh Dã Tiên là một đầu nhà sư cao lớn, y rót đầy một chén rượu rồi nói: “Ta kính Trương công tử một chén”.
Thế rồi hai ngón tay móc vào chén rượu, miết nhẹ một cái, chén rượu xoay mãi không thôi, nhưng rượu trong chén không hề rơi ra ngoài. Trương Đan Phong thấy thủ pháp mời rượu của nhà sư ấy thì rất ngạc nhiên, chén rượu xoay rất gấp, bay thẳng tới trước mặt chàng. Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Xin hỏi pháp hiệu của đại sư?”
Thế rồi chàng đưa tay ra chặn vào đáy chén, co lòng bàn tay lại, hóa giải luồng kình lực ấy, rồi bàn tay hạ xuống, hai ngón tay móc lên tiếp lấy chén rượu uống cạn. Nhà sư ấy hơi biến sắc, Trương Đan Phong cũng kinh ngạc mấy phần, nếu người không biết nhìn vào thì tưởng thủ pháp này của ông ta là trò đùa, nhưng thật ra nó là nội công rất thâm hậu, chén rượu đã bị nội lực của ông ta đẩy xoay tròn, nhưng rượu không vương ra, chén cũng không vỡ. Nếu không tập Yếu quyết huyền công, khi tiếp chén rượu, Trương Đan Phong không bị thương thì rượu cũng vương ra ngoài. Thế rồi mới thầm nhủ: “Bản lĩnh của nhà sư này cao hơn võ sĩ lúc nãy một bậc, bản lĩnh của võ sĩ lúc nãy tuy cao, nhưng mình có thể chế phục y được, nhưng nhà sư này thì khó đoán thắng thua. Không biết Dã Tiên đã tìm đâu ra những dị nhân này”.
Dã Tiên nói: “Để ta giới thiệu cho hiền điệt biết, đây chính là Thanh Cốc pháp sư của Hồng giáo ở Tây Tạng”.
Rồi chỉ về phía võ sĩ đứng phía trước: “Còn vị này là dũng sĩ Ma Dự Tán của xứ Thổ Cốc Hồn”.
Trương Đan Phong cạn chén với hai người, Dã Tiên lại nói: “Ta tưởng rằng hiền điệt ngao du chuyến này vui đến nỗi quên cả đường về. Đã đến những nơi nào?”
Trương Đan Phong cười nói: “Lần tiểu điệt từ Tái Bắc về đến thẳng Giang Nam, sản vật của Trung Hoa phong phú, quả thật là một dải đất gấm vóc. Đáng tiếc Thái sư chỉ đến ngoại thành Bắc Kinh thì phải quay trở về”.
Dã Tiên biến sắc, nói: “Ngày sau ta nhất định phải quay trở lại Trung Nguyên để mở rộng tầm mắt, đến lúc đó mong hiền điệt hãy dẫn đường”.
Trương Đan Phong hừ một tiếng, nói: “Đêm qua tiểu điệt cũng nằm mơ thấy Trung Nguyên, nhưng chỉ trong chốc lát đã tỉnh dậy”.
Trương Đan Phong nói lời nào cũng sắc bén, đầy sự mỉa mai. Dã Tiên không nén được nữa, cười ha hả, nâng chén uống cạn rồi nói: “Hiền điệt nói hay lắm, ta già cả cứ nghĩ gì là nói đấy, mong hiền điệt đừng trách”.
Trương Đan Phong nói: “Xin Thái sư chỉ dạy”.
Dã Tiên nói: “Lần này hiền điệt trở về chắc là chưa gặp lệnh tôn. Ta lại mời hiền điệt đến đây trước, chắc là lệnh tôn không trách”.
Trương Đan Phong nói: “Tiểu điệt xin đa tạ ý tốt của Thái sư”.
Dã Tiên ngạc nhiên, nói: “Ý tốt gì?”
Trương Đan Phong nói: “Gia phụ mấy năm nay bận rộn, lần này được Thái sư ban ân cho nên có thể rãnh rỗi, ở nhà dưỡng sức, gia phụ muốn cũng không được, cho nên tiểu điệt mới thay gia phụ đáp tạ Thái sư!”
Dã Tiên nghe xong thì đột nhiên cười ha hả.
Trương Đan Phong nói: “Phải chăng tiểu điệt đã lỡ lời khiến Thái sư cười chê?”
Dã Tiên nói: “Hiền điệt không phải lỡ lời mà cố ý che đậy. Tục ngữ có nói, biết con chẳng ai bằng cha, biết cha cũng chẳng ai bằng con, lão phu cố nhiên muốn đến Trung Hoa, lệnh tôn cũng muốn trở về quê cũ, chúng ta hãy cứ nói thẳng ra, lệnh tôn có thể quay về được hay không là toàn phải xem ở hiền điệt”.
Trương Đan Phong nói: “Mong Thái sư nói rõ”.
Dã Tiên nói: “Lần này ta đem binh đến đánh Bắc Kinh, nhưng phải quay về, sự phản kháng của tên Man tử Vu Khiêm quả thật gây bất ngờ cho ta, trong nước lại có kẻ chọc gãy bánh xe, cũng là nguyên nhân khiến ta phải lui binh. Hiền điệt là người cùng phe, cho nên ta mới nói cho ngươi biết”.
Trương Đan Phong nói: “Gia phụ nào dám đối chọi với Thái sư?”
Dã Tiên cười rằng: “Ta không phải nói cha của ngươi. Ý ta muốn nói đến A Thích. A Thích cầm quân ở miền Tây mà không nghe theo lệnh, hiền điệt vẫn chưa biết ư?”
Trương Đan Phong nói: “Tiểu điệt vừa mới quay về cho nên chẳng biết chuyện gì?”
Dã Tiên nói: “Giờ đây Ngõa Thích chia làm ba phần, Hoàng đế u tối, không thể gánh vác việc nước. Nay chỉ có ta và A Thích là có thể làm thay”.
Trương Đan Phong cười lạnh, chỉ nghe Dã Tiên lại nói: “A Thích nóng nảy vô mưu, không phải ta tự khoe khoang, người Hán các người có một câu nói rằng, anh hùng trong thiên hạ chỉ có người và Tháo! Lão phu tuy bất tài, nhưng cũng lớn gan tựa so sánh với Tào Tháo”.
Trương Đan Phong nói: “Ai là Lưu Bị?”
Dã Tiên cười nói: “Cha con nhà họ Trương chính là Lưu Bị. Lệnh tôn văn võ toàn tài, nắm quyền bính trong tay đã lâu, biết rõ tình hình của Ngõa Thích, nếu liên thủ với ta thì không khó trừ A Thích, sau đó xua quân đánh xuống miền nam, lúc đó lệnh tôn đã được toại nguyện”.
Trương Đan Phong nghe thế thì lửa giận bốc cao, nhưng chàng vẫn cố nén, chỉ nghe Dã Tiên tiếp tục nói: “Năm ngày trước ta đã gửi mật hàm bàn bạc với lệnh tôn, nhưng lệnh tôn đến nay vẫn chưa trả lời. Hiền điệt là người hiểu chuyện cho nên mong sau khi trở về nhà hãy khuyên lệnh tôn giúp lão phu”.
Dã Tiên nói đến đây, Trương Đan Phong chợt hiểu ra, té ra y muốn liên kết với cha mình. Nhưng ông ta chưa trả lời cho nên bị y giam lỏng. Chàng thầm tính toán: “Giờ đây binh quyền nằm trong tay Dã Tiên, mạng của cha mình cũng nằm trong tay y. Nếu đối chọi với y thì hậu quả sẽ khó lường. Vả lại chuyện này có liên quan đến vận nước của Trung Quốc, xem ra tình thế hôm nay A Thích cũng chẳng phải là địch thủ của Dã Tiên, dù y không liên kết với cha mình, cũng có thể đoạt ngôi xưng vương, y sở dĩ muốn cha mình giúp đỡ là vì muốn chắc ăn hơn. Cho nên hôm nay phải dùng kế hoãn binh, đợi Vu Khiêm xây dựng lại quân đội, dù cho Dã Tiên có đoạt được ngôi vua ở Ngõa Thích thì cũng không đáng sợ nữa.
Nhưng ngay lúc này, Dã Tiên đang đợi câu trả lời, thật sự khó mà kéo dài được, Dã Tiên lại hỏi dấn tới một câu: “Hai nhà chúng ta đã nhiều đời thân thiết với nhau, chẳng có lời gì mà không cho nhau biết được. Yù của hiền điệt thế nào? Hãy cho ta rõ”.
Trương Đan Phong chợt cười ha hả, nói: “Trăng sáng trên cao, rượu ngon trước mắt, chỉ nói việc nước việc quân há chẳng uổng phí ysao? Trước tiên xin uống cạn ba chén, Thái sư, mời ngài ba chén, nào, cạn chén!”
Dã Tiên ngạc nhiên, trong lòng không vui, nhưng cuối cùng cũng phải cạn chén với chàng. Uống xong ba chén, Dã Tiên đang định lên tiếng chợt nghe tiếng hoàn bội leng keng, ở nơi tấm rèm ngọc có một thiếu nữ bước ra, thiếu nữ này chính là Thoát Bất Hoa.
Chợt nghe Thoát Bất Hoa cười rằng: “Ồ, Trương đại ca, quả nhiên là huynh, muội còn tưởng cha gạt muội!”
Trong đêm ở thành Thổ Mộc, Dã Tiên biết tâm sự của con gái, nói rằng sẽ tìm Trương Đan Phong, lo việc hôn sự cho nàng, nhưng không lâu sau thì bại trận trở về nước, Thoát Bất Hoa chỉ nghĩ suốt đời này không thể nào gặp lại Trương Đan Phong nữa. Dã Tiên bảo đêm nay Trương Đan Phong sẽ đến dự tiệc, nàng còn tưởng rằng y nói đùa.
Dã Tiên vốn bảo nàng phải đợi đến tiệc tàn thì mới bước ra, nhưng nàng nôn nóng nên rượu chưa được ba tuần thì đã xuất hiện. Trương Đan Phong vừa nhìn thấy thì đã hợp ý, bước lên phía trước thi lễ nói: “Hôm nay may mắn gặp lại, trước tiên mời muội ba chén!”
Thoát Bất Hoa mừng rỡ, cùng Trương Đan Phong uống cạn ba chén, Trương Đan Phong không đợi Dã Tiên nói đã lên tiếng: “Khi ở thành Thổ Mộc, được muội khoản đãi, lại mời muội thêm ba chén!”
Thoát Bất Hoa mỉm cười nói: “Lần này huynh hãy uống cùng muội”.
Trương Đan Phong nói: “Điều đó đương nhiên!”
Thế rồi hai người bưng chén uống cạn. Dã Tiên nhíu mày, nói: “Con gái, con uống như thế coi chừng say, đại ca sẽ cười con đấy”.
Dã Tiên tuy đang nói với Thoát Bất Hoa nhưng lại ngầm nói với Trương Đan Phong, Thoát Bất Hoa không hiểu chỉ cười rằng: “Chỉ mấy chén rượu làm sao say, chả lẽ ý tốt của Trương đại ca...”.
Dã Tiên nhíu mày, Thoát Bất Hoa cười rằng: “Con không uống nữa, Trương đại ca, muội mời huynh ba chén!”
Trương Đan Phong không đợi nàng tiếp rượu, lập tức nói: “Hay lắm, hay lắm, ta phải uống cạn ba chén!” Thế rồi rót rượu cho mình, lại uống ba chén đầy. Thoát Bất Hoa vui đến nỗi quên cả mọi người xung quanh, cười lớn nói: “Trương đại ca thật mau mắn, huynh phải uống thêm ba chén nữa, ở thành Thổ Mộc huynh không từ mà biệt, có đáng phạt hay không?”
Trương Đan Phong nói: “Ồ, đáng phạt, đáng phạt!” Thế rồi giành lấy bình rượu tự rót tự uống, lại thêm ba chén nữa!
Dã Tiên nói: “Rượu đã uống nhiều, hãy nếm một ít canh cá tươi giải rượu!”
Trương Đan Phong chợt mở áo, cười lớn nói: “Uống rượu gặp người tri kỷ ngàn chén vẫn còn ít, nói chuyện gặp kẻ chẳng hợp lòng nửa câu đã nhiều! Ha ha! Nói chuyện chẳng hợp lòng nửa câu vẫn còn nhiều! Ngàn chén vẫn chưa đủ mà sao không cho tôi uống tiếp?”
Dã Tiên nói: “Hiền điệt đã say rồi!”
Trương Đan Phong huơ chân múa tay, kêu lên: “Ai bảo ta say, ai bảo ta say? Ta sẽ uống nữa cho ngài xem”. Thế rồi giật lấy bầu rượu, Dã Tiên nháy mắt, võ sĩ Ma Dự Tán bước lên cản: “Trương công tử đừng uống nữa!”
Thế rồi toan giật bình rượu lại, Trương Đan Phong quát rằng: “Ngươi dám cản ta?” Thế rồi vung tay đẩy Ma Dự Tán thối lui. Dã Tiên trầm giọng nói: “Hiền điệt hãy bảo trọng, rượu có thể hại người, đừng uống nữa”.
Trương Đan Phong cười ha hả nói: “Từ xưa tới nay chỉ nghe chủ nhân mời rượu, chưa nghe chủ nhân cấm uống rượi, ha ha, ha ha...”.
Dã Tiên nói: “Hiền điệt quả thật đã say, hãy mau đem thuốc giải rượu tới!”
Trương Đan Phong vung chân múa tay, kêu lớn: “Ta chưa say! Ta chưa say!” Đột nhiên ngã xuống đất, rồi nôn ra òng ọc, mùi rượu bốc lên khiến ai cũng tởm lợm. Dã Tiên lắc đầu nói: “Giỏi lắm, giả vờ say rượu, chả lẽ ta thua ngươi”.
Thoát Bất Hoa nói: “Cha, cha nói gì thế?”
Dã Tiên nói: “Không liên quan đến con. Chỉ cần y nghe lời, ta cũng sẽ không giết y”.
Thoát Bất Hoa nói: “Không nghe lời cũng không được giết”.
Dã Tiên nói: “Con đừng nói nữa, hãy mau kêu người đỡ y ra nhà sau nghỉ ngơi”.
Trương Đan Phong nhắm tịt mắt, tứ chi rã rời, miệng thở ra toàn mùi rượu, mặt đỏ ửng tựa như kẻ nát rượu, nhưng trong lòng chàng thì rất tỉnh táo, chàng nghe Thanh Cốc pháp sư nhẹ nhàng bước tới, đưa tay nắm vào mạch môn của mình, Trương Đan Phong ngầm vận chân khí đảo ngược khiến cho mạch đập loạn xạ, miệng thì thở phì phò.
Thanh Cốc pháp sư bắt mạch xong thì cười: “Y say thật!”
Ma Dự Tán nói: “Tên tiểu tử này rất xảo quyệt, ta thấy y cố ý tự chuốc say mình”.
Dã Tiên nói: “Trương Tôn Châu đang nằm trong tay của chúng ta, đừng lo y bỏ chạy. Đêm nay y đã say, nhưng ngày mai sẽ tỉnh lại, bảo hai người khiêng y vào phòng sau, Hoa nhi, con hãy chăm sóc cho y”.
Thoát Bất Hoa vâng một tiếng, Trương Đan Phong cảm thấy có hai võ sĩ khiêng mình lên, trong lòng cười thầm nhưng giả vờ say rượu ngủ vùi, lại còn ngáy lên như sấm. Nghe Dã Tiên hỏi: “Thanh Cốc pháp sư, mấy ngày nay đã khiến ông vất vả, trong hoàng cung có gì đáng nghi không?” Trương Đan Phong ngầm vận Thiên cân trụy, hai tên võ sĩ chợt cảm thấy người chàng nặng nề, chỉ đành chậm chạp lê từng bước. Thanh Cốc pháp sư đáp rằng: “Tôi đã canh giữ hoàng cung rất chặt chẽ, không ai vào gặp Hoàng thượng, Thái sư hãy yên tâm!”
Trương Đan Phong giật mình, thầm nhủ: “Té ra Dã Tiên nôn nóng đoạt ngôi vua đến thế, cả vua Ngõa Thích mà cũng bọn chúng giam lỏng”.
Dã Tiên nhếch mép cười rồi tiếp tục nói: “Y sẽ chẳng dám cấu kết ở bên ngoài, nhưng cẩn thận vẫn tốt hơn. Đêm nay ông hãy cùng Ma Dự Tán đến hoàng cung túc trực”.
Lúc này Trương Đan Phong đã nằm trên giường, chỉ cảm thấy chiếu gấm thơm lừng, mền gối ấm áp, cười thầm rằng: “Gia nhân của Dã Tiên cũng biết hưởng thụ, phòng khách mà cũng thơm phưng phức”. một hồi sau, Thoát Bất Hoa bước vào phòng ngồi xuống mép giường, dịu dàng cười nói: “Sao lại say đến mức này!” Trương Đan Phong vẫn giả vờ ngủ say, chàng chợt cảm thấy có mùi cay cay xộc vào mũi, bất đồ hắt hơi một tiếng, té ra Thoát Bất Hoa đã dùng loại hương liệu của Mông Cổ phun vào Trương Đan Phong, Trương Đan Phong hắt hơi xoay người lại, Thoát Bất Hoa cười khanh khách: “Tỉnh dậy, muội đã bưng cho huynh canh giải rượu”.
Trương Đan Phong chỉ ậm ừ, đột nhiên chàng cười lớn: “Ha ha, không nay ta không đi nữa, bên ngoài sương trắng như núi, ta sợ, ta sợ!”
Thoát Bất Hoa nói: “Này, huynh tỉnh dậy, đây không phải là thành Thổ Mộc, làm sao có sương trắng như núi?” Trương Đan Phong nói: “Ai bảo không phải thành Thổ Mộc? Muội nghe xem, bên ngoài chẳng phải có tiếng ngựa hí đấy ư?”
Đó chính là:
Giả say giả điên dùng diệu kế, gạt kẻ thù gạt cả giai nhân.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 25
Tháp đá giấu rồng vượt ải cướp vua Minh
Lòng son báo quốc rút kiếm hộ thù nhân
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:23 pm

Hồi 25
Tháp đá giấu rồng vượt ải cướp vua Minh
Lòng son báo quốc rút kiếm hộ thù nhân

Thoát Bất Hoa cười nói: “Đó là võ sĩ trong phủ tập trận, không cần phải lo lắng”. Nàng sờ trán Trương Đan Phong, Trương Đan Phong chợt há mồm nôn ra, thức ăn phun đầy xuống đất. Thoát Bất Hoa không khỏi nhíu mày nói: “Sao lại say đến mức này?” Rồi nàng bịt mũi bưng chén canh đến cho Trương Đan Phong nhưng chàng xua tay, nói: “Ta vẫn chưa say! Nào, uống thêm ba chén nữa!” Chén canh bị chàng hất trúng đổ tạt vào người Thoát Bất Hoa, cái chén cũng rơi xuống vỡ tan tành. Thoát Bất Hoa bị chàng quét trúng cổ tay đau nhói, chỉ thấy Trương Đan Phong ngoẹo đầu sang một bên chìm vào giấc ngủ, hai tay vẫn đập rầm rầm trên giường, lòng nhủ thầm: “Chàng say đến mức cả thuốc giải rượu mà cũng không có tác dụng”.
Thế rồi chỉ đành lui ra, chỉ nghe Trương Đan Phong lẩm nhẩm: “Mở cửa ra, đừng thổi tắt đèn, ta sợ tối ngươi có biết không?” Thoát Bất Hoa chợt quay đầu lại, Trương Đan Phong lại nôn thêm lần nữa. Thoát Bất Hoa buồn bực trong lòng, đi ra ngoài thay đồ, bảo tỳ nữ vào trong quét dọn.
Trương Đan Phong dùng kế đó đuổi Thoát Bất Hoa, lòng rất đắc ý, nhưng nghĩ bụng Dã Tiên mưu đồ đoạt ngôi vua, cũng là họa cho nhà Minh, nhưng lại không biết ứng phó thế nào, trong lòng bất giác lo lắng. Nếu lúc này giết Dã Tiên thì không phải chuyện khó. Nhưng giết một người không thể nào dập tắt ngọn lửa chiến tranh giữa hai nước, mà Hoàng đế Minh Anh Tông cũng sẽ gặp nguy hiểm. Điều Vu Khiêm và Trương Đan Phong lo lắng phải giữ hòa bình cho hai nước, cho nên Trương Đan Phong không thể làm thế.
Chỉ nghe trong phủ lại gõ ba canh, từ cửa sổ nhìn ra chỉ thấy vầng trăng đang ở trên cao, gió thổi hiu hiu, Trương Đan Phong suy đi nghĩ lại, nhưng vẫn chưa có cách nào tốt nhất. Chợt thấy bên ngoài cành cây có một bóng đen lướt qua, Trương Đan Phong chưa kịp lên tiếng thì người đó đã đứng trước giường, khi chàng nhìn lại thì không khỏi cả mừng, té ra đó là Tạ Thiên Hoa.
Tạ Thiên Hoa thì thầm nói: “Ta theo ám hiệu ở trong thành tìm đến Vân Lối, biết con bị nhốt ở đây, con hãy mau đi theo ta”.
Trương Đan Phong nói: “Nếu con muốn đi thì đã đi từ sớm”. Thế rồi kể chỗ khó của mình ra.
Tạ Thiên Hoa gật đầu nói: “Vậy con tính như thế nào?”
Trương Đan Phong nói: “Tứ sư thúc đến chưa?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Đã đến, đang ở cùng Vân Lối”.
Trương Đan Phong nói: “Còn nhị sư bá thì sao?”
Tạ Thiên Hoa thở dài, nói: “Vẫn chưa tìm được”. Ông ta tựa như có rất nhiều điều muốn nói.
Trương Đan Phong lo lắng: “Con đang nghĩ kế thoát thân, ngày mai mới ra được, lúc đó sẽ nói tường tận. Giờ đây không nên chậm trễ, mong người và tứ sư thúc lập tức đến hoàng cung”.
Tạ Thiên Hoa nói: “Để làm gì?”
Trương Đan Phong thì thầm bên tai ông ta mấy câu.
Sau khi Tạ Thiên Hoa bỏ đi, Trương Đan Phong như giải được mối lo trong lòng, chàng đã yên tâm chợp mắt. Không biết ngủ bao lâu thì bị đánh thức dậy, ngẩng đầu nhìn lên thì thấy Dã Tiên đã ngồi trong phòng.
Trương Đan Phong vội vàng ngồi dậy, chỉ thấy ánh mặt trời len vào cửa sổ. Trương Đan Phong nói: “Thái sư, ông dậy thật sớm!”
Dã Tiên nói: “Hiền điệt đã tỉnh chưa?”
Trương Đan Phong nói: “Đêm qua đã thất lễ, mong Thái sư thứ lỗi”.
Dã Tiên hừ một tiếng, nói: “Ngươi đã nghĩ xong chưa? Cha con nhà ngươi có chịu liên kết với ta trừ A Thích, cùng mưu đồ phú quý hay không?”
Trương Đan Phong nói: “Đã nghĩ xong, tiểu điệt đang có lời muốn nói với Thái sư”.
Dã Tiên nói: “Hiền điệt hãy nói”.
Trương Đan Phong thấy y mặt mũi lạnh như băng, trong lòng đã đoán được là chuyện gì cho nên thầm cười.
Té ra đêm qua Thanh Cốc pháp sư và Ma Dự Tán vẫn trực trong cung như bình thường, sau canh ba chợt thấy hai bóng đen từ trong cung nhẹ nhàng phóng vọt ra, hai người chạy tới hỏi, bóng đen ấy ra tay nhanh như điện chớp, chỉ một chiêu đã cắt đầu Thanh Cốc pháp sư, Ma Dự Tán võ công tuy cao nhưng cũng chỉ tiếp được hai chiêu thì đã bị người ta cắt lỗ tai. Chỉ nghe kẻ địch cười rằng: “Tha cho ngươi một mạng, nếu y chỉ muốn xưng vương ở Ngõa Thích thì được, nhưng sau khi đoạt ngôi vua mà xâm lăng Trung Hoa thì đừng trách bọn ta”.
Té ra đó là hai người Hán, chỉ vừa chớp mắt cả hai người đã biến mất. Sáng nay Dã Tiên biết được việc này, quả thật vừa lo vừa giận. Điều Dã Tiên lo là: Thanh Cốc pháp sư là một nhân vật có tiếng tăm trong Hồng giáo, võ công của Ma Dự Tán hơn cả Ngạch Cát Đa, thế mà dễ dàng bị người ta giết chết và cắt tai chỉ trong vòng một hai chiêu! Thử hỏi nếu hai người này đến phủ Thái sư hành thích thì ai có thể đề phòng nổi? Điều khiến cho Dã Tiên lo lắng là, hai người Hán này rõ ràng đến từ Trung Hoa, nhưng âm thầm bảo vệ cho hoàng tộc Ngõa Thích, lại còn thấy rõ ý định của y, chỉ e việc đoạt ngôi khó mà thực hiện.
Dã Tiên hỏi lại chuyện đêm qua, Trương Đan Phong cười nói: “Thái sư cầm quân đã lâu, chắc thông hiểu binh pháp”.
Dã Tiên nói: “Thì thế nào?”
Trương Đan Phong nói: “Binh pháp có nói, khi hành quân đánh trận, kỵ nhất là phải đồng thời đối phó với nhiều kẻ địch, chắc Thái sư biết điều này?”
Dã Tiên nói: “Điều này sao ta không biết? Cho nên ta mới muốn liên kết với lệnh tôn thống nhất Ngõa Thích”.
Trương Đan Phong nói: “Cha con tôi sức lực có hạn, còn Trung Quốc thì sức lực vô cùng”.
Dã Tiên im lặng không nói. Trương Đan Phong nói: “Lần này tôi về Trung Nguyên, biết Trung Quốc đất rộng người đông, nếu họ biết đòan kết, đừng nói là một Ngõa Thích, dù mười Ngõa Thích cũng không làm gì được họ”.
Dã Tiên nói: “Có phải ngươi muốn làm thuyết khách cho nhà Minh đấy không?”
Trương Đan Phong cười lớn: “Lẽ nào Thái sư không biết thân thế của tiểu điệt, sao tiểu điệt có thể làm thuyết khách cho nhà Minh. Nhưng nếu bảo tiểu điệt là thuyết khách, vậy thì tiểu điệt vì Trung Quốc mà cũng vì Ngõa Thích mới du thuyết Thái sư”.
Dã Tiên nói: “Được, nói tiếp”.
Trương Đan Phong nói: “Giờ đây ở Trung Quốc Vu Khiêm nắm quyền, lần trước Thái sư có thể đánh tới Bắc Kinh, nhưng nếu mai này Thái sư muốn tấn công Trung Quốc, e rằng chẳng thể vượt nổi Nhạn Môn quan. Không những thế, giả sử Trung Quốc biết ngài muốn đoạt ngôi vua, lại mưu đồ xưng bá, họ sẽ xua quân tiến lên phía bắc, liên minh với A Thích, ngài sẽ như thế nào?”
Dã Tiên bất đồ giật mình, nếu trước đây nửa năm nghe những lời này, y chắc chắn sẽ cười to, lúc đó y tưởng rằng có thể dễ dàng chiếm được Trung Quốc, chẳng thèm coi quân đội nhà Minh ra gì. Sau cuộc đại chiến ở Bắc Kinh, y cảm thấy Trung Quốc quả thật không dễ nuốt. Đến gần đầy, Vu Khiêm chỉnh đốn biên quan, lại nhờ có tấm địa đồ của Bành hòa thượng cho nên đánh mấy trận đều thắng, đẩy quân Ngõa Thích lui về phía bắc, Dã Tiên lo lắng, dần dần cảm thấy quân nhà Minh là một sức mạnh đáng gờm. Lúc này nghe Trương Đan Phong nói, bề ngoài y vẫn bình tĩnh, nhưng trong lòng thầm kinh. Trương Đan Phong lại nói: “Lần này tôi trở về Trung Hoa, cảm thấy không thể coi thường họ, nhất là Hoàng đế của họ bị ngài bắt sống ở thành Thổ Mộc, người trong nước càng coi đó là một mối nhục lớn. E rằng ngài chưa xua quân xuống miền nam thì họ đã tiến quân lên phía bắc trả thù. Binh lực của Thái sư tuy mạnh nhưng cũng chưa chắc chống nổi quân nhà Minh và quân của A Thích ở miền nam!” Dã Tiên ho khan một tiếng, thần sắc dần dần thay đổi, nhưng vẫn nói cứng rằng: “Ta có mười vạn hùng binh, hàng ngàn chiến tướng, dù cho Trung Quốc và A Thích cấu kết với nhau, quá lắm cũng chỉ là ngọc đá đèo tan, kẻ đại trượng phu sống không làm bá chủ chết thì cũng phải làm quỷ hùng, có gì đáng sợ?”
Trương Đan Phong cười ha hả rồi nói: “Nếu chưa làm gì được mà đã chết thì thế nào? Huống chi thắng làm vua thua làm giặc, chỉ e Thái sư tự cho mình anh hùng, người đời sau chưa chắc sánh ông với Tào Tháo”.
Dã Tiên nghe nói rắn thế thì nhụt chí, chép miệng rằng: “Triều Minh nếu thật sự hận ta như thế, sao người giết ta không?”
Trương Đan Phong nói: “Theo tôi biết, nhà Minh quả thật có sai kiếm khách đến, còn giết ông hay không thì tôi không biết”.
Dã Tiên nhớ lại chuyện đêm qua thì không khỏi dựng tóc gáy, nhưng vẫn tỏ ra cứng cỏi, cười rằng: “Nhà Minh có cao thủ kiếm khách, chả lẽ ta không có dũng sĩ hay sao?”
Trương Đan Phong lại cả cười, nói: “Dũng sĩ của ngài chẳng qua chỉ là một đám giá áo túi cơm, chỉ e nếu gặp phải cao thủ thật sự, không đầy một chiêu thì đã bị người ta cắt đầu!”
Dã Tiên ngạc nhiên, nhảy dựng lên: “Ngươi cũng biết chuyện đêm qua?”
Trương Đan Phong nói: “Chuyện gì? Tôi chẳng qua chỉ nói thế mà thôi, võ sĩ của ông thật sự đã bị người ta cắt đầu trong vòng một chiêu hay sao?”
Dã Tiên lo lắng không vui thầm nhủ: “Đêm qua y say mèm, không bước ra khỏi cửa, chắc là chỉ thuận miệng nói mà thôi, song y nói rất đúng”.
Trương Đan Phong lại cười rằng: “Dũng sĩ nào đã bị người ta giết?”
Dã Tiên nói: “Không có gì, đêm qua có thích khách tới, song đã bị chúng tôi đuổi chạy. Chúng tôi cũng có một hai người bị thương”.
Trương Đan Phong cười hì hì, nói: “Coi như các người may mắn!”
Thật ra chuyện hôm qua là do chànbg sắp đặt. Người giết chết Thanh Cốc pháp sư, cắt tai Ma Dự Tán chính là Diệp Doanh Doanh và Tạ Thiên Hoa.
Dã Tiên tuy nói cứng, nhưng lòng càng lúc càng lo, chỉ nghe Trương Đan Phong lại nói: “Toan tính trước kia của Thái sư e rằng không phải lá cách hay”.
Dã Tiên nói: “Vậy tiểu điệt có cao kiến gì?”
Trương Đan Phong đang định nói tiếp thì chợt nghe bên ngoài có tiếng người ồn ào, chàng không khỏi nhíu mày, Dã Tiên gọi người vào hỏi chuyện gì.
Người ấy đáp: “Có vài tên ăn mày xông vào trong phủ, thật đáng ghét!”
Dã Tiên nhíu mày nói: “Vậy thì cứ cho bọn chúng một ít thức ăn, nếu không thì đuổi bọn chúng ra ngoài, đừng làm ồn lên như thế!” Thế rồi xua tay.
Trương Đan Phong đang suy nghĩ, chỉ nghe Dã Tiên lại hỏi: “Trương hiền điệt có cao kiến gì?”
Trương Đan Phong mỉm cười, chậm rãi nói: “Thái sư muốn yên trong thì phải hòa ngoài trước, lúc đó mới không bị trong ngoài đều gặp khó. Trung Hoa đất rộng người đông, sản vật phong phú, nếu Ngõa Thích không xâm lược họ, họ cũng xông tấn công. Cho thấy, chi bằng cứ trả Thiên tử nhà Minh trở vể Trung Quốc, ký hòa ước với họ, đó chính là thượng sách!”
Dã Tiên trầm ngâm không nói. Trương Đan Phong cười rằng: “Ngày trước khi ở thành Thổ Mộc, ngài đã tìm trăm phương nghìn kế bắt sống Thiên tử nhà Minh, chẳng qua là tưởng rằng có thể uy hiếp được Trung Hoa. Giờ đây Vu Khiêm đã lập vua mới, giữ y ở Ngõa Thích, trái lại sẽ là mầm họa”.
Dã Tiên nghĩ kỹ, cảm thấy cũng có lý rồi mới nói: “Ta đánh nhau hàng trăm trận lớn nhỏ với triều Minh, thắng nhiều mà bại ít. Chẳng lẽ ta phải trả Thiên tử triều Minh trở về, cầu hòa với bọn chúng hay sao?” Trương Đan Phong nghe y nói như thế, biết y đã chấp nhận, chỉ là chuyện sĩ diện mà thôi, thế rồi mới cười: “Hai nước hòa hiếu, lấy lễ huynh đệ đối xử với nhau, có gì nhục nhã? Nếu Thái sư không muốn đưa ra hòa ước trước, vậy hãy mời Trung Quốc phái sứ thần đến Ngõa Thích nghị hòa cũng được”.
Dã Tiên đảo mắt nói: “Ngươi dám nói một cho hộ cho bọn Man tử? Ngươi... ngươi là ai...”.
Trương Đan Phong nói: “Quả thật không dám dấu, trước khi tôi trở về Ngõa Thích đã gặp Vu Khiêm. Những điều tôi nói chắc chắn cũng là ý của Vu Khiêm”.
Dã Tiên buồn bã ngồi xuống, một lát lâu sau mới nói: “Chả lẽ ngươi đã quên thù nhà, giúp sức cho Thiên tử họ Chu hay sao?”
Trương Đan Phong cười ha hả, Dã Tiên nói: “Tôi chẳng qua chỉ giúp cho Trung Quốc và Ngõa Thích. Xin hỏi nếu hai nước hòa hiếu với nhau có phải là phước của trăm họ hai nước hay không?”
Dã Tiên cũng im lặng không nói, một lúc lâu sau mới bảo: “Sau khi hai nước nghị hòa, ngươi sẽ ở đâu?”
Trương Đan Phong nói: “Tôi là người Trung Quốc đương nhiên trở về Trung Quốc”.
Dã Tiên nói: “Vậy ngươi không đối chọi với ta chứ?”
Trương Đan Phong nói: “Nếu Thái sư không tấn công Trung Quốc, tôi làm sao đối chọi với ngài?”
Dã Tiên nói: “Còn cha của ngươi thì sao?”
Trương Đan Phong nói: “Tôi sẽ cố gắng khuyên người về nước để hưởng tuổi già”.
Dã Tiên nói: “Ngươi không sợ bị thiên tữ triều Minh giết hại hay sao?”
Trương Đan Phong nói: “Về điều này không cần Thái sư lo lắng”.
Dã Tiên gãi đầu suy nghĩ, lời của Trương Đan Phong quả nhiên rất có lý, nếu mình muốn thống nhất Ngõa Thích thì không nên đối địch với triều Minh. Rồi lại nghĩ rằng: “Cha con Trương Tôn Châu hùng tài đại lược, ở lại Ngõa Thích, lại không thể giúp sức cho mình, cũng chỉ có thể làm mồi lo cho mình mà thôi. Chi bằng cứ để họ trở về nước thì an tâm hơn. Ngày sau thống nhất Ngõa Thích, binh giỏi lương đủ, lúc đó có thể xé hòa ước, tấn công Trung Hoa, cần gì phải sợ Trương Đan Phong. Nhưng có điều chuyện hôn nhân của con gái mình không được như ý”.
Trương Đan Phong nói: “Đại trượng phu có thể quyết ngay trong một lời, Thái sư còn lo lắng gì nữa?”
Dã Tiên nói với vẻ dứt khoát: “Được ta sẽ nghe lời ngươi. Chỉ là Dã Tiên này không phải là kẻ dễ bị bắt nạt, nếu triều Minh sai thích khách đến ám toán ta, ta sẽ hạ lệnh cho các tướng, nếu ta có điều gì bất trắc, bọn họ sẽ xua quân đánh xuống miền nam để đá ngọc cùng nát!”
Rõ ràng y lo sợ cho tính mạng của mình. Trương Đan Phong mỉm cười: “Người Trung Quốc rất giữ lời hứa. Nếu ngài thật lòng kết hòa với người Trung Quốc, Trung Quốc sao lại ám sát ngài!”
Dã Tiên nói: “Được, cứ chắc một lời như thế. Đợi sứ giả của triều Minh đến, ta sẽ nghị hòa với y. Còn chuyện A Thích phản loạn, ngươi có cao kiến gì?”
Trương Đan Phong nói: “Cha con chúng tôi đã quyết ý trở về nước, chúng tôi không nhúng tay chuyện Ngõa Thích các người nữa”.
Dã Tiên nói: “Được, chỉ mong các người đứng qua một bên, ta cũng không làm khó các người. Ngươi hãy về đi, ngày mai hãy bảo cha ngươi lên triều, trình tấu chương cáo lão”.
Trương Đan Phong thuyết phục được Dã Tiên, trong lòng vui sướng vô hạn, thế rồi cáo từ, vừa bước ra khỏi cửa thì chợt nhớ ra một chuyệnï, cho nên chần chừ chưa ra về. Dã Tiên nói: “Còn có chuyện gì nữa?”
Trương Đan Phong nói: “Mong Thái sư cho phép, tôi muốn gặp Thiên tử triều Minh”.
Dã Tiên suy nghĩ rồi nói: “Cũng được, ngươi hãy cho y biết ý tốt của ta”. Thế rồi gọi hai tên võ sĩ tiến vào, suy nghĩ một hồi rồi nói: “Ta sẽ đi cùng ngươi”.
Hai tên võ sĩ thấy Thái sư dắt Trương Đan Phong gặp Hoàng đế triều Minh thì rất ngạc nhiên.
Hoàng đế nhà Minh Chu Kỳ Trấn vốn bị nhốt trong tháp đá có phủ Thái sư. Tháp đá có ba tầng, mỗi tầng đều có võ sĩ canh giữ, bí mật vô cùng, nên vua Ngõa Thích cũng không biết.
Chu Kỳ Trấn bị nhốt trong tháp đá đã ba tháng, cực khổ trăm bề. Hôm nay ngồi trong tháp đá nghe gió bấc gào thét, nhạn phía bắc bay về miền nam, kêu ran cả bầu trời, bất giác không ngăn được nỗi buồn. Áo của y đã rách, miền bắc lạnh lẽ, Dã Tiên vẫn không đổi áo mới cho y, nhớ lại cuộc sống xa hoa ngày trước trong chốn lục cung, nên đau đớn lòng, chợt thấy cửa đá mở ra, Dã Tiên cùng Trương Đan Phong sánh vai bước vào. Chu Kỳ Trấn thất kinh, chỉ nghe Dã Tiên hỏi: “Ngươi có nhận ra y không?”
Chu Kỳ Trấn không đoán được vì sao Trương Đan Phong lại đến thăm mình, lo lắng không yên, chỉ ấp úng đáp. Dã Tiên nói: “Y là kẻ thù của ngươi, lại là ân nhân của ngươi, ngươi có biết không?”
Trương Đan Phong nói: “Mong Thái sư cho phép tôi gặp riêng ông ta một lát”.
Dã Tiên nói: “Được, quả thật ta không thể hiểu nổi người Trung Quốc các người! Năm xưa hai nhà các người tranh đoạt thiên hạ, nhưng nay lại có thể ngồi trò chuyện với nhau!”
Nói xong thì bước ra khỏi phòng.
Chu Kỳ Trấn lo lắng không yên, chỉ cảm thấy ánh mắt sắc bén của Trương Đan Phong cứ liếc qua đảo lại trên mặt mình, đột nhiên cười rằng: “Ông làm Hoàng đế đã quen, chưa bao giờ nếm nỗi đắng cay của đời người, chịu cực khổ một chút cũng không sao?”
Chu Kỳ Trấn cả giận nói: “Té ra trước đây ngươi chỉ là giả vờ tốt bụng! Ta biết mối thù của thứ dân dễ giải, mối thù của Thiên tử khó giải, nếu ngươi đã là thân tín của Dã Tiên, ta chỉ cầu mong ngươi cho ta chết nguyên vẹn, muốn giết cứ giết, Thiên tử không thể chịu nhục!”
Trương Đan Phong chẳng thèm để ý đến lời của y, lẩm bẩm như tự nói với mình: “Ông phải chụi khổ cực như thế này, chắc là sau này biết nên làm vua như thế nào! Sau này về cung, ông đừng quên những ngày khổ cực ở đây!”
Chu Kỳ Trấn sững người, đứng bật dậy: “Ngươi nói gì?”
Trương Đan Phong nói: “Vài tháng nữa ông có thể trở về Trung Quốc!”
Chu Kỳ Trấn hầu như không dám tin vào đôi tai của mình, rung giọng nói: “Thật vậy ư? Dã Tiên đã nói cho ngươi biết ư? Y chịu thả ta về nước?”
Trương Đan Phong nói: “Không phải Dã Tiên cho ông về nước, mà là Vu Khiêm sẽ đón ông trở về”.
Chu Kỳ Trấn chợt tiu nghỉu, tựa như đang trong căn phòng ấm áp đột nhiên rơi xuống hố băng, mặt lộ vẻ phẫn nộ và tuyệt vọng, chỉ Trương Đan Phong mắng: “Ta tuy bị cầm tù nhưng vẫn là Thiên tử, sao ngươi lại dám ba lần bốn lượt bỡn cợt ta?”
Trương Đan Phong cảm thấy rất buồn cười, lại rất đáng thương, nhìn Chu Kỳ Trấn nói: “Ông đừng mong kẻ địch tự nguyện thả ông về. Chỉ có người Trung Quốc muốn ông trở về, ông mới có tia hy vọng sống. Ông tưởng rằng chỉ có Dã Tiên mới nắm quyền sinh sát hay sao? Nói thật cho ông biết, số phận của ông nằm trong tay Vu Khiêm, Vu Khiêm bảo ông có thể trở về, ông sẽ trở về được!”
Trong khoảnh khắc, Chu Kỳ Trấn cảm nhận trong ánh mắt, thần thái và lời lẽ của Trương Đan Phong có chứa đựng sức mạnh khiến cho người ta phải nghe theo, Chu Kỳ Trấn chỉ lẩm bẩm: “Có nghĩa là sao?”
Trương Đan Phong nói: “Bởi vì dù tốt xấu ông cũng là vua của một nước, vả lại trong tay kẻ địch là nỗi nhục của Trung Quốc, cũng chính vì cớ này cho nên chúng tôi muốn ôngtrở về. Dã Tiên làm sao dám không thả ông về?” Thế rồi kể sơ lại tình hình Trung Quốc và Ngõa Thích, Chu Kỳ Trấn vừa lo vừa mừng, nói: “Nếu tôi có thể trở về ngồi lên ngai vàng, sẽ phong cho ngài làm quan lớn, ngài thích làm chức quan gì? Thống lĩnh Ngự lâm quân hay Đề đốc cửu môn, nếu không thì Binh bộ thượng thư, tôi đều có thể chấp nhận”.
Trương Đan Phong lạnh lùng nói: “Sau khi ông trở về, có làm Hoàng đế nữa hay không là chuyện hoàng tộc các người, điều đó tôi và Vu Khiêm không biết. Tôi cũng chẳng mong chức quan của ông!”
Chu Kỳ Trấn hơi thất vọng, lẩm bẩm nói: “Có thể trở về thì tốt, trở về thì tốt!” Rồi chợt như nhớ lại chuyện gì, đột nhiên tinh thần phấn chấn, nói: “Trăm quan văn võ trong triều đa số đều là người thân tín của tôi, Chu Kỳ Ngọc không cướp được ngai vàng của tôi, sau khi tôi trở về, y đương nhiên phải nhường ngôi lại cho tôi. Ngài làm quan cũng được, tôi có thể ban thưởng cho ngài”.
Trương Đan Phong bực bội vô cùng, lạnh lùng nói: “Tôi không cần thứ gì cả, chỉ cầu ông một chuyện”.
Chu Kỳ Trấn nói: “Chuyện gì tôi cũng chấp nhận cả”.
Trương Đan Phong nói: “Sau khi ông trở về, nếu làm Hoàng đế trở lại thì phải đối xử với Vu Khiêm thế nào?”
Chu Kỳ Trấn nói: “Điều này...”.
Trương Đan Phong nói: “Ông vừa bị bắt làm tù binh mà ông ta đã lập vua mới, chắc chắn ông rất hận ông ta?”
Chu Kỳ Trấn nói: “Không, không, sau khi tôi trở về sẽ lập tức thăng cho ông ta ba cấp”.
Lúc này Vu Khiêm đã là Nội các học sĩ, tức là tương đương với Thừa tướng, kiêm Binh bộ thượng thư, đã là quan nhất phẩm, không thể nào thăng cấp thêm nữa. Chu Kỳ Trấn cứ nói bừa, Trương Đan Phong vừa bực vừa buồn cười, nói: “Vu các lão không phải là hạng người tham phú quý, mong ông sau khi trở về hãy nương tay tha cho ông ta”.
Chu Kỳ Trấn vội vàng nói: “Đương nhiên, đương nhiên”.
Trương Đan Phong nghiêm giọng hỏi: “Có thật không?”
Chu Kỳ Trấn khựng người lại, lớn giọng nói: “Vua không nói chơi!”
Trương Đan Phong mỉm cười, đang định nói tiếp, chợt nghe bên ngoài có tiếng ăn mày hát bài “Hoa sen rơi”.
Trương Đan Phong ngạc nhiên, y nghe bên ngoài hát rằng: “Từng đóa hoa sen, Hoàng đế cũng làm ăn mày, Hoàng đế thay phiên nhau làm, ngày mai đến lượt ta. Ở đây có của quý, chúng ta vào xin thôi!”
Phía dưới có tiếng ồn, tựa như đuổi kẻ ăn mày ấy, chợt bên ngoài có tiếng bọn võ sĩ kêu: “Có thích khách!”
Một tên phóng vọt ra cửa sổ, chưa kịp nhảy lên mái thì đã bị người ta đánh rơi lại xuống đất.
Trương Đan Phong bất đồ thất kinh: Tên ăn mày này võ công thật cao cường! Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ nghe ầm một tiếng, cánh cửa sổ đã bị người ta đánh bật ra, tên ăn mày nhảy vào, tóm lấy Chu Kỳ Trấn. Chu Kỳ Trấn kêu lên ối chao một tiếng, Trương Đan Phong không kịp rút kiếm chỉ xỉa ngón tay tới, người ấy đột nhiên kêu lên: “Té ra là Trương Đan Phong nhà ngươi!”
Thế rồi lách, mau chóng tung ra một cước đá vào chân Chu Kỳ Trấn!
Trương Đan Phong nói: “Ồ, té ra Tất lão tiền bối!”
Tất Đạo Phàm tung ra một cước rất mạnh, Trương Đan Phong chỉ đành giở Đại Lực Kim Cương thủ pháp đẩy nhẹ vào bàn chân của ông, Tất Đạo Phàm té bật ra, lưng ngã vào tường, thở phì phì kêu lên: “Trương Đan Phong, ngươi tránh qua một bên!”
Trương Đan Phong nói: “Tất tiền bối hãy dừng tay!”
Tất Đạo Phàm quát hỏi: “Ngươi sao thế? Chả lẽ ngươi cũng là chó giữ nhà cho Dã Tiên?” Thế rồi vung cây gậy bổ xuống, Trương Đan Phong chỉ đành rút thanh kiếm trở tay vung ra. Chỉ thấy ánh lửa tóe lên, hai đều cảm thấy cổ tay tê rần. Trương Đan Phong nói: “Tất lão tiền bối, trước tiên hãy thoát ra khỏi nơi này, tại hạ sẽ lãnh giáo sau”.
Tất Đạo Phàm liên tục giáng xuống ba gậy, vung tay tóm lấy Chu Kỳ Trấn.
Phía dưới tiếng người ồn ào, Dã Tiên đứng bên ngoài quát lớn, chỉ thấy ở cửa có hai võ sĩ cầm đao xông vào, Tất Đạo Phàm quét mạnh cây gậy sang hai bên, đơn đao trong tay hai võ sĩ ấy đều bị đánh rơi. Tất Đạo Phàm trợn mắt quát: “Ai cản ta sẽ chết!”
Tất Đạo Phàm thần oai lẫm lẫm khiến cho hai võ sĩ bất đồ thối lui. Chỉ nghe tiếng chan chát và tiếng bước chân vang lên, tựa như có người từ phía dưới đánh thẳng lên. Tất Đạo Phàm mặt đầy sát khí, cứ đuổi theo Chu Kỳ Trấn. Trương Đan Phong quát: “Tất tiền bối bắt y làm gì?”
Tất Đạo Phàm quát: “Ngươi đã quên mối thù đời trước rồi ư? Kẻ này không xứng làm Hoàng đế, ngươi bảo vệ cho y làm gì? Chúng ta sẽ cướp y trở về Trung Quốc rồi dựng cờ khởi nghĩa”.
Trương Đan Phong ngẩn người ra, té ra Tất Đạo Phàm có lòng muốn đoạt thiên hạ. Đang định lên tiếng thì bên ngoài một tiếng ầm vang lên, cánh cửa của tầng thứ ba bị người ta đánh bật ra, một người quát lên ồm ồm: “Hay lắm, ngươi cũng ở đây, trước tiên hãy nếm ba trăm trượng của Phật gia!”
Té ra đó là Triều Âm hòa thượng. Trương Đan Phong liếc mắt nhìn, chỉ thấy Dã Tiên đang chỉ huy bọn vệ sĩ chặn lại.
Trương Đan Phong cả kinh, nhủ thầm: “Nhị sư bá thô lỗ, để ông ta đánh chết Dã Tiên thì hỏng bét! Con trai Dã Tiên và các bộ tướng nắm trong tay mấy mươi vạn đại quân, nếu vì thế mà hai nước xảy ra chiến tranh thì e rằng máu chảy không chỉ ngàn dặm”.
Đang định xông ra thì chợt bị Tất Đạo Phàm vung cây gậy giáng long chặn lại. Trương Đan Phong từ sau khi tập Huyền công yếu quyết thì võ công cao hơn Tất Đạo Phàm một bậc, nhưng trong lúc gấp gáp không xông ra được, huống chi chàng lại không muốn đả thương ông ta. Trương Đan Phong lo lắng, chợt kêu lên: “Chấn Tam Giới, ông có tín nghĩa giang hồ hay không?”
Tất Đạo Phàm ngạc nhiên, hỏi: “Cái gì?”
Trương Đan Phong nói: “Đâu đến lượt ông cướp thiên hạ!”
Khi Trương Đan Phong mới vào Trung Nguyên, đã đem theo một tín vật của tổ tiên, đó là tấm tàng bảo đồ ở Tô Châu, chàng đến nhà Tất Đạo Phàm, hai bên đã tỉ thí một trận, Tất Đạo Phàm thua một chiêu, bảo rằng sau này sẽ nhường cho Trương Đan Phong nói chuyện thiên hạ, ý muốn bảo nếu Trương Đan Phong muốn tranh đoạt thiên hạ thì ông ta có thể giúp đỡ. Lúc này Trương Đan Phong nói ra, Tất Đạo Phàm tuy không cam lòng, nhưng cũng dần dần ngừng lại, chợt thở dài nói: “Được, ta nhường cho ngươi!”
Thế rồi xoay người phóng vọt ra cửa sổ.
Chu Kỳ Trấn mặt không còn sắc máu, nấp ở góc phòng thở hổn hển, Trương Đan Phong không thèm để ý đến y, vội vàng nhảy vọt ra. Chỉ thấy Triều Âm hòa thượng múa tít cây thiền trượng kêu lên vù vù, Ngạch Cát Đa và hai võ sĩ khác đang đối phó với ông ta. Ngạch Cát Đa có võ công không kém, nhưng chẳng thể nào chống nổi Triều Âm hòa thượng.
Dã Tiên thấy Trương Đan Phong vọt ra, cười lạnh nói: “Hừ, người Hán các người không giữ chữ tín”.
Trương Đan Phong chẳng nói một lời, đột nhiên nhảy vọt tới trước, chụp lấy cây thiền trượng của Triều Âm hòa thượng, Triều Âm cả giận quát: “Thầy trò các ngươi đều chẳng phải người tốt!”
Rồi ông ta đẩy cây thiền trượng về phía trước, Trương Đan Phong đột nhiên thu chưởng né tránh. Lúc này Ngạch Cát Đa đã thừa thế nhảy ra khỏi vòng chiến, hai võ sĩ kia cũng thối lui xem Trương Đan Phong sẽ đối phó với Triều Âm như thế nào.
Triều Âm lại quát lên: “Đan Phong, ngươi dám phạm thượng, nếu ngươi cản nữa, đừng trách ta đánh chết ngươi!”
Trương Đan Phong nói: “Dù sư bá có đánh chết con, con cũng phải cản người!”
Triều Âm hòa thượng vung cây gậy quét ra ngang eo, Trương Đan Phong không dám dùng tay chống đỡ, chỉ đành rút kiếm chặn lại, thế là sư bá và sư điệt lao vào nhau. Triều Âm hòa thượng đánh liên tục mười mấy trượng mà Trương Đan Phong vẫn không hề thối lui, kiếm chiêu di chuyển theo trượng thế, cây thiền trượng của Triều Âm hòa thượng đánh về phía nào đều bị chàng chặn lại!
Triều Âm hòa thượng quét ngang cây trượng tới, lớn giọng quát: “Đan Phong, trong mắt ngươi có còn bậc trưởng bối hay không?” Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Mong sư bá thứ tội, xin sư bá hãy thối lui trước, sau này con sẽ tạ tội với sư bá”.
Chàng vừa nói ra, bọn võ sĩ đều ngạc nhiên: “Ồ, té ra họ là sư bá và sư điệt!”
“Ha ha, thật là hay, sư bá té ra không đánh lại sư điệt!”
“Không đánh lại ỷ già hiếp người, thật vô liêm sỉ!”
Tiếng bàn tán vang lên, Triều Âm hòa thượng giận đến nỗi mặt đỏ ửng, đột nhiên quát lớn: “Tiểu súc sinh, sau này ta sẽ tính nợ với ngươi”. Thế rồi giật cây thiền trượng phóng ra khỏi tháp, bọn võ sĩ chặn lại đều bị ông ta đánh tơi tả.
Trương Đan Phong nhảy ra khỏi cửa sổ, chỉ thấy Tất Đạo Phàm đã dắt ba tên ăn mày phóng ra khỏi vòng vây, thân thủ của ba tên ăn mày này cũng không tệ, bên dưới tuy có mấy mươi võ sĩ nhưng không cản nổi. Triều Âm hòa thượng phóng ra, năm người gặp nhau thì chạy về phía trước.
Trương Đan Phong nghĩ bụng: “Bọn nă mày này cũng có bản lĩnh lắm, không hiểu tại sao bọn họ lại biết Hoàng đế bị nhốt ở đây”.
Dã Tiên cũng đứng ở cửa sổ nhìn ra, lúc này mới thở phào quay mặt nhìn lại, chỉ nghe Trương Đan Phong nói: “Mong Thái sư thứ tôi, sư bá tưởng rằng tôi bị nhốt ở đây cho nên mới hiểu lầm như thế, tôi sẽ tìm ông ta giải thích. Tôi đảm bảo từ rày về sau không ai dám quấy nhiễu ngài nữa”.
Dã Tiên đã tận mắt thấy chàng tòan lực chống lại sư bá, giải mối nguy cho mình, cho nên có thiện cảm với chàng, cười rằng: “Thôi được, chúng ta cứ làm như đã bàn sáng nay. Ngươi cũng không cần lo lắng nữa!”
Trương Đan Phong đáp tạ, Dã Tiên nói: “Hãy vào xem thử Hoàng đế của các người!”
Trương Đan Phong cùg Dã Tiên sánh vai bước vào. Chỉ thấy Chu Kỳ Trấn mặt tái nhợt, tựa vào tường rung rẩy, Dã Tiên mỉm cười, nghĩ bụng: “Để cho y làm Hoàng đế trở lại, cũng sẽ có lợi cho mình”. Thế rồi mới nói: “Đã làm ông hoảng sợ, rắn hết thì cọp tới, chờ sứ giả của các người tới, ông sẽ trở về hưởng phúc. Lúc đó đừng quên tôi là được”.
Chu Kỳ Trấn đang định đáp tạ, chợt thấy Trương Đan Phong nháy mắt với y, nhớ lại rằng mình là vua của một nước, Dã Tiên chẳng qua là Thái sư của Ngõa Thích, nếu tạ ơn lão ta thì chắc chắn sẽ nhục quốc thể. Thế rồi mới ưỡn ngực nói: “Đương nhiên ta sẽ nhớ!”
Trương Đan Phong nói: “Thái sư, tôi cầu xin ngài một chuyện”.
Dã Tiên nói: “Cứ nói”.
Trương Đan Phong cởi chiếc áo khoác lông cáo trên mình xuống rồi nío: “Xin Thái sư cho phép tôi tặng tấm áo này cho ông ta”.
Dã Tiên ngạc nhiên, nói: “Ồ, ta bận rộn việc nước, bọn hạ nhân lại sơ suất không may áo mới cho Hoàng đế các người!”
Rồi y lập tức sai người gọi thợ may đến đo cho Chu Kỳ Trấn, rồi căn dặn nhà bếp cứ mỗi bữa làm thêm một phần giống như mình đem đến cho Chu Kỳ Trấn.
Trương Đan Phong vẫn cởi tấm áo xuống, đi ở phía sau Dã Tiên, khi xoay người lại bước ra, chàng thấy trong mắt Chu Kỳ Trấn có đôi dòng lệ. Trương Đan Phong nghĩ thầm: “Chắc y cũng cảm động. Mong y có thể nhớ đến chuyện hôm nay, khi quay về không làm khó Vu Khiêm”.
Trương Đan Phong sợ Thoát Bất Hoa giữ lại cho nên đi ra khỏi tháp đá thì vội vàng cáo từ, trước tiên đến khách sạn tìm Vân Lối nhưng không ngờ Vân Lối đã bỏ đi, chỉ để lại một bức thư.
Đó chính là:
Vừa rời hang hổ đầm rồng, liễu sáng hoa tối lại một thôn.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 26
Chuyện xưa còn vấn vương đau lòng nhi nữ
Trước cửa dứt tình khiến công tử bi thương
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:25 pm

Hồi 26
Chuyện xưa còn vấn vương đau lòng nhi nữ
Trước cửa dứt tình khiến công tử bi thương


Vân Lối chỉ để lại mấy dòng, bảo chàng sau khi sắp xếp xong mọi chuyện thì đến núi Bích La ở bên ngoài Đông môn. Núi Bích La là một nơi nổi tiếng, nằm sát kinh thành Ngõa Thích, trên núi cũng có người ở. Trương Đan Phong sau khi xem thư thì thầm ngạc nhiên: Vân Lối chưa bao giờ đến kinh thành Ngõa Thích, sao lại biết đường đến núi Bích La?
Rồi lại nghĩ rằng nàng vội vàng đến núi Bích La chắc là tránh tai mắt của Dã Tiên. Trương Đan Phong chỉ đành quay về nhà. quả nhiên Dã Tiên đã rút bọn vệ sĩ canh gác, Đàm Đài Diệt Minh ra mở cửa cho chàng, hai người gặp nhau thì mừng rỡ. Đàm Đài Diệt Minh nói: “Mấy ngày trước chúng tôi bị nhốt ở trong phủ thật buồn bực, tôi định đánh ra ngoài nhưng chúa công kiên quyết không chịu”.
Trương Đan Phong cười nói: “Không nên đánh. Cha tôi đâu?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Chúa công mấy ngày nay lòng đầy tâm sự, công tử quay trở về thật đúng lúc. Người đang ở trong thư phòng”.
Trương Đan Phong nhẹ nhàng bước vào trong thư phòng, chỉ thấy cha đang ngồi cúi đầu suy nghĩ. Trương Đan Phong kêu lên một tiếng cha, Trương Tôn Châu nói: “Ồ, con đã quay về, ta còn tưởng rằng suốt đời này khó gặp lại con!”
Trương Đan Phong nói: “Con bất hiếu quay về nhận tội”.
Trương Tôn Châu nói: “Ta nghe Đàm Đài tướng quân bảo con đã đến Tô Châu!”
Trương Đan Phong nói: “Con về đây chính là chịu tội này, con đã tìm ra bản đồ bảo tàng và tấm địa đồ ấy, nhưng đã tặng cho Vu Khiêm, để ông ta giúp Thiên tử họ Chu đánh lui Ngõa Thích”.
Trương Tôn Châu nói: “Đàm Đài tướng quân đã cho ta hay, con đã lập công cho Trung Quốc, nhưng nhà họ Trương chúng ta mãi mãi không có cơ hội giành thiên hạ nữa”.
Trương Đan Phong buồn bã không nói, đang định khuyên nhủ thì Trương Tôn Châu lại thở dài: “Sống không muốn làm rường cột của nước nhà, chết cũng không muốn làm diêm la, diêm la điểm quỷ tâm thường nhẫn, rường cột của nước nhà thì càng nhiều việc hơn. Ta trải qua biến cố lần này, hùng tâm tráng chí đã nhụt. Đã không muốn làm Tể tướng nữa, làm Hoàng đế càng phiền phức hơn, con không muốn làm vua khai quốc, ta cũng không muốn chết già ở nước người. Ta không trách con đã làm chuyện này”.
Trương Đan Phong khuyên rằng: “Cha, lá rụng về cội, con mong cha trở về cố thổ”.
Trương Tôn Châu lại thở dài xua tay nói: “Con đi đường đã vất vả, trước tiên hãy nghỉ ngơi, đêm nay chúng ta sẽ nói tiếp”.
Sau bữa cơm tới, Trương Đan Phong cùng cha dạo bước trong vườn, dưới ánh trăng bóng hoa vẫn chập chờn, hồ nước vẫn lăn tăn gợn sóng, cảnh vẫn như ngày trước.
Hai cha con đứng dựa lan can một lúc lâu không nói gì. Đối phương ngắt một đóa hoa mai, nói: “Hoa mai này đẹp hơn năm trước”.
Trương Tôn Châu nói: “Vậy ư? Con đã đến cố cung ở Tô Châu, khung cảnh ở đó như thế nào?”
Trương Đan Phong nói: “Nơi đó đã trở thành nhà của một tên ác bá trong vùng, những bức thiếp trên tường đã mờ nhạt”.
Trương Tôn Châu thở dài không thôi. Trương Đan Phong nói: “Cha đừng lo lắng, con đã giành được nơi đó”.
Trương Tôn Châu nói: “Sao?”
Trương Đan Phong kể lại một lượt chuyện mình đánh bạc ở Khoái Hoạt lâm như thế nào, Trương Tôn Châu tuy đang buồn bực nhưng cũng cười ha hả. Trương Đan Phong nói: “Con bất hiếu nhưng cũng mong đón cha trở về để cho cha an hưởng tuổi già ở nơi đó”.
Trương Tôn Châu càng thở dài, mặt lộ vẻ buồn bã.
Trương Đan Phong nói: “Cha hãy nhân cơ hội này rút lui ra khỏi những chuyện thị phi”.
Thế rồi kể lại cuộc trò chuyện sáng nay với Dã Tiên, rồi bảo: “Con đã tự tiện thay cha hứa với Dã Tiên, ngày mai sẽ lên triều trình tấu chương cáo lão, không làm Thừa tướng của nước Ngõa Thích nữa!”
Trương Tôn Châu nói: “Điều đó rất hợp ý ta, làm Thừa tướng hai mươi mấy năm nay ta cũng đã rất mệt mỏi. Năm nay vốn chẳng còn lòng dạ nào nữa”.
Trương Đan Phong nói: “Cha, chúng ta hãy trở về Trung Quốc thì tốt hơn”.
“Đúng thế, đây là lúc chúng ta phải quay về”.
Trương Đan Phong mừng rỡ nói: “Vậy sáng mai cha hãy dâng tấu chương cáo lão, chúng ta đợi sứ thần triều Minh đến, sau khi hai nước nghị hòa thì sẽ cùng trở về nước”.
Trương Tôn Châu lắc đầu, chợt trầm giọng đáp: “Ta bảo quay về, nhưng không phải quay về Trung Quốc”.
Trương Đan Phong ngạc nhiên, nói: “Sao?”
Trương Tôn Châu nói: “Tiệc tàn khách khứa ra đi, phú quý phồn hoa chẳng qua chỉ là một giấc mộng. Ta đã ở cõi trần thế sáu mươi năm, cũng nên quay về thôi”. Giọng nói của ông ta thê lương vô cùng, té ra ông ta nói quay về ở đây có nghĩa là quay về Tây phương cực lạc. Trương Đan Phong run giọng nói: “Cha tuy già nhưng vẫn còn khỏe mạnh, cách ngày trăm năm hãy còn xa, tại sao lại nói những lời không may như thế?”
Trương Tôn Châu buồn bã cười: “Trên đời nào có bữa tiệc không tàn”.
Trương Đan Phong vội vàng nói: “Miền Giang Nam sông nước hữu tình, là nơi an dưỡng tuổi già”.
Trương Tôn Châu nói: “Ta còn mặt mũi nào quay trở lại Giang Nam? Năm xưa Sở bá vương không chịu qua Ô Giang, là bởi vì ông ta không muốn gặp lại phụ lão Giang Đông!”
Tâm trạng đau khổ mâu thuẫn chứa đựng trong lời nói, Trương Đan Phong đang định khuyên nhủ, Trương Tôn Châu đã xua tay: “Ý ta đã quyết, con không cần nhiều lời, ta sẽ từ chức Thừa tướng, nhưng cũng không muốn trở về mảnh đất của tổ tiên nữa”.
Trương Đan Phong nói: “Vậy cha phải chăng đã cho rằng con lần này về Trung Quốc là đã sai?”
Trương Tôn Châu ngẩng đầu nhìn trời, tiếng sáo văng vẳng vọng tới, một lát sau mới nói: “Nếu ta trẻ lại bốn mươi năm, ta sẽ làm như con. Giờ đây ta biết muốn mượn thế lực của Ngõa Thích khôi phục lại Đại Châu của chúng ta là điều sai lầm”.
Trương Đan Phong vừa vui vừa buồn, xúc động kêu lên: “Cha...”.
Trương Tôn Châu cắt lời chàng: “Đừng nói nữa. Hỡi ơi, song ta phải nhắc nhở con, Dã Tiên rất xảo quyệt, con phải đề phòng y. Ta mong sứ thần Minh triều đến cho sớm. Ta dù chết ở Ngõa Thích cũng không thể nào quên được Trung Quốc. Nghe con nói, Vu Khiêm là hiền thần trăm năm khó gặp, mong Trung Quốc từ nay vững bền, nếu ta gặp được sứ thần doy phái đến cũng tốt”.
Trong khoảnh khắc, Trương Đan Phong cảm thấy khoảng cách giữa mình với cha tựa như gần tựa như xa, chàng không thể hiểu được cha mình đang nghĩ gì, đang trầm tư thì chợt thấy có bóng người xẹt tới, chợt nghe tiếng Đàm Đài Diệt Minh quát: “Kẻ nào lớn gan nửa đêm dám đột nhập tướng phủ?” rồi y đánh vù ra một chưởng, chỉ nghe rắc một tiếng, một cành cây đã bị chặt gãy, một người từ trong bụi hoa nhảy ra, Đàm Đài Diệt Minh thối lui mấy bước mới đứng vững. Trương Đan Phong cả kinh: “Kẻ nào mà có công lực như thế này?” Chỉ nghe người ấy cười ha hả rồi nói: “Đan Phong, con đã trở lại rồi ư?” Trương Đan Phong định thần nhìn lại, thì ra đó là đại sư bá Đổng Nhạc của chàng, chàng vui mừng vô cùng, lập tức giới thiệu cho cha biết rồi cùng ông ta trở vào khách sảnh.
Hai bên phân vôi chủ khách ngồi xuống, Đổng Nhạc nhấp một ngụm trà rồi cười ha hả nói: “Đàm Đài tướng quân, công phu Thiết Tỳ Bà của ông đã tiến bộ hơn ngày trước”.
Đàm Đài Diệt Minh cũng cười rằng: “Tôi cũng khó chống đỡ Đại Lực Kim Cương thủ của ông”.
Trương Tôn Châu nói: “Lần này tiểu nhi được Đổng đại hiệp chiếu cố, lão phu cảm kích không nguôi”.
Đổng Nhạc nói: “Sư đệ của tôi ở Ngõa Thích mười năm, được ngài chiếu cố tôi càng cảm kích hơn!” Rồi cười nói: “Đêm nay tôi mới biết lòng của Thừa tướng, tệ sư đệ quả nhiên nói không sai, may mà tôi không lỗ mãng hành sự”.
Trương Đan Phong giật mình thầm nhủ: “May mà người chịu nghe cha mình nói chuyện, nếu là nhị sư bá chỉ e đã phải động thủ”.
Trương Đan Phong nói: “Sư bá có gặp sư phụ của con chưa?”
Đổng Nhạc nói: “Đã gặp”.
Trương Tôn Châu nói: “Tạ tiên sinh ra đi đã lâu, tôi không hề biết chuyện này, cho nên rất lo lắng trong lòng. Ông ta đã trở về kinh thành sao không đến cùng tiên sinh?”
Đổng Nhạc nhấp ngụm trà, im lặng không nói. Đàm Đài Diệt Minh nói: “Dã Tiên tuy đã rút vệ sĩ về, nhưng cũng không đảm bảo y sẽ không phái người đến theo dõi. Để tôi đi tuần tra thử”. Nói xong thì bước đi.
Trương Đan Phong nói: “Đàm Đài tướng quân đã lo xa, y sợ chúng ta không muốn nói trước mặt y”.
Đổng Nhạc nói: “Đúng thế, ta muốn nói chuyện sư phụ của con”.
Sư phụ của Đàm Đài Diệt Minh là đối thủ của Huyền Cơ Dật Sĩ. Trương Đan Phong ngạc nhiên nói: “Sao, Thượng Quan lão ma chẳng phải đã sớm mai danh ẩn tích, chả lẽ lão lại xuất hiện?”
Đổng Nhạc nói: “Lão không hề xuống núi, nhưng chúng ta phải lên núi gặp lão”.
Trương Đan Phong nói: “Sao?”
Đổng Nhạc nói: “Lão ma đầu này biết mấy sư huynh đệ chúng tôi đều ở Ngõa Thích cho nên phái người thông báo, bảo chúng tôi lên núi gặp lão”.
Trương Đan Phong nói: “Để làm gì?”
Đổng Nhạc nói: “Ta cũng không biết. Chắc là muốn thăm dò võ công của bọn ta. Lão là tiền bối, nếu lão có lệnh bọn ta không thể không nghe”.
Trương Đan Phong trầm ngâm rồi nói: “Đàm Đài tướng quân có biết chuyện này không?”
Đổng Nhạc sầm mặt, nói: “Nếu y không nói, con đừng nhắc”.
Theo quy củ võ lâm, bậc tôn trưởng của hai phái nếu có tương tranh, đệ tử trong môn phái dù qua lại với nhau cũng phải kiêng dè. Trương Đan Phong không hề xem trọng những quy củ này, nhưng thấy sư bá nói trịnh trọng như thế thì cũng không dám nói nhiều.
Đổng Nhạc nói: “Ta đã quay về báo với sư tổ của con, nhưng người bảo bọn ta cứ đến Ngõa Thích trước. Không biết người có đến hay không!”
Trương Đan Phong nói: “Con đã nghe sư phụ nói, sư tổ sáng tạo ra hai bộ kiếm pháp song kiếm hợp bích là chuẩn bị đối phó với lão ma đầu này, chắc là người không muốn đích thân ra tay nữa”.
Đổng Nhạc nói: “Ta vẫn chưa thấy uy lực của song kiếm hợp bích, tam sư đệ và tứ sư muội tuy thông minh hơn người, giỏi hơn ta rất nhiều, nhưng vẫn còn kém xa lão ma đầu ấy”.
Trương Đan Phong biết uy lực của song kiếm hợp bích, cho nên chàng không tin lời Đổng Nhạc, nhưng cũng không muốn khen ngợi kiếm pháp sư phụ của mình trước mặt sư bá cho nên không lên tiếng. Đổng Nhạc chợt nói: “Đan Phong, bằng hữu của con đâu?”
Ý Đổng Nhạc muốn nói đến Vân Lối. Trương Đan Phong giật mình, chàng vẫn chưa kể chuyện này với cha, thế rồi mới nháy mắt, nhưng Đổng Nhạc tựa như không hiểu, vẫn nói: “Con không nhớ hắn ư?”
Trương Tôn Châu nói: “Phong nhi, nếu con có bằng hữu cùng đến, vậy hãy mời y đến gặp ta”.
Trương Đan Phong nói: “Y có chuyện đã đi trước”.
Đổng Nhạc nói: “Có phải hắn đến núi Đường Cổ Lạp tìm mẹ hay không?”
Trương Đan Phong lại giật mình: “Té ra Đổng Nhạc đã gặp Vân Lối, nếu không ông ta sẽ không biết chuyện này”. Thế rồi mới lộ vẻ mừng rỡ, chàng đoán được Vân Lối sở dĩ đến núi Bích La là nhờ Đổng Nhạc sắp xếp Trương Tôn Châu lộ vẻ nghi ngờ, hỏi: “Bằng hữu gì thế?”
Trương Đan Phong nói: “Đó là một người tri kỷ”.
Trương Tôn Châu nói: “Đã như thế, sau này con phải mời y đến nhà chúng ta mới được”.
Trương Đan Phong vâng một tiếng, nhớ Vân Lối thề rằng không bao giờ gặp cha mình, trong lòng chua xót vô hạn.
Đổng Nhạc nói: “Thượng Quan lão ma đang ở một ngọn núi phía bắc của núi Đường Cổ Lạp, từ thung lũng của người Ngạc La đi về phía bắc khoảng ba ngày. Nhị sư đệ đã đến đấy trước”.
Trương Đan Phong hỏi: “Thượng Quang Thiên Dã kêu mọi người chừng nào lên núi?”
Đổng Nhạc nói: “Vẫn chưa rõ, nhưng phải trước ngày Thanh minh. Ta bảo sư phụ của con đi trước hẹn với một bằng hữu võ lâm, khi cần thì ông ta sẽ bước ra giảng hòa. Nhị sư bá của con đâu? Nghe nói hắn cũng đến, nhưng sư phụ của con và ta vẫn chưa gặp hắn”.
Trương Đan Phong nói: “Nhị sư bá đi cùng với Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm”.
Thế rồi kể chuyện đêm qua. Đổng Nhạc cười rằng: “Tính khí của Triều Âm vẫn như trước. Thôi được, ta sẽ ở lại vài ngày, tìm hắn rồi tính tiếp”.
Trương Đan Phong chợt nói: “Vậy ngày mai con sẽ đi trước”.
Trương Tôn Châu ngạc nhiên nói: “Phong nhi, con vừa trở về sao lại đi?”
Trương Đan Phong nói: “Sư phụ con gặp nguy hiểm, con sao có thể ngồi nhìn được?”
Trương Tôn Châu nghĩ con trai của mình là do một tay Tạ Thiên Hoa nuôi dạy thành tài, Trương Đan Phong nói chẳng sai chút nào, thế rồi tuy buồn bã nhưng không ngăn cản. Chỉ hỏi: “Con Chiếu dạ sư tử mã của con đâu?”
Trương Đan Phong nói: “Người bằng hữu của con đã dắt nó đi trước”.
Trương Tôn Châu kêu ừ một tiếng, nghĩ bụng: “Mối giao tình giữa nó và người bằng hữu này không tầm thường”. Rồi càng muốn biết người đó là ai.
Sáng sớm hôm sau Đổng Nhạc và Trương Đan Phong cáo từ Trương Tôn Châu, Trương Tôn Châu nói: “Ta sẽ đưa hai người ra”.
Thế rồi dắt tay con chậm rãi bước đi, Đổng Nhạc cùng Đàm Đài Diệt Minh ra cửa đứng chờ. Trương Đan Phong nói: “Cha, cha hãy quay vào, cha còn phải lên triều sớm nữa”.
Trương Tôn Châu nói: “Đêm qua ta đã viết tấu chương, không cần lo. Giờ đây ta đã nhẹ nhõm cả người, chỉ mong con có thể quay về”.
Trương Đan Phong nói: “Cha đừng lo lắng, con và sư phụ sẽ trở về”.
Trương Tôn Châu nói: “Chỉ e con trở về rồi lại ra đi. Khi con trở về, có lẽ sứ thần nhà Minh sẽ đến”.
Trương Đan Phong nói: “Tại sao cha không quay về cùng chúng con?”
Trương Tôn Châu nói: “Đêm qua cha đã nói, giờ đây cha không muốn nhắc lại nữa”.
Trương Đan Phong chợt nói: “Cha có còn nhớ sứ thần Vân Tĩnh của nhà Minh ngày trước hay không?”
Trương Tôn Châu sững người ra, Trương Đan Phong cảm thấy bàn tay ông ta đổ mồ hôi, hơi rung rung. Một lát sau, Trương Tôn Châu thở dài, nói: “Ôi, đã ba mươi năm, chuyện ba mươi năm trước vẫn còn hiện rành rành trước mắt, lần đầu tiên trong đời ta mới thấy một người cứng cỏi như Vân Tĩnh, làm sao ta không nhớ cho được? Tính ra y đã về nước mười năm”.
Trương Đan Phong nói: “Ông ta vừa mới bước vào Nhạn Môn quan thì bị Vương Chấn giả truyền thánh chỉ hại chết ông ta”.
Trương Tôn Châu nói: “Ta cũng nghe nói chuyện này, đó là lỗi lầm của ta. Nghĩ lại lúc đó ta tuổi trẻ nóng nảy, căm giận Thiên tử triều Minh, căm hận luôn những kẻ trung thành với họ, đến nỗi khiến cho Vân Tĩnh phải chăn ngựa hai mươi năm ở nơi tuyết phủ. Hai mươi năm qua ông ta cực khổ trăm bề nhưng vẫn giữ tấm lòng son đối với Thiên tử họ Chu, ông ta tuy đối đầu với ta, nhưng ta rất khâm phục. Mấy năm gần đây khi nghĩ đến chuyện này, ta thường cảm thấy áy náy, đó là lỗi lầm duy nhất trong đời của ta. Ta hy vọng sứ thần triều Minh cũng là một người cứng cỏi như Vân Tĩnh”.
Trương Đan Phong chợt nói: “Nghe nói Vân Tĩnh còn để lại hai người cháu, một nam một nữ, tuổi cũng tương đương với con”.
Trương Tôn Châu nói: “Thế ư, mong có thể gặp lại họ”.
Trương Đan Phong nói: “Nếu họ có việc nhờ đến cha, cha có chấp nhận giúp đỡ không?”
Trương Tôn Châu nói: “Đương nhiên”. Rồi chợt thở dài: “Nếu họ lớn lên, chắc chắn sẽ biết chuyện năm xưa của cha mình, họ nhất định sẽ coi ta là kẻ thù, sao có thể nhờ vả ta?”
Trương Đan Phong nghe cha mình nói những lời từ gan ruột, trong lòng cảm thấy an ủi, chỉ nghe ông ta tiếp tục nói: “Sao con lại biết tung tích của hai đứa trẻ này?”
Trương Đan Phong vốn định kể chuyện giữa mình với Vân Lối, nhưng chợt nghĩ lại thì chỉ bảo: “Nghe nói họ theo học thầy giỏi, có võ nghệ cao cường, cháu trai của Vân Tĩnh hình như làm quan trong triều Minh, bạn bè trên giang hồ đã nói thế.
Trương Tôn Châu mừng rỡ bảo: “Như thế thì ta yên tâm. mong rằng sứ giả của triều Minh là cháu trai của Vân Tĩnh”.
Hai người đang nói thì đã ra đến cửa. Trương Đan Phong nói: “Cha hãy bảo trọng”. Thế rồi cùng Đổng Nhạc ra khỏi cửa, chỉ thấy Trương Tôn Châu đứng tựa cửa nhìn theo mà nước mắt rưng rưng.
Đổng Nhạc nói: “Thiên Hoa sư đệ quả thật suy tính sâu xa, lúc này ta mới biết tại sao hắn lại ở nhà họ Trương mười năm. Cha con chịu âm thầm giúp đỡ Trung Quốc, xem ra cũng là nhờ hắn”.
Trương Đan Phong nói: “Sư bá, chúng ta đi đâu?”
Con nói: “Đương nhiên đến núi Bích La, tiểu huynh đệ của con đang nhớ con lắm”.
Trương Đan Phong nói: “Té ra là người đã bảo nàng lên núi”.
Đổng Nhạc nói: “Ta có một người bạn trên núi Bích La, Vân Lối ở trong khách sạn thật không ổn, bởi vậy ta mới bảo hắn đến nhà người bạn ấy”.
Hai người đi rất nhanh, trong chốc lát đã lên đến núi Bích La. Ngày đông rét buốt, trên núi toàn là lá vàng, nhưng Trương Đan Phong lại cảm thấy mình đầy sức sống, nhìn cảnh tiêu điều mà như cảnh mùa xuân. Đi được nửa đường, chỉ thấy trên sườn núi có một ngôi nhà, có thiếu nữ đứng tựa cửa, ấy chính là Vân Lối. Trương Đan Phong kêu lên: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ, ta đã quay về!”
Vân Lối hờ hững đáp lời, vẻ mặt rất lạnh lẽo. Đổng Nhạc nhìn họ, lắc đầu nói: “Các người quả thật là một cặp oan gia”.
Trương Đan Phong nói: “Cha con rất hối hận khi nhắc đến chuyện năm xưa”. Chàng định cho Vân Lối biết Trương Tôn Châu mong gặp họ như thế nào, Vân Lối thì lạnh lùng bảo: “Tôi cũng rất hối hận”.
Trương Đan Phong nói: “Hối hận điều gì?”
Vân Lối nói: “Gia gia tôi chăn ngựa, mẹ tôi giờ đây vẫn chăn cừu cho người ta, sau này nếu cùng huynh đến gặp mẹ tôi, tôi cũng không biết nói như thế nào”.
Trương Đan Phong thở dài, té ra Vân Lối cảm thấy thân thiết với chàng thì sẽ có lỗi với mẹ, cho nên mới hối hận như thế. Đổng Nhạc cười: “Các con cứ đứng than thở như thế, thật khiến cho lão già này thắc mắc, có lời gì hãy vào trong hẵn tính tiếp”.
Trương Đan Phong thở dài: “Dù huynh có lao vào dầu sôi lửa bỏng, cũng phải cùng đệ đi tìm mẹ. Sau này dù bá mẫu trách cứ thế nào, huynh cũng chấp nhận”.
Vân Lối bật cười nói: “Trách huynh làm gì? Mẹ của muội chưa bao giờ trách cứ người khác. Đừng làm vẻ khổ sở như thế nữa”. Thế rồi mỉm cười, ý xuân dâng tràn, tựa như mây đen đều bị ánh mặt trời xua tan.
Bạn của Đổng Nhạc là một võ sư người Hồi sống ở Mông Cổ, tính tình rất hào sảng, sau khi rước họ vào nhà thì làm thức ăn cho họ nhắm rượu. Ba người ngồi xuống, Vân Lối nói: “Đêm qua tam sư bá và sư phụ đã ra đi”.
Đổng Nhạc nói: “Ta đã nói với Đan Phong, ta sẽ ở lại thêm vài ngày nữa, đợi sau khi tìm được nhị sư bá của con và Tất Đạo Phàm sẽ cùng đến núi Đường Cổ Lạp. Sau khi các con tìm ra mẹ của Vân Lối cũng lập tức đến đấy, có lẽ hai đời chúng ta sẽ phái cùng nhau đối phó với tên lão ma đầu kia!”
Vân Lối nói: “Lão ma đầu ấy có lợi hại như thế không?”
Đổng Nhạc nói: “Chúng ta cùng nhau đối phó với y, ta thấy vẫn chưa nắm chắc phần thắng”.
Vân Lối nói: “Nói như thế, chả lẽ còn lợi hại hơn cả bà lão trong rừng tử trúc?”
Đổng Nhạc ngạc nhiên, nói: “Bà lão nào?”
Vân Lối nhớ rằng Tạ Thiên Hoa có nói, chuyện này ngoại trừ sư tổ, chỉ có một mình đại sư bá biết, thế rồi nói: “Là một bà lão không chịu nói họ tên, có thể dùng lá tre làm ám khí. Đại sư bá, người có biết lai lịch của bà ta không?” Sau đó kể lại chuyện trong rừng Trúc cho Đổng Nhạc. Đổng Nhạc nói: “Không ngờ lão tiền bối ấy vẫn còn ở trên đời, vẫn chưa quên chuyện năm xưa. Bà ta sẽ xuất hiện, sau này có thể sẽ nhúng tay vào, sự việc càng thêm phiền toái hơn”.
Vân Lối nói: “Bà ta là ai?”
Đổng Nhạc nói: “Bà ta có mối quan hệ sâu xa với sư tổ của các con và Thượng Quan lão ma. Nhưng chúng ta là hạng tiểu bối không nên tùy tiện nói đến, sau này con sẽ biết”.
Vân Lối không dám hỏi, lòng càng lo lắng hơn.
Dùng cơm trưa xong, Vân Lối thúc giục Trương Đan Phong từ biệt chủ nhà và Đổng Nhạc cùng đi tìm mẹ. Con Chiếu dạ sư tử mã được Vân Lối đưa đến đây, đã lâu không gặp chủ nhân, vừa thấy Trương Đan Phong bước tới gần thì ngửa đầu hí dài. Trương Đan Phong vuốt ve cổ ngựa, cười rằng: “Chúng ta lại gặp nhau”. Thế rồi cùng Vân Lối cỡi ngựa phóng đi.
Lúc này đã gần cuối đông, càng chạy về hướng bắc gió bấc thổi càng dữ, tuyết phủ trắng xóa, trên đường rất ít người đi, Trương Đan Phong đang vung roi, Vân Lối chợt nói: “Huynh nghe kìa, hình như có tiếng tiêu?”
Trương Đan Phong nghiêng tai lắng nghe, ngạc nhiên hỏi: “Trong gió có tiếng tiêu rõ ràng, lại còn có tiếng vó ngựa. Chắc người thổi tiêu là bậc cao nhân, chúng ta chạy lên phía trước xem thử”.
Hai người Trương, Vân phóng ngựa chạy một mạch, chỉ thấy ở phía trước có một khối đen cứ lăn qua lộn lại, té ra là hai đại hán đang đánh nhau trên tuyết. Bên cạnh có ba thớt ngựa khỏe. Trên ngựa là hai phụ nữ và một đại hán cao lớn.
Trương Đan Phong nói: “Hình như là bằng hữu của chúng ta”. Đến khi tới gần nhìn kỹ, té ra đó là Hắc Bạch Ma Ha và những người vợ Ba Tư của họ, người đang đánh nhau ở dưới đất chính là Hắc Ma Ha. Trương Đan Phong kêu một tiếng, đến khi nhìn kỹ lại thì càng ngạc nhiên hơn, té ra kẻ đang đánh nhau với Hắc Ma Ha lại là Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải của triều Minh!
Chỉ thấy Khang Siêu Hải mặc theo kiểu dân du mục Mông Cổ, áo quần đã bị Hắc Ma Ha xé rách vài chỗ, còn mặt mũi thì tiều tụy. Khang Siêu Hải kém xa Hắc Ma Ha, khi Trương Đan Phong phóng ngựa đến gần thì y đã bị Hắc Ma Ha vật ngã. Trương Đan Phong đang lấy làm lạ tại sao họ lại đánh nhau, chỉ thấy Khang Siêu Hải bị ngã thì lập tức phóng vọt người dậy rút ra một thanh mã đao, chém mạnh về phía Hắc Ma Ha, miệng mắng rằng: “Tên cường đạo khốn kiếp, dám đánh cắp đồ của ta, hãy mau trả lại, nếu không ta chém chết ngươi!”
Hắc Ma Ha cười ha hả, rút ra thanh lục ngọc trượng trở tay chặn ra, chỉ nghe keng một tiếng, ánh lửa bắn tung tóe, thanh mã đao của Khang Siêu Hải bị mẻ mất một mảnh. Hắc Ma Ha cười rằng: “Ngươi hãy ăn nói cho đàng hoàng tử tế với ta thì còn thương lượng được, nếu ngươi muốn hung hăng, hừ, hừ! Xem thử đao ngươi chém trúng ta hay cây trượng của ta sẽ đập gãy chân chó của ngươi!” Khi hai người đang nói thì đã đổi nhau đến ba bốn chiêu. Trương Đan Phong rất ngạc nhiên, Hắc Bạch Ma Ha là người giàu có, cần gì phải đánh cắp châu báu của Khang Siêu Hải? Chàng thấy trượng pháp của Hắc Bạch Ma Ha tuy hiểm hóc, nhưng lại không sử dụng sát chiêu, tựa như có ý nhường nhịn. Trương Đan Phong biết Khang Siêu Hải không phải là đối thủ của Hắc Ma Ha, thế là phóng ngựa tới trước, chỉ trong chớp mắt chỉ nghe Khang Siêu Hải kêu hoảng, từng bước thối lui.
Bạch Ma Ha lúc này mới thấy Trương Đan Phong đến, mừng rỡ kêu lên: “Đại ca, Trương công tử đến!”
Hắc Ma Ha nói: “Trương công tử đến thật đúng lúc, tôi sẽ đưa những món báu vật này cho y xem thử, coi y có nhận ra được không?”
Trương Đan Phong nói: “Báu vật gì?”
Khang Siêu Hải thấy Trương Đan Phong thì càng thất kinh hơn, nhưng lại mong chàng giúp mình, vội vàng kêu: “Hai tên cường đạo cướp châu báu của tôi, Đan Phong, hãy chủ trì công đạo cho tôi!”
Trương Đan Phong hỏi: “Ông có châu báu gì?” Rồi nhảy xuống ngựa định khuyên giải, chỉ nghe Hắc Ma Ha cười lớn: “Đúng thế, ngươi có châu báu gì? Hôm qua ngươi bảo trên người ngươi không có báu vật sao hôm nay lại bảo là có?”
Khang Siêu Hải nói: “Đan Phong, đó là báu vật của tôi”.
Trương Đan Phong nói: “Báu vật ở đâu?”
Bạch Ma Ha lấy ra một tay nải màu vàng, đưa cho Trương Đan Phong nói: “Công tử hãy nhìn xem, tôi thấy những món báu vật này có lai lịch bất chính, có lẽ cũng là đồ đánh cắp, công tử hãy xem thử, có nhận ra lai lịch của những thứ này hay không”.
Trương Đan Phong giật mình, chàng lại thấy tay nải này. khi thành Thổ Mộc bị bao vây, Khang Siêu Hải đã bỏ chạy một mình, vừa khéo gặp hai người Trương, Vân, y đã đeo trên lưng tay nải màu vàng này, Trương Đan Phong nghĩ bụng: “Sao bọn Hắc Bạch Ma Ha lại để ý đến những thứ này?” Chàng mở tay nải ra, chỉ thấy ngoài mấy mươi nén vàng, còn có vài món kỳ trân dị bảo!
Một món là một cây san hô bích ngọc dài cả thước, trong suốt, không hề có vết trầy xướt, một món là một cây trâm cài đầu có gắn hai viên ngọc, trên trâm có mấy chữ “Hiếu Chân hoàng hậu”. Còn một món khác là một con sư tử bằng bảo thạch. Còn một món càng quý hơn, đó chính là một cái triện bằng bạch ngọc có khắc mấy chữ “Chính Thống hoàng đế chi ấn”. Ngoài ra còn vài món đồ cổ, một xâu ngọc trai, toàn là những báu vật trị giá liên thành.
Trương Đan Phong cười lạnh, nói: “Ông lấy những báu vật này ở đâu?”
Khang Siêu Hải nói: “Đều là những thứ Hoàng đế ban cho tôi cả”.
Trương Đan Phong cười lạnh: “Chả lẽ Hoàng đế tặng cho ông dấu ấn và trâm cài đầu của hoàng hậu hay sao?”
Lúc này Trương Đan Phong đã biết chắc chắn Khang Siêu Hải khi chạy thoát ra khỏi thành Thổ Mộc, đã tiện tay đánh cắp tất cả châu báu của Hoàng đế mang theo bên mình.
Trương Đan Phong không đoán sai, chính Khang Siêu Hải đã đánh cắp những thứ này. Lúc đó y tưởng rằng Trung Quốc chắc chắn sẽ bị Ngõa Thích tiêu diệt, thiên hạ chắc chắn sẽ đại loạn cho nên muốn đánh cắp những thứ quý báu này sau đó mai danh ẩn tích. Không ngờ Dã Tiên rút binh, Hoàng đế mới lên ngôi, Khang Siêu Hải có tật giật mình, Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đều đã đi theo Trương Đan Phong đầu hàng Vu Khiêm, cho nên sẽ không tha thứ cho hành động bỏ chạy của y. Y sợ sư thúc đuổi theo, lại sợ Hoàng đế mới biết chuyện y đánh cắp báu vật của chính thống Hoàng đế cho nên chạy đến Mông Cổ, nhưng lại không thể bán được những món báu vật này.
Y lại muốn hiến cho Dã Tiên để tìm một chức quan, đang chần chừ chưa quyết định thì lại gặp phải Hắc Bạch Ma Ha, Hắc Bạch Ma Ha vừa nhìn đã biết Khang Siêu Hải mang theo rất nhiều báu vật, vốn định mua lại nhưng Khang Siêu Hải không chịu, Hắc Ma Ha bực mình, nên trong đêm đó đã đánh cắp tất cả những thứ y mang theo.
Lúc này Khang Siêu Hải bị Trương Đan Phong chất vấn, nhất thời cứng họng, đáp không ra lời. Trương Đan Phong nói: “Ông là Đại nội tổng quản, Hoàng đế đối xử với ông không tệ, ông đã bỏ chạy trong lúc ông ta nguy nan đã là tội đáng chết, lại còn dám đánh cắp báu vật!”
Hắc Ma Ha cả cười nói: “Quả nhiên là ngươi đã đánh cắp. Hừ, ngươi còn xứng là Đại nội tổng quản hay không? Được, hãy nếm một gậy của ta!”
Hắc Ma Ha vung gậy lên tựa như mưa gió, trong chốc lát đã tung ra sát chiêu. Khang Siêu Hải dốc hết sức chống đỡ được năm chiêu, đến chiêu thứ sáu thì đuối sức, cây mã đao đã bị Hắc Ma Ha đánh rơi, khi cây trượng sắp đâm vào đan điền của y thì Trương Đan Phong cảm thấy bất nhẫn, kêu lên: “Tha cho y một mạng, chỉ phế võ công của y!”
Hắc Ma Ha đẩy đầu gậy sang một bên, gõ mạnh xuống xương vai của y, xương tỳ bà trên vai Khang Siêu Hải bị đánh vỡ, thế là chẳng sử dụng võ công được nữa, chẳng khác gì người thường Trương Đan Phong cười nói: “Người chết vì của cải, chim chết vì miếng ăn. Nay ông may mắn không chết, coi như cũng là ý trời, sau này phải ráng sống cho tử tế”.
Khang Siêu Hải may mắn thoát chết, nào dám nói nhiều, vội vàng chạy thục mạng. Trương Đan Phong nói: “Các người từ đâu đến đây?”
Hắc Ma Ha nói: “Chúng tôi vừa từ Ấn Độ trở lại, ngày hôm kia mới đi ngang núi Đường Cổ Lạp”.
Trương Đan Phong chợt nói: “Đó là nơi của tộc Ngạc La, các người có gặp Tù trưởng ở đó không?”
Bạch Ma Ha cười nói: “Chúng tôi là người buôn bán, đâu có rảnh đến gặp Tù trưởng. Nhưng đã có những quý nhân khác đến gặp ông ta, mấy ngày hôm nay ông ta rất bận rộn”.
Trương Đan Phong nói: “Ai đến gặp ông ta?”
Bạch Ma Ha nói: “Là sứ giả của Dã Tiên”.
Trương Đan Phong nói: “Sứ giả của Dã Tiên?”
Bạch Ma Ha nói: “Nghe nói Dã Tiên định mua chuộc ông ta cùng đối phó với A Thích, xem ra Ngõa Thích sắp có nội loạn, anh em chúng tôi đang chuẩn bị xuống miền Nam. Này, lệnh tôn là tể tướng của Ngõa Thích, công tử có biết chuyện này không?”
Trương Đan Phong nói: “Có biết chút ít”. Rồi chàng đưa mắt nhìn tay nải, chợt nói: “Ở đây có một bức tranh và một cây ngọc trâm, các người hãy nhường cho tôi”.
Hắc Ma Ha cả cười nói: “Không bán, không bán!”
Trương Đan Phong định mua những thứ này tặng lại cho Chu Kỳ Trấn, nghe Hắc Ma Ha nói không bán thì rất thất vọng. Chỉ nghe Hắc Ma Ha lại cười: “Không bán nhưng có thể tặng cho công tử, dù sao tôi cũng nhặt được những thứ này. không chỉ là hai món, tôi sẽ tặng cả cho công tử!”
Trương Đan Phong nói: “Cái gì, không thể được!”
Hắc Ma Ha cười lớn: “Lần trước cũng nhờ công tử trả lại bảo tàng cho chúng tôi, chúng tôi mới có thể làm ăn tiếp, những thứ này xin công tử hãy nhận lấy”.
Trương Đan Phong cười nói: “Được, nếu hai người đã rộng rãi như thế, tôi cũng không khách sáo. Tôi muốn nhờ hai người một việc”.
Hắc Bạch Ma Ha xưa nay chỉ trọng có mỗi mình Trương Đan Phong, nghe thế thì nói: “Công tử cứ nói, dù chuyện lớn bằng trời, anh em chúng tôi cũng sẽ hết sức”.
Trương Đan Phong mỉm cười: “Cũng không có gì lớn, nhờ hai người hãy gởi hộ cho tôi một bức thư”.
Hắc Ma Ha nói: “Gởi cho ai?”
Trương Đan Phong nói: “Hai người đi chuyến này có phải sẽ đến chỗ A Thích chi viện hay không?”
Bạch Ma Ha nói: “Đúng thế, có phải công tử muốn gởi thư cho A Thích không?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế”. Nhưng trên đường không có giấy bút, Trương Đan Phong chỉ đành dùng kiếm viết chữ trên tấm da cừu. Chàng viết xong bức thư thì lấy ra hai món châu báu giao cho Hắc Ma Ha nói: “Làm phiền hai người hãy đưa bức thư và hai món báu vật này cho A Thích”.
Hắc Bạch Ma Ha nhận lấy rồi chia tay Trương Đan Phong.
Vân Lối nói: “Đại ca, huynh viết gì thế?”
Trương Đan Phong nói: “Huynh đã giúp Tù trưởng Ngạc La viết một bức thư hẹn liên minh với A Thích”.
Vân Lối ngạc nhiên nói: “Sao huynh biết Tù trưởng Ngạc La sẽ liên minh với A Thích?”
Trương Đan Phong cười nói: “Ta đã sắp xếp trước chuyện này, ba ngày sau tiểu đệ sẽ biết”.
Ba ngày sau hai người đã đến núi Đường Cổ Lạp, lúc này cả hai chậm rãi buông cương ngựa tiến vào trong thung lũng.
Vân Lối đưa mắt nhìn lại nơi cũ, những kỷ niệm thời thơ ấu vẫn còn trong đậm trong lòng, nàng đứng nhìn mà rơi nước mắt, Trương Đan Phong nói: “Đệ đã sắp gặp lại mẹ, còn khóc gì nữa?”
Vân Lối lau nước mắt, nói: “Muội mừng quá. Huynh bảo xem, chúng ta có nên cùng nhau đi gặp mẹ hay không?”
Trương Đan Phong nói: “Có gì mà không được, sợ mẹ cười muội ư?”
Vân Lối nói: “Chỉ sợ người biết huynh là kẻ thù của nhà muội”.
Trương Đan Phong nói: “Chỉ cần đệ không coi huynh là kẻ thù, bá mẫu chắc chắn sẽ coi huynh là con cháu”.
Vân Lối nhớ lại mẹ là một người phụ nữ tâm địa thiện lương, nếu kể rõ chuyện của Trương Đan Phong, người sẽ không trách, chỉ cần mẹ cho phép thì không sợ ca ca cản trở, nghĩ đến đây nàng mỉm cười. Trương Đan Phong nói: “Đệ cười gì thế?”
Vân Lối nói: “Gặp lại mẹ, sao mà không vui được?” Chợt nhớ mẹ đang là kẻ ăn người ở trong nhà Tù trưởng, không biết đã chịu bao nhiêu cay đắng, nỗi buồn dâng lên trong mắt.
Trương Đan Phong cười nói: “Chợt khóc chợt cười, sao lại khổ đến thế!”
Vân Lối mỉm cười, nói: “Huynh cũng thế”.
Trương Đan Phong nói: “Chúng ta càng lúc càng giống nhau”.
Vân Lối đỏ mặt: “Đúng là miệng bôi mỡ, không đùa với huynh nữa, chúng ta đi gặp Tù trưởng thôi”.
Hai người Trương, Vân phóng ngựa vào trong thung lũng, đã có người chú ý nên chạy về báo cáo cho Tù trưởng. Khi hai người đến nơi thì thấy nhà Tù trưởng đang treo đèn kết hoa, chắc là chiêu đãi khách quý. Bọn Trương Đan Phong đợi một hồi, Tù trưởng liền sai người gọi họ vào.
Hai người trao ngựa cho kẻ hạ nhân, rồi cùng cáp na bước vào (là quản gia của Tù trưởng). Cáp na dắt họ vào một căn phòng, trong phòng có hai lò lửa cháy phừng phừng nên ấm áp như mùa xuân, miệng nói: “Tù trưởng đang chiêu đãi khách quý, bảo hai vị chờ ở đây, ông ta sẽ gọi xuy trung đến tiếp đãi các người, có chuyện gì cứ nói với xuy trung”. Xuy trung là pháp sư của bộ lạc, chỉ kém Tù trưởng, Tù trưởng bảo xuy trung đến gặp họ coi như đã rất coi trọng họ.
Vân Lối đang nôn nóng muốn biết tin của mẹ, nghe Tù trưởng không thể đích thân tiếp họ thì thất vọng, chợt nghe bên ngoài có tiếng ngựa hí, thầm nghĩ: “Không biết có phải mẹ đang chăm sóc cho ngựa của mình hay không? Ôi, mình ở trong phòng ấm áp, còn mẹ thì phải cho ngựa ăn”. Thế rồi trong lòng buồn bã, ngồi yên chẳng nói lời nào.
Trương Đan Phong thì ngồi chuyện trò với cáp na. Chàng hỏi: “Tù trưởng đang tiếp ai thế?”
Cáp na nói: “Nghe nói là sứ giả của Dã Tiên”.
Trương Đan Phong nói: “Họ chẳng phải đã đến từ sớm rồi ư?”
Cáp na trả lời: “Đúng thế, họ đã ở đây bảy ngày”.
Trương Đan Phong nói: “Tại sao bây giờ mới tiếp đãi?” Cáp na ấp úng, muốn nói nhưng lại thôi. Trương Đan Phong mỉm cười lấy ra một nén vàng, nói: “Ông ở đây đã vất vả, tôi tặng nén vàng này cho ông mua rượu”.
Cáp na làm việc cho Tù trưởng, bình thường chỉ được thưởng nhiều nhất là hai đĩnh bạc nhỏ, có khi nào thấy được nén vàng lớn như thế này! Thế rồi mỉm cười, cầm nén vàng, luôn miệng đáp tạ, không đợi Trương Đan Phong hỏi thì đã tự nói: “Nghe nói hôm nay Tù trưởng định kết minh với Dã Tiên, cho nên đang chiêu đãi thịnh soạn bên ngoài, có lẽ sắp cử hành nghi thức”.
Trương Đan Phong thầm nhủ: “May mà đến nhanh một bước”.
Xuy trung vẫn chưa tới, Trương Đan Phong đứng dậy nói: “Thật là khéo, chúng tôi cũng là người Thái sư phái tới, đang nôn nóng gặp họ. Thái sư của chúng tôi thấy họ ở lâu không về cho nên sai chúng tôi đến đây hỏi”. Rồi lại móc ra hai nén vàng nữa, nói: “Hãy hiến giùm tôi cho xuy trung, cứ coi như là lễ cúng thần. Bảo ông ta không cần tiếp đãi chúng tôi nữa. Ngày mai chúng tôi sẽ lại đến”.
Cáp na thấy Trương Đan Phong rộng rãi như thế, nghĩ bụng: “Có lẽ họ là người của Thái sư, nếu không thì chẳng rộng rãi như thế này”. Thế rồi nói: “Vậy tôi sẽ hỏi ý Tù trưởng, bảo ông ta đưa ngài vào”.
Trương Đan Phong nói: “Không cần quấy nhiễu nhiều người như thế, chúng tôi sẽ tự vào. Ông hãy ngồi đây chờ đợi xuy trung”.
Rồi chàng hỏi rõ đường đi, sau đó cùng Vân Lối bước ra khỏi cửa.
Cáp na nhận vàng của Trương Đan Phong, lại nghe chàng hù dọa nên không dám ngăn cản.
Trương Đan Phong và Vân Lối ra khỏi cửa, chạy gấp về tiền sảnh, người nhà Tù trưởng không biết lai lịch của họ, chỉ biết họ là khách của Tù trưởng nên không dám ngăn cản. Hai người đi thẳng vào khách sảnh, chỉ thấy đèn đuốc sáng choang, Tù trưởng đang mời rượu hai người khách.
Trương Đan Phong và Vân Lối tiến thẳng vào, người trong sảnh đều ngạc nhiên, sứ giả của Dã Tiên thấy hai người ăn mặc sang trọng, khí thế bất phàm, tưởng rằng là khách của Tù trưởng mời tới, Trương Đan Phong đưa mắt nhìn, bất đồ đứng dậy gật đầu chào. Còn Tù trưởng thì tưởng họ là bạn của khách cho nên bước ra nghênh đón.
Trương Đan Phong mỉm cười, rút phong thư trao cho Tù trưởng, Tù trưởng chưa kịp hỏi thì lại lấy một cây san hô bích ngọc và con sư tử bằng bảo thạch đặt trên bàn, mọi người đều nhìn chằm chằm vào hai món đồ này. Chỉ nghe Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Chút lễ mọn này, chủ nhân tôi mời Tù trưởng nhận lấy”.
Tù trưởng nói: “Làm sao dám nhận lễ của Thái sư nữa”.
Ông ta tưởng rằng Dã Tiên lại tặng quà nữa cho nên vừa nhìn bức thư thì thấy có đề tên tri viện A Thích, thế là thất kinh, lúng túng vô cùng. Trương Đan Phong lớn giọng nói: “Chủ tôi mời ngài kết minh ước, cùng đánh Dã Tiên!”
Vừa nói ra hai sứ giả của Dã Tiên vừa kinh vừa giận, nhảy bật dậy: “Ngươi là ai?”
Trương Đan Phong nói: “Bọn chúng ta đều là người trong nghề, các người của Dã Tiên, ta là sứ giả của A Thích”.
Sứ giả của Dã Tiên tức giận nói: “Ngươi dám đến đây phá hoại minh ước của chúng ta. Vương gia hãy phát lệnh bắt hai kẻ này dâng cho Thái sư”.
Tù trưởng vẫn còn nấn ná, Trương Đan Phong cười nói: “Ngài hãy suy nghĩ cho kỹ. Dã Tiên là kẻ lòng lang dạ sói, thôn tính xong Ngõa Thích, ông có thể đứng vững được hay không?”
Sứ giả của Dã Tiên quát: “Tên tiểu tử nhà ngươi thật lớn gan, dám công nhiên khiêu chiến phỉ báng Thái sư, Tù trưởng hãy mau ra lệnh bắt sống hai kẻ này”.
Tù trưởng thấy hai sứ giả của Dã Tiên cứ thúc giục mình, trong lòng không vui, lạnh lùng nói: “Ta đã có tính toán. Không cần hai vị nôn nóng”.
Trương Đan Phong lại mỉm cười: “Tình thế hiện nay, Dã Tiên binh mạnh, A Thích lực yếu, giúp mạnh diệt yếu là điều rất dễ. Song Tù trưởng có nghĩ rằng, kẻ sức mạnh thì khó gần, kẻ lực yếu thì dễ xơi?” Tù trưởng ngạc nhiên, đó cũng chính là lý do bảy ngày hôm nay ông ta vẫn cứ chần chừ chưa quyết định kết minh với Dã Tiên. Lúc này nghe Trương Đan Phong nói thì như bị kim đâm trúng, mồ hôi lạnh tuôn ra, thầm suy nghĩ: “Lời này quả rất đúng! Binh lực của Dã Tiên mạnh hơn mình rất nhiều lần, sau khi việc thành nếu y trở mặt thì mình chẳng thể nào chống đỡ nổi. Binh lực của A Thích tương đương với mình, y liên kết Tù trưởng các tộc cùng chống Dã Tiên, sau khi việc thành, đôi bên chẳng thể xâm phạm lẫn nhau”.
Hai sứ giả của Dã Tiên thấy ánh mắt của Tù trưởng thì vừa nôn vừa giận, sợ có biến, hai người này đều là võ quan, đao pháp rất tinh thông, nhất thời nổi giận, không đợi suy nghĩ nhiều, thế là cả hai rút đao chém Trương Đan Phong. Chàng nhẹ nhàng né tránh ra sau lưng Tù trưởng, hai thanh đao suýt nữa chém vào người ông ta. Tù trưởng cả giận, quát: “Hãy bắt hai tên hung đồ này lại cho ta!”
Hai sứ giả của Dã Tiên tức giận quát: “Ai dám bắt ta?” Hai kẻ ấy vung đao chém rơi binh khí vệ sĩ của Tù trưởng, toan xông ra khỏi sảnh chợt cảm thấy chân tê rần, bất đồ té khụy xuống trước mặt Trương Đan Phong, Trương Đan Phong cười nói: “Cần gì phải tiên binh hậu lễ thế?” Vệ sĩ của Tù trưởng xông tới trói chặt hai sứ giả lại, hai sứ giả bỗng nhiên bị người ta bắt trói, vẫn chưa biết đó là do Trương Đan Phong ám toán.
Tù trưởng sai vệ sĩ nhốt hai sứ giả của Dã Tiên lại, kiên quyết nói: “Được, ta sẽ kết minh với tri viện của các người”.
Ông ta tuy sợ Dã Tiên nhưng chuyện đã đến nước này coi như đã leo lên lưng cọp, chỉ có cách là liên kết với A Thích mà thôi.
Trương Đan Phong cùng Tù trưởng nhỏ máu ăn thề, Vân Lối đứng một bên thầm cười nghĩ bụng: “Đan Phong đúng là thần cơ diệu toán! Chàng giả mạo sứ giả của A Thích, đã lừa Tù trưởng tin mình như thế”.
Thật ra Trương Đan Phong đã sớm nghĩ đến chuyện này, khi viết thư nhờ Hắc Ma Ha gởi, chàng đã báo cho A Thích chuyện kết minh, sau này A Thích chắc chắn sẽ thừa nhận, cho nên chàng cũng chẳng phải hòan tòan giả mạo.
Sau khi kết minh, Tù trưởng lại mở tiệc rượu tiếp đãi họ. Vân Lối nôn nóng như lửa đốt. Nhớ đến mẹ, cho nên chỉ sau mấy lời khách sáo thì vội vàng hỏi: “Xin hỏi Tù trưởng, ở đây có một bà lão nuôi ngựa hay không?” Tù trưởng thấy khách quý đột nhiên lại hỏi đến một bà lão nuôi ngựa thì ngạc nhiên, ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo: “Hình như có người này, ta không nhớ rõ nữa. Để ta hỏi xem sao”.
Một lát sau, cáp na chuyên quản lý chuồng ngựa được Tù trưởng gọi tới, Vân Lối hỏi một hồi, cáp na ấy gãi đầu, một lúc sau mối chậm rãi nói: “Đúng thế, có một bà lão như thế”.
Vân Lối cả mừng, vội vàng nói: “Vậy hãy mời bà lão ấy ra, chúng tôi muốn gặp bà ta”.
Vân Lối vốn muốn nói rõ bà lão ấy là mẹ của mình, nhưng nàng cố kìm lại, nghĩ rằng sau khi nhận nhau sẽ nói rõ nguồn cơ để Tù trưởng khỏi áy náy.
Cáp na ấy lại gãi đầu, một lát sau mới nói: “Bà lão chăm sóc ngựa ở trong phủ là chuyện bảy năm về trước, bà ta bây giờ...”.
Vân Lối giật mình, kêu lên: “Bây giờ thế nào?”
Cáp na ngạc nhiên vô cùng, nhìn Vân Lối rồi nói: “Bây giờ bà ta không ở đây nữa. Ba năm trước đã ra đi, nghe nói là sống ở chỗ cũ. Cảnh ngộ của bà ta rất bi thảm, song hình như giờ đã tốt hơn”.
Cáp na định kể chuyện của bà cụ nuôi ngựa, Vân Lối đã đứng dậy, được, chúng tôi muốn gặp ngay bà lão, xin cáo từ”.
Tù trưởng và cáp na đều ngạc nhiên, nhưng vì lễ tiết cho nên không tiện hỏi tới. Tù trưởng nói: “Có cần tôi sai người dẫn đường hay không?”
Vân Lối nói: “Tôi biết đường”. Thế là vội vàng cùng Trương Đan Phong ra khỏi nhà Tù trưởng.
Trương Đan Phong và Vân Lối phóng ngựa tiến thẳng về phía trước, trên suốt quãng đường Vân Lối cứ im lặng không nói, nhưng vẻ mặt hớn hở vô cùng, từng giọt nước mắt rơi xuống. Đi được một hồi thì Vân Lối kìm cương ngựa lại nói: “Qua con suối nhỏ này, sẽ thấy một ngơi nhà trét đất, đó là nhà của muội. Ôi hoa mơ trước cửa nhà vẫn như trước. Cây tùng trên sườn núi vẫn chưa bị chặt, lúc còn bé mẹ thường dắt muội ra đó hát cho muội nghe”.
Trương Đan Phong nhảy xuống ngựa, cười nói: “Khổ tận cam lai, hôm nay bá mẫu gặp được đệ, không biết vui mừng biết đến dường nào!”
Vân Lối nhìn thấy ngôi nhà thân yêu của mình, trong lòng chua xót vô hạn, chuyện thời thơ ấu hiện lên trong lòng, nàng bất giác hát lên bài hát lúc còn bé mẹ đã dạy cho nàng: “Tôi cùng mẹ đi chăn cừu, cừu ăn cỏ say sưa, hoa trên sườn núi thơm ngan ngát, bài ca mẹ hát nghe mênh mang...”.
Vân Lối vừa hát vừa đến gần cửa nhà, Trương Đan Phong cũng thấy khóe mắt mình ươn ướt. Chợt nghe một tiếng kẹt vang lên, hai cánh cửa mục nát chợt mở ra, một bà lão người Mông Cổ bước ra, vẻ mặt tiều tụy, tuy bộ quần áo vẫn sạch sẽ nhưng đã vá nhiều chỗ. Vân Lối tuôn trào nước mắt phóng tới, ôm lấy bà lão ấy. Bà lão ôm lấy Vân Lối, nước mắt tuôn rơi, rung giọng nói: “Ta đã đợi mười năm, có thật là con không? Con gái nhỏ của ta!”
Vân Lối nuốt nước mắt cười: “Mẹ, là con đây, mẹ có thấy con không?”
Bà lão nói: “Hãy đến gần ta, quả nhiên là con gái nhỏ của ta!”
Đáng thương cho mẹ Vân Lối, năm xưa vì chồng và con gái đột nhiên mất tích, bà đã khóc đến cạn khô nước mắt, mắt cũng mờ đi, tuy chưa mù hẳn nhưng trong vòng ba thước chỉ thấy mờ mờ, Trương Đan Phong áy náy vô cùng, nghị bụng: “Một bà lão thiện lương mà cũng bị liên lụy đến nước này, ôi, đó toàn là lỗi của nhà mình”.
Khi chàng đi đường đã nghĩ rất nói nhiều lời nói để an ủi mẹ con họ, nhưng đến giờ đây chẳng nói được một câu, chỉ hoang mang bước về phía trước. Nhưng Vân Lối đang khóc vùi trong lòng mẹ mình, cho nên quên cả chàng. Trong khoảnh khắc ấy, Trương Đan Phong chỉ cảm thấy mình đau khổ hơn Vân Lối gấp nhiều lần, chợt nghe bà lão nói: “Cha của A Lối, ông có nghe không?”
Trong nhà lại có một người bước ra, Vân Lối ngẩng đầu lên nhìn, bất giác sững sờ.
Chỉ thấy người ấy trên mặt có nhiều vết thương, bước đi lặc lè, té ra đã bị què một chân, tóc trên đầu thưa thớt, đã bạc quá nửa, quần áo cũng rách rưới, nhưng thần khí chẳng phải của người thường. Vân Lối nhìn kỹ mà hầu như không nhận ra ông ta là ai, nghe mẹ gọi ông ta là “cha của A Lối” thì giật mình, lúc này mới thấy thấp thoáng diện mạo của cha mình từ bộ mặt xấu xí ấy.
Đó chính là:
Qua bao gian nan vẫn còn sống, cha con gặp lại chẳng nhận ra.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 27
Ân oán khó quên hào tình thành mây khói
Tình si khó dứt động ma kết tri giao
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:25 pm

Hồi 27
Ân oán khó quên hào tình thành mây khói
Tình si khó dứt động ma kết tri giao


Té ra Vân Đăng năm xưa hộ tống Vân Tĩnh trở về nước, chạy đến ngọn núi bên ngoài Nhạn Môn quan thì gặp phải truy binh, ông ta liều chết đoạn hậu, bị trọng thương, rơi xuống thung lũng sâu. Lúc đó Triều Âm hòa thượng và mọi người nghe tiếng ông ta kêu thảm trong đêm tối, lại thấy ông ta rơi xuống vực sâu đều tưởng rằng ông ta đã mất mạng, nào ngờ Vân Đăng không chết, ông ta bị một cành cây cản lại, chỉ què một chân, mặt thì bị đá cào trầy xước, song cũng giữ được tánh mạng. Tuy ông ta không chết nhưng cảnh ngộ còn thê thảm hơn cả chết! Ông ta bị trọng thương, chỉ ở trong sơn cốc một mình, đành ăn lương khô trên xác người chết, uống nước tuyết, khí lực dần dần hồi phục, bò ra khỏi sơn cốc, lang thang ăn xin ở bên ngoài Nhạn Môn quan, không lâu sau thì dò được tin Vân Tĩnh bị nạn ở Nhạn Môn quan, ông ta đã nhụt chí, chỉ cảm thấy trời đất mênh mông, nhưng chẳng có nơi nào cho mình đứng chân.
Ông ta may mắn không chết, nhưng chân đã què mặt đã biến dạng, võ công chẳng còn, đã trở thành một phế nhân, lại thêm Vân Tĩnh đã chết, bản thân là con của kẻ “phản loạn”, không thể nào vượt Nhạn Môn quan trở về Trung Quốc, nếu chẳng phải còn có hai đứa con, trong lòng có chút lưu luyến, ông ta đã tự sát ở bên ngoài Nhạn Môn quan.
Ông ta lang thang hơn một năm, suy đi nghĩ lại thì chỉ chỉ đành trở về Ngõa Thích, cứ như thế ông ta đi khắp nơi làm thuê, nếu không ai gọi làm thuê thì đi ăn mày, trải qua bao nhiêu cay đắng khổ nhục mới về trở lại núi Đường Cổ Lạp, tìm ra bộ lạc của vợ mình.
Lúc ấy mẹ của Vân Lối là người cho ngựa ăn trong nhà Tù trưởng, Vương Chấn tốn nhiều công sức mới nhờ người báo tin của mình cho bà ta, hai vợ chồng gặp nhau mừng rỡ không nguôi. Vợ của Vân Đăng cùng ông ta trở về quê cũ, mắt bà đã mờ hẳn, không thể chăn cừu nữa. May mà Vân Đăng tuy mất võ công nhưng là người đã luyện võ, khí lực vẫn còn, có thể làm việc cho người ta, thế là chồng làm thuê, vợ may áo, cả hai gắng gượng đắp đổi qua ngày, cuộc sống như thế còn tốt hơn lúc trước nhiều. Vân Đăng ban ngày làm việc, tối luyện lại võ công, lòng đã trơ ra như gỗ đá, cứ qua một ngày thì tính một ngày, lúc đầu còn nhớ đến con cái, vẫn còn hy vọng, nhưng dần dần cả tia hy vọng cũng tắt hẳn, nghĩ bụng cuối cùng rồi sẽ chết lặng lẽ ở đất khách.
Vân Lối nằm mơ cũng không ngờ rằng cha mình vẫn còn sống. Nàng đứng sững ra nhìn cha, nhìn nét mặt tiều tụy, mái tóc bạc phơ của người cha, Vân Lối không đợi ông ta nói cũng đã biết nỗi cay đắng khổ nhục mười năm qua của ông ta, Vân Lối kêu lên một tiếng chạy đến bên cha, nước mắt của con gái rơi xuống người cha, nước mắt của cha cũng đã ướt đẫm cả áo của con gái. Nước mắt hai cha con chan hòa, không biết là mừng rỡ hay chua xót!
Mặc cho Trương Đan Phong là người phóng khoáng đến mức nào cũng cảm thấy xúc động thê lương, chàng chẳng thể nói được lời nào. Chàng biết lúc này Vân Lối cần người an ủi, nhưng có ai biết, chàng còn áy náy hơn Vân Lối gấp vạn lần, trong trời đất này chẳng ai có thể an ủi cho chàng.
Hai cha con ôm nhau khóc òa một lúc lâu, Vân Đăng mới phát hiện bên cạnh còn có một thiếu niên, thiếu niên lại đi cùng với con gái của mình. Vân Đăng nhìn Trương Đan Phong, chỉ thấy thiếu niên ăn mặc sang trọng, trong vẻ anh tuấn có nét nho nhã, nhưng hai mắt thất thần, đứng trơ ra như đá, ngạc nhiên hỏi: “A Lối, y là ai?”
Vân Lối nghe câu hỏi ấy thì bừng tỉnh, nhưng câu hỏi ấy cũng như sấm nổ giữa trời xanh. Cha nàng tuy nói rất nhỏ, nhưng mỗi chữ đều như tiếng sấm nổ trong lòng nàng. Nàng vốn đã nghĩ ra nhiều lời để giải thích với mẹ, nhưng lúc này đã gặp mẹ, lại gặp cha, thế nên chẳng nói được gì.
Mẹ của Vân Lối cố gắng mở to cặp mắt, nhìn bóng người mờ nhạt trước mặt, bà ta mỉm cười hỏi: “A Lối, chàng trai này có phải đến cùng con hay không?” Bà nói với giọng rất dịu dàng, tựa như đang mong đợi một niềm vui khác.
Bà có ngờ rằng, lời nói dịu dàng ấy trở thành những mũi kim sắc nhọn đâm vào lòng con gái của mình, Vân Lối thỏ thẻ: “Y... y họ Trương!”
“Cái gì, họ Trương?” Vân Đăng bất giác kêu lên, mười năm qua, ông ta căm hận Trương Tôn Châu đến thấu xương, chỉ nghe một chữ “Trương” thì cũng đã chẳng kìm nổi lòng, Vân Lối khóc òa lên, lại ngả vào lòng cha, Vân Đăng cứng cựa như một bức tượng đá, chân bước lùi ra phía sau.
Trương Đan Phong không kìm được nữa, chàng hạ giọng nói nhỏ: “Đúng thế, tiểu điệt họ Trương, tiểu điệt là con của Trương Tôn Châu, nay xin thỉnh tội cùng lão bá!”
Trong khoảnh khắc, chỉ thấy cơ mặt của Vân Đăng giần giật, ông ta không lên tiếgn, rồi đột nhiên vung nắm đấm đẩy Vân Lối ra, chạy thẳng về phía trước.
Vân Lối cũng kêu lên, vội dang tay cản cha mình lại. Vân Đăng đột nhiên cảm thấy hổ khẩu đau nhói, bất đồ lui ra sau, trong khoảnh khắc ấy, ông đã hiểu tất cả, chàng trai này là con trai của kẻ mà ông căm hận nhất, cũng là người mà con gái mình thương yêu nhất.
Vân Lối chợt hiểu ra, nàng đã ra tay quá mạnh, thế là vội vàng kéo nhẹ ống tay áo của cha mình. Chỉ thấy Vân Đăng rút tay áo mình ra, ống tay áo lại dứt đứt một mảnh, Vân Đăng nhìn vào mắt con gái đột nhiên nắm ống tay áo ném về phía Vân Lối, lạnh lùng nói: “Ngươi hãy đi đi, bọn ta là kẻ nghèo khổ, không dám tiếp đãi thiếu gia và tiểu thư!”
Trong khoảnh khắc, Vân Lối run lên bần bật như có dòng điện chạy qua người, những cảm giác oán hận, ân thù hổ thẹn tự trách dâng lên trong lòng. Nàng cứ đứng sững sờ ra đấy, nhìn cha rồi lại nhìn Trương Đan Phong, cõi lòng tê tái, hình như chẳng còn chút tri giác nào nữa. Sắc mặt Trương Đan Phong thì tái nhợt, chàng nhìn Vân Lối, chỉ thấy nàng chậm rãi lấy ra một tấm áo tử la, xé toạc rồi ném xuống đất. Trương Đan Phong nhớ rõ ràng, lần đầu tiên Vân Lối mặc lại y phục của nữ nhi, nàng đã mặc tấm áo tử la này, lúc đó là trong căn mật thất, chàng vẫn còn khen ngợi nàng xinh đẹp. Tấm áo tử la này chiếm một vị trí quan trọng trong lòng cả hai người, đó là một hồi ức đẹp đẽ.
Thế nhưng giờ đây Vân Lối đã chính tay xé nát, tất cả những hồi ức đẹp đẽ cũng nát tan như tấm áo!
Trương Đan Phong kêu lên, chỉ thấy Vân Lối chẳng ngẩng đầu, tay trái kéo cha, tay phải kéo mẹ bước vào trong nhà, rồi đóng sầm cánh cửa lại. Hai cánh cửa chia cắt hai người, chỉ cách một bậc cửa nhưng lại là hai thế giới khác nhau. Trương Đan Phong tuyệt vọng vô cùng, Vân Lối bước vào trong nhà, khi đóng cửa lại cũng chẳng thèm quay đầu nhìn!
Vân Lối bước vào bên trong, khí lực đã tiêu tan, từ bên ngoài vào trong chẳng qua chỉ cách có một bước, nhưng nàng bước xong bước này thì cảm thấy khó nhọc tựa như vượt trăm sông ngàn núi, Vân Lối trở nên kiệt sức, nàng vừa bước vào bên trong thì đã chẳng gắng gượng được nữa, thế là té nhào xuống đất. Chỉ nghe bên ngoài tiếng ngựa hí thê lương vô cùng, con ngựa của nàng đã hí lên, tựa như nó đang không nỡ rời xa con Chiếu dạ sư tử mã của Trương Đan Phong, hai con ngựa từ Trung Nguyên đến Mông Cổ, tựa như đã trở thành hai người bạn không thể nào cách xa nữa. Từ xa con ngựa của Trương Đan Phong cũng hí đáp lại, tựa như hai người bạn thân đang nói lời vĩnh biệt nhau. Vân Lối kêu lên thảm thiết rồi ngã gục xuống đất, bên tai còn văng vẳng tiếng mẹ kêu: “Ôi, con tôi thật đáng thương!”
Nhưng có một người còn đáng thương hơn Vân Lối, đó là Trương Đan Phong. Lúc này Vân Lối có cha mẹ an ủi, nhưng bên cạnh chàng chẳng có ai, chàng cũng chẳng biết thổ lộ nỗi khổ sở này cùng ai. Chàng tuyệt vọng đến cực điểm. Chàng trở nên như điên cuồng, trời đất mênh mong, chàng cũng chẳng biết nên đi về đâu!
Chàng vẫn còn nhớ mình có hẹn với sư phụ, hình như là đến gặp một ma đầu nào đó. Trương Đan Phong vốn rất thông minh, trí nhớ rất tốt, nhưng lúc này cõi lòng đã tan nát, khiến cho chàng rơi vào trạng thái điên dại, ngoại trừ Vân Lối và chuyện của nàng, chàng chẳng nhớ gì cả. May mà chàng vẫn còn nhớ mình có một người sư phụ, chàng đang muốn tìm người giải bày nỗi u uất trong lòng, vì thế cứ chạy mãi.
Càng lúc Trương Đan Phong càng cảm thấy cô đơn, chàng càng đi càng nhớ Vân Lối. Trong ngày xuân ấm áp muôn hoa đua nở, chàng đã cùng Vân Lối đi khắp miền Giang Nam, trong những ngày gió bấc thét gào, chàng cũng đã cùng Vân Lối vượt qua miền thảo nguyên rộng mênh mông, thế nhưng dù cho cảnh Giang Nam sông nước hữu tình hay cảnh sa mạc Tái Bắc mênh mông, tất cả đều đẹp đến cực điểm, ngọt ngào đến tận cõi lòng. Chàng cứ tưởng rằng Vân Lối vẫn còn đang ở bên cạnh mình, thế là kêu lớn: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ!”
Nhưng chàng chỉ nghe thấy tiếng mình trong sơn cốc vắng lặng.
Tiểu huynh đệ đã ở lại.
Trương Đan Phong cứ một mình bước lên núi Đường Cổ Lạp, ngày đầu tiên chàng vẫn còn nhớ lờ mờ là phải tìm sư phụ, đến ngày thứ hai thì không biết tại sao mình lại ở trong chốn rừng núi hoang vắng này. Thấy cảnh cây khô đá núi thì nghĩ đến hình bóng của Vân Lối, nghe tiếng suối reo thì nghĩ đến tiếng gọi của Vân Lối, nhưng đột nhiên tiếng gọi ngọt ngào ấy đã vỡ vụn trong tiếng đóng cửa, Trương Đan Phong mãi mãi không quên âm thanh ấy. Âm thanh ấy đang theo đuổi chàng, chàng không dám xuống núi, chàng cứ chạy thẳng về phía trước, tựa như chàng đang muốn trốn chạy âm thanh ấy, trốn chạy thế giới ở phía dưới chân núi.
Đến hoàng hôn ngày hôm sau chàng đã lên đến đỉnh núi, chàng dừng chân thì cảm thấy trong bụng đói khát, lúc này mới nhớ lương khô đã hết, cả ngày nay vẫn chưa bỏ thứ gì vào bụng, cơn đói giúp chàng tỉnh táo hơn, chàng nghĩ mình phải nên ăn một chút gì đó, ngẩng đầu nhìn lên chỉ thấy khói bay lãng bãng trong chiều.
Trương Đan Phong nào biết đó chính là nơi ở của Thượng Quang Thiên Dã. Lúc này chàng chỉ biết tìm thức ăn, chàng chạy đến đẩy cửa, hai cánh cửa đá khép chặt, hai cánh cửa đá trước mặt biến thành cánh cửa của nhà Vân Lối! Chàng cứ nghĩ bên trong có Vân Lối, không biết chàng lấy sức ở đâu ra mà vỗ mạnh vào cánh cửa đá hai chưởng, cánh cửa đá bị bật ra.
Chợt nghe bên trong có tiếng cười lạnh: “Ai mà lớn gan đến quấy nhiễu ta?”
Tiếng cười ấy tựa như dao đâm vào tai chàng, Trương Đan Phong giật mình, tiếng cười đáng sợ này tựa như cú kêu trong đêm, chẳng giống gì tiếng cười của Vân Lối, chàng còn đến đây làm gì? Chỉ trong chốc lát thần trí Trương Đan Phong lại mơ hồ, chợt thấy mấy bóng đen lao về phía mình, Trương Đan Phong vung tay điểm vào mấy bóng đen ấy, chỉ nghe mấy tiếng đổ sầm vang lên, mấy bóng đen ngã xuống đất. Lúc này một bóng đen xuất hiện, người chưa tới thì kình phong đã tới trước, Trương Đan Phong chợt cảm thấy trời xoay đất chuyển, thế là đổ sầm xuống, bất tỉnh nhân sự.
Những kẻ bị chàng điểm huyệt ngã xuống là tùng của Thượng Quang Thiên Dã, lúc này Thượng Quang Thiên Dã đã bước ra khỏi mật thất.
Thượng Quang Thiên Dã võ công trùm đời, đã ẩn cư ở đây mấy mươi năm, cao thủ trong võ lâm không ai dám đến gần, nhưng không ngờ Trương Đan Phong đã đánh vỡ cửa đá của lão ta. Lúc đầu Thượng Quang Thiên Dã còn tưởng là Huyền Cơ Dật Sĩ, nhưng nghĩ lại thì thấy Huyền Cơ Dật Sĩ không vô phép như thế, trong lòng rất ngạc nhiên, cho nên dùng công phu Nhất chỉ thiền điểm ngã Trương Đan Phong rồi vội vàng đốt đèn lên, xem thử kẻ nào đã dám héo lánh đến đây!
Thượng Quang Thiên Dã vừa nhìn thì càng kinh ngạc hơn, chỉ thấy có một thiếu niên mặt đẹp như ngọc nằm ở dưới đất, nhưng bề ngoài tiều tụy, tựa như bệnh mà không phải bệnh, xem ra chỉ khoảng hai mươi tuổi. Thượng Quang Thiên Dã học rộng hiểu nhiều, vừa nhìn thì đã biết chắc chắn có uẩn khúc, rồi bắt mạch cho Trương Đan Phong. Thượng Quang Thiên Dã vừa chạm vào mạch của chàng thì không khỏi kinh hãi.
Nhất chỉ thiền công của Thượng Quang Thiên Dã đã luyện đến mức xuất thần nhập hóa, lúc nãy lão điểm vào huyệt Nhuyễn Ma dưới be sườn của Trương Đan Phong, theo lý, những mạch máu gần đó đều bị ngưng trệ, mạch tượng cũng sẽ bị chặn lại. Nhưng mạch của Trương Đan Phong vẫn nhảy như thường, chỉ có hiện tượng hư nhược mà thôi, người tinh thông y thuật sẽ biết ngay đó là do đói khát mà ra chứ không phải là do bị điểm huyệt.
Thượng Quang Thiên Dã nghĩ bụng: “Nếu đây là cao thủ tuyệt đỉnh, có thể dùng Bế huyệt pháp chống lại Nhất chỉ thiền công của mình, nhưng nếu dùng Bế huyệt pháp mà vẫn bị điểm trúng, cũng không đến nỗi hôn mê, vả lại mạch tượng không có hiện tượng bị bế huyệt. Kẻ này đã bị điểm ngã, lại không hề bị tổn thương, không biết là vì nguyên cớ gì? Chả lẽ trên đời này còn có loại nội công nào thần kỳ mà mình không biết?”
Thượng Quang Thiên Dã không ngờ rằng, trên đời còn có một loại nội công mà y không biết, đó chính là công phu trong Huyền công yếu quyết của Bành hòa thượng. Nội công của Thượng Quang Thiên Dã đi theo con đường quái dị, lợi hại đến cực điểm nhưng không chính tông bằng huyền công của Bành hòa thượng. Do đó công lực của Trương Đan Phong tuy kém xa Thượng Quang Thiên Dã, tuy bị lão ta dùng Nhất thiền công từ xa điểm tới huyệt đạo, hôn mê nhưng không hề bị tổn thương.
Thượng Quang Thiên Dã lại nghĩ: “Thiếu niên này tuổi còn trẻ, trong lúc đói khát mà vẫn có thể dễ dàng chế phục bốn người hầu của mình, lẽ ra phải có công lực đến hai ba mươi năm, chả lẽ y đã luyện võ công từ khi nằm trong bụng mẹ?” Rồi thầm kinh: “Chả lẽ y là đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ?” Nhưng nghĩ lại dù cho là đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ, tuổi còn trẻ thế này cũng không thể có được võ công như thế, vả lại công phu mà y chống đỡ Nhất thiền công cũng chẳng giống công phu của Huyền Cơ Dật Sĩ.
Thượng Quang Thiên Dã rất thắc mắc, lão ta tuy bị người ta coi là ma đầu nhưng cũng có lòng mến tài, thế rồi mới cứu tỉnh Trương Đan Phong. Trương Đan Phong mờ hồ, mắt chẳng mở ra được, cũng chẳng biết mình đã làm chuyện gì, chàng vừa tỉnh đã kêu lên: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ”.
Thượng Quang Thiên Dã đổ chén trà vào miệng chàng, chỉ nghe Trương Đan Phong lại kêu lên: “Ôi, ôi, tiểu huynh đệ, đệ không thích rượu sữa ngựa, ta cũng không uống rượu sữa ngựa”.
Thượng Quang Thiên Dã nghĩ bụng: “Gã này đã mê loạn thần trí, hèn gì trong mạch tượng có hiện tượng tâm hỏa trì trệ”. Thế rồi nói: “Được, ngươi không uống sữa ngựa, vậy ta sẽ cho ngươi uống sữa”. Rồi lấy sữa lên cho chàng. Trương Đan Phong mơ hồ uống cạn chén sữa, kêu lên: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ, thế mới là hảo huynh đệ của ta, ta đã bước vào, đệ không đuổi ta được nữa! Ha ha, đệ không đuổi ta được nữa!” Rồi chàn ngủ say, quả thật đã quá mệt nhọc.
Thượng Quang Thiên Dã bỗng nhiên cảm thấy mình có duyên với thiếu niên này, nghĩ bụng: “Mình đã bỏ tuyết sâm vào chén sữa lúc nãy, có thể dưỡng khí hoạt huyết, dù y có ngủ một ngày không ăn cũng chẳng sao”.
Rồi đưa Trương Đan Phong về phòng của mình, đặt chàng lên cái giường ngọc.
Trương Đan Phong tỉnh dậy thì đã đến chiều ngày hôm sau, thoang thỏang hương thơm xông vào mũi, chàng mở mắt ra thì thấy ánh mắt trời len vào khe cửa, ở cửa sổ có một châu chi lan, trong phòng sắp xếp rất trang nhã, trên tường có một bức tranh vẽ, trong tranh là một mảnh rừng Tử trúc, trong rừng có nàng thiếu nữ mặc áo tím, nét mặt như cười như giận. Trương Đan Phong thầm nhủ: Hình như chàng đã thấy cảnh tượng trong bức tranh ở đâu đó, cả thiếu nữ trong bức tranh cũng thế. Chàng đọc lại hai câu đối trên cửa sổ: “Khó phân ân oán khó quên nàng, chỉ có tình si mới là thật”.
Chàng ngồi thẫn thờ, chỉ cảm thấy hình bóng của Vân Lối hiện ra trước mặt, thiếu nữ trong rừng tử trúc đột nhiên trở thành Vân Lối, tựa như bước ra khỏi bức tranh, trong chớp mắt lại biến mất. Trương Đan Phong lẩm bẩm: “Trên đời này đâu có ai sánh bằng tiểu huynh đệ của mình, thiếu nữ trong bức tranh tuy đẹp nhưng cũng không bằng nàng”.
Rồi chàng lấy giấy và bút trên bàn, bắt đầu vẽ từng bức tranh, có bức là Vân Lối đang e thẹn, có bức là Vân Lối mỉm cười, có bức là Vân Lối giận dỗi, chàng đã vẽ một bức miêu tả cảnh nàng và mình cùng phóng ngựa. Vẽ xong thì buông bút khóc hu hu.
Chợt có người vỗ nhẹ lên vai chàng, ngẩng đầu nhìn lên chỉ thấy một ông già tóc bạc trắng, tướng mạo tuy hung dữ, nhưng ánh mắt đầy vẻ quan tâm và thông cảm, chỉ nghe ông ta mỉm cười nói: “Ngươi là ai? Tại sao ngươi khóc?”
Trương Đan Phong nói: “Ông là ai, tại sao ông cười?”
Ông già ấy cười ha hả: “Không ngờ trong chốn trời đất lại có hai kẻ si tình như chúng ta!”
Hai người nhìn nhau khóc một hồi rồi lại cười một hồi, ông già ấy nói: “Đêm qua ngươi cứ gọi tiểu huynh đệ mãi, tiểu huynh đệ của ngươi ở đâu?”
Trương Đan Phong chẳng nói chẳng rằng, lật mười mấy bức tranh của Vân Lối ra xem lại, rồi lại khóc lên hu hu.
Ông già ấy nói: “Đây chính là tiểu huynh đệ của ngươi?”
Trương Đan Phong kêu lên: “Sao ông dám trợn mắt nhìn tiểu huynh đệ của tôi, hừ, hừ, tôi sẽ đánh ông già chẳng biết phép tắc này”. Thế rồi quét qua một chưởng, ông già ấy chỉ điểm nhẹ lại, Kim Cương chưởng lực của Trương Đan Phong hoàn toàn tiêu biến, chàng lại buông giọng khóc: “Ôi, ôi, huynh không cho người khác nhìn đệ, tại sao đệ lại trợn mắt nhìn huynh?” Té ra bức tranh trong tay chàng là bức tranh Vân Lối nổi giận.
Ông già ấy thở dài, lẩm bẩm: “Mấy mươi năm về trước, nếu có người dám nhìn Chi Lan của ta, ta sẽ đánh y”.
Trong khoảnh khắc, chỉ cảm thấy thiếu niên ở trước mặt này chính là hình bóng năm xưa của mình, bất giác hỏi: “Tại sao tiểu huynh đệ của ngươi lại xa ngươi?”
Trương Đan Phong trừng mắt nhìn ông già, nói: “Ông có biết cả, còn hỏi tôi?”
Ông già ấy ngạc nhiên: “Sao?”
Trương Đan Phong nói: “Khó quên ân oán khó quên nàng, chỉ có tình si mới là thật. Chẳng phải ông đã viết như thế sao? Nếu ông không biết chuyện giữa ta và Vân Lối, tại sao còn viết ra câu đối này?” Ông già nghe chàng nói bất giác ngẩn người ra, nghĩ bụng: “Té ra ân oán khó quên, tương tự tình nghiệt đều như nhau cả”.
Thế rồi vỗ bàn cười lớn: “Ba mươi năm trước là ta, ba mươi năm sau là ngươi, chúng ta đều như nhau cả, hãy để những kẻ si tình trong thiên hạ cùng khóc với nhau!”
Rồi tiếng cười chợt dứt, lại ôm đầu cùng khóc với Trương Đan Phong, tiếng khóc vang xa, bọn người hầu trong thạch thất đều ngạc nhiên nhìn nhau, bọn họ tưởng rằng Thượng Quang Thiên Dã sẽ giết thiếu niên này, nào ngờ họ lại giống như tri kỷ, vừa gặp mặt đã cười khóc mãi không thôi. Bọn người hầu này theo Thượng Quang Thiên Dã đã nhiều năm, tuy biết lão buồn vui vô thường, nhưng chưa bao giờ quái dị như lúc này!
Hai người khóc một hồi, ông già ấy nói: “Hôm nay khóc quả thực thống khoái, ha ha, bao nhiêu nỗi u uất trong ba mươi năm, hôm nay mới gặp kẻ đồng bệnh tương lân!”
Rồi tiếng khóc chợt trở thành tiếng cười, Trương Đan Phong bất giác cũng cười theo ông ta, nhưng chàng cảm thấy sau khi khóc thì lòng dạ thỏai mái hơn nhiều, đầu óc dần dần tỉnh táo, bất giác hỏi: “Sao tôi lại đến đây?” Ông già ấy nói: “Đúng thế, ta cũng định hỏi ngươi, sao ngươi lại đến đây?”
Trương Đan Phong vắt óc suy nghĩ, nhưng chàng không biết tại sao mình lại đến nơi này, chàng chỉ nhớ nổi chuyện giữa mình với Vân Lối, nhớ nhà của Vân Lối ở thung lũng phía nam núi này, hình như sau khi mình bị nàng nhốt bên ngoài thì chạy đến đây, Trương Đan Phong cảm thấy rằng ông già này chịu nghe tâm sự của mình, rồi chàng để cho ông già biết tâm sư của chàng.
Vì thế Trương Đan Phong bắt đầu kể lại mối ân oán tình nghiệt giữa mình với Vân Lối, chàng kể chẳng ra đầu ra đuôi gì cả, có lúc sót mất một đoạn, kể xong một đoạn dài thì quay lại bổ sung, hầu như chẳng kết nối được với nhau. Ông già nghe xong thì hỏi: “Ai truyền võ công cho ngươi và ả?”
Trương Đan Phong nói: “Tôi và nàng là đồng môn, nàng và tôi là đồng môn, sư phụ của tôi là ai? Sư phụ của nàng là ai?” Chàng lại nhăn mặt suy nghĩ, nhưng chẳng nhớ ra được. Ông già ấy nói: “Ngươi đã nghe thấy tên Huyền Cơ Dật Sĩ hay chưa?”
Trương Đan Phong chợt vỗ mạnh vào trán mình, kêu lên: “Đúng thế, tôi đã nhớ, sư tổ của tôi tên là Huyền Cơ Dật Sĩ, Huyền Cơ Dật Sĩ là sư tổ của tôi. Huyền Cơ Dật Sĩ truyền hai bộ kiếm pháp cho hai đệ tử, hai người này chính là sư phụ của tôi và nàng. Nhưng tôi không nhớ sư phụ của tôi là ai, sau này hai chúng tôi gặp nhau, song kiếm hợp bích thì thiên hạ vô địch, ha ha, thiên hạ vô địch!”
Ông già ấy ban đầu thì biến sắc, kế đến cả cười, nghĩ bụng: “Thiếu niên này điên khùng quá đỗi, tịnh dưỡng một ngày một đêm mà thần trí vẫn mơ hồ như thế. Nếu y là đồ tôn của Huyền Cơ Dật Sĩ, tại sao lại luyện tập võ nghệ ở kinh thành Ngõa Thích? Còn người kia nhỏ tuổi hơn y, tại sao lại chạy đến núi Tiểu Hàn diện bích mười hai năm? Học xong võ nghệ lại phải diện bích mười hai năm mới gặp y, há chẳng phải sẽ trở thành một bà cô già hay sao? Làm sao chẳng biết kiếm pháp của đối phương, mà có thể phối hợp đến kín kẽ? Lại còn bảo thiên hạ vô địch, chẳng phải là nói mê hay sao? Lại nói công lực của y, nếu bảo là đồ đệ của Huyền Cơ Dật Sĩ mình còn có thể tin, nếu là đồ tôn của Huyền Cơ Dật Sĩ làm sao có thể chống nỗi một chưởng của mình? Có lẽ sư phụ của y là dị nhân võ lâm không lộ danh tánh, có lẽ y nghe tên của Huyền Cơ Dật Sĩ thì cứ nhận bừa là sư tổ của mình”.
Thượng Quang Thiên Dã nào biết rằng, Trương Đan Phong nói toàn là sự thực, nhưng không rõ ràng, chàng vốn nhớ rằng sư phụ của Vân Lối bị phạt diện bích ở núi Tiểu Hàn mười hai năm, nhưng lại nói chẳng ra đầu ra đuôi khiến cho Thượng Quang Thiên Dã hiểu nhầm rằng chàng nói Vân Lối, lại thêm nội công đêm qua mà chàng sử dụng không giống với Huyền Cơ Dật Sĩ cho nên Thượng Quang Thiên Dã không tin.
Trương Đan Phong nói xong thì hỏi: “Ông là? Ông ở đây làm gì? Chả lẽ tiểu huynh đệ của ông cũng xa rời ông hay sao?”
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Đúng thế, tiểu huynh đệ của ta thà diện bích ở rừng Tử trúc ba mươi năm cũng không muốn đến núi Tuyết Sơn gặp mặt ta. Ôi, tiểu huynh đệ, ta sẽ kể cho ngươi nghe một câu chuyện này.
Ba mươi năm trước, có một đạo tặc lục lâm và một kiếm khách võ lâm, hai người đều tự cho là thiên hạ vô địch... không... không phải là tự khen, song kiếm hợp bích mà ngươi nói thiên hạ vô địch là giả, hai người họ mới thật sự là thiên hạ vô địch”.
Trương Đan Phong nói: “Vậy rốt cuộc ai mới là thiên hạ vô địch?”
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Đến giờ vẫn không biết, nếu ngươi muốn biết thì ở đây thêm vài ngày nữa. Ta đang kể chuyện hai kẻ ấy tự phụ thiên hạ vô địch, nhưng lại yêu một thiếu nữ cũng tự phụ thiên hạ vô địch, thiếu nữ và lục lâm đạo tặc cãi nhau thì nhiều, vui vẻ thì ít, có lẽ danh tiếng của y không tốt cho nên tuy nàng không thích tính tình của tên kiếm khách kia, nhưng lại thường tìm đến y. Tên kiếm khách ấy thật xấu xa, hắn vì đối đầu với kẻ đại đạo nên thường cố ý hạnh hạ nàng ta để làm cho tên đại đạo đau lòng. Đại đạo ấy nổi giận, tỉ thí ba ngày ba đêm với y trên đỉnh Nga Mi nhưng không phân thắng bại, đại đạo ấy rửa tay gác kiếm, mai danh ẩn tích ở Mông Cổ, y vốn là kẻ anh hùng trọng anh hùng, có ý nhường người mà y yêu thương cho kiếm khách ấy, hừ, hừ, ai ngờ tên kiếm khách lại là kẻ xấu xa cùng cực”.
Trương Đan Phong hỏi: “Sau đó như thế nào?”
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Sau khi tỉ võ, kiếm khách ấy bỏ rơi nàng thiếu nữ ấy, không thèm màng đến nàng ta, để nàng ta một mình đau khổ trong rừng Tử trúc”.
Trương Đan Phong nói: “Ồ, kiếm khách ấy thật xấu, sao lại bỏ rơi một người chung tình với mình”.
Chàng không biết kiếm khách mà Thượng Quang Thiên Dã nói chính là sư tổ Huyền Cơ Dật Sĩ của chàng, còn tên đại đạo chính là bản thân lão ta, nàng thiếu nữ kia là bà lão trong rừng Tử trúc, bà ta họ Tiêu tên Vận Lan, Thượng Quang Thiên Dã trồng một châu chi lan trong thư phòng là để nhớ đến bà.
Nhưng Thượng Quang Thiên Dã kể chưa đủ, Thượng Quang Thiên Dã yêu Tiêu Vận Lan, còn Huyền Cơ Dật Sĩ thì không, họ không hợp tính nhau cũng là sự thực, vốn chẳng phải vì chuyện tình yêu. Thời còn trẻ Tiêu Vận Lan võ công rất cao, bề ngoài lại xinh xắn, bởi vì bà có một ước muốn rất kỳ quái, bà muốn anh hùng trong thiên hạ đều phải quỳ xuống dưới chân mình, bà không hề yêu Thượng Quang Thiên Dã, nhưng lại cảm thấy thỏa mãn vì được Thượng Quang Thiên Dã theo đuổi. Huyền Cơ Dật Sĩ không thích tính tình của bà ta nên xa rời bà ta, bà ta lại cứ muốn quấy rối Huyền Cơ Dật Sĩ. Dục vọng thỏa mãn bản thân càng mạnh mẽ, bà ta càng mong muốn hai người tự xưng là thiên hạ vô địch đều chết vì bà ta, ít nhất cũng phải tử chiến vì bà ta, bởi vậy bà mới cố ý gây hiềm khích giữa hai người, khiến cho hai người quyết đầu. Thượng Quang Thiên Dã một lòng yêu bà, đương nhiên trúng kế, Huyền Cơ Dật Sĩ vốn muốn né tránh, nhưng bị Thượng Quang Thiên Dã bức bách, ông ta lại không muốn nói xấu Tiêu Vận Lan trước mặt Thượng Quang Thiên Dã, thành thử không thể nào vạch trần dụng tâm của bà. Bởi vậy mới tỉ võ ba ngày ba đêm trên đỉnh Nga Mi. Sau khi tỉ võ, Huyền Cơ Dật Sĩ cảm thấy phụ nữ trong thiên hạ đều là mối họa cho nên tính tình thay đổi, không thèm ngó ngàng gì đến Tiêu Vận Lan, né tránh bà ta như rắn rết. Chỉ vì muốn thỏa mãn lòng tự ái mà trái lại đã khiến cho hai bậc kỳ sĩ trong võ lâm xa rời bà ta, Tiêu Vận Lan cảm thấy lòng tự ái của mình bị tổn thương, vì thế cũng biến mất khỏi giang hồ.
Trương Đan Phong không biết nội tình, chỉ cảm thấy một người thì không nên bỏ bê người yêu mình, cũng giống như Vân Lối bỏ rơi chàng, cho nên mới học theo giọng điệu của Thượng Quang Thiên Dã trách cứ kiếm khách kia, hai người nói chuyện rất hợp nhau, Thượng Quang Thiên Dã giữ chàng lại, bảo chàng mỗi ngày phải dùng nội công tự trị, mong rằng sau mấy ngày tịnh dưỡng thì chàng dần dần khôi phục trí nhớ.
Thượng Quang Thiên Dã bỏ ra ngoài, Trương Đan Phong chợt nhớ lại câu chuyện tỉ võ ở núi Nga Mi, hình như chàng đã nghe ai nói tới, nhưng lại không nhớ ra nổi, chỉ ngờ ngợ rằng hai người này có một người quan hệ rất lớn với mình.
Thượng Quang Thiên Dã hiểu biết rộng rãi, mỗi ngày đều nói chuyện của Trương Đan Phong, hai người đều tự nhận mình là kẻ tình si, khi nói đến chỗ đau lòng thì ôm đầu khóc lớn, khi nói đến chỗ khoái chí thì cười to, cứ như thế mấy ngày trôi qua, bao nhiêu nỗi u uất trong lòng Trương Đan Phong dần dần tiêu tan, thần trí đã tỉnh táo hơn trước rất nhiều. Một ngày chàng đang suy nghĩ thì chợt nhớ sư phụ của mình đã hẹn mình lên núi gặp một ma đầu nào đó, nhưng chàng không nhớ nỗi tên của ma đầu này. Đang định tìm Thượng Quang Thiên Dã hỏi thử trên võ lâm có ma đầu nào cực kỳ lợi hại hay không, chợt nghe Thượng Quang Thiên Dã bên ngoài đang lớn giọng nói chuyện, tựa như đang nổi giận.
Thượng Quang Thiên Dã đang mắng rằng: “Ô Mông Phu, nhà ngươi còn có gan đến gặp ta hay sao?”
Giọng nói của một hán tử trung niên vang lên: “Từ ngày rời khỏi sư môn, con vẫn ngày đêm luyện tập Nhất chỉ thiền công, mong sư phụ cho con trở lại sư môn”.
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Luyện loại công phu thượng thừa này suốt đời không được kết hôn, ngươi lại có dục niệm, đã phạm vào lời thề khi ngươi mới vào sư môn, ta làm sao có thể thu lại ngươi. Ngươi không học được công phu thượng thừa, không đấu lại đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ, mặt mũi của ta còn để đâu?”
Hán tử ấy nói: “Từ rày về sau con thề không động lòng nữa, mong lấy công chuộc tội”.
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Ngươi có công lao gì?”
Hán tử ấy nói: “Con đã tìm ra bí mật võ công của Huyền Cơ Dật Sĩ”.
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Bí mật gì, ngươi hãy nói thử xem”.
Giọng nói tuy rất bình thản nhưng trong lòng lại rất kích động. Hán tử ấy nói: “Con đã động thủ với đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ ở ngoài Nhạn Môn quan, bọn chúng chẳng hơn đệ tử bao nhiêu, nhưng bọn bọn chúng có một bộ võ công cực kỳ lợi hại...”.
Thượng Quang Thiên Dã vội nói: “Võ công gì, có hơn được Nhất chỉ thiền công của ta không?”
Hán tử ấy nói: “Loại võ công này không cùng một đường với Nhất chỉ thiền công, chúng có một bộ kiếm pháp hai người luyện, nếu song kiếm hợp bích thì lợi hại vô cùng!”
Thượng Quang Thiên Dã kêu lên với giọng ngạc nhiên: “Cái gì, song kiếm hợp bích? Có thực là song kiếm hợp bích hay không? Ta không tin có thể vô địch thiên hạ!”
Trương Đan Phong nghe xong cũng ngạc nhiên, chàng chợt như hiểu ra mọi chuyện, nghĩ bụng: “Sư tổ của mình là Huyền Cơ Dật Sĩ, bộ song kiếm hợp bích này là tuyệt kỷ của mình và Vân Lối. Té ra ông già này chính là lão ma đầu mà sư phụ phải đến gặp!”
Trương Đan Phong nhớ lại tình hình mấy ngày hôm nay, nghĩ bụng: “Mấy ngày hôm nay mình ở cùng lão ma đầu, nhưng lão ta thật sự chẳng có gì đáng sợ!” rồi lại nghĩ: “Không biết tại sao sư tổ lại kết oán với lão? Chả lẽ hai kỳ sĩ tự xưng vô địch thiên hạ chính là lão và sư tổ?” Chàng đang lần tìm manh mối để dò ra lai lịch của mình, chợt nghe Thượng Quang Thiên Dã lại mắng: “Ai dẫn ngươi lên núi, có phải là ả nha đầu Tiên Vận hay không?”
Hán tử ấy nói: “Đúng là sư muội. Sư phụ hãy yên tâm, con sẽ chẳng nói chuyện hôn nhân với sư muội nữa”.
Thượng Quang Thiên Dã gằng giọng: “Trước khi gặp ta, ngươi đã hẹn sư muội trước, như thế đã phạm vào giới quy, ngươi có biết sai chưa? Giờ đây hãy vào tịnh thất sám hối, nếu ta chưa cho phép thì không được tự tiện rời khỏi nơi này”.
Thượng Quang Thiên Dã mắng rất dữ, nhưng thực sự là đã cho phép y trở lại sư môn, Ô Mông Phu cả mừng, khấu đầu tạ ơn. Trương Đan Phong thì nghĩ bụng: “Lão ma đầu này quả nhiên chẳng hiểu lòng người, lão tự cho mình là kẻ si tình, nhưng lại không cho phép đệ tử kết hôn”.
Thượng Quang Thiên Dã nhốt Ô Mông Phu vào tịnh thất rồi dặn những kẻ hầu hạ: “Giờ đây ta phải vào tịnh thất luyện công, ngoại trừ đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ đến đây, nếu không không được vào quấy rối ta”.
Nói xong thì bỏ đi, bên ngoài lại tĩnh lặng.
Trương Đan Phong càng nghĩ càng thấy hán tử ấy đáng thương, chàng bước ra khỏi thư phòng, kéo người hầu lại hỏi hán tử ấy bị nhốt ở đâu, người hầu thấy chàng là người gần gũi Thượng Quang Thiên Dã nhất trong mấy năm nay, chưa biết lai lịch của chàng nhưng cũng không dám dấu chàng.
Thế rồi người ấy dắt Trương Đan Phong đến tịnh thất, gõ cửa nói: “Một bằng hữu của sư phụ đến gặp sư huynh, đó là cơ duyên của sư huynh, nếu sư huynh có điều chi khó khăn, có thể nhờ vị khách này cầu xin với sư phụ”.
Ô Mông Phu nghe người hầu nói như thế, lòng rất ngạc nhiên, nhủ thầm: “Sư phụ có vai vế rất cao, ngoại trừ Huyền Cơ Dật Sĩ, trên đời này chẳng ai sánh được, có ai xứng là bằng hữu của người? Mà nghe lời lẽ của người hầu, hình như đó là người bằng hữu ma sư phụ tôn kính”.
Thế rồi cửa phòng mở ra, Trương Đan Phong bước vào, thuận tay đóng cửa lại, Ô Mông Phu ngẩng đầu lên nhìn, bất giác sững ra.
Chợt nghe Ô Mông Phu hỏi với giọng rung rung: “Ngươi... ngươi có phải là đệ tử của Tạ Thiên Hoa đấy không?”
Trương Đan Phong chợt vỡ lẽ ra, cười ha hả: “Đúng thế, sư phụ của ta là Tạ Thiên Hoa, Tạ Thiên Hoa là sư phụ ta!”
Ô Mông Phu thấy thần thái của chàng lạ thường, hình như đã quên chuyện gì đó, chợt có người nhắc nhở, vừa kinh hãi vừa mừng rỡ, tựa như vừa mới tỉnh giấc mộng, lại hỏi: “Hai phái chúng ta có thù lớn với nhau, ngươi là kẻ đối địch với ta, ngươi có biết không?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, các người là đối thủ của chúng ta, ta đã nhớ lại, ta và ngươi đã giao thủ hai lần, một lần ở sơn trại, một lần ở bên ngoài Nhạn Môn quan”.
Chàng tuy đã nhớ lại, nhưng vẫn ngờ ngợ rằng chàng giao thủ với Ô Mông Phu không đơn giản chỉ vì ân oán của hai phái. Ô Mông Phu nói: “Tại sao ngươi đến đây?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, tại sao ta đến đây?” rồi chợt ngẩng đầu ngâm rằng: “Khó quên ân oán khó quên nàng, chỉ có tình si mới là thật. Này, ngươi có si tình không?”
Ô Mông Phu nói: “Ngươi nói gì?”
Trương Đan Phong cười lớn: “Ta bảo ngươi chẳng phải si tình, tại sao ngươi bỏ rơi sư muội của ngươi?”
Trương Đan Phong tựa như điên mà không phải điên, nhưng đã đụng chạm tới tâm sự của Ô Mông Phu, Ô Mông Phu lớn giọng nói: “Ai bảo ta bỏ rơi nàng?”
Trương Đan Phong nói: “Tại sao ngươi không dám bàn chuyện hôn nhân với nàng?”
Ô Mông Phu nói: “Ngươi biết cái gì? Võ công thượng thừa của phái ta phải giữ thân đồng tử, nếu kết hôn thì làm sao học được”.
Trương Đan Phong cả cười: “Sao lại có đạo lý ấy? Trừ phi cái ngươi học chẳng phải nội công huyền môn chính tông. Nào, ta sẽ cho ngươi mở rộng tầm mắt”. Rồi lấy ra quyển Huyền công yếu quyết nói: “Ta sẽ cho ngươi mượn quyển sách này, ngươi hãy lấy loại huyền công này làm nền tảng, luyện lại Nhất chỉ thiền của ngươi. Nếu Thượng Quan lão ma cứ cấm không cho ngươi nghĩ đến chuyện hôn nhân nữa, ngươi hãy đưa quyển sách này cho lão xem, nếu vẫn không chịu, ta sẽ giúp ngươi đánh lão một trận, lại còn xé nát câu đối của lão”.
Ô Mông Phu từ lâu đã muốn có được quyển Huyền công yếu quyết, thấy thế thì cả mừng, lại thấy Trương Đan Phong giở điên giở dại, sợ rằng chàng sẽ đổi ý, vội vàng nói: “Được được, xem đa tạ ngươi. Ngươi hãy mau quay về để sư phụ ta khỏi trách”.
Trương Đan Phong cười lớn, bước về thư phòng, đắc ý vô cùng. Chàng nhớ lại chuyện xưa tổn thương tinh thần, bất giác gục đầu ngủ thiếp đi. Không biết ngủ bao lâu thì bên ngoài vọng lại tiếng binh khí giao nhau, Trương Đan Phong nhảy bật dậy chạy ra ngoài, chẳng thấy kẻ hầu hạ nào cả, mở cửa tịnh thất thì Ô Mông Phu đã biến mất. Trương Đan Phong bước ra khỏi thạch thất, chỉ thấy ở bên ngoài có một nam một nữ, tay cầm trường kiếm đang đánh nhau với Thượng Quang Thiên Dã kịch liệt, người nam chính là sư phụ Tạ Thiên Hoa của mình, còn nữ là sư phụ của Vân Lối. Ô Mông Phu và vài kẻ hầu hạ đang đứng một bên. Tạ Thiên Hoa và Phi Thiên Long Nữ thấy Trương Đan Phong đột nhiên từ trong nhà đá chạy ra thì không khỏi ngạc nhiên.
Đó chính là:
Ân oán không đầu ai giải được? Hãy xem dật sĩ đấu ma đầu.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 28
Ngàn dặm xa xôi tìm mẹ ở quê người
Ba mươi năm sau dật sĩ gặp ma đầu
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:26 pm

Hồi 28
Ngàn dặm xa xôi tìm mẹ ở quê người
Ba mươi năm sau dật sĩ gặp ma đầu


Trương Đan Phong thầm kinh, lẩm bẩm: “Ồ, lão đúng là đối đầu với mình!”
Thế rồi lòng hoang mang, đứng ngây người ra đấy.
Chỉ thấy Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh tấn công liên tục như Trường Giang dậy sóng, trong chiêu có chiêu, trong thức có thức, biến hóa vô cùng nhưng lại phối hợp với nhau rất kín kẽ. Nhưng võ công của Thượng Quang Thiên Dã cao đến mức không tưởng tượng nổi, lão ta chỉ dùng đôi chưởng mà có thể chống lại song kiếm hợp bích, mỗi khi giở tay lên là đều tấn công, cho nên nhìn bề ngoài tuy lão ta bị song kiếm hợp bích bao trùm, tựa như một chiếc thuyền con lênh đênh giữa sóng biển, nhưng Trương Đan Phong có thể nhận ra những chiêu số thần kỳ của song kiếm hợp bích đều bị lão nhẹ nhàng hóa giải, cao siêu hơn bà lão trong rừng Tử trúc nhiều! Chàng thầm lo lắng cho sư phụ.
Thượng Quang Thiên Dã cũng kinh hãi, lúc này mới tin Trương Đan Phong không phải nói dối, trên đời quả nhiên có một bộ kiếm pháp thần kỳ, nếu không phải công lực của mình thâm hậu thì đã thất bại, lòng thầm nhủ: “Đệ tử như thế, sư phụ càng ghê gớm hơn”. Lão ta thầm bái phục Huyền Cơ Dật Sĩ, đang lúc nguy cấp. Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh chợt thấy Trương Đan Phong từ trong thạch thất chạy ra, không khỏi ngạc nhiên, họ vốn đã lọt xuống thế hạ phong, lúc này chỉ hơi phân thần thì càng tạo cơ hội cho Thượng Quang Thiên Dã phản công, Thượng Quang Thiên Dã liên tục chém ra ba chưởng đẩy lui hai người mấy bước rồi kêu lên: “Trương Đan Phong, té ra ngươi cũng là môn hạ của Huyền Cơ Dật Sĩ, được thôi, ngươi cũng hãy tới đây!”
Lúc này Trương Đan Phong mới nhớ rõ ràng, sư phụ hẹn mình cùng Vân Lối đến cùng đối phó với lão ma đầu này. Nhưng chàng tuy đã dần tỉnh táo, nhưng trong lòng vẫn hoang mang. Chỉ cảm thấy Thượng Quang Thiên Dã rất hợp với mình, không giống như một ma đầu, lòng thầm nhủ: “Kiếm khách bạc tình trong câu chuyện của lão ta là ai? Có phải là sư tổ của mình không?” Nghe Thượng Quang Thiên Dã kêu như thế, Trương Đan Phong đã nắm lấy chui kiếm nhưng vẫn nấn ná, chỉ mở to mắt nhìn mà chẳng biết ứng phó thế nào.
Ô Mông Phu thấy bộ dạng ngơ ngẩn của chàng, bước tới vỗ vai chàng nói: “Chúng ta hãy tỉ thí một trận. Xin đa tạ ngươi đã cho mượn quyển Huyền công yếu quyết”.
Ô Mông Phu thật sợ Trương Đan Phong không chống nổi sư phụ của mình cho nên cố ý dụ chàng tỉ thí.
Trương Đan Phong nói: “Đang yên vui tại sao ta với ngươi phải đánh nhau? Này sư phụ của ngươi xuất thân là kiếm khách hay cường đạo?”
Ô Mông Phu nghe chàng ăn nói giở điên giở dại như thế thì không khỏi ngạc nhiên. Tay phải đang định hỏi tiếp, chợt nghe ở phía sau núi vọng lại tiếng binh khí giao nhau, có hai nam một nữ đang vừa đánh vừa chạy, trong chốc lát đã đến gần họ. hai người đàn ông, kẻ đầu trọc là Triều Âm hòa thượng, kẻ mặt đen như nhọ nồi, đầu tóc bù xù chính là Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm, bọn họ bị một người đàn bà tay trái cầm kim câu, tay phải cầm ngân kiếm truy kích, cả hai bên đang đánh nhau rất kịch liệt.
Té ra ngày ấy ở bên ngoài Nhạn Môn quan, Triều Âm hòa thượng nghi ngờ Tạ Thiên Hoa thay lòng đổi dạ, nhưng không đuổi kịp ông ta, đang đi trên thảo nguyên thì gặp Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm, cả hai người đến phủ Thái sư của Dã Tiên quấy rối, sau đó Đổng Nhạc đã tìm đến, giải thích cặn kẽ dụng tâm của Tạ Thiên Hoa, Triều Âm mới biết là hiểu lầm cho nên hối hận. Đổng Nhạc hẹn họ đến núi Đường Cổ Lạp, họ chậm hơn hai người Tạ, Diệp, khi lên đến núi này thì gặp Kim Câu Tiên Tử Lâm Tiên Vận, thế là lao vào nhau. Trong số môn hạ của Thượng Quang Thiên Dã, võ công của Kim Câu Tiên Tử là tinh diệu nhất, tương đương với Tạ Thiên Hoa, Diệp Doanh Doanh, cao hơn Triều Âm hòa thượng rất nhiều, Triều Âm hòa thượng tuy có Chấn Tam Giới giúp đỡ nhưng cũng hơi thua kém.
Thượng Quang Thiên Dã kêu: “Các người đều là môn hạ của Huyền Cơ Dật Sĩ đấy ư? Được, cứ xông lên, các người hãy hợp lực đấu với ta, chỉ cần có thể ngang hàng thì ta có thể nhường cho lão già Huyền Cơ làm Minh chủ võ lâm”.
Lâm Tiên Vận đánh một mạch ra ba câu, hai kiếm, Triều Âm hòa thượng và Tất Đạo Phàm chỉ có thể chống đỡ, Lâm Tiên Vận đột nhiên rút kiếm và câu lại, hai người thâu thế không kịp suýt nữa đã té nhào.
Lâm Tiên Vận cười nói: “Không cần sư phụ để ý đến hai tên này, cứ để bọn chúng nghỉ ngơi một lát”.
Triều Âm hòa thượng và Tất Đạo Phàm đều là người nóng nảy, thế là cả giận nhảy vọt tới, chợt thấy Trương Đan Phong bước đến trước mặt, cứ nhìn chằm chằm vào họ, sắc mặt rất kỳ quái, lẩm bẩm: “Đây là nhị sư bá, còn đây...”.
Tất Đạo Phàm nói: “Trương Đan Phong, ngươi làm gì thế? Không nhận ra ta sao?”
Trương Đan Phong đột nhiên vỗ trán nói: “Đúng thế, ông là Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm!”
Triều Âm hòa thượng nói: “Ta đã hiểu dụng ý sư phụ của ngươi, ta không tính toán chuyện ngày trước ngươi phạm thượng nữa, sao ngươi không đến giúp sư phụ của ngươi?”
Lúc này Trương Đan Phong đang suy nghĩ: “Sư phụ của mình có dụng ý gì?” Chàng ngờ ngợ rằng sư phụ ở trong một ngôi nhà lớn tại kinh thành Ngõa Thích, trong ngôi nhà đó có vươn hoa rất lớn, sư phụ truyền kiếm thuật cho mình trong vườn hoa, lúc này chàng đã nhớ lại thân thế của mình, đang nhớ đến đoạn hai nước Ngõa Thích và Trung Quốc đánh nhau, đang đi theo manh mối này thì chợt nghe tiếng keng keng vang lên, liếc mắt nhìn chỉ thấy Thượng Quang Thiên Dã phất ống tay áo, cuộn kiếm của Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh chạm vào nhau, chiêu số kỳ diệu của song kiếm hợp bích lập tức bị rối loạn. Triều Âm hòa thượng không khỏi kêu hoảng: “Đan Phong, sao ngươi vẫn chưa ra tay!”
Ông ta đã vung thiền trượng định nhảy vọt lên, nhưng bị Kim Câu Tiên Tử nhẹ nhàng chặn lại.
Trương Đan Phong chợt nói: “Nhị sư bá, sư tổ của con là cường đạo hay kiếm khách?”
Lúc này Triều Âm hòa thượng đã rất tức giận, mắng ầm lên: “Ngươi điên rồi ư?”
Trương Đan Phong vẫn cầm chui kiếm, vẫn chưa quyết lòng, chợt thấy ở sườn núi lại có hai người chạy tới, chàng vừa nhìn thì cõi lòng đau nhói lên, khí huyết nhộn nhạo. Té ra có một thiếu nữ đỡ một ông già què đang đi lên núi, đó chính là cha con Vân Lối! Trương Đan Phong hầu như nghi mình đang nằm ác mộng, bất giác kêu lên: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ!”
Chỉ thấy Vân Lối mặt biến sắc, nước mắt tuôn lã chã, cứ nhìn về phía mình mà mím chặt môi chẳng nói lời nào.
Cha của Vân Lối thì đang chống gậy tập tễnh đi lên núi, lướt nhìn Trương Đan Phong với ánh mắt sắc như dao, trong mắt đầy vẻ khinh bỉ oán hận. Trương Đan Phong cảm thấy một dòng khí lạnh dâng lên trong lòng, chợt nghe Triều Âm hòa thượng nói: “Này... ngươi là ai? Ồ, ngươi chẳng phải là Vân Đăng sư đệ đấy ư? Ngươi chưa chết!”
Rồi nhảy vọt tới đỡ Vân Đăng, hai sư huynh đệ nhìn nhau mà rơi nước mắt, Vân Lối đứng một bên cũng rưng rưng lệ, Trương Đan Phong vừa nhìn tới thì nàng đã vội vàng quay đầu né tránh.
Triều Âm hòa thượng ôm Vân Đăng chép miệng: “Mười năm không gặp mà đệ đã ra nông nỗi này ư?”
Triều Âm hòa thượng vốn chỉ lớn hơn Vân Đăng vài tuổi, nhưng lúc này Vân Đăng đã tóc bạc da mồi, trông còn già hơn cả Triều Âm hòa thượng!
Té ra Vân Đăng biết đồng môn sư huynh của mình sẽ gặp nhau trên núi này, ông ta tuy biết Trương Đan Phong cũng sẽ đến, nhưng vì muốn gặp đồng môn nên không ngại gian khổ, bảo con gái đưa lên núi. Mười ngày nay, hai cha con họ đều cố gắng tránh nhắc đến chuyện nhà họ Trương, ngày hôm ấy Vân Đăng cũng biết tình ý của con gái đối với Trương Đan Phong, tuy đã nổi giận nhưng sau đó không nhắc đến, cũng không trách Vân Lối. Vân Lối từ thần sắc của ông ta cũng biết kiếp này chẳng hy vọng trở lại với Trương Đan Phong. Lúc này nàng lòng đau như dao cắt, vừa đau lòng cho cành ngộ của cha mình, vừa thắt ruột cho tình cảnh của mình.
Chợt nghe tiếng binh khí giao nhau, chỉ thấy Thượng Quang Thiên Dã phất ống tay áo, lại cuộn kiếm của Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh lại với nhau, kiếm thế bị rối loạn, càng nhìn thì càng lo lắng.
Vân Lối nghe tiếng quát của Triều Âm hòa thượng, thấy sư phụ lộ vẻ bàng hoàng, chợt nhảy vọt ra, rút cây Thanh Minh kiếm xông vào vòng chiến. Diệp Doanh Doanh nói: “Lui mau!”
Thượng Quang Thiên Dã phất ống tay áo tới, nói: “Ả nha đầu, ngươi cũng muốn xem náo nhiệt ư?” Thế nhưng lão đã nương tay, chỉ dùng ba thành công lực, kiếm thế của Diệp Doanh Doanh bị lão ta cuốn vào kiếm của Vân Lối, Vân Lối thì cảm thấy hổ khẩu tê rần, thanh kiếm suýt tý nữa rơi khỏi tay. Ngay lúc ấy, một ánh bạch quang xẹt tới, Trương Đan Phong cũng nhảy vào trận. Thượng Quang Thiên Dã cười rằng: “Ngươi cũng đến đấy ư?”
Tạ Thiên Hoa chém ngang thanh trường kiếm, ống tay áo của Thượng Quang Thiên Dã chưa kịp rút lại thì nghe soạt một tiếng, đã bị thanh bảo kiếm của Trương Đan Phong chém đứt một mảnh.
Theo lý mà nói võ công của Trương Đan Phong không bằng Tạ Thiên Hoa, kém xa Thượng Quang Thiên Dã, làm sao có thể chém đứt tay áo của lão? Một là vì lúc nãy Thượng Quang Thiên Dã chẳng qua chỉ muốn giật kiếm của Vân Lối, cho nên chỉ dùng có ba phần lực; hai là vì đã bị hai người Tạ, Diệp kìm chế; ba là vì thanh kiếm của Trương Đan Phong chém sắt như bùn.
Thượng Quang Thiên Dã không khỏi thất kinh, thế là vận kình lực phất cả hai ống tay áo, cuộn bốn thanh kiếm kêu leng keng với nhau, miệng khen rằng: “Hay cho thanh kiếm chém sắt như bùn!”
Hai kiếm của Trương, Vân vừa hợp lại đã phân ra, Vân Lối sử dụng một chiêu Lưu Tinh Cản Nguyệt, Trương Đan Phong đánh ra một chiêu Bạch Hồng Quán Nhật, một kiếm đâm vào mặt, một kiếm đâm vào ngực, hai luồng ánh sáng đan chéo vào nhau. Thượng Quang Thiên Dã thối lùi ba bước, ống tay áo thu lại, rồi nhẹ nhàng vỗ ra ba chưởng, Trương Đan Phong không dám tiến tới, lách người né tránh, Thượng Quang Thiên Dã khi xoay người lại hóa giải chiêu số song kiếm hợp bích của Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh.
Cuộc chiến ác liệt vô cùng, bốn người chia làm hai cặp, kết thành một màn kiếm quang, xung quanh tựa như có hàng trăm hàng ngàn thanh kiếm nhốt Thượng Quang Thiên Dã vào ở giữa. Thượng Quang Thiên Dã lúc phất áo lúc phóng chưởng, toàn sử dụng loại công phu thượng thừa nhất, tuy bị màn kiếm quang chụp lại nhưng cũng phản kích liên tục, đôi bên đều khó phân thắng bại.
Triều Âm hòa thượng quên cả nói chuyện, đỡ Vân Đăng đứng xem, Ô Mông Phu và Lâm Tiên Vận cũng há mồm trợn mắt, bất giác đứng gần với nhau. Cuộc chiến đang lúc căng thẳng, chợt nghe tiếng người kêu lên, Ô Mông Phu quay đầu nhìn lại, chỉ thấy có một ông già tuổi khoảng ngũ tuần, trông giống như một ông lão nhà quê hai tay bưng một vật chạy gấp tới. Ô Mông Phu cả kinh, nhận ra ông già ấy chính là đại đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ, Kim Cương Thủ Đổng Nhạc, trong số các đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ, ông ta là người có công lực cao nhất. Ô Mông Phu vẫn chưa biết ông ta đang cầm vật gì, chỉ nghĩ ông ta nhảy đến trợ chiến, chợt nghĩ bụng: “Sư phụ một mình đánh với bốn người, khó khăn lắm mới giữ được cân bằng, nếu lại thêm Đổng Nhạc thì chỉ e sẽ thất bại”.
Đổng Nhạc lướt qua người y, Ô Mông Phu vội vàng trở tay vỗ ra một chưởng, Đổng Nhạc kêu lên: “Đừng hòng vô lễ!” Trong khoảnh khắc chợt thấy Lâm Tiên Vận kéo y lại, Ô Mông Phu chưa kịp thu tay, hai chưởng đã giao nhau, công lực Nhất chỉ thiền của y chỉ dồn ra đến đầu ngón tay thì bị Kim Cương thủ đánh bật ra đến cả hơn một trượng.
Chỉ thấy Đổng Nhạc chạy tới, đột nhiên quỳ xuống đất, lớn giọng nói: “Gia sư sai đệ tử đến thỉnh an tiền bối”.
Té ra ông ta đang bưng bái tráp của Huyền Cơ Dật Sĩ. Theo quy củ giang hồ, Ô Mông Phu không thể ngăn cản người thay mặt một đại tôn sư như Huyền Cơ Dật Sĩ đến bái sơn, còn Thượng Quang Thiên Dã phải đích thân nhận bái tráp. Nhưng Thượng Quang Thiên Dã đang bị bốn người bao vây làm sao có thể nhảy ra được!
Chợt nghe Thượng Quang Thiên Dã cười ha hả, nói: “Không cần đa lễ!”
Chỉ thấy lão vung hai ống tay áo lên, đột nhiên hai bàn tay từ trong hai ống tay áo thò ra, trong chớp mắt đã điểm bốn chỉ về phía bốn người Tạ, Diệp, Trương, Vân, đó chính là Nhất chỉ thiền công lợi hại nhất của lão, bốn người đều bất đồ thối lui một bước. Thượng Quang Thiên Dã phóng vọt người lên, phất ông tay áo xuống tựa như Giao long uống nước, chỉ trong chớp mắt đã cuộn bái tráp trong tay Đổng Nhạc tới, Đổng Nhạc không khỏi kinh hãi. Ông ta không thể nào tưởng tượng nổi Thượng Quang Thiên Dã có thể làm được điều đó. Đổng Nhạc vừa mới thi lễ, đứng qua một bên, chợt nghe Ô Mông Phu, Lâm Tiên Vận kêu thét lên, kiếm của Trương Đan Phong đã đâm vào vai Thượng Quang Thiên Dã.
Té ra Trương Đan Phong đã học kỹ Huyền công yếu quyết, Huyền công yếu quyết giảng về các nguyên lý của võ thuật, nếu hiểu được quyển sách này có thể biết được võ công của các nhà, cho nên sau khi học kỹ Huyền công yếu quyết, không cần thầy dạy mà có thể thông hiểu được tất cả các loại công phu khác. Trương Đan Phong lúc nãy đứng nhìn, thấy Thượng Quang Thiên Dã vận dụng công phu thượng thừa trấn áp uy lực song kiếm hợp bích của Diệp Doanh Doanh và Tạ Thiên Hoa, cho nên chàng đã hiểu đại khái đường lối võ công của lão, sau khi đích thân ra tay thì tiến thêm một bước, đã hiểu được nguyên tắc công thủ ứng phó, chỉ vì công lực quá kém xa cho nên không thể phản công được. Nay Thượng Quang Thiên Dã háo thắng, cố gắng nhận bái tráp khi bị vây công, trong chớp mắt đã gắng gượng đánh ra Nhất chỉ thiền công, đẩy lùi bốn người, tuy rất tinh diệu, nhưng vai trái đã để lộ sơ hở, Trương Đan Phong thừa cơ điểm vào huyệt Kiên Tĩnh trên vai trái của Thượng Quang Thiên Dã. Song kiếm hợp bích đã rất kín kẽ, Trương Đan Phong vừa đánh ra, Vân Lối đương nhiên cũng đâm kiếm ra, soạt một tiếng, đã đâm vào huyệt Kiên Tĩnh trên vai phải của Thượng Quang Thiên Dã.
Huyệt Kiên Tĩnh là một trong ba mươi sáu đại huyệt của con người, nối với xương tỳ bà, nếu bị người ta điểm trúng nặng thì bị tàn phế, nhẹ thì bị tê liệt. Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh vội vàng đâm kiếm ra, định hạ Thượng Quang Thiên Dã. Nào ngờ công phu của Thượng Quang Thiên Dã đã đạt đến mức xuất thần nhập hóa, Trương Đan Phong sắp đâm mũi kiếm vào vai lão, lão ta bỗng trầm vai xuống, một sức mạnh kéo mũi kiếm xuống, khiến chàng không thể nào rút ra được, chỉ đành dùng kình đâm xuống, nhưng mũi kiếm chạm phải một vật mềm mềm, té ra đó là tà áo của lão. Nhìn lại Vân Lối cũng như thế, rõ ràng cây Thanh Minh kiếm đã đâm vào vai phải của Thượng Quang Thiên Dã nhưng cũng trượt sang một bên.
Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh chưa biết y đã hóa giải chiêu kiếm hiểm hóc ấy, thế là cả mừng vung kiếm tiến tới, công phu song kiếm hợp bích của họ hơn hẳn Vân Lối và Trương Đan Phong, chỉ thấy kiếm quang loang loáng, kiếm khí như cầu vồng hợp thành một màn ánh sáng chém thẳng tới ngay eo. Thượng Quang Thiên Dã kêu lên: “Hay lắm!” Thế rồi vung hai ống tay áo, cuộn kiếm của hai người Tạ, Diệp vào trong, phát ra một nguồn kình lực hóa giải kiếm thế.
Cứ như thế hai bên đã rơi vào cục diện giằng co, Thượng Quang Thiên Dã thì dùng hai vai tiếp kiếm của hai người Trương, Vân, hai ông tay áo thì chặn kiếm của hai người Diệp, Tạ, có thể dùng nội kình để chống lại uy lực của hai cặp song kiếm hợp bích, võ công của Thượng Quang Thiên Dã tuy đã đến mức xuất thần nhập hóa nhưng cũng mất sức vô cùng. Nhưng bốn người Tạ, Diệp, Trương, Vân cũng bị nội kình của lão dẫn dắt, không thể nào rút bốn thanh kiếm ra được.
Lúc này tình thế đã rất nguy hiểm, đôi bên đã trở thành thế cỡi cọp, nếu không cẩn thận thì mất mạng, đệ tử của hai bên đều kinh hồn bạt vía, ai cũng toát mồ hôi lạnh, nhưng không ai bước lên hóa giải.
Đang lúc căng thẳng, chợt Thượng Quang Thiên Dã thối lui một bước, vai phải trầm xuống, mũi kiếm hất lên vai của lão, nhưng Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh cũng bước tới phía trước một bước, sắc mặt ngưng trọng, rõ ràng là đang dùng lực. Vân Đăng lo cho con gái, bất giác kêu lên một tiếng, tiếng kêu chưa dứt thì chợt nghe tiếng cười ha hả vang vọng, trong sơn cốc lại xuất hiện thêm một ông già.
Ông già này tướng mạo tiên phong đạo cốt, đôi chân mày đã bạc trắng, nhưng sắc mặt hồng hào tựa như trẻ thơ, tất cả những người đứng ở đây võ công đều cao cường nhưng không biết ông ta đã đến từ lúc nào.
Ông già ấy chính là Huyền Cơ Dật Sĩ. Triều Âm và Vân Đăng vui mừng hớn hở, vừa kêu lên một tiếng sư phụ thì chỉ thấy Huyền Cơ Dật Sĩ đã nhẹ nhàng tiến vào trong trường, cười ha hả, nói: “Bằng hữu, nổi giận với bọn tiểu bối có ích gì!” ông ta đột nhiên quét cây phất trần trong tay, bốn thanh kiếm va vào nhau kêu loảng xoảng, Huyền Cơ Dật Sĩ quát: “Các ngươi đừng hòng vô lễ với bậc trưởng bối, hãy lui xuống cho ta!”
Năm người như trút được gánh nặng. Té ra lúc nãy công phu của Vân Lối kém nhất, bị Thượng Quang Thiên Dã dùng lực dẫn của vai phải húc lấy, suýt nữa không thể chống nổi, nhưng hai người Tạ, Diệp thừa cơ tiến tới, cho nên chiếm được thượng phong. Nếu Huyền Cơ Dật Sĩ không đến thì có lẽ hai bên sẽ rơi vào cục diện lưỡng bại câu thương!
Thượng Quang Thiên Dã thở dài, nói: “Ba mươi năm cũng gặp lại, quả nhiên võ công của ông đã đến mức thông huyền diệu cảnh, tôi không tranh chiếc ghế Minh chủ võ lâm với ông nữa!”
Huyền Cơ Dật Sĩ cười rằng: “Bằng hữu đâu cần khiêm nhường như thế, nói ra tôi còn phải cam bái hạ phong”.
Huyền Cơ Dật Sĩ dốc hết tâm lực cả đời sáng tạo ra hai bộ kiếm pháp, tự cho là vô địch thiên hạ, nào ngờ hai người Tạ, Diệp song kiếm hợp bích mà cũng bị Thượng Quang Thiên Dã khắc chế, lại thêm hai người Trương, Vân chỉ có thể ngang sức với lão, cho nên Huyền Cơ Dật Sĩ khâm phục lão thật sự chứ không phải khách sáo.
Chợt nghe một tiếng tiêu lanh lảnh vang lên, trong khoảnh khắc, lại xuất hiện thêm một người, Trương Đan Phong nhìn lại, té ra đó là bà lão trong rừng Tử trúc. Trong khoảnh khắc này, chỉ thấy Thượng Quang Thiên Dã biến sắc, hạ giọng nói: “Khó quên ân oán khó quên nàng, chỉ có tình si mới là thật”.
Trương Đan Phong buột miệng hỏi: “Trong hai người ai là kiếm khách ai là cường đạo?”
Tạ Thiên Hoa cả kinh nghĩ bụng: “Tại sao Trương Đan Phong lại buông lời vô lễ trước mặt hai vị lão tiền bối thế này?” Thấy bộ dạng thất thần của chàng, trong lòng ông ta rất ngạc nhiên.
Chỉ nghe Thượng Quang Thiên Dã cả cười: “Cần gì phải hỏi thêm ai là kiếm khách ai là cường đạo? Hôm nay kiếm khách cường đạo không đánh không quen biết, ta xin trả lễ!” Thế rồi ngầm vận kình vào mười đầu ngón tay, vung ra một đòn Nhất chỉ thiền công.
Té ra Thượng Quang Thiên Dã tuy đã tỉnh ngộ, nhưng trong lòng vẫn còn một chút ý háo thắng, lão vốn đã muốn cam bái hạ phong, nhưng chợt thấy ý trung nhân ba mươi năm trước tự nhiên xuất hiện cười mà không phải cười, ánh mắt hình như nhìn kẻ đối đầu của lão, lòng mới nổi cơn ghen, ý nghĩ tranh thắng nổi lên, cho nên muốn thử Huyền Cơ Dật Sĩ.
Huyền Cơ Dật Sĩ mỉm cười, hai tay chắp lại, chỉ thấy ống tay áo của Thượng Quang Thiên Dã bồng bềnh tựa như nước hồ mùa xuân. Huyền Cơ Dật Sĩ đột nhiên vái dài nói: “Võ công của lão huynh là thiên hạ đệ nhất, tôi xin cam bái hạ phong!” Thế rồi xoay người toan xuống núi.
Những người xung quanh đều không biết, nhưng bà lão ấy và Thượng Quang Thiên Dã đều biết rằng, Huyền Cơ Dật Sĩ đã nhường một chiêu.
Thượng Quang Thiên Dã xuất chỉ trước nhưng bị chưởng lực của Huyền Cơ Dật Sĩ hóa giải, dư thế vẫn chưa hết, cho nên khiến cho ống tay áo của Thượng Quang Thiên Dã phập phồng. Sau đó Huyền Cơ Dật Sĩ lắc lư người tựa như không chống nổi chỉ lực, nhưng chẳng qua ông ta giả vờ mà thôi.
Huyền Cơ Dật Sĩ nhường một chiêu, xoay người toan bỏ đi, bà lão chợt nhảy vọt tới trước mặt, cây gậy tre móc vào tà áo của Huyền Cơ Dật Sĩ. Huyền Cơ Dật Sĩ cười khổ nói: “Tôi đã nhận thua, bà còn giữ tôi lại làm gì?”
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Lão già Huyền Cơ, ta không nhận ân tình này của ngươi, kẻ đáng ra đi là ta, ngươi cứ ở đây, chỉ mong ngươi đối xử tốt với bà ta!”
Bà lão vẫy tay, Thượng Quang Thiên Dã toan bước tới nhưng lại ngừng, chỉ nghe bà lão cười nói: “Hai người không cần đi đâu cả, luận về võ công, hai người đều là thiên hạ đệ nhất, không cần tranh nhau cũng chẳng cần nhường nhau nữa”.
Bà lão nói rất thiên vị, bởi vì Thượng Quang Thiên Dã đã ác đấu cả nửa ngày, đương nhiên đã hao phí nội kình, cho nên chẳng chống lại nổi Huyền Cơ Dật Sĩ.
Huyền Cơ Dật Sĩ nhíu mày, lòng nhủ thầm: “Nếu bà không muốn xem chúng tôi đánh nhau, có ai muốn phiền phức như thế này”.
Chỉ nghe bà lão chợt thở dài nói: “Thấm thoắt mà đã ba mươi năm trôi qua, bọn người chúng ta đều đã già cả. Giờ đây nghĩ lại những chuyện đã làm thời còn trẻ quả thật rất buồn cười. Đời người có được mấy lúc, nếu cứ như xưa nữa thì bọn hậu bối sẽ cười chê. Mối gút thời còn trẻ không tháo được, lúc già cũng nên tháo. Huyền Cơ ca ca, Thượng Quan đệ đệ, từ rày về sau ba chúng ta không cách xa nhau nữa, cùng nhau nghiên cứu võ công thượng thừa nhất để lại công đức cho bọn hậu bối, há chẳng tốt hay sao?”
Huyền Cơ Dật Sĩ nghe bà ta nói rất thành tâm như thế, không khỏi chột dạ, tâm trạng chán ghét bà ta trong ba mươi năm qua đã hoàn toàn biến mất. Thượng Quang Thiên Dã thì càng xốn xang trong lòng, nghe bà ta gọi ca ca, đệ đệ rất thân thiết, tựa như vẫn là tiểu cô nương kêu vận lang năm xưa, lòng thầm nhủ: “Bà ta quả nhiên đã thấu triệt hơn mình, nút thắt thời còn trẻ không gỡ được, đến già coi như không còn nữa”.
Lão hiểu nút thắt mà Tiêu Vận Lan nói ở đây chính là mối quan hệ yêu đương thù hận giữa ba người bọn họ, nay cả ba đều là những kẻ sắp gần đất xa trời, chẳng thể nào nói chuyện hôn nhân, vậy nếu ba người trở thành tri kỷ, cùng nghiên cứu võ học, chẳng tốt hơn hay sao?
Nhưng tại sao Tiêu Vận Lan đột nhiên lại tỉnh ngộ ra, té ra bà ở trong rừng tử trúc ba mươi năm, lúc đầu rất oán hận Huyền Cơ Dật Sĩ, thất vọng đối với Thượng Quang Thiên Dã, nhưng cuối cùng dần dần hiểu ra rằng tất cả đều do lòng ham thích hư danh của mình mà ra. Kỳ hạn ba mươi năm cũng sắp tới, lòng càng hồi hận hơn, nghĩ bụng không nên vì mình mà khiến cho hai bậc dị nhân trong võ lâm kết oán nhau suốt đời cho nên vội vàng chạy đến đây, lại thấy họ cứ nhường lẫn nhau, cho nên quyết ý hóa giải cho họ.
Thượng Quang Thiên Dã đang suy nghĩ, chợt thấy Lâm Tiên Vận bước đến bẩm cáo: “Xin sư phụ cho phép con đến gặp Ô Mông Phu sư huynh”.
Thượng Quang Thiên Dã liếc mắt nhìn, chỉ thấy Ô Mông Phu đang quỳ gối xuống đất, đầu bốc khói trắng.
Thượng Quang Thiên Dã thất kinh, lộ vẻ ngạc nhiên, nói: “Té ra hắn đã trúng Kim Cương chưởng”.
Đổng Nhạc rất lo lắng, quỳ xuống bẩm cáo với Huyền Cơ Dật Sĩ: “Đệ tử trình bái tráp, trong lúc không cẩn thận đã đả thương y, đệ tử muốn cùng công lực của bản thân giúp y chữa trị”.
Huyền Cơ Dật Sĩ lắc đầu, chợt nói: “Thượng Quan lão huynh, lần này thì tôi thật sự đã khâm phục. Không ngờ đồ đệ của ông cũng có được nội công tinh diệu như thế, lần này mới đúng là công phu thượng thừa thật sự, so ra những điều tôi học trước đây chỉ là những thứ tầm thường”.
Ông ta vừa nói ra, đệ tử của hai phái đều ngạc nhiên, không biết Huyền Cơ Dật Sĩ muốn nói đến loại công phu nào? Thượng Quang Thiên Dã cười khổ sở: “Nếu võ công của ông tầm thường, võ công của tôi chẳng bằng đến bàng môn tả đạo”.
Rồi chậm rãi bước đến trước mặt Ô Mông Phu, đưa tay bắt mạch, sắc mặt lộ vẻ ngạc nhiên. Kim Cương chưởng lực chẳng phải là thứ võ công tầm thường, Ô Mông Phu tiếp một chưởng, với công lực của y ít nhất cũng phải bảy ngày sau mới hồi phục lại, nhưng giờ đây Thượng Quang Thiên Dã bắt mạch mới phát giác loại khí công mà Ô Mông Phu đang vận dụng không phải là tâm pháp mình đã truyền, công lực của y không đột nhiên tăng lên, chỉ vì vận khí đúng cách mà đã chữa trị được vết thương, điều đó quả thực khó hiểu!
Thượng Quang Thiên Dã cười khổ sở, đột nhiên vỗ một chưởng vào lưng Ô Mông Phu, quát lớn: “Lên!”
Ô Mông Phu quả nhiên đứng lên, đi lại như bình thường. Thượng Quang Thiên Dã dùng công lực của bản thân giúp y hồi phục, lập tức hỏi: “Là cao nhân nào đã chỉ điểm cho ngươi? Ngươi có thể theo minh sư khác, không cần theo ta nữa!”
Ô Mông Phu lo lắng vô cùng, nói: “Đệ.... đệ tử vận dụng công phu của phái khác, mong sư phụ thứ tội. Đệ tử không được ai chỉ điểm cả”.
Thượng Quang Thiên Dã cười lạnh: “Không được ai chỉ điểm, vậy là ngươi không thầy mà cũng học được hay sao?” Trương Đan Phong bước ra, thỉnh an sư tổ. Huyền Cơ Dật Sĩ hỏi: “Đây là đệ tử của ai?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Đệ tử Trương Đan Phong do con thu nhận”.
Huyền Cơ Dật Sĩ nói: “Đệ tử của con giỏi hơn đệ tử của ta nhiều. Xem ra thành tựu sau này của hắn hơn hẳn các con, cả ta cũng không bằng hắn”.
Tạ Thiên Hoa vừa lo vừa mừng, nói: “Sư phụ đã quá khen hắn”.
Trương Đan Phong dập đầu mấy cái trước mặt sư tổ, rồi lại thi lễ với Thượng Quang Thiên Dã: “Tôi biết ai chỉ điểm cho ông ta”.
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Là ai?”
Trương Đan Phong nói: “Là một người đã sống cách đây cả trăm năm”.
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Nói bậy”. Thế rồi quay sang Huyền Cơ Dật Sĩ nói: “Đồ tôn của ông ở trong thạch thất của tôi bảy ngày, tôi đã xem mạch tượng của hắn, hình như mắc phải tâm bệnh, thần trí vẫn chưa tỉnh táo, ông phải chữa trị cho hắn”.
Trương Đan Phong chợt cười ha hả nói: “Ai nói thần trí của ta vẫn chưa tỉnh táo? Ta biết ông là một kẻ si tình, ba mươi năm trước là một kẻ cường đạo. Ông tự cho mình là kẻ si tình, nhưng không màng đến sự sống chết của đồ đệ, đã chia rẽ bọn họ, tôi không phục cho nên đã nhờ cổ nhân chỉ điểm cho ông ta”.
Chàng vừa nói ra, mọi người lại kinh hoàng thất sắc, không ngờ Trương Đan Phong lại vô lễ với Thượng Quang Thiên Dã như thế, Huyền Cơ Dật Sĩ chẳng nói chẳng rằng, tựa như đang suy đoán trong lòng, coi lời Trương Đan Phong là sự thực. Thượng Quang Thiên Dã chột dạ, chợt nói: “Ô Mông Phu, hắn nói có thực không?”
Ô Mông Phu nói: “Không sai tý nào”. Rồi lấy ra một quyển sách.
Thượng Quang Thiên Dã cầm lấy quyển sách ấy xem, chỉ thấy ngoài bìa đề bốn chữ Huyền công yếu quyết, phía dưới có viết mất chữ: “Bành Oánh Ngọc viết”. Trương Đan Phong cười ha hả nói: “Tôi có lừa ông hay không? Người này chính là sư phụ của hai vị Hoàng đế năm xưa. Ông hãy tự lật ra mà xem, coi thử có cần giữ thân đồng tử mới học được Nhất chỉ thiền của ông hay không?”
Thượng Quang Thiên Dã kinh hoảng kêu lên: “Té ra sách của Bành hòa thượng nằm trong tay ngươi, là ngươi cho hắn mượn?”
Trương Đan Phong mỉm cười không nói, chợt cao giọng ngâm rằng: “Ông có giọt nước cam lồ, rưới vào khắp cõi nhân gian. Phàm là những người yêu nhau đều trở thành của nhau”.
Thượng Quang Thiên Dã giật mình, Huyền công yếu quyết là vật quý trong võ lâm, Trương Đan Phong vì muốn giúp cho Ô Mông Phu và Lâm Tiên Vận đến với nhau đã cho y xem, quả thật hiếm thấy. Trong khoảnh khắc, bao nhiêu ân oán tình nghiệt trong lòng Thượng Quang Thiên Dã đều tan biến, chợt cười ha hả nói: “Tiểu huynh đệ, chỉ có ngươi, chỉ có ngươi mới là kẻ si tình nhất trong thiên hạ”.
Huyền Cơ Dật Sĩ cười rằng: “Thượng Quan huynh, ông vẫn còn có tánh trẻ con, chẳng khác gì ba mươi năm trước”.
Thượng Quang Thiên Dã nghiêm mặt nhìn Ô Mông Phu, Lâm Tiên Vận nói: “Các người đều là đệ tử giỏi của ta, ta đã hiểu nhầm các người mười mấy năm nay, giờ đây ta không cấm đoán các người nữa, ta sẽ để lại căn thạch thất này lại cho các người”.
Ô Mông Phu và Lâm Tiên Vận đều cả mừng, cả hai quỳ xuống lạy tạ. Thượng Quang Thiên Dã cười rằng: “Các ngươi phải tạ y mới phải”.
Ô Mông Phu mừng rỡ, chẳng màng đến vai vế, thế là quay sang thi lễ với Trương Đan Phong rồi trả Huyền công yếu quyết cho chàng. Y tuy không thông minh như Trương Đan Phong, nhưng trong vòng mấy ngày đã nhớ kỹ các luyện khí trong Huyền công yếu quyết cho nên không cần xem nữa.
Thượng Quang Thiên Dã ngửa mặc cười lớn: “Suốt đời này ta đã đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, nhưng trận hôm nay mới là thống khoái nhất! Không tranh được cái danh thiên hạ đệ nhất, nhưng bao nhiêu ân oán tội nghiệt đều tan biến. Huyền Cơ lão huynh, đã đến lúc chúng ta phải ra đi!”
Rồi chợt liếc mắt nhìn Ô Mông Phu: “Đại sư huynh của ngươi cũng đến, hắn đến thật đúng lúc”.
Đàm Đài Diệt Minh đang bước lên núi, thấy sư phụ đứng sánh vai cùng Huyền Cơ Dật Sĩ thì rất ngạc nhiên, y vốn được Trương Tôn Châu nhờ, nên ngăn không cho Thượng Quang Thiên Dã đả thương Trương Đan Phong. Nhìn thấy tình cảnh này mới nghĩ hai nhà đã hòa thuận với nhau cho nên lòng nhẹ hẳn, liếc mắt sang nhìn lại thấy Ô Mông Phu và Lâm Tiên Vận đứng sánh vai bên cạnh sư phụ tựa như rất thân mật, Đàm Đài Diệt Minh càng không khỏi ngạc nhiên hơn.
Từ nhỏ Trương Đan Phong đã ở bên cạnh Đàm Đài Diệt Minh, thần trí của chàng vốn chỉ hồi phục sáu bảy phần, vừa thấy Đàm Đài Diệt Minh thì những chuyện thời ấu thơ lướt qua trong đầu, chàng cũng đã nhớ lại thân thế và quốc hận gia thù của mình, chàng chạy tới kéo Đàm Đài Diệt Minh nói: “Đàm Đài tướng quân, cha tôi vẫn khỏe chứ?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Ông đang mong công tử trở về”.
Thượng Quang Thiên Dã nói: “Các người đã biết nhau rồi chứ?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Bẩm cáo sư phụ, y là tiểu chủ nhân của con”.
Thượng Quang Thiên Dã cười ha hả nói: “Huyền Cơ lão huynh, xem ra chúng ta đã là người một nhà từ lâu, cần gì phải tranh đấu nữa?”
Thượng Quang Thiên Dã vẫy Đàm Đài Diệt Minh đến trước mặt mình nói: “Ta đã muốn rời khỏi nơi này, Tiên Vận đã theo ta nhiều năm, ta sẽ để căn nhà đá lại làm quà cưới cho hắn, từ hôm nay trở đi, con sẽ là đệ tử trưởng môn của phái chúng ta, con phải đốc thúc sư đệ, sư muội siêng năng luyện công”.
Lâm Tiên Vận xúc động nói: “Sư phụ đang ở đây, cần gì phải ra đi? Hãy cho chúng con hầu hạ người vài năm nữa để báo ơn thầy”.
Thượng Quang Thiên Dã cười nói: “Ba mươi năm trước, vì ta không đánh thẳng nổi Huyền Cơ lão huynh nên chạy đến nơi này, giờ đây ân oán đã tiêu tan, ta phải trở về Trung Nguyên thôi. Con đã có bạn, ta cũng có bạn già!”
Đàm Đài Diệt Minh quỳ xuống nhận lệnh. Lâm Tiên Vận nghe lão nói như thế thì đỏ mặt, e thẹn nói: “Chỉ cần sư phụ vui lúc tuổi về chiều, con đã yên lòng”. Thế rồi cùng Ô Mông Phu quỳ xuống tạ ơn.
Huyền Cơ Dật Sĩ nói: “Xem ra tôi cũng phải dặn dò đệ tử của mình”. Rồi gọi đệ tử đến trước mặt, nói rằng: “Đổng Nhạc là người cẩn thận, theo ta lâu nhất, tất cả mọi chuyện của sư môn đều do hắn nắm giữ. Thiên Hoa và Doanh Doanh có tư chất tốt nhất, mỗi người học nửa bộ kiếm pháp của ta, từ rày về sau cho phép truyền thụ cho nhau, kiếm có thể hợp bích, người cũng có thể hợp bích, đại sư huynh của các con sẽ chủ hôn”.
Tâm nguyện mười mấy năm về trước của Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh đã được thỏa mãn, đương nhiên vui mừng vô hạn, nhưng trước mặt đệ tử nên không dám biểu lộ ra, chỉ nhìn nhau mỉm cười. Đổng Nhạc bước tới chúc mừng cho sư đệ và sư muội, lòng rất vui nhưng cũng có chút ghen tị. Té ra ông ta cũng có ý từ lâu với sư muội, nhưng biết sư muội một lòng hướng về Tạ Thiên Hoa, cho nên hai mươi năm qua không hề biểu lộ. Nay thấy sư đệ, sư muội song kiếm hợp bích, quả đúng là một đôi người ngọc trời đất tạo ra, cho nên lòng ghen tị ấy cũng thăng hoa, tan biến như làn khói mỏng dưới ánh mặt trời.
Huyền Cơ Dật Sĩ lại nói: “Vân Đăng ở trong môn phái chúng ta ngắn nhất, võ công vẫn chưa luyện thành, bản thân lại trải qua nhiều gian nan, ta vẫn còn lo lắng cho hắn. Sau khi ta ra đi, các con phải chăm sóc cho hắn. Đổng Nhạc, con có thể truyền tâm pháp nội công của bổn môn cho Vân Đăng. Chỉ cần khổ luyện thì sau này sẽ có thành tựu”.
Vân Đăng không khỏi khóc òa lên, Trương Đan Phong cũng rất lo lắng, không dám nhìn Vân Lối.
Đổng Nhạc lại nói: “Sư đệ thoát chết, nay lại có thể gặp lại con cái, lại được sư phụ gia ân, không nên quá đau lòng nữa”.
Huyền Cơ Dật Sĩ vuốt nhẹ tóc Vân Lối nói: “Con có một đứa con gái hiếu thuận như hoa như ngọc, đã may mắn hơn ta nhiều. Người sống trên đời chỉ mong chẳng hổ thẹn với lòng, thì coi như đã an lạc, con là kẻ trung thần hiếu tử, tuy cuộc đời đã gặp nhiều trắc trở, nhưng nghĩ lại đã đầy đủ, không nên khóc nữa”.
Vân Đăng ngừng khóc, cảm nhận được sự ấm áp của sư môn, nhưng nỗi bi phẫn trong lòng vẫn không giảm xuống. Nghĩ lại con trai của kẻ thù lại chính là sư điệt của mình, lại là người sư phụ khen ngợi nhiều nhất, tuy trong lòng không phục nhưng không thể nói ra trước mặt mọi người cho nên càng uất ức hơn. Chỉ nghe Huyền Cơ Dật Sĩ lại cười: “Điều khiến ta vui nhất là môn phái chúng ta đời sau lại giỏi hơn đời trước, đệ tử của Thiên Hoa chắc chắn sẽ làm rạng rỡ sư môn chúng ta, các người hãy dạy dỗ hắn cho kỹ”.
Bóng chiều đã ngả về tây, trời dần tối, bà lão cầm cây gậy trúc, nhẹ nhàng vẽ nửa vòng tròn, nói: “Xua tan bụi trần, bước ra khỏi ngũ hành. Sao các người lại có lắm chuyện phải dặn dò thế!”
Thượng Quang Thiên Dã vỗ tay cười: “Nói rất hay, nói rất hay! Từ nay chúng ta hãy làm bạn cùng mây ngàn. Huyền Cơ lão huynh, đã đến lúc chúng ta phải ra đi!”
Huyền Cơ Dật Sĩ xua tay với đám đệ tử, cao giọng ngâm: “Âm thấu hoa nghiêm chân diệu đề, bồ tát phi thụ kính phi đài!”
Ba người đều vỗ tay cả cười, lướt như bay dưới bóng hoàng hôn. Đệ tử của hai phái đều quỳ xuống đưa tiễn, chỉ thấy tà áo của ba người phấp phới, trong chớp mắt đã mất dạng.
Đổng Nhạc thầm than trong lòng, Đàm Đài Diệt Minh cũng có nhiều cảm xúc, không ngờ hai kẻ đối đầu lại trở nên thân thiết đến thế, so ra trên đời này còn có nhiều cuộc tranh chấp vô ý nghĩa. Ngẩng đầu nhìn lên chợt thấy Trương Đan Phong quỳ xuống ở phía sau vẫn chưa đứng dậy, nước mắt lưng tròng nhìn về phía trước, bộ dạng trông thẫn thờ. Đàm Đài Diệt Minh thất kinh, bước đến Trương Đan Phong vỗ nhẹ nói: “Công tử sao thế?”
Trương Đan Phong đang chìm vào nỗi bi thương, chàng thấy Ô Mông Phu và Lâm Tiên Vận, sư phụ của mình và sư phụ của Vân Lối đều đã được hoàn thành tâm nguyện, còn mình và ý trung nhân sẽ mãi xa nhau, giữa hai bên tựa như cách nhau một tấm cửa, người bên ngoài cửa thì không bước vào được, người bên trong thì không dám bước ra. Đàm Đài Diệt Minh hỏi mấy tiếng Trương Đan Phong đột nhiên ngẩng đầu ngâm rằng: “Khó quên ân oán khó quên nàng, chỉ có tình si mới là thật. Uổng cho ông là đệ tử của lão ma đầu mà không hiểu hai câu thơ ấy, hỏi ta làm gì? Ha ha, ông là ai, ta là ai? Nàng là ai? Ta hỏi trời trời không đáp, ông hỏi ta ta biết trả lời ra sao?” Trương Đan Phong nhớ đến tâm sự của mình, lòng chợt cảm thấy hoang mang, thần trí lại thất thường.
Trong khoảnh khắc này, Vân Lối cũng đau buồn vô hạn, chỉ thấy ánh mắt của Trương Đan Phong dần dần nhìn thẳng vào mặt nàng, trong ánh mắt chan chứa u oán, chan chứa tình thương! Khi nàng nhìn lại, chỉ thấy ánh mắt của cha cũng nhìn vào mình, trong ánh mắt ấy lại chứa bao nỗi phẫn hận, bao nỗi đau đớn! Khuôn mặt tiều tụy của cha dần dần che khuất cả bóng dáng của Trương Đan Phong, trong khoảnh khắc Vân Lối nhìn thấy ánh mắt của Trương Đan Phong, nàng suýt tý nữa kêu lên thành tiếng, nhưng nàng đã cố nén lại. Nàng né tránh ánh mắt của Trương Đan Phong, nàng cũng không dám nhìn ánh mắt của cha mình, cả hai đều là những người nàng yêu thương nhất, nàng không muốn làm cả hai đau lòng, nhưng nàng không thể không làm cho cả hai đau lòng. Nàng nuốt nước mắt của mình, nàng không dám nhìn hai người yêu thương mình nhất trong đời, nàng không dám tưởng tượng cảm xúc của hai người như thế nào, nhưng trái tim của nàng đã tan nát.
Đổng Nhạc, Tạ Thiên Hoa, Diệp Doanh Doanh đều cúi đầu. Mối ân oán này dù cho là thầy trò cũng không thể nào hóa giải được. Gió núi thổi tới, mỗi người đều cảm thấy lạnh đến thấu xương.
Đó chính là:
Một mối ân oán khó phân giải, mới dằn xuống được đã dấy lên.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 29
Nhìn cảnh nhớ người quê xa gặp tuấn mã
Thần cơ diệu toán dụ địch vào vũng lầy
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:26 pm

Hồi 29
Nhìn cảnh nhớ người quê xa gặp tuấn mã
Thần cơ diệu toán dụ địch vào vũng lầy

Gió bấc lạnh căm căm, Trương Đan Phong và Vân Lối đứng đối diện nhau lặng lẽ đau buồn. Đàm Đài Diệt Minh lắc đầu thở dài, rồi rỉ tai Trương Đan Phong: “Công tử có thể bỏ cả non sông gấm vóc chín vạn dặm, chả lẽ không thể xa rời được một người con gái?”
Trương Đan Phong giật mình, nói: “Sao?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Chúa công bảo công tử dựng lại Đại Châu, công tử vì không muốn để cho non sông gấm vóc Trung Hoa rơi vào tay Di địch, đã trải qua rất nhiều gian nan, dâng hiến bảo tàng, cứu thiên hạ đại Minh. Nghiệp đế vương công tử còn có thể bỏ được, còn có ân oán gì mà không thể buông xuôi?”
Trương Đan Phong sững người ra, nói: “Ta coi nghiệp đế vương như phấn thổ...”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Giang sơn tổ quốc đang đợi công tử trở về”.
Trương Đan Phong biến sắc, Đàm Đài Diệt Minh nói tuy không lớn, nhưng trong lòng chàng như có tiếng sấm nổ, trong khoảnh khắc, chàng nhớ lại mình từ Mạc Bắc đến miền Giang Nam, từ miền Giang Nam trở về Mạc Bắc, vượt qua trăm sông nghìn suối, trải qua muôn vàn khó khăn là vì cái gì? Phải chăng là vì tráng chí của mình, vì bảo vệ giang sơn gấm vóc Trung Hoa, vì muốn thay nước Trung Hoa và Ngõa Thích sống hòa bình bên nhau. Nay lý tưởng này đã thực hiện, nhưng mình thì lại rầu rĩ như thế! Trương Đan Phong vốn rất thông minh, là người hiểu biết thị phi, chàng nghĩ như thế chợt cảm thấy máu nóng nhộn nhạo, thần trì đã rất tỉnh táo, thế là nghiến răng nói: “Đàm Đài tướng quân, đa tạ ông đã đến đón tôi, chúng ta đi thôi”.
Rồi chàng quay sang chào sư phụ, sư thúc bá, khi ánh mắt lướt qua Vân Lối thì vội vàng xoay người đi. Tạ Thiên Hoa và Diệp Doanh Doanh đứng ở phía sau chỉ thở dài. Vân Lối buồn bã ngồi dưới đất, nước mắt chẳng thể nào rơi được nữa. May mà Trương Đan Phong không dám quay đầu, nếu chàng quay đầu nhìn nàng, hai người e rằng sẽ ôm nhau mà khóc, không ai nỡ ra đi nữa.
Trương Đan Phong và Đàm Đài Diệt Minh bước xuống núi, mặt trời đã lặn, muôn vàn vì sao lấp lánh trên bầu trời, hai người đã tá túc trong nhà thợ săn dưới chân núi một đêm. Sáng sớm hôm sau, Trương Đan Phong tìm được con Chiếu dạ sư tử mã của chàng, nó vẫn ở dưới chân núi chờ chủ nhân, không bỏ đi, vừa thấy chủ nhân thì đã hí lên vui sướng. Trương Đan Phong vỗ cổ ngựa, nhớ lại lúc cùng Vân Lối rong ruổi trên miền thảo nguyên, lại buồn bã rơi nước mắt.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Có ngựa tốt, không cần mười ngày thì chúng ta cũng về được với kinh thành”.
Trương Đan Phong nói: “Tình hình kinh thành Ngõa Thích gần đây thế nào?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Bề ngoài tuy tĩnh lặng nhưng giông tố sắp nổi lên”.
Trương Đan Phong nói: “Sao?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Tri viện A Thích liên lạc các bộ tộc sắp dấy binh khởi nghĩa. Dã Tiên thì nôn nóng muốn cầu hòa với Trung Hoa, ngày tôi rời kinh thành, nghe nói nhà Minh đã sai sứ giả đến giảng hòa. Mong rằng sứ giả nhà Minh có thể đến trước khi họ giao chiến”.
Trương Đan Phong nói: “Còn cha tôi?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Chúa công đã không còn là tể tướng nữa, giờ đây đợi sứ già triều Minh tới”.
Trương Đan Phong nói: “Người có muốn về nước không?”
Đàm Đài Diệt Minh lắc đầu: “Hiện giờ không ai dám khuyên chúa công. Chúa công ở lại kinh thành Ngõa Thích, tuy đã không còn chức vị, nhưng Dã Tiên vẫn không yên tâm đối với ông ta. Nếu ở lại nơi này e rằng sẽ có nguy hiểm, xem ra chỉ có công tử mới khuyên được người”.
Trương Đan Phong nghe xong, nghĩ lại mấy ngày hôm nay mình đã làm hỏng chuyện lớn, trong lòng thầm hổ thẹn. Thế rồi nhảy lên ngựa, ra roi tiến về phía trước.
Trên suốt quãng đường, Đàm Đài Diệt Minh không dám nhắc đến Vân Lối, ngựa chạy rất nhanh, đến trưa thì đã tới nơi ở của bộ tộc Ngạc La, mười ngày trước Trương Đan Phong đã cùng Vân Lối gặp Tù trưởng của tộc này, vài mục dân trên thảo nguyên vẫn còn nhận ra chàng nên từ xa đã vẫn tay, Trương Đan Phong vội vàng thúc ngựa chạy nhanh hơn khiến cho Đàm Đài Diệt Minh khó khăn lắm mới đuổi theo kịp.
Đàm Đài Diệt Minh cười rằng: “Nhân duyên của công tử thật tốt!”
Trương Đan Phong im lặng không nói. Chợt nghe tiếng ngựa hí, con Chiếu dạ sư tử mã chậm bước chân, hí dài trả lời. Trương Đan Phong ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy bên một căn nhà rách nát ở ven đường, có một thớt ngựa hồng, té ra chàng đang đi ngang qua nhà Vân Lối, Vân Lối đã đưa cha già lên núi, cho nên để ngựa ở đây. Hai con ngựa hí dài chào nhau, bốn vó tung cao, Đàm Đài Diệt Minh ngạc nhiên nói: “Đây là nhà của ai, không ngờ chủ nhân của căn nhà này lại có được một con ngựa tốt như thế. Công tử, sao... sao ngựa của công tử...” đang định nói “Sao ngựa của công tử tựa như quen biết với nó” chợt thấy Trương Đan Phong tái mặt, đôi mắt rướm lệ, Đàm Đài Diệt Minh rất kinh hãi, vội vàng im lặng. Chỉ nghe Trương Đan Phong thở dài, ngửa đầu ngâm rằng: “Quay lại nơi đau lòng, lá vàng gió tây làm ta đứt ruột. Ôi, ngựa cũng như thế, người thì làm sao?” Trong nhà chợt vọng ra tiếng người nói, tựa như chủ nhân của căn nhà sắp chạy ra, Trương Đan Phong vội vàng vung roi vỗ vào lưng con ngựa trắng, thớt ngựa này đã theo Trương Đan Phong nhiều năm, chưa bao giờ bị chủ nhân dùng roi đánh, lập tức tung vó phóng như điện chớp, bỏ Đàm Đài Diệt Minh ở phía sau. Đàm Đài Diệt Minh lắc đầu, nói: “Công tử, công tử không vui, cần gì phải trút giận lên con súc sinh?”
Trương Đan Phong khóc rống lên, chàng nhẹ nhàng vỗ lưng ngựa, chỉ trong khoảnh khắc đã chạy được mười mấy dặm đường, khi Đàm Đài Diệt Minh đuổi theo, chỉ thấy Trương Đan Phong đứng trước một quán rượu bên vệ đường. Đàm Đài Diệt Minh dừng ngựa hỏi: “Công tử sao thế?” Trương Đan Phong lớn giọng đáp: “Nào, chúng ta hãy uống một trận cho thỏa thích”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Chúng ta còn phải lên đường”.
Trương Đan Phong cười nói: “Có rượu phải nên say, say rồi mới lên đường. Đàm Đài tướng quân, sao hôm nay tướng quân chẳng sảng khoái tý nào thế?” Rồi chàng kéo Đàm Đài Diệt Minh vào trong quán rượu, kêu: “Có rượu sữa ngựa không?”
Rượu sữa ngựa là loại rượu rẻ tiền bình dân nhất ở Mông Cổ, chủ quán nghe thế thì trợn mắt, nói: “Có, khách quan muốn bao nhiêu, nhưng phải trả tiền trước”.
Trương Đan Phong lớn giọng nói: “Hãy đem bảy cân rượu đến đây”. Rồi ném một đĩnh bạc lớn vào quầy rượu, nói: “Đây là tiền rượu, đừng nói nhiều, ta không thích nhà ngươi xem thường kẻ khác, ngươi có biết không?”
Chủ quán rượu hoảng hồn, vội vàng mỉm cười, lòng nhủ thầm: “Té ra tên tiểu tử này đã uống say ở nơi khác”.
Rượu sữa ngựa ở đây vừa chua vừa chát, Đàm Đài Diệt Minh uống hai hớp thì nhíu mày, còn Trương Đan Phong thì uống cạn hết sáu bảy chén, luôn miệng khen: “Rượu ngon, rượu ngon!” Trong mơ hồ chàng lại thấy hình bóng của Vân Lối.
Trương Đan Phong nhớ rõ cảnh tượng lúc mình và Vân Lối kết giao, lúc đó chàng đã uống một bình rượu lớn, vừa ca vừa khóc, nay nhìn lại thì người xưa đã chẳng còn, bất giác nỗi bi thương lại dâng lên trong lòng.
Đàm Đài Diệt Minh chỉ uống được vài ngụm, thấy Trương Đan Phong đã sắp uống hết bảy cân rượu. Y vội vàng thúc giục: “Thôi được, chúng ta lên đường thôi”.
Trương Đan Phong đặt chén rượu xuống, chợt nghe bên ngoài có tiếng ngựa hí, có người nói; “Thúy Phượng, muội xem, đó có phải là con Chiếu dạ sư tử mã của Trương Đan Phong không?”
Chỉ thấy một nam một nữ bước vào, người đi phía trước là Châu Sơn Dân, còn ở phía sau là Thạch Thúy Phượng. Châu Sơn Dân nói: “Đan Phong, chúng tôi tìm huynh đến khổ, không ngờ lại gặp nhau ở đây”.
Thạch Thúy Phượng kêu ồ một tiếng, ngạc nhiên nói: “Đan Phong, Vân Lối tỷ tỷ đâu? Sao tỷ ấy không đi cùng huynh?”
Trương Đan Phong gật gù ngâm rằng: “Người có bi hoan li hợp, trăng có tròn lúc khuyết, cô nương không giữ được nàng, ta làm sao có thể giữ được nàng!”
Thạch Thúy Phượng chỉ nghĩ Trương Đan Phong đem chuyện xưa của mình ra đùa, thế rồi đỏ mặt nói: “Người ta có chuyện đàng hoàng tử tế tìm huynh, huynh lại cứ nói càn rỡ!”
Trương Đan Phong giật mình, hỏi: “Sao các người tìm đến nơi này?”
Thạch Thúy Phượng cười: “Chúng tôi đã đến nhà Vân Lối tỷ tỷ, đã gặp Vân bá mẫu. Có phải huynh và Vân tỷ tỷ có chuyện gì hay không? nghe nói huynh muốn cùng Vân Lối đến tìm người, sau đó lại bỏ đi một mình. Vân bá mẫu bảo Vân tỷ tỷ mấy ngày trước đã đi cùng Vân bá bà, muội còn tưởng họ đi tìm huynh”.
Trương Đan Phong nói: “Chả trách nào lúc nãy tôi đi ngang, hình như bên trong có tiếng người nói chuyện, té ra là các người”.
Thạch Thúy Phượng nói: “Chúng tôi vừa mới tìm đến nơi, mới ngồi một lát thì nghe tiếng con Chiếu dạ sư tử mã hí vang, chúng tôi chạy ra thì huynh đã đi xa. Chúng tôi vội vàng đuổi theo. Tại sao huynh không ghé vào? Vân bá mẫu thật đáng thương, huynh cũng nên đến thăm bà”.
Trương Đan Phong mặt biến sắc, cúi đầu buồn bã. Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên nói: “Vân Lối tỷ tỷ rất dịu dàng, chắc chắn là huynh đã có lỗi cho nên tỷ ấy mới không thèm để ý đến huynh. Có chuyện gì, hãy nói cho muội nghe, muội sẽ giúp huynh”.
Đàm Đài Diệt Minh vội vàng chen vào: “Các người tìm công tử nhà tôi có việc gì? Ai đã cho các người biết nơi ở của Vân Lối?”
Châu Sơn Dân nói: “Triều Minh đã phái sứ thần sắp đến giảng hòa với Ngõa Thích”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Chúng tôi đã biết điều này”.
Châu Sơn Dân nói: “Các người có đoán được sứ thần là ai không?”
Trương Đan Phong đã định thần, hỏi: “Là ai?”
Châu Sơn Dân nói: “Là đại ca của Vân Lối!”
Trương Đan Phong sững người ra, nhớ lại Vân Trọng xưa nay không có thiện cảm với mình, nếu cứ như thế, e rằng chuyện của mình và Vân Lối càng chẳng có hy vọng. Thạch Thúy Phượng hỏi: “Sao, huynh không vui ư?”
Trương Đan Phong nói: “Sao lại không vui, Vân Trọng làm sứ thần thì tốt còn gì bằng!”
Trương Đan Phong nói toàn những lời từ gan ruột. Gia gia của Vân Lối năm xưa đi sứ sang Ngõa Thích, bị bắt lại hành hạ đủ đều. Nay Trung Quốc đã cường thịnh, cháu nội của ông ta lại đi sứ, đó là chuyện đáng mừng. Huống chi Vân Trọng một lòng vì nước, giỏi hơn cả gia gia của chàng, quả thật Vu Khiêm đã sáng suốt khi sai chàng đi sứ.
Trương Đan Phong tuy cảm thấy Vân Trọng không có thiện cảm với mình, đó là điều đáng tiếc, nhưng lại là chuyện riêng, cho nên nghe Vân Trọng đi sứ thì không khỏi ngạc nhiên, nhưng lại thầm mừng cho nước nhà.
Châu Sơn Dân nói: “Khi Vân Trọng vượt Nhạn Môn quan, đã từng gặp gỡ chúng tôi, y đã nhờ tôi đến báo tin cho bá mẫu, mời người đến kinh thành Ngõa Thích gặp gỡ. Không ngờ cha của y vẫn còn sống. Bá mẫu nói, khi đợi Vân Lối trở về sẽ cùng cha con nàng lên kinh. Không cần chúng tôi đi cùng”.
Trương Đan Phong nghe có hai chữ Vân Lối thì người run bần bật, Châu Sơn Dân liếc nhìn chàng, nói: “Vân Trọng dắt theo mười tám Ngự tiền thị vệ, ngoài ra còn có vài phụ nữ theo cùng”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Cái gì, sao lại có đàn bà con gái đi cùng?”
Châu Sơn Dân nói: “Đàm Đài tướng quân, nghe nói trong số đó có cả lệnh muội Đàm Đài Chính Minh”.
Đàm Đài Diệt Minh mừng rỡ nói: “Chắc là Đường thúc của ta bảo muội ấy đến đón ta”.
Châu Sơn Dân nói: “Không sai tý nào, xin chúc mừng, các người đều có thể trở về nước”. Chàng ngừng một lát rồi lại nói: “Những phụ nữ ấy đều là người trong làng Đàm Đài, lệnh muội đã gọi họ đi cùng cho có bạn”.
Đàm Đài Diệt Minh nghĩ bụng: “Chính Minh suy nghĩ thật chu đáo, vì không muốn miệng đời cười chê cho nên mới gọi nhiều người đi cùng. Công tử đang u uất như thế này, nếu hứa gả Chính Minh cho y, sẽ là một chuyện đẹp cả đôi đàng”. Y đang suy nghĩ thì nghe Châu Sơn Dân lại nói: “Họ là sư giả của thiên triều, trên đường đều có người tiếp đón, mỗi ngày chỉ có thể đi được năm sáu mươi dặm đường. Có lẽ hơn mười ngày nữa mới đến được kinh thành Ngõa Thích. Tôi đang lo cho họ”.
Trương Đan Phong nói: “Sao?”
Châu Sơn Dân nói: “Sau khi hai nước chiến loạn, khắp nơi đều có các nhân vật hắc đạo nổi lên. Vân Trọng tuy có mang theo mười tám Ngự tiền thị vệ nhưng cũng phải đề phòng chuyện bất ngờ. Trong Nhạn Môn quan, đã có tôi truyền Lục Lâm tiễn nên không có chuyện gì xảy ra. Ra ngoài Nhạn Môn quan, chúng tôi chẳng thể giúp gì được”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Lần này Dã Tiên có ý cầu hòa với Minh triều, sứ giả Minh triều xảy ra chuyện ở Ngõa Thích, y cũng sẽ phiền phức”.
Châu Sơn Dân nói: “Tuy là nói thế, nhưng ai cũng biết Dã Tiên xảo quyệt. Huống chi Ngõa Thích đang trong lúc chia năm xẻ bảy, chưa chắc gì nghe lệnh Dã Tiên. Đạo tặc lục lâm Ngõa Thích thì càng ghê gớm hơn. Chi bằng đề phòng vẫn hơn. Tôi muốn bàn bạc với các người, xem thử có nên sai vài người đón họ hay không?”
Trương Đan Phong im lặng không nói, nghe đến đây thì đột nhiên kêu: “Châu đại ca, Thạch hiền muội, tôi xin kính các người một chén!” Rồi bưng chén rượu lên uống cạn. Châu Sơn Dân, Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên nhìn chàng, chỉ thấy Trương Đan Phong uống xong thì ném vỡ cái bát rồi cười rằng: “Châu đại ca, ngựa của tôi nhanh sẽ đi trước một bước. Các người yên tâm, tôi đảm bảo Vân đại ca sẽ đến kinh thành Ngõa Thích bình an!”
Rồi chàng phóng lên lưng ngựa, thớt ngựa hí dài tung vó chạy về phía trước. Đàm Đài Diệt Minh cùng mọi người cũng phóng lên ngựa đuổi theo.
Ba ngày sau, Trương Đan Phong về đến kinh thành Ngõa Thích, thấy người đi đường đông đúc, ai nấy cũng tranh mua lương thực. Té ra họ nghe tin phong thanh, sợ rằng Thái sư Dã Tiên sẽ đánh nhau với tri viện A Thích, cho nên mới tích trữ thức ăn.
Trương Đan Phong thầm than: “Nếu thiên hạ mãi mãi thanh bình, không có chiến tranh thì tốt bao nhiêu!” Rồi chợt nghĩ: “Sắp có đánh nhau to, Dã Tiên càng nôn nóng cầu hòa với Trung Quốc. Xem ra Vân Trọng may mắn hơn gia gia của y nhiều, lần này y sẽ hoàn thành sứ mệnh, lại có thể đón Hoàng đế của y trở về”.
Về đến nhà, chỉ thấy gia nhân bẩm cáo: “Thiếu gia, lão gia ngày đêm mong ngóng thiếu gia. Mấy ngày hôm nay lão gia đều nằm trên giường, cứ bảo mọi người ra ngoài thăm chừng xem thiếu gia đã về hay chưa”.
Trương Đan Phong thất kinh, vội vàng chạy vào thư phòng, chỉ thấy Trương Tôn Châu ngồi viết chữ một mình, nghe có tiếng người thì hỏi: “Ai thế?”
Trương Đan Phong mới thở phào, trả lời: “Là con. Cha, cha không sao chứ?”
Trương Tôn Châu quay đầu lại, nói: “Đàm Đài tướng quân đâu?”
Trương Đan Phong nói: “Ngựa của y chạy chậm, có lẽ sáng mai mới về đến nhà. Nghe người nhà nói, cha không khỏe, cha bị bệnh ư? Đã mời thầy thuốc chưa?”
Trương Tôn Châu nói: “Hiếm khi nào con quan tâm đến cha như thế. Cũng chẳng sao cả, chỉ là bệnh già, nửa tháng nay khí trời không tốt, mưa đến mười mấy ngày, hôm qua mới tạnh, khớp gối ta hơi đau mà thôi”.
Trương Đan Phong hỏi: “Sao không mời thầy thuốc?”
Trương Tôn Châu cười rằng: “Ta cũng định nói cho con biết, mấy quyển sách của Bành hòa thượng mà con mang về rất có ích. Té ra trong đó có ghi cách trị bệnh đau khớp, trong sách nói, dù cho chân tay có bị què, cũng có thể dùng cành liễu nối xương phối hợp với chữa trị bằng châm cứu sẽ khỏi hẳn”.
Năm xưa Bành hòa thượng đi đến nơi nào cũng viết, trong đó có những phần viết về phong thổ nhân tình, có những lời bàn luận về hình thế sông núi, lại còn ghi những kinh nghiệm dân gian... Những cuốn sách ở trong thạch động vốn rời rạc với nhau, Trương Đan Phong sau khi đem về thì sắp xếp, đóng lại thành sách để ở trong nhà, nay nghe cha nói như thế thì mới nhớ quả nhiên những quyển sách này rất có ích, chợt hỏi: “Cha, cha có thử chưa?”
Trương Tôn Châu đứng dậy đi mấy bước, rồi lại vung chân tung cước, nói: “Hôm qua ta đã thử, quả nhiên hôm nay có thể đi lại được”.
Trương Đan Phong nói: “Nếu linh nghiệm như thế thật là tốt. Con cũng phải đọc kỹ lại sách này”.
Trương Tôn Châu nói: “Bành hòa thượng là Quốc sư của Đại Châu chúng ta, là sư phụ của hai Thiên tử, học rộng hiểu nhiều, con phải nên đọc kỹ”.
Rồi lấy một quyển sách đưa cho Trương Đan Phong, bảo chàng ngồi xuống bên cạnh mình, uống chén trà rồi nói: “Nghe nói sứ giả của triều Minh sắp tới, ta đã yên tâm nhưng không biết đó là ai? Nếu người đó có thể giống như Vân Tĩnh thì thật là tốt”. Khi đang nói thì giọng điệu trở nên buồn bã, Trương Đan Phong biết ông nhớ lại chuyện xưa, trong lòng dấy lên nỗi ân hận, trong khoảnh khắc này, vẻ mặt tiều tụy của Vân Đăng, dáng dấp cứng cỏi của Vân Trọng, bộ dáng đáng thương của Vân Lối hiện lên trong lòng chàng, nghĩ bụng: “Cha mình tuy muốn giải mối thù trước, nhưng làm sao có thể giải được mối oan thù này?”
Trương Tôn Châu nói: “Đan Phong, con đang nghĩ gì thế?”
Trương Đan Phong gượng cười rồi nói: “Không có gì, con cũng đang đoán sứ thần của triều Minh là ai”.
Lúc đầu chàng vốn muốn cho cha biết chuyện Vân Trọng đi sứ, nhưng nghĩ lại, cha con Vân Đăng có thù sâu với cả nhà mình như thế, nếu nói thực cho cha biết, ông ta chắc chắn sẽ đau lòng hơn, áy náy hơn, cho nên chàng mới im lặng.
Hai cha con ngồi trầm ngâm một lúc lâu, Trương Đan Phong nói: “Cha, cha không đổi ý ư?”
Trương Tôn Châu biết chàng nói gì, cười khổ nói: “Sau khi sứ thần triều Minh đến, con cứ theo y trở về nước. Nhưng con không được làm quan cho triều Minh”.
Trương Đan Phong nói: “Thế còn cha?”
Trương Tôn Châu nói: “Kiếp này ta chỉ có thể trở về Giang Nam trong mơ. Con đừng nhắc chuyện này nữa!”
Sáng sớm hôm sau, gia nhân gõ cửa phòng Trương Tôn Châu nói: “Đàm Đài tướng quân và thiếu gia xin thỉnh an đại nhân”.
Trương Tôn Châu lập tức khoác áo bước vào thư phòng, Đàm Đài Diệt Minh đã chờ ở đấy, còn Trương Đan Phong đứng một bên.
Trương Tôn Châu nói: “Đàm Đài tướng quân, ông đã quay về rồi đấy ư? Đan Phong không hiểu chuyện, đã bỏ ông mà chạy về trước, thật là không nên”.
Trương Đan Phong chợt nhoúi lòng, nghĩ bụng: “Cha, cha nào biết con vội vàng trở về là vì phải vội vàng ra đi”.
Đàm Đài Diệt Minh: “Khởi bẩm chúa công, công tử muốn cùng tôi đến miền nam, cho nên xin cáo từ chúa công”.
Trương Tôn Châu giật mình, nói: “Sao? Mới về mà đã đi rồi ư?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Nghe nói sứ thần triều Minh đã vào Ngõa Thích, chúng tôi muốn đi trước đón y”.
Trương Tôn Châu nói: “Ông quen với sứ thần triều Minh ư?”
Đàm Đài Diệt Minh đã được Trương Đan Phong căn dặn, lắc đầu nói: “Tuy không biết nhưng lần trước công tử về nước, tôi đi sứ cùng A Thích, đều được Vu Khiêm tiếp đãi trọng hậu, nghe nói sứ thần này là do Vu Khiêm tuyển chọn, chúng tôi cũng nên đi rước y để y khỏi gặp nguy hiểm”.
Khi nói chỉ thấy trong mắt Trương Đan Phong rướm lệ, Đàm Đài Diệt Minh biết tâm sự của chàng, cũng chính vì chàng cho nên y mới nói dối. Đàm Đài Diệt Minh liếc nhìn Trương Đan Phong, trong lòng cũng cảm thấy chua xót.
Trương Tôn Châu chậm rãi đứng dậy, thở dài nói: “Ta đã già, không thể ra sức vì Trung Quốc nữa, các người còn trẻ, thôi được, các người hãy đi đi!”
Nước mắt lăn dài trên má Trương Đan Phong, bình thường tuy cảm thấy giữa hai cha con có khoảng cách, nhưng trong khoảnh khắc, hai cha con tựa như tâm ý tương thông. Trương Đan Phong ôm cha rồi nói: “Cha, cha hãy bảo trọng!” Rồi chàng xoay người bước ra khỏi thư phòng.
Trương Đan Phong không dám quay đầu vội vàng chạy ra cửa, phóng lên lưng ngựa.
Họ đang nôn nóng đến miền nam đón sứ giả của triều Minh. Sứ giả của triều Minh cũng nôn nóng đến kinh thành của Ngõa Thích gặp họ.
Ngày mừng hai tháng Giêng bọn Vân Trọng rời Bắc Kinh, lúc này đã đi hơn một tháng, vào sâu địa phận Ngõa Thích. Đông qua xuân đến, tuyết bắt đầu tan, núi non đã có màu xanh, lúc này họ đang đi ngang qua một vùng núi non hoang vắng, mấy chục dặm đường mà không thấy nhà dân, trên đỉnh núi đôi khi có vài con chim ưng xà xuống tìm thức ăn, trên sườn núi chỉ có vài cây du thưa thớt mới nảy mầm xanh. Đàm Đài Chính Minh chép miệng: “Không ngờ Mông Cổ lại hoang vắng như thế, đừng nói là Giang Nam, ngay cả Bắc Kinh hoa đào cũng đã nở”.
Một người tùy tùng đã từng đến Mông Cổ cười rằng: “Nơi này vẫn chưa phải là hoang vắng, đến miền bắc, khắp nơi tuyết phủ càng hoang vắng hơn. Khi Tô Vũ chăn dê ở Bắc Hải, đừng nói là bóng người, cả bóng chim cũng chẳng thấy, chỉ uống nước tuyết, ăn thịt dê nướng”.
Vân Trọng nghe y nhắc chuyện Tô Vũ chăn dê, không khỏi nhớ đến gia gia của mình, lòng buồn bã cho nên chẳng nói gì cả. Đàm Đài Chính Minh dịu dàng nhìn chàng, cười rằng: “Nơi đây có thảo nguyên và sơn động, ngựa có thể nghỉ ngơi, muội thấy đêm nay chúng ta phải cắm trại ở đây”.
Vân Trọng vội vàng nói: “Đúng thế, dù sao hôm nay cũng không thể vượn khỏi thảo nguyên này, ngày mai đi cũng được. Muội lần đầu tiên đến Mông Cổ chắc chắn không quen. Hãy nghỉ ngơi sớm”.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Cũng không sao cả, chỉ là hơi lạnh mà thôi, dần dần sẽ quen”.
Thật ra nàng vẫn chưa quen với khí hậu Mông Cổ, nhưng đã dần dần quen với tính khí của Vân Trọng. Vân Trọng là một hán tử cứng cỏi, tuy không nho nhã như Trương Đan Phong, nhưng cũng rất dịu dàng đối với nàng.
Vân Trọng chọn một góc núi khuất gió hạ trại. Cùng mọi người nhặt củi khô nổi lửa, ăn cơm tối xong, Vân Trọng tìm Đàm Đài Chính Minh trò chuyện. Đàm Đài Chính Minh chợt nói: “Trương Đan Phong và lệnh muội nếu biết chúng ta đến đây thì sẽ vui biết bao nhiêu! Sơn Dân ca ca đi trước báo tin chắc là đã gặp được họ. Chúng ta đến Ngõa Thích, chắc sẽ vài ngày sau mới trao quốc thư, huynh thấy có cần đến nhà họ Trương tìm họ không?”
Vân Trọng hừ một tiếng, nói: “Muội đến nhà họ Trương tìm ai? Có lẽ Trương Đan Phong đang chờ muội, nếu Vân Lối ở nhà họ Trương thì chẳng phải là muội muội của ta”.
Đàm Đài Chính Minh bật cười, nói: “Huynh đổi tính từ lúc nào thế? Có kẻ thù không đội trời chung nào đáng nhớ như thế không? Nếu lần này không nhờ Trương Đan Phong, Vu các lão đã không biết nội tình của Ngõa Thích, hai nước cũng sẽ không mau chóng giảng hòa như thế này, nếu không nhờ y, làm sao huynh trở thành sứ giả được?”
Vân Trọng nghe thế thì cúi đầu, nghĩ bụng Trương Đan Phong quả nhiên có một tấm lòng son, cho nên chàng không nói gì cả. Nhưng trong lòng vẫn không hy vọng em gái mình ở nhà họ Trương. Đàm Đài Chính Minh lại nói: “Lần này đến Ngõa Thích, huynh phải nên đến gặp Đan Phong, nói lời cảm tạ y”.
Vân Trọng nói: “Vu Các Lão có thư gởi cho y, ta đương nhiên phải gặp y. Chỉ là hai nhà chúng ta thù sâu như biển, nhưng lần này y bôn ba vì giang sơn đại Minh, cho nên ta không nhớ đến thù trước, nhưng muốn ta chuyển địch thành bạn với y thật không thể được!”
Đàm Đài Chính Minh mỉm cười, nói: “Thật hổ thẹn cho huynh là một đại trượng phu, khí lượng lại hẹp hòi như thế, chẳng bằng hạng nữ lưu chúng tôi, chúng tôi và Thiên tử họ Chu của huynh có thù mấy đời, nhưng Trương Đan Phong vẫn dâng bảo tàng cho triều đình. Nếu Trương Đan Phong nhớ thù xưa, y sẽ không giúp Vu Các Lão đón Hoàng đế trở về”.
Đàm Đài Chính Minh rất ngay thẳng, nghĩ đâu nói đó. Vân Trọng nghe thế thì giật mình, lòng dạ xốn xang, nghĩ bụng: “Chả lẽ mình không bằng Trương Đan Phong?”
Trong khoảnh khắc ấy, nỗi ám ảnh của bức huyết thư bằng da dê lại kéo tới, lòng chàng đang rối như tơ vò.
Đàm Đài Chính Minh định nói tiếp, chợt thấy Vân Trọng ngồi phục xuống đất, sắc mặt thay đổi, Đàm Đài Chính Minh ngạc nhiên nói: “Huynh làm gì thế?”
Vân Trọng nhảy bật dậy, nói: “Có đại đội quân mã kéo tới đây!” Nói chưa dứt, chỉ nghe tiếng tù và rúc lên, tiếp theo là tiếng tên bay xé gió lướt qua trại. Thị vệ chạy vào báo: “Phía trước phát hiện có một đội nhân mã bao vây chúng ta, không biết có bao nhiêu người, cũng không thấy cờ hiệu. Mời Vân đại nhân hạ lệnh đối phó!”
Vân Trọng nói: “Ở nơi thung lũng hoang vắng, chắc là có cường đạo đến cướp trại, các người hãy rời khỏi trại, cứ hai người một nhóm tự tìm chỗ ẩn nấp, thấy bóng người thì lập tức phóng tên bắn”.
Người ấy vâng một tiếng rồi lui ra. Đàm Đài Chính Minh nói: “Còn huynh thì sao?”
Vân Trọng nói: “Các người hãy tới trại của ta”.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Huynh không ra ngoài ư?”
Vân Trọng nói: “Ta đang cầm cờ tiết, trong người có mang quốc thư, trong trại là lễ vật dâng cho vua Ngõa Thích, làm sao có thể rời khỏi nơi này. Những người đi cùng với muội không tiện ra ngoài chống địch, chi bằng cứ cùng ta giữ trại, bọn giặc cỏ ấy chẳng có gì đáng sợ”.
Đàm Đài Chính Minh nghe xong lòng thầm cảm kích, Vân Trọng bảo phải giữ lễ vật của triều đình là thật, nhưng còn một nguyên nhân nữa mà chàng không nói, Đàm Đài Chính Minh biết chàng đã ở lại vì họ. Chàng sợ họ chạy ra ngoài sẽ bị kẻ địch bắt sống rồi làm nhục; chàng biết mấy ngày hôm nay Đàm Đài Chính Minh đã đuối sức, đi đứng rất chậm chạp cho nên giữ nàng lại trong trại.
Mọi việc đã bố trí xong xuôi, kẻ địch cũng kéo tới, chỉ nghe bên ngoài tiếng tên bay vun vút, tiếp theo là tiếng binh khí giao nhau. Vân Trọng cười rằng: “Bọn này rồi sẽ no đòn”.
Vân Trọng đang ngồi chợt nghe xoạt một tiếng, một mũi tên có đốt lửa cắm vào vách trại, lớp trại bên ngoài bốc cháy. Vân Trọng kêu lên: “Không xong!” Chàng vội vàng xông ra dập lửa, rèm trại vừa mở ra, bên ngoài có một luồng kình phong chém tới, bốn năm kẻ bịt mặt xông vào. Những kẻ này nhớ có tiếng tên bay yểm hộ, cho nên lướt vào tới nơi Vân Trọng mới phát hiện.
Những kẻ che mặt ra tay rất lanh lẹ, vừa xông vào thì đã tung ra những đòn sát thủ, Vân Trọng quát lớn một tiếng, trở tay vỗ lại một chưởng đánh bật một kẻ che mặt bay ra ngoài trại.
Vân Trọng vỗ chưởng trái ra, chưởng phải đánh lối theo, chợt thấy người che mặt co mười đầu ngón tay lại chụp xuống, té ra y dùng công phu Đại lực ưng trảo. Vân Trọng hóp ngực thu bụng, chưởng trái chụp vào trong, người ấy kêu ồ lên một tiếng, trầm chưởng xỉa xuống, dưới ánh đèn, chỉ thấy bàn tay của y có màu tím đen, Vân Trọng thất kinh, xoay người tung một cước khiến người ấy ngã nhào, lúc này Đàm Đài Chính Minh cũng dẵ rút kiếm.
Vân Trọng kêu lên: “Bàn tay của bọn chúng có độc!”
Người phía trước mặt tựa như là một lão già, lão ta cười lạnh rồi cùng một tên khác tấn công Vân Trọng. Vân Trọng vừa đánh vừa nhìn, chỉ thấy Đàm Đài Chính Minh đang đấu ác liệt với hai kẻ che mặt, một trong hai kẻ đó có dáng dấp rất quen thuộc, kẻ này sử dụng Xích sa chưởng và Ưng trảo công, chưởng pháp rất kỳ dị, hơn ông già phía trước mặt vài lần. Đàm Đài Chính Minh sử dụng Nam nhạc kiếm pháp gia truyền, vẫn cố gắng chống chọi được, nhưng nàng cử động hơi chậm chạp. Hai kẻ che mặt ấy mau chóng thấy được nhược điểm của nàng, thế là đều tấn công xuống phần hạ bàn, ngay lúc ấy người che mặt sử dụng một chiêu quái dị, vỗ hai chưởng vào mặt Đàm Đài Chính Minh, nàng vung kiếm chặn lại, y đột nhiên ngã người xuống đất, hai tay tóm lấy chân Đàm Đài Chính Minh. Đàm Đài Chính Minh tung ra một cước, bị y nắm lấy gót chân trái đẩy mạnh, Đàm Đài Chính Minh phóng vọt người lên, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, tên đồng bọn phóng ra một sợi dây về phía trước toan bắt sống nàng.
Vân Trọng quát lớn một tiếng, quét ra một chưởng, tiếp lấy một chưởng của ông già che mặt. Chưởng này có thể mở núi phá đá, nếu hai người chạm vào, Vân Trọng sẽ bị trúng độc, còn cánh tay của ông già sẽ gãy lìa, ông già nào dám chạm vào, thế là lui người né tránh, người che mặt ở phía sau lao tới vung đao ra, bị Vân Trọng tóm lấy chui đao, kéo giật y tới, rồi vung chưởng phải chém vào đầu y.
Hai đòn này đều nhanh như điện chớp, Vân Trọng đẩy lùi được hai kẻ che mặt đang định lao về phía trước, chợt nghe một tiếng kêu thảm thiết vang lên. Té ra Đàm Đài Chính Minh tuy bị đau khớp vì lạnh, không còn nhanh nhẹn như bình thường, nàng bị người che mặt tóm lấy chân đẩy tới về phía trước, nàng đã mượn lực đẩy ấy phóng lên đỉnh trại, rồi xoay người trên không trung đâm thẳng xuống. Người sử dụng đao đã bị nàng đâm trúng cổ họng, sợi dây y vừa mới vung ra cũng chạm vào người nàng.
Người che mặt ấy vội vàng đứng dậy, chưởng thế của Vân Trọng đã dồn tới như dời núi lấp biển, y nào dám tiếp lấy, vội vàng thối lui ra sau. Ông già che mặt cũng từ sau đánh tới, trong chưởng phong có mùi tanh, lão ta chụp vào vai Vân Trọng, Vân Trọng vỗ vù ra một chưởng, tưởng rằng đắc thủ thì chợt cảm thấy vai đau nhói, chàng vội vàng trầm vai, chưởng phong tuy vẫn đánh trúng người che mặt, nhưng chưởng lực đã bị chặn lại một nửa. Dù như thế, kẻ che mặt cũng chẳng gượng dậy nổi. Vân Trọng nhảy vọt ra, vội vàng quay lại nhìn Đàm Đài Chính Minh. Ông già che mặt chỉ hừ một tiếng, tóm lấy kẻ đồng bọn bị thương lập tức phóng ra khỏi trại. Đàm Đài Chính Minh tháo sợi dây trên người mình, mỉm cười đứng dậy nói: “Thật nguy hiểm!”
Vân Trọng hỏi: “Có sao không?”
Đàm Đài Chính Minh nói: “Không sao cả”.
Vân Trọng nhíu mày nói: “Giày của muội đã tuột ra, cả vớ cũng tuột ra, để ta xem bàn chân của muội”.
Đàm Đài Chính Minh đỏ mặt, nói: “Làm gì thế?”
Vân Trọng nói: “Lần trước ta đã bị thương, toàn là nhờ muội chăm sóc, lúc này đến lượt ta chăm sóc cho muội”.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Vớ của muội bị y cào rách, làm sao bị thương được?” Rồi nàng cởi vớ giở bàn chân lên xem, quả nhiên ở dưới bàn chân có một dấu màu đỏ to như đồng tiền. Vân Trọng nói: “Thật lợi hại. May mà còn cách một lớp vớ”. Rồi nhặt thanh kiếm của Đàm Đài Chính Minh vạch một vòng tròn xung quanh dấu ấn màu đỏ ấy rồi nặn máu ra, bội thuốc khử độc lên rồi nói: “Muội hãy nghỉ ngơi một lát, để ngày mai xem thương thế thế nào rồi sẽ trị tiếp”.
Vân Trọng nói có vẻ thản nhiên, nhưng thật sự trong lòng lo lắng lạ thường. Chàng dùng không đúng thuốc giải, tuy đã nặn máu độc ra, loại thuốc này cũng có tác dụng khử độc, nhưng rốt cuộc vẫn không yên lòng, chàng sợ rằng độc khí vẫn còn, tuy không đến nỗi chết nhưng cũng có thể khiến cho nàng tàn phế.
Đàm Đài Chính Minh tựa như không hề hay biết, trong lòng cảm thấy an ủi vô hạn vì Vân Trọng rất quan tâm cho nàng, chăm sóc cho nàng rất cẩn thận. Đàm Đài Chính Minh rất cảm động, nàng nghĩ bụng: “So với Trương Đan Phong, chàng có hơi thô lỗ hơn, nhưng đối với mình cũng rất chân thành, chẳng khác gì Trương Đan Phong đối với Vân Lối”.
Thế rồi mỉm cười nói với Vân Trọng: “Huynh đừng chỉ lo cho muội, lúc nãy huynh cũng bị lão già che mặt chụp trúng”.
Vân Trọng cười: “Huynh đã có mặc áo giáp, không sao cả”. Rồi chàng cởi áo giáp ra xem, áo giáp cũng bị cào rách một mảng may mà chưa trúng da thịt. Đàm Đài Chính Minh chép miệng: “Người che mặt ấy thật lợi hại, công lực cao hơn kẻ ám toán muội”.
Khi hai người đang ngồi nói chuyện thì các nữ binh dã dập tắt lửa, vệ sĩ bên ngoài vào báo cáo: “Nhờ phước lớn của Vân đại nhân, kẻ địch đã thối lui”.
Vân Trọng nói: “Có còn tên nào nữa không?”
Vệ sĩ nói: “Hình như bọn chúng chỉ đứng ở nơi cao bắn tên về phía chúng ta nhưng không xông tới”.
Vân Trọng nói: “Bọn chúng tấn công không được, e rằng sẽ đánh lén, các người hãy cẩn thận không được lơi lỏng. Có ai bị thương không?”
Vệ sĩ trả lời: “Chỉ có hai người bị trúng tên, một người bị trúng đao nhưng không nghiêm trọng”.
Vân Trọng nói: “Đỡ họ vào lều, bảo nữ binh băng bó vết thương cho họ”.
Mười tám Ngự tiền thị vệ đi theo Vân Trọng võ công đều cao cường, ai cũng có thể địch lại cả trăm người. Ba vệ sĩ vừa được băng bó xong thì đã có người vào báo: “Kẻ địch đốt một đống lửa lớn ở trên núi, không biết là để làm gì?” nói chưa dứt thì có tiếng tù và lại rúc lên bên ngoài.
Tiếng tù và rúc lên nhưng chẳng thấy có kẻ nào xông tới. Vân Trọng nói: “Không xong, bọn lục chúng đốt lửa, thổi tù và chắc chắn là kêu viện binh, chỉ e trước khi trời sáng lại sẽ có một trận ác đấu nữa”.
Rồi bảo tùy tung chia ra, cứ mỗi nhóm hai người nấp xung quanh trại.
Quân địch lại rúc tù và lên rồi ngừng hẳn, chỉ có khói lửa vẫn bốc cao, Vân Trọng bước tới nhìn kỹ Đàm Đài Chính Minh rồi hỏi: “Có đỡ hơn chưa?”
Đàm Đài Chính Minh nói: “Đã thoải mái hơn nhiều”. Rồi nàng nhíu mày, chợt nói: “Muội thấy kẻ địch ấy không phải là kẻ cường đạo bình thường”.
Vân Trọng nói: “Sao?”
Đàm Đài Chính Minh nói: “Nếu chỉ là một cường đạo bình thường, bọn chúng không cần che mặt”.
Vân Trọng nói: “Muội cho rằng đó là quân Mông Cổ? Ta nghĩ Dã Tiên không dám làm càn như thế, ta đã sai người kiểm tra ba cái xác, bọn chúng đều là người Hán”.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Tại sao bọn chúng phải che mặt? Sao lại có nhiều người Hán làm cường đạo ở đất Mông Cổ?”
Vân Trọng nhíu mày, chợt nói: “Bọn chúng sợ bị chúng ta nhận mặt, kẻ che mặt đả thương muội trông rất quen thuộc, hình như ta đã gặp ở đâu đó”.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Huynh hãy nghĩ thử xem”.
Vân Trọng nói: “Ồ, ta đã nhớ, khi ta tỉ thí đoạt Võ trạng nguyên, ta đã từng gặp người này. Lúc đó cử tử tỉ võ rất nhiều, ta không giao thủ với y, nhưng không nhớ nổi y là ai”.
Nghĩ ngợi một lát, Vân Trọng lại thở dài: “Đáng tiếc lúc nãy không bắt sống y được”.
Nói đến đây, đỉnh trại chợt như có vật nặng đè xuống, Vân Trọng cả kinh đứng vọt lên. Chỉ thấy mái trại rách toạc ra, một người rơi xuống, đó chính là kẻ đã đả thương Đàm Đài Chính Minh. Vân Trọng kêu: “Là cao nhân nào đùa với chúng ta thế này?” Chợt thấy lại có một người chui tọt vào nữa, người đó cười ha hả nói: “Tôi đã giúp huynh bắt sống ác tặc, sao bảo là đùa cợt?”
Đàm Đài Chính Minh cả mừng, té ra đó chính là Trương Đan Phong.
Vân Trọng trợn mắt không lên tiếng, chỉ nghĩ bụng: “Trương Đan Phong quả thật xuất thần nhập quỷ”.
Trương Đan Phong nói: “Huynh hãy lột mặt nạ của y xem thử”.
Hình như người che mặt đã bị Trương Đan Phong điểm huyệt đạo ngã xuống đất, chẳng hề động đậy được. Vân Trọng kéo mặt nạ của y xuống, té ra đó là Sa Vô Kỵ. Vân Trọng nhớ khi tỉ võ, y đã bị sư điệt của Thiết Tý Kim Viên là Lục Triển Bằng đánh rơi xuống đài, lúc đó chỉ tưởng y là một cử tử bình thường, không ngờ y là một tên đại tặc tung hoành ở biên giới hai nước.
Vân Trọng nổi giận, nói: “Trương huynh, hãy giải huyệt đạo cho y, để tôi thẩm vấn y”.
Trương Đan Phong mỉm cười, nói: “Viện binh của bọn chúng đã tới, có rất nhiều cao thủ sẽ tấn công vào, đâu có thời gian để huynh thẩm vấn?”
Đàm Đài Chính Minh biết Trương Đan Phong túc trí đa mưu, chắc chắn chàng đã tính toán trước, thế là lập tức nói: “Trương đại ca, chúng ta ít người e rằng không chống chọi lại lâu. Huynh có nghĩ ra cách nào chưa?”
Trương Đan Phong nói: “Vân huynh, tôi đã có cách”.
Vân Trọng đã khâm phục Trương Đan Phong, nói: “Mời huynh cứ ra lệnh”.
Trương Đan Phong nói: “Lập tức rút lui!”
Vân Trọng nói: “Trong đêm tối không biết hư thực của địch, lại có cả phụ nữ, rút lui chẳng phải sẽ càng nguy hiểm hơn hay sao?”
Đàm Đài Chính Minh mỉm cười: “Trương đại ca chắc chắn sẽ có cao kiến”.
Vân Trọng im lặng. Trương Đan Phong nói: “Huynh hãy mang tất cả lễ vật đặt lên ngựa. Bảo những người khác đều bỏ ngựa cùng tôi xông ra, đảm bảo huynh sẽ không hề tổn thương mà còn lập công lớn”.
Vân Trọng nửa tin nửa ngờ, liếc nhìn Đàm Đài Chính Minh, Đàm Đài Chính Minh nói: “Huynh không cần lo lắng cho muội, muội vẫn còn có thể đi được”. Rồi chợt nàng đứng dậy. Trương Đan Phong nói: “Té ra Đàm Đài muội muội đã bị thương! Nếu có thể đi lại được thì không sao, một lát nữa huynh sẽ chữa trị cho muội”.
Rồi bảo nữ binh chọn ra một thớt ngựa tốt, lấy vải dày bọc vó ngựa lại, bỏ tất cả đồ đạc lên lưng ngựa. Vân Trọng gởi tất cả mười tám vệ sĩ lại, lẳng lặng cùng Trương Đan Phong rút đi. Trước khi đi, Trương Đan Phong bảo họ đâm dao lên mông ngựa, những thớt ngựa ấy chạy về phía trận địa của quân địch, trong đêm tối quân địch tưởng họ đánh lén cho nên vội vàng nghênh chiến. Nhân lúc hỗn loạn, Trương Đan Phong đã dắt mọi người âm thầm vượt ra bằng một con đường nhỏ ở phía tây.
Bọn họ đều có khinh công cao cường, vó ngựa đều được bọc vải dày, cho nên khi đi đường không phát ra tiếng, lại là lúc hỗn loạn nên kẻ địch không phát giác. Đi được một hồi, Vân Trọng ngạc nhiên hỏi: “Sao con đường này không có kẻ địch canh giữ?”
Trương Đan Phong cười nói: “Con đường này không có lối ra, hơn mười tên tiêu binh đã bị tôi kết liễu. Yên tâm, đoạn đường bên dưới càng hiểm trở hơn”.
Hai bên đá núi lô nhô, dưới mặt đất dây gai che lối, Trương Đan Phong tay cầm kiếm dắt ngựa dẫn đầu mở đường, trong khoảnh khắc đã ra đến bên ngoài. Ánh trăng bị mây đen che khuất, chỉ có vài ánh sao lấp lánh, hình như ở phía trước có một thung lũng rộng, hai bên là vách núi.
Vân Trọng nói: “Ở phía trước có núi lớn cản đường, trong đêm tối làm sao vượt qua? Rốt cuộc cũng bị bọn chúng phát giác”.
Trương Đan Phong cười nói: “Tôi đang dụ bọn chúng đến đây”. Thế rồi chỉ huy mọi người tìm chỗ cao mai phục. Một lát sau chỉ thấy ánh lửa nối đuôi nhau tiến vào, quả nhiên kẻ địch đã phát hiện đuổi tới. Trương Đan Phong đột nhiên cười ha hả, tiếng cười của chàng vang vọng khắp nơi trong đêm tối, kẻ địch không biết bọn họ nấp ở nơi nào cho nên chạy tán loạn, đột nhiên nghe tiếng kêu cứu vang lên. Trương Đan Phong quát: “Lăn đá xuống!”
Trên núi có rất nhiều tảng đá to, bình thường nhiều người chẳng lay nổi, nhưng tùy tùng của Vân Trọng đều là những kẻ có võ công cao cường, Trương Đan Phong vừa hạ lệnh, đá từ trên cao đã đổ ầm ầm xuống. Dưới ánh lửa, chỉ thấy kẻ địch chạy tán loạn dưới thung lũng, tám chín phần hình như đều đã bị đá đè không đứng dậy nổi.
Vân Trọng nhìn kỹ lại, chỉ thấy bên dưới mặt đất bồng bềnh như nước hồ. Té ra phía dưới là một đầm lớn, bên trên có phủ lục bình, trong đêm tối nhìn cứ tưởng là một mặt đất rộng lớn. Kẻ địch xa vào trong đầm đã khó thoát ra, lại bị đá rơi trúng nên càng thê thảm hơn. Vân Trọng cả kinh, té ra lúc nãy họ vừa đi ngang qua bờ đầm, nếu không phải Trương Đan Phong quen đường thì họ đã sa chân xuống đầm.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Tha cho bọn chúng”.
Trương Đan Phong hạ lệnh ngừng lăn đá, nói với Vân Trọng: “Bọn lâu la có thể tha, nhưng không nên để sổng kẻ thủ lĩnh. Tôi và huynh sẽ đi bắt bọn chúng. Đàm Đài muội muội, muội hãy chờ một lát”.
Trương Đan Phong dắt Vân Trọng ra khỏi núi, lúc này quân địch đã rối loạn, hùa nhau tháo chạy, hai người Trương, Vân lặng lẽ xuất hiện, chỉ thấy có một ông già che mặt và một người khác đang đoạn hậu, trên đường cứ quát tháo gọi bọn lâu la tập hợp lại.
Trương Đan Phong và Vân Trọng đột nhiên nhảy ra, Vân Trọng đâm một kiếm về phía ông già che mặt, ông già ấy lách ra vỗ vù ra một chưởng, nào ngờ thân pháp của Trương Đan Phong càng nhanh hơn, tựa như đã biết trước đường rút của lão, thế là mũi kiếm chệch qua đâm trúng vào vai của lão ta, lão già vỗ vù một chưởng đã sớm mất trọng tâm, lại bị trúng một kiếm cho nên té sầm xuống đất. Trương Đan Phong nắm lấy cổ áo của y giở lên. Vân Trọng nhảy bổ về phía người che mặt kia, trở tay vỗ ra một chưởng, nhưng kẻ này vẫn không ngã xuống, té ra y đã mặc áo da hộ thận. Vân Trọng vỗ thêm một chưởng khiến áo da của y rách toác, Vân Trọng lại vỗ ra tiếp chưởng thứ ba, người ấy hừ một tiếng, xỉa chỉ vào eo Vân Trọng, xoay người tung ra một cước, mũi chân hất vào cổ tay của Vân Trọng. Hai chiêu này hiểm hóc lạ thường, đó chính là võ công thượng thừa của phái Thiên Long ở Tây Tạng, Vân Trọng chỉ đành rút chưởng hộ thân, người ấy lập tức tháo chạy.
Trương Đan Phong bắt xong lão già che mặt, xoay người lại thì chạm phải kẻ ấy, kẻ ấy đánh ra một quyền, Trương Đan Phong đẩy ông già về phía trước chặn lại, rồi chàng xoay người vung chưởng trái ra, chỉ nghe ông già che mặt gào lên như lợn bị chọc tiết, kẻ che mặt lúc nãy cũng rú lên. Trương Đan Phong cười ha hả, nhìn lại ông già che mặt thì ra đã bị đồng bọn đánh bất tỉnh.
Vân Trọng chỉ về phía kẻ ấy hỏi: “Người này võ công cao cường, sao Trương huynh lại tha cho y?”
Trương Đan Phong cười nói: “Nên bắt thì bắt, nên thả thì thả, chi bằng cứ thả y chạy thì hơn”.
Vân Trọng cảm thấy chàng cố ý tỏ ra bí hiểm, cho nên không vui, nhưng cũng không hỏi nữa.
Hai người quay lại chỗ cũ, Đàm Đài Chính Minh khen: “Hay lắm! Quan Công uống rượu chém Hoa Hùng chẳng qua chỉ có thế!”
Trương Đan Phong nói: “Hay lắm, đêm nay không có chuyện gì nữa, chúng ta hãy ngủ cho khỏe. Vân huynh, giờ đây đã đến lúc huynh thăng đường xét xử”.
Rồi gọi mọi người dựng trại, ai nấy đều quay về trại nghỉ ngơi, Trương Đan Phong cùng Vân Trọng, Đàm Đài Chính Minh khiêng ông già che mặt vào trong trại.
Trương Đan Phong đã sớm đoán được kẻ này là ai cho nên vừa kéo mặt nạ xuống quả nhiên đó chính là Sa Đào. Trương Đan Phong lạnh lùng hỏi: “Ngươi bán bạn cầu vinh, thông gian bán nước, chết trăm lần cũng không đủ chuộc tội, may mà đêm nay ta đã đoán được mọi chuyện, nếu không hai nước sẽ đánh nhau vì các ngươi!”
Vân Trọng cũng quát: “Sứ giả đại Minh chẳng có thù oán gì với các ngươi, tại sao ngươi cố ý giết hại bọn ta? Hãy mau khai thực, nếu không sẽ chịu khổ”.
Sa Đào nói: “Ta không hề có ý giết hại các người, càng chẳng muốn khuấy động can qua giữa hai nước”.
Vân Trọng nói: “Vậy tại sao ngươi lại đánh lén bọn ta?”
Sa Đào nói: “Điều này... điều này...” nhưng y ấp úng không nói ra lời. Trương Đan Phong cười lạnh, nói: “Ngươi có nói hay không?” Rồi xỉa hai ngón tay xuống be sườn Sa Đào. Sa Đào lập tức cảm thấy trong người như có hàng trăm ngàn mũi kim, đau đớn vô cùng, y vội vàng nói: “Ngài hãy tha cho tôi, tôi nói, tôi nói”.
Trương Đan Phong giải huyệt đạo cho y, nói: “Nếu nói dối nửa lời, ngươi lại phải chịu khổ”.
Sa Đào nói: “Là Dã Tiên sai khiến tôi”.
Vân Trọng thất kinh, nói: “Nói bậy”.
Sa Đào nói: “Dã Tiên vốn bảo chúng tôi bắt sống ngài, sau đó y sẽ phái binh cứu về, lúc đó ngài sẽ chịu ơn của y”.
Vân Trọng nghĩ mà chẳng thông, Trương Đan Phong cười nói: “Kế sách này thật độc địa, đúng là một viên đá ném chết ba con chim. Đầu tiên là sứ giả thiên triều sẽ mất mặt”.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Y đem quân cứu huynh trở về, huynh lọt vào tay y, lúc này đã là tù binh của y”.
Trương Đan Phong nói: “Như thế trong lúc giảng hòa, y sẽ lấn lướt, lúc đó huynh sẽ không dám chống đối”.
Vân Trọng suy nghĩ kỹ lại thì thầm than mình kém trí, không nhanh nhạy bằng Trương Đan Phong và Đàm Đài Chính Minh.
Trương Đan Phong nói: “Dã Tiên sẽ sai người đón các người ở đâu?”
Sa Đào nói: “Ở núi phía trước”.
Trương Đan Phong nói: “Quả nhiên ngươi không nói dối, được, tha cho ngươi”.
Thế rồi chàng vỗ hai chưởng vào người y, đánh vỡ xương tỳ bà của y, khiến cho y không còn sức phải tàn phế suốt đời, dù có độc chưởng cũng không thể đả thương người. Rồi cũng đối phó với Sa Vô Kỵ như thế.
Vân Trọng nói: “Ngày mai chúng ta làm sao đối phó với quan binh của Ngõa Thích?”
Trương Đan Phong nói: “Huynh hãy ngủ một giấc cho khỏe, giữ đủ tinh thần thì có thể ứng phó được. Tóm lại ngày mai tôi sẽ không mất mặt”.
Đàm Đài Chính Minh nói: “Trương đại ca thần cơ diệu toán, quả thật không ai bì nổi, sao huynh đoán được tất cả mọi chuyện? Chả lẽ huynh có thể biết trước được sự việc?” Vân Trọng cũng rất nghi hoặc, muốn bảo Trương Đan Phong giải thích, Trương Đan Phong mỉm cười xua tay: “Thiên cơ không thể tiết lộ, sáng sớm ngày mai các người sẽ biết cả, cần gì gấp gáp. Vân huynh, các người nên đi ngủ thôi”.
Vân Trọng định đi ngủ, Trương Đan Phong chợt nói: “Ta suýt nữa quên một chuyện, huynh hãy đợi cho một lát. Đàm Đài muội muội, chân của muội thế nào?”
Đàm Đài Chính Minh đi thử hai bước, nói: “Hình như còn hơi đau”. Rồi vén ống quần lên xem, Vân Trọng kêu hoảng: “Chân đã xưng to, Đan Phong, huynh có cách nào trị cho nàng không?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, nhưng huynh phải trị cho Đàm Đài muội muội”. Rồi chàng lấy ra một cây ngân châm, nói: “Huynh hãy đâm hai mũi vào huyệt Thông Tuyền ở dưới gót chân, hai mũi vào huyệt Phượng Vĩ, sáng sớm ngày mai sẽ không còn sưng nữa, được, huynh không cần phải lo, ta sẽ chỉ cho huynh cách châm cứu”. Rồi thuận ta vẽ một bàn chân, nói: “Khí hậu Ngõa Thích không tốt, có rất nhiều người bị chứng đau khớp, cách châm cứu này của tôi không những có thể chữa trị vết thương của Đàm Đài muội muội, mà còn có thể chữa được những người bị què, Vân huynh, huynh phải học”.
Vân Trọng nghĩ bụng: “Nàng không phải là người què, cần gì phải học nhiều như thế!” Rồi nói: “Ngày sau học cũng không muộn”.
Trương Đan Phong nói: “Không học không được! Huynh không chịu học phải không? Được, tôi sẽ trao cuốn sách này cho huynh, Đàm Đài muội muội, muội hãy thúc giục Vân huynh học đấy nhé”. Rồi lấy ra một quyển sách, xé một chương trong đó nhét vào tay Vân Trọng. Vân Trọng cảm thấy rất ngạc nhiên.
Đó chính là:
Ý tốt này người chẳng hay, nhưng rồi sau sẽ biết.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 30
Chống lại kim bài liều mình cứu bạn tốt
Lấy thân chèn pháo liều mình hộ Trương lang
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:27 pm

Hồi 30
Chống lại kim bài liều mình cứu bạn tốt
Lấy thân chèn pháo liều mình hộ Trương lang


Đàm Đài Chính Minh rất lanh trí, thấy Trương Đan Phong cứ buộc Vân Trọng học thuật châm cứu này thì biết chắc chắn có nguyên cớ khác, cười rằng: “Nếu Trương đại ca đã có ý tốt, huynh hãy cứ nhận lấy”.
Vân Trọng thấy nàng nói như thế thì cũng cầm lấy, trong lòng thầm ngạc nhiên.
Trương Đan Phong nói: “Thôi được, huynh hãy trị thương cho Đàm Đài muội muội, tôi không quấy nhiễu hai người nữa”. Rồi vén rèm bước ra.
Sáng sớm hôm sau, Trương Đan Phong gọi Vân Trọng dậy, hỏi: “Thương thế của Đàm Đài muội muội như thế nào rồi?”
Vân Trọng cười rằng: “Thuật châm cứu của huynh thật thần kỳ, vừa mới châm xong nửa canh giờ thì nàng có thể đi lại như thường”.
Trương Đan Phong nói: “Vậy thì chúng ta hãy xuất phát ngay bây giờ, sẽ có tuồng hay đang chờ”.
Vân Trọng không biết Trương Đan Phong lại sẽ sắp đặt chuyện gì, chỉ đành nghe theo lời chàng.
Trong trận kịch chiến đêm qua, phía Vân Trọng chỉ có ba người bị thương, tất cả đều có thể cỡi ngựa.
Đêm qua phía Sa Đào có quá nửa bị rơi xuống đầm, bỏ lại ngựa, cho nên Vân Trọng bảo tùy tùng chọn hai mươi thớt ngựa tốt rồi cùng phóng ra khỏi thung lũng.
Vừa ra khỏi núi thì thấy ở phía trước có một đội nhân mã chạy tới, Vân Trọng ngạc nhiên: “Hình như có một cánh quân”.
Trương Đan Phong cười nói: “Sắp có tuồng hay, các người hãy chờ xem”.
Mọi người qua khỏi chân núi chợt thấy phía trước bụi bốc mù trời, một toán quân Mông Cổ chạy tới, quần áo xốc xếch, người ngựa đều tơi tả, rõ ràng là vừa mới bại trận.
Vân Trọng ngạc nhiên, chỉ thấy phía trước một võ quan Mông Cổ ngồi trên ngựa ôm quyền nói: “Vân đại nhân đến tệ quốc, chúng tôi không thể nghênh đón, mong hãy thứ lỗi”.
Vân Trọng nói: “Các người là ai?” Võ quan ấy nói: “Chúng tôi phụng lệnh Thái sư rước sứ thần vào kinh thành. Ồ, Trương công tử cũng ở đây ư? Thật là hay!”
Võ quan ấy chính là Ngạch Cát Đa, y vừa thấy Trương Đan Phong thì không khỏi lộ vẻ lúng túng, trên trán toát mồ hôi.
Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Thái sư của các người suy nghĩ thật chu đáo”. Rồi thúc ngựa tới phía trước, đột nhiên vươn tay ném một tên võ quan bên cạnh Ngạch Cát Đa xuống đất. Võ quan ấy cũng rất ghê gớm, bị Trương Đan Phong bất ngờ giở lên khỏi lưng ngựa mà vẫn đá ra hai cước, nhưng mau chóng bị Trương Đan Phong điểm vào Ma huyệt, không thể nào cử động được nữa.
Lúc này mọi người đều bất ngờ, Ngạch Cát Đa quát: “Trương công tử, sao ngươi lại vô lễ như thế!”
Trương Đan Phong xé toạc áo của viên võ quan ấy, xoay lưng y ra phía trước, chỉ thấy trên lưng có xâm một chữ “tặc”. Trương Đan Phong cả cười nói: “Là ai vô lễ? Ngươi cũng từng đọc sách Trung Quốc, chắc là biết được chữ “tặc” này chứ? May mà ta đã ghi lại ký hiệu”. Rồi ném tên võ quan ấy, vệ sĩ bên cạnh Vân Trọng vội vàng đón lấy. Trương Đan Phong nói: “Vân đại nhân, gã này chính là tên giặc che mặt hôm qua đã chạy thoát, tên gọi Ma Dự Tán, là võ sĩ dưới trướng của Thái sư Ngõa Thích, ngài hãy dắt y về trao lại cho Dã Tiên!”
Ngạch Cát Đa gầm lớn một tiếng, vung đao chém tới, Trương Đan Phong giở kiếm lên đỡ, chặn được mấy chiêu thì chợt cả cười rằng: “Đêm qua ngươi vẫn chịu khổ chưa đủ sao? Ngươi muốn lọt vào tay ta hay lọt vào tay kẻ thù của ngươi?”
Ngạch Cát Đa ngẩn người ra, mắng: “Té ra mọi chuyện đêm qua đều là do ngươi!” Thế rồi chém xuống một đao Lực Phách Hoa Sơn, Trương Đan Phong ngầm vận nội kình, mượn lực chém ngược lại, hất thanh Bạch Vân kiếm lên, chỉ nghe keng một tiếng, đao và kiếm giao nhau, thanh sóng dày của Ngạch Cát Đa đã bị chặt gãy! Ngạch Cát Đa rút đao bỏ chạy. Trương Đan Phong cười nói: “Ngươi chạy cũng không thoát, ngươi hãy xem ai đến”. Chỉ nghe một tiếng ngựa hí, vó ngựa gấp gáp từ xa vọng tới, chỉ thấy có một bóng trắng, trong chớp mắt bóng trắng ấy hiện ra trước mặt, Đàm Đài Chính Minh kêu lên một tiếng ca ca, té ra kẻ ấy chính là Đàm Đài Diệt Minh, y ngồi trên con Chiếu dạ sư tử mã của Trương Đan Phong.
Ngạch Cát Đa kinh hồn bạt vía, vừa kêu lên được một tiếng: “Đàm Đài tướng quân...”.
Đàm Đài Diệt Minh cả cười nói: “Hôm nay ta sẽ cho ngươi biết thế nào là Đàm Đài Diệt Minh!” Rồi vung tới một quyền, đấm ngã Ngạch Cát Đa. Đàm Đài Diệt Minh đã từng bị Ngạch Cát Đa bức hiếp khi Dã Tiên ra lệnh bao vây phủ Trương Tôn Châu, nay y đã từ quan cho nên chẳng còn lo lắng gì, vì thế cứ mặc sức ra tay.
Tàn binh của Ngạch Cát Đa tuy còn đến hai chục thớt ngựa, nhưng ai cũng biết Đàm Đài Diệt Minh là đệ nhất dũng tướng ở nước Ngõa Thích, nghe y quát như thế, những kẻ nhát gan đều vỗ ngựa bỏ chạy. Đàm Đài Diệt Minh trói chặt Ngạch Cát Đa, Đàm Đài Chính Minh định đến trò chuyện với y, chợt thấy trước mặt bụi lại bốc mù trời. Vân Trọng ngạc nhiên nói: “Dã Tiên dám làm càn, phái đại quân đến hay sao?”
Đàm Đài Diệt Minh cười rằng: “Đó không phải là quân của Dã Tiên”.
Một lát sau, toán quân ấy đã kéo tới, té ra đó là Tù trưởng của một bộ lạc ở Ngõa Thích, Tù trưởng cũ của bộ lạc này bị Dã Tiên giết chết, buộc Tù trưởng hiện nay quy thuận mình, gần đây Dã Tiên đấu tranh với A Thích, bộ lạc này đương nhiên đầu hàng A Thích. Ngạch Cát Đa vốn dắt theo năm trăm kỵ binh tinh nhuệ, đêm qua đã bị bộ lạc này đánh lén, toàn quân hầu như tan rã. Số còn lại chạy trốn cũng đều bị họ bắt sống trở lại.
Đến khi hai bên ngồi lại, Vân Trọng mới biết rõ nguồn cơ, té ra Trương Đan Phong và Đàm Đài Diệt Minh xuống phía nam đón Vân Trọng, nửa đường lại gặp toán quân này của Ngạch Cát Đa, Trương Đan Phong theo dõi thì gặp Ngạch Cát Đa đang bàn bạc cùng với Sa Đào, truyền đạt mệnh lệnh của Dã Tiên, bảo Sa Đào bắt sứ thần của Trung Quốc, rồi Ngạch Cát Đa sẽ ra tay tương cứu. Trương Đan Phong đang lo thiếu người, không thể nào vừa phải chống lại năm trăm tinh binh của Ngạch Cát Đa, vừa phải chống lại đám cướp của Sa Đào, thế là nói với Đàm Đài Diệt Minh, mới biết gần đây có một bộ lạc là kẻ thù của Dã Tiên, vì thế cả hai bên bày mưu tính kế, Trương Đan Phong dụ đám cướp của Sa Đào sa vào đầm lầy, còn Đàm Đài Diệt Minh thì cỡi con Chiếu dạ sư tử mã thuyết phục Tù trưởng của bộ lạc này xuất binh. Hai bên phối hợp với nhau, quả nhiên đã thành công.
Còn tên võ sĩ Ma Dự Tán vốn đi cùng với Ngạch Cát Đa, khi Sa Đào tấn công Vân Trọng thất bại, đã đốt lửa lên cho nên y đến giúp đỡ. Không ngờ bị Vân Trọng đánh một chưởng rách lớp áo da hộ thân, Trương Đan Phong thừa cơ dùng phi châm xâm vào một chữ “tặc” thật lớn trên người y.
Tù trưởng của bộ lạc ấy và Vân Trọng gặp nhau, trao cho nhau “Ha đạt” (là một loại khăn tơ thể hiện sự tôn trọng đối với khách). Hai bên quyết định, Vân Trọng sẽ dắt Ngạch Cát Đa và Ma Dự Tán đi, còn nhân mã và vũ khí đều thuộc về Tù trưởng. Phía Vân Trọng không hề tổn thất. Tù trưởng được Đàm Đài Diệt Minh giúp đỡ, thắng lớn một trận, lại thu được nhiều chiến lợi phẩm cho nên rất hài lòng, cứ luôn miệng đáp tạ, lại đích thân hộ tống Vân Trọng một đoạn.
Ra khỏi thung lũng, Tù trưởng ấy dẫn binh quay về, Vân Trọng tiếp tục lên đường. Lúc này đã đến trưa, ánh mặt trời chói chang, khí lạnh tiêu tan, Vân Trọng vui mừng nói với Trương Đan Phong rằng: “Đêm qua toàn nhờ Trương huynh, Dã Tiên muốn hạ oai chúng ta ai ngờ đã bị chúng ta nắm trúng yếu điểm”.
Trương Đan Phong mỉm cười. Đàm Đài Chính Minh nói: “Vân đại ca, cũng nhờ đêm qua huynh chỉ huy đúng cách chúng ta mới tránh được tai nạn, công lao của huynh cũng không nhỏ”.
Đàm Đài Diệt Minh thấy thế thì cười thầm: “Té ra ả nha đầu đã chọn được ý trung nhân từ lâu”.
Y thấy hai người thân mật như thế, nghĩ lại cảnh ngộ bất hạnh của Trương Đan Phong thì không khỏi thầm đau lòng.
Trương Đan Phong cũng buồn bã. Vân Trọng đang vui mừng chợt hỏi: “Lối muội đâu? Sao Lối muội không đi cùng Trương huynh, chẳng lẽ một mình Lối muội ở kinh thành Ngõa Thích ư?” Chàng đã muốn hỏi câu này từ lâu, nhưng đêm qua bận rộn, cho đến hôm nay mới có thời gian nói chuyện gia đình.
Trương Đan Phong sững người ra, cố nén nỗi xúc động trong lòng, thản nhiên đáp: “Ồ, Lối muội không đi cùng tôi, nàng đã về nhà thăm mẹ”.
Vân Trọng cả mừng nói: “Không biết mẹ tôi có còn sống hay không?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Nghe nói lệnh tôn cũng đã trở về nhà. Vân đại nhân, lần này cả nhà ông đoàn tựu thật là chuyện đáng mừng!”
Vân Trọng vui mừng đến nỗi phát điên: “Thật không?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Làm sao là giả được? Chỉ là...” Rồi chợt thấy Trương Đan Phong liếc nhìn y, cho nên y chẳng dám nói gì nữa.
Vân Trọng nói: “Chỉ là thế nào?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Chỉ là đường xa muôn dặm, họ không thể đến gặp gỡ ngài”.
Vân Trọng cười nói: “Tôi dù phải ở lại kinh thành Ngõa Thích bao nhiêu lâu cũng phải chờ họ”.
Chàng chợt thấy Trương Đan Phong lạnh lùng thì không vui, nghĩ bụng: “Họ Vân và họ Trương có mối thù truyền kiếp, y bảo cha mình còn sống đương nhiên sẽ không vui. Gã này lòng dạ vốn phóng khoáng, nhưng cũng có lúc rất hẹp hòi. Cũng được, sau này sẽ càng dễ chia cắt y với A Lối hơn”.
Sau sự việc vừa rồi, sự thù hận của Vân Trọng đối với Trương Đan Phong đã giảm được mấy phần, thậm chí có thể nói, chàng đã hoàn toàn không coi Trương Đan Phong là kẻ thù nữa. Chỉ vì vẫn chưa thông suốt, không muốn cho Vân Lối đi lại với Trương Đan Phong.
Mọi người đi được hơn mười ngày thì đến kinh thành Ngõa Thích. Vân Trọng dừng ngựa đứng từ xa nhìn vào, trong lòng có vô vàn cảm khái, nghĩ lại mình lúc còn nhỏ đã trải qua những nam tháng đắng cay nhất, nhưng nay đã trở thành một sứ thần, chợt nhớ lại tình cảnh ba đời nhà mình ở Ngõa Thích, bất giác rơi nước mắt, cũng không biết là vui mừng hay đau lòng.
Chợt nghe ba tiếng pháo nổ, cửa thành mở rộng, Quốc vương Ngõa Thích đã nhận được tin sứ thần Trung Quốc đến cho nên phái người ra nghênh đón. Người của Dã Tiên cũng ra thành, bọn chúng không thấy toán kỵ binh của Ngạch Cát Đa hộ tống thì rất ngạc nhiên. Bọn chúng nằm mơ cũng không ngờ rằng, Ngạch Cát Đa và Ma Dự Tán đều trở thành tù binh, đang bị nhốt trong cỗ xe la kín mít. Còn Trương Đan Phong và Đàm Đài Diệt Minh vừa nghe tiếng pháo đón khách thì đã dong ngựa vào thành bằng lối khác, trở về nhà.
Dã Tiên đang ngồi thấp thỏm chờ tin tức của sứ thần triều Minh, nghe gia nhân về báo cáo, sứ thần triều Minh dắt theo mười tám tùy tùng, lại còn có cả phụ nữ, ai nấy đều có thân thủ phi thường, giáp trụ sáng choang, không hề có vẻ mệt mỏi tơi tả như bị đánh lén. Còn năm trăm kỵ binh cùng với Ngạch Cát Đa thì chẳng thấy tăm hơi. Dã Tiên thất kinh, cảm thấy rất ngạc nhiên, nghĩ bụng: “Ngạch Cát Đa và Ma Dự Tán võ công cao cường, lại rất khôn khéo, còn có năm trăm kỵ binh và đám cướp của Sa Đào giúp đỡ, không có lý nào thất thủ. Dù cho thất thủ cũng phải có người chạy về báo tin, sao lại không có ai! Chả lẽ sứ giả của triều Minh là thiên thần?” Y cứ mải suy nghĩ cho nên suốt đêm không ngủ, sáng sớm hôm sau thì sai người đến khách sạn mời sứ thần triều Minh vào phủ Thái sư gặp gỡ.
Dã Tiên là Thái sư của Ngõa Thích, y đã tự trao quyền cho mình trong cuộc nghị hòa này, theo lệ tiết, Vân Trọng phải đến gặp y. Vì thế chằng dắt theo bốn tùy tùng, đánh một cỗ xe la đến phủ Thái sư.
Dã Tiên đã đợi từ sáng sớm, đến gần trưa mới có vệ sĩ vào báo cáo, bảo rằng sứ thần của triều Minh đã tới, lại còn đánh theo một cỗ xe lừa. Dã Tiên thầm ngạc nhiên, nghĩ bụng: “Chả lẽ bọn chúng chở theo một xe lễ vật, những lễ vật này chắc chắn là thứ nặng nề to lớn”.
Thế rồi lập tức mở rộng trung đường, cho kẻ hầu người hạ lui xuống, mời sứ thần vào trong gặp gỡ.
Vân Trọng tướng mạo hiên ngang, dáng dấp đỉnh đạc, khi băng qua hai hàng vệ sĩ với gươm đao sáng loáng mà không hề e ngại, Dã Tiên nhìn thấy cũng không khỏi bất ngờ. Bởi vì y thấy hình như đã gặp người này ở đâu. Trong khoảnh khắc, hình bóng người một sứ thần triều Minh khác lướt qua trong đầu, hình bóng của Vân Tĩnh vào ba mươi năm trước, chăn ngựa ở Ngõa Thích hai mươi năm mà không hề cúi đầu, người này giống như chàng thiếu niên ở trước mặt.
Vân Trọng bước lên trao lễ vật của Hoàng đế Trung Quốc, chẳng qua chỉ là những thứ ngọc ngà châu báu, đó chính là lễ tiết giữa hai nước, Vân Trọng chuyển lời thăm hỏi của Hoàng đế với Dã Tiên, Dã Tiên hỏi họ tên, nghe chàng bảo là họ Vân, lòng thầm thất kinh rồi cười gượng: “Thật là khéo, sứ thần ba mươi năm trước đến đây cũng là họ Vân”.
Vân Trọng cười rằng: “Có điều còn trùng hợp hơn! Ba mươi năm trước gia gia đi sứ, ba mươi năm sau cháu nội của ông ta cũng đi sứ, xin hỏi Thái sư, đây có phải là một giai thoại hay không!”
Dã Tiên biến sắc, cười khan mấy tiếng rồi nói: “Giai thoại, giai thoại!” Vẻ lo lắng, lúng túng hiện ra trên mặt. Vân Trọng đắc ý, cười ha hả rồi nói thêm một câu: “Lần này tôi đi sứ đã học được bản lĩnh nuôi ngựa, khi cần thiết sẽ ở lại quý quốc!”
Dã Tiên lúng túng vô cùng, cười khan rồi nói: “Vân đại nhân thật biết nói đùa!” Rồi ho một tiếng, vuốt râu nói: “Vân đại nhân lần này đi sứ, tệ quốc không nghênh đón được từ xa, lão phu xin cáo lỗi. Vân đại nhân vượt ngàn dặm xa xôi đến đây, trên đường chắc rất vất vả!”
Dã Tiên nói như thế một là để lái sang chuyện khác, hai là muốn thăm dò xem trên đường chàng có gặp chuyện gì không. Vân Trọng cười lạnh nói: “Cũng chẳng có gì, chỉ là sau khi vào địa phận của quý quốc, vô tình gặp vài tên tiểu tặc mà thôi”.
Dã Tiên hoảng hồn, nghĩ bụng: “Nếu là mấy tên tiểu tặc, chắc không phải là bọn Ngạch Cát Đa”. Vội vàng nói: “Gặp giặc cướp ở đâu? Vân đại nhân có nhớ không? Bọn quan viên ở đó thật là thất trách, tôi sẽ lập tức cắt chức bọn chúng”.
Vân Trọng cười nói: “Không cần, dù sao thì tôi cũng chẳng tổn thất gì, tôi có một chút quà mọn xin dâng lên cho Thái sư”.
Dã Tiên tươi cười, nói: “Vân đại nhân cần gì phải khách sáo thế”.
Vân Trọng nói: “Xin đại nhân cho phép tôi đem lễ vật trong xe vào đây”.
Dã Tiên nghĩ bụng: “Ta đoán không sai, trong xe quả nhiên là lễ vật. Nhưng lễ vật nặng nề này chắc chẳng phải thứ gì tốt lành”.
Nhưng dù sao đó cũng là lễ vật của sứ thần Trung Quốc, y đang lo Vân Trọng cứng cỏi, khó đối phó, thế mà chàng đã tỏ ra kính trọng y, đương nhiên y rất vui mừng. Do đó Dã Tiên cũng không cần để ý lễ vật có quý giá hay không, thế là nói với lời khiêm nhường, một mặt bảo người trong phủ tránh ra một lối để cho tùy tùng của Vân Trọng khiêng lễ vật vào sảnh.
Vân Trọng mỉm cười, Dã Tiên nhìn ra bên ngoài, chỉ thấy bốn tùy tùng của Vân Trọng khiêng hai bao bố lớn bước vào. Dã Tiên còn tưởng đó là đặc sản của Trung Quốc, thầm cười Vân Trọng keo kiệt, bao bố chợt vùng lên, nghe một tiếng kêu ối chao từ bên trong vọng ra, khi mở miệng bao, hai người đang bị trói trong bao lăn ra, trong đó một người bị xâm trên lưng một chữ “tặc”. Vân Trọng cười: “Đây chỉ là một ít quà để tỏ lòng thành, mong Thái sư hãy nhận cho!”
Không cần hỏi cũng biết, hai người bị trói ấy chính là Ngạch Cát Đa và Ma Dự Tán, bọn chúng vì bị nhốt trong bao bố lâu ngày, đầu váng mắt hoa, nay đột nhiên được giải huyệt đạo, đến khi mở bừng mắt ra thì thấy Dã Tiên, còn tưởng mình đã được cứu thoát, không khỏi cả mừng kêu lên: “Thái sư...”.
Dã Tiên thấy kinh, nhưng dẫu sao y vẫn là một kẻ gian hùng, trong khoảnh khắc đã đoán được chuyện gì đã xảy ra, thế là sầm mặt, lập tức quát: “Hai tên tiểu tặc nhà ngươi dám mạo phạm sứ giả của thiên triều, người đâu, hãy kéo xuống đánh ba trăm hèo rồi nhốt vào thiên lao đợi ta xử lý”.
Ngạch Cát Đa, Ma Dự Tán sợ đến nỗi hồn bay phách tán, chỉ nghe bọn vệ sĩ dạ ran, lôi xềnh xệch cả hai ra phía sau.
Vân Trọng lại mỉm cười, nói: “Thái sư ngày tính muôn chuyện, không cần phải hao hơi tốn sức vì hai tên tiểu tặc này, cho nên tôi đã bắt hộ bọn chúng cho Thái sư”.
Dã Tiên mặt đỏ ửng, nói: “Hai tên tiểu tặc này thật khiến cho ta mất mặt. Hừ, hừ, nhất định phải sử nặng, phải xử nặng!”
Vân Trọng chẳng nói lời nào, chỉ lạnh lùng nhín y, để mặc cho y nói. Dã Tiên càng nói thì càng thấy y dối trá, hai người này là võ sĩ dưới trướng của y, lại còn mang theo năm trăm thiết kỵ, được Sa Đào giúp đỡ, thế nhưng đã bị Vân Trọng dễ dàng bắt sống, Dã Tiên làm sao mà không sợ cho được? Lại thêm bộ dạng của Vân Trọng lúc này tựa như đang thẩm vấn, lúc này sắc mặt của Dã Tiên đã trắng bệt, lúng túng chẳng biết nói lời gì nữa.
Vân Trọng thấy thế thì thầm cười rằng: “Hôm nay đùa với y đã đủ, thôi được, không cần phải dồn ép y nữa, để khỏi y thẹn quá hóa giận lại bày trò khác thì hỏng việc”.
Thế rồi chàng mỉm cười, nói: “Có vài tên tiểu tặc trong nước cũng là chuyện bình thường, Thái sư đừng để trong lòng, chúng ta hãy bàn chuyện hòa ước đi thôi”.
Dã Tiên thở phào, nói: “Vân đại nhân nói phải”.
Vân Trọng lấy ra một quyển sách nhỏ đưa tới rồi nói: “Đây là bản nháp hòa ước của chúng tôi, mời Thái sư xem qua”.
Vu Khiêm đã soạn bản hòa ước này, nội dung chủ yếu rất đơn giản, chẳng qua là yêu cầu mỗi bên giữ biên cương của mình, đối xử bình đẳng với nhau, hai bên mãi mãi không dấy động can qua nữa. Điều khoản phụ là Ngõa Thích phải lập tức thả Thái thượng hoàng của Trung Quốc về. Dã Tiên xem qua, trầm ngâm không nói. Y vốn đã soạn một bản hòa ước khác, mô phỏng bản hòa ước mà năm xưa Tống triều đã ký với nước Kim, yêu cầu vua nhà Minh phải tự xưng là tiểu bối, kết tình “thúc điệt” với Ngõa Thích, mỗi năm phải cống nạp ba trặm vạn lượng bạc, bốn vạn cây gấm vóc, nhưng không ngờ khéo quá hóa vụng, y đã nặn óc ra bày mưu tính kế, muốn bắt sứ thần của triều Minh, nhưng ngược lại bị sứ thần của triều Minh nắm trúng chỗ hiểm. Lúc này trước phong thái đỉnh đạc của Vân Trọng, Dã Tiên tựa như chú gà trống bại trận, không dám đưa ra ra bản nháp của mình. Vân Trọng nghiêm mặt nói: “Trung Quốc là nước lễ nghĩa, nay muốn kết tình huynh đệ với quý quốc, chuyện trước kia không cần nhắc lại nữa, theo bản hòa ước này thì hai bên không nước nào thiệt thòi. Nếu Thái sư còn có hai lòng ba ý muốn bức hiếp Trung Quốc, ở biên quan chúng tôi cũng có mười vạn hùng binh, có thể đối chọi với Thái sư”.
Những lời này của Vân Trọng có mềm có cứng, lại rất hợp lý. Dã Tiên lần trước đánh vào Trung Quốc, tuy thu được toàn thắng ở thành Thổ Mộc, bắt sống được Hoàng đế triều Minh, nhưng lại thua to ở Bắc Kinh, bị đuổi ra khỏi Nhạn Môn quan, trong cuộc chiến này cả hai bên đều có thắng thua, không ai có thể tự cho mình là nước thắng trận. Hòa ước của triều Minh cũng rất công bằng. Dã Tiên nghĩ bụng: “Sứ thần này thật khó ứng phó, lợi hại hơn cả gia gia của y, có kéo dài thêm nữa cũng chẳng chiếm được phần lợi gì”. Lại thêm y đang lo lắng chuyện A Thích, cho nên chỉ đành nhận bản nháp của Vân Trọng, hẹn để cho Quốc vương Ngõa Thích xem qua rồi sẽ bàn tiếp.
Mọi việc diễn ra rất thuận lợi, không đầy mười ngày thì hai bên đã đồng ý ký vào hòa ước. Hai bên quy định, sau khi ký hòa ước, sứ thần triều Minh sẽ đón Thái thượng hoàng của họ về nước, lúc này Hoàng đế Chu Kỳ Trấn cũng được đưa vào hoàng cung của Ngõa Thích, được tiếp đãi bằng lễ quốc quân. Trong thời gian hai bên bàn bạc, Trương Đan Phong đã sai người gởi thư cho Vân Trọng, mời Vân Trọng đến nhà mình. Vân Trọng nhớ thù xưa, tuy không còn căm ghét Trương Đan Phong nhưng cũng không tới. Trương Đan Phong cũng không đến gặp chàng.
Thời gian trôi qua, sứ thần triều Minh cũng sắp rời khỏi Ngõa Thích. Đêm hôm nay Vân Trọng sung sướng vô cùng, cứ đi qua đi lại trong khách sạn, chẳng thể nào ngủ được. Ở một nơi khác, cũng có hai người sung sướng vô cùng, không thể nào ngủ được. Hai người đó chính là Trương Đan Phong và cha của chàng. Song tâm trạng của hai cha con lại rất khác nhau. Trong nỗi sung sướng của Trương Tôn Châu có nỗi u buồn, lúc này cả hai đang đứng ngoài vườn hoa.
Mấy ngày hôm nay, Trương Tôn Châu cứ giống như cây bị khô hạn, gió xuân đã thổi tới nhưng vây vẫn không hề nảy mầm mới. Ông ta cứ nhốt mình trong phòng đọc sách ngay cả con mình cũng ít nói chuyện, chẳng hề nhắc đến tin tức sứ giả triều Minh đến, sự trầm mặc trái lẽ thường ấy khiến cho người nhà đều lo lắng, Trương Đan Phong vốn muốn đến gặp Vân Trọng, nhưng vì cha mình nên không dám rời khỏi cửa nửa bước.
Đêm nay, Trương Tôn Châu lại gọi con mình tới, hai cha con dạo bước trong vườn, im lặng một lúc lâu mà chẳng nói, nhìn mặt trăng dần dần lên cao, Trương Đan Phong thở dài ngâm rằng: “Trăng trong vườn đêm nay, sang năm chỉ có thể ngắm một mình”.
Trương Đan Phong nhói lòng, kêu lên: “Cha”.
Trương Tôn Châu cười buồn bã, chợt hỏi: “Nghe nói hòa ước đã ký, ngày mai sứ giả triều Minh sẽ trở về nước, đúng không?” Đây là lần đầu tiên ông hỏi đến sứ giả triều Minh. Trương Đan Phong nói: “Đúng thế”.
Trương Tôn Châu nói: “Sứ thần cũng là họ Vân, đúng không?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế”.
Chàng đã suy nghĩ rất kỹ, Vân Trọng không muốn đến gặp cha mình, chàng cũng không dám cho cha mình biết thân phận của Vân Trọng. Trương Tôn Châu nói: “Sứ thần này đã không nhục sứ mệnh, giỏi hơn Vân Tĩnh năm xưa nhiều!”
Ông không biết sứ thần này chính là cháu nội của Vân Tĩnh. Trương Đan Phong mỉm cười gật đầu, Trương Tôn Châu nói: “Phong nhi, vậy ngày mai con cũng ra đi!”
Trương Đan Phong giật mình, chàng đã mong muốn điều này từ rất lâu, nhưng nay cha đã nói ra, chàng cũng không biết trong lòng mình có cảm giác gì, chàng chỉ hiểu rằng, nếu ngày mai mình ra đi thì sẽ không bao giờ gặp lại cha già nữa.
Sinh li tử biệt từ xưa đến nay là nỗi khổ của con người, huống chi lần này chàng phải từ biệt người cha đã sinh ra mình! Trương Đan Phong cố nén lòng, biết rõ cha sẽ không trở về theo mình, nhưng vẫn hỏi: “Còn cha thì sao?”
Trương Tôn Châu sầm mặt, chợt cười: “Ta đã gói ghém thay con tất cả đồ đạc, đây là lần cuối cùng ta chăm sóc cho con”.
Trương Đan Phong xúc động vô cùng, chàng buột miệng nói: “Cha, cha không đi con cũng ở lại bên cạnh cha”.
Trương Tôn Châu nhẹ nhàng nói: “Không, con phải trở về! con vẫn còn trẻ. Đàm Đài tướng quân sẽ đi về cùng con, ta đã nói cho y biết”.
Trương Đan Phong nói: “Đàm Đài tướng quân cũng đi?...”. Chàng định nói thêm “vậy chẳng phải cha sẽ cô độc một mình sao?” Trương Tôn Châu mỉm cười: “Đúng thế, Đàm Đài tướng quân...” Chợt thấy một bóng người lướt tới, Đàm Đài Diệt Minh đã chạy tới trước mặt. Trương Tôn Châu vẫn mỉm cười, định nói: “Vừa nói Tào Tháo thì Tào Tháo đã tới”.
Chỉ nghe Đàm Đài Diệt Minh thở hổn hển, rung giọng nói: “Chúa công, không xong!”
Trương Tôn Châu chưa bao giờ thấy Đàm Đài Diệt Minh lo lắng như thế, hỏi: “Chuyện gì?”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Chúng ta đã bị bao vây”.
Trương Đan Phong lắng nghe, quả nhiên bên ngoài có tiếng người. Trương Tôn Châu vẫn bình thản: “Vậy chúng ta ra xem thử”.
Trương Đan Phong và Đàm Đài Diệt Minh nhảy lên bức tường, chỉ thấy bên ngoài phủ đã bị bao vây mấy vòng, trước cửa còn có một cỗ hồng y đại pháo! Thuốc nổ đã được người Mông Cổ sử dụng đầu tiên trên chiến trường, năm xưa ngang dọc châu Âu, cũng nhờ vào uy lực của loại vũ khí này hôm nay không ngờ lại sử dụng đối phó với nhà họ Trương. Đằng sau cỗ hồng y đại pháo có ba thớt ngựa khoẻ, đó chính là Ngạch Cát Đa, Ma Dự Tán và sư huynh của Thanh Cốc pháp sư là Bạch Sơn pháp sư.
Quân Mông Cổ đã đốt ngọn đuốc, thấy Trương Đan Phong đứng trên bức tường, tất cả đều hò hét ầm ĩ, Trương Đan Phong bình tĩnh nói: “Các người đang làm gì?” Chàng vẫn đứng nói chuyện, tiếng nói của chàng át cả tiếng la hét của quân Mông Cổ. Ngạch Cát Đa vỗ ngựa bước tới trước, cả cười nói: “Trương Đan Phong, xem thử hôm nay ngươi còn có thủ đoạn gì? Ngươi muốn chết hay muốn sống?”
Trương Đan Phong nói: “Thế nào?”
Ngạch Cát Đa nói: “Nếu muốn sống thì tự tay ngươi hãy trói tất cả những người trong nhà lại, trừ cha ngươi, sau đó mở rộng cửa để cho bọn ta dắt cha con ngươi đến cho Thái sư xử lý”.
Trương Đan Phong hừ một tiếng, nói: “Nếu không thì sao?”
Ngạch Cát Đa nói: “Ta sẽ cho ngươi một chút thời gian để các ngươi suy nghĩ cho kỹ càng. Ngươi đã thấy cỗ đại pháo này. Dù võ công của ngươi cao cường cũng khó chống trả nổi. Đến canh năm các ngươi phải trả lời, nếu dám nói nửa chữ không hay muốn chống cự, vậy thì xin lỗi, trời vừa sáng ta sẽ cho nổ pháo!”
Trương Tôn Châu nói: “Phong nhi, xuống đây”.
Trương Đan Phong và Đàm Đài Diệt Minh bước tới trước mặt Trương Tôn Châu, Trương Tôn Châu nói: “Xem ra Dã Tiên cũng không yên tâm đối với ta, cứ để ta theo bọn chúng! Con và Đàm Đài tướng quân hãy chạy trốn!”
Trương Đan Phong nói: “Không được! Con không thể để cha bị Dã Tiên làm nhục!”
Trương Tôn Châu suy nghĩ một lát, chợt cười lớn nói: “Chí khí lớn, chí khí lớn! Ba đời nhà chúng ta đều nhịn nhục cầu sinh ở Ngõa Thích, nay Trung Quốc đã mạnh, không cần phải nhịn nhục chúng nữa. Thôi được, ta và người nhà sẽ chết ở đây, các người hãy xông ra từ cửa sau!”
Trương Đan Phong nói như chém đinh chặt sắt: “Không được!”
Đàm Đài Diệt Minh cũng nói: “Có chết, tôi cũng chết cùng chúa công”.
Trương Tôn Châu mỉm cười mà rưng rưng nước mắt: “Các người là con trai tốt của ta, thuộc hạ tốt của ta, chỉ là ta đã liên lụy cho các người”.
Trương Tôn Châu nghĩ lại hai đời nhà ông ta, chỉ vì sai trong nhất thời, muốn mượn sức của Ngõa Thích tranh giành giang sơn với triều Minh, làm quan cho Ngõa Thích, giúp cho Ngõa Thích lớn mạnh, không ngờ nay gậy ông đập lưng ông, không những Trung Quốc suýt bị Ngõa Thích tiêu diệt mà ngay cả nhà mình cũng sắp tan hoang dưới pháo của Dã Tiên!
Bên ngoài vọng lại tiếng Ngạch Cát Đa: “Đã suy nghĩ xong chưa? Trời sáng bọn ta sẽ nổ pháo!”
Lúc này Trương Đan Phong cũng chẳng nghĩ ra được kế gì đối phó, thấy vẻ bi phẫn của cha già, lòng càng thêm lo lắng!
Ngay lúc này, ở một nơi khác cũng có một người lo lắng hơn, người đó chính là con gái của Dã Tiên.
Thoát Bất Hoa đương nhiên biết hòa ước đã được ký, ngày mai sứ thần triều Minh sẽ quay về, cũng đoán Trương Đan Phong sẽ trở về cùng họ, trong lòng đau khổ, Dã Tiên cũng biết điều đó. Đêm nay Dã Tiên uống mấy chén rượu, đến lúc ngà ngà thì nói với con gái rằng: “Con đừng lo lắng, ta thấy Trương Đan Phong ngày mai chưa chắc sẽ ra đi, ta có một cách bắt y trở lại. Ta chỉ có một đứa con gái là con, con muốn trăng trên trời, ta cũng hái xuống cho con. Hoa nhi, con thấy cha có thương con không!”
Thoát Bất Hoa vừa lo vừa mừng, khi hỏi thì Dã Tiên chỉ uống rượu chứ không nói nữa.
Đêm nay, Thoát Bất Hoa lòng chưa chan tâm sự, không biết cha đang có mưu kế gì, đến nửa đêm thì bên ngoài khách sảnh có người nói chuyện, Thoát Bất Hoa len lén bước ra, núp sau tấm bình phong.
Trong sảnh có hai người, một người là Dã Tiên, người kia là Tổng quản trong phủ Thái sư Oa Trát Hợp. Thoát Bất Hoa nín thở ngưng thần lắng nghe. Chỉ nghe Dã Tiên hỏi: “Ngày mai sứ giả triều Minh sẽ ra thành, các người đã chuẩn bị lễ vật đầy đủ chưa?”
Oa Trát Hợp nói: “Đã chuẩn bị đầy đủ”.
Dã Tiên nói: “Tên tiểu tử họ Vân thật khó đối phó, cám ơn trời đất, y ra về thì ta yên lòng”.
Oa Trát Hợp nói: “Thái sư có đi tiễn không?”
Dã Tiên nói: “Ngươi sẽ đi thay ta, cứ bảo là ta bị bệnh. Dẫu sao đã có Quốc vương đưa họ ra khỏi thành, cũng đã long trọng”.
Thoát Bất Hoa nghe họ nói toàn là chuyện đưa tiễn sứ giả triều Minh, cũng chẳng có gì đáng nghe nữa cho nên định quay về ngủ, chợt nghe cha hỏi: “Uy lực của hồng y đại pháo rất lớn, ngươi thấy tiếng pháo nổ có vọng ra ngoài thành không?”
Oa Trát Hợp nói: “Phủ đệ của Trương Tôn Châu cách cửa thành hơn mười dặm, tiếng pháp có thể truyền đi mười dặm, khi trời sáng họ đã ra thành, lại cách một lớp tường thành rất dày, dù cho có nghe thấy cũng như tiếng tre nổ, chẳng thể nào nghi ngờ được”.
Thoát Bất Hoa thất kinh, chỉ nghe Oa Trát Hợp lại nói: “Vả lại cũng không nhất định phải cho nổ pháo, trước họng pháo, thế nào bọn chúng cũng ngoan Ngoãn chịu nghe theo Thái sư!”
Dã Tiên nói: “Cha con Trương Tôn Châu rất ngang ngạnh, nhất là Trương Đan Phong, y chịu mềm chứ không chịu cứng, ta thấy bọn chúng có thể thà chết cũng không phục”. Ngừng một lát rồi thở dài: “Trương Đan Phong văn võ song toàn, là một bậc nhân tài, đáng tiếc y không chịu nghe lời ta, nếu để y về nước, đó sẽ là mối lo cho Ngõa Thích, cũng mong y đầu hàng ta. Nếu không dù cho Thoát Bất Hoa đau lòng cũng phải trừ y”.
Té ra sau khi mọi chuyện xảy ra, Dã Tiên tra hỏi Ngạch Cát Đa và Ma Dự Tán, biết rằng chính Trương Đan Phong đã cứu Vân Trọng, bắt sống Sa Đào, tiêu diệt năm trăm kỵ binh của Dã Tiên. Dã Tiên vừa lo vừa giận, cho nên đã quyết định hôm nay sẽ cho nổ pháo. Nhưng trước khi sứ giả triều Minh rời khỏi Ngõa Thích thì không thể làm thế. Cho nên phải đợi trước khi trời sáng, sứ giả triều Minh rời khỏi thành.
Thoát Bất Hoa nghe xong thì lo lắng vô cùng. Nghe bên ngoài tiếng trống gõ đánh canh ba, sau khi Dã Tiên dặn dò xong Oa Trát Hợp mới quay về ngủ. Phòng ngủ của Dã Tiên đối diện với phòng của Thoát Bất Hoa, Thoát Bất Hoa nấp trong phòng, chỉ thấy bóng cha già vẫn đi qua đi lại trong phòng, nghĩ bụng chắc ông ta rất căng thẳng cho nên khuya rồi mà vẫn chưa ngủ. Thoát Bất Hoa càng lo hơn Dã Tiên cả trăm lần, nàng đang suy nghĩ tìm cách cứu Trương Đan Phong, nhưng Dã Tiên vẫn chưa nghỉ, nàng không dám đi ra ngoài.
Một lát lâu sau Dã Tiên mới tắt đèn, Triệu Hải Bình thhở phào nhảy bật dậy.
Chợt nhớ bên ngoài có người canh gác, nếu mình chạy ra, đương nhiên họ không dám ngăn cản, nhưng sẽ đánh thức cha. Thoát Bất Hoa nghĩ một lát rồi len lén gọi ả thị nữ dậy, bảo ả hâm nóng hai bầu rượu đưa cho hai tên vệ sĩ bên ngoài vườn hoa uống, nói dối rằng vì trời lạnh nên Thái sư ban thưởng. Nàng đã ngầm bỏ thuốc mê vào trong rượu.
Thoát Bất Hoa thấp thỏm lo âu, nàng sợ hai gã vệ sĩ không mắc lừa, nàng hận không có cách nào níu giữ lại thời gian. Một lát sau ả thị nữ quay về báo, hai gã vệ sĩ đã ngủ say như chết. Thoát Bất Hoa thay đồ dạ hành, len lén chạy ra vườn hoa, phóng ra khỏi vách tướng. Lúc này trống canh đã gõ bốn tiếng.
Lúc này Vân Trọng đang ở trong tân quán cũng rất sung sướng, không thể nào ngủ được. Vua Ngõa Thích đã hẹn cùng với chàng, sáng sớm ngày mai sẽ lấy lễ đưa tiễn vua Minh triều, đưa Hoàng đế Chu Kỳ Trấn ra thành tề tựu với Vân Trọng cùng về nước. Đây là lễ tiết long trọng nhất, không cần Vân Trọng phải vào triều từ biệt.
Bên ngoài trăng sáng vằng vặc, bầu trời không một gợn mây. Vân Trọng nhìn lên nghĩ bụng: “Ngày mai có lẽ trời rất đẹp. Xuân qua đông tới, được quay về quê cũ, Hoàng thượng không biết sẽ vui mừng biết bao nhiêu!”
Nghĩ lại mình đi chuyến này may mắn không nghịch sứ mệnh, không những đã ký được hòa ước mà còn rước Hoàng đế về nước, chuyện này chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử, Vân Trọng vui mừng cho Hoàng đế, cũng thấy mình may mắn.
Nhưng trong nỗi vui mừng cũng có chút đau khổ. Trước lúc rời Ngõa Thích, Vân Trọng đương nhiên càng nhớ cha mẹ và em gái hơn, chả lẽ họ không biết mình đến đây? Sao lại không gặp bọn Châu Sơn Dân? Tại sao họ không đến kinh thành đoàn tụ với mình? Bao nhiêu nỗi thắc mắc dâng lên trong lòng. Vân Trọng vốn muốn ở lại thêm vài ngày đợi đoàn tụ với người nhà. Nhưng không ngờ việc kỳ hòa ước quá thuận lợi như thế, mà Chu Kỳ Trấn lại nôn nóng cho nên sai người thúc Vân Trọng lên đường, Chu Kỳ Trấn chỉ muốn sớm ngày trở về ngồi trở lại ngai vàng, y nào biết nỗi lòng của Vân Trọng.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:27 pm

Trước lúc ra đi, Vân Trọng đương nhiên cũng nhớ đến Trương Đan Phong, lần này đi sứ thành công quá nửa là đều nhờ Trương Đan Phong, nhưng vì mối thù truyền đời giữa hai nhà, chàng không muốn đến gặp kẻ đã hành hạ ông nội của mình, mà Trương Đan Phong cũng không đến gặp chàng. Vân Trọng nghĩ lại thì cảm thấy buồn bã, Đàm Đài Chính Minh đã nhiều lần thúc giục chàng, khuyên chàng bỏ qua mối thù với nhà họ Trương, nhưng nỗi ám ảnh của bức huyết thư bằng da dê cứ luôn đè nặng trong lòng, làm sao chàng có thể bước vào nhà kẻ thù? Nhưng dẫu như thế, chàng cũng có cảm giác quyến luyến với Trương Đan Phong.
“Ngày mai Trương Đan Phong có đi cùng mình hay không?” Vân Trọng nghĩ tới câu hỏi này, tâm trạng mâu thuẫn vô cùng. Tận đáy lòng mình, hình như chàng mong Trương Đan Phong đến, nhưng hình như chàng cũng không muốn Trương Đan Phong đến, nếu quả thật Trương Đan Phong có thể cùng mình trở về cố quốc, sau này cha mình sẽ nghĩ như thế nào, rồi mối quan hệ giữa Trương Đan Phong và Vân Lối sẽ giải quyết như thế nào?
Nỗi vui mừng, lo lắng cứ đan xen vào nhau, càng nghĩ càng rối, chưa bao giờ tâm trạng của Vân Trọng lại rối bời như lúc này. Chàng cứ đứng suy đi nghĩ lại, bất giác đã nghe bên ngoài trống canh đã gõ bốn tiếng.
Vân Trọng định quay trở về phòng chợp mắt, chợt nghe bên ngoài có tiếng người ồn ào, tùy tùng bước vào báo cáo, trong khách sạn có một người che mặt bảo phải gặp sứ thần, không biết có phải là thích khách hay không, Vân Trọng ngạc nhiên, nghĩ ngợi rồi nói: “Được, cho y vào”.
Một lúc sau, vệ sĩ dắt vào một thiếu niên mặc đồ đen, nhưng người này trông rất mảnh khảnh, chẳng ra dáng dấp đàn ông tý nào.
Vân Trọng ngạc nhiên, nói: “Nửa đêm ngươi đến gặp ta có chuyện gì? Là ai đã sai ngươi đến?”
Thanh niên ấy che mặt, chỉ để lộ đôi mắt, nhìn chàng rồi hạ giọng nói: “Mong đại nhân hãy cho người xung quanh lui ra ngoài”.
Tùy tùng của Vân Trọng nghi y là thích khách, một người bước lên nói: “Đại nhân hãy cẩn thận”.
Một người khác bước lên toan lục soát người y, võ sĩ ấy đột nhiên tránh qua một bên, ánh mắt lộ vẻ e thẹn. Vân Trọng chột dạ, phất tay nói: “Các người hãy lui xuống”.
Tùy tùng bước ra ngoài, Vân Trọng tiện tay đóng cửa, cười nói: “Có thể nói được chưa?”
Chì thấy thiếu niên ấy lột khăn che mặt xuống, té ra đó là một thiếu nữ Mông Cổ xinh đẹp. Câu đầu tiên của nàng là: “Tôi là con gái của Dã Tiên!”
Vân Trọng giật mình, chàng đã biết đó là một thiếu nữ cải dạng nam trang, nhưng không ngờ rằng nàng lại là con gái của Dã Tiên! Vân Trọng không biết Dã Tiên sẽ giở trò gì, vội vàng đứng dậy mời nàng ngồi rồi nói: “Tôn đại nhân có gì chỉ giáo? Tại sao tiểu thư lại đến đây?”
Thoát Bất Hoa lắc đầu, tỏ ý không phải do cha mình sai đến. Vân Trọng càng ngạc nhiên hơn, chỉ thấy Thoát Bất Hoa tỏ vẻ lo lắng, buột miệng nói: “Vân đại nhân, ông có phải là bằng hữu tốt của Trương Đan Phong không?”
Vân Trọng nói: “Sao?”
Thoát Bất Hoa nói: “Giờ đây trời đã sắp sáng, già trẻ lớn bé cả nhà Trương Đan Phong sắp hóa thành tro bụi! Tánh mạng của y cũng nằm trong tay ngài, ngài có cứu y hay không?”
Vân Trọng kinh hãi vô cùng, vội vàng hỏi: “Chuyện gì xảy ra?”
Thoát Bất Hoa nói: “Cha tôi căm tức y giúp ngài, lại sợ y trở về Trung Hoa sẽ là mầm họa cho Ngõa Thích cho nên đã phái binh bao vây Trương phủ, chờ đến khi trời sáng thì sẽ cho nổ pháo!”
Vân Trọng nói: “Làm sao ta có thể cứu được y?”
Thoát Bất Hoa nói: “Lập tức đến nhà họ Trương!”
Vân Trọng cũng là người thông minh, chàng định thần trở lại rồi nghĩ ngợi, mình là sứ thần của Trung Quốc, nếu đến nhà họ Trương, Dã Tiên đang muốn cầu hòa với Trung Quốc, dù y có lớn gan bằng trời cũng không dám nổ pháo. Y chờ đến khi trời sáng mới ra tay là muốn tránh không cho mình biết.
Trong lúc này, biển lòng Vân Trọng lại dấy sóng, lần này không những phải bước vào nhà kẻ thù mà còn lỡ cả chuyến đi, bởi vì chàng đã hẹn trước ngày giờ với vua Ngõa Thích và Thái thượng hoàng của Minh triều!
Thoát Bất Hoa nhìn chằm chằm vào mặt Vân Trọng, suýt nữa rơi nước mắt, nàng rưng rưng hỏi: “Rốt cuộc ngài có cứu y hay không?”
Lúc này lòng chàng rối như tơ vò, trong đầu hiện lên hình bóng nho nhã của Trương Đan Phong, chàng nhớ lại khi mình gặp nạn, Trương Đan Phong đã xuất hiện cứu mình như thế nào. Chàng làm sao có thể để cho Trương Đan Phong chết?
Không đợi Thoát Bất Hoa hỏi nữa, Vân Trọng đã đứng dậy, mở cửa phòng kêu: “Phái hai người lập tức chạy đến hoàng cung Ngõa Thích, báo cho quan hoàng môn, bảo y chuyển lời cho Quốc vương Ngõa Thích, bảo ngày mai ta chưa thể đi được!”
Bọn tùy tùng vội vàng hỏi: “Sao thế?”
Vân Trọng nói: “Các người hãy lập tức thay đổi y phục xuất phát cùng ta, ta sẽ đến gặp Trương Tôn Châu!”
Lúc này chàng đã không để ý đến lời thề không bước vào nhà kẻ thù nữa!
Mọi người lao xao, Đàm Đài Chính Minh cũng đã thức dậy, lúc này đang đứng trước cửa phòng ngủ Vân Trọng, thấy một thiếu nữ Mông Cổ, mặt thì mỉm cười, nhưng mắt thì rưng rưng lệ, vả lại còn nắm chặt tay Vân Trọng, lòng rất ngạc nhiên, chợt nghe Vân Trọng bảo đến gặp Trương Tôn Châu thì càng kinh ngạc hơn. Vân Trọng nói: “Hay lắm, Đàm Đài muội muội, muội cũng đi thôi!”
Đàm Đài Chính Minh vui mừng vô cùng, lập tức trả lời: “Được, chúng ta đi thôi!”
Lúc này bọn Thoát Bất Hoa mới hỏi họ tên nhau.
Khách sạn cách hoàng cung không xa, nhưng cách nhà họ Trương đến sáu bảy dặm đường, bọn Vân Trọng cỡi khoái mã lao đi trong đêm tối, một lát sau đã nhìn thấy phủ thừa tướng. Trên đường chợt có một thớt khoái mã chặn ngang, Vân Trọng quát: “Ta là sứ giả của đại Minh, ai dám ngăn cản?” Người ấy rất lanh lẹ, Vân Trọng chỉ lao thẳng người tới, y phóng người lên không trung lộn một vòng rồi quỳ xuống đất, hai tay giơ cao một mảnh kim bài, lớn giọng nói: “Thiên tử triều Minh có chỉ, mời Vân đại nhân tiếp chỉ”.
Vân Trọng thất kinh, giơ đèn lồng lên xem, Vân Trọng nhìn lại, nhận ra đó là một trong những đại nội thị vệ bị bắt sống trong trận Thổ Mộc. Lần đó bên cạnh Hoàng đế còn có bốn năm người, bị bắt sống cùng với Hoàng đế triều Minh, lúc đầu thì bị nhốt riêng, sau khi Vân Trọng đến nghị hòa, vua Ngõa Thích đã rước Chu Kỳ Trấn vào cung, những thị vệ này đương nhiên cũng được thả ra, được cho đi theo hầu Chu Kỳ Trấn.
Chu Kỳ Trấn sợ Vân Trọng không tin cho nên còn viết theo một bức chiếu thư. Trên chiếu thư có đề mấy chữ: “Gọi sứ thần Vân Trọng vào cung triều kiến”.
Đã có kim bài lại thêm chiếu thư, có thể đoán chuyện này rất quan trọng.
Vân Trọng chỉ muốn mở ra xem, thấy không phải là giả. Vân Trọng thất kinh, không biết làm thế nào. Chỉ còn một canh giờ nữa thì trời sáng, nếu vào cung gặp Hoàng đế, chỉ e cả nhà Trương Đan Phong sẽ thịt nát xương tan dưới họng pháo! Nhưng không nhận thánh chỉ thì sẽ bị xử tội! Vân Trọng cầm chiếu thư, vẫn do dự chưa quyết, Đàm Đài Chính Minh nói: “Đến nhà họ Trương rồi sẽ vào cung”.
Vân Trọng nói: “Được”.
Vệ sĩ cầm kim bài vẫn quỳ ở trước ngựa, không dám đứng dậy, Vân Trọng nói: “Ngươi hãy quay về bẩm cáo với Hoàng thượng, sáng sớm tạm thời chưa lên đường, muộn nhất là đến trưa ta sẽ vào cung”.
Vệ sĩ ấy vẫn quỳ ở dưới đất, không chịu lấy lại kim bài. Chợt nghe có tiếng nhạc ngựa vang lên gấp gáp, lại một thớt ngựa nữa phóng tới, người trên ngựa nhảy xuống quỳ trước mặt Vân Trọng.
Người này cũng là vệ sĩ của Chu Kỳ Trấn, một tay đưa cao tấm kim bài, một tay lấy ra chiếu thư, trên chiếu thư viết: “Cho gọi sứ thần Vân Trọng lập tức vào cung triều kiến”.
Nét chữ cũng giống như bức chiếu thư trước, chỉ là thêm hai chữ lập tức, Vân Trọng cầm bức chiếu thư mà tay rung rung, vẫn chưa dám quyết định. Thoát Bất Hoa nói: “Mặc kệ chiếu thư, chúng ta đi mau”.
Nói chưa dứt, lại một thớt khoái mã nữa đuổi tới, người trên ngựa kêu lớn: “Vân đại nhân tiếp chỉ!”
Đó chính là Phàn Tuấn, em trai của Phàn Trung. Chỉ thấy y một tay cũng cầm kim bài, tay kia thì cầm chiếu thư, nhưng bên cạnh hai chữ lập tức còn có hai dấu tròn màu đỏ. Vân Trọng hỏi: “Phàn thị vệ, có chuyện gì gấp?”
Phàn Tuấn nói: “Chúng tôi cũng không biết chuyện gì. Nhưng Hoàng thượng căn dặn, nhất định phải mời cho được Vân đại nhân vào cung triều kiến, không được chậm trễ”.
Vân Trọng thở dài, chàng nào dám chống lại, vả lại chàng cũng sợ trong cung có biến, sau khi cân nhắc thì cảm thấy Hoàng đế quan trọng hơn. Vân Trọng nhận ba mảnh kim bài, chỉ đành quay đầu ngựa nói với Đàm Đài Chính Minh: “Được, các người hãy đi trước đi”.
Rồi lập tức phóng ngựa quay về hoàng cung cùng với ba thị vệ của Chu Kỳ Trấn.
Đàm Đài Chính Minh đã biết chuyện ở nhà họ Trương, lòng lo lắng thầm nhủ: “Trương Đan Phong đã cứu cả giang sơn của triều Minh, lão Hoàng đế triều Minh xui xẻo này đã liên lụy Trương Đan Phong mất mạng!”
Nhưng Vân Trọng đã quyết định, nàng không thể ngăn cản được, chỉ đành dắt mười tám tùy tùng của Vân Trọng phóng ngựa tới.
Nào ngờ khi đi ra khỏi con đường, Kinh sư Thái úy của Ngõa Thích (tên chức quan, tương đương với Đề đốc cửu môn của nhà Minh) đã bày sẵn trận chờ đợi. Tùy tùng của Vân Trọng nói: “Chúng tôi phụng lệnh Vân đại nhân đến gặp Hữu thừa tướng của các người”.
Thái úy Mông Cổ trả lời: “Vân đại nhân đâu?”
Người tùy tùng bảo: “Vân đại nhân vừa mới nhận chiếu vào cung, sắp đến đây”.
Thái úy ấy nói: “Nếu đã như thế thì đợi Vân đại nhân quay lại rồi tính tiếp. Chúng tôi phụng lệnh bảo vệ sứ giả triều Minh, ông ta không có ở đây, chúng tôi không thể nào gánh vác nổi”.
Thoát Bất Hoa thì thầm nói: “Chúng ta cứ xông qua”.
Nhưng viên Thái úy ấy đã sớm hạ mệnh lệnh, cho quân đứng dàn hàng ngang lắp tên vào cung chờ đôi. Đàm Đài Chính Minh và tùy tùng của Vân Trọng biết nếu cứ xông qua thì mọi chuyện sẽ hỏng bét. Huống chi địch nhiều ta ít, cũng chưa chắc xông qua được, thế là vội vàng kéo Thoát Bất Hoa, vẫn nói lý với bọn họ. Nhưng Thái úy Mông Cổ đã hạ lệnh rồi lui vào trong trận, mặc cho tùy tùng của Vân Trọng kêu gào thế nào y vẫn không đáp lời.
Hai bên cứ giùng giằng như thế, Đàm Đài Chính Minh và mười tám tùy tùng đều nóng ruột, nhưng cũng chẳng còn cách nào, xem ra chỉ đành đợi Vân Trọng quay về. Họ có thể đợi nhưng Trương Đan Phong thì không. Chỉ nghe trống canh lại gõ thêm năm tiếng, một lát nữa thôi trời sẽ sáng! Thoát Bất Hoa quát lớn một tiếng, vỗ ngựa phóng tới! Đàm Đài Chính Minh toan kéo lại nhưng đã không kịp nữa!
Quân Mông Cổ thấy một thiếu nữ phóng tới thì ngạc nhiên, vội vang kéo dây cung nhưng không dám phóng tên, cũng không dám quăng dây ra giật chân ngựa. Trời còn tối, ban đầu thì không nhìn thấy rõ ràng, nhưng khi nàng ta đến gần thì đã có quá nửa đã nhận ra nàng chính là con gái của Dã Tiên!
Viên Thái úy vội vàng bước lên nói: “Chúng tôi đã phụng lệnh Thái sư, không cho những người không có phận sự vượt qua”.
Thoát Bất Hoa trừng mắt, mắng rằng: “Ta là người không có phận sự ư? Ta cũng phụng lệnh Thái sư, nhất định phải vượt qua đây!” Rồi nàng vỗ ngựa phóng tới. Viên Thái úy thấy Thoát Bất Hoa từ phía sứ giả Minh triều phóng tới, tuy ngạc nhiên nhưng ai cũng biết nàng là con gái của Thái sư, thấy nàng vượt qua thì không ai dám ngăn cản, chỉ đành dạt qua hai bên. Thoát Bất Hoa vượt qua khỏi vòng vây, ngẩng đầu lên nhìn thì thấy ở đằng đông trời đã hửng sáng.
Lúc này ở Trương phủ, mọi người đều như kiến bò trên trảo nóng, chỉ có Trương Tôn Châu là vẫn tự nhiên, tựa như chẳng hề để ý đến chuyện sống chết. Trương Đan Phong cũng rất bình tĩnh, nhưng nghĩ lại trước khi lâm chung, không thể gặp Vân Lối thì trong lòng đau đớn vô hạn.
Người nhà ngồi lại một chỗ, bên ngoài tường chốc chốc lại vang lên tiếng quát của lính Mông Cổ.
Trong nhà ai nấy đều không lên tiếng, chỉ nghe tiếng trống canh gõ ba lần, không lâu sau lại gõ bốn lần, đêm mùa đông dài dằng dặc, nhưng đám người đang chờ đợi cái chết lại cảm thấy như qua đi rất nhanh!
Cái chết càng đến gần, tiếng quát tháo bên ngoài vách tường càng lớn, hình như tiếng trống báo canh bốn vang lên không lâu, trên đầu thành lại vọng xuống tiếng trống báo canh năm. Trương Đan Phong thở dài, quỳ trước mặt cha rồi nói: “Cha còn có gì căn dặn?”
Trương Tôn Châu nhẹ nhàng vuốt ve đầu chàng, mỉm cười nói: “Nếu một năm trước, ta đã chết không nhắm mắt. Nhưng lúc này coi như con đã làm được một vài chuyện cho Trung Quốc, còn ta cũng đã dốc một chút sức, tuy chưa thể chuộc tội nhưng lòng đã không hối tiếc”. Nụ cười của ông ta rất thê lương.
Trương Đan Phong thấy sắc mặt kỳ lạ của cha mình, chàng không khỏi chột dạ, nhưng lúc này thì còn có thể hỏi gì? Trương Đan Phong chỉ cảm thấy trước khi chết, tâm ý của hai người tương thông với nhau, chàng cảm thấy chưa bao giờ hai cha con lại gần gũi như lúc này!
Đàm Đài Diệt Minh cũng mỉm cười, nói: “Chúa công, hôm nay chúng ta cáo từ nhau”. Thế rồi lạy Trương Tôn Châu ba lạy. Y đã quyết, trước khi kẻ địch nổ pháo thì sẽ vung kiếm tự sát. Bên ngoài trống đã gõ canh năm. Một lát nữa thôi trời sẽ sáng!
Chợt nghe bên ngoài vang lên một hồi tiếng quát tháo, Đàm Đài Diệt Minh nói: “Trời chưa sáng mà bọn chúng đã nổ pháo rồi ư?” Rồi rút đôi câu ra.
Trương Đan Phong nói: “Ồ, không giống thế!”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Không giống cái gì?”
Trương Đan Phong nói: “Hình như có người đang đến. Ồ, người đó đang đánh nhau với bọn chúng”.
Rồi chàng nhảy lên bức tường nhìn xuống, chỉ thấy cách đó một dặm có ba thớt ngựa khỏe phóng tới. Bọn lính Mông Cổ bao vây ở phía trước không khỏi sáo động, nhưng cỗ pháo vẫn còn chỉa thẳng về phía cửa nhà mình.
Bọn võ sĩ Ngạch Cát Đa dẫn tới đều là tinh binh, chỉ cần hạ lệnh thì hàng ngàn mũi tên sẽ phóng về phía ba thớt ngựa ấy. Chỉ nghe trong tiếng quát tháo, tiếng chiến mã hí vang, từ xa nhìn tới, chỉ thấy ba thớt ngựa phóng lên cao đến cả trượng, bụng ngựa, lưng ngựa đều bị trúng tên, toàn thân ngựa đều đổ máu, thớt ngựa đang phóng lên đột nhiên bốn vó co lại, ngã lăn xuống đất. Cả ba kỵ sĩ phóng vọt người lên, đột nhiên một mảng lục quang, tiếp theo là một mảng bạch quang, một đạo thanh quang cùng phóng ra, tên bắn đến gần đều bị rơi xuống, lúc này Trương Đan Phong mới nhìn thấy rõ, ba kẻ ấy chính là Oanh Thiên Lôi Thạch Anh và Hắc Bạch Ma Ha! Hắc Ma Ha vung cây lục ngọc trượng, Bạch Ma Ha múa cây bạch ngọc trượng, Thạch Anh sử dụng cây thanh cương kiếm, khi múa gấp, chỉ thấy ba cái cầu màu lục, màu trắng và màu xanh xông thẳng tới kẻ địch.
Lính Mông Cổ vội vàng chặn lại, Hắc Bạch Ma Ha gầm lớn một tiếng, vung cây trượng đánh loạn xạ, người ngựa đều ngã lăn, những kẻ khinh công giỏi sau khi ngã xuống thì phóng lên tiếp nhưng bị Thạch Anh vung kiếm chặn lại cho nên không thể đánh sát tới. Ba người dàn hàng ngang lao tới, trong chớp mắt đã phóng tới gần ở giữa. Bạch Sơn pháp sư cả giận, vung lên phía trước chặn lại, đầu tiên gặp phải Thạch Anh, Bạch Sơn pháp sư bổ cây thiền trượng to như miệng bát xuống. Bạch Sơn pháp sư vốn là sư huynh của Thanh Cốc pháp sư, võ công cao hơn Ngạch Cát Đa, lực của cú đánh này nặng đến ngàn cân, kiếm và trượng giao nhau một tiếng, Bạch Sơn pháp sư quát một tiếng: “Ngã xuống!”
Thế là đè cây thiền trượng xuống, Thạch Anh hơi lắc lư, chợt cười nói: “Hay lắm!”
Thế rồi xoay cổ tay, đột nhiên rút thanh kiếm ra, vung lên trên không đâm vào vai Bạch Sơn pháp sư. Bạch Sơn pháp sư ỷ có khí lực hơn người, không ngờ lúc nãy chưa đánh ngã được kẻ địch, kiếm trượng giao nhau, cảm thấy hổ khẩu của mình đau nhói, đang thất kinh thì đột nhiên chỉ thấy ánh kiếm quang, không thấy bóng người, kẻ địch đã xoay ra sau lưng mình phát chiêu. Bạch Sơn pháp sư né tránh ha nhát kiếm, định xoay ngược trượng lại, chặn kiếm thứ ba của ông Thạch Anh, chỉ nghe Thạch Anh quát một tiếng: “Trúng!”
Thanh kiếm chạm vào cây trượng, bật ngược ra trở lại, ông Thạch Anh lại trở tay đâm một kiếm, vạch một đường máu trên vai Bạch Sơn pháp sư. Bạch Sơn pháp sư đã luyện công phu Thiết Bố Sam, trúng kiếm nhưng vẫn không ngã, lão ta điểm cây thiền trượng nhảy vọt ra hơn một trượng, múa trượng xoay người định lao tới, Thạch Anh đã lao vào trong trận.
Bạch Sơn pháp sư gầm lớn như sấm sét, chỉ nghe một tiếng quát: “Thật đáng ghét, hãy nếm một trượng của Thạch Anh!”
Bạch Sơn pháp sư đang nổi giận, thấy Hắc Ma Ha lao tới thì gầm lớn một tiếng, chém ngang cây thiền trượng tới. Nào ngờ vừa mới giở bước chân lên, Hắc Ma Ha đã ở phía trước mặt, cây lục ngọc trượng hất lên, cây thiền trượng của Bạch Sơn pháp sư tuột khỏi tay bắn lên cao, lão sợ đến nỗi hồn bay phách tán. Lão xưa nay tưởng mình có khí lực hơn người, nào ngờ Hắc Ma Ha còn lợi hại hơn cả lão, chợt thấy trượng thứ hai của Hắc Ma Ha lại đánh tới, Bạch Sơn pháp sư nào dám tiếp lấy, vội vàng nhảy vọt ra sau mấy bước, va phải Bạch Ma Ha. Bạch Ma Ha mắng: “Đường sáng có lối ngươi không đi, Địa ngục không cửa ngươi lại cứ vào, hãy nếm một trượng của Thạch Anh!” Thế rồi quét ngang cây trượng xuống hạ bàn của Bạch Sơn pháp sư, hai chân của Bạch Sơn pháp sư đều gãy lìa.
Thạch Anh xông vào trong trận, lớn giọng kêu: “Hắc Thạch trang thế Long kỵ đô úy Thạch Anh cầu kiến chúa công!”
Té ra tổ tiên của Thạch Anh là vệ sĩ thân tín của Trương Sĩ Thành, được phong chức Long kỵ đô úy, nay Thạch Anh đã đến, vẫn bẩm cáo theo lễ chủ tớ ngày trước, cầu kiến Trương Tôn Châu, Trương Tôn Châu nước mắt rưng rưng, vịn vai con trai bước ra, nói: “Phong nhi, con hãy bảo ông ta chạy mau!”
Bạch Ma Ha cũng nói: “Trương Đan Phong, sao ngươi không xông ra? Bạn cũ đến mà ngươi không tiếp ư?”
Trương Đan Phong cười khổ, đang định lên tiếng, chợt thấy bọn võ sĩ dạt ra hai bên, chừa ra một lối, cỗ hồng y đại pháo bị người Thạch Anh chặn lại nay đã lộ ra. Thạch Anh thất kinh, chỉ nghe Ngạch Cát Đa nói: “Các người tiến thêm một bước, Thạch Anh sẽ cho nổ pháo!”
Ngạch Cát Đa nghe họ gọi như thế, biết mối quan hệ giữa họ với cha con Trương Đan Phong, nghĩ rằng họ sợ nhà họ Trương tan xác dưới họng pháo cho nên mới dọa như thế.
Thực ra cỗ hồng y đại pháo này di chuyển không tiện, không thể nào bắn được Hắc Bạch Ma Ha; lúc nãy canh năm vừa mới qua không lâu, trời vẫn chưa sáng, Ngạch Cát Đa cũng không dám nổ pháo vào nhà họ Trương, chỉ cần Hắc Bạch Ma Ha và Thạch Anh xông tới thì nhà họ Trương sẽ được giải vây. Nhưng Trương Đan Phong và bọn Thạch Anh không biết điều này, nhất là Thạch Anh, thấy cỗ pháo lớn chĩa về phía nhà họ Trương thì càng không dám ra tay.
Hắc Bạch Ma Ha tức giận đến nỗi quát mắng ầm ĩ bằng tiếng Ấn Độ, nhưng cũng không dám tiến về phía trước nửa bước. Ngạch Cát Đa cười ha hả, vung đao quát: “Hãy lui ra sau một trăm bước, nếu không Thạch Anh sẽ cho nổ pháo!”
Thạch Anh và Hắc Bạch Ma Ha đành phải y theo lời lui ra phía sau, Ngạch Cát Đa ra lệnh cho người rải tật lê có độc ở dưới đất, để lại một trăm cung thủ đối phó với họ, bọn ba người Thạch Anh tuy võ công cao cường, nhưng không thể đồng thời đối phó với cung tên ở trên, quét tật lê ở dưới, chỉ đứng mở to mắt nhìn kẻ địch.
Vầng trăng chìm xuống phía tây, ánh sao dần mờ đi, ở đằng đông, tia sáng đầu tiên đã xuất hiện, không bao lâu sau mặt trời dần ló dạng. Ngạch Cát Đa quát lớn: “Thế nào?”
Trương Đan Phong vẫn thản nhiên, cười lạnh nói: “Thế nào cái gì?”
Ngạch Cát Đa nói: “Trương Đan Phong, ngươi cứ ngang ngạnh cố chấp, ta chỉ đành nổ pháo!”
Trương Đan Phong nói: “Cứ việc cho nổ pháo, không cần nhiều lời!”
Ngạch Cát Đa nói: “Bây giờ ta sẽ đếm từ một tới mười, khi đếm tới mười ta sẽ lập tức nổ. Loài kiến kia còn ham sống, ngươi phải suy nghĩ cho kỹ”.
Trương Đan Phong nở nụ cười khinh miệt, nhảy xuống tường mà chẳng hề màng đến y.
Trong khoảnh khắc, bên ngoài im phăng phắc, Ngạch Cát Đa cao giọng đếm: “Một, hai, ba, bốn...”.
Trương Đan Phong nắm chặt tay cha, Đàm Đài Diệt Minh đã đảo ngược mũi kim câu chĩa vào ngực mình, Ngạch Cát Đa vẫn tiếp tục đếm: “Năm, sáu, bảy, tám, chín...”.
Đàm Đài Diệt Minh là một đại tướng, chỉ có thể tự sát chứ không thể bị giết, mũi câu đã chạm vào thịt, chỉ cần đẩy nhẹ một cái, lập tức lồng ngực sẽ rách toang.
Sau khi chín, tất cả lại rơi vào im lặng, chợt nghe bên ngoài có tiếng thét: “Không được nổ pháo!”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Ồ, tiếng phụ nữ!” Rồi cùng Trương Đan Phong nhảy lên tường, chỉ thấy bên cạnh cỗ hồng y đại pháo có một thiếu nữ đang chĩa đao vào phó thủ, Trương Đan Phong kêu lên: “Thoát Bất Hoa!”
Thoát Bất Hoa ngẩng đầu nhoẻn miệng cười, chỉ thấy nàng áo quần xốc xếch, tóc tai rối bời, chắc là vừa mới chạy đến đây.
Ngạch Cát Đa trợn tròn mắt, nói: “Ai bảo không nổ pháo?”
Thoát Bất Hoa nói: “Ngươi có điếc không? Chính là ta!”
Ngạch Cát Đa là gia tướng của Dã Tiên, bình thường rất e ngại Thoát Bất Hoa, Thoát Bất Hoa tưởng rằng sẽ dọa được y, nào ngơ Ngạch Cát Đa đã được Dã Tiên dặn trước, chỉ thấy y cung kính nói với Thoát Bất Hoa: “Đã nghe rõ, mời Quận chúa tránh ra!” Rồi đột nhiên lớn giọng thét: “Nổ pháo!”
Thoát Bất Hoa trừng mắt quát: “Ai nổ pháo ta sẽ chém kẻ ấy! Ngạch Cát Đa ngươi dám cãi lời ta?” Tên pháo thủ hơi nấn ná, ngọn đuốc trong tay rung rung, không dám châm vào pháo. Ngạch Cát Đa cười nhạt, nói: “Thuộc hạ chỉ nghe lời Thái sư!”
Thoát Bất Hoa nói: “Cha ta bảo ta đến nói với các ngươi không được nổ pháo!”
Nếu ngay từ lúc đầu Thoát Bất Hoa đã nói câu này, có lẽ sẽ lừa được Ngạch Cát Đa, nhưng lúc này Ngạch Cát Đa nghe giọng nàng rung rung, thấy dáng vẻ lo lắng của nàng thì không hề tin, y lại cung kính nói: “Có thủ dụ của Thái sư không?”
Thoát Bất Hoa nói: “Ta là con gái của ông ta, cần gì thủ dụ?”
Ngạch Cát Đa lại cúi người xuống, nói: “Không thấy thủ dụ, xin thứ thuộc hạ không thể nghe theo, mời Quận chúa tránh ra”.
Rồi lớn giọng quát: “Nổ pháo! Nếu không ta sẽ chém ngươi trước!”
Tên pháo thủ luống cuống tay chân, toan bước gần đến ngòi nổ, chợt thấy một bóng đen nhảy bổ tới quát rằng: “Ngươi tưởng ta không dám chém ngươi!” Rồi ánh đao vung lên, tên pháo thủ ấy chưa kịp lên tiếng thì đã bị Thoát Bất Hoa chém ngã. Thoát Bất Hoa dập tắt ngọn đuốc, lấy thân mình chèn vào họng pháo, kêu lên hổn hển: “Ai dám bước tới, ta sẽ chém kẻ ấy!”
Ngạch Cát Đa không ngờ Thoát Bất Hoa lại manh động đến thế, y tuy võ công cao hơn Thoát Bất Hoa rất nhiều, nhưng dầu sao nàng vẫn là cành vàng lá ngọc, cho nên y chẳng dám chạm tới!
Đang lúc giằng co, cảm thấy một thớt ngựa một thớt ngựa phóng tới, người ấy nhảy xuống ngựa quát lớn: “Tại sao không nổ pháo!”
Đó chính là Tổng quản của phủ Thái sư Oa Trát Hợp. Ngạch Cát Đa nói: “Quận chúa không cho!”
Oa Trát Hợp mặt nổi sát khí, quát lớn: “Thái sư đã căn dặn, bất luận là ai, nếu dám ngăn cản thì hãy giết chết không tha! Đây là thủ lệnh!”
Thủ lệnh đã viết rất rõ ràng, dù cho có chết con gái ông ta cũng có công chứ không có tôi.
Ngạch Cát Đa quát lớn: “Ma Dự Tán, hãy bước tới mời Quận chúa ra!”
Thoát Bất Hoa kêu lên: “Ai dám bước tới?” lúc này mái tóc của nàng xổ tung ra, cây trâm ngọc rơi xuống đất, bộ dạng trông như điên dại. Oa Trát Hợp bước tới, lạnh lùng nói: “Quận chúa đã nghe rõ rồi chứ, hãy mau tránh ra, không được cố chấp, Thái sư bảo Quận chúa về nhà”.
Triệu Hải Bình chợt khóc òa lên, nàng đau lòng vô cùng, nàng không chỉ vì Trương Đan Phong mà đây là lần đầu tiên cha nàng đối với nàng như thế. Nàng là con gái duy nhất của Dã Tiên, bình thường Dã Tiên luôn nuông chìu nàng, ngay cả nàng muốn trăng trên trời y cũng hứa lấy xuống cho nàng, nào ngờ ngay lúc này, y đã căn dặn gia tướng giết chết nàng.
Nàng không ngờ Dã Tiên lại nhẫn tâm đến thế, xem ra tình thương của y chỉ là giả dối! Trong trời đất này có chuyện gì khiến cho nàng đau lòng hơn nữa? Nhất là đối với một người xưa nay quen ương ngạnh như Thái Bang Hùng.
Oa Trát Hợp nói: “Quận chúa khóc cũng vô dụng, nếu Quận chúa không tránh qua một bên, chúng tôi sẽ không khách sáo nữa, hãy mau theo tôi về nhà”.
Thoát Bất Hoa đau lòng đến cùng cực, nàng chẳng còn khóc được nữa, nàng lau nước mắt, vẫn thấy thân mình che họng pháo, thần sắc rất đáng sợ, Ngạch Cát Đa nói: “Ma Dự Tán, hãy kéo Quận chúa ra”.
Ma Dự Tán bị Trương Đan Phong xâm một chữ “tặc” trên lưng, từ lâu đã muốn tiêu diệt cả nhà họ Trương, lúc này có thủ lệnh của Thái sư thì mạnh dạnh bước tới kéo tay áo Thoát Bất Hoa. Thoát Bất Hoa phất tay áo, phun một bãi nước bọt vào người Ma Dự Tán. Ma Dự Tán ngẩn người ra, trở tay chụp tới, kéo tay của Thoát Bất Hoa bẻ ra phía sau lưng, võ công của Ma Dự Tán cao hơn nàng gấp mấy lần, lại ra tay rất mạnh bạo, Thoát Bất Hoa không thể nào nhúc nhích được, đột nhiên nàng bổ nhào về phía Ma Dự Tán, há miệng ngoạm vào vai y, Ma Dự Tán không ngờ nàng lại làm thế, Mông Cổ tuy cởi mở hơn Trung Quốc, không khắt khe đến nỗi giữa nam nữ không được đụng chạm nhau, nhưng Ma Dự Tán dầu sao cũng là phận tôi tớ, bị Thoát Bất Hoa đè vào người thì hoảng hồn đến nỗi lúng túng, Ma Dự Tán vừa đau vừa sợ, vội vàng buông tay ra, Oa Trát Hợp quát lớn: “Đừng lo, cứ đánh ngất!”
Ma Dự Tán vung chưởng lên, chợt nghe xoạc xoạc hai tiếng, té ra đó là hai cây tụ tiễn Thoát Bất Hoa giấu trên người, lúc nãy hai tay đều bị bẻ quặt ra phía sau, không bắn ra được. Hai cây tụ tiễn này là tên độc nàng dùng khi đi săn, khoảng cách giữa hai bên lại gần, Ma Dự Tán không đề phòng cho nên bị tên độc cắm vào, Thoát Bất Hoa bị chưởng lực của y đánh ngã xuống đất.
Oa Trát Hợp cả kinh, vội vàng bước tới, chỉ thấy Thoát Bất Hoa nhảy vọt lên, quát rằng: “Trương đại ca, không phải muội không cứu huynh, muội đã tận lực!” Rồi nàng trở chui đao, đâm thẳng vào ngực mình, người ngã xuống nhưng hai tay vẫn ôm chặt thân pháo.
Trương Đan Phong đứng trên đầu tường đã nhìn thấy hết, Thoát Bất Hoa đã chết vì chàng! Trong khoảnh khắc ấy, Trương Đan Phong cảm thấy nhói lòng, nỗi chán ghét đối với nàng đã hoàn toàn tiêu biến, chàng bất giác bật khóc rồi kêu lên: “Bất Hoa muội muội!”
Nhưng Thoát Bất Hoa đã chết, nàng không thể nào nghe được tiếng gọi chứa chan tình cảm của Trương Đan Phong.
Ma Dự Tán mất mạng, Thoát Bất Hoa tự sát, tất cả đều vượt ngoài dự liệu của mọi người, bọn võ sĩ Mông Cổ đều đứng sững ra, chẳng ai dám lên tiếng. Oa Trát Hợp kêu lên: “Kéo Quận chúa ra, nổ pháo!”
Ngạch Cát Đa phải ráng sức mới có thể mở được hai cánh tay của Thoát Bất Hoa ra khỏi thân pháo, chỉ thấy họng pháo đã nhuộm máu đỏ, dưới đất máu cũng chảy tràn ra.
Đó chính là:
Liều mình đem thân chèn họng pháo, ngọc nát hương tàn bảo vệ Trương lang.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 31
Hai mươi năm trôi qua như giấc chiêm bao
Nhu tình tựa nước nhất tiếu giải ân thù

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6786
Points : 9711
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 7:28 pm

Hồi 31
Hai mươi năm trôi qua như giấc chiêm bao
Nhu tình tựa nước nhất tiếu giải ân thù


Ngạch Cát Đa nghiến răng, quay đầu lại không dám nhìn bộ mặt đáng sợ của Thoát Bất Hoa, y kéo thi thể của nàng qua một bên, bắt đầu châm lửa, trong chốc lát ngòi nổ đã cháy, y lập tức nhảy qua một bên.
Trương Đan Phong không dám nhìn nữa, chàng nhảy xuống bức tường, tay trái dắt cha, tay phải dắt Đàm Đài Diệt Minh, cười thê lương nói: “Cha, Đàm Đài tướng quân, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau ra đi!”
Đàm Đài Diệt Minh tuy không thấy tình hình bên ngoài, nhưng nghe đích thân Ngạch Cát Đa châm nổ pháo, tia hy vọng đã tắt ngấm, thế là giơ cao cây ngô câu đâm vào tim mình.
Vân Trọng bị Chu Kỳ Trấn dùng ba đạo kim bài gọi vào triều kiến. Chu Kỳ Trấn được vua Ngõa Thích giành cho được điện nhỏ ở bên phải hoàng cung, Vân Trọng theo ba bvệ sĩ đến trước cửa điện, vệ sĩ canh cửa vào báo cáo, một lát sau vệ sĩ ấy ra nói: “Vân đại nhân, ngài hãy chờ ở đây”.
Vân Trọng lòng lo như lửa đốt, nói: “Hoàng thượng gọi tôi lập tức triều kiến, sao lại còn bảo tôi chờ?”
“Hoàng thượng vẫn còn đang ăn tổ yến!”
Vân Trọng vừa nôn vừa tức, không ngờ ông ta ba lần bốn lượt thúc giục mình nhưng thật ra là đang rỗi rãi ngồi ăn tổ yến.
Một lát sau, một tiểu thái giám Mông Cổ bước ra vừa mới nói được một tiếng “mời”, Vân Trọng đã ba chân bốn cẳng chạy vào cung, chỉ thấy Chu Kỳ Trấn ngồi trên ghế, xung quanh là bốn tiểu thái giám Mông Cổ đang đấm lưng cho y, trông như chẳng có chuyện gì gấp gáp.
Vân Trọng cố nén cơn giận, quỳ xuống đất, tâu ba tiếng vạn tuế. Chu Kỳ Trấn kéo chiếc ghế rồi chậm rãi nói: “Khanh gia bình thân, ban ngồi”.
Vân Trọng đứng dậy, chưa kịp ngồi thì đã hỏi: “Hoàng thượng có chuyện gì gấp gáp mà cho gọi hạ thần?”
Chu Kỳ Trấn ho một tiếng rồi nói: “Đúng thế, chuyện này rất gấp gáp. Trẫm đột nhiên nghĩ lại, ngày mai chúng ta quay về nước, nhưng rốt cuộc nước Ngõa Thích là chủ, chúng ta là khách. Họ kính trọng chúng ta, chúng ta cũng phải giữ lễ, vua Ngõa Thích đích thân đưa trẫm ra khỏi thành, nếu chúng ta chấp nhận thì có hơi quá đáng, chi bằng cứ do khanh rước trẫm ra khỏi cung, chúng ta sẽ đưa biểu cáo từ, nếu vua Ngõa Thích muốn đến, chúng ta sẽ đợi y ở bên ngoài thành, như thế mới hợp lễ tương kính”.
Té ra đó là chuyện gấp, Vân Trọng giận đến nỗi nghẹn lời, Vân Trọng đã biết Chu Kỳ Trấn được “tiếp đãi” như thế nào trong thời gian bị cầm tù ở Ngõa Thích, không ngờ đến nay y lại chẳng màng đến thân phận Thiên tử, phải dâng biểu cáo từ, lại còn bảo đó là “Lễ tương kính”.
Vân Trọng liếc mắt, chỉ thấy bốn tiểu thái giám tủm tỉm cười. Vân Trọng chột dạ, chợt hỏi: “Đó có phải là ý của Hoàng thượng không?”
Chu Kỳ Trấn nghiêm mặt quát: “Vân Trọng, ngươi có biết tội lỡ lời không? Đó là ý của trẫm”.
Thật ra Dã Tiên sau khi phát giác Thoát Bất Hoa trốn đi, đã đoán được rằng nàng sẽ đến nhờ Vân Trọng cho nên một mặt sai người ngăn cản, một mặt sai Oa Trát Hợp truyền lệnh cho Ngạch Cát Đa, lại cho người vào cung uy hiếp Chu Kỳ Trấn, bảo rằng y phải làm thế làm thế, để cho Vân Trọng không thể cứu được cha con Trương Đan Phong.
Hoàng cung đang nằm dưới sự khống chế của Dã Tiên, y đương nhiên có thể mặc sức thao túng, Chu Kỳ Trấn cũng sợ Dã Tiên không thả mình về nước cho nên nghĩ bụng: “Đừng vì chuyện lễ tiết mà sinh ra lôi thôi”.
Rồi nghe theo lời Dã Tiên, gọi Vân Trọng trở về, nhưng vì cũng muốn giữ thể diện cho mình cho nên bảo rằng ý của mình.
Chu Kỳ Trấn mắng Vân Trọng mấy câu thì đổi sắc mặt, nói: “Niệm tình ngươi lần này đi sứ có công, trẫm không giáng tội ngươi. Nay trẫm sẽ sai người dâng biểu cho vua Ngõa Thích. Ngươi hãy đợi ta ban thưởng cho bọn thái giám trong cung, khi trời sáng chúng ta sẽ lên đường”.
Vân Trọng chợt cao giọng nói: “Hoàng thượng không cần sai người dâng biểu, thần đã thông báo cho Quốc vương Ngõa Thích, ngày mai không đi nữa!”
Chu Kỳ Trấn cả kinh gằng giọng mắng: “Ngươi... ngươi sao dám tự tiện làm chủ?”
Vân Trọng nói: “Thần phải đến gặp Trương Đan Phong”.
Chu Kỳ Trấn càng kinh hãi hơn, vỗ bàn quát: “Cái gì, ngươi sẽ đi gặp Trương Đan Phong? Ngươi có biết bọn chúng ta hậu duệ của Trương Sĩ Thành hay không? Trẫm không áp giải bọn chúng về nước xử tội là coi như đã rất khoan dung, ngươi còn dám đi gặp bọn chúng! Hừ... hừ, sao lại có lý ấy!”
Vân Trọng vẫn không thay đổi thần sắc, nói: “Hoàng thượng, người có biết không? Lần này hai nước cầu hòa, Hoàng thượng được rước về nước là chủ trương của Vu Các Lão, nhưng cũng là ý của Trương Đan Phong. Nếu Trương Đan Phong không dò thám hư thực của Ngõa Thích rồi báo cho Vu Khiêm, chúng ta không thể cứng rắn với Dã Tiên như thế!”
Sắc mặt Chu Kỳ Trấn trắng bệt, y hừ một tiếng rồi nói: “Theo ngươi nói, Trương Đan Phong trung thành với trẫm?”
Vân Trọng nói: “Đúng thế, y trung với nước!”
Chu Kỳ Trấn nói: “Ngươi lên tiếng cho phản tặc, ngươi được y báo đáp những gì?”
Vân Trọng tức đến nghẹn lời, chợt nghe trống canh đã gõ đến canh năm, chàng buột miệng nói: “Dã Tiên sắp cho nổ pháo vào Trương gia, vi thần và Trương gia có thù sâu như biển, nhưng dù bị Hoàng thượng xử tội cũng phải cứu Trương gia. Nói đến điều lợi, bệ hạ đã nhận được điều lợi của họ mà không biết, Vu Các Lão kêu gọi quân cân vương cho bệ hạ, đánh bại Dã Tiên, chính Trương Đan Phong đã giúp một nửa quân thưởng!”
Chu Kỳ Trấn trợn mắt, lắp bắp nói: “Ngươi... ngươi có còn là kẻ bề tôi ăn lộc triều Minh ta không? Ngươi... ngươi nói giúp cho y, ngươi dám chống lại lệnh vua?”
Vân Trọng nước mắt lưng tròng, ngẩng đầu lên nói dứt khoát: “Vi thần biết chống lệnh vua sẽ bị xử tội chết, sau khi vi thần đến nhà họ Trương đương nhiên sẽ tự sát để báo ân vua, nhưng mong Hoàng thượng hãy nhờ Vu các lão sai sứ thần đến rước Hoàng thượng về nước”.
Chu Kỳ Trấn kinh hãi vô cùng, y ngày đêm mong ngóng được về nước để ngồi lại lên ngai vàng, nếu Vân Trọng bỏ y, không biết lúc nào mới có thể có người rước y trở về; mà người khác cũng chưa chắc giỏi bằng y, Chu Kỳ Trấn nghĩ đến đây, bất giác mồ hôi lạnh chảy dài, thế rồi đổi giọng vội vàng nói: “Khanh gia có lời gì hãy cứ nói”.
Vân Trọng nói: “Dã Tiên lòng lang dạ sói, cũng chẳng có ý tốt gì với Hoàng thượng, nay chỉ vì y bị buộc phải giàng hòa với chúng ta mà thôi. Hoàng thượng, ngài tin Dã Tiên, hay tin Trương Đan Phong. Thần đi đây!”
Chu Kỳ Trấn vội vàng kêu lên: “Khanh gia hãy chờ đã!”
Vân Trọng nôn nóng vô cùng, nghe Chu Kỳ Trấn gọi, đành quay đầu lại nói: “Hoàng thượng có gì sai bảo?”
Chu Kỳ Trấn rung giọng nói: “Trẫm sẽ cùng đi với khanh”.
Té ra Chu Kỳ Trấn không ngăn được Vân Trọng, sợ rằng ở trong hoàng cung Ngõa Thích sẽ bị Dã Tiên hãm hại. Mà thật ra Dã Tiên đang nôn nóng cầu hòa, chỉ dám dọa y chứ chẳng dám làm gì cả. Sau khi cân nhắc, Chu Kỳ Trấn cảm thấy đi theo Vân Trọng thì an toàn hơn.
Yêu cầu ấy khiến Vân Trọng bất ngờ, Vân Trọng quay đầu lại nhìn, chỉ thấy vẻ mặt Chu Kỳ Trấn tựa như một con thỏ sợ thợ săn, chẳng giống gì với lúc nãy. Trong lòng chàng dâng lên cảm giác chán ghét một tội nghiệp, cảm thấy vị Hoàng đế này thật ra rất nhỏ nhoi, nhưng vẫn cung kính quỳ xuống tiếp nhận thánh chỉ.
Bên ngoài trời rất lạnh, Chu Kỳ Trấn nói: “Hãy chờ trẫm khoác thêm tấm áo”.
Thế rồi bước vào phòng trong, mở tủ áo, chiếc áo khoác lông cao màu trắng đập vào mắt, chính Trương Đan Phong đã tặng cho y chiếc áo này khi còn bị nhốt ở tháp đá. Chu Kỳ Trấn nhìn thấy chiếc áo thì nhớ lại tình cảnh lúc ấy, bất giác cầm tấm áo lên mân mê, nhưng lại ném xuống, trong lòng bối rối, cứ chọn đi chọn mãi mà vẫn chẳng có chiếc nào hợp ý.
Trời đã sáng, tia nắng dần dần len vào khe cửa sổ, Vân Trọng nói: “Hoàng thượng, xin thứ cho vi thần không thể đợi được nữa!”
Câu nói ấy khiến cho Chu Kỳ Trấn bừng tỉnh, y luống cuống chụp lấy tấm áo khoác lên người rồi nói: “Ta đến đây”.
Khi y và Vân Trọng rời khỏi hoàng cung mới phát giác mình khoác trên người tấm áo da cáo do Trương Đan Phong tặng!
Tùy tùng của Vân Trọng bị chặn lại ở giữa đường, khi Vân Trọng và Chu Kỳ Trấn đến, Thái úy Mông Cổ ấy mới cho họ đi qua, lúc đó trời đã sáng bừng.
Vân Trọng vỗ ngựa chạy nhanh, nụ cười thân thiết của Trương Đan Phong hiện ra trước mặt, tựa như đang vẫy tay với chàng. Tấm huyết thư bằng da dê, mối thù truyền đời đều bị bóng hình của Trương Đan Phong che khuất, chỉ có một ý nghĩ chiếm tâm trí Vân Trọng: “Cần phải đến nhà họ Trương, cứu Trương Đan Phong ra khỏi bàn tay của Tử thần!”
Vân Trọng phóng ngựa chạy như bay, chàng hận không thể níu kéo thời gian, may mà vẫn chưa nghe tiếng pháo nổ. Điều đó càng khiến Vân Trọng căng thẳng hơn, càng lo lắng, tựa như một tù nhân đang đợi xử tử, thời gian đã đến nhưng đao phủ thủ vẫn chưa chém xuống, không ai biết khi nào pháo sẽ nổ, nếu muộn nửa bước thì sẽ hối hận suốt đời.
Vân Trọng vung roi phóng ngựa đi bỏ Chu Kỳ Trấn ở phía sau, chạy một mạch đến trước cổng nhà họ Trương. Chỉ thấy quân Mông Cổ nằm phục ở dưới đất, một cỗ hồng y đại pháo nhắm thẳng vào nhà họ Trương, họng pháo đang bốc khói. Vân Trọng quát một tiếng vung roi, thớt chiến mã lồng lên nhảy bổ về phía cỗ hồng y đại pháo. Mười tám tùy tùng nhất tề kêu lên: “Sứ giả đại Minh đến!”
Trương Đan Phong đang nhắm mắt chờ chết, chợt nghe bên ngoài có tiếng kêu thì kinh hãi, chàng bừng tỉnh, chợt thấy Đàm Đài Diệt Minh vung câu tự sát, thế là giật cây ngô câu của y, kêu lên: “Ông nghe kìa, Vân Trọng đã đến!” Thế rồi cùng nhau nhảy lên bức tường. Trương Tôn Châu chậm rãi mở mắt, nói: “Ai đến?”
Trương Đan Phong nói: “Chúng ta sẽ không chết, sứ giả triều Minh đến gặp cha”.
Lúc này Trương Tôn Châu đã nghe rõ ràng tiếng ở bên ngoài.
Sứ giả triều Minh đến nhà họ Trương, là điều bất ngờ đối với ông ta, Trương Tôn Châu mỉm cười, nhưng lại cúi đầu thở dài.
Trương Đan Phong nhảy lên tường, nhìn thấy Vân Trọng phóng ngựa tới, lại thấy họng pháo đang bốc khói. Nỗi tuyệt vọng lại dâng lên khiến cho chàng không thể nào chịu đựng nổi.
Đàm Đài Diệt Minh thấy Trương Đan Phong lảo đảo, nói: “Này, công tử sao thế?”
Trương Đan Phong định thần, kêu lớn: “Vân Trọng huynh, hãy chạy cho mau, đừng nạp mạng!”
Trong lúc nguy hiểm nhất có thể thấy tình bằng hữu chân thành. Trương Đan Phong và Vân Trọng đều gạt cái chết sang một bên, một người vẫn không dừng ngựa, một người kêu lớn, trong khoảnh khắc ấy, chỉ nghe bụp một tiếng vang lên, khói trắng tỏa ra, trái pháo đã thoát khỏi nòng.
Vân Trọng kêu thét lên, trong lòng tựa như có một tảng núi lớn đè xuống, chàng đã tuyệt vọng! Chợt nghe tiếng pháo tắt hẳn, chẳng giống như tiếng pháo nổ trên chiến trường, chàng mở mắt ra nhìn chỉ thấy trái pháo bốc khói trắng, chỉ bay được khoảng ba trượng thì rơi xuống đất lăn long lóc chứ không nổ ra.
Té ra máu của Thoát Bất Hoa đã chảy vào trong họng pháo, trái pháo đã bị ẩm ướt. Vân Trọng mừng như điên, chàng phóng xuống ngựa chạy đến vỗ cửa, mười tám tùy tùng cũng chạy theo vào. Lúc này Ngạch Cát Đa dù có lớn gan bằng trời cũng không dám bỏ trái pháo thứ hai vào!
Trương Đan Phong nhảy xuống tường, mở rộng cửa, hai người ôm chặt nhau, nước mắt rưng rưng, tất cả ân oán đều gởi theo mây gió. Chàng nghe Trương Đan Phong nói: “Cha...”.
Vân Trọng quay đầu nhìn lại, chỉ thấy Trương Tôn Châu lảo đảo bước về phía họ. Vân Trọng chợt nhói lòng, té ra người này là cha của Trương Đan Phong, là kẻ mà từ khi chàng ra đời, hiểu biết việc đời ngày đêm luôn căm hận! Kẻ thù của chàng đang nhìn mình, môi mấp máy, tựa như có hàng ngàn hàng vạn lời nhưng không thốt ra được, khuôn mặt già nua có vẻ rất lạ lùng, tựa như đang mong đợi một chuyện gì đó đã rất lâu, tựa như người cha đang đón lấy con trở về nhà. Suốt đời Vân Trọng sẽ không bao giờ quên nét mặt ấy.
Vân Trọng đau đớn kêu lên một tiếng, ông già gầy đét, râu tóc bạc phơ ấy đâu có giống một tên gian tặc thâm hiểm như mình tưởng tượng? Chả lẽ mình có thể nhẫn tâm tâm cầm giao đâm vào ngực ông già đang chờ chết ấy? Trương Tôn Châu chầm chậm bước tới từng bước. Vân Trọng chợt nhớ lại bức thư bằng da dê mà lúc nào chàng cũng mang theo bên mình, chàng trừng mắt nhìn Trương Tôn Châu, sau đó quay đầu sang một bên, đẩy Trương Đan Phong ra.
Trương Tôn Châu đau như dao cắt lòng, ánh mắt căm hận cứng cỏi trông chẳng khác gì Vân Tĩnh ba mươi năm trước! Trương Tôn Châu đã hiểu tất cả, ông ta rầu rĩ ngồi phịch xuống đất, chỉ thấy Vân Trọng xoay lại, giọng rung rung: “Chuyện đã qua, chúng ta đi thôi”.
Trương Đan Phong đứng sững sờ ra nhìn cha, rồi lại nhìn Vân Trọng, chẳng thốt lên được lời nào. Đàm Đài Chính Minh đang đứng nói chuyện với Đàm Đài Diệt Minh, nàng chạy tới nói: “Sao, sao lại phải ra đi?” Bình thường chỉ cần Đàm Đài Chính Minh nói một lời, Vân Trọng sẽ nghe theo, nhưng lúc này chàng tựa như kẻ mất hồn, cứ cắm đầu bước ra cửa.
Chợt nghe bên ngoài có tiếng vó ngựa lọc cọc, đến trước cửa thì ngừng lại, lúc đó có tiếng hô vang lên: “Thiên tử đại Minh giá đáo Trương gia”.
Té ra Chu Kỳ Trấn chạy chậm, lúc này mới tới, y tuy chưa thoát khỏi thân phận tù binh nhưng vẫn ra vẻ Hoàng đế.
Không ai thèm để ý đến y, Trương Tôn Châu ngồi xuống, chẳng hề nhúc nhích; Đàm Đài Diệt Minh thì trừng y, rồi quay đầu lại, vẫn nói chuyện với muội muội, chỉ có Vân Trọng và tùy tùng của chàng thì đều ngừng bước. Chu Kỳ Trấn tiu nghỉu quát: “Ai là Trương Tôn Châu, tại sao không tiếp giá?”
Trương Tôn Châu ngửa đầu lên trời, tựa như chẳng hề biết đến Chu Kỳ Trấn, nhưng y lại nhận ra Trương Đan Phong, thế rồi quay về phía Trương Đan Phong quát hỏi: “Cha ngươi đâu, cha con ngươi là hậu duệ của kẻ phản nghịch, nay trẫm gia ân miễn truy cứu. Sao bọn ngươi không đến tiếp giá?”
Trương Đan Phong cười lạnh, Chu Kỳ Trấn thì cảm thấy ánh mắt của chàng nhìn vào tấm áo lông cừu đang khoác trên người, bất giác đỏ mặt, y vốn đang lớn tiếng, nhưng càng nói càng nhỏ, đến mấy chữ sau cùng thì hầu như cả bản thân y cũng không nghe thấy.
Trương Đan Phong cười lạnh, chợt lấy ra một bọc đồ ném xuống đất, nói: “Ngươi hãy giữ cho kỹ hai món đồ này, đừng đánh mất nữa!”
Bọn vệ sĩ nhặt lên trình trước mặt Chu Kỳ Trấn. Y mở bọc ra xem, trong bọc có hai món đồ, một món là con dấu bằng ngọc của y, quý giá chỉ kém ngọc tỷ truyền quốc; một món là cây trâm ngọc hoàng hậu đã tặng cho y.
Chu Kỳ Trấn thẹn quá hóa giận, y chẳng còn mặt mũi gì cả, nhưng nhát gan nên không dám lên tiếng. Đang định trút giận vào Vân Trọng, chợt thấy có ba quái nhân chạy vào như bay, hai người đi trước thì mặt mũi giống nhau, nhưng một người trắng một người đen, tay chân múa may, miệng thì la hét, tựa như không có ai bên cạnh.
Ba người này chính là Oanh Thiên Lôi Thạch Anh và Hắc Bạch Ma Ha, quân Mông Cổ rút đi, bọn họ lập tức quét hết tật lê chạy vào. Vệ sĩ của Chu Kỳ Trấn quát: “Cuồng đồ ở đâu, dám kinh động thánh giá!” Thế rồi chạy lên ngăn cản, Thạch Anh liếc mắt nhìn, vung hai tay tóm hai tên vệ sĩ giở lên ném ra ngoài, Hắc Bạch Ma Ha cười ha hả, cũng vung gậy đánh ngã hai vệ sĩ. Chu Kỳ Trấn cả kinh thối lui ra sau, chỉ thấy Hắc Bạch Ma Ha ôm lấy Trương Đan Phong nhảy nhót vui mừng, Thạch Anh thì quỳ xuống trước mặt Trương Tôn Châu.
Trương Tôn Châu đỡ Thạch Anh lên, người lảo đảo, cho nên vẫn ngồi xuống. Thạch Anh rơi nước mắt kêu lên: “Chúa công”.
Trương Tôn Châu nói: “Thạch tướng quân, mấy mươi năm nay đã thiệt thòi cho ông”.
Tổ tiên của Thạch Anh Long kỵ đô úy của Trương Sĩ Thành, cho nên Trương Tôn Châu gọi ông ta là tướng quân. Thạch Anh nói: “Quốc bảo đã trở về với thiếu chủ, nhưng đáng tiếc giang sơn đã mất”.
Trương Tôn Châu xua tay, cười khổ nói: “Ta đã biết tất cả, không cần phải nói nữa. Đời người chỉ mong không có chuyện gì thẹn với lòng, tranh bá đồ vương chẳng do mình!”
Chu Kỳ Trấn giật mình, chỉ Vân Trọng nói: “Chỉ là bọn lỗ mãng thất phu, không thể gần gũi được. Vân trạng nguyên, khanh hãy mau bảo giá về triều”.
Vân Trọng vẫn đứng thẫn thờ, chẳng nói chẳng rằng. Chu Kỳ Trấn quát: “Các người đều điên cả rồi!”
Vân Trọng lách qua một bên, dắt theo tùy tùng, lặng lẽ bảo vệ hai bên, vừa bước ra khỏi cổng, chàng đột nhiên ngừng bước, sắc mặt trắng bệt như tờ giấy.
Chỉ thấy một thiếu nữ xinh đẹp như hoa đỡ một ông già vẻ mặt tiều tụy, đầu tóc rối bời bước vào cửa. Trên mặt ông già này có nhiều vết đao, một chân thì bị què, nhưng thần khí trên mặt trông rất kinh hãi, Chu Kỳ Trấn bất giác rùng mình. Chỉ nghe Vân Trọng đột nhiên rung giọng nói: “Cha!” Rồi chạy lên phía trước, ôm lấy ông già.
Vân Đăng chẳng hề màng đến, ông ta đẩy con trai mình ra, mắt cứ nhìn chằm chằm về phía Trương Tôn Châu, chậm rãi bước dấn tới từng bước.
Thần khí đáng sợ ấy khiến cho Thạch Anh cũng né qua một bên. Thạch Anh ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy sau lưng cha con Vân Đăng còn có con gái và con rể của mình. Thạch Anh vội vàng chạy đến đón con, Châu Sơn Dân và Thạch Thúy Phượng cũng không dám lên tiếng, sắc mặt nặng nề.
Té ra Vân Đăng vì què một chân, đi đường khó khăn cho nên hôm nay mới đến được kinh thành Ngõa Thích, đến khách sạn hỏi thì mới biết Vân Trọng đã đến nhà họ Trương. Vân Đăng nổi giận, buộc con gái dắt ông ta tới, lúc này nỗi vui mừng vì gặp lại con đã bị nỗi căm hận che khuất.
Trong khoảnh khắc, Trương Đan Phong như cảm thấy sấm nổ trong không trung, sắc mặt trở nên tái nhợt. Trước mắt chính là tiểu huynh đệ mà mình ngày nhớ đêm mong. Nhưng Vân Lối không thèm nhìn chàng, chỉ có ánh mắt sắc như dao của Vân Đăng như đang đâm vào tim chàng.
Trương Đan Phong kêu lên một tiếng, chàng vốn chẳng sợ trời chẳng sợ đất, nhưng lúc này cũng cảm thấy kinh hoảng đến không thể nói nên lời, thần khí của Vân Đăng lúc này còn đáng sợ hơn cả khi ông ta buộc Vân Lối rời xa mình. Chỉ thấy ông ta chậm rãi bước từng bước đến trước mặt Trương Tôn Châu, tựa như muốn xé xác ông ta.
Trương Tôn Châu nhìn lên, chỉ thấy Vân Đăng đã đứng trước mặt, nhìn chằm chằm vào ông ta với ánh mắt lạnh như băng. Vân Đăng đứng chẳng hề nhúc nhích, tựa như một bức tượng bằng đá! Trương Đan Phong và Vân Trọng đồng thời kêu lên nhảy bổ tới, Vân Đăng không thèm quay đầu lại, trở tay đánh một bạt tai vào mặt Vân Trọng, Vân Trọng quỳ xuống đất nói: “Cha, rời khỏi nơi này, rời khỏi nơi này!”
Trương Đan Phong cũng đỡ vai Trương Tôn Châu, nói: “Cha, cha hãy quay vào nghỉ ngơi!”
Trương Tôn Châu không quay đầu lại, đưa tay đẩy nhẹ Trương Đan Phong ra. Vân Lối cũng không nén được nữa, nàng ôm mặt khóc, thổn thức kêu lên một tiếng “cha”.
Vân Đăng chẳng hề nghe, hình như trên đời này chỉ còn lại một mình Trương Tôn Châu, ông ta nhìn trừng trừng vào Trương Tôn Châu, ánh mắt ấy chứa đựng tất cả những nỗi oán thù của cõi nhân gian!
Trương Tôn Châu chợt mỉm cười, nói: “Ta đã sớm đoán được sẽ có ngày nay, hôm nay ta sẽ tìm Vân Tĩnh đại nhân để đích thân xin lỗi, như thế mối oan thù giữa hai nhà chúng ta coi như đã tiêu tan!”
Giọng nói càng lúc càng yếu, nói đến chữ cuối cùng thì đột nhiên ngã người ra phía sau, tai và mũi đều chảy máu, người thì đã cứng đờ. Té ra Trương Tôn Châu đã muốn chết từ lâu, sau khi thấy Vân Trọng thì đã len lén nuốt thuốc độc, loại thuốc độc này có chứa bột hạt đỉnh hồng, cũng là loại thuốc nam xưa Vương Chấn đã cho Vân Tĩnh uống, dù có linh đơn diệu dược cũng không thể nào cứu nổi.
Tất cả mọi người đều không ngờ Trương Tôn Châu đã uống thuốc độc tự sát. Sắc mặt Trương Đan Phong sám ngoét như xác chết, đôi mắt đờ đẫn, chẳng thể nào khóc ra tiếng nổi. Vân Lối kêu thảm một tiếng, ngã xuống đất. Vân Đăng cũng tiu nghỉu ngồi xuống như quả bóng da bị xì hơi. Đàm Đài Diệt Minh và Thạch Anh kêu lên một tiếng “chúa công”, Vân Trọng nhảy tới đỡ Trương Đan Phong, Trương Đan Phong đột nhiên ôm mặt vùng chạy, nhảy lên con Chiếu dạ sư tử mã, con ngựa đang gặm cỏ thì đột nhiên tung vó chạy ra ngoài, trong chớp mắt đã khuất dạng.
Bên trong im lặng như tờ, chỉ có tiếng khóc thút thít của Vân Lối.
Hai tháng sau, Giang Nam bắt đầu vào hạ, trời quang mây tạnh, bên ngoài thành Kế Châu có một thiếu niên cỡi con ngựa trắng. Thời gian hai tháng không phải là dài, nhưng thế cuộc đã một phen đổi thay. Sau khi Chu Kỳ Trấn được Vân Trọng rước về, em của Chu Kỳ Trấn, tức là đương kim Hoàng đế Chu Kỳ Ngọc không chịu nhường ngôi, Chu Kỳ Trấn vừa trở về thì bị y nhốt ở nam cung, phong làm Thái thượng hoàng, nhưng thực tế là một kẻ tù nhân. Giấc mộng làm Hoàng đế của Chu Kỳ Trấn tiêu tan, giấc mộng chỉnh đốn quốc gia của Vu Khiêm cũng tiêu tan, bởi vì Chu Kỳ Ngọc không cần dựa vào Vu Khiêm nữa, y đoạt quyền bính của ông ta, cho ông ta làm Binh bộ thượng thư nhưng không nắm thực quyền.
Bè đảng Vương Chấn không còn, nhưng những bè phái mới lại xuất hiện.
Lúc bấy giờ vua tôi nhà Minh đã chìm đắm trong hoan lạc, đã quên đi nỗi nhục thành Thổ Mộc, quên đi mối nguy của quốc gia.
Trương Đan Phong thất ý nơi tình trường, lại gặp phải nạn nhà, lại thêm đau lòng cho chuyện nước, chàng âm thầm trốn ở Bắc Kinh mấy ngày, sau đó một mình cỡi ngựa trở về Giang Nam.
Phong cảnh Giang Nam không giải được nỗi sầu trong lòng nàng, chàng chậm rãi dong ngựa vào thành Tô Châu, chợt chàng ngửa mặt ngâm rằng: “Thiên đạo vô thường nhân sự cải, giang sơn nghịch kiếp thừa tân sầu!”
Rồi chàng lấy ra một bức thư đẫm nước mắt, chàng đã đọc bức thư này mấy trăm lần, không cần nhìn chàng cũng có thể nhớ được. Đây chính là bức thư Trương Tôn Châu trước khi chết đã âm thầm giấu vào trong áo của chàng. Thư viết rằng: Năm xưa cha vì sai lầm một lúc nên kết oán với nhà họ Vân. Ta tuy không giết bá nhân nhưng bá nhân chết vì ta, con cháu của Vân Tĩnh coi ta như kẻ thù là điều đương nhiên. Nay ta quyết lấy cái chết chuộc tội, không phải vì nhà họ Vân cũng vì không còn mặt mũi nào trở về cố quốc. Con người sẽ phải chết, lúc tuổi đã về chiều mà ta có thể thấy được sứ thần của đại Hán uy phong nơi nước người, chết cũng không có gì nuối tiếc. Con giỏi hơn ta gấp trăm lần, có con như thế ta cũng chẳng có điều gì nuối tiếc nữa. Sau khi ta chết con hãy lập tức trở về nước, giải mối hiềm khích với nhà họ Vân, chuộc tội cho ta. Đàm Đài tướng quân đã cho ta biết chuyện con và cháu gái của Vân Tĩnh thương yêu nhau. Nếu chuyện này mà thành, ta càng chẳng hối tiếc.
Hình bóng của cha già hiện lên trong lòng Trương Đan Phong, cha đã từng làm sai nhưng cũng đã từng làm đúng, cha giúp Ngõa Thích cường thịnh, nhưng cũng âm thầm giúp tổ quốc đánh bại Dã Tiên. Lúc còn nhỏ Trương Đan Phong cảm thấy không thể nào hiểu được, nhưng giờ đây chàng đã hoàn toàn hiểu.
Trương Đan Phong thầm đọc lại bức thư, một hình ảnh khác lại hiện lên, đó là Vân Lối, cha chàng mong muốn chàng và Vân Lối có thể kết hợp với nhau! Nhưng sau sự kiện đau lòng này, có lẽ suốt đời này hai người chẳng thể nào gặp nhau nữa chứ đừng nói đến chuyện hôn nhân! Hai tháng nay lúc nào Trương Đan Phong cũng âu sầu, suýt nữa đã rơi vào tình cảnh điên dại. Lần này trở về là muốn nhờ cảnh sắc Giang Nam giải cơn sầu, nào ngờ vừa tới Giang Nam thì càng nhớ tới Vân Lối, lúc hai người còn đi bên nhau thì mơ đã vàng, hoa lựu bên đua nở, còn lòng người thì vui buồn lẫn lộn. Cổ thành như tranh vẽ, cảnh sắc vẫn như xưa, Trương Đan Phong không khỏi thở dài: “Tiểu huynh đệ, tất cả đều đã quá muộn!”
Chợt nghe tiếng cười khúc khích, bên tai Trương Đan Phong tựa như nghe tiếng Vân Lối nói: “Ai nói quá muộn; sao huynh không chờ muội?”
Trương Đan Phong quay đầu lại nhìn, chỉ thấy Vân Lối đang cỡi thớt ngựa hồng, miệng vẫn nhoẻn cười như năm xưa.
Đây là giấc chiêm bao hay đời thực? Trương Đan Phong vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, chỉ thấy Vân Lối vỗ ngựa tới, mỉm cười vẫy tay nói: “Ca ca ngốc, huynh không nhận ra muội sao?” Ồ, đây không phải là giấc chiêm bao! Trương Đan Phong mừng như điên, kêu lên: “Tiểu huynh đệ, đúng là đệ! Quả thật không quá muộn!”
Vân Lối nói: “Muộn cái gì? Chẳng phải huynh đã từng nói dù đường xa như thế nào cũng sẽ tới hay sao? Huynh nhìn kìa, không những muội tới, họ cũng đã tới!”
Trương Đan Phong ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy Vân Đăng đang ngồi trên lưng ngựa mỉm cười nhìn họ, khuôn mặt đầy vết đao nhưng rất hiền từ, chẳng còn thần sắc oán hận nữa. Ông ta kìm ngựa rồi nhảy xuống, trông rắn rỏi vô cùng, té ra Vân Trọng đã chữa trị đôi chân cho ông ta, sau sự biến ấy, ông ta không còn oán hận nữa, lại biết nỗi khổ tâm của Trương Đan Phong, nay chuyện của đời trước đã được đời trước kết thúc, còn có gì đáng nói nữa!
Sau lưng Vân Đăng còn có vài thớt ngựa, đó chính là Vân Trọng và mẹ của chàng, Đàm Đài Diệt Minh cùng Đàm Đài Chính Minh cũng tới, mọi người đều mỉm cười. Đàm Đài Chính Minh vỗ ngựa bước tới đi song song với Vân Trọng, vung roi nói: “Đan Phong, Khoái Hoạt lâm đã thay đổi, công tử có vào thành không?”
Trương Đan Phong như tỉnh giấc mơ, chàng thì thầm nói: “Tiểu huynh đệ, đệ có vào thành không?”
Vân Lối mỉm cười, bao nhiêu oán thù đều tan biến.
Đó chính là:
Doanh doanh nhất tiếu, tận bã ân thù liễu. Cản thượng Giang Nam xuân vị tra, xuân sắc hoa dung tương chiếu.
Tạc tiêu khổ vũ liên miên, kim triều lễ nhật tình thiên, sầu tự đô tùy liễu thứ, tùy phong hóa tác khinh yên.
Dịch nghĩa:
Một nụ cười đã kết thúc mọi ân thù. Khi đến Giang Nam xuân vẫn chưa tàn, sắc xuân ngời lên mặt người.
Đêm qua mưa dầm liên miên, sáng nay trời quang mây tạnh, nỗi sầu biến thành làn khói mỏng bay theo gió.

HẾT
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   

Về Đầu Trang Go down
 
Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Nhanbkvn 2017 :: THƯ VIỆN SÁCH TRUYỆN :: Truyện Kiếm Hiệp-
Chuyển đến