Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2  Next
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:29 pm



Mở đầu
Chăn dê nơi đất Hồ anh hùng huyết tận
Vung roi về cố quốc hiệp sĩ đau lòng


Độc lập thương mang mỗi trướng nhiên, ân thù nhất lệ phó vân yên, đoạn hồng linh nhạn thặng tàn thiên.
Mạc đạo bình tung tùy thệ thủy, vĩnh tồn hiệp ảnh tại tâm điền, thử trung tâm sự thanh thùy truyền.
(Một mình lẻ bóng đơn côi, ân thù tựa áng mây bồng, cô hồng độc hạc còn riêng chút này.
Đừng tưởng dấu bèo trôi theo nước xiết, bóng hiệp còn mãi nơi nào, tâm sự biết tỏ cùng ai bây giờ).
Theo điệu “Cán khê sa”.
Bên ngoài Nhạn Môn quan, gió bấc thét gào trong trời chiều.
Lúc này là năm Chính Thống thứ nhất thời nhà Minh (tức niên hiệu của Minh Anh Tông), Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã chết không đầy bốn mươi năm. Người của Mông Cổ lại trỗi dậy, dấy lên ở phía Tây bắc, trong đó bộ tộc Ngõa Thích là lớn mạnh hơn cả, năm nào cũng đánh vào Trung Nguyên, đến thời Chính Thống thì chỉ còn cách Nhạn Môn quan hơn trăm dặm, vùng đất không một bóng người này đã trở thành nơi hưu chiến giữa Minh triều và Ngõa Thích. Gió Tây hiu hắt, chỉ có cát vàng và lá khô xao xác rơi trong hoàng hôn, tiếng vó ngựa gõ lộc cộc trong tiếng xáo dìu dặt, một cỗ xe lừa phóng nhanh trên con đường núi.
Phía sau cỗ xe ngựa là một thớt tuấn mã, hán tử trung niên ngồi trên ngựa trông rắn chắc, lưng đeo túi tên, eo mang trường kiếm, chốc chốc quay đầu nhìn xung quanh. Gió bấc càng dữ dội hơn, trong gió văng vẳng tiếng ngựa hí và tiếng binh khí chạm nhau, một tiếng hú dài thê lương chợt vang lên, tiếng vó ngựa cũng dần im hẳn, một ông già đầu tóc bạc phơ vén rèm xe lên, run rẩy hỏi: “Phải chăng Đăng nhi gọi ta? Tạ hiệp sĩ, ông không cần lo cho tôi nữa, ông hãy đi tiếp ứng bọn họ, đến được nơi này tôi chết cũng đã nhắm mắt!”
Hán tử trung niên ấy vâng một tiếng, chỉ ra xa nói: “Lão bá hãy yên lòng, ông có nghe tiếng vó ngựa ấy không, có lẽ quân Hồ đã rút lui. Ồ, ông xem, họ đã đến!”, thế rồi giật đầu ngựa, thớt ngựa phóng tới như bay. Ông già trong xe thở dài rơi nước mắt. Một bé gái trong xe ngồi bật dậy, mặt cô bé ửng hồng tựa như trái táo chín đỏ vì lạnh, cô dụi mắt, hình như cô vừa mới thức dậy. Cô bé lên tiếng hỏi: “Gia gia, đây đã là đất Trung Hoa chưa?”
Ông già ấy ghìm dây cương, nhìn xuống mặt đất ở dưới xe, thì thầm: “Ồ, đây đã là Trung Hoa. A Lối, con xuống xe bốc một nắm đất cho gia gia!”
Bên ngoài cửa cốc, ba thớt ngựa bị thương đang chở trên lưng những kỵ sĩ quần áo tả tơi hí dài trở về, kỵ sĩ đi đầu là một nhà sư. Hán tử trung niên họ Tạ chạy tới hỏi: “Triều Âm sư huynh, Vân Đăng sư đệ thế nào rồi?”
Nhà sư ấy kìm cương ngựa, buồn bã nói: “Y đã chết! Không ngờ vượt muôn núi nghìn sông về đến đây, Nhạn Môn quan đã ở trước mặt, y vẫn không thoát khỏi tay người Hồ. Song, y không hổ là một thiết hán tử, sau khi trọng thương mà vẫn giết chết kẻ địch, một tên lãnh binh Thát tử đã chết dưới tay y, quân Mông Cổ hoảng hồn tháo chạy, không dám đuổi theo nữa. Con người ai cũng chết, nhưng chết như y rất có giá trị, đồ nhi của đệ cũng khá lắm, hắn cũng giết được nhiều kẻ địch, đã chết cùng Vân Đăng sư đệ”.
Hán tử trung niên ấy mở mắt trừng trừng nhìn lên trời cao, đột nhiên buông giọng cười lớn: “Nhạn Môn quan phía trước, chúng ta rốt cuộc không phụ lòng Vân Đăng sư đệ, đưa cha của y về đến nơi, Vân Đăng đã có thể nhắm mắt. Nhưng Vân đại nhân sẽ rất đau lòng, chúng ta hãy tạm thời giấu chuyện này”. Thế rồi vỗ ngựa chạy về phía chiếc xe lừa, chỉ thấy ông già trên càng xe, tay nắm một nắm đất, vẻ mặt rất kỳ lạ, bé gái ấy đứng ở dưới đất sững người nhìn gia gia.
Triều Âm hòa thượng kêu: “Vân đại nhân, chúng tôi đã trở về”.
Ông già ấy hỏi: “Đăng nhi đâu?”
Triều Âm hòa thượng nói: “Quân Thát tử đã bị chúng tôi đánh lui, y đã bị thương nhẹ, cùng với đồ đệ của Thiên Hoa sư đệ chặn hậu”.
Tuy ông ta cố gắng giữ bình tĩnh nhưng cũng không thể nào kìm chế được nỗi bi phẫn. Ông già ấy biến sắc, Triều Âm hòa thượng và Tạ Thiên Hoa đều là những hiệp khách khí phách hào hùng, nhưng trước ánh mắt của ông ta, cũng bất giác thối lui mấy bước, không dám nhìn thẳng, chỉ nghe ông ta buông giọng cười nói: “Cha là trung thần, con là hiếu tử, trung thần hiếu tử ở chung một nhà, Vân Tĩnh này còn tiếc gì nữa! Ha ha!”
Trong tiếng cười thê lương hàm chứa nỗi phẫn uất cực độ, kỵ sĩ bên cỗ xe lừa không dám lên tiếng. Đứa bé ấy ngẩng mặt lên hỏi: “Gia gia, người cười gì thế? Con sợ lắm, gia gia, người đừng cười như thế nữa. Tại sao cha con không quay về?”
Ông già ấy chợt ngừng cười, im lặng một hồi rồi chậm rãi hỏi: “Sáng sớm ngày mai có thể đến Nhạn Môn quan không?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Được, đêm nay là ngày mười lăm tháng mười, trăng rất sáng, sáng mai sẽ tới nơi”.
Ông già ấy nâng niu nắm đất trong tay tựa như báu vật, ông đưa nắm đất lên mũi, hít sâu mấy hơi, nắm đất tỏa mùi lá mục, ông buồn bã mỉm cười: “Đã hai mươi năm, đến nay mới ngửi được mùi vị của nắm đất quê hương”.
Tạ Thiên Hoa nói: “Lão bá thân ở nước người mà vẫn giữ lòng trung, còn hơn cả Tô Vũ, tấm lòng này thật khiến cho người và trời đều kính ngưỡng!”
Ông già dang rộng vòng tay, ôm bé gái lên xe rồi chậm rãi nói: “A Lối, năm nay con đã bảy tuổi, đêm nay gia gia sẽ kể cho con nghe một câu chuyện, con phải nhớ cho kỹ”.
Bé gái ấy lặp lại: “Vâng, phải nhớ kỹ. Con biết, gia gia sẽ kể chuyện của người!” Ông già ngạc nhiên nhìn đứa bé gái rồi nói: “Con quả thật rất lanh lẹ, so với ta hồi còn nhỏ, thông minh hơn rất nhiều!” ông quên rằng bé gái này từ khi ra đời, tháng trước mới gặp gia gia của nó, lúc đó nó từng hỏi cha, tại sao đột nhiên lại có một gia gia, người cha bảo rằng: “Cha đã nhiều lần kể cho con nghe câu chuyện Tô Vũ chăn dê, câu chuyện của gia gia còn hay hơn cả câu chuyện Tô Vũ chăn dê, sau này gia gia sẽ kể cho con nghe, con phải nhớ cho kỹ”.
Cho nên đêm nay gia gia bảo sẽ kể chuyện, cô bé biết đó là câu chuyện của ông ta.
Mọi người đi quanh chiếc xe la, cũng say sưa lắng nghe như cô bé, chỉ thấy ông già ấy lấy ra một cây gậy tre, trên đầu cây gậy tre có mấy sợi cờ mao lơ thơ, ông già thở dài nói: “Cờ tiết này đã không còn nguyên vẹn. A Lối, con có biết sứ cờ là gì không? Ta nói cho con nghe. Hai mươi năm trước, gia gia của con là sứ thần của Thiên tử triều Minh, phụng lệnh đi sứ đến nước Ngõa Thích của Mông Cổ, Hoàng đế triều Minh đã ban cho ta cây gậy tre này, gọi là cờ tiết, cờ tiết đại diện cho thiên tử, tính mạng có thể mất nhưng cờ không thể hỏng. Lúc đó Mông Cổ chia làm hai phần, một phần là Ngõa Thích, một phần là Thát Đát, sức nước vẫn còn yếu ớt. Theo lý họ phải tôn trọng sứ thần của thiên tử triều Minh, trong ngày trình quốc thư, vua nước Ngõa Thích còn cung kính giữ lễ, nhưng không ngờ sau đó có một người Hán mặc Hồ phục, mang bội kiếm lên triều, kéo vua Ngõa Thích sang một bên, thì thầm to nhỏ mấy lời, vừa nói vừa nhìn ta. Người Hán ấy chỉ khoảng hai mươi tuổi, nhưng trong mắt đầy vẻ oán hận, tựa như ta có thù với y!”
Tạ Thiên Hoa ngạc nhiên nói: “Người ấy có quen lão bá không?”
Vân Tĩnh nói: “Không, ta không hề quen y. Ta tự thấy mình trong sạch, cả đời không có kẻ thù, càng chẳng thể kết thù với người Hồ, cũng không biết tại sao y lại oán hận ta như thế! Song lúc đó ta thấy y mặc Hồ phục, ta đã không thèm bắt chuyện với y. Y nói với vua Ngõa Thích một hồi, đột nhiên hạ lệnh bắt ta, lại còn cướp cờ tiết của ta. Ta nổi giận cự lại: “Tính mạng có thể mất, cờ tiết của Thiên tử đại Minh không thể hủy”. Đáng hận y là người Hán, nghe xong thì lại cười lớn nói rằng: “Thiên tử đại Minh, thiên tử đại Minh! Ha ha, ngươi định làm trung thần cho thiên tử đại Minh đấy ư? Được! Ta sẽ giúp ngươi toại nguyện, ngươi sẽ được làm Tô Vũ thứ hai, Tô Vũ chăn dê, vậy thì ngươi hãy chăn ngựa!” Từ lúc đó trở đi ta đã chăn ngựa hai mươi năm ở miền cực bắc lạnh lẽo! Lúc đầu ta còn mong triều Minh sai binh đến cứu, nhưng năm này qua năm nọ vẫn chẳng có tăm hơi gì. Sau đó nghe nói Hoàng đế của đại Minh tức Minh Thành Tổ Chu Lệ đã qua đời, Nhân Tông kế vị không đầy một năm thì chết yểu, ấu chúa nối ngôi, trong nước không có người, uy phong của đời trước đã không còn nữa, ta đã hết hy vọng, đoan chắc sẽ chết già ở nước người, khó lòng trở về đất Hán, nào ngờ cũng có hôm nay!”
Tạ Thiên Hoa và Triều Âm hòa thượng nhìn nhau, im lặng không nói, mặt lộ vẻ khác lạ, tựa như vừa khâm phục vừa cảm thấy đó là chuyện bình thường. Vân Tĩnh không để ý, giọng nói càng lúc càng trầm, ông ta bẻ khớp tay kêu lên rôm rốp rồi lại nói: “Đã hai mươi năm qua, ta chịu bao nhiêu đau khổ, trong sa mạc không có nước uống, có lúc phải uống nước tiểu ngựa, đến mùa đông thì phải uống băng ăn tuyết! Đó chưa phải là khổ cực nhất, điều đáng hận hơn, gã ấy lâu lâu lại sai người đến sỉ vả Thiên tử đại Minh trước mặt ta. Hai mươi năm qua lúc nào ta cũng chuẩn bị sẽ chịu chết, nhưng đáng hận là kẻ ấy không giết mà chỉ hành hạ ta”.
Vân Lối nghe xong rất phẫn nộ, hỏi: “Kẻ xấu ấy tên là gì? Gia gia hãy nói cho con nghe, sau này Lối Lối lớn lên chắc chắn sẽ báo thù cho gia gia”.
Vân Tĩnh tiếp tục nói: “Không lâu sau thì ta biết gã ấy họ Trương tên là Tôn Châu, tên là Tôn Châu nhưng thực sự không “tôn châu”, thử hỏi nhà Châu là chủ của thiên hạ, đã là “tôn châu” nhưng lại mắng nhiếc Thiên tử nhà Minh đó chẳng phải đã tự sỉ vả mình rồi ư?”
Bé gái ấy không hiểu nhà Châu, cũng chẳng hiểu là chủ của thiên hạ, định hỏi thì nghe gia gia tiếp tục nói: “Những chuyện trong lịch sử, lớn lên con đọc sách thì sẽ biết, gia gia không nói nhiều nữa”.
Vân Tĩnh thực ra không chỉ nói cho cháu gái mình nghe mà cũng nói cho hai hiệp sĩ kia. Lúc này ngập ngừng rồi mới cao giọng nói: “Hai vị hiệp sĩ, hai vị bảo gã này có đáng giết hay không?”
Triều Âm hòa thượng gõ cây thiền trượng xuống đất rồi nói: “Đáng giết!”
Vân Tĩnh mỉm cười, vuốt đầu cháu gái mình rồi tiếp tục nói: “Trương Tôn Châu vốn là con nhà gian tặc, cha của y đã làm quan ở Mông Cổ, đến đời y thì càng được trọng dụng hơn, hơn hai mươi tuổi thì đã làm hữu thừa tướng của nước Ngõa Thích, được Khả hãn của nước Ngõa Thích là Thoát Thoát Bất Hoa trọng dụng như hữu thừa tướng Thoát Hoan Bất Hoa, y rất khỏe mạnh, chắc là vẫn còn sống được hai ba mươi năm nữa. Ta luôn ngày đêm mong ngóng y đừng chết sớm!”
Triều Âm hòa thượng là người bộc trực, nghe thế thì ngạc nhiên hỏi: “Tại sao?”
Vân Tĩnh đã kìm nén nỗi phẫn nộ mấy mươi năm nay, nói đến đây thì ông ta cười lạnh. Vân Lối rùng mình, chỉ thấy gia gia rút ra một tấm da dê, trên miếng da dê có viết mấy dòng chữ đỏ, thoang thoảng mùi máu.
Tạ Thiên Hoa ngạc nhiên nói: “Vân lão bá, đây là huyết thư của ông?”
Vân Tĩnh điềm nhiên nói: “Đây là mảnh thứ hai. Lúc đầu ta mong triều đình dấy binh hỏi tội, bắt tên gian tặc ấy, sau đó chẳng còn hy vọng, bản thân ta muốn chính tay giết chết tên gian tặc, nhưng lại là một thư sinh trói gà không chặt, suy đi nghĩ lại chỉ còn mong bầy con cháu bỏ văn học võ, có thể báo mối thù cho ta. Quả nhiên trời không phụ lòng người, ta chăn ngựa mười năm thì Đăng nhi đã đến biên giới Ngõa Thích, mai danh ẩn tích tìm ta. Trước khi ta đi sứ, hắn vừa mới thi đậu tú tài, chỉ là một thư sinh yếu ớt, nhưng khi gặp lại, hắn đã là một võ phu mạnh mẽ. Té ra hắn biết triều đình không muốn dấy binh vì một mình ta, cho nên bỏ văn học võ, một mình đến Ngõa Thích cứu cha. Nghe nói hắn đã theo đệ nhất kiếm khách Huyền Cơ Dật Sĩ học bảy năm, võ công tuy chưa đại thành nhưng có thể đối phó với năm ba người, Đăng nhi nôn nóng cứu cha nên chưa học xong thì đã bỏ đi”.
Vân Lối say sưa lắng nghe, cô bé cứ nhìn qua liếc lại, trong lòng đầy nỗi nghi hoặc, hỏi rằng: “Cha đã có bản lĩnh như thế, tại sao con không hề biết? Con chỉ thấy hàng ngày cha cùng mẹ đi chăn dê, ngày nọ quân Thát tử đến bắt nạt người, cướp dê của người mà người chẳng dám làm gì”.
Vân Tĩnh thở dài nói: “A Lối, con còn nhỏ, có rất nhiều chuyện ta nói con cũng không hiểu. Song sau này dù ta có chết đi, không kịp nhìn thấy con lớn lên, hai vị bá bá cũng sẽ cho con biết”.
Tạ Thiên Hoa biết đêm nay Vân Tĩnh tiết lộ thân thế, thực sự là muốn nói cho họ nghe, trong đó chắc có hàm ý khác. Chỉ thấy Vân Tĩnh run rẩy, hơi thở hơi mệt nhọc, thế rồi đỡ ông ta nói: “Lão bá, ông hãy nghỉ một lát, thời gian vẫn còn nhiều, đợi sau khi vào Nhạn Môn quan hẵn kể tiếp, lão bá sau này có gì căn dặn, vãn bối nhất định sẽ nghe theo”.
Vân Tĩnh ho một tiếng rồi thở dốc nói: “Không, ta nhất định phải kể tiếp. Chuyện này đã dồn nén trong lòng quá lâu, không nói ra sẽ khó chịu”. Ông ta ngừng một lát rồi nói tiếp: “Đăng nhi đã xem chuyện này quá dễ dàng, tưởng rằng nhờ vào võ công của hắn thì có thể cứu ta trở về. Nào ngờ ngoài trời có trời, trên người có người, ở đất Mông Cổ cũng có rất nhiều cao thủ, ngay cả trong số các thủ hạ của Trương Tôn Châu cũng có vài nhân vật bản lĩnh phi phàm. Ta chăn ngựa ở nơi phủ tuyết, bị bọn chúng âm thầm theo dõi. Đăng nhi khó khăn lắm mới tìm được ta, chưa kịp bàn cách trốn chạy thì đã bị người ta phát hiện, nếu ta không bảo hắn chạy trước, e rằng cả hắn cũng bị bắt giữ. Sau đó Đăng nhi lại âm thầm thương lượng với thủ hạ của Trương Tôn Châu vài lần, vì chẳng được ích gì cho nên mới bỏ ý định một mình cứu cha. Vì thế theo lời dặn của ta, hắn sống mai danh ẩn tích ở Mông Cổ, giả vờ chẳng biết võ công, âm thầm tìm cơ hội lén liên lạc với ta, lại còn cưới thiếu nữ Mông Cổ làm vợ, mục đích là giúp ta sinh con đẻ cái, sau này báo mối đại hận thâm thù. Ta nhớ lại câu chuyện Ngu Công dời núi, nếu con trai ta không thể báo được thù này, còn có cháu của ta, cháu ta không thể báo thì còn có chắt, chỉ cần nhà họ Vân còn có hậu nhân thì chắc chắn phải báo được thù. Còn Trương gia, dù cho Trương Tôn Châu chết đi, hắn cũng có hậu nhân, hậu nhân của hắn phải chịu báo ứng thay cho hắn! Bảy năm trước ta nghe hắn sinh được một đứa con trai, ta đã viết một bức huyết thư dặn dò cháu trai của ta, ngày sau lớn lên gặp được kẻ hậu nhân của Trương Tôn Châu thì bất luận là nam nữ già trẻ đều phải giết!”
Tạ Thiên Hoa cảm thấy lạnh lẽo trong lòng, môi mấp máy nhưng nén được, nghĩ bụng: “Mối thù này thật ghê gớm! Cứ báo thù như thế há chẳng phải tàn khốc hơn cả chuyện thù sát trên giang hồ hay sao? Chắc là ông ta chăn ngựa ở nơi tuyết phủ hai mươi năm, bị hành hạ đủ điều cho nên mất đi lý tính. Chờ sau khi ông ta về Trung thổ, tinh thần đã hồi phục thì từ từ khuyên nhủ”.
Vân Tĩnh chỉ bức huyết thư, hơi thở dốc, nói tiếp: “Đăng nhi nghe lời ta dạy đã may bức huyết thư này vào trong áo của đứa trẻ, gởi đến cho một sư huynh dạy dỗ. Sau đó vì đã đổi chỗ chăn ngựa, lại mất liên lạc, cho đến ba tháng trước, hắn mới lén lút gặp ta một lần, ta mới biết rằng, hắn đã hẹn đồng môn đến đây cứu ta. Lúc đó, ta nghĩ thời gian dài dằng dặc, cũng không muốn bỏ chạy, ta cũng không để ý lời nó, chỉ hỏi trong bảy năm sau này có sinh con nữa không? Nó bảo lại sinh được một đứa bé gái, đó chính là con. Ta lập tức viết thêm một bức huyết thư, có nghĩa là cháu gái cũng phải báo thù cho ta. Lối Lối, sau này con hãy nhớ rằn, hễ gặp hậu nhân của Trương Tôn Châu bất luận nam nữ già trẻ đều phải giết chết, rồi giã xương thành tro!”
Vân Lối nghe thế thì trên mặt lộ vẻ hoảng sợ, cô bé đột nhiên khóc òa lên: “Gia gia, phải giết bao nhiêu người? Lối Lối sợ lắm, mẹ đã dạy không được giết chóc bừa bãi. Ôi, mẹ đâu rồi? Cha nói mẹ sẽ quay về, sao không thấy mẹ quay về, còn cha con đâu rồi?”
Cô bé nào biết, người cha của mình mai danh ẩn tích ở Mông Cổ, cho nên chẳng hề nói cho mẹ biết thân thế lai lịch, một tháng trước đã giấu vợ bỏ nhà trốn đi.
Vân Tĩnh đột nhiên nổi giận: “Lối Lối, con không nghe lời ta ư? Ta cho con biết, cha của con, cha của con, hắn đã...” Vân Lối hoảng sợ đến nỗi im bặt, Vân Tĩnh lại thở dài, ông ta không nỡ cho cô bé biết cha mình đã chết.
Tạ Thiên Hoa thầm thở dài, lắc đầu, chỉ thấy Vân Lối hạ giọng nói nhỏ: “Con nghe lời gia gia!”
Vân Tĩnh nhét tấm huyết thư vào trong áo cô bé, ngửa đầu cười rằng: “Không ngờ Vân Tĩnh này cũng có lúc thoát khỏi đất khách, trở về quê cũ. Tạ hiệp sĩ, mong ông nể tình Đăng nhi, nhận con gái của nó làm học trò!”
Tạ Thiên Hoa sau một hồi do sự thì chậm rãi nói: “Chuyện này hãy thương lượng sau... Lão bá đừng hiểu lầm, không phải là tôi không hứa với ông, mà tôi sẽ tìm cho nó một sư phụ giỏi hơn”.
Tạ Thiên Hoa và Triều Âm hòa thượng đều là đồng môn của Vân Đăng. Huyền Cơ Dật Sĩ, sư phụ của họ được người ta gọi là Thiên hạ đệ nhất kiếm khách, không chỉ kiếm thuật tinh thâm mà cả võ công cũng rất cao cường. Nhưng Huyền Cơ Dật Sĩ tính nết kỳ quặc, ông ta nhận cả thảy năm học trò, mỗi học trò chỉ truyền một môn võ công. Ví dụ như Tạ Thiên Hoa chỉ học được một nửa kiếm thuật. Còn một nửa thì sao? Té ra Huyền Cơ Dật Sĩ có hai bộ kiếm pháp tương phản tương thành với nhau. Ông ta lại rèn được một đôi song kiếm thư hùng, thư kiếm tên gọi Thanh Minh, hùng kiếm tên gọi Bạch Vân.
Bạch Vân hùng kiếm thì truyền cho Tạ Thiên Hoa.
Thanh Minh thư kiếm thì truyền cho một nữ đệ tử khác, mỗi người đều học một bộ kiếm thuật của ông ta.
Hai bộ kiếm thuật này là tâm sức cả đời của Huyền Cơ Dật Sĩ, nếu song kiếm hợp bích, thiên hạ không ai địch nổi. Cho nên trong năm học trò của ông ta, võ công của Tạ Thiên Hoa và nữ đệ tử ấy là cao nhất, hai người cũng khó phân cao thấp. Còn Vân Đăng vì vào sư môn muộn hơn, võ công kém nhất. Triều Âm là đệ tử hàng thứ hai, được truyền cho Phục Ma trượng pháp, công phu ngoại gia đã đến bước đăng phong tạo cực.
Tạ Thiên Hoa và Triều Âm hòa thượng đều được sư đệ Vân Đăng nhờ cậy, mỗi người dắt theo một học trò, từ Trung thổ đến Mông Cổ cứu cha của y. Vừa lúc đó Khả hãn của nước Ngõa Thích vừa lập thái tử, trong nước có chuyện vui, việc canh phòng lơi lỏng, ba người hợp lực giết vài tên lính, sau đó dễ dàng thoát ra ngoài, nhưng lại không ngờ gần về đến Nhạn Môn quan thì truy binh đã đuổi tới, Vân Đăng đã đổ máu nơi biên tái, còn đồ đệ duy nhất của Tạ Thiên Hoa cũng chết cùng ông ta.
Vân Tĩnh nói xong thì mệt mỏi chìm vào giấc ngủ. Vân Lối ngẩn người ra nhìn gia gia, không nói cũng chẳng cười. Tạ Thiên Hoa thở dài, phất tay, cỗ xe lừa lại lăn bánh qua con đường núi. Lúc này vầng trăng đã qua khỏi đường chân trời, sơn cốc hoang vắng chìm dưới ánh trăng, tựa như được bao phủ bởi một lớp sương mỏng, càng lạnh lẽo rùng rợn hơn. Tạ Thiên Hoa cho Vân Lối ăn xong mấy miếng thịt, uống một ngụm nước, vỗ nhẹ vào lưng của cô bé rồi không lâu sau cũng ngủ thiếp đi.
Cỗ xe lừa đang chạy, chợt nghe Vân Tĩnh kêu lên trong mơ: “Kìa, kìa... sói... sói đến”.
Triều Âm hòa thượng cười nói: “Ông già còn tưởng mình đang chăn ngựa ở đất Mông Cổ”.
Lại nghe Vân Lối kêu lên trong mơ: “Mẹ, Lối Lối không giết người, Lối Lối sợ lắm”.
Tạ Thiên Hoa ngạc nhiên lắc đầu, chợt nghe tiếng tên bay lướt qua sơn cốc, Vân Tĩnh bật dậy kêu lên: “Sói đến!”
Mở mắt ra nhìn, thì thấy một ánh lửa màu lam từ trên không sa xuống, Triều Âm hòa thượng đã lướt ra mấy trượng, chạy lên nghênh địch, Tạ Thiên Hoa nói: “Lão bá đừng sợ, kẻ địch rất ít”.
Vân Tĩnh đã thức dậy, run rẩy nói: “Không xong, đó là đệ nhất dũng sĩ dưới trướng Trương Tôn Châu, họ Đàm Đài, tên gọi Diệt Minh, tên họ của y tựa như người Hồ, nhưng thực ra là người Hán. Đăng nhi đã từng bị y đánh bại, gã này rất ghê gớm”.
Tạ Thiên Hoa cười nói: “Đôi song chưởng và cây trượng của sư huynh tôi uy chấn Trung Nguyên, đệ nhất dũng sĩ ở Mông Cổ có đáng là gì. Chỉ cần bọn chúng không nhiều người, dù y có ghê gớm đến mức nào cũng bị chúng tôi thu phục, trao cho lão bá đem về kinh đô lập công, xem thử gã này có dám xưng là diệt Minh nữa không!”
Tạ Thiên Hoa hành hiệp trượng nghĩa, ghét nhất là hạng bán nước, nghe nói người ấy có ngoại hiệu là diệt Minh, thế là rút trường kiếm phóng ra cửa cốc trợ chiến.
Chỉ thấy có một viên tướng Hồ, mình mặc giáp vàng, sử dụng song long hộ thủ câu đang đánh rất hăng với Triều Âm hòa thượng. Trượng pháp của Triều Âm hòa thượng như thần long xuất hải, quét ngang bổ dọc kêu lên vù vù, viên tướng Hồ ấy cũng chẳng chịu kém, múa tít đôi câu, gạt cây thiền trượng to bằng miệng bát của Triều Âm hòa thượng ra. Tạ Thiên Hoa thất kinh nhủ thầm: “Bản lĩnh của kẻ này thật ghê gớm, chả trách nào Vân Đăng sư đệ đã bại dưới tay y, xem ra sư huynh cũng không phải là đối thủ của y”. Thế rồi lập tức rút kiếm ra khỏi bao, vung mạnh tay phóng vút lên rồi từ trên không hạ xuống, vung thanh trường kiếm lên đánh ra một chiêu Phất Liễu Xuyên Hoa đâm thẳng vào trung tâm, chiêu kiếm lợi hại do Huyền Cơ Dật Sĩ khổ công nghĩ ra chuyên dùng để đối phó với những binh khí như câu, đoạt.
Hộ thủ câu và vạn tự đoạt vốn là những loại binh khí ngoại môn có thể khống chế đao kiếm, nhưng bộ kiếm pháp này rất nhẹ nhàng phiêu dật, biến hóa muôn hình, có thể nương theo thế của câu và đoạt, kìm chế lại kẻ địch. Nếu kẻ địch vẫn dùng câu đoạt có thể khóa đao kiếm để đánh ra, nhẹ thì ngón tay bị chặt đứt, nặng thì yết hầu bị đâm thủng, mà khi Tạ Thiên Hoa dùng chiêu sát thủ này đâm thẳng vào trung tâm, ông lại xoáy thêm hai vòng trái và phải, có nghĩa là đánh vào thẳng ở giữa là hai bên cánh của kẻ địch, cho nên kẻ địch khó tránh nổi.
Không ngờ tướng Hồ ấy hạ câu trái xuống, câu phải thì kéo ngược lên, thanh trường kiếm của Tạ Thiên Hoa suýt nữa bị y giật tới, nói thì chậm, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ thấy câu quang lấp lánh, thu duỗi bất định, cũng không biết từ đâu đánh tới, nhân lúc Tạ Thiên Hoa hơi chậm lại, lập tức phản khách làm chủ.
Tạ Thiên Hoa thầm thất kinh, nhưng bất ngờ gặp kình địch, tinh thần đã phấn chấn, vung thanh trường kiếm lên, kiếm chiêu đổi thành Lâu Tất Ảo Bộ, kiếm quang vẽ thành một hình vòng cung dài, người xoay nửa vòng theo kiếm thế.
Chỉ nghe soạt một tiếng, mũi kiếm đâm nhanh ra ngoài. Đó là chiêu số độc đáo công thủ đều có, câu quang của tướng Hồ ấy loang loáng, nhưng không đánh ra chiêu nữa, cả hai cây câu đều bị gạt ra ngoài, y rê ngang một bước. Tạ Thiên Hoa lập tức xốc tới, múa tít thanh kiếm, viên tướng Hồ ấy kêu lên: “Kiếm pháp hay!”
Y đánh liên tục ba chiêu đột nhiên la lên: “Ngừng tay!”
Tạ Thiên Hoa nào chịu nghe, kiếm quang tỏa ra không ngớt, viên tướng Hồ ấy chợt nổi giận quát: “Ngươi tưởng ta sợ đấy hử!” Rồi đôi câu mở rộng, nào đón, đẩy, cắt, đâm, rút, gạt, toàn là những chiêu số như sấm vang chớp giật, hai cây câu tựa như hai con ngân xà theo sát kiếm quang của Tạ Thiên Hoa, kiếm pháp của Tạ Thiên Hoa tuy thần diệu nhưng cũng chẳng làm gì được y.
Triều Âm hòa thượng gầm lớn một tiếng, múa tít cây thiền trượng phóng lên trợ chiến, tướng Hồ ấy cười lớn nói: “Nhìn võ công của ngươi chắc chắn là kiếm khách nổi tiếng ở Trung thổ, nghe nói các nhân vật nổi tiếng ở võ lâm Trung thổ rất coi trọng quy củ đơn đả độc đấu, thế nhưng các ngươi lại muốn lấy nhiều thắng ít!”
Triều Âm hòa thượng quát hỏi: “Ngươi có phải là Đàm Đài Diệt Minh hay không?”
Tướng Hồ ấy né tránh nhát kiếm của Tạ Thiên Hoa, trả lại hai chiêu, cười rằng: “Té ra hòa thượng nhà ngươi cũng biết tên ta”.
Triều Âm hòa thượng quát rằng: “Ngươi là người Hán mà lại làm tướng Hồ, có nhục nhã hay không? Đối phó với hạng gian tặc phản quốc như ngươi, đâu cần phải giữ quy củ võ lâm Trung Nguyên! Hãy nếm của Phật gia một trượng!”
Đàm Đài Diệt Minh sầm mặt, đột nhiên buông giọng cười lớn: “Một mình ngang dọc nơi Mạc Bắc, lòng này chẳng có gì thẹn với ai! Ai là gian tặc phản quốc? Ta phản nước của ai? Chu Nguyên Chương khéo đoạt thiên hạ, chỉ có bọn người chẳng có chí khí như các người mới cúi đầu xưng thần trước con cháu của y”. Rồi lách người qua một bên, tránh được cây thiền trượng, lại múa tròn đôi câu bảo vệ trước thân người, trong kiếm quang câu ảnh y lớn giọng nói: “Nói ra tên hòa thượng lỗ mãng nhà ngươi cũng không hiểu, thôi được ngươi đã đòi cùng đấu, ta sẽ gọi hai tên tiểu bối tiếp chiêu của ngươi”. Thế là xỉa đôi câu ra, gạt cây thiền trượng của Triều Âm sang một bên, hai viên tiểu tướng ở phía sau y múa tít đao thương, lập tức phóng lên, đón lấy trượng thế của Triều Âm hòa thượng. Hai viên tiểu tướng này tuy kém Triều Âm một bậc, nhưng cũng chẳng phải tay vừa, suốt nửa đêm qua Triều Âm hòa thượng đã trải qua hai trận kịch đấu, khí lực hao tổn, cho nên chẳng thắng được bọn chúng.
Tạ Thiên Hoa nghe Đàm Đài Diệt Minh nói như thế, lòng nhủ thầm: “Gã này chẳng phải hạng tầm thường, nhưng giúp Hồ diệt Hán, dù thế nào đi nữa cũng không nên. Thế là khí giận bốc lên, vung kiếm tấn công mạnh mẽ, Đàm Đài Diệt Minh đánh vài chiêu nữa thì chợt hỏi: “Ngươi có phải là môn hạ của Huyền Cơ Dật Sĩ hay không?”
Tạ Thiên Hoa ngạc nhiên, chỉ nghe Đàm Đài Diệt Minh lại cười lớn: “Sư phụ của ngươi năm xưa dốc hết tâm sức cũng chẳng thắng nổi sư phụ ta, ngươi muốn thắng ta thì đâu có dễ! Nếu ngươi không biết tiến thoái, đêm nay mỗi người sẽ vì chủ của mình, đấu thêm vài trăm chiêu nữa!”
Tạ Thiên Hoa chợt thất kinh, nhớ rằng sư phụ đã kể một câu chuyện xưa. Hai mươi năm trước, sư phụ đã tranh nhau chức Minh chủ võ lâm với một ác ma, đấu với y ba ngày ba đêm trên đỉnh Nga Mi, không phân thắng bại. Ma đầu ấy tên là Thượng Quan Thiên Dã, vốn là một đạo tặc ở chốn lục lâm, sau trận chiến ấy y đột nhiên mất tích, không biết đã trốn ở nơi nào. Nghe Đàm Đài Diệt Minh nói như thế, Thượng Quan Thiên Dã chắc chắn đã trốn ở Mông Cổ, còn Đàm Đài Diệt Minh là đồ đệ của y.
Tạ Thiên Hoa vốn định ngừng lại quát hỏi, nhưng nghe y nói mỗi người đều vì chủ của mình, lửa giận lại bốc lên, lập tức thi triển kiếm pháp nhanh đến nỗi gió mưa không lọt, tựa như sấm vang chớp giật, trong công có thủ, trong thủ có công. Đàm Đài Diệt Minh ấy cũng rất lợi hại, chém xéo đôi câu về phía trước tựa như hai luồng cầu vồng, chặn kín môn hộ, thế câu của y trong công cũng có thủ, hư thực thay đổi, cương nhu đều có, trong chớp mắt đã đánh hàng trăm chiêu mà vẫn không phân thắng bại. Tạ Thiên Hoa thầm nhủ: “Đáng tiếc tứ sư muội không có ở đây, nếu song kiếm hợp bích thì người tên Đàm Đài Diệt Minh cũng chết dưới kiếm này”.
Đàm Đài Diệt Minh múa câu đánh liền ra ba chiêu, Tạ Thiên Hoa cũng không vừa, trả lại bốn chiêu. Đàm Đài Diệt Minh đột nhiên cười ha hả, nhảy ra khỏi vòng chiến nói: “Thế nào? Chúng ta đều đã dốc hết toàn lực mà không ai thắng được, chi bằng hãy ngừng tay”.
Tạ Thiên Hoa giận dữ nói: “Ta không đội trời chung với Hán tặc, chuyện đêm nay phải giải quyết cho xong!”
Đàm Đài Diệt Minh vung đôi câu, chặn thanh trường kiếm của Tạ Thiên Hoa lại cao giọng quát: “Đúng là chó cắn Lữ Động Tân, ngươi không biết ta đã có lòng tốt cứu ngươi ra”. Tạ Thiên Hoa không dám lơi lỏng, gạt đôi câu ra ngoài, quát: “Bọn ta vượt trăm sông nghìn núi mới đến được đây, còn có nguy hiểm gì nữa, đâu cần ngươi cứu? Nếu ngươi thực sự cải tà theo chính, bỏ tối theo sáng, mau mau buông đôi câu xuống theo ta quay về!”
Đàm Đài Diệt Minh cười lạnh, lớn giọng nói: “Ngươi quả thật không biết tốt xấu, ta phụng lệnh Trương thừa tướng khuyên ngươi đừng trở về Trung Nguyên, e rằng chưa tới Nhạn Môn quan thì đã gặp họa!”
Tạ Thiên Hoa giận dữ, đâm thanh trường kiếm tới, miệng mắng rằng: “Tên cẩu tặc nhà ngươi dám bỡn cợt ta!” Đàm Đài Diệt Minh cũng nổi giận, mắng lại rằng: “Ngươi đã tự tìm đường chết, đừng trách ta vô tình”.
Tạ Thiên Hoa nghiến răng chẳng nói lời nào, đánh ra như mưa gió, Đàm Đài Diệt Minh cũng không dám phân tâm, múa tít đôi câu, thấy chiêu đỡ chiêu, thấy thức phá thức, lại đánh mấy trăm chiêu nữa mà vẫn không phân thắng bại.
Hai bên đang đánh nhau rất hăng, Đàm Đài Diệt Minh thình lình nghe tiếng tiêu vang lên, nhân lúc sơ hở thì quay người bỏ chạy, hai tên tiểu tướng cũng nhảy ra khỏi vòng chiến đuổi gấp theo sau. Tạ Thiên Hoa và Triều Âm hòa thượng đã nổi sát cơ, nào chịu bỏ qua, thế là cả hai nhảy vọt đuổi theo, trong chốc lát đã đến chân núi. Tạ Thiên Hoa rất cẩn thận, đột nhiên nhủ thầm: “Gã này chẳng hề nao núng, tại sao lại bỏ chạy? Chả lẽ có qủy kế? Vân đại nhân ở phía sau, không ai bảo vệ, có lẽ ông ta gặp nguy hiểm!”
Đang định gọi sư huynh quay đầu lại, chợt thấy Đàm Đài Diệt Minh đột nhiên tung mình nhảy vào trong cốc, Tạ Thiên Hoa thất kinh, nơi y đứng cách đáy cốc đến mười mấy trượng, dưới đáy cốc lại có quái thạch lô nhô, nếu nhảy xuống thì chẳng khác nào tự tìm đường chết!
Tạ Thiên Hoa chưa kịp nghĩ xong, chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh từ trên không trung phóng vút ra một sợi dây dài, ở một đầu dây có một cái móc sắt, cái móc sắt cắm phập vào cành tùng ở phía đối diện, rồi y đu người qua. Địa thế của sơn cốc này rất hiểm trở, hai bờ sơn cốc cách nhau đến hơn mười trượng, dù khinh công giỏi cũng khó vượt qua, không ngờ Đàm Đài Diệt Minh lại nhảy qua bằng cách này, y vừa nhảy qua, chạy thêm một ngã rẽ nữa thì đến chỗ cỗ xe lừa của Vân Tĩnh.
Tạ Thiên Hoa kinh hoảng, nghĩ bụng nếu quay trở về bằng đường cũ, khi đến nơi Vân Tĩnh đã bị giết hại. Nhưng cũng không thể vượt qua sơn cốc này, làm thế nào đây? Vì nếu đến nước này chỉ đành nén lòng quay trở lại theo đường cũ, liều mạng báo thù cho Vân Tĩnh.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:29 pm

Tạ Thiên Hoa đổ mồ hôi lạnh, khó khăn lắm mới chạy trở về, chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh đã đứng trước cỗ xe ngựa, Vân Tĩnh thì ngồi trên càng xe, hai người đối diện nhau. Đàm Đài Diệt Minh móc đôi câu vào eo, trong tay không có binh khí, mặt lộ nụ cười, tựa như đang hạ giọng cầu khẩn, còn Vân Tĩnh thì đang nghiêm mặt, Tạ Thiên Hoa chạy đến nơi chỉ nghe Vân Tĩnh mắng rằng: “Nói bậy! Ta và Trương Tôn Châu có thù không đội trời chung, ngươi muốn giết cứ giết, ta nào chịu quay về đầu hàng y?”
Tạ Thiên Hoa ngạc nhiên lắm, chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh quay đầu, mỉm cười với mình rồi cao giọng nói: “Ngươi đã thấy chưa? Nếu ta muốn lấy mạng lão già họ Vân thì dễ như trở bàn tay, cần gì đợi ngươi quay trở lại? Lão già họ Vân kia, ta đã cố công khuyên nhủ, chuyện sống chết họa phúc đều tùy nơi ông”.
Vân Tĩnh giận dữ, nhưng vẫn cười lạnh nói: “Ngươi muốn ta trở về chăn ngựa thêm hai mươi năm nữa cho Trương đại nhân đấy ư?”
Đàm Đài Diệt Minh buông giọng cười lớn, sau đó nghiệm mặt nói: “Vì ông chăn ngựa hai mươi năm ở nơi băng thiên tuyết địa mà vẫn không hề cúi đầu cho nên Trương đại nhân mới kính trọng ông, mời ông trở về”.
Vân Tĩnh mắng rằng: “Trương Tôn Châu là kẻ gian tặc phản quốc, tiểu nhân đê tiện, Vân mỗ này trung thành cẩn cẩn, đâu cần y kính trọng!”
Đàm Đài Diệt Minh lạnh lùng cười: “Trương đại nhân quả nhiên nói không sai, ông chỉ có một lòng ngu trung, không biết đến chuyện lớn. Ngài cũng đoán được rằng ông sẽ không trở về, nhưng thấy ông là một trang hán tử, không nỡ thấy chết mà không cứu cho nên ra lệnh cho ta từ vạn dặm đuổi đến đây, đáng tiếc ông đã phụ lòng ngài”.
Vân Tĩnh vịn càng xe, giận đến cùng cực, mắng với giọng run run: “Hừ, y muốn cứu ta? Vân mỗ này đã chăn ngựa hai mươi năm, may mà thân này có thể được chôn nơi cố thổ, chết cũng nhắm mắt. Ngươi đuổi theo đến đây muốn giết thì cứ giết, đây đã là đất Trung thổ, máu nhuộm quê cũ có gì đáng tiếc nữa?”
Đàm Đài Diệt Minh giận dữ nói: “Ai bảo bọn ta giết ông? Kẻ giết ông chẳng phải bọn ta!”
Vân Tĩnh nghiến răng nói: “Ngươi đã giết Đăng nhi của ta, lại còn đến đây chọc giận ta?” ông ta run run suýt nữa thì đổ xuống. Đàm Đài Diệt Minh đỡ ông ta dậy nói: “Bọn ta không giết con trai ông. Dù có nói cho ông nghe, ông cũng không hiểu, hãy theo ta đi về gặp Trương đại nhân thì sẽ biết ngay”.
Vân Tĩnh há mồm phun một bãi nước bọt, Đàm Đài Diệt Minh nhẹ nhàng lách qua một bên, chỉ nghe Vân Tĩnh mắng rằng: “Không phải các ngươi giết? Chẳng lẽ những kẻ ấy là quân Minh đấy hử?”
Đàm Đài Diệt Minh cười khổ sở nói: “Đó là thuộc hạ của tả thừa tướng bọn ta”.
Vân Tĩnh nói: “Cái gì mà tả thừa tướng với hữu thừa tướng, đều là bọn Thát Tử ác ôn. Ta đang ở trong tay của ngươi, ngươi hãy mau giết chết ta, đừng nhiều lời”.
Tạ Thiên Hoa cũng cảm thấy Đàm Đài Diệt Minh quả thực thâm độc, y là đại tướng của nước Ngõa Thích, quan binh Ngõa Thích đã giết người, y còn đến chọc giận cha của kẻ bị giết, huống chi cha của kẻ bị giết đã bị hành hạ hai mươi năm, làm sao có thể chịu đựng nổi trò đùa cợt tàn ác này?
Hai người càng nói càng hăng, nhưng chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh ôm quyền, lớn giọng nói: “Vân đại nhân, tôi đã hết lời, nghe hay không là tùy ông”.
Vân Tĩnh giận đến nỗi râu tóc dựng ngược, răng nghiến kèn kẹt, chẳng nói được chữ nào. Tạ Thiên Hoa quát rằng: “Bức hại một ông già tay trói gà không chặt, đâu có phải là hành vi của kẻ trượng phu, có ngon chúng ta hãy đánh thêm ba trăm chiêu nữa”.
Đàm Đài Diệt Minh chẳng thèm để ý đến ông ta, cố gắng hạ giọng tiếp tục nói: “Đã như thế, tôi chỉ đành quay về. Trương thừa tướng nói, hại ông chăn ngựa hai mươi năm quả thật cũng rất áy náy trong lòng. Ngài cũng đoán được ông sẽ không chịu quay lại, bảo tôi đưa cho ông ba túi gấm, cứ theo diệu kế của ba túi gấm này thì sẽ thoát nạn. Trương thừa tướng nói ba túi gấm này coi như đã chuộc lại công hai mươi năm chăn ngựa của ông”. Nói xong thì xoay người bỏ đi. Tạ Thiên Hoa ngẩn người ra, Đàm Đài Diệt Minh đã lướt qua người ông ta, Vân Tĩnh ngả người xuống trong xe. Tạ Thiên Hoa vội vàng vung tay đánh ra năm mảnh Tý Ngọ Đoạt Hồn đinh, chia nhau đánh vào năm huyệt đạo, Đàm Đài Diệt Minh cũng không thèm quay lại, múa đôi câu một vòng tròn, chỉ nghe mấy tiếng leng keng vang lên, năm mảnh đinh rơi xuống, Đàm Đài Diệt Minh cười lạnh, khuất dạng sau đống quái thạch.
Nắm phi đinh ấy của Tạ Thiên Hoa vốn là có thể đánh ngã kẻ địch, không ngờ y dễ dàng đánh rơi năm mảnh phi đinh, ông ta cũng cảm thấy thất kinh, vội vàng phóng về phía cỗ xe lừa. Chỉ thấy Vân Tĩnh thở phì phò, cổ đỏ ửng, Tạ Thiên Hoa sờ tay vào trước ngực ông ta, Vân Tĩnh phun ra một đống đàm, kêu lớn: “Tức chết đi được!” Rồi gắng gượng ngồi dậy.
Tạ Thiên Hoa biết ông ta tức giận, đàm chặn ở cổ họng, trên người chẳng có vết thương nào, thế rồi mới yên tâm. Đang định khuyên lơn thì chợt nghe bước chân của Triều Âm hòa thượng chạy tới.
Tạ Thiên Hoa lại thất kinh, vội vàng hỏi: “Sư huynh, huynh sao thế?”
Triều Âm hòa thượng tức giận nói: “Tam đệ, ta đã làm mất mặt sư môn! Nếu suốt đời này ta không đánh được Đàm Đài Diệt Minh ba trăm thiền trượng, khó giải mối hận này!”
Tạ Thiên Hoa biết sư huynh là một người nóng nảy, nên kéo ông ta ngồi xuống, đưa nước cho ông ta uống rồi nói: “Nhị sư huynh đã xảy ra chuyện gì thế?”
Triều Âm hòa thượng uống nước ừng ực, tức giận nói tiếp: “Ta tưởng gã ấy âm thầm hạ độc thủ Vân đại nhân, vội vàng quay về, nhưng hai tên tiểu tặc cứ bám riết mãi, nếu bình thường thì ta chẳng thèm để ý đến bọn chúng. Ta chỉ đành liên tiếp đánh hai trận, khí lực không đủ, bọn chúng lại vừa chạy vừa đấu, tiến tiến lui lui, một hồi mà chẳng quay về được, đến hai trăm chiêu, ta vừa liều mạng mới chiếm được thượng phong, nào ngờ Đàm Đài Diệt Minh đã trở lại. Ta tưởng y đã hại Vân đại nhân, thế là há mồm mắng to. Đàm Đài Diệt Minh gạt đôi câu, kéo cây trượng của ta qua một bên, đột nhiên nhả kình lực ra, khiến cho ta té nhào. Đến đó vẫn chưa tính, y còn tát cho ta một cái, mắng ta là đồ hòa thượng thô lỗ, tát một cái là để trừng trị”... mắng xong thì dắt hai tên tiểu tặc ấy bỏ đi. Chúng ta đi lại trên giang hồ đã mấy mươi năm, chưa từng bị sỉ nhục như thế này, đệ bảo có tức hay không?” ông ta ngừng lại một lát rồi nhìn xuống đất, đột nhiên lại kêu lên: “Chuyện gì thế này? Y có giao thủ với đệ không? Vân đại nhân vẫn chẳng có chuyện gì, sao dưới đất lại có ba túi gấm đẹp như thế này?”
Triều Âm hòa thượng vừa nói vừa nhặt ba túi gấm lên, miệng lẩm bẩm khen: “Trên túi gấm có thêu con lạc đà. Ồ, đây chẳng phải là túi thêu của người Mông Cổ ư? Túi gấm này của ai thế?”
Vân Tĩnh nổi giận nói: “Đồ thối tha của tên Thát Tử thối tha, hãy xé vụn cho xong!”
Triều Âm hòa thượng ngạc nhiên, toan vận lực xé túi gấm, đột nhiên Tạ Thiên Hoa giật mất, Triều Âm hòa thượng ngạc nhiên nói: “Sư đệ, đệ làm gì thế...”.
Tạ Thiên Hoa nói: “Vân đại nhân, xem một chút cũng chẳng sao, ông hãy xem thử y viết cái gì. Nếu toàn là những lời càn rỡ thì có xé cũng không muộn!”
Tạ Thiên Hoa rất thắc mắc: “Đàm Đài Diệt Minh võ công cao cường như thế, y đã không hại Vân Tĩnh, vậy tại sao phải đến đây? Chả lẽ y thực sự muốn “cứu người”? Nhưng tại sao y lại làm quan ở Mông Cổ, hai mươi năm qua đã giúp Trương Tôn Châu hành hạ Vân Tĩnh? Lại thêm Nhạn Môn quan đã ở phía trước mặt, bước vào địa phận của Trung thổ, còn có ai dám hãm hại Vân Tĩnh? Chẳng phải y đã nói dối ư? Nhưng nếu bảo y từ ngàn dặm đến đây, mục đích là chỉ nói những câu này thì thật vô lý. Huống chi y ngạo mạn như thế, nhưng hình như đã nương tay, nếu không sư huynh làm sao có thể thoát được, điều này thật khó hiểu!”
Tạ Thiên Hoa đang trầm ngâm, Vân Tĩnh nhận túi gấm, thấy trên túi gấm có đề hai chữ “mở ngay”.
Vừa nhìn thấy hai chữ ấy, Vân Tĩnh đã tức giận lập tức xé toạc túi gấm, rút ra một tấm giấy, trên có đề rằng: “Lúc này hãy mau trở lại Mông Cổ, có thể chẳng có chuyện gì xảy ra, Đàm Đài tướng quân sẽ tiếp ứng”.
Vân Tĩnh xem xong, tiện tay xé toạc tờ giấy ném xuống bùn.
Tạ Thiên Hoa thấy ông ta râu tóc dựng ngược, sắc mặt vàng ệch, chẳng dám hỏi nhiều, Vân Tĩnh nhìn tờ giấy rơi xuống bùn, tức giận nói: “Diệu kế trong túi gấm cái gì, toàn là những lời nhăng nhít!” Rồi nhặt túi gấm thứ hai, chỉ thấy có đề rằng: “Cách Nhạn Môn quan bảy dặm mới mở ra”.
Vân Tĩnh nói: “Ta không thèm nghe lời ngươi”. Thế rồi xé ra, trong đó có một mảnh giấy ghi rằng: “Thời cơ hết, lúc này Nhạn Môn quan có người đón ông, kẻ đi đầu chẳng phải Tổng binh Châu Kiện, ông hãy lập tức lên khoái mã bỏ chạy, để Tạ Thiên Hoa và Triều Âm đoạn hậu, có lẽ sẽ giữ được tánh mạng”.
Tổng binh Nhạn Môn quan Châu Kiện là đồng hương của Vân Tĩnh, một người học văn, một người tập võ đều là tiến sĩ văn võ cùng khoa. Vân Đăng lần này cứu cha, được ông ta âm thầm giúp đỡ rất nhiều, trước khi thực hiện kế hoạch cứu cha, đã sai người phi báo cho Châu tổng binh, bảo ông ta mau báo về triều, trên đường đều để lại dấu hiệu liên lạc với ông ta. Vân Tĩnh nghĩ: “Châu Kiện thấy ta đến, sao lại không tiếp ứng? Ta đi sứ như Tô Vũ, từ nước Thát trở về, Thiên tử đại Minh dù cho không lập tượng ghi công cũng phải trọng dụng. Bọn người Hồ muốn li gián, đâu có cái lý này!”
Thế rồi tiện tay xé vụn tờ giấy ra.
Tạ Thiên Hoa ngồi một bên nhìn, thấy có tên mình trong miếng giấy, ngạc nhiên hỏi: “Tờ giấy ghi gì?”
Vân Tĩnh khinh bỉ đáp: “Toàn là những lời nhăng nhít. Song tên gian tặc này cũng rất lợi hại, bọn chúng hình như đã biết các người vào Mông Cổ cứu ta. Không hiểu tại sao lại không đề phòng?”
Tạ Thiên Hoa nhíu mày trầm ngâm, trong lòng rất thắc mắc. Vân Tĩnh cầm túi gấm thứ ba lên định mở ra, chợt đặt xuống, Tạ Thiên Hoa liếc nhìn thì không khỏi kêu lên ngạc nhiên. Chỉ thấy ở túi gấm thứ ba có ghi: “Thư này trao cho Tạ Thiên Hoa”.
Vân Tĩnh lạnh lùng nhìn Tạ Thiên Hoa, trong lòng rất nghi ngờ. Tạ Thiên Hoa đi lại trên giang hồ đã lâu, rất tinh tế, vừa thấy như thế thì mỉm cười nói: “Gian tặc qủy kế đa đoan, Vân đại nhân cứ mở ra xem y nói gì?”
Vân Tĩnh hơi chần chừ, rồi từ từ mở túi gấm ra, rút bức thư chậm rãi đọc: “Lúc này Vân đại nhân đã bị bắt, trong túi gấm có một viên sáp, ông hãy giấu viên sáp này đừng mở ra, mau chóng vào kinh gặp Vu Khiêm, đàn hặc Vương Chấn, tính mạng của Vân đại nhân có thể giữ được hay không toàn nhờ vào chuyến đi này”.
Vân Tĩnh hừ một tiếng, lại xé vụn tờ giấy ra, mắng rằng: “Toàn là những lời nhảm nhí! Vân mỗ này là một trung thần, có lý nào bị bắt?” Thế rồi ném túi gấm xuống đất. Tạ Thiên Hoa tung mình chụp lấy túi gấm, quả nhiên trong túi gấm có một viên sáp, ông ta cất vào áo. Vân Tĩnh biến sắc, Tạ Thiên Hoa nói: “Cứ giữ lấy vật này, có lẽ cũng chẳng hề gì”.
Vân Tĩnh hừ một tiếng rồi bực bội nói: “Ôâng cứ giữ lấy. Vân Tĩnh này chẳng đội trời chung với tên gian tặc, dù cho bị phanh thây thành ngàn mảnh cũng không cần y đến cứu”.
Nhân lúc trăng sáng, mọi người tiếp tục lên đường, lúc này đã có thể nghe văng vẳng tiếng tù và canh đêm của quân Minh, Vân Tĩnh phấn chấn tinh thần, tuy đi đường khổ nhọc nhưng không hề chợp mắt, cũng chẳng thấy mệt mỏi. Thế rồi ông ngửa đầu lên nhìn trời cao, ngâm rằng: “Mừng còn sống quay về cố thổ, hùng quan chia cách Hoa Di. Vân mỗ ngày mai sẽ sửa sang áo mũ, tay cầm cờ tiết đến bái kiến minh quân”.
Tạ Thiên Hoa nói: “Đại nhân trung thành như thế, trăm đời hiếm thấy, Thiên tử phong quan ban tước cũng chẳng đủ”.
Vân Tĩnh nói: “Đó là bổn phận của kẻ làm tôi thần, nào mong triều đình báo đáp”. Rồi ông ta ngừng một lát, đột nhiên hỏi: “Khi ta đi sứ, đó là năm Vĩnh Lạc thứ mười, đến nay đã hai mươi năm, thay đổi ba triều, ta chẳng biết gì chuyện triều đình, không biết hiện nay ai đương chính?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Là Vương Chấn đang nắm quyền”.
Vân Tĩnh nhớ lại lời trong túi gấm thứ ba, buột miệng nói: “Vậy thì trời đã phù hộ cho triều ta, Vương Chấn ấy chắc chắn là một trung thần, chỉ có tên Vu Khiêm kia mới là gian thần”.
Triều Âm hòa thượng đang phóng ngựa chạy về phía trước, lúc này đi bên cạnh chiếc xe lừa, nghe Vân Tĩnh nói như thế, đột nhiên chống cây thiền trượng xuống đất, lớn giọng nói: “Địa nhân đã sai rồi, Vương Chấn ấy là một tên gian thần, nếu y gặp phải tay Phật gia, tôi sẽ cho y nếm một trận thiền trượng!”
Vân Tĩnh ngạc nhiên nói: “Cái gì, y là gian thần? Không thể, không thể! Nếu y là gian thần, vậy bọn Mông Cổ tại sai xúi giục tên Vu Khiêm ấy ra đàn hặc y”.
Tạ Thiên Hoa nói: “Đại nhân có điều không biết, Vương Chấn ấy đúng là một gian thần”.
Vân Tĩnh ngạc nhiên nói: “Cái gì, y là một thái giám kia mà?”
Tạ Thiên Hoa nói: “Đúng thế. Nghe nói kẻ này vốn quê ở Quý Châu, đã từng học hành, cũng đã đi thi, làm đến chức quan huyện, sau đó phạm tội nên bị sung quân, gặp lúc Hoàng đế hạ chiếu “Những người đã có con thì cũng được tịnh thân để vào trong nội cung”, Vương Chấn liền chui vào trong hoàng cung. Sau đó vì hầu hạ thái tử học hành, tức là đương kim Hoàng thượng, Vương Chấn được phong làm Tư lễ thái giám, quản lý tấu chương trong ngoài, vì thế cấu kết với triều thần, ra oai làm phước, tuy không quá ba năm nhưng trăm họ đã căm giận y đến tận xương cốt. Đại nhân lần này trở về cũng phải cẩn thận”.
Vân Tĩnh nghe xong thì bất giác ngạc nhiên, trong lòng đầy nỗi nghi ngờ.
Tạ Thiên Hoa lại tiếp tục nói: “Còn người tên Vu Khiêm ấy là Tổng binh thị lang, nghe nói là một vị quan ngay thẳng”.
Vân Tĩnh nghe xong thì im lặng không nói, lòng nhủ thầm: “Hai người này đều là hạng mãng phu trong giang hồ, lời nói không đáng tin, đợi sau khi ta vào triều thì sẽ hỏi cho rõ ràng”. Rồi lại nhủ rằng: “Binh pháp có câu, hư chính là thực, thực là hư, dù cho hai người này nói là thực, đó cũng có thể là cạm bẫy Trương Tôn Châu bày ra, cố ý khiến cho mình tin lời y, trong đó chắc chắn có âm mưu”.
Vân Lối đang ngủ rất say, Vân Tĩnh nhìn khuôn mặt bầu bĩnh của cô bé, trông hồn nhiên đáng yêu vô cùng. Nghĩ đến sau khi Vân Lối lớn lên cũng phải đến Mông Cổ, đội sương dầm tuyết thay mình báo thù, không khỏi thở dài. Nhưng trong khoảnh khắc, nỗi khổ ăn tuyết uống băng, nhịn đói chịu rét trong hai mươi năm qua lại dâng lên trong lòng, lửa hận bốc cao, thiêu cháy cả tinh thần, ông ta ngẩng đầu lên trời cao, sóng lòng dâng trào, một hồi sau thì chìm vào giấc ngủ.
Đến như tỉnh dậy thì trời vừa hửng sáng, mọi người có thể nhìn thấy rõ ràng ngọn cờ trên Nhạn Môn quan. Triều Âm hòa thượng nói: “Nơi đây là Thất Lý Bổ, cách Nhạn Môn quan còn bảy dặm nữa. Phía trước chính là trạm kiểm soát bên ngoài Nhạn Môn quan”.
Vân Tĩnh ngồi bật dậy, vạch rèm xe hỏi: “Châu tổng binh có đến không?”
Triều Âm hòa thượng nói: “Tạ sư đệ đã vào báo cáo. Bảo chốc nữa Châu tổng binh sẽ ra”.
Vân Tĩnh ngẩn người ra, đột nhiên mỉm cười, lẩm bẩm: “Ta suýt nữa bị túi gấm kia lừa. Châu tổng binh làm sao biết hôm nay ta trở về, sau khi thông báo ông ta đương nhiên sẽ ra đón ta”.
Thế rồi bảo dừng ngựa lại, đứng trước trạm kiểm soát chờ đợi. Bọn sĩ tốt trong trạm kiểm soát đứng nhìn, không hề có động tĩnh gì.
Lại nói Tạ Thiên Hoa là người chu đáo, vào trong Nhạn Môn quan thông báo trước là chủ ý của ông ta. Tạ Thiên Hoa đã gặp Châu Kiện vài lần, biết ông ta không những là đồng hương với Vân Tĩnh mà còn là một người ngay thẳng, chẳng khác gì bậc hào kiệt trong giang hồ. Lúc này, Nhạn Môn quan vẫn chẳng có điều gì khác lạ, Tạ Thiên Hoa yên tâm, thầm cười rằng: “Đàm Đài Diệt Minh cố ý bày binh bố trận, cả mình cũng suýt bị y lừa. Chỉ cần Châu tổng binh vẫn còn giữ ở Nhạn Môn quan, có ai dám động đến Vân Tĩnh?”
Vừa ngồi xuống, đã có tên lính bưng trà lên nói: “Tổng binh đại nhân sắp ra, Tạ hiệp sĩ hãy nghỉ ngơi một lát”.
Tạ Thiên Hoa uống ngụm trà, cởi áo giáp trên người xuống, đang chờ đợi chợt cảm thấy đầu óc choáng váng, thầm kêu lên: “Không xong!” Thế rồi vội vàng rút thanh kiếm ra, tên lính ấy đã bước tới giật thanh kiếm, bên ngoài có hai tiếng tu tu kêu lên, rồi hai sợi dây thừng phóng vút vào giật ngã ông ta xuống.
Tạ Thiên Hoa nội công tinh thâm, tuy đã bị ám toán, nhưng vẫn chưa hôn mê, định vùng vẫy nhưng toàn thân mất sức, vả lại đầu nặng trĩu, mở mắt không ra. Tạ Thiên Hoa âm thầm vận huyền công, chống cự với cơn buồn ngủ, trong mơ hồ hình như đã bị người ta khiêng lên, không lâu sau thì nghe có tiếng khóa cửa, hình như đã bị nhốt vào trong một căn phòng tối đen.
Trong tách trà có thuốc mê cực kỳ lợi hại, người bình thường nếm vào thì ngã ngay, Tạ Thiên Hoa đã luyện công phu Dịch cân tẩy cốt, vận khí chống lại mới có thể giữ được tỉnh táo. Không biết trải qua bao lâu, cửa phòng mở ra, một người thò đầu vào, Tạ Thiên Hoa định thần nhìn lại, đó chính là Tổng binh Nhạn Môn quan Châu Kiện.
Tạ Thiên Hoa nhảy bật dậy, quét ngang ra một chưởng chém vào sau ót của ông ta. Châu Kiện vội vàng đưa tay lên đỡ, kêu lên: “Là tôi!”
Tạ Thiên Hoa vẫn chưa hồi phục chân khí, bị ông ta gạt một cái thì lảo đảo thối lui ra sau, đầu va phải bức tường, tức giận kêu lên: “Hay lắm, biết người biết mặt mà không biết lòng, Tổng binh đại nhân, ông đã dùng thủ đoạn hạ lưu để ám toán tôi, thật là giỏi!”
Châu Kiện bước tới, đỡ lấy cánh tay ông ta hạ giọng nói: “Sự việc đã rất nguy cấp, hãy mau uống thuốc giải, tôi và ông sẽ đi cứu Vân đại nhân. Tôi đã lấy kiếm cho ông, mau lên!”
Tạ Thiên Hoa ngạc nhiên hỏi: “Cái gì? Ông, ông có ý gì?”
Trong bóng tối, chỉ thấy Châu Kiện quắc mắt, dáng vẻ rất uy nghiêm, thì thầm: “Châu Kiện này là người thế nào, ông lại không biết ư? Lúc này sự việc đã rất gấp gáp, có chuyện gì sau này hẵng nói, ông hãy mau theo tôi ra ngoài”.
Tạ Thiên Hoa nuốt viên thuốc.
Tạ Thiên Hoa vốn đã tỉnh, giờ đây nuốt được viên thuốc thì không cảm thấy buồn ngủ nữa, thế là cần lấy thanh kiếm, nhảy vọt ra ngoài cửa.
Bên ngoài Nhạn Môn quan tiếng tù và hú dài, chỉ thấy tên quân đã đánh thuốc mê Tạ Thiên Hoa bước tới, cao giọng kêu: “Châu đại nhân, ông phải suy nghĩ cho kỹ, đừng phá hỏng tương lai!”
Châu Kiện chẳng nói một lời nào, đột nhiên nhảy vọt lên, vung đao chém một nhát, tên quân ấy bị chặt làm hai khúc, thế rồi đoạt ngay hai thớt khoái mã, cùng Tạ Thiên Hoa phóng ra ngoài, quan quân bên ngoài Nhạn Môn quan không ai dám cản.
Châu Kiện uy phong lẫm lẫm, sát khí đằng đằng, vừa vung roi vỗ vào mông ngựa vừa kêu lớn: “Bọn chúng đang truy sát ở Thất Lý Bồ, chúng ta hãy đi đường tắt!”
Thế rồi giật đầu ngựa, đi vòng qua một con đường nhỏ, phía sau quân quan đang đuổi theo, nhiều người gọi to, nhưng Châu Kiện vẫn cứ mặc kệ.
Lại nói Vân Tĩnh đợi ở ngoài Thất Lý Bồ rất lâu, đang tức giận thì chợt thấy cát bụi tung bay, mười mấy thớt khoái mã phóng tới, trong chốc lát trạm kiểm soát mở ra, quan quân trong trạm gọi Vân Tĩnh bước vào. Vân Tĩnh nhìn kỹ lại, thấy chẳng có Châu Kiện, trong lòng rất không vui, nhưng vẫn điềm nhiên cầm cờ tiết bước vào bên trong.
Trong trạm đã bày sẵn chỗ ngồi, chỉ thấy mười sáu tên Ngự lâm quân chia thành hai nhóm, đứng từ bậc thang trở xuống, trong sảnh đường có hai viên khâm sai, áo mũ cân đai rất chỉnh tề, bước ra nghênh đón. Vân Tĩnh vui mừng thầm nhủ: “Té ra Thiên tử còn nhớ mình hai mươi năm qua giữ lòng trung, đã sai khâm sai ra Nhạn Môn quan đón”.
Đang định nói một lời khách sáo, viên khâm sai ở trong sảnh đường đã cao giọng quát: “Phản thần Vân Tĩnh, quỳ xuống nghe thánh chỉ!”
Vân Tĩnh kinh hoảng, tay cầm cờ tiết, run run biện bạch: “Vân mỗ đi sứ nước người, hai mươi năm qua chăn ngựa ở Mông Cổ, vẫn giữ lòng trung, tự thấy không có tội, không dám nhận chiếu thư này!”
Nói chưa dứt lời, đã bị hai tên Ngự lâm quân đến đè nghiến xuống đất. Chỉ nghe một viên khâm sai mở tờ chiếu thư ra, cao giọng đọc: “Tội thần Vân Tĩnh, trước đây được tiên đế coi là tâm phúc, sai đi sứ đến Ngõa Thích nhưng vẫn không biết báo ơn, ngược lại còn đổi mặt thành thù, quên đi đất nước. Hôm nay tự tiện trở về, mưu đồ làm nội ứng, tội không thể tha. Vốn sẽ xử theo hình điển, nhưng niệm tình y trước kia là cựu thần, nay được ban cho uống thuốc, được chết toàn thây. Khâm thử”.
Vân Tĩnh hồn siêu phách tán, chỉ thấy một tên Ngự lâm quân bưng một cái bình màu bạc, trong bình có chứa nước màu đỏ, cao giọng nói: “Tội thần Vân Tĩnh sao còn chưa tạ ơn lãnh chỉ?”
Vân Tĩnh nghe như sấm nổ bên tai, vừa kinh hoảng vừa giận dữ, đột nhiên giật lấy bình bạc ấy, quát lên: “Đem chiếu thư cho ta xem, ta không tin đó là thật!”
Viên khâm sai cười lạnh quát: “Ngươi thật lớn gan, ngươi xứng xem chiếu thư sao?”
Nói chưa dứt lời, chỉ nghe một tiếng bình vang lên, hai cánh cửa đã bị đá bật ra, một nhà sư cầm cây thiền trượng to như miệng bát, lướt vào nhanh như cơn gió cao giọng nói: “Mặc là giả hay thật, cứ đánh chết hết rồi tính tiếp!”
Mười sáu tên Ngự lâm quân xông đến cản lại, nào có thể chặn được ông ta, chỉ thấy ông ta đánh đông gạt tây, quét nam bổ bắc, trượng thế mạnh mẽ như khai sơn phá thạch, chỉ cần trúng một trượng thì không chết cũng bị thương.
Hai viên khâm sai ấy hoảng sợ đến nỗi mặt tái mét, chân run lẩy bẩy. Nhà sư ấy xông vào đến sảnh đường, tay trái vươn ra tóm lấy một viên khâm sai, nói rằng: “Vân đại nhân liều mạng trở về, các người lại xử tử ông ta, đó là lý gì?”
Chỉ nghe bốp một tiếng, cây thiền trượng đã bổ xuống đầu y, nhà sư ấy vung mạnh tay, xác viên khâm sai bay vút ra bậc thềm chết ngay tại chỗ. Viên khâm sai còn lại thì đã hốt hoảng, vội vàng kêu lên: “Phản rồi, phản rồi! Dám mạo phạm khâm sai, đáng tội gì?”
Hòa thượng ấy buông giọng cười lớn, lại vươn tay tóm lấy y, mắng rằng: “Tên khâm sai nhà ngươi đáng được mấy đồng tiền?”
Cây thiền trượng cắm xuống đất, xé toạc y ra thành hai mảnh. Bọn Ngự lâm quân tháo chạy ra ngoài, tiếng tù và rúc lên, trong trạm kiểm soát thây người phơi đầy dưới đất.
Vân Tĩnh mở to mắt, tựa như vừa trải qua một cơn ác mộng, không biết chuyện ở trước mắt là thực hay giả, đến khi định thần lại, thấy Triều Âm hòa thượng bước về phía ông ta, vội vàng kêu lên: “Đưa chiếu thư cho ta”.
Triều Âm hòa thượng cười lạnh nói: “Còn chiếu thư cái quái gì nữa, mau chạy theo tôi!”
Vân Tĩnh ngồi xếp bằng xuống đất, chậm rãi nói từng chữ như chém đi chặt sắt: “Đưa chiếu thư cho ta!”
Triều Âm hòa thượng liếc ông ta, thế rồi nhặt mảnh chiếu thư trên bàn, ném cho ông ta nói: “Được, xem mau! Xem mau!”
Triều Âm hòa thượng cũng không hiểu tại sao ông ta lại cố chấp như thế.
Vân Tĩnh mở chiếu thư, vừa nhìn thì mặt xám ngoét như xác chết, dấu ngọc tỷ và loại giấy làm chiếu thư đều là thật. Vân Tĩnh còn nhớ khi Minh Thành Tổ đoạt ngôi, đã từng giật ngọc tỷ trong tay nội giám, nội giám ấy ném ngọc tỷ ấy xuống dưới bậc cấp, mẻ mất một góc, sau đó bảo thợ khéo đắp lại, vẫn còn đường vân, nay nhìn kỹ dấu ấn đóng trên chiếu thư này cũng như thế, quyết không thể giả mạo được.
Triều Âm hòa thượng kêu lên: “Xem xong chưa?”
Vân Tĩnh nhìn trừng trừng, nghe mà cũng không cảm nhận được gì. Trong khoảnh khắc, nỗi tủi nhục hai mươi năm ở đất Hồ hiện ra trong đầu nhanh như điện chớp. Thế nhưng tất cả những nỗi khổ ải đó chẳng là gì so với nỗi đau đớn của hôm nay. Vân Tĩnh có thể chịu đựng hai mươi năm toàn là nhờ tấm lòng trung, tưởng rằng sau khi trốn thoát trở về, triều đình chắc chắn sẽ thăng quan phong tước, ca ngợi công tích, nào ngờ Hoàng đế lại đích thân hạ chiếu thư xử tử mình. Cũng như sùng bái tin tưởng một người đến cực điểm, niềm kỳ vọng rất sâu, đột nhiên phát hiện người ấy là kẻ hại chết mình, tâm trạng đau khổ tuyệt vọng ấy trên đời còn có gì đau đớn hơn?
Triều Âm hòa thượng gọi hai tiếng mà vẫn không thấy ông ta trả lời, trong lòng ngạc nhiên. Chợt thấy Vân Tĩnh chậm rãi đứng dậy, cầm cây cờ tiết đã theo ông ta hai mươi năm, dùng lực bẻ mạnh. Chỉ nghe bốp một tiếng, cây cờ tiết gãy thành hai đoạn.

Xem tiếp hồi 1
Dứt đứt dây cung cường đạo bắt quân hưởng
Phóng hoa bắt bướm hiệp nữ lộ oai thần

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:30 pm

Hồi 1
Dứt đứt dây cung cường đạo bắt quân hưởng
Phóng hoa bắt bướm hiệp nữ lộ oai thần


Thế rồi mười năm trôi qua, lúc này là năm Chính Thống thứ mười thời nhà Minh.
Trong mười năm chuyện đời chuyện người đã thay đổi mấy phen. Dải đất một trăm dặm ngoài Nhạn Môn quan tuy vẫn có tiếng ngựa Hồ hí vang, Tổng binh Châu Kiện giữ Nhạn Môn quan ở mười năm trước đã dần dần phai nhạt trong ký ức của người ta, càng không ai biết đến câu chuyện về cái chết oan khuất của sứ thần Vân Tĩnh.
Nhưng mấy năm gần đây, bên ngoài Nhạn Môn quan lại có một toán lục lâm làm loạn. Toán lục lâm này rất đặc biệt, địa bàn của bọn chúng là dãi đất rộng một trăm dặm vắng bóng người, chúng vừa chống lại giặc Hồ, vừa chống lại nhà Minh, nhân số tuy không nhiều nhưng dần dần trở thành lực lượng đáng gờm của Minh triều và Ngõa Thích, Minh triều và Ngõa Thích đều không dám tấn công truy quét. Tác phong của bọn chúng cũng rất đặc biệt, không hề kiếm sống bằng cách cướp đoạt khách lữ hành, mà là khai khẩn trồng trọt ở vùng đất này. Có lúc bọn chúng cũng xuống núi cướp giật, nhưng chỉ cướp toàn của cải bất nghĩa của bọn tham quan ô lại. Bọn lục lâm này lấy Nhật Nguyệt song kỳ làm ký hiệu, kẻ đầu lĩnh của đảng cướp nghe nói là một ông già đầu báo mắt hổ, nhưng người bên ngoài không biết đến tên ông ta. Khi ông ta chống cự quan quân, mỗi lần đều đeo mặt nạ, chỉ vì ông ta sử dụng một cây kim đao, cho nên trong sổ sách của quân quan đều gọi ông ta là “Kim Đao lão tặc”. Kim Đao lão tặc còn có một điểm rất kỳ lạ, ông ta tuy coi quân quan là kẻ địch nhưng chưa bao giờ cướp đoạt quân hưởng của Nhạn Môn quan, mỗi lần đánh nhau với quan quân, dù thắng cũng không truy sát.
Mùa xuân năm nay, binh bộ lại phái quan quân áp tải một số quân hưởng, quân quan áp tải tên là Phương Khánh, xuất thân là một võ cử, học nghề cung nỏ gia truyền, võ nghệ tinh thông, là kẻ rất tự phụ tự xưng là Thần Tiễn Phương Khánh. Quân hưởng lần này là bốn mươi vạn lượng bạc, bỏ vào các ngân tiêu, mỗi ngân tiêu chứa năm trăm lượng bạc, tất cả được chất đầy lên lưng của một trăm thớt lạc đà khỏe. Ngoài ra còn có mười thớt la khỏe chở hàng riêng cho Tổng binh hiện nay của Nhạn Môn quan là Đinh Đại Khả. Quân đinh áp tải chỉ có một trăm người, đó cũng chính là nguyên nhân bao nhiêu năm qua chưa từng lỡ việc.
Tháng ba mùa xuân, cỏ non mơn mởn, chim hót líu lo, bên ngoài Nhạn Môn quan tuyết vẫn chưa tan, gió xuân lạnh cắt da, nhưng tuy như thế, quan quân vẫn lặn lội bước đi. Lúc này đã đến sau giờ ngọ, mặt trời vẫn còn ở trên cao, Phương Khánh ngồi trên lưng ngựa vung roi nói: “Trưa ngày mai có thể đến Nhạn Môn quan. Lần này chúng ta chỉ có một trăm tinh kị, áp tải lương hưởng, băng sông vượt núi, may mà không xảy ra chuyện gì, quả thật đáng mừng!”
Hai viên phó quan đi cùng tranh nhau nịnh bợ: “Phương đại nhân thần tiễn thần oai, trong thiên hạ ai mà không biết? Trên đường dù gặp vài tên mao tặc, nghe nói có đại nhân áp tải cũng không dám mở mắt nhìn thẳng!”
Phương Khánh cười ha hả nói: “Quá khen, quá khen!”
Bọn lính nghe xong thì đều cười thầm. Bên vệ đường có một quán rượu, đó là nơi khách thương và khách lữ hành nghỉ ngơi uống rượu. Phương Khánh vui mừng nói: “Lần này bình yên vô sự, cũng chẳng phải nhờ một mình ta, mọi người đều có công lao. Đã sắp tới Nhạn Môn quan, không cần gấp gáp lên đường nữa, mọi người cứ nghỉ ngơi ở bên đường. Ta mời hai phó quan uống chén rượu”. Thế rồi nhảy xuống ngựa, bước vào trong quán, hai phó quan cũng bước theo. Phương Khánh uống xong mấy chén rượu, càng hứng khởi hơn, cứ thao thao bất tuyệt nói về võ công của mình, kể rằng ngày trước y làm bộ đầu ở phủ Đông Bình, đã nhờ vào một cây thần cung thì đã thu phục được một đám đạo tặc. Phương Khánh hứng chí khoe khoang võ nghệ của mình, hai phó quan cũng thừa dịp nịnh bợ, một người nói: “Đáng tiếc đại nhân đang có việc, nếu đại nhân tham dự buổi tỉ võ khai khoa năm nay chắc chắn ngài sẽ giành được chức Võ trạng nguyên”.
Một tên lại nói: “Hôm nay trời quang mây tạnh, bỉ chức xin đại nhân biểu diễn thần kỹ bắn tên để cho chúng tôi mở rộng tầm mắt”.
Phương Khánh uống xong một chén rượu, cười ha hả rồi lấy cây thiết đài cung trên lưng xuống, nói rằng: “Tất cả đi theo ta!” Thế rồi bước ra khỏi quán rượu, lắp hai cây tên vào nói: “Nhìn cho rõ đây!”
Vút một tiếng, mũi tên đầu tiên đã bay lên, khi chưa rơi xuống thì mũi tên thứ hai đã phóng theo, hai mũi tên chạm vào nhau trên không trung, bật ra hai bên cùng rơi xuống đất. Hai tên phó quan đương nhiên lớn giọng hoan hô, bọn lính nghe thế thì cũng thầm nói: “Quả nhiên là có thực tài, không phải huênh hoang khoác lác”.
Trong tiếng hoan hô, chợt nghe có tiếng vó ngựa lọc cọc, thì ra trên đường có một thớt ngựa chạy đến, người trên ngựa cũng cao giọng khen rằng: “Tên hay, tên hay!”
Phương Khánh vừa nhìn thì thấy có một người ra dáng tú tài, đầu đội khăn xanh, tướng mạo rất nho nhã, nhưng trên lưng lại đeo một cây hăc cung, có điều thớt ngựa rất ốm yếu, cây cung cũng nhỏ hơn cây thiết đài cung bình thường rất nhiều, trông kém rất xa cây cung lớn của mình. Phương Khánh thầm cười rằng: “Gã học trò này có lẽ sợ trên đường gặp chuyện cho nên mang theo cây cung này cho yên dạ. Thật ra ngươi mang theo cây cung nhỏ bé như thế này cũng vô ích. Nếu gặp phải bọn cường đạo, vừa nhìn thì đã biết ngươi là một tên học trò yếu ớt”.
Người ra dáng tú tài ấy buộc ngựa vào gốc cây bên đường, cũng bước vào trong quán rượu. Phương Khánh đoán y cũng là người có chút công danh, thế rồi mới cung tay làm lễ, hỏi rằng: “Huynh đài quý tính là gì, tại sao đi một mình như thế này, không sợ đạo tặc hay sao?”
Tú tài ấy nói: “Tiểu đệ họ Mạnh, đơn danh là Cơ, ở quê nhà dạy học kiếm cơm, ra quan ngoại tìm người bà con là Đinh tổng binh, kiếm công việc nhỏ bé độ nhật”.
Phương Khánh nghĩ bụng: “Té ra là một tú tài nghèo đi tìm việc”. Thế nhưng miệng thì nói: “Hay lắm, quý thân Đinh tổng binh chính là thân gia của Binh bộ thượng thư chúng tôi, lần này tôi áp tải quân hưởng, cũng mang theo một ít đồ cho Đinh tổng binh”.
Mạnh Cơ nói: “Lần này quả thật tôi đã qua đường gặp quý nhân. Tôi nghe nói ở vùng này có một đám cướp, đang lo sợ trong lòng, tôi, tôi...” Phương Khánh đã hiểu ý, có lẽ cũng đã có mấy phần tửu ý, thế rồi vỗ ngực lớn giọng nói: “Huynh đài đã gặp tôi thì không cần sợ nữa. Tôi nhờ vào cây thần cung này, từ xa đến đây, bọn mao tặc nghe tiếng đều tránh xa, huynh đài đến thăm người thân ở Nhạn Môn quan, vậy hãy nhập bọn với chúng tôi!”
Tú tài ấy nghe xong lộ vẻ vui mừng, miệng không ngớt cảm tạ, mắt cứ mở to nhìn cây thiết cung của Phương Khánh. Phương Khánh cười ha hả nói: “Cây cung này được chế tạo rất đặc biệt, nếu hai tay không có khí lực năm trăm cân thì đừng hòng kéo dây cung!”
Mạnh Cơ khen không ngớt: “Bội phục! Bội phục!”
Phương Khánh nổi hứng, lại kéo Mạnh Cơ uống vài chén rượu lớn, bước ra khỏi quán, rồi lại cùng nhau lên đường, gió lạnh thổi tới, men rượu càng nồng hơn. Đi được một đoạn, mọi người đã đến một nơi gọi là cửa núi Tây Lưu rất hiểm trở, đứng bên dưới có thể nghe tiếng vượn hú chim kêu trên núi, Mạnh Cơ nói: “Nơi này địa thế hiểm trở, chỉ e cường địch xuất hiện”.
Phương Khánh cười rằng: “Bọn cường đạo mà xuất hiện thì coi như đã tự tìm đường chết!”
Mạnh Cơ chợt lấy cung xuống, mặt có sắc lạ.
Phương Khánh cười rằng: “Huynh đài e sợ ư?”
Mạnh Cơ cười rằng: “Tại hạ quả thực cũng lo lắng, bất giác đã lấy ra cung, chuẩn bị phòng thân. Hành động này khiến đại nhân đã cười”.
Phương Khánh quả nhiên cười ha hả, nói: “Huynh đài đã quên rằng đi cùng bọn tôi. Ha ha, nếu quả thật có cường đạo, cây cung này của huynh đài có thể làm được gì?” Thế rồi mới chìa tay ra nói: “Cho tôi xem món đồ chơi này!”
Mạnh Cơ mỉm cười nói: “Khiến đại nhân đã chê cười”. Thế rồi không từ chối, trao cây cung cho Phương Khánh.
Phương Khánh nhận lấy cây cung đen kịt ấy chỉ cảm thấy rất nặng nề, bất đồ thất kinh lẩm bẩm: “Làm bằng cái gì thế này?” Rồi dùng lực kéo mạnh mà dây cung vẫn không nhúc nhích. Phương Khánh đã quen kéo cây cung, hai tay có thể nâng được cả năm trăm cân, nhưng lần này chẳng kéo được dây cung thì đỏ mặt, vừa kinh ngạc vừa hổ thẹn, tửu ý đã giảm mấy phần, lẩm bẩm nói: “Huynh đài, huynh đài...”.
Mạnh Cơ thuận tay lấy cây hắc cung lại cười rằng: “Đại nhân đã uống nhiều rượu cho nên không đủ sức kéo ra. Tiểu đệ lớn gan cũng mong đại nhân cho mượn xem cây cung quý?”
Phương Khánh rất kinh ngạc, đưa cây thiết cung cho tú tài nghèo ấy. Tú tài nghèo tay trái đỡ cây cung, tay phải ôm cây cung vào lòng, chỉ kéo một cái thì dây cung đã căng ra, miệng khen rằng: “Quả nhiên cung tốt!” Thế rồi cổ tay trầm xuống, chỉ nghe phực một tiếng, dây cung đã đứt.
Phương Khánh lúc này đã tỉnh hẳn, quát lớn: “Ngươi là ai?”
Thư sinh ấy ném cây cung xuống đất, ngửa mặt cười lớn, đột nhiên buông cương, thớt ngựa ốm yếu ấy phóng rất nhanh, bụi bốc mù ở sau lưng. Phương Khánh kêu lớn: “Bắn tên!”
Nhưng nào kịp nữa, đột nhiên chỉ nghe tiếng tiêu vang lên, bọn cường đạo đã xuất hiện trên trảng cỏ nơi sườn núi. Mạnh Cơ quay đầu ngựa lại, cười lớn rằng: “Thần cung diệu kỹ chẳng qua chỉ có thế! Bọn ta là kẻ cường đạo sẽ cướp ngân lượng của ngươi, ngươi có muốn đối chọi với ta không?”
Phương Khánh tuy đã lấy cây thiết cung lên, nhưng dây cung đã đứt, làm sao có thể chống địch được nữa, chỉ nghe trong tiếng cười có tiếng dây cung bật lên, Mạnh Cơ kêu lớn: “Cho các ngươi biết lợi hại!”
Cung căng như trăng rằm, tên bay tựa sao xẹt, sau một tiếng vút, một phó tướng đi đầu kêu thảm, đã bị mũi tên xuyên qua cổ họng ngã xuống ngựa chết ngay tại chỗ. Mạnh Cơ lại hú dài một tiếng, dây cung lại bật ra, viên phó tướng thứ hai cũng bị mũi tên xuyên từ trước ngực ra đến sau lưng, bọn lính đều hoảng hồn, gọi nhau quay đầu ngựa bỏ chạy. Chỉ nghe Phương Khánh lại nói: “Ngươi cũng nếm một mũi!”
Phương Khánh giơ cây cung đã đứt dây gạt mạnh qua, chỉ nghe xẹt một tiếng, cây cung và mũi tên chạm nhau phát ra tia lửa, nói thì chậm nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, mũi tên thứ hai lại phóng ra nhanh như điện xẹt, Phương Khánh lộn người từ trên ngựa nhảy xuống, mũi tên lướt qua đỉnh đầu y chỉ cách ba tấc, chỉ thấy đầu mát rười rượi, Phương Khánh kêu lớn: “Lần này chắc chết!”
Chẳng thấy mũi tên thứ ba bắn tới, chỉ nghe Mạnh Cơ cười lớn rằng: “Ngươi có thể tránh được hai mũi tên cũng coi như là hảo hán, tha cho ngươi một mạng!” Thế rồi ở phía trước có đá lăn xuống chặn lại, một đám người xông ra. Phương Khánh lăn người xuống sườn núi, chỉ nghe tên bắn vun vút, nhưng không có mũi nào cắm vào người y.
Phương Khánh lăn xuống sơn cốc, nằm phục trong đống cỏ bên bờ suối, bên trên ngựa hí người la khoảng nửa canh giờ thì mới nghe tiếng vó ngựa lọc cọc rời khỏi con đường ấy.
Phương Khánh thò đầu ngó lên, chỉ thấy trăng đã mọc, xung quanh chẳng có bóng người, tiếng côn trùng kêu rả rích, đêm lạnh ghê người. Phương Khánh bò lên trên, dưới ánh trăng lạnh lẽo, chỉ thấy thi thể của hai viên phó quan nằm vắt ngang bên đường, những người khác đều bỏ trốn cả. Phương Khánh kinh hoảng nghĩ bụng: “Binh lính mình dắt theo có lẽ bị bọn chúng bắt cả!” Đưa mắt nhìn ra xa, bọn cường đạo đã bỏ đi mất, chẳng nhìn thấy gì cả.
Phương Khánh hơi định thần lại, nỗi lo lắng lại dâng lên, mất bốn mươi vạn lượng quân hưởng, đây không phải chuyện nhỏ, ít nhất cũng chịu tội lăng trì. Phương Khánh đang vò đầu bứt tai, muốn khóc nhưng nước mắt không chảy ra, lòng nhủ thầm: “Biết thế cứ để cho bọn cường đạo bắn chết cho rồi!”
Rồi y ngồi thừ bên vệ đường, nhìn vầng trăng dần dần lên cao, suy đi nghĩ lại quả thật khó thoát khỏi cái chết, thế rồi thở dài lấy ra một sợi dây thừng, thắt một cái thòng lọng lên cổ, treo lên gốc cây toan tự tận.
Y vừa đu lên, sợi dây siết chặt lại, Phương Khánh đã thấy ngạt thở, đầu đau nhói, lòng nhủ rằng: “Nếu biết tự thắt cổ khổ sở thế này, chi bằng nhảy xuống sông thì tốt hơn”. Thật ra lúc này phía bắc trời rét, nhảy xuống nước tự sát cũng khổ sở y như thế.
Phương Khánh vốn buộc phải tự sát chứ trong lòng thì chẳng muốn thế. Dây thừng lại thắt chặt hơn, máu chảy gấp nên càng khổ sở hơn, lúc này muốn kêu cũng không ra tiếng, xem ra đã sắp đứt hơi. Đột nhiên thấy người nhẹ hẫng, tựa như có người ôm mình chậm rãi đặt xuống. Phương Khánh thở nhẹ, một hồi thì mở mắt thấy một thiếu niên mặc áo vải đứng bên cạnh, chỉ nhìn mình mỉm cười. Phương Khánh thở dài nói: “Tại sao ngươi cứu ta?”
Thiếu niên ấy bảo: “Có lý nào thấy chết mà không cứu?”
Phương Khánh đã được cứu sống, đột nhiên lại nghĩ đến tội bị lăn trì, lại có ý muốn chết, thế rồi mới nói: “Ta đã muốn chết, ngươi có muốn cứu cũng chẳng được”.
Thiếu niên ấy nói: “Cớ gì ông lại tự sát? Nói ta nghe thử”. Thế rồi hai tay giữ chặt, Phương Khánh chẳng thể vùng vẫy được chỉ kêu lên: “Ngươi đừng hỏi nữa, có nói cũng vô dụng”.
Thiếu niên ấy đột nhiên buông tay nói: “Xem bộ dạng của ông tựa như là một quân quan của triều đình. Ồ, tôi biết rồi, ông chắc chắn đã áp giải lương tưởng, bị đạo tặc cướp mất cho nên mới tìm đường chết!”
Phương Khánh nhảy bật lên nói: “Sao ngươi biết?”
Thiếu niên ấy bảo: “Mỗi năm các người đều áp tải quân hưởng qua đây hai lần, lần nào cũng rầm rộ, ai mà không biết!”
Phương Khánh cười khổ sở nói: “Ngươi đã biết thì không nên cản ta”.
Thiếu niên ấy không thèm để ý đến y, chỉ tự nói với mình rằng: “Các người tuy làm cho gà bay chó chạy, nhưng rốt cuộc là áp tải quân hưởng cho binh giữ biên quan, nếu không có binh giữ, bọn Thát Tử có lẽ đã xâm nhập vào cho nên chi bằng đừng tìm cái chết thì tốt hơn!”
Phương Khánh ngạc nhiên, lật tay chụp lại nhưng lại hụt, thiếu niên ấy nói: “Ông làm gì thế?”
Phương Khánh quát: “Ngươi là ai? Tại sao biết quân hưởng bị cướp?”
Thiếu niên ấy nói: “Tôi là dân ở vùng này, đêm qua thấy có một nhóm cường đạo dắt theo rất nhiều lừa, lại còn có một đám quan binh bị trói đi ngang qua trước nhà tôi, tôi chẳng phải là kẻ ngốc, thấy thế mà vẫn không đoán được ư?”
Phương Khánh nói: “Ngươi có biết sào huyệt của bọn chúng ở đâu không?”
Thiếu niên ấy nói: “Tôi chẳng phải cường đạo, làm sao biết?”
Phương Khánh khựng lại, nhủ thầm: “Dù mình có biết sào huyệt của bọn chúng cũng vô ích”. Thế rồi lại nghĩ đến cái chết, thiếu niên ấy nhìn Phương Khánh rồi đột nhiên nói: “Nếu có thể tìm được ngân lượng, ông sẽ không chết nữa đúng không? Tìm ngân lượng dễ hơn tìm cái chết, sao ông không đi tìm ngân lượng?”
Phương Khánh giật mình, chợt tỉnh ra, lòng nhủ rằng: “Mình có sức mạnh hơn người, thế mà lúc nãy y chỉ nắm nhẹ mà đã không động đậy được, thiếu niên này chắc chắn chẳng phải người thường!”
Sau sự cố đêm qua, Phương Khánh chẳng còn nghênh ngang nữa, biết ngoài trời có trời, thế rồi mới nói: “Phương Khánh này tự thẹn nghề không bằng người, thực sự chẳng đấu lại kẻ cường đạo, mong hiệp sĩ giúp một tay”.
Thiếu niên ấy cười lớn nói: “Tôi đâu có phải hiệp sĩ gì, tôi chỉ là một sơn dân bình thường. Nếu hàng xóm nghe những lời này, e rằng họ sẽ cười đến vỡ bụng mất!”
Phương Khánh lại thất vọng, đang định nài nỉ, chỉ nghe thiếu niên ấy lại nói: “Trông bộ dạng ông đáng thương như thế, thôi được, tôi sẽ chỉ cho ông một con đường sáng”.
Phương Khánh cả mừng nói: “Mong huynh đài chỉ giáo”.
Thiếu niên ấy nói: “Tôi tuy không thể cứu ông, nhưng cách nơi này không xa có một vị kỳ nhân, nếu ông cầu xin được người đó, chắc chắn có thể lấy được quân hưởng”.
Phương Khánh nói: “Vị kỳ nhân ấy là ai? Ở nơi nào? Mong huynh đài chỉ điểm”.
Thiếu niên bảo: “Vị kỳ nhân này tính tình rất kỳ quặc, nếu huynh đài muốn hỏi họ tên ông ta, mạng sẽ khó giữ”.
Phương Khánh giật thót mình, nói: “Đã như thế, tôi sẽ không dò hỏi nữa. Phiền huynh đài dẫn đường”.
Thiếu niên tiếp tục nói: “Đâu có dễ dàng như thế!”
Phương Khánh nói: “Vậy phải làm thế nào?”
Thiếu niên ấy mỉm cười, đột nhiên cầm sợi dây thừng lúc nãy nói: “Ông phải tự sát một lần nữa!”
Phương Khánh thất kinh nói: “Cái gì?”
Thiếu niên ấy bảo: “Sáng sớm ngày mai, ông từ đây đi thẳng về hướng Tây nam khoảng bảy tám dặm thì sẽ thấy một vùng rừng đào, nơi này gọi là Hồ Điệp cốc. Phía sau rừng đào có một căn nhà nhỏ, vị kỳ nhân ấy sống ở trong căn nhà này. Ông không được vào, ở nơi cách rừng đào khoảng một trăm bước có một tảng đá lớn, tảng đá có màu đỏ ửng. Trước khi mặt trời lên, ông phải ẩn mình trong vết nứt giữa tảng đá. Nếu thấy người thì không được bước ra, đến khi mặt trời vừa chiếu vào khe nứt ấy ông mới bước ra, rồi chọn một cây đào, treo cổ lên giống như lúc nãy, vị kỳ nhân ấy sẽ ra cứu ông. Khi treo cổ, ông không được giả vờ phải thắt nút chết cho thòng lọng, nói tóm lại là giống y như lúc nãy, hãy nhớ kỹ lấy! Khi vị kỳ nhân hỏi ông, ông ngàn vạn lần đừng bảo có người chỉ điểm.
Phương Khánh nghe xong thì lòng đầy hoài nghi, thiếu niên ấy cười rằng: “Ông có thể nhặt được mạng về hay không là xem sự may mắn của ông. Ông hãy ngủ một lát, tôi phải đi đây”.
Phương Khánh kêu lên: “Huynh đài chậm bước!” nhưng nào kéo được y, chỉ trong chớp mắt thiếu niên ấy đã biến mất.
Phương Khánh nghĩ bụng: “Dù sao cũng chết, dẫu cho lời nói của thiếu niên ấy có kỳ quái đến đâu cũng phải thử một lần”.
Trong lòng lo lắng ngổn ngang, Phương Khánh nào dám ngủ, chỉ chợp mắt một lát thì trăng đã xuống núi, y lại lật đật lên đường. Mò mẫm đi vào sơn cốc, dưới ánh sao le lói khoảng một hai dặm nữa, ở đằng chân trời đã xuất hiện màu trắng, mùi thơm xộc vào mũi, tinh thần sảng khoái, phía trước mặt quả nhiên có một mảnh rừng đào, trong đó có rất nhiều cây hoa lạ, nào trắng nào đỏ tựa như ráng mây. Ở trước rừng đào quả nhiên có một tảng đá, tảng đá màu đỏ như sắc máu, cao khoảng ba người chồng lên nhau. Ở giữa tảng đá có một vết nứt rất lớn, vừa vặn có thể nép người vào, Phương Khánh liền nấp vào bên trong, trong lòng lo lắng, căng mắt nhìn ra chờ đợi.
Chờ một hồi chẳng thấy động tĩnh gì. Lại một lúc nữa, Phương Khánh nhìn ra, thấy có tia nắng mặt trời, trong chốc lát ở đằng đông sắc trời dần chuyển sang màu đỏ, vầng mặt trời đỏ như máu nhô ra khỏi sương mù, ánh nắng dịu dàng rải xuống muôn nơi, trông đẹp đẽ vô cùng! Nhưng không biết từ đâu có rất nhiều bươm bướm đủ các màu sắc vờn quanh trên những khóm hoa, Phương Khánh tuy là một võ phu nhưng cũng ngây người trước cảnh đẹp ấy.
Lại thêm một lúc nữa, mặt trời đã rọi xuống rừng đào, chợt trong biển hoa trước mặt lại có một thiếu nữ mặc đồ màu trắng, trông nhẹ nhàng như thiên tiên, thiếu nữ ấy hướng về mặt trời, gập eo duỗi tay làm vài động tác, đột nhiên chạy vòng qua rừng đào. Thiếu nữ càng chạy càng nhanh, Phương Khánh nhìn một lát thì hoa cả mắt, y đang đứng trong kẽ đá nhưng người cũng tựa như xoay chuyển theo nàng. Phương Khánh đang cảm thấy đầu váng mắt hoa, thiếu nữ ấy đột nhiên dừng lại, rồi nàng phóng vút người lên một cành cây, chuyền từ cành này sang cành khác như chim bay. Thiếu nữ luồn qua lách lại trên những cành cây nhưng không hề có đóa hoa nào rơi xuống! Phương Khánh nhìn thế thì thầm nhủ: “Chả lẽ kỳ nhân mà thiếu niên kia nói là thiếu nữ này?”
Khi nhìn lại thì thiếu nữ lại từ trên cây nhảy xuống, rồi nàng vung tay áo quét nhẹ, một lúc sau chỉ thấy cành cây lung lay, tựa như có gió xuân thổi tới, hoa đào rơi xuống lả tả. Thiếu nữ ấy cất tiếng cười, hai tay áo phất lên, hoa đào rơi xuống dưới đất cuộn vào trong tay áo. Rồi nàng dựa vào cành đào, miệng nhoẻn cười trông rất xinh xắn!
Phương Khánh nhìn thấy thế thì ngẩn người ra thầm nhủ: “Trên đời sao lại có một thiếu nữ xinh đẹp đến thế, hoa đào cũng chẳng bằng nàng”.
Một hồi sau, một bầy bươm bướm lại bay tới, lượn lờ tung tăng giữa rừng hoa. Thiếu nữ đột nhiên vung hai ống tay áo lên, vô số hoa đào từ trong tay áo bay ra, bầy bươm bướm rơi lả tả xuống. Phương Khánh kinh ngạc, dùng hoa đào làm ám khí, đó quả là chuyện chưa bao giờ nghe! Nhưng y lại tiếc thương cho bầy bươm bướm dễ thương ấy, lòng thầm nhủ: “Lẽ ra phải bắt bướm giữa hoa, ai ngờ lại giết bướm!”
Trong chớp mắt, bầy bươm bướm rơi xuống đất lại cất cánh bay lên, chỉ nghe thiếu nữ ấy cười rằng: “Bướm ơi, đã làm bọn ngươi sợ, ta không trêu bọn ngươi nữa!” Thế rồi nàng chậm rãi bước vào căn nhà ở phía sau rừng đào.
Phương Khánh thở phào, đột nhiên thấy trước mặt chói chang, thì ra ánh nắng đã len vào khe đá. Phương Khánh bất giác thầm nhủ: “Thiếu niên ấy quả thực tính toán rất chính xác, thiếu nữ vừa vào thì ánh nắng đã len vào khe đá!”
Lúc này Phương Khánh đều mong tìm sự sống nhưng trong lòng cũng có mấy phần hiếu kỳ, y vội vàng bước ra khỏi khe đá, lấy sợi dây thừng tròng vào trong cổ mình rồi treo người lên cành cây. Sợi dây dần dần thắt chặt, hơi thở đã khó khăn, hai mắt trợn ngược lên nhưng lại không thấy thiếu nữ ấy ra cứu. Phương Khánh toan kêu cứu nhưng kêu không ra tiếng, sợi dây càng thắt chặt hơn, chỉ cảm thấy mắt nổi đom đóm, trời xoay đất chuyển, trong rừng đào tựa như không hề có bóng người. Phương Khánh hối hận thầm nhủ: “Chả lẽ thiếu niên ấy cố ý bỡn cợt mình, làm cho mình chịu thêm một lần khổ!”
Đang lúc khổ sợ, hai chân đạp bừa khiến cho hoa trên cây rơi xuống lả tả.
Hễ y càng vùng vẫy, sợi dây thắt càng chặt, Phương Khánh chỉ thấy trước mắt tối sầm, thần trí đã dần dần mơ hồ. Đột nhiên y chợt cảm thấy người mình nhẹ hẫng, hình như có người đã dùng kéo cắt dây thừng cho mình, hơi thở lập tức thông suốt, Phương Khánh há miệng nhưng nói không ra lời. Té ra là đã bị sợi dây thắt quá chặt.
Một lúc sau, y dần dần hồi sức, mở mắt ra chỉ thấy trước mặt là thiếu nữ lúc nãy. Phương Khánh định lên tiếng, thiếu nữ ấy đã lạnh lùng nhìn y hỏi: “Vì sao ngươi lại tìm cái chết?”
Phương Khánh quỳ xuống đất, bảo rằng đã bị cướp mất bốn mươi vạn lượng quân hưởng, nếu bị xử theo quân pháp thì chắc chắn sẽ chịu tội lăn trì. Thiếu nữ ấy nhíu mày, đột nhiên phất tay áo nói: “Ta mặc kệ!”
Phương Khánh hoảng lên, vội kéo góc váy nàng, nhưng nào được, Phương Khánh bật khóc rằng: “Tôi trên còn có mẹ già, dưới còn có côi nhi. Nếu cô nương không thèm ngó tới thì trên đời này lại có thêm ba oan hồn!”
Thiếu nữ ấy chậm rãi quay đầu hỏi: “Có thật không?”
Phương Khánh nói: “Nếu có nửa câu là giả dối, tôi sẽ chịu treo cổ lần nữa!”
Thiếu nữ ấy lẩm bẩm: “Dù sao ta cũng phải tìm bọn chúng, cũng được, ta sẽ giúp ông lần này”.
Phương Khánh cả mừng lạy tạ, thiếu nữ ấy bực bội nói: “Ta chẳng phải người chết, ông bái ta làm gì, có muốn chịu cái khổ treo cổ lần nữa không? Hừ, ai đã chỉ ông đến đây tìm tôi?”
Phương Khánh nói: “Không có, không có!”
Thiếu nữ ấy nói: “Ông đã treo cổ mấy lần?”
Phương Khánh bảo: “Chỉ một lần này”.
Thiếu nữ ấy trầm ngâm một hồi rồi đột nhiên cười: “Thực ra ông đã treo cổ mấy lần ta mặc kệ. Ta đã bảo cứu ông thì dù có người đến chỉ ta cũng cứu ông đến cùng! Treo cổ chẳng phải trò vui, lần sau đứng thử nữa”. Thế rồi mỉm cười, Phương Khánh nhìn thiếu nữ ấy, chẳng qua chỉ khoảng mười sáu mười bảy tuổi, khi nói chuyện còn lộ vẻ trẻ con, bất giác thầm lo lắng, chỉ e một mình nàng ta chẳng đấu lại bọn cường đạo.
Thiếu nữ lại bảo: “Được, ông hãy theo tôi!”
Phương Khánh theo nàng bước vào trong căn nhà nhỏ, thiếu nữ lại nói: “Chắc ông đã đói, hãy nướng một ít thịt hổ ăn trước!”
Phương Khánh đưa mắt nhìn, chỉ thấy ở góc nhà có một con hổ đang nằm phục dưới đất. Phương Khánh thất kinh, thiếu nữ cười rằng: “Đây chỉ là hổ chết, ông sợ cái gì? Ông có biết lột da hổ không?”
Phương Khánh nói: “Đã từng thấy thợ săn làm qua”.
Thiếu nữ ấy bảo: “Tốt, ông hãy lột cho ta. Lúc nãy ta đã thấy lực đạp cành đào của ông, con hổ này nặng hơn ba trăm cân, ông có thể lột da nó được”.
Phương Khánh lại thất kinh, thiếu nữ đánh hổ đã là chuyện kỳ lạ, nhưng lại vừa nhìn có thể thấy được khí lực của mình, nàng là một đại hành gia tinh thông võ công.
Ăn xong thịt hổ nướng thì đã đến trưa, thiếu nữ lấy ra một thanh kiếm trên vách tường: “Ông hãy theo ta, chúng ta đi tìm bọn cường đạo lấy lại bốn mươi vạn lượng bạc ấy”.
Từ trong sơn cốc bò lên, bước vào trong rừng sâu, đi được một canh giờ chỉ thấy có hai ngọn núi nhô cao, vách núi dựng đứng, bên dưới vách núi có một thạch động, trước thạch động là một bãi đất bằng, thiếu nữ nói: “Đây chính là nơi bọn chúng cất giữ của báu”.
Toan bước tới thỉ chợt nghe có tiếng quát: “Đứng lại!”
Từ trong bụi cỏ có hai hán tử phóng ra, hai người cầm hai cây côn giáng từ trên đầu xuống nhanh như chớp!”
Thiếu nữ xoay người, tránh được hai cây côn rồi nàng phất ống tay áo, hai đại hán ấy lao tới quá mạnh, không kịp thu đà, đã ngả xuống đất chổng vó lên trời. Thiếu nữ cười lạnh rồi chạy về phía trước.
Trước thạch động, vô số loạn thạch lô nhô trông rất kỳ quái, thiếu nữ không ngừng bước, xông vào trong thạch trận ấy, chợt nghe có tiếng quát: “Chặn lại!”
Từ trong đám loạn thạch đao thương cùng phóng ra, đao thì đâm vào trước ngực, thương thì quét vào chân, thiếu nữ phóng vọt người lên, phất ống tay áo xuống, cười lạnh một tiếng nói: “Làm sao chặn lại được!”
Hai hán tử múa đao lộng thương nhảy ra, tuy không đánh trúng đối thủ nhưng lập tức thu đà lại, không ngã sóng soài như hai người lúc nãy. Phương Khánh khiếp đảm không dám tiến tới, chỉ thấy thiếu nữ ấy vẫy tay: “Đến đây! Ông là chủ của ngân lượng, ông không tới bọn chúng trả cho ai?”
Phương Khánh lấy lại dũng khí, bước vào trong thạch trận, chỉ thấy thiếu nữ ấy đang quần nhau với bốn hán tử, bốn hán tử này mỗi người đứng ở một phương, vây thiếu nữ ở giữa, hai người cầm côn, một người cầm đao một người cầm thươn tấn công rất mạnh mẽ. Thiếu nữ vẫn chưa rút kiếm ứng chiến, chỉ thấy nàng luồn qua lách lại giữa đao thương và côn bạt, tựa như bươm bướm xuyên hoa, chuồn chuồn giỡn nước, áo quần phất phới trông rất đẹp mắt! Phương Khánh tinh thông võ công, nhưng nhìn một hồi cũng cảm thấy quay cuồng, vội vàng đưa mắt đi nơi khác mới dám nhìn lại.
Thân pháp của thiếu nữ ấy nhanh nhẹn lạ thường, đao thương côn bản đánh xuống như mưa, nhưng chẳng chạm vào được góc váy nàng! Đánh một hồi, thiếu nữ ấy quát lớn một tiếng, đột nhiên vỗ một chưởng về phía đại hán tay cầm côn bảng. Ở phía bên trái, đại hán bên phải cầm đao chém tới, đại hán bên cạnh cầm thương cũng đâm tới một thương, đại hán cầm côn bảng chỉ cảm thấy gió nhẹ lướt qua, chưởng của nàng đã vỗ đến đỉnh đầu, trong lúc kinh hoảng chỉ đành lăn xuống đất, trong khoảnh khắc đao thương lại đâm tới, thiếu nữ ấy phất chưởng tâm ra ngoài, trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, nàng bay lướt qua kẽ hở giữa đao và thương. Đại hán sử dụng côn tuy tránh nhanh nhưng cũng bị trúng một chưởng ở vai, lăn ra cách đó mấy trượng mới ngừng lại được, y vừa kinh vừa giận, đứng bật dậy may mà vẫn chưa bị thương.
Lúc này bốn hán tử đều đã nản lòng, thiếu nữ chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc, nhẹ nhàng tự nhiên như nước chảy. Phương Khánh đầu óc quay mòng mòng, lại vội vàng nhìn sang nơi khác, chốc chốc lại liếc mắt sang, chỉ thấy ở trước cửa động có một người giơ cung toan phóng tên ra, người ấy chẳng ai khác chính là Mạnh Cơ, kẻ đã giả mạo tú tài đêm qua. Phương Khánh thất kinh, vội vàng kêu lên: “Có người ám toán, hãy cẩn thận!”
Có tiếng dây cung bật lên, Mạnh Cơ đã bắn ra một mũi tên!
Thiếu nữ áo trắng tựa nư không hề để ý, nàng chỉ đoán nhẹ thì mũi tên ấy đã nằm trong tay. Tiếng dây cung lại bật lên, mũi tên thứ hai của Mạnh Cơ đã phóng vút tới như điện chớp, Phương Khánh là một tay bắn tên giỏi, thấy kiểu bắn liên châu tiễn lợi hại như thế thì bất giác hồn bay phách tán. Thiếu nữ ấy đang bị vây đánh, không thể nào né tránh được, chỉ thấy nàng búng nhẹ hai ngón tay, mũi tên trong tay nàng phóng vút ra, hai mũi tên chạm nhau trên không trung, trong chớp mắt đã rơi xuống hai bên. Chỉ lực của thiếu nữ ấy chẳng kém gì lực bật cung của Mạnh Cơ, quả thực kinh người. Mạnh Cơ kêu lên một tiếng: “Hay!”
Nói thì chậm nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, mũi tên thứ ba lại phóng ra, bay thẳng về phía cổ họng nàng. Phương Khánh kêu hoảng, chợt thấy thiếu nữ ấy há miệng ngậm mũi tên ấy lại. Té ra nàng đã luyện một thủ pháp khó nhất, mạo hiểm nhất trong Án tiễn pháp là Xĩ tộc pháp!
Thiếu nữ bị Mạnh Cơ bắn liên tục ba mũi tên, mặt đã giận dữ, đột nhiên kêu lên: “Đến mà không đi, chẳng phải lễ!” Thế rồi nàng vung tay, chỉ thấy năm sáu món ám khí hình hoa mơ phóng vút ra.
Đó chính là:
Phóng hoa đón đại địch, ra tay thấy thần kỳ.
Muốn biết chuyện sau đó thế nào? Mời xem tiếp hồi sau.

Xem tiếp hồi 2
Họa phúc chẳng hay một mình vào hang cọp
Bạn thù không rõ bảo kiếm đấu kim đao
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:30 pm

Hồi 2
Họa phúc chẳng hay một mình vào hang cọp
Bạn thù không rõ bảo kiếm đấu kim đao


Phương Khánh chưa kịp nhìn rõ thì đã nghe tiếng ối chao vang lên liên tục, ngoại trừ Mạnh Cơ, bốn hán tử bao vây thiếu nữ áo trắng đều đã ngã sóng soài xuống đất. Mạnh Cơ tranh được hai mảnh ám khí hoa mơ, lớn giọng khen rằng: “Tán Hoa nữ hiệp, tiếng đồn không ngoa!”
Nói vừa xong bốn đại hán ấy cũng nhảy bật dậy, trên tay mỗi người đều dính một mảnh ám khí, đồng thanh nói: “Đa tạ nữ hiệp đã nương tay, chúng tôi đã phục!”
Té ra bốn người này đều bị thiếu nữ dùng thủ pháp Thiên Nữ Tán Hoa đánh trúng huyệt đạo, ám khí phóng đến rất nhanh, nhưng khi chạm vào người thì rất nhẹ, chỉ cảm thấy tê rần chứ chẳng bị thương nặng, rõ ràng là đã cố ý nương tay.
Nàng ta mỉm cười nói: “Té ra các người đã biết lai lịch của ta, vậy ngân lượng của vị bằng hữu này có thể trả được chưa?”
Mạnh Cơ chỉ vào thạch động, nói: “Nữ hiệp đến thật không đúng lúc, sáng nay ngân lượng đã được chuyển đi”.
Thiếu nữ ấy sầm mặt, định lên tiếng hỏi thì Mạnh Cơ lại nói: “Làm phiền nữ hiệp đi thêm một chuyến nữa, chúng tôi đã chuẩn bị khoái mã. Phương đại nhân, đêm qua đã làm ngài sợ hãi”.
Phương Khánh đỏ mặt, thiếu nữ lại nói tiếp: “Đã như thế, ta phải đến gặp Trại chủ của các người. Nào, chúng ta đi thôi!”
Mạnh Cơ huýt một tiếng sáo, ở sau núi có người dắt mấy thớt ngựa ra, thiếu nữ áo trắng nhảy lên lưng ngựa, chẳng nói lời nào thì chạy theo bọn họ. Đường núi gập ghềnh, dốc nghiêng thoai thoải, ngồi trên lưng ngựa tựa như cỡi mây, Phương Khánh tuy là con nhà cung mã, cũng cảm thấy kinh tâm động phách, mấy thớt ngựa đều là những lại chiến mã đã được huấn luyện, cứ phóng qua khe suối tựa như đất bằng.
Chạy một hồi thì mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, Mạnh Cơ vung roi vỗ lên lưng ngựa, nói: “Bên dưới chính là Nhạn Môn quan, Đinh đại tổng binh sáng mai sẽ phát quân hưởng, chắc bây giờ đang lo lắng lắm!”
Phương Khánh nghe thế thì thất kinh, hỏi: “Chúng ta đã qua khỏi Nhạn Môn quan ư? Các người... các người chẳng phải là thủ hạ của Kim Đao trại chủ ư?”
Mạnh Cơ nói: “Có ngân lượng là được, cần chi phải hỏi nhiều!”
Phương Khánh lo lắng thầm nhủ: “Tên Kim Đao lão tặc này chưa bao giờ cướp quân hưởng, không biết lần này tại sao lại phá lệ? Đã từng nghe Kim Đao lão tặc là một tên cường đạo chẳng sợ trời cũng chẳng sợ đất, bọn Thát Tử Mông Cổ và quan quân đại Minh đều không dám vuốt râu hổ của y, nếu y đã có cướp quân hưởng này, dù cho mười vạn đại quân cũng chưa chắc lấy được, chuyến đi này chỉ e lành ít dữ nhiều”.
Đi được một hồi đột nhiên thấy trước mặt là ruộng lúa bằng phẳng, có người đang cầy cấy, vừa mới thì còn tưởng là chốn thế ngoại đào nguyên, chứ không phải là sào huyệt của kẻ cường địch đã làm khiếp vía cả Hồ lẫn Hán! Đoàn người ngựa cứ tiến thẳng về phía trước theo con đường núi, hai bên đường núi chốc chốc lại có bóng người đánh cờ hiệu, không bao lâu đã đến trước sơn trại.
Nhà cửa trên núi nối liền nhau dựa trên thế núi, che chắn cho nhau, trông rất khí thế. Phương Khánh lo lắng muôn phần, xuống ngựa đi vào cùng với Mạnh Cơ và thiếu nữ áo trắng. Có người dắt đến trước đại trại, chỉ nghe một tiếng chuông vang lên, tiếp theo là tiếng trống và tù và, cửa trại mở ra, hai toán người đứng xếp hàng chờ đón, đao thương đều sáng quắc, khô giáp chỉnh tế, thiếu nữ áo trắng mỉm cười, bình tĩnh bước qua rừng khí giới ấy, Phương Khánh thì lo lắng, nhưng cũng đánh liều bước theo thiếu nữ áo trắng vào trong sảnh đường.
Trong đại sảnh đã bày sẵn ghế, nhưng không có người ngồi, thiếu nữ áo trắng bực bội hỏi: “Lão trại chủ của các người đâu?”
Mạnh Cơ mỉm cười, chỉ thấy hai đại hán cao lớn vạch hổ trướng bước vào.
Đại hán ở phía trước hai tay bưng một vò rượu lớn, vò rượu ánh lên sắc vàng, chắc là được chế tạo bằng đồng, vừa nhìn thì chỉ e nặng đến năm bảy chục cân, đại hán ở phía sau tay bưng một mâm thịt bò đã nướng chín, khói bốc lên thơm phức, ở mỗi miếng thịt bò đều cắm một con dao sáng quắc. Hai đại hán ấy đồng thanh nói: “Quý khách từ xa đến đây không có thứ gì chiêu đãi, xin mời hãy uống một chén rượu”. Nói vừa dứt lời đại hán ở phía trước đã vung hai tay, bình rượu bay thẳng tới trước ngực, thiếu nữ áo trắng mặt chẳng đổi sắc, miệng nói: “Cần gì phải khách sáo như thế?” Thế rồi nàng co tay lại, kéo vò rượu sang một bên, vò rượu ấy rơi xuống lòng bàn tay nàng, tựa như trẻ con đang chơi vụ. Đại hán ấy đã dùng lực ném bình rượu, uy thế rất kinh người, nếu không có khí lực nặng đến trăm cân thì đừng hòng tiếp được, nhưng không ngờ thiếu nữ ấy chỉ nhẹ nhàng kéo qua thì đã hóa giải được luồng kình lực này. Thiếu nữ mỉm cười cúi đầu uống một ngụm rượu rồi nói: “Rượu ngon, rượu ngon!”
Hai đại hán ấy ngẩn người ra, đại hán ở phía sau bước tới quát: “Thứ này tặng cô nương nhắm rượu!” Chỉ thấy bàn tay giở lên, hai cây trủy thủ có cắm thịt bò bay tới, thiếu nữ áo trắng chỉ mỉm cười, há miệng ra. Chỉ nghe soạt soạt hai tiếng, hai thanh trủy thủ đã bị nàng cắn vào miệng, rồi nàng lại mở miệng phun ra, hai cây trủy thủ đều bay ra cắm phập lên xà nhà, hai đại hán ấy đều nhìn nhau thất sắc. Chỉ thấy thiếu nữ nhướng mày quát: “Kính lại các ngươi một chén!” rồi nàng phất bàn tay ra ngoài, chỉ nghe vù một tiếng, vò rượu bay ngược ra, hai hán tử ấy nào dám tiếp lấy, chỉ mở to mắt nhìn vò rượu đang bay tới, xem ra là né tránh không kịp. Chợt nghe chát một tiếng, chỉ thấy một thiếu niên từ ở hậu đường phóng ra vỗ một chưởng, gạt vò rượu lớn sang một bên, hóa giải luồng kình lực ấy, chân trái dẫn nhẹ, bầu rượu từ từ rơi xuống đất, rượu trong vò không hề rơi ra. Sau khi thi triển công phu, thiếu niên quay đầu lại mắng: “Hai tên vô dụng các ngươi cả mời khách mà cũng không hiểu, còn ở đây làm trò hề đấy ư?” Thế rồi ôm quyền hướng về phía thiếu nữ nói: “Đã tiếp đón nữ hiệp chậm trễ, xin thứ tội!”
Phương Khánh vừa nhìn lại, hoảng hồn đến nỗi suýt nữa kêu lên, thiếu niên ấy chẳng phải ai khác đó chính là người đã cứu mạng y, lại còn chỉ cho y đến tìm thiếu nữ áo trắng. Chỉ là đêm qua y cải trang thành tiều phu, giờ đây đã ăn mặc chỉnh tề, trông như một công tử nhà giàu, khí độ đương nhiên bất phàm. Thiếu nữ áo trắng vái lại một vái rồi nói: “Công phu hay!”
Nàng lại nghe lúc nãy khi hán tử bước ra, bọn tùy tùng bên cạnh gọi là Thiếu trại chủ, nàng lại cười rằng: “Lần này đã tìm được chính chủ, bốn mươi vạn lượng bạc của vị bằng hữu này, mong Thiếu trại chủ nể mặt trả lại cho”.
Thiếu niên ấy nói: “Số bạc ấy có đáng là gì, xin mời cô nương ngồi xuống”. Thế rồi cao giọng kêu lên: “Người đâu!” rồi đưa mắt sang chào Phương Khánh, ánh mắt đầy vẻ bí hiểm, tựa như đang nói: “Ta đâu có chỉ sai!”
Phương Khánh đứng lặng một bên, trong lòng đầy thắc mắc, quả thực trăm mối nghi ngờ. Thiếu niên này đã là Thiếu trại chủ ở đây, tại sao lại cướp ngân lượng, rồi lại cứu mình? Lại còn dắt thiếu nữ áo trắng đến đây? Chả lẽ có qủy kế gì? Giờ đây đang ở trong đầm rồng hang hổ, bên ngoài có kẻ cường địch bao vây lành dữ khó đoán, phúc họa còn chưa biết, chợt nghe bên ngoài trướng có tiếng đao kiếm giao nhau, y không khỏi dựng tóc gáy. Một hồi sau chỉ thấy một nhóm người chuyển ngân lượng vào, chất đầy ở dưới đất. Thiếu nữ áo trắng nói: “Thiếu trại chủ quả nhiên là người mau mắn, xin đa tạ!”
Thiếu niên ấy đột nhiên cười lớn, nói: “Khoan đã!”
Thiếu nữ áo trắng ngạc nhiên, chỉ thấy một kẻ bước tới cắm một lá cờ lên đống ngân lượng, một mặt có hình mặt trời đỏ, mặt kia thì thêu mặt trăng mới nhú, Nhật Nguyệt song kỳ này chính là kỳ hiệu của sơn trại. Thiếu nữ áo trắng mỉm cười, bưng một bình rượu nhỏ bằng bạc trên bàn, rót hai chén rượu, tự uống trước một chén rồi nói: “Bốn mươi vạn lượng bạc này tuy chẳng đáng giá, nhưng Nhật Nguyệt song kỳ giá trị liên thành!”
Thiếu nữ áo trắng đưa mắt nhìn xung quanh, chỉ thấy mọi người trong trại đều đang nhìn mình rất nghiêm nghị, nàng rất thắc mắc, bất đồ lộ vẻ nghi hoặc, ngạc nhiên hỏi: “Trại chủ có ý gì?”
Thiếu niên ấy chưa đáp, chỉ mỉm cười, thiếu nữ áo trắng nhủ thầm: “Ồ, lá cờ hai mặt này là của các người, quả thực hình như là vật quý không gì sánh được. Nhưng đâu có liên quan gì với chuyện hôm nay?”
Thiếu niên ấy vẫn mỉm cười không đáp, bọn cường đạo ở bên dưới đều lộ vẻ tức giận.
Phương Khánh đứng một bên thầm kêu khổ, nhủ rằng: “Thiếu nữ này võ công tuy cao cường, nhưng lại là một người mới xuất đạo, cả quy củ của bọn hắc đạo trên giang hồ mà cũng chẳng hiểu! Bọn cường đạo đã cắm kỳ hiệu trên ngân lượng, có nghĩa là ngươi nếu có bản sự thì cứ rút hai ngọn cờ ra, còn ngân lượng thì cứ lấy về, bằng không hãy ngoan ngoãn rời khỏi nơi này. Đây rõ ràng là có ý thách đấu! Lần này đúng là lành ít dữ nhiều!”
Thiếu nữ ấy hỏi lại hai lần mà vẫn không thấy trả lời, mặt đã hơi đỏ, tựa như đã nổi giận, chỉ thấy nàng đứng dậy, vẫy tay nói với Phương Khánh: “Ngân lượng đã ở đây, ông hãy đến đếm thử? Còn lá cờ là của bọn họ, ông cứ để lại”. Rồi nàng đứng dậy, mới dợm bước chân thì chợt nghe thiếu niên ấy cười ha hả, cầm bình rượu lướt tới trước mặt nàng, lớn giọng nói: “Cô nương, cô nương hãy ngồi xuống uống rượu đã!”
Thiếu nữ áo trắng tức giận nói: “Ta không uống thì ai dám ép?” rồi nàng vẫn bước về phía trước. Thiếu niên ấy đẩy bầu rượu về phía trước, tay trái hất chén rượu lên, nói: “Không nể mặt chứ gì?” Bầu rượu đánh tới trước ngực, chén rượu đánh vào mặt, đó quả thực là hai chiêu cực kỳ lợi hại, nhưng thiếu nữ ấy chỉ xoay người, thiếu niên đánh hụt, chén rượu vụt khỏi tay rơi xuống vỡ tan. Thiếu niên ấy cũng rất ghê gớm, y xoay người đẩy bầu rượu ra, chặn đường tiến tới của thiếu nữ, vòi của bình rượu chĩa xuống ngực thiếu nữ. Thiếu nữ áo trắng đột nhiên hạ thấp người xuống, hai ngón tay búng nhẹ, lòng bàn tay đẩy một cái, chỉ thấy nắp bình bay ra, rượu đổ tràn xuống đất, mùi hương xộc vào mũi, mọi người trong sảnh đường đều thất sắc, nhưng thiếu niên vẫn nắm chặt bầu rượu trong tay.
Hai người chỉ mới giao nhau hai chiêu, rõ ràng thiếu nữ áo trắng hơn hẳn một bậc, nhưng nàng ta dù dùng đủ nội lực cũng không thể đánh bay bầu rượu, võ công của thiếu niên rõ ràng chẳng phải hạng vừa. Y đã dùng bầu rượu làm binh khí, ước chân xoay một vòng đã lướt tới trước mặt thiếu nữ ấy, nói rằng: “Dù thế nào cũng phải mời cô nương uống chén rượu này”. Y đã dùng chiêu Lưu Tinh Cản Nguyệt trong Lưu Tinh chùy. Thiếu nữ áo trắng bước xéo hai bước, mặt giận dữ rút soạt thanh kiếm ra, chỉ thấy một luồng hàn quang phóng ra, thiếu niên cũng thối lui hai bước, giơ bầu rượu thủ ở trước ngực. Thiếu nữ áo trắng chĩa kiếm về phía y quát rằng: “Ngươi thật vô lễ, chúng ta hãy tỉ thí thử xem!”
Những kẻ còn lại trong sảnh đường đều thối lui ra xung quanh, có lẽ là vừa nhường chỗ cho hai người họ động thủ, vừa có thể bao vây đợi thiếu nữ áo trắng, chỉ cần chàng thiếu niên không địch lại thì lập tức sẽ ùa lên tấn công!
Phương Khánh đã kinh hoảng, mặt ám ngoét như xác chết, nghĩ bụng thiếu nữ này dù có tài giỏi bằng trời cũng không thể xông ra khỏi đầm rồng hang cọp này, nếu bọn cướp cùng xông lên tấn công, chỉ e hai người sẽ bị chém nát như tương! Đang lo lắng, chợt thấy không khí trong sảnh đường trở nên lạ thường, im lặng đến nỗi khiến cho người ta kinh hãi, khi nhìn lại chỉ thấy thiếu niên ấy thủ kỹ chứ không tung chiêu, bọn đạo tặc trong sảnh đường đều bao vây bốn bên, ai nấy đều xuôi tay đứng yên. Từ bên ngoài trường truyền lại tiếng tù và, chợt có người kêu: “Đại vương đến!”
Chàng thiếu niên nhảy bật ra, chỉ thấy bên ngoài có một đám người, kẻ đi đầu là một ông già râu dài, phong độ uy nghiêm, tuổi khoảng trên sáu mươi, nhưng tinh thần rất sung mãn. Thiếu nữ áo trắng nhìn ông ta rồi thi lễ hỏi: “Đây có phải là Lão trại chủ không?”
Ông già râu dài mỉm cười nói: “Nghe nói cô nương hôm nay lên núi, lão phu đã không kịp nghênh đón”. Ông ta vừa nói vừa nhìn thiếu nữ ấy dò xét, thần sắc rất đặc biệt.
Thiếu nữ áo trắng bị ông ta nhìn thì tỏ ra ngượng ngùng, nàng buông kiếm nói: “Từ lâu đã nghe uy danh của Lão trại chủ, Lão trại chủ nhân hiệp vô song, hôm nay có duyên gặp mặt, tiểu nữ có chuyện thỉnh cầu Trại chủ”.
Ông già râu dài đáp lời: “Quá khen, quá khen”. Rồi đột nhiên ông ta hỏi: “Năm nay cô nương được bao nhiêu tuổi? Có phải tuổi mùi không?”
Thiếu nữ áo trắng không ngờ ông ta hỏi câu ấy, nàng cảm thấy ngạc nhiên, thế rồi nói với vẻ hơi giận dữ: “Có phải Lão trại chủ chê tiểu nữ tuổi còn nhỏ, không xứng lên núi thỉnh cầu Trại chủ hay không?”
Ông già râu dài cười ha hả rồi nói: “Cô nương đã quá nặng lời”.
Thiếu nữ áo trắng nói tiếp: “Bốn mươi vạn lượng bạc ở bên dưới là quân hưởng của Nhạn Môn quan, Trại chủ đã lấy đi, không những đã hại tánh mạng của vị công gia này, mà mấy vạn quan binh giữ Nhạn Môn quan có thể cũng sẽ chịu đói rét!”
Ông già ấy cười ha hả nói: “Điều đó ta làm sao không biết?”
Thiếu nữ áo trắng nói: “Lão trại chủ đã biết chuyện này lợi hại, vậy thì cũng nên trả lại ngân lượng”.
Ông già râu dài vuốt râu rồi cười: “Cô nương, cô nương có điều không biết đấy thôi”.
Thiếu nữ áo trắng nói: “Mong Lão trại chủ chỉ giáo”.
Ông già râu dài chỉ vào Nhật Nguyệt song kỳ, nói: “Quy củ trong lục lâm thứ đã cướp đi thì không thể chỉ nói một câu là trả lại. Bốn mươi vạn lượng bạc là chuyện nhỏ, uy danh của lá cờ ấy là chuyện lớn. Cô nương, nếu cô nương đã thỉnh cầu hộ vị công gia này, có lẽ cũng nên trổ tài cho các huynh đệ thấy. Bằng không lão phu trả ngân lượng lại, họ sẽ không phục”.
Thiếu nữ áo trắng tức giận, cười lạnh nói: “Tiểu nữ nghe danh không bằng thấy mặt, ai ngờ thấy mặt thì không như tiếng đồn. Hay lắm, hay lắm! Vậy xin mời Trại chủ!”
Ông già râu dài lại cười ha hả rồi nói: “Tiểu cô nương, trong trời đất có những kẻ thấy mặt không bằng nghe danh, đâu chỉ có một mình lão hủ. Có phải cô nương trách lão hủ không chịu trả lại ngân lượng dễ dàng hay không?”
Thiếu nữ áo trắng liếc mắt nhìn ông ta, tựa như một đứa trẻ, ông già râu dài lại cười rằng: “Lão hủ đã nghĩ ra một cách. Cô nương đã mang kiếm lên núi, chắc chắn kiếm thuật rất thâm hậu. Thôi được, lão hủ dùng một cây Kim đao lãnh giáo vài đường kiếm pháp của cô nương. Chuyện học không có người trước sau, kẻ hơn thì làm thầy, cô nương đừng vì lão hủ tuổi đã già mà cố ý nương tay. Nếu cô nương thắng thì lão hủ sẽ trả lại không sót một lượng bạc nào!”
Ông ta vừa nói vừa châm rượu, đến khi nói xong thì uống ngay hai chén, đột nhiên ông ta ném hai chén rượu không lên xà nhà, gằn giọng nói: “Xà nhà tốt như thế này, ai đã cắm hai cây trủy thủ ở đây?” Chén rượu bay lên kêu vun vút, mảnh vỡ rơi xuống lả tả, hai cây trủy thủ cũng rơi xuống theo mảnh vỡ, chén rượu là thứ dễ vỡ, thế nhưng ông già ấy đã ném trúng vào sà nhà để đánh bật cây trủy thủ ra, có thể thấy nội công của ông ta thâm hậu đến mức nào!
Thiếu nữ áo trắng bất giác sững người, lúc đầu nàng vốn muốn đối địch bằng tay không, nhưng giờ đây thấy ông ta trổ tài, bất đồ không còn dám khinh địch nữa, thế là rút kiếm ra, nhảy ra giữa sảnh đường, hơi cung tay nói: “Mời Trại chủ chỉ giáo”.
Ông già râu dài liếc nhìn, nói: “Kiếm tốt!” Thế rồi đưa tay vẫy nhẹ, chỉ thấy hai tên lâu la khiêng ra một cây đại đao sáng loáng, ông già râu dài nhận lấy cây đại đao, đưa tay lên búng nhẹ vào sóng đao rồi buông giọng cười rằng: “Kim đao ơi, hôm nay ngươi đã gặp được đối thủ”.
Mỗi người đứng chiếm một góc, thiếu nữ áo trắng biết ông già tự cho mình là bậc đi trước, quyết sẽ không tấn công trước, thế rồi cầm chui kiếm điểm mũi kiếm xuống phía dưới, ý muốn tỏ ra là bậc hậu bối phải kính trọng tiền bối. Ông già râu dài bước lui ra sau một bước, chỉ nghe soạt một tiếng, thiếu nữ áo trắng sử dụng một chiêu Thái Điệp Xuyên Thoa, kiếm thế rất nhẹ nhàng, ông già quát một tiếng “Hay”, đánh ra một chiêu Phụng Hoàng Đoạt Ổ, lướt người lên, trong chốc lát đã đứng vào vị trí ban nãy của thiếu nữ. Thiếu nữ áo trắng thất kinh, không ngờ Kim Đao trại chủ này tuy già cả nhưng thân pháp lanh lẹ, chẳng kém gì tuổi trẻ, bằng chiêu Phi Thân Đoạt Vị ấy, ông ta có thể kìm chế ba đường trái phải và giữa của mình.
Bọn cướp trong sảnh đường đều la ó vang dội, nhưng chỉ trong chớp mắt thì toàn trường đều yên lặng. Chỉ thấy thiếu nữ áo trắng phóng vọt người lên, vẽ ra một màn kiếm hoa, ánh kiếm bắn ra tứ phía, như hàng ngàn hàng vạn đốm sao từ trên đầu sa xuống. Trong màn ánh kiếm bóng đao, chỉ nghe tiếng kim khí giao nhau đến chấn động lỗ tai, khi mọi người đang chăm chú nhìn, chỉ thấy thiếu nữ áo trắng ấy đã lướt ra hơn một trượng, ông già râu dài thì giơ đao ngang ngực, kêu lên: “Kiếm tốt, kiếm pháp càng hay hơn! Xin mời tiếp tục!”
Phương Khánh võ công tầm thường, vẫn chưa nhận ra điều gì, cao thủ trong đám giặc cướp đều thất kinh. Thiếu nữ áo trắng lúc nãy trong tình thế bị kẻ địch khống chế, đột nhiên nàng vọt người ra, đó là chiêu số lợi hại nhất trong kiếm thuật, những kẻ lanh mắt thì đã nhìn thấy cây kim đao của Lão trại chủ bị khuyết mất một mảnh, trong lòng càng kinh khiếp hơn.
Thiếu nữ áo trắng ấy hơi thở dốc, nàng tuy đã chém mẻ cây kim đao của kẻ địch, nhưng bản thân cũng bị cây kim đao của ông ta ép thối lui đến một trượng, hầu như không thu đà kịp, rõ ràng công lực của nàng không thâm hậu bằng ông ta.
Hai người vừa đổi nhau một chiêu, mỗi người đều kinh hãi, khi đấu nữa thì tình thế đã khác hẳn. Chỉ thấy thiếu nữ áo trắng xuyên qua lướt lại tựa như bươm bướm xuyên hoa, kiếm quang loang loáng bất định, thân pháp càng lúc càng nhanh, xoay chuyển nhanh đến nỗi những người đứng xung quanh đều đầu váng mắt hoa, Kim Đao trại chủ thì đứng vững như núi, chẳng hề nhúc nhích. Chợt nghe thiếu nữ áo trắng quát lên lanh lảnh, kiếm quang chợt mở rộng, thế công chợt mạnh mẽ tựa như sông dài biển rộng cuồn cuộn cuốn tới, chỉ thấy kiếm hoa tung bay, kiếm khí ngang dọc, quả thật nàng ra tay nhanh đến nỗi khó hình dung được! Kim Đao trại chủ thì chầm chậm múa thanh kim đao, chân như đóng chặt xuống đất, mặc cho kiếm thế của nàng nhanh như vũ bão, ông ta vẫn không di chuyển nửa bước, đao thế tuy chậm nhưng đao phong vẫn kêu vù vù, thiếu nữ áo trắng đánh một mạch đến năm sáu chục chiêu mà vẫn không tiến vào được. Bọn giặc cướp trong sảnh đường đều mong Lão trại chủ có thể thắng nàng thiếu nữ áo trắng. Phương Khánh tuy không hiểu chiêu số của hai người, nhưng thấy sắc mặt của bọn giặc cướp từ căng thẳng trở nên nhẹ nhõm, trong lòng đã cảm thấy không hay, trong lòng run sợ. Đang lúc kịch liệt, chợt nghe ông già râu dài quát một tiếng: “Đi!” ánh vàng lóe lên, ánh trắng thối lui, chỉ thấy thiếu nữ áo trắng ấy đã bật ra đến hơn một trượng, bọn giặc cướp đều hô vang như sấm dậy!
Thiếu nữ áo trắng phóng người ra mấy bước, thế rồi nàng lại lướt lên, tuy đao thế của ông già râu dài nặng nề, nhưng không thể nào đánh rơi thanh kiếm trong tay của thiếu nữ áo trắng, ông ta đương nhiên cũng rất kinh hãi. Thiếu nữ áo trắng lại lướt lên, kiếm pháp đã thay đổi. Chỉ thấy lưỡi kiếm chém xéo như cuồng phong quét lá, mũi kiếm đâm thẳng như mưa bão đổ xuống, trong vòng kiếm quang, chỉ thấy bốn phương tám hướng đều là bóng của thiếu nữ áo trắng, kiếm quang lúc ở phía đông lúc ở phía tây, lúc tụ lúc tản, bay lượn như chim hồng, mềm mại như dải lụa, không những người đứng xung quanh đều hoa cả mắt, cả Kim Đao trại chủ cũng thất kinh. Kiếm pháp của thiếu nữ áo trắng rất kỳ lạ, vừa nhìn thì nàng tựa như đang cố thủ, nhưng lại tựa như đang tấn công, thật không thể nào hiểu nổi. Kim Đao trại chủ chỉ đành giữ kín môn hộ, thiếu nữ áo trắng đánh một mạch đến hơn năm mươi chiêu, lúc hư lúc thực, biến hóa vô cùng, nhưng Kim Đao trại chủ vẫn không ngừng rê bước, thần sắc ngưng trọng, rõ ràng đã mất sức rất nhiều. Đang lúc kịch đấu, Kim Đao trại chủ chém xéo một đạo, đột nhiên bị mũi kiếm của đối phương móc phải, kéo kim đao ra phía ngoài. Nhát đao này đã dùng tám phần lực, đột nhiên chém hụt, bị đối phương nhẹ nhàng dùng kình lực kìm chế, Kim Đao trại chủ bất đồ chồm người về phía trước, bước tới hai bước, tuy lập tức thu đà lại, nhưng thế thủ đã bị nàng phá vỡ, môn hộ cũng không thể nào giữ kín được nữa.
Kiếm thế của thiếu nữ áo trắng hơi chậm lại, mũi kiếm của nàng đè vào sóng đao rồi xoay qua chuyển lại, ông già râu dài xoáy kim đao, đẩy thiếu nữ áo trắng thối lui mấy bước, nhưng đao và kiếm vẫn cứ dính sát vào nhau, thế công của hai người đều bị chậm lại, một tiến một lùi, lại đánh nhau khoảng một canh giờ nữa. Phương Khánh thấy thiếu nữ áo trắng không ngừng thối lui, trong lòng kinh hoảng vô cùng, chỉ thấy trong sảnh đường yên ắng lạ thường, mọi người xung quanh đều nín thở chờ đợi, không ai dám nói một tiếng nào, chẳng còn tiếng xì xầm như lúc trước, xem ra hình như Kim Đao trại chủ không chiếm được thượng phong.
Quần hào thấy kiếm pháp của thiếu nữ rất kỳ diệu, vừa có chiêu số của Đạt Ma kiếm, vừa có chiêu số của Thái Cực kiếm, nhưng cũng có những chiêu số phiêu hốt như Nhiếp Vân kiếm, lại có những chiêu số nặng nề như Tam Dương kiếm, ai nấy đều vừa kinh ngạc vừa lo lắng. Nhưng Kim Đao trại chủ vẫn không hề nao núng. Kim Đao trại chủ cẩn thận tiến bước về phía trước, thiếu nữ áo trắng đột nhiên ngửa người ra sau, mọi người đều kêu lên: “Trại chủ cẩn thận!”
Nói thì chậm, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, thiếu nữ áo trắng ấy đột nhiên phóng vút người lên, kiếm quang tựa như cầu vồng lại từ trên không bổ xuống, Kim Đao trại chủ cười ha hả rồi quát: “Ngừng tay!” rồi ông ta hạ người xuống, đến khi thiếu nữ áo trắng vừa đâm xuống, đột nhiên chém ngay một đao vào eo nàng, chiêu này kỳ diệu vô cùng, ngoài trừ ném kiếm để đánh bật lưỡi đao ra, sau đó mới có thể lập tức né tránh, thật sự không còn cách nào để chống đỡ. Kim Đao trại chủ rất già dặn, kinh nghiệm rất phong phú, sau một hồi giao đấu, ông ta mới nghĩ ra chiêu này để phá chiêu số của đối phương.
Bọn cao thủ trong đám giặc cướp thấy Trại chủ dùng một chiêu hay, thế là đều kêu ầm cả lên, không ngờ tiếng kêu chưa dứt thì tình thế lại thay đổi, cũng không biết thiếu nữ áo trắng đã dùng thủ pháp gì, chỉ nghe nàng cũng quát một tiếng ngừng tay, thanh kim đao trong tay của Trại chủ đã bật ra, cắm phập vào sà ngang ở trên mái nhà. Té ra thiếu nữ áo trắng đánh mãi không thắng, cũng biết không thể nào kéo dài mãi, thế là tương kế tựu kế, sử dụng một chiêu cứu mạng mà hiểm nhất của sư môn, khi thanh kim đao chém tới, mũi chân nàng điểm nhẹ vào đầu đao rồi chém vào cổ tay của kẻ địch, chiêu số thần kỳ ấy đã giúp nàng từ khách trở thành chủ.
Kim Đao trại chủ không ngờ nàng lại có chiêu này, lúc này ngoại trừ ném đao, chẳng còn cách nào khác. Thiếu nữ áo trắng mỉm cười, đứng xuống đất, xoay người lại đang định lên tiếng thì chợt thấy Kim Đao trại chủ mỉm cười buồn bã, nước mắt tuôn rơi, nàng ta không khỏi ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Chả lẽ lão anh hùng uy chấn cả Hồ lẫn Hán, thua có một chiêu mà đã khóc ư?” Thế rồi mềm lòng, chẳng muốn nói gì nữa. Chỉ thấy Kim Đao trại chủ nhìn chằm chằm vào mình, tựa như khóc tựa như cười, ông ta chậm rãi rút ra một khúc gậy tre, ở một đầu có vết gãy, tựa như vốn là rất dài, sau đó bị người ta vặn gãy. Trên đầu gậy tre còn có dính lông mao lơ thơ, thiếu nữ áo trắng vừa nhìn thấy cây gậy tre thì đã biến sắc, đột nhiên khóc òa lên, quỳ xuống đất.
Điều đó càng khiến cho người ta chấn động hơn. Kim Đao trại chủ tay trái cầm cây gậy, tay phải nhẹ nhàng kéo thiếu nữ ấy đứng dậy, đột nhiên buông giọng cười lớn nói: “Vân Tĩnh có cháu gái như thế này, chết xuống chín suối cũng không thể nhắm mắt!”
Thiếu nữ áo trắng khóc rấm rức, nước mắt vẫn không ngừng rơi, thấy cây gậy ấy thì nhớ lại chuyện mười năm trước kia. Lúc đó nàng chỉ là một bé gái bảy tuổi, gia gia nàng là Vân Tĩnh đã cùng nàng chạy thoát khỏi Mông Cổ, đã từng cho nàng xem cây cờ tiết này, kể lại cho nàng nghe câu chuyện chăn ngựa ở đất Hồ. Nay nhìn lại cây gậy, tựa như gặp lại gia gia, làm sao nàng không đau lòng mà khóc cho được. Kim Đao trại chủ lau nước mắt, đột nhiên nói: “Nay con không phải còn bé nữa, con đã là một nữ anh hùng, không thể khóc như thế! Hãy mau lau nước mắt, chuyện chúng ta vẫn còn!”
Thiếu nữ áo trắng xoay người, đột nhiên phóng vút lên, một tay bấu lấy sà nhà, rút thanh đao xuống, bước tới trước mặt Kim Đao trại chủ rồi quỳ xuống, giơ đao vái đầu nói: “Mong thúc tổ hãy xử tội!”
Lời ấy vừa nói ra, Phương Khánh đã kinh hoảng đến nỗi hồn bay phách tán, nhủ bụng: “Hỏng bét! Hỏng bét! Mình coi đứa con gái này là chỗ dựa, té ra bọn họ đều là người một nhà!”
Ông già râu dài nhận lấy cây kim đao rồi nói: “Con hãy đứng dậy, hãy giữ lại nửa khúc tre này. Tuy khúc gậy này khiến cho người ta đau đớn, nhưng rốt cuộc vẫn là di vật của gia gia con”.
Thiếu nữ áo trắng nhận lấy cây gậy trúc, lau nước mắt, rồi Kim Đao trại chủ phất tay nói: “Phương Khánh, ông hãy tới đây!”
Phương Khánh bủn rủn chân tay, Kim Đao trại chủ mỉm cười, kêu hai người đến đỡ y bước đến, nói: “Bốn mươi vạn lượng quân hưởng đều ở đây, ông hãy đem về cả đi”.
Phương Khánh vui mừng ra mặt, khấu đầu lạy tạ, đột nhiên nghĩ lại chỉ có một mình thì làm sao áp tải? Kim Đao trại chủ tựa như đã biết tâm ý của y, xoay qua nói mấy câu với một đầu mục, đầu mục ra mở cửa trại, một hồi sau thấy một toán lính dắt theo một bầy la xếp hàng ở ngoài trại, Kim Đao trại chủ mỉm cười nói: “Người và ngân lượng đều đã trả, ông có cần đếm lại không?”
Phương Khánh mừng rỡ, đột nhiên nhớ lại một chuyện, mới mạnh dạn hỏi rằng: “Bốn mươi vạn lượng quân hưởng đều ở đây, nhưng còn có bốn mươi thớt la khỏe, trong đó đều là hàng hóa của Đinh tổng binh, dám mong Trại chủ trả về”.
Kim Đao trại chủ cười ha hả rồi nói: “Số hàng hóa của Đinh tổng binh đấy ư? Chỗ hàng đó đủ cho sơn trại bọn ta dùng, cứ giữ lại!”
Phương Khánh lại kinh hoảng, tuy quân hưởng đã lấy lại, nhưng làm mất nhiều hàng của Tổng binh cũng là tội chết, thế rồi mới khấu đầu nài nỉ: “Cầu xin Trại chủ khai ân, giơ cao quý thủ, cứu tại hạ một mạng!”
Kim Đao trại chủ cười lớn nói: “Đinh tổng binh cũng chấp nhận trao cho ta, ông còn luyến tiếc làm gì?” rồi chợt lấy ra một bức thiếp màu đỏ. Phương Khánh nhìn lại, chỉ thấy trên bức thiếp viết rằng: “Chút lễ mọn xin dâng cho Châu lão đại nhân”.
Phương Khánh thất kinh, Tổng binh của Nhạn Môn quan là đại tướng trấn giữ biên quan của triều đình, thế mà đã tặng quà cho đầu đảng của bọn cướp, chuyện này thật là khó hiểu. Y đâu ngờ rằng, Kim Đao trại chủ ấy chính là Tổng binh của Nhạn Môn quan Châu Kiện vào mười năm trước, khi đó Tổng binh Đinh Đại Khả chỉ là một phó tướng dưới tay ông ta. Châu Kiện vuốt râu cười rằng: “Ông vẫn chưa tin ư? Được, tôi sẽ gọi một người ra”. Thế rồi truyền lệnh, lát sau một quân quan bước ra, đó chính là người chuyên tiếp nhận lương thảo của Nhạn Môn quan. Châu Kiện cười rằng: “Y đã đếm đủ bốn mươi vạn lượng bạc, ông có thể yên tâm”.
Phương Khánh vốn rất quen mặt viên quan này, không ngờ lại gặp mặt ở đây, quả thật trong chuyện này vì họa mà được phúc, nhờ đó y mới tránh được phiền toái. Châu Kiện đứng dậy tiễn khách, Phương Khánh và viên quan ấy luôn miệng đáp tạ, Châu Kiện nói với viên quan rằng: “Làm phiền ông hãy báo lại với Tổng binh, ngoại địch đang ở phía trước mặt, chi bằng chúng ta hãy hợp lực đối phó thì hơn. Đừng quên cái hẹn ngày hôm qua”.
Viên quân quan ấy luôn miệng nói: “Vâng, vâng!”
Châu Kiện phất tay nói: “Mạnh Cơ, hãy thay ta tiễn họ xuống núi. Cứ để họ cắm Nhật Nguyệt song kỳ trên Nhạn Môn quan”.
Phương Khánh biết Nhật Nguyệt song kỳ này là đại diện cho Kim Đao trại chủ, chuyến đi này chắc chắn sẽ chẳng xảy ra chuyện gì. Thế rồi xoay người đáp tạ, Mạnh Cơ mỉm cười cùng Phương Khánh sánh vai bước đi, mỉm cười với y rằng: “Phương đại nhân, sau này ông phải luyện thêm thuật bắn cung đấy nhé!”
Phương Khánh nhớ lại hôm trước đã bị y bứt đứt dây cung, bất giác đỏ cả mặt. Châu Kiện đợi cho bọn họ đi xong mới quay đầu lại nói với thiếu nữ áo trắng: “Vân Lối con cũng đến rất đúng lúc!” Vân Lối lòng đầy thắc mắc, mười năm trước nàng đã từng gặp Châu Kiện ở trước Nhạn Môn quan, lần đó đang đánh nhau loạn xạ, Vân Lối lại còn nhỏ, mặt mũi không giống như bây giờ, không ngờ ông ta vẫn có thể nhận ra mình. Châu Kiện tựa như biết nàng đang nghĩ gì, cười rằng: “Đêm nay nếu không dụ con lên núi, buộc con phải sử dụng kiếm pháp độc môn của Huyền Cơ Dật Sĩ, e rằng ta không dám nhận con!”
Vân Lối lúc này mới vỡ lẽ ra, lòng nhủ thầm: “Ông ta vì dụ mình lên núi cho nên đã bỡn cợt Tổng binh Nhạn Môn quan, vị thúc tổ này hành sự e rằng chẳng giống người thường”. Nàng mới bước ra giang hồ lần đầu, vẫn còn tánh trẻ con, miệng tuy không nói nhưng mặt đầy vẻ không hài lòng. Châu Kiện cười ha hả rồi nói: “Cháu gái ngoan, con có biết tại sao ta đã cướp quân hưởng không?”
Vân Lối nói: “Chẳng phải người đã bảo dụ con lên núi đấy ư? Thực ra người không dụ con cũng tự lên”.
Châu Kiện nói: “Tại sao?”
Vân Lối bảo: “Mười năm trước, Triều Âm đại sư cứu con thoát khỏi Nhạn Môn quan, dắt con đến núi Tiểu Hàn ở vùng Xuyên Bắc, trao cho sư phụ nuôi dạy”.
Châu Kiện lại hỏi: “Sư phụ của con có phải là Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh không?”
Vân Lối gật đầu, lại nói tiếp: “Con học được mười năm, sư phụ bảo con xuống núi. Người trao bức huyết thư của gia gia cho con, người bảo kẻ gia gia căm hận nhất là Trương Tôn Châu, bởi vì y đã khiến người đã cực khổ chăn ngựa hai mươi năm, nhưng kẻ hại chết người lại là Vương Chấn. Song sự việc lúc đó như thế nào, sư phụ cũng không rõ. Người bảo ông là bằng hữu tốt nhất của gia gia con, năm xưa vì cái chết của gia gia mà bỏ ra khỏi Nhạn Môn quan. Người nghe nói ông đã làm giặc cướp, không biết là thật hay giả cho nên bảo con xuống núi phải đi tìm ngay người”.
Châu Kiện nghe xong lắc đầu, nở nụ cười khổ sở. Vân Lối ngạc nhiên ngừng nói, chỉ nghe Châu Kiện bảo rằng: “Gia gia của con đã chết mười năm, chuyện này đã trở thành một huyền án”. Thế rồi kể lại mọi chuyện năm xưa, bảo rằng: “Trương Tôn Châu và Vương Chấn cũng cấu kết với nhau, song xem ra chuyện năm xưa gia gia của con thực sự đã chết một cách mù mờ, hai người ấy rốt cuộc ai là hung thủ, ta cũng không biết”.
Vân Lối nói: “Con đã xem hai kẻ ấy là kẻ thù, trong hai người này, con phải tìm đến Trương Tôn Châu trước tiên”.
Châu Kiện gật đầu nói: “Mối thù này chẳng dễ báo!”
Vân Lối nói: “Con mang mối huyết thù của hai đời, chỉ đành tận lực, chết cũng không tiếc”.
Châu Kiện nhẹ thở dài, Vân Lối nói tiếp: “Trước khi đến Nhạn Môn quan, con đã nghe uy danh của Kim Đao trại chủ, thì đoán ngay rằng đó là thúc tổ. Song lúc đó vẫn chưa chắc chắn, thế là đến sống tại Hồ Điệp cốc, định dò hỏi cho rõ ràng mới đến gặp gỡ”.
Châu Kiện cười rằng: “Điều này ta đã biết trước. Sau khi con xuống núi đã từng dùng ám khí mai hoa đánh bại bọn cường đạo, cho nên trên giang hồ đều gọi con là Tán Hoa nữ hiệp!”
Vân Lối nói: “Tên này nghe cũng rất hay, nhưng con không biết”.
Châu Kiện nói: “Con sống ở Hồ Điệp cốc, thủ hạ của ta đã chú ý từ trước. Song cả ta cũng không đoán được đó là con. Cho nên ta mới bày kế dụ con lên núi, thử võ nghệ của con, xem thử con là ai!”
Vân Lối nói: “Cũng chính vì thế, con tưởng rằng suy đoán trước kia của mình đều là sai. Con tưởng nếu là thúc tổ thì chắc chắn sẽ chẳng cướp quân hưởng của Nhạn Môn quan, cho nên con mới dám tỉ thí với thúc tổ”.
Châu Kiện cười ha hả rồi nói: “Ta chưa bao giờ cướp quân hưởng của Nhạn Môn quan, nhưng lần này bảo là vì con, song lại không phải hoàn toàn vì con, chuyện này có mối liên quan rất hệ trọng!”
Vân Lối hỏi: “Mối liên quan gì?”
Châu Kiện nói: “Nhỏ thì liên quan đến sự tồn vong của Nhạn Môn quan và sơn trại của ta, lớn thì liên quan đến toàn cõi núi sông!”
Vân Lối thất kinh, nói: “Cái gì?”
Châu Kiện nhìn sắc trời, đột nhiên nói: “Thời gian không còn sớm nữa, con hãy mau nghỉ ngơi, đêm nay ta sẽ nhờ con giúp một chuyện lớn”. Thế rồi phất tay lên, trong đại trại lập tức vang lên tiếng trống, thiếu niên đã đấu với Vân Lối và một đầu mục khác bước đến bẩm cáo: “Mời Trại chủ điều binh khiển tướng”.
Châu Kiện gật đầu, chỉ thiếu niên ấy nói: “Hắn tên là Châu Sơn Dân, là thúc thúc của con, nhưng không lớn hơn con bao nhiêu tuổi”.
Vân Lối thi lễ rồi nói: “Đã đắc tội”.
Châu Sơn Dân cười rằng: “Bậc cân quắc xuất anh hùng, anh hùng tuổi thiếu niên, cháu gái còn giỏi hơn thúc thúc ta nhiều”.
Thế rồi gọi người đưa Vân Lối vào bên trong nghỉ ngơi. Vân Lối nghe tiếng tù và rúc lên, người ngựa trong trại chạy rầm rập, nào có thể ngủ được. Sau buổi cơm tối, trong trại vắng chỉ còn lại vài người canh giữ, Vân Lối hỏi: “Có phải đánh nhau với quan quân không?”
Châu Kiện bảo: “Không phải”.
Vân Lối nói: “Có phải đánh nhau với bọn Thát tử không?”
Châu Kiện đáp: “Cũng không biết rõ”.
Vân Lối đầy thắc mắc, hỏi: “Vậy thúc tổ điều binh khiển tướng để làm gì?”
Châu Kiện cười rằng: “Con đừng hỏi, hãy cùng ta đến nơi này”.
Rồi cùng Vân Lối thay đồ dạ hành, bước ra khỏi sơn trại, chỉ thấy lúc này đã đến canh ba bầu trời đầy sao. Châu Kiện dắt Vân Lối leo lên ngọn núi ở phía đông, đường đi cây cối um tùm, gai mọc đầy lối, càng đi vào sâu thì càng hiểm trở, Vân Lối lòng đầy thắc mắc, nghĩ bụng thúc tổ là Trại chủ, nay đã điều binh ra ngoài, tại sao không ở lại giữ trại mà một mình đi trong đêm tối như thế này. Trong đêm tối vắng lặng, chợt nghe tiếng nước chảy róc rách, từ xa có tiếng lạ vang lên, tựa như có người huýt sáo, lại giống như tiếng sáo thổi, Châu Kiện kéo Vân Lối nấp vào sau một tảng đá. Dưới ánh sao sa, chỉ thấy sắc mặt Châu Kiện ngưng trọng lạ thường, ông ta cúi người xuống đất lắng nghe, chợt ồ một tiếng rồi lẩm bẩm: “Chả lẽ ta đoán sai?”
Vân Lối lắng tai nghe, tiếng lạ ấy cũng dứt hẳn, ngạc nhiên hỏi: “Thúc tổ nghe được gì?”
Châu Kiện chỉ xuống nói: “Con xem đi”.
Bên dưới vách núi là một sơn cốc bốn phía đều có núi bao bọc, trong cốc rộng rãi, ruộng lúa ngang dọc, ở dưới chân núi là một bờ đê nhân tạo, mặt đê cao khoảng hai tầng lầu, hồ không lớn lắm, chỉ có khoảng mấy trăm mẫu, sóng nước mênh mông. Châu Kiện nói: “Vùng rừng núi ở đây chỉ ăn nước của hồ này, chúng tôi mưu sinh bằng nghề nông cho nên hồ này là mạch sống của sơn trại chúng tôi”.
Hơn mười năm nay Châu Kiện cùng mọi người biến đất hoang thành ruộng tốt, khi nói đến mặt hồ này thì rất đắc ý, ông ta lại thở dài: “Nhưng bọn Thát tử và quan binh không để chúng tôi an cư ở đây, ngày hôm trước ta đã nhận được mật báo, bảo rằng bọn Thát tử sẽ phái cao thủ đến phá hủy đê hồ”.
Vân Lối nói: “Hình như đê hồ chẳng dễ phá được”.
Châu Kiện nói: “Con có điều không biết, giờ đây đã đến tiết khai xuân, mỗi năm vào mùa xuân, ở đây đều có nước lụt, chúng tôi đang ở trên thượng lưu, lại còn xây thêm đê ngăn lụt, chỉ cần đục một lỗ lớn ở bờ đê, nước lũ đổ xuống, nước hồ sẽ dâng cao, lúc đó sơn cốc này sẽ thành đầm nước, mấy ngàn mẫu ruộng trong núi đều chìm dưới biển nước”.
Vân Lối nghiến răng nói: “Thật đáng ghét, nếu bọn chúng đến đây, con sẽ cho bọn chúng mỗi tên một nhát kiếm”.
Châu Kiện nói: “Thủ đoạn tàn ác của bọn chúng đâu chỉ có thế”. Đang nói thì chợt nghe có tiếng lạ vang lên, Châu Kiện lắng nghe nói: “Thật kỳ lạ!”
Vân Lối hỏi: “Có gì kỳ lạ?”
Châu Kiện nói: “Nghe âm thanh này tựa như có rất nhiều ngựa, đuổi theo một phạm nhân vượt ngục. Lúc nãy vừa mới đuổi sang hướng tây, giờ đây đang chạy về phía chúng ta. Ồ, những người này không quen đường lắm, bọn họ đi lòng vòng theo hình chữ chi. Âm thanh đã nhỏ lại, con có nghe được không?”
Vân Lối lắc đầu, Châu Kiện cười rằng: “Sau này con đi lại trên giang hồ, phải luyện thuật nghe âm thanh ở dưới đất”. Thế rồi nói tiếp: “Ta đã đoán đêm nay bọn chúng chắc chắn sẽ đến phá họai, nhưng nghe âm thanh này lại là truy đuổi tù phạm, chả lẽ bọn chúng đã thay đổi?”
Vân Lối đang định hỏi Châu Kiện tại sao đoán bọn chúng đêm nay sẽ tới, đột nhiên Châu Kiện phất tay, bảo ý nàng im lặng, chỉ ra phía ngoài, chỉ thấy ở ngọn núi cách đó bảy tám trượng đột nhiên xuất hiện hai bóng người, với bản lĩnh lắng nghe âm thanh dưới đất của Châu Kiện cũng phải đợi bọn chúng đến gần mới phát hiện, có thể thấy võ công của hai người này cao đến mức nào.
Dưới ánh trăng chỉ thấy hai người Hồ đang đứng trên ngọn núi, một người chỉ tay nói: “Trưa ngày mai, sơn trại rộng trăm dặm này đều sẽ thành đất bằng. Ha ha, lần này trời đã phù hộ cho nước ta, Tổng binh Nhạn Môn quan đã đến nhờ vả trước. Diệt Kim Đao lão tặc xong rồi lấy Nhạn Môn quan dễ như trở bàn tay, lúc này đường đến kinh sư rộng thênh thang, giang sơn chín vạn dặm của nhà Minh đều sẽ thuộc về chúng ta! Đàm Đài tướng quân, công lao của ông rất lớn!” Thế rồi buông giọng cười lớn, âm thanh chấn động cả sơn cốc. Vân Lối nghe xong thất kinh, chỉ nghe người kia nói: “Vương gia tính toán như thần, trên đời này chẳng ai bì kịp, nhưng cũng không thể sơ ý, nếu ngày mai quan quân Nhạn Môn quan tiếp ứng không kịp, chúng ta chia binh thành bốn đường, phải chăng đã lọt vào cạm bẫy? Nếu hợp lại thành hai đường, hình như sẽ chắc chắn hơn nhiều”.
Người lên tiếng lúc nãy lại cười lớn rằng: “Thiên tử nhà Minh đã muốn diệt Kim Đao lão tặc, Tổng binh Nhạn Môn quan lực không đủ, chẳng làm gì được, lần này hẹn chúng ta cùng bao vây, ta không sợ bọn chúng lỡ hẹn, đây là cơ hội ngàn năm có một, đại tướng đã dùng binh, sao lại có thể sợ đầu sợ đuôi?” nói xong lại buông giọng cười lớn.
Vân Lối giật mình, thầm nhủ: “Đàm Đài tướng quân này chẳng phải là tên Đàm Đài Diệt Minh mà nhị sư bá thường nói hay sao? Nếu là y, vậy y cũng là kẻ thù đã giết cha mình, không thể tha cho y được”. Chỉ nghe người được gọi là Đàm Đài tướng quân lại nói tiếp: “Vương gia hãy cẩn thận thì hơn, nơi này nằm trong phạm vi của trại Kim đao”.
Người Hồ ấy lại cười lớn: “Ta đang sợ bọn chúng không xông ra, chúng ta chuẩn bị phá đê, nếu bọn chúng bao vây, chỉ vài chục người chúng ta có thể dụ được chủ lực của bọn chúng, bốn đại quân đánh từ phía bên ngoài như vào chốn không người. Võ nghệ của hai chúng ta đâu dễ bị bọn chúng bắt, quá lắm chỉ là hy sinh vài tên lính phá đê mà thôi”.
Vân Lối nghe xong, trong lòng thầm mắng, lúc này nàng đã hiểu vì sao Châu Kiện gấp gáp đi trong đêm tối như thế, nàng nhủ rằng: “Té ra thúc tổ đêm nay điều binh khiển tướng là đối phó với bốn nhánh binh Hồ đánh lén, mà hẹn mình ra đây là để đề phòng bọn chúng phá đê, thúc tổ không hổ là một đại tướng, lúc nãy mình còn tưởng ông ta đã mạo hiểm”.
Vân Lối nắm chắc chui kiếm, nhưng thấy Châu Kiện sắc mặt căng thẳng, lắc đầu tỏ ý bảo mình đừng làm càn. Chỉ nghe người có tên gọi Đàm Đài tướng quân kêu ồ lên một tiếng rồi nói: “Sao bọn chúng vẫn chưa tới?”
Vương gia ấy cũng tựa như rất nôn nóng. Kẻ được gọi Đàm Đài tướng quân chợt nói: “Ồ, bọn chúng đang đuổi ai thế?”
Chỉ nghe tiếng vó ngựa từ xa vọng tới, đột nhiên thấy có một thớt ngựa phóng ra khỏi sơn cốc, phía sau có mười mấy thớt ngựa đuổi theo, chạy vào trong cánh đồng, vương gia ấy nói: “Đồ vô dụng!” Thế rồi y kéo dây cung. Đàm Đài Diệt Minh kêu lên: “Vương gia đừng giết y!” Lời vừa thoát ra khỏi miệng, vương gia ấy đã phóng tên, trong khoảnh khắc này, Châu Kiện kéo Vân Lối nói: “Giết tên vương gia ấy!” Hai người vọt ra, Vân Lối người nhẹ như chim én, chỉ trồi lên hụp xuống một lần thì đã lướt lên đến đỉnh núi, chưa hạ xuống đất thì đã phóng ra ám khí, sáu mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu chia nhau phóng vào thượng bàn trung bàn và hạ bàn của Đàm Đài Diệt Minh và tên Phiên vương ấy. Nàng căm hận Đàm Đài Diệt Minh là người giết cha mình, ra tay cực kỳ nhanh, cho nên không nghe Châu Kiện căn dặn, đã phóng ám khí về cả hai đại địch. Chỉ nghe Đàm Đài Diệt Minh cười ha hả, đôi câu dựng đứng lên, ba mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu đã bị y gạt bắn ngược ra trở lại, còn tên vương gia ấy thì kêu ối chao một tiếng, ném cây cung xuống đất, lảo đảo phóng về phía trước, tựa như muốn ngã soài xuống nhưng đã đứng vững lại, miệng thì mắng rằng: “Hay cho quân tiểu tặc, dám ám toán ta!” Thế rồi rút thanh yêu đao ra, toan xông về phía trước nhưng chợt đau nhói đến nỗi phải cúi gập người xuống. Té ra món ám khí Mai Hoa Hồ Điệp tiêu mà Vân Lối đã dùng chính là tuyệt kỷ cho Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh truyền cho nàng, có thể đánh vào ba mươi sáu đại huyệt trên thân người. Phiên vương ấy võ công tuy cao cường, nhưng một là vì đang bắn tên, hai là vì không ngờ Vân Lối ra tay quá nhanh, nàng đã phóng ra ba mảnh phi tiêu, y né được một mảnh, gạt được một mảnh, nhưng bị mảnh thứ ba đánh trúng vào huyệt miễn ba ở khớp hông, tuy có nội công tinh thuần, không đến nỗi ngã xuống, nhưng hai chân mềm nhũn, cất bước rất khó khăn. Đó có lẽ y vẫn còn may mắn, nếu bị trúng luôn cả sáu mảnh phi tiêu, y đã không thoát nổi.
Còn Vân Lối phóng ra một lần sáu mảnh phi tiêu mà hai kẻ đại địch vẫn chưa ngã xuống, nàng không khỏi thất kinh. Chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh hú dài một tiếng, xông về phía nàng, xem ra thân thủ của y còn nhanh hơn cả nàng. Vân Lối nghiến răng xoay cổ tay đâm soạt ra một kiếm.
Chính là:
Ngô câu vạch nát cõi sơn hà, dưới kiếm phong câu cuồn cuộn nổi.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 3
Lạ đường gặp cường đạo lén dùng diệu thủ
Kẻ kỳ lạ âm thầm hí lộng giai nhân
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:31 pm

Hồi 3
Lạ đường gặp cường đạo lén dùng diệu thủ
Kẻ kỳ lạ âm thầm hí lộng giai nhân


Đàm Đài Diệt Minh gạt đôi câu qua, thấy đó là một thiếu nữ thì quát rằng: “Gọi bậc trưởng bối của ngươi ra, đôi câu của ta không giết hạng trẻ con vô danh”.
Vân Lối vận kiếm như gió, đâm ra soạt soạt hai kiếm đến trước mặt y, Đàm Đài Diệt Minh giở đôi câu, vận đủ nội lực, đánh bật thanh kiếm của Vân Lối trở lại, quát rằng: “Ngươi muốn chết?”
Vân Lối không hề thối lui, lại đánh qua một chiêu Bạch Hồng Quán Nhật, Đàm Đài Diệt Minh xoay đôi câu, tựa như song long xuất hải cuốn thanh kiếm của Vân Lối vào giữa, Vân Lối xoay bàn tay, chui kiếm đột nhiên bật ngược ra, bay ra khỏi đôi câu. Đàm Đài Diệt Minh kêu ồ một tiếng, thế là câu trái đâm tới, câu phải kéo lại, dẫn thanh kiếm của Vân Lối ra ngoài, khiến cho nàng phải thối lùi ba bước. Vân Lối không đợi đối phương lấn tới, nàng lại phóng người lên, đâm kiếm, Đàm Đài Diệt Minh nhíu mày nói: “Ai dạy ngươi lối đánh thế này? Liều mạng như thế làm sao có thể đối phó với cường địch?”
Vân Lối nói: “Ta phải liều mạng với ngươi!”
Đàm Đài Diệt Minh nghĩ bụng, chờ ta khóa được kiếm của ngươi, xem ngươi có còn hung dữ nữa không rồi sẽ hỏi tại sao liều mạng với ta! Thế rồi đôi câu xoay ngược trở lại, cuộn kiếm của Vân Lối vào giữa. Nào ngờ Vân Lối rất lanh lẹ, đã bị thua thiệt lúc nãy, lần này thì không mắc lừa nữa, nàng giả vờ lỗ mãng, nhưng thực ra rất tinh tế, cổ tay trầm xuống, đột nhiên chém ngược lên.
Keng một tiếng, răng cưa trên câu trái của Đàm Đài Diệt Minh bị mẻ mất một răng. Đàm Đài Diệt Minh kêu lên: “Kiếm pháp hay!” Thế rồi đôi câu thừa thế rút ra, Vân Lối cảm thấy một luồng đại lực dồn tới, hổ khẩu tê rần, chỉ thấy câu quang loang loáng, đâm tới trước ngực mình, Vân Lối xoay kiếm gạt xuống, nhưng đã không kịp nữa, chợt nghe Đàm Đài Diệt Minh quát: “Ngươi là người thế nào với Huyền Cơ Dật Sĩ?”
Vân Lối nhân lúc y quát hỏi, thanh trường kiếm cuộn ngược trở lại, giải thế đánh của Đàm Đài Diệt Minh, quát rằng: “Ngươi không xứng hỏi tôn hiệu của sư tổ ta!”
Đàm Đài Diệt Minh cười ha hả, đôi câu đánh vun vút, buộc Vân Lối phải xoay chuyển theo, không thể nào tấn công được nữa. Vân Lối càng bại càng dữ, bị Đàm Đài Diệt Minh đẩy lùi đến ba bước, nhưng nàng cũng lao lên bốn bước. Đàm Đài Diệt Minh nói: “Sư phụ ngươi cũng chẳng phải là đối thủ của ta, ngươi có biết không?” Thật ra là Đàm Đài Diệt Minh đã nói khoái, công lực của y chỉ bằng Tạ Thiên Hoa, Phi Thiên Long Nữ. Vân Lối không màng đến, tiếp tục vận kiếm đánh lên, liên tục đánh ra những chiêu hiểm hóc, Đàm Đài Diệt Minh cứ bị nàng bám riết lấy thì sát cơ nổi lên, đôi câu mở ra, ngân quang nở rộ, tựa như hai con ngân xà vây chặt lấy Vân Lối, đánh được khoảng hơn hai mươi chiêu nữa thì Vân Lối đã đuối sức, chống đỡ không nổi, Đàm Đài Diệt Minh lúc này mới ra chiêu sát thủ, câu trái chặn lại, câu phải bổ xuống đỉnh đầu nàng, Vân Lối la lên: “Cha, con gái không thể báo thù được cho người rồi!” Thế rồi vận lực gạt lên, đã biết rõ lực của đối phương nặng đến ngàn cân, có đỡ cũng không nổi, không ngờ câu kiếm vừa chạm nhau, lực đạo của chiêu ấy không nặng như nàng tưởng tượng. Chỉ nghe Đàm Đài Diệt Minh quát rằng: “Này, nhà ngươi có phải là cháu gái của Vân Tĩnh không?”
Vân Lối rút kiếm lại, mắng rằng: “Tên gian tặc phản quốc, ngươi còn dám gọi tên của gia gia ta”.
Đàm Đài Diệt Minh đột nhiên cả giận, cười lạnh: “Dầu sao Đàm Đài Diệt Minh này cũng đã bị bọn ngươi sỉ vả, dù cho có lấy mạng ngươi thêm nữa cũng chẳng hề chi!” Thế rồi đôi câu xoáy tít, tiếp tục xông lên. Vân Lối tuy giỏi kiếm pháp, nhưng nào có thể đỡ được? Trong chớp mắt có lẽ sẽ chết dưới đôi câu của kẻ địch. Đang lúc kịch đấu, chợt nghe bọn lính Hồ kêu la vang trời ở bên dưới, chắc là Châu Kiện đã đại triển oai thần, thu được toàn thắng. Vân Lối chợt yên lòng, bỗng nghe tên Phiên vương kêu lên: “Đàm Đài tướng quân, đừng ham đánh, Kim Đao lão tặc đã đến!” Trong tiếng quát, Châu Kiện đã cầm đao xông tới, liên tục đánh ra ba chiêu liên hoàn Tam Dương Khai Thái, keng một tiếng, đôi câu bị gạt ra, chân phải quét xuống đất, lớn giọng mắng: “Hôm nay ta phải phanh thây tên gian tặc nhà ngươi ra muôn mảnh!”
Đàm Đài Diệt Minh vừa tiến lên đã né qua, y nghe thế thì cười lạnh, đôi câu lại đâm tới, nói rằng: “Được, ta phải xem ngươi có bản lĩnh gì!” Thế rồi đánh ra mấy chiêu gạt, đỡ, móc, cắt, chặn rồi buông giọng cười lớn: “Kim đao cái gì, theo ta thấy chẳng qua chỉ là một thanh sắt vụn”. Câu quang vừa lóe lên, keng một tiếng, đã vạch một lỗ lên sóng kim đao, Châu Kiện cả giận phóng lên, liên tục chém ra ba đao, Vân Lối cũng đâm ra hai nhát kiếm. Hay cho Đàm Đài Diệt Minh, câu trái chặn đao, câu phải chống kiếm chẳng hề nao núng, mặc cho Châu Kiện lực đạo nặng nề, Vân Lối nhẹ nhàng linh hoạt, đao kiếm cùng đánh tới, nhưng cũng không hề chặn được y. Ba người đều đã nổi sát cơ, đều xoay tít như bông vụ, đôi song long hộ thủ câu của Đàm Đài Diệt Minh múa tít nhẹ nhàng trong ánh đao bóng kiếm, toàn là công nhiêu thủ ít. Châu Kiện và Vân Lối đánh mãi không được, đều thất kinh nhủ rằng: “Từ lâu đã nghe kẻ này là đệ nhất dũng tướng của Ngõa Thích, quả nhiên lời đồn không ngoa. Nhân tài như thế này mà theo bọn người Hồ thật đáng tiếc”.
Chỉ nghe Phiên vương ấy lại thúc giục: “Đàm Đài tướng quân, thời cơ đã đến, đừng ham đánh nữa!”
Châu Kiện chợt nhủ “Bắt giặc trước hết phải bắt vua, mình cần gì phải khổ đấu với y?” Thế rồi cố gắng vung ra một đao, đẩy lùi Đàm Đài Diệt Minh ba bước, kêu lên: “Vân Lối hãy ứng phó vài chiêu”. Thế rồi nhảy vọt ra, một đao chém xuống tên Phiên vương ấy. Vân Lối nhanh nhạy vô cùng, nàng lập tức bù vào chỗ trống, thanh kiếm lại đâm nhanh tới, chiêu kiếm là một chiêu sát thủ tinh diệu, võ công của Đàm Đài Diệt Minh tuy hơn hẳn nàng, nhưng trong lúc gấp gáp thì cũng chỉ đành né tránh.
Phiên vương ấy thấy Châu Kiện chém tới một đao, vội vàng giở thanh yêu đao lên gạt ra, keng một tiếng, hai thanh đao chạm vào nhau, Châu Kiện thất kinh thầm nhủ: “Khí lực của tên Phiên vương này thật ghê gớm! Bị thương mà vẫn có thể chống đỡ được mình”. Hổ khẩu của Phiên vương ấy đã rách toạc, lại không thể nhảy vọt né tránh, cho nên hồn vía chẳng còn. Châu Kiện đánh liền ra ba nhát đao, đến khi nhát đao thứ ba thì Phiên vương ấy chịu đựng không nổi nữa, thanh yêu đao vụt khỏi tay, Châu Kiện lại xông tới chém xuống tên Phiên vương ấy. Tên Phiên vương kêu lên: “Mạng ta đã xong!” Thế rồi mặc cho cơn đau ở khớp gối, chỉ đành lăn người xuống đất. Châu Kiện chém hụt một đao, lại vung đao chém tiếp, chợt cảm thấy sau lưng có tiếng gió, trở tay gạt lại thì chỉ nghe keng một tiếng, chấn động đến nỗi mã bộ không còn vững nữa. Chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh đã phóng đôi câu về phía mình, hai tay không tóm lấy tên Phiên vương ấy, phóng người bỏ chạy.
Châu Kiện nào chịu bỏ qua, ông ta vội vàng vọt theo giơ đao chém xuống, Đàm Đài Diệt Minh một tay ôm tên Phiên vương, đột nhiên đánh ra một thế Phượng Hoàng Điểm Đầu, người hạ thấp xuống, chưởng phải quét ngang ra, chiêu này rất mạo hiểm, chiêu số của Châu Kiện tuy hiểm hóc nhưng rút đao không kịp, trong lúc nguy cấp chỉ đành rút cây đao vào trong. Chỉ nghe bốp một tiếng, cổ tay của Châu Kiện bị chưởng phong quét trúng, thanh kim đao rơi xuống đất, Đàm Đài Diệt Minh cũng trúng một đòn ngay ngực, đau đến nỗi tối sầm mặt mũi, nhưng chẳng hề kêu lên một tiếng, mà cõng tên Phiên vương chạy gấp.
Vân Lối bị y đẩy lùi trong vòng mười chiêu, thấy thúc tổ đã thất bại, vừa thẹn vừa giận, nàng phóng người đuổi theo, vung tay ném ra ba mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu. Đàm Đài Diệt Minh không thèm ngoái đầu lại, trở tay đón lấy, tóm hết toàn bộ ám khí, rồi ném lại, lực đạo rất kinh người, tiếng gió kêu lên xoèn xoẹt, Vân Lối cũng không dám tiếp, đành phải lách qua một bên. Chỉ thấy ba mảnh phi tiêu bắn vào một tảng đá bên đường, lửa bắn ra tung tóe, nhưng không hề rơi xuống mà đều cắm trên tảng đá. Vân Lối thất kinh, Đàm Đài Diệt Minh thì chạy nhanh như gió, đã vượt qua một góc núi. Vân Lối toan đuổi theo, chợt nghe ở sơn cốc phía đông có tiếng pháo nổ rung chuyển núi rừng, Châu Kiện kêu lên: “A Lối, đuổi theo không kịp nữa rồi”. Trong khoảnh khắc, chỉ nghe bốn hướng đều có tiếng pháo nổ vang lên, trong khoảnh khắc trời rung đất chuyển, Châu Kiện nhặt thanh kim đao, giơ ngang đao cười lớn: “Mặc cho bọn Thát tử suy tính kỹ càng, cuối cùng cũng rơi vào rọ của ta”.
Vân Lối đang định hỏi thì Châu Kiện đã vẫy tay nói: “Hãy mau giúp ta cứu người”.
Vân Lối ngạc nhiên theo ông ta xuống núi. Chỉ thấy thây người nằm khắp nơi, máu nhuộm sơn cốc, đó toàn là lính Hồ bị Châu Kiện giết, Vân Lối không dám nhìn thẳng, Châu Kiện gọi: “A Lối, con có mang theo thuốc kim sangg giải độc hay không?” Rồi quay đầu lại cười rằng: “A Lối, con sao thế? Nếu đã sợ thì làm sao báo thù?”
Vân Lối nói: “Liều mạng với kẻ giặc chẳng hề gì, nhưng thấy người chết không toàn thây thì con không nỡ lòng”.
Châu Kiện cười lớn nói: “Chiến trường cảnh tượng thê thảm hơn cũng có! Đến đây, đến đây, nhìn quen rồi sẽ chẳng thấy sợ nổi”.
Vân Lối bước tới, thấy Châu Kiện ôm một võ sĩ ăn mặc theo kiểu người Hán, trên lưng võ sĩ ấy có cắm một mũi tên dài, xem ra đã sâu vào quá nửa. Vân Lối nói: “Còn cứu được không?”
Châu Kiện nói: “Còn chút hơi thở, thử xem sẽ biết”.
Vân Lối nói: “Con có mang theo thuốc Kim sang giải độc, nhưng không biết có dùng được hay không?”
Châu Kiện nhận lấy bình thuốc, nhẹ nhàng rút mũi tên ra, chỉ thấy máu ứ màu đen theo mũi tên vọt ra, Châu Kiện nói: “Mũi tên này thật độc!” Thế rồi rải thuốc Kim sang lên, sau đó lại xoa bóp cho người bị thương một hồi, chỉ thấy kẻ bị thương ấy hơi hé mắt, nhưng hơi thở rất yếu ớt, vẫn chưa thể nói nên lời. Châu Kiện lắc đầu, Vân Lối hỏi: “Thế nào rồi?”
Châu Kiện bảo: “Đây là loại độc tiễn thấy máu chặn mạch của Mông Cổ, không có thuốc giải độc của bọn chúng thì không thể trị được. Nhưng nội công của người này đã có mấy thành hỏa hầu, cho nên có thể gắng gượng được cho đến lúc này. Thuốc giải của con và thuật xoa bóp của ta có thể giúp y tỉnh lại một lúc nhưng cũng không qua nổi ngày mai”.
Vân Lối buồn bã nói: “Dù sao cũng chết, chi bằng đừng cứu thì hơn, để y khỏi chịu đau đớn”.
Châu Kiện nói: “Người này thoát ra khỏi đất Hồ, bị bọn Thát tử đuổi theo, chắc là có bí mật trọng đại, nếu không giúp y nói ra, y chết không nhắm mắt”. Thế rồi lấy ra một cây nhân sâm Cao Li, dùng đao chặt thành hai khúc, bỏ vào trong miệng người này, sau đó nhẹ nhàng đặt y xuống đất, sâm Cao Li là thứ có thể bổ khí giữ mạng, xem ra Châu Kiện muốn dùng thứ này để giúp cho y có cơ hội hồi quang phản chiếu. Lúc này, chỉ nghe tiếng la hét chấn động trời đất ở xung quanh, tiếng pháo nổ đùng đùng nghe muốn rách tai. Châu Kiện cầm thanh đao lên cười rằng: “Không đến ngày mai, bọn Thát tử sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Vân Lối đã biết tại sao ta cướp quân hưởng của Nhạn Môn quan chưa?”
Vân Lối nghĩ ngợi một hồi, vỗ tay cười rằng: “Đúng là diệu kế, thúc tổ cướp quân hưởng, Tổng binh Nhạn Môn quan đương nhiên sẽ phải nghe lệnh của người. Bọn Thát tử hẹn y xuất binh, người bảo y án binh bất động, như thế người ở chỗ tối, kẻ địch ở chỗ sáng, kế hoạch hành quân đảo lộn, lần này đương nhiên là người đã đánh thắng!”
Châu Kiện rất đắc ý, cười rằng: “Đinh Đại Khả thật ra cũng không xấu lắm, nhưng chỉ là ham muốn công danh, triều đình bảo y càn quét sơn trại, binh lực của y không đủ, cho nên mới cấu kết với bọn Thát tử. Ta cướp quân hưởng của y, hỏi y chịu để bọn loạn binh chém chết hay là đối phó với bọn Thát tử. Y cân nhắc nặng nhẹ, chỉ đành nghe lời ta”. Nói đến đây thì đột nhiên không ngừng buông giọng cười.
Vân Lối hỏi: “Thúc tổ cười cái gì?”
Châu Kiện nói: “Trong văn thư hằng ngày Đinh Đại Khả ấy gọi ta là Kim Đao lão tặc, đến khi gặp mặt ta thì toàn gọi là lão thượng ti!”
Vân Lối không nhịn cười được, hỏi: “Trước khi y đến đây, có biết Kim Đao lão tặc chính là lão thượng ti của y không?”
Châu Kiện nói: “Y do một tay ta nâng đỡ, đã thấy bản lĩnh kim đao của ta, có lẽ đã đoán được đó là ta, song bình thường y giả vờ không biết mà thôi. Trước đây khi chạm mặt với quan quân, ta thường đeo mặt nạ mục đích là không muốn để quan quân biết ta mà thôi”.
Vân Lối nói: “Tại sao?”
Châu Kiện nói: “Nếu để bọn tiểu binh biết ta là Tổng binh của bọn chúng, có lẽ quá nửa sẽ theo ta. Nhạn Môn quan là nơi quan trọng ở biên cương, cần phải có quan quân phòng thủ. Cho nên ta chỉ chiêu nạp những kẻ nghèo khổ chứ không nhận quan quân”.
Vân Lối tuổi còn nhỏ, bình thường không hề nghĩ đến những chuyện này, đến khi nghe xong thì cảm thấy thúc tổ suy nghĩ sâu xa, bất giác ngẩn người ra. Chợt nghe Châu Kiện nói tiếp: “Hay lắm, tỉnh dậy rồi”.
Chỉ thấy người ấy xoay người, thều thào nói: “Các người là ai? Hãy mau đưa ta đến gặp Kim Đao trại chủ”.
Châu Kiện nói: “Ta chính là Kim Đao trại chủ”.
Người ấy nói: “Ông có biết cháu gái của Vân Tĩnh đang ở đâu không?”
Vân Lối thất kinh nói: “Ta chính là Vân Lối!”
Người ấy đột nhiên mở to mắt, nói: “Cô nương chính là Vân Lối, rất tốt, rất tốt! Vậy coi như ta chết cũng nhắm mắt. Ca ca của cô nương đang còn sống, giờ đây đang lên kinh khảo thí, cô nương hãy đi tìm y”.
Vân Lối thất kinh, nàng còn có một người anh, tên gọi Vân Trọng, lúc năm tuổi, cha của nàng là Vân Đăng đã gửi cho một người làm học trò. Chuyện này sau đó nàng vẫn nghe sư phụ nói. Té ra sư tổ của nàng là Huyền Cơ Dật Sĩ có năm đệ tử, ngoại trừ người cha Vân Đăng của mình, chưa học xong nghề đã đến đất Hồ cứu cha, bốn người còn lại đều học một bộ võ công của sư tổ. Triều Âm hòa thượng xếp hạng thứ hai, đã được truyền Phục Ma trượng pháp và Ngạnh công ngoại gia; Tạ Thiên Hoa xếp hàng thứ ba, Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh xếp hàng thứ tư, mỗi người đều học một môn kiếm thuật. Đại đồ đệ tên gọi Đổng Nhạc, được truyền cho Đại Lực Kim Cương thủ, Vân Trọng là đồ đệ của ông ta. Đổng Nhạc sau khi đến Mông Cổ thì lại đi Tây Tạng, đã mười mấy năm nay không nghe tin tức, Vân Trọng sống hay chết, không ai biết. Nay Vân Lối đột nhiên nghe tin của người anh chưa bao giờ gặp mặt này, không khỏi ngạc nhiên và vui mừng, vội vàng hỏi: “Ngươi là ai?”
Người ấy bảo: “Ta chính là sư huynh của đại ca cô nương”.
Vân Lối nói: “Ồ, vậy thì huynh cũng chính là sư huynh của tôi”.
Đang định hỏi tin tức của Vân Trọng, người ấy đã trợn ngược hai mắt, thều thào nói: “Còn có chuyện quan trọng hơn, bọn Thát tử định vây đánh sơn trại của các người, cắt đường nước của các người”.
Châu Kiện nói: “Điều này ta đã biết, huynh đài có nghe tiếng pháo nổ không?
Chúng ta đã đánh thắng”.
Người ấy nở nụ cười, giọng nói đứt quãng: “Bọn chúng định xuất binh đánh Minh triều, ông phải tìm cách báo cho Hoàng thượng. Ta... ta... có một bức thư trao cho ông. Hay lắm, ta gặp được các người, đã có thể ra đi”. Giọng nói càng lúc càng nhỏ, đến khi nói xong thì tim không còn đập nữa, nhưng mặt vẫn giữ nụ cười. Châu Kiện thở dài, rút bức thư rồi nhóm lửa lên, vừa nhìn đã nói: “Là thư của đại sư bá con”. Chữ viết trong bức thư không ngay ngắn, chắc là viết rất vội. Châu Kiện mở bức thư đọc rằng: “Kẻ nhà quê ở chốn núi rừng, gởi thân nơi đất Hồ, chỉ biết ngày đêm say sưa. Bình sinh không có gì đáng tiếc, chỉ tiếc là không có dịp gặp ngài”. Châu Kiện nghĩ thầm: “Đổng Nhạc quả thật có ý”. Thế rồi đọc tiếp: “Tiên sinh và tôi chưa bao giờ gặp nhau, nhưng nhờ vào Tạ Thiên Hoa hiền đệ, tôi mới biết tiên sinh hiệp khí hào phong, giang hồ đều kính ngưỡng, tiên sinh tuy chiếm núi tự lập, cự Hán chống Hồ, triều đình tuy khắc bạc vô ơn, thế nhưng tôi biết tiên sinh không muốn thấy người Hồ đánh xuống phía nam, Trung Nguyên trở thành đất của bọn Man Di”. Châu Kiện thầm nhủ: “Kẻ này quả thật là tri kỷ của mình”.
Châu Kiện lại đọc tiếp: “Từ sau khi vua Ngõa Thích Thoát Hoan chết đi, con của y nối ngôi, lúc đầu làm Thừa tướng, sau đó tự phong Quốc sư, nắm quân chính đại quyền, chỉnh đốn quân ngũ, ý đồ muốn chiếm Trung Nguyên, gần đây hạ chiếu cho dân chúng đóng góp lương thảo, ngày khởi binh không còn xa.
Tên tiểu đồ Vân Trọng nôn nóng báo thù cho cha, đã viết thư để lại rồi về Trung Nguyên, hắn còn trẻ hiểu biết nông cạn, nào biết quyền thần nắm quyền. Mong tiên sinh nhớ tình cố nhân, dạy dỗ cho Vân Trọng. Nghe nói Vân Đăng còn có một đứa con gái tên gọi Vân Lối, nếu tiên sinh biết tung tích của nó thì hãy báo cho nó biết còn có một người anh. Còn Thiên Hoa sư đệ hơn mười năm trước đã mất tích ở đất Hồ. Trên giang hồ đồn rằng, hắn đã bị Trương Tôn Châu hãm hại, có người bảo là bị nhốt ở đất Hồ, chắc là một tay khó vỗ nên kêu, không ai giúp đỡ. Xin chuyển lời với Triều Âm và Doanh muội mau chóng đến đất Hồ, mọi việc đều nhờ vào ông, xin đa tạ”.
Châu Kiện đọc xong bức thư, gấp thư lại thở dài. Vân Lối nói: “Đã như thế, con sẽ lên kinh tìm đại ca”.
Châu Kiện nhìn nàng, tựa như đang có điều gì suy nghĩ, sau đó mới nói: “Cũng được”.
Vân Lối nhìn sắc mặt của ông ta, cảm thấy rất kỳ lạ, Châu Kiện nói: “Ta nghe nói Thiên tử hiện nay hạ chiếu tìm kẻ có tài năng, cuộc tỉ võ mùa thu năm nay cho phép những người chưa có công danh, sau khi đã sơ khảo cũng được đến hiệu trường thi Võ trạng nguyên. Đại ca của con có lẽ là muốn tiến thân bằng con đường này, mượn binh lực của triều đình để báo thù cho gia gia. Nhưng giờ đây bọn quyền thần đang nắm quyền, có lẽ cũng chẳng làm được trò trống gì”. Nói đến đây, ngẩng đầu lên nhìn sao trời, chợt hỏi: “A Lối, con có đọc qua bức thư Lý Lăng gởi cho Tô Vũ hay không?”
Vì gia gia của nàng khi còn sống thường tự so với Tô Vũ, cho nên tử sau khi Vân Lối biết đọc sách, sư phụ đã dạy cho nàng bài văn này, cho nên gật đầu. Châu Kiện nói: “Lý Lăng năm xưa cầm quân chống Hồ, chỉ năm ngàn quân đánh với mười vạn quân, ban đầu đã thắng lợi, đuổi thẳng lên phía bắc. Sau đó vì kẻ địch quá đông đúc nên bị quân Hồ bắt giữ, nhưng nhà Hán đã giết hết cả nhà ông ta. Bởi vậy Lý Lăng mới không muốn trở về Hán nữa. Ông ta viết thư gởi cho Tô Vũ rằng: “Trên có mẹ già, dưới có vợ con vô tội, mình đang chịu ơn nước, ông về thì được vinh, tôi ở lại thì bị nhục!” những câu nói ấy thật bi thống. Hành vi của Lý Lăng có thể thông cảm, nhưng thực sự rất đáng buồn!”
Nói xong thì ngửa mặt thở dài, Vân Lối nói: “Thúc tổ, người lúc nào cũng chống cự binh Hồ, Lý Lăng làm sao có thể bì được người?”
Châu Kiện nói: “Khi con bảy tuổi, nghe chuyện của gia gia con, giờ đây ta cũng kể cho con nghe một câu chuyện. Năm xưa ta trấn thủ biên quan, đã đánh mấy mươi trận, mỗi trận đều thắng, ai ngờ Hoàng thượng nghe lời sàm tấu, đã bãi miễn chức quan của ta. Nhưng điều đó chẳng hề chi, còn gia gia của con thì có thể sánh với Tô Vũ, cảnh ngộ càng thảm hơn, cuối cùng cũng bị Hoàng thượng ban chết, đó là lẽ trời ư? Bởi vậy, năm xưa ta phẫn nộ ra khỏi biên quan. Lúc ấy vẫn chưa có lòng chiếm núi tự lập. Sau đó Thiên tử triều Minh cũng giống như Thiên tử triều Hán đối với Lý Lăng, giết chết cả nhà ta, may mà lão bộc trung thành đã cứu được đứa con nhỏ của ta, hắn chính là người đã dụ con lên núi”.
Vân Lối nước mắt dâng trào, nhìn Châu Kiện thấy sắc mặt nặng nề của Châu Kiện thì chẳng nói ra lời. Chỉ thấy Châu Kiện giơ đao chỉ về phía hai ngọn cờ đang bay phấp phới: “Nhưng kỳ hiệu của ta vẫn là Nhật Nguyệt kỳ!”
Vân Lối nhìn Nhật Nguyệt song kỳ đang tung bay song gió, một bên là mặt trời đỏ, một bên là mặt trăng cong, hợp lại chính là chữ Minh, thế rồi thầm nhủ trong lòng: “Té ra thúc tổ trở thành thảo khấu nhưng cũng không quên triều Minh”.
Châu Kiện nói: “Nếu con tìm được đại ca, bảo hắn không cần thi Võ trạng nguyên nữa. Hãy về với ta. Triều đình khắc bạc vô ơn, nhìn tấm gương của gia gia con còn chưa biết sợ ư?”
Vân Lối nói: “Thúc tổ nói đúng lắm”.
Châu Kiện gấp bức bỏ vào trong áo, lại nói tiếp: “Tam sư bá Tạ Thiên Hoa của con anh phong hiệp cốt, cũng là người ta rất khâm phục, nhớ lại mười năm trước, ông ta đã cùng với Triều Âm đại sư, một người nuôi con côi, một người báo thù. Nay Triều Âm đại sư đã nhờ sư muội của ông ta nuôi con thành người, nhưng chuyện Tạ Thiên Hoa báo thù vẫn mờ mịt, quả thật khiến cho người ta thương cảm”.
Vân Lối nói: “Con sẽ báo lại cho gia sư, bảo người và nhị sư bá cùng đến đất Hồ tìm tam sư bá”.
Châu Kiện nói: “Con chỉ có một mình làm sao đi hai hướng, thế này vậy, con hãy đi tìm đại ca của con, còn ta sẽ thông báo cho sư phụ của con”.
Vân Lối nói: “Vậy thì tốt còn gì bằng, ngày mai con sẽ lên đường”.
Châu Kiện mỉm cười nói: “Con hãy nán lại vài ngày. Luận về võ công ta không bằng con, nhưng có vài thứ con phải học ở ta”.
Đằng đông trời đã hửng sáng, tiếng pháo đã dần tắt, Châu Kiện và Vân Lối trở về đại trại, đến trưa thì bốn đường phục binh đã trở về núi, quả nhiên đã thu được toàn thắng, quân Mông Cổ bị đánh chẳng còn manh giáp, vô số người bị bắt làm tù binh. Châu Kiện hạ lệnh ban thưởng, bận rộn cả nửa ngày thì mọi việc mới xong, lúc này mới cười nói với Vân Lối rằng: “Con tuy võ nghệ cao cường, nhưng chẳng hiểu chuyện trên giang hồ, ta sẽ bảo Sơn Dân dạy cho con”.
Ba ngày trôi qua, Châu Sơn Dân giảng giải tường tận các bang phái những điều cầm kỵ trên giang hồ và những nhân vật đã nổi tiếng, các mối ân oán giữa các môn phái. Vân Lối rất thông minh, lại nhớ rất nhanh, học ba ngày thì đã nắm mọi chuyện trong tay. Châu Kiện sợ nàng không đủ kinh nghiệm, không quen nhiều người, thế rồi mới trao một đôi Nhật Nguyệt song kỳ cho Vân Lối: “Hai lộ anh hùng thủy bộ ở năm tỉnh phía bắc thấy kỳ hiệu này đều sẽ nhường mấy phần, nếu con gặp nguy hiểm thì hãy lấy kỳ hiệu này ra, song không nên tự tiện dùng nó”.
Vân Lối nhủ thầm: “Mình đi lại trên giang hồ là để rèn luyện kinh nghiệm, nếu dùng kỳ hiệu này thì còn có ý nghĩa gì nữa?” song nàng cũng nhận lấy.
Châu Kiện lại lấy ra vài bộ đồ nam tử và kim ngân châu báu rồi nói: “Thiếu nữ một mình đi vào chốn kinh sư sẽ khiến cho người ta để ý, con hãy thay bộ đồ này, rồi bỏ trâm cài, giữ lại châu báu để dùng trên đường”.
Vân Lối nghĩ cũng đúng, thế rồi thay bộ đồ, nhận lấy châu báu, bái biệt xuống núi.
Châu Kiện nói: “Sơn Dân, con hãy đưa Vân Lối một đoạn”.
Ra khỏi sơn trại, cả hai đổi khoái mã, đến trưa thì đã vượt qua Nhạn Môn quan, tới con đường lớn dẫn tới kinh sư. Vân Lối nói: “Thúc thúc hãy quay về”.
Châu Sơn Dân nhìn nàng thắm thiết rồi buồn bã nói: “Con phải quay về đấy!” nhưng vẫn cứ sánh vai đi cùng Vân Lối, luyến tiếc không rời. Vân Lối mỉm cười nói: “Thúc thúc, xin đa tạ người. Người hãy quay về thôi”.
Châu Sơn Dân đột nhiên đỏ mặt, cười rằng: “Thực ra ta cũng hơn muội vài tuổi, đời trước của chúng ta tuy là thâm giao, chẳng phải huynh đệ. Luận về tuổi tác, chúng ta hãy cứ xưng huynh gọi muội là hợp hơn”.
Vân Lối ngạc nhiên, nhớ lại mấy ngày trước, Châu Sơn Dân rất quan tâm đến nàng, trong lòng thầm nhủ: “Vị thúc thúc này rất tốt, nhưng nói chuyện có hơi ký quặc”. Vân Lối vẫn còn nhỏ tuổi, đâu có hiểu được dụng ý của y, thế rồi mỉm cười nói: “Người bảo tôi gọi người là thúc thúc sẽ già ư? Thôi được, sau này khi trở về, tôi sẽ bẩm cáo cho thúc tổ, đổi cách xưng hô là được”.
Châu Sơn Dân đỏ mặt, Vân Lối mỉm cười thúc ngựa phóng lên trên con đường cái quan, khi ngảnh đầu nhìn lại chỉ thấy Châu Sơn Dân đang đứng thẩn thờ nhìn theo.
Trên suốt quãng đường chẳng có chuyện gì xảy ra, ngày thứ ba thì đã đến Dương Phúc, đó là nơi rất phồn hoa. Khi mới vào thành, chỉ thấy toàn là quán rượu, Vân Lối đã thấy đói bụng, thầm nhủ: “Từ lâu đã nghe nói rượu Sơn Tây rất ngon, hôm nay phải uống một chén xem thử”. Thế rồi nàng bước vào một quán rượu, thấy bên ngoài cửa có cột một con ngựa trắng trông rất oai phong. Vân Lối đến gần xem, chợt thấy ở góc tường có ký hiệu của nhân vật giang hồ, Vân Lối nổi lòng tò mò, bước lên lầu, chỉ thấy có một thư sinh ngồi một mình uống rượu ở cửa sổ phía nam. Ở phía đông có hai hán tử thô hào, một người béo một người gầy, Vân Lối đứng một bên thấy rõ, hai người kia chỉ giả vờ uống rượu, nhưng chốc chốc lại lướt nhìn thư sinh. Thư sinh ấy ăn mặc rất sang trọng, tựa như là công tử nhà giàu, y uống rượu một mình, hết chén này đến chén nọ, người đã ngật ngưỡng, đột nhiên y cao giọng ngâm: “Trời sinh ta tài tất hữu dụng, ngàn vàng tiêu hết lại trở về. Nấu dê giết bò làm trò vui, rồi lại cùng cạn ba trăm chén”. Y ngồi nghiêng qua ngửa lại, lại uống cạn thêm một chén nữa. Vân Lối nghĩ bụng: “Tú tài này quả thật không biết thế gian hiểm ác, cường đạo đang dòm ngó một bên, nhưng lại cứ mãi uống rượu”.
Hán tử gầy ốm ngồi ở phía đông nói: “Uống cạn ba trăm chén, hay lắm! Huynh đệ, người khác uống được ba trăm chén, ba chén này sao huynh đệ không uống?”
Đồng bọn của y đứng dậy kêu: “Nói vậy, ngươi đã uống một chén mà bảo ta uống ba chén!”
Hán tử gầy ốm nói: “Ngươi to xác hơn ta đến ba lần, ta uống một chén, ngươi phải uống ba chén mới được”.
Hán tử béo tốt nói: “Vớ vẩn, ta không uống!”
Hán tử gầy ốm nói: “Ngươi có uống hay không?” Thế rồi bưng bình rượu lên rót, hán tử to béo nổi giận, đẩy mạnh một cái, rượu văng tung tóe, cả hai người lao vào nhau giằng co, trong chốc lát đã đẩy đến bên cạnh thư sinh ấy, thư sinh giận dữ quát: “Sao lại có lý này!” Chợt nghe keng một tiếng, hầu bao của thư sinh ấy rơi xuống đất, vài đỉnh vàng nhỏ và một xâu chuỗi ngọc trai rơi ra, xâu chuỗi ngọc trai ấy sáng chói, tuy giữa ban ngày nhưng cũng không thể nào che giấu được ánh sáng phát ra. Thư sinh ấy một chân đạp lên hầu bao, cúi xuống nhặt chuỗi ngọc trai và đỉnh vàng, kêu lên: “Các ngươi định ăn cướp?”
Hai hán tử ấy đột nhiên ngừng tay, quát: “Ai cướp của ngươi? Ngươi dám đổ thừa lão tử đánh ngươi đây!”
Khách khứa bên cạnh đều đứng dậy khuyên nhủ. Vân Lối thầm cười: “Hai hán tử này rõ ràng là cường đạo, giả vờ say rượu, cố ý làm rơi túi tiền của thư sinh ấy. Nhưng có mình ở đây, mình không thể để cho bọn chúng tung hoành”. Vân Lối biết thế, hai chưởng đẩy về phía trước, nói: “Sao các người lại gây sự như thế?” Thuận tay sờ vào, moi được ngân lượng của hai hán tử ấy, Vân Lối tay chân lanh lẹ, trong lúc ồn ào đã đánh cắp được ngân lượng mà chẳng ai biết. Hai hán tử ấy bị nàng đẩy, ngực đau nhói, thất kinh không dám lớn tiếng nữa, chỉ ấp úng nói: “Ai bảo hắn đổ thừa bọn ta đánh cắp?”
Người bên cạnh khuyên rằng: “Xong rồi. Các người đụng vào người ta là đã không đúng, hãy quay về uống rượu thì hơn”.
Thư sinh ấy giơ chén rượu lên nói: “Huynh đệ, huynh cũng uống một chén”.
Vân Lối nói: “Xin đa tạ”. Rồi nàng quay lại chỗ ngồi, xem thử hai tên hán tử ấy làm thế nào. Hai tên hán tử liếc mắt nhìn Vân Lối rồi nói: “Ông chủ, tính tiền!”

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:32 pm

Tên gầy ốm móc ngân lượng ra nhưng chẳng hề thấy đâu, sắc mặt tái xanh; tên to béo thấy thế không xong, vội vàng sờ vào túi tiền của mình, cũng chẳng thấy ngân lượng đâu. Hai người đưa mắt nhìn nhau, nói chẳng nên lời. Hai người quả thực là bọn trộm cướp, bắt gà không được lại còn mất nắm thóc, biết rõ Vân Lối đã làm như thế nhưng không dám gây lớn chuyện. Ông chủ quán bước tới nói: “Cho xin một lượng ba tiền”.
Cả hai người đều lộ vẻ lúng túng, tay cứ sờ trong ngực áo, ông chủ nói: “Hai vị đại gia nể mặt, cho xin một lượng ba tiền”.
Hán tử gầy ốm lẩm bẩm: “Có được nợ không?”
Ông chủ biến sắc, cười lạnh: “Khách khứa đều muốn ghi nợ, bọn chúng tôi đớp gió mà sống được ư?”
Tên tửu bảo cũng quát: “Hai người có phải muốn gây sự ở đây không? Say rượu phải đánh nhau, gây sự với người khác rồi định ăn quịt ư? Không trả cũng được, nhưng phải lột đồ ra”.
Khách khứa trong quán cười ầm lên, đều bảo hai tên hán tử ấy không đúng, hai tên hán tử lúng túng chỉ đành cởi đồ. Tên tửu bảo nói: “Chỉ cởi hai chiếc áo vẫn chưa đủ”. Thế rồi đưa tay lột mũ của hai người xuống, nói: “Coi như bọn ta xui, cút mau, cút mau!”
Hai hán tử vội vã chuồn ra ngoài.
Vân Lối vui sướng lắm, một mình uống hai chén rượu, thấy thư sinh vẫn ngồi uống rượu, chợt nghĩ đến hai hán tử kia chẳng qua là kẻ thấp hèn trong đám cướp, bọn chúng bị thua thiệt, chắc chắn sẽ về báo lại với kẻ đầu đảng, nàng không sợ nhưng thư sinh kia có thể không giữ được của cải. Vì thế đứng lên kêu: “Ông chủ, tính tiền!” Nàng đã quyết định theo dõi hai tên trộm nọ.
Chủ quán thấy Vân Lối ăn mặc đẹp đẽ, tựa như một công tử nhà giàu, bước lại nói: “Cho xin một lượng hai tiền”.
Vân Lối sờ tay vào áo, nàng đã bỏ kim ngân châu báu Châu Kiện tặng cho mình vào trong một mảnh khăn tay, nhưng giờ đây chẳng thấy thì bất đồ thất kinh, nàng mò sang túi áo bên trái, mấy lượng bạc lúc nãy đã không còn nữa. Tuy trời đang lạnh, nhưng nàng vẫn toát mồ hôi. Lão chủ quán nhìn thấy Vân Lối ăn mặc đẹp đẽ, nhưng cũng chẳng giống hạng không có tiền, thế rồi nói với vẻ nghi hoặc: “Sao công tử tìm mãi mà chẳng lấy được tiền? Nguyên bảo hay kim đỉnh đều được cả, bổn tiệm sẽ đổi hộ cho công tử, chẳng lừa công tử đâu”.
Vân Lối càng lo hơn, nàng sợ mình sẽ bị lột quần áo xuống như hai tên lúc nãy. Lão chủ quán thấy nàng cứ tìm mãi, mặt dần dần đổi sắc, cười lạnh nói: “Đại gia, ngài sao thế?”
Thư sinh ấy đột nhiên lảo đảo bước tới, ngâm rằng: “Trong bốn biển đều là bằng hữu, ngàn vàng tiêu hết lại trở về. Tôi sẽ tính cho vị tiểu ca này”. Thế rồi lấy ra một đĩnh bạc nặng đến đến mười lượng ném cho lão chủ quán bảo: “Phần còn lại cứ giữ lấy”.
Lão chủ quán vui mừng ra mặt, luôn miệng cảm tạ. Vân Lối đỏ mặt, hạ giọng đáp tạ, thư sinh ấy nói: “Đáp tạ cái gì? Để tôi dạy cho huynh một bí quyết, lần sau khi uống rượu, huynh hãy mặc hai lớp áo, khi tính tiền cũng không cần phải sợ”.
Hơi thở của y đầy mùi rượu, y lảo đảo bước xuống lầu chẳng hề để ý đến Vân Lối. Vân Lối tức tối trong lòng, thầm nhủ: “Hay cho tên cuồng sinh chẳng biết lễ nghĩa, lúc nãy nếu không phải ta cứu ngươi, chỉ e người ta đã cướp đồ của ngươi mất”.
Vân Lối nhìn xung quanh, chẳng thấy có ai đáng ngờ, trong lòng bực bội, không ngờ lại gặp phải một kẻ nhanh tay hơn, cho nên bước ra khỏi tửu lầu, phóng lên lưng ngựa tiếp tục lên đường. Ra tới thành, chợt thấy thư sinh ấy đang ngồi trên một thớt ngựa trắng đi ở phía trước mặt. Vân Lối thầm nhủ: “Chả lẽ là tên thư sinh này, nhưng y có vẻ không giống!” Thế rồi thúc ngựa đuổi theo, chạy lên phía trước, đến gần thư sinh ấy lại vung roi giả vờ đánh ngựa, nhưng đầu roi lại đánh vào huyệt đạo yếu hại dưới hông thư sinh ấy.
Vân Lối đánh roi này thật sự là muốn thăm dò võ công của thư sinh ấy, nàng xỉa đầu roi vào người y, nếu thư sinh này biết võ công chắc chắn sẽ né tránh; nếu võ công cao hơn thì sẽ đưa tay gạt ra. Nào ngờ roi ấy vừa đánh ra, thư sinh kêu lên một tiếng nhưng không né tránh được, đầu roi móc vào áo của y, may mà Vân Lối đã ngầm thu kình, thế roi đánh ra tuy mạnh nhưng khi chạm vào áo thì không còn lực. Chỉ như thế thư sinh này cũng nghiêng ngả, suýt nữa ngã ngựa. Vân Lối cảm thấy ái ngại, nói: “Đã lỡ tay đánh trúng huynh đài, tôi xin bồi tội!”
Thư sinh ấy trợn mắt, ngạc nhiên kêu lên: “Lại là kẻ ăn quịt đấy à! Ngươi đừng tưởng ta có vài đồng bạc thì cứ bám lấy, tiền của ta để kết bạn, một kẻ đã ăn uống của người ta lại còn đánh người ta, ta không dám lãnh giáo!”
Vân Lối vừa bực bội vừa buồn cười nói: “Ngươi vẫn chưa tỉnh rượu ư?”
Thư sinh ấy ngâm: “Rút đao chém nước nước càng chảy, nâng chén tiêu sầu sầu càng sầu. Đời người chẳng có gì vừa ý, sáng sớm thức dậy sẽ tiêu tan. Ôi, ôi, ta không uống với ngươi, ta không uống với ngươi!”
Rồi y bật ngửa ngã về phía trước, Vân Lối chẳng biết ứng phó thế nào, đang định đỡ y thì đột nhiên thấy y kẹp mạnh hai chân, thớt ngựa trắng phóng như bay.
Thớt ngựa của Vân Lối vốn là loại chiến mã của Mông Cổ nhưng không thể nào đuổi theo kịp y. Vân Lối nhủ bụng “Người này không biết võ nghệ, nhưng thớt ngựa rất quý!”
Vì nàng đã mất ngân lượng cho nên trong lòng không vui, chỉ đành thúc ngực tiếp tục đi.
Đi được nửa ngày, ngẩng đầu lên nhìn thì mặt trời đã xuống núi, khói bốc lên xung quanh, nghĩ bụng phải vào nhà dân trú ngụ đỡ, trong túi lại không có tiền, chợt nghe tiếng ngựa hí, chỉ thấy trước mặt có một mảnh rừng, trong rừng có một tòa miếu, bên ngoài có thớt ngựa trắng đang cúi đầu gặm cỏ. Vân Lối nghĩ bụng: “Ồ, té ra y cũng ở đây. Hòa thượng trong miếu rất dễ chịu, chi bằng mình cứ nghỉ nhờ ở đây một đêm”.
Rồi buộc ngựa ở bên ngoài, đẩy cửa bước vào, chỉ thấy thư sinh ấy đang ngồi bên đống lửa, đang nướng khoai, vừa thấy Vân Lối bước vào thì ngâm rằng: “Đời người cứ mãi gặp nhau. Ôi, lại gặp ngươi nữa rồi”.
Vân Lối liếc y rồi nói: “Ngươi đã tỉnh rượu chưa?”
Thư sinh ấy nói: “Ta say lúc nào mà bảo tỉnh? Ta còn nhận ra ngươi là kẻ ăn quịt”.
Vân Lối nói: “Ngươi biết cái gì? Có kẻ trộm lấy châu báu của ngươi!”
Thư sinh ấy đứng bật dậy: “Cái gì? Kẻ trộm? Trong chùa chẳng có hòa thượng, kẻ trộm đến thì ta làm thế nào đây. Thôi, ta không ở đây nữa”.
Vân Lối vừa bực bội vừa buồn cười nói: “Ngươi còn đi đâu được? Ngươi vừa ra bên ngoài thì bọn chúng sẽ cướp của ngươi, lại không có ai cứu ngươi. Có ta ở đây, mười tên cướp cũng chẳng làm gì được”.
Thư sinh ấy mở to đôi mắt, đột nhiên bật cười rồi nói: “Ngươi có bản lĩnh như thế, tại sao còn ăn quịt của người ta?”
Vân Lối nói: “Ngân lượng của ta đã bị bọn trộm lấy cắp”.
Thư sinh ấy cười ngặt nghẽo, chỉ Vân Lối nói: “Mười tên cướp cũng chẳng sợ, thế nhưng lại bị đánh cắp ngân lượng. Ha ha, bản lĩnh nói khoác của ngươi chẳng kém gì bản lĩnh lừa ăn của ngươi!” Y toan đứng dậy bỏ đi nhưng lại ngồi xuống nói: “Ta không nghe lời nói dối của ngươi nữa, khắp nơi thanh bình, ở đâu mà lắm kẻ cướp với ăn trộm như thế?” Thế rồi lại tiếp tục nướng khoai.
Vân Lối bực bội nói: “Ngươi không tin cũng chẳng sao!”
Mùi thơm khoai nướng lan tỏa khắp nơi, Vân Lối chạy ngựa nửa ngày đã đói, nàng nuốt nước bọt, nhưng lại không hỏi xin thư sinh ấy. Đây là một ngôi chùa hoang, quả đúng là không có nhà sư, cho nên không tìm được thứ gì ăn cho đỡ đói. Thư sinh ấy cắn một miếng khoai, lắc đầu lẩm bẩm nói: “Hoàng tửu có thể say, không tửu cũng say; thịt cá tuy ngon, khoai nướng cũng ngon. Thơm lắm, thơm lắm!”
Vân Lối bực bội nhìn y rồi quay đầu đi. Thư sinh ấy nói: “Này, tên ăn quịt kia, cho ngươi một củ khoai”. Nói xong ném một củ khoai đã nướng chín tới, Vân Lối tức giận nói: “Ai ăn của ngươi!” Rồi nàng nuốt nước bọt ngồi xếp bằng ở dưới đất, chầm chậm giữ khí điều tức, khó khăn lắm mới dằn cơn đói xuống. Sau khi dưỡng khí điều tức, nàng chỉ cảm thấy toàn thân dễ chịu. Đến khi mở mắt ra, chỉ thấy thư sinh đó đã ngủ say, khoai nướng chín rải đầy ở dưới đất. Vân Lối liếm môi, toan đưa tay nhặt lấy củ khoai, nhưng chợt thấy thư sinh ấy xoay người, lại chìm vào giấc ngủ. Vân Lối bực dọc nhủ bụng: “Dù đêm nay ta có đói chết cũng không cần ăn của ngươi!”
Thư sinh ấy ngáy vang như sấm, Vân Lối muốn ngủ cũng không xong, đột nhiên nghĩ: “Tên thư sinh này ăn mặc sang trọng, trong người lại có của báu, tại sao ra ngoài lại không có người đi cùng, lại dám ở nơi chùa hoang, ăn loại khoai chẳng đáng đồng tiền tý nào? Chả lẽ y giả vờ không biết võ nghệ? Nhưng y lại không giống như thế!” Rồi nàng từ từ đứng dậy, toan lục soát người y, thư sinh ấy lại trở mình, Vân Lối nghĩ bụng “Nếu y tỉnh dậy thì sẽ cho rằng mình đánh cắp đồ của y!” Thế rồi nàng do dự, bước tới ba bước, rồi bước lùi ba bước. Chợt nghe bên ngoài có tiếng hú kỳ lạ, Vân Lối liếc nhìn thư sinh, thấy y ngủ say như chết, cười lạnh nói: “Vốn là ta không nên để ý đến ngươi, nhưng lại thấy ngươi đáng thương, được, ngươi đã gặp may, cô nương sẽ chặn kẻ cường đạo cho ngươi”. Thế rồi bước ra ngoài cửa, tung mình vọt lên một cây cao. Dưới ánh trăng mờ mờ, chỉ thấy có hai người bịt mặt bước tới, một người nói: “Ngươi thấy con ngựa trắng này, chắc là y ở đây”.
Một tên nói: “Nếu y không chịu thì sao?”
Tên kia bảo: “Nói không chừng chỉ đành lấy đầu y”.
Người lúc nãy lại bảo: “Cần gì phải như thế? Cho y một bài học là được”.
Vân Lối nghe thế thì lửa giận bốc lên, nghĩ bụng: “Kẻ cường đạo thật độc ác, cướp của còn muốn lấy mạng!”
Chợt nghe một người nói: “Trên cây có người!”
Vân Lối phóng hai mảnh phi tiêu xuống, hai kẻ bịt mặt vội vàng tránh qua. Vân Lối múa ra một vòng kiếm hoa, đánh ra một chiêu Bằng Bát Cửu Tiêu từ trên không đánh xuống, đâm về phía hai người, hai kẻ bịt mặt ấy một người cầm gậy sắt, một người cầm song câu, thấy kiếm đến thì gạt lên, lửa bắn ra tung tóe, nhưng cây gậy sắt đã bị mẻ mất một miếng, cây song câu cũng bị thanh kiếm kéo qua một bên. Vân Lối nhủ bụng: “Hai tên cường đạo này võ công cũng khá lắm!”
Hai kẻ bịt mặt càng thất kinh hơn, đang định quát hỏi thì Vân Lối đã đánh tới như mưa bão. Thanh kiếm của Vân Lối là một trong hai thanh bảo kiếm của Huyền Cơ Dật Sĩ, tên gọi Thanh minh, có thể chém gãy cả binh khí bình thường, cây gậy sắt lúc nãy tuy nặng nề, nhưng cũng không dám chạm vào thanh kiếm, nhưng kẻ sử dụng đôi câu thì thân thủ phi phàm, trong khi chống đỡ có cả công lẫn thủ, cho nên kiếm của Vân Lối không chạm được vào binh khí của y.
Vân Lối dùng thân pháp Phi Hoa Phát Điệp, xuyên qua lướt lại giữa đôi câu và gậy sắt, kiếm quang của nàng như một luồng điện dồn qua dồn lại, tựa như mưa bão, hai kẻ ấy đều bị nàng đẩy lùi. Nhưng cây gậy rất nặng nề, đôi câu linh hoạt, đầu đuôi tiếp ứng lẫn nhau, Vân Lối cũng chẳng làm gì được hai kẻ ấy. Đang lúc kịch đấu, Vân Lối đột nhiên nghiến răng, chém xéo thanh kiếm về phía tên cường đạo che mặt sử dụng đôi câu. Nhát kiếm này vừa dữ vừa nhanh, khiến cho kẻ địch không thể nào né tránh, đó chính là Thần chiêu đoạt mệnh của Phi Thiên Long Nữ. Vân Lối vốn không muốn lấy mạng của hai kẻ bịt mặt này, nhưng nếu không giết chết một người thì không thể thắng được cho nên mới buộc phải dùng tuyệt chiêu này.
Nào ngờ một kiếm chém ra, tên cường đạo sử dụng đôi câu trầm câu trái xuống, câu phải móc lên, cây Thanh Minh kiếm của Vân Lối suýt nữa bị y giật. Vân Lối thất kinh, Đàm Đài Diệt Minh đã dùng chiêu này, nàng vội vàng xoay người, mũi kiếm chuyển qua đâm về phía tên sử dụng gậy sắt, rồi người đảo ngược lại đánh về phía kẻ sử dụng đôi câu, nàng vung kiếm quát: “Các ngươi có phải là đệ tử của Đàm Đài Diệt Minh không?”
Kẻ sử dụng đôi câu trầm giọng quát: “Ngươi đã nhận ra lai lịch của ta, ngày này sang năm là ngày giỗ của ngươi!”
Rồi đôi câu đánh gấp tới, toàn là những chiêu số liều mạng. Vân Lối nổi giận, mắng rằng: “Bọn người Hồ lớn gan, dám lén lút vào biên quan, ngươi tưởng Trung thổ không có người ư?” Rồi thanh kiếm chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc, không hề lưu tình. Luận về võ nghệ, Vân Lối phải hơn đệ tử của Đàm Đài Diệt Minh một bậc, nhưng một là vì kẻ địch có tên cầm gậy giúp đỡ, hai là vì Vân Lối đã đói rũ người, khí lực không đủ, đấu hơn trăm chiêu thì mồ hôi đầm đìa, dần dần yếu thế. Đôi câu càng đánh càng gấp, Vân Lối bị vây vào ở giữa, nguy cấp vô cùng. Lúc đó tên cầm gậy nói: “Kiếm pháp của tiểu tử này cũng khá lắm, ngươi hãy nhường cho ta đối phó với y!”
Kẻ cầm song câu trả lời rằng: “Được, nhường thì nhường. Nhưng lát nữa khi bắt người, ngươi phải nghe lời ta mới được”.
Hai người một hỏi một đáp tựa như đã chắc mẩm rằng Vân Lối sẽ chết dưới tay bọn chúng. Vân Lối nổi giận, đánh ra một chiêu Phi Bộc Lưu Tuyền đâm thẳng về phía tên cầm gậy, y vội vàng hất gậy lên đỡ, chỉ nghe ối chao một tiếng, bàn tay sụi xuống. Nhát kiếm này của Vân Lối rất nhanh chóng, một kiếm đã đâm trúng yết hầu, giết hết y ngay tại chỗ, tên cầm song câu thì hoảng hồn, Vân Lối lật tay chém ra một kiếm, rắc một tiếng, cây câu bên tay trái của y gãy thành hai đoạn. Kẻ sử dụng song câu phóng người bỏ chạy, Vân Lối vung tay lên, ba mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu bay thẳng vào sau lưng y, tưởng rằng sẽ đánh trúng, chợt nghe có tiếng tanh tách vang lên, Hồ Điệp tiêu đã không biết chạm phải thứ gì nên rơi xuống, trong chớp mắt kẻ địch đã chạy mất dạng.
Vân Lối thấy thế thì hoang mang, kiếm lúc nãy của mình tuy hiểm hóc, nhưng đoán rằng kẻ sử dụng gậy có thể chống đỡ nổi, thế nhưng trong lúc nguy cấp nhất, đối phương lại buông gậy xuống, tựa như có qủy thần sai khiến, mất mạng dưới mũi kiếm của mình. Vân Lối càng lúc càng ngạc nhiên, nàng nhủ bụng: “Chả lẽ có người âm thầm giúp đỡ mình? Nhưng ba mảnh hồ điệp phi tiêu tại sao lại rơi xuống, hay là có cao nhân âm thầm ra tay, vừa giúp mình, lại vừa giúp kẻ địch? Nghĩ lại thực sự không có lý tý nào”.
Vân Lối cúi đầu nhìn tên cường đạo đã chết, dùng kiếm vạch mặt nạ của y ra, quả nhiên đó là một người Hồ. Vân Lối vẫn còn nghi ngờ, y rõ ràng chẳng phải kẻ cường đạo cướp của bình thường. Vân Lối bạo dạn lục người y, ngoài mấy lượng bạc vụn và một bao lương khô, chẳng có gì hơn. Vân Lối cười rằng: “Ta đang cần thứ này”. Thế rồi ăn lương khô, cất bạc vào trong người. Chợt nghe trong rừng có tiếng lạ vang lên chỉ có hai kẻ bịt mặt phóng tới như bay, lớn giọng quát rằng: “Bằng hữu đồng đạo, có một bát nước thì mọi người cùng uống”. Ý muốn nói đôi bên đều là đồng đạo, ngươi đã cướp được của thì không thể chiếm riêng một mình, phải đem ra chia nhau. Vân Lối cả giận quát: “Được, các người có bao nhiêu người thì đều chia cả!” Nàng vốn muốn nói: “Đều nếm kiếm của bổn cô nương”. Nhưng nghĩ lại nên thôi. Hai kẻ cường đạo kia cười lớn nói: “Ha ha, thế mới là bằng hữu tốt, mọi người cùng chia”. Thế rồi bước tới chìa tay ra đòi.
Vân Lối cười lạnh, trở tay lại đánh ra một kiếm. Hai kẻ cường đạo ấy, một người sử dụng đơn đao, một người chỉ dùng tay không, Vân Lối đâm tới một kiếm, chỉ cảm thấy hơi gió thoáng lướt nhẹ qua, kẻ sử dụng tay không lộn người, lướt thẳng tới, chưởng trái phất ra tựa như chém tựa như chặn, đó chính là chiêu số của Đại Cầm Nã thủ. Vân Lối thất kinh, không dám sơ ý, mũi kiếm vừa điểm tới, đã quét xéo ra, kẻ sử dụng đơn đao kêu lên: “Đánh hay lắm!” Thế rồi chém tới một đao, thế đánh rất hung hăng, Vân Lối lại sử dụng bộ pháp Xuyên Hoa Nhiêu Thụ, nàng chém hụt một kiếm nên lách người, né tránh đòn Cầm Nã thủ của không bên trái, lại né tránh đơn đao của kẻ bên phải.
Hai kẻ này chẳng phải hạng tầm thường, nhưng kiếm pháp của Vân Lối rất tinh diệu, thân pháp lại nhanh, kiếm quang lại loang loáng bất định, cả hai tên đều cảm thấy đối phương tựa như chỉ tấn công mình. Đấu được ba mươi lăm chiêu, kẻ không sử dụng binh khí kêu lên: “Được, ngươi cứ chiếm giữ một mình cũng được, hãy để lại tên tuổi, chúng ta kết bằng hữu!”
Vân Lối tức giận nói: “Tội cướp của có thể tha, nhưng tội bán nước thì ta không thể bỏ qua, ai kết bằng hữu với ngươi!”
Thế rồi đánh ra một chiêu Phân Hoa Phất Liễu, kiếm thế tựa như đánh sang trái, tựa như đánh sang phải, một chiêu nhưng lại đâm hai người, khiến cho kẻ sử dụng đơn đao kêu ối chao một tiếng, cổ tay trúng một kiếm, thanh đơn đao rơi khỏi tay. Kẻ sử dụng đôi tay không thì lanh lẹ hơn, y thu người lại né tránh. Vân Lối đã sử dụng chiêu số liên hoàn, một kiếm đâm ra thì tiếp tục kiếm thứ hai, thế đánh của nàng liên miên không dứt tựa như rút tơ. Vân Lối cứ tưởng rằng hai kẻ này là cùng một phe với hai tên lúc nãy, cho nên không hề nương tay, chiêu kiếm lại đánh ra nhanh như điện chớp, mũi kiếm vừa chạm vào hậu tâm của kẻ địch, đột nhiên tách một tiếng, cổ tay tựa như bị kiến cắn, mũi kiếm trượt qua một bên, hai kẻ che mặt ấy vội vàng co dò phóng vào trong rừng.
Vân Lối tức giận nói: “Tên tiểu tặc nào đánh lén hãy bước ra đây!”
Xung quanh yên ắng chẳng có một bóng người, Vân Lối chờ một hồi, không thấy có người lên tiếng, nhìn lại cổ tay mình thì thấy đã nổi một hạt đỏ ửng như hạt đậu, nhớ lại mình đã trúng loại ám khí rất nhỏ, nàng định tìm dưới đất nhưng tìm mãi vẫn không ra. Vân Lối tuy thắng được hai trận, nhưng đã bị người ta bỡn cợt, trong lòng không vui, nàng tiu nghỉu trở vào trong chùa, chợt thấy thư sinh ấy vẫn ngủ vùi như chết, Vân Lối gọi: “Này, ngươi ngủ thật ngon đấy nhỉ!”
Thư sinh ấy trở người, miệng nói lầm rầm mấy câu, Vân Lối kêu lên: “Cường đạo đến!”
Thư sinh ấy giật mình ngồi dậy, ngâm rằng: “Mộng lớn nào ai biết, bình sinh mỗi mình ta hay”.
Vân Lối cười lạnh nói: “Ngươi biết cái gì? Cường đạo đã đến!”
Thư sinh ấy dụi mắt nói: “Nửa đêm canh ba còn quấy rối giấc mộng của người khác! Sao tiểu ca nhà ngươi cứ quấy rối ta mãi thế?” Y chẳng hề tin lời Vân Lối mà còn trách cứ. Vân Lối tức giận nói: “Không tin ngươi hãy ra ngoài xem thử, kẻ cường đạo đã đến!”
Thư sinh ấy vươn vai, chợt cười nói: “Chúng đã đến nhưng cũng chẳng chuyện gì xảy ra, ngươi đánh thức ta làm gì?”
Vân Lối bực dọc lạnh lùng nói: “Ta đã đuổi bọn chúng đi”.
Thư sinh ấy nói: “Thật không? Hay lắm, hay lắm, ngươi ăn một củ khoai trước. Lần này ngươi không phải vô công mà nhận lộc, ta không nói ngươi ăn quịt nữa!” Thế rồi y ném tới một củ khoai, Vân Lối cả giận, vỗ bay củ khoái ấy ra nói: “Ai đùa với ngươi, này ta hỏi ngươi, ngươi tên họ là gì, từ đâu tới?”
Thư sinh ấy trừng mắt, đột nhiên tỏ vẻ nghênh ngang phách lối, chỉ tay quát: “Này, ta hỏi ngươi, ngươi tên họ là gì, từ đâu tới?”
Vân Lối tức giận nói: “Cái gì?”
Thư sinh ấy cười lạnh rằng: “Ngươi có thể thẩm vấn ta, sao ta không thể? Chả lẽ ngươi là quan, chuyên thẩm vấn người khác hay sao?”
Vân Lối chùn bước, thư sinh ấy quả thật ngang ngược, nàng thầm nhủ: “Sao ta có thể nói lai lịch của mình cho ngươi biết?” Chỉ thấy thư sinh ấy lướt nhìn mình, tỏ vẻ nghênh ngang, khiến cho nàng dở khóc dở cười. Vân Lối chợt nghĩ, mình không thể nói lai lịch cho y biết, vậy có lẽ y cũng không thể nói lai lịch cho mình biết. Điều mình không muốn vậy, sao cứ ép người ta? Hai người Hồ ấy từ ngàn dặm đuổi đến đây, chả lẽ y cũng giống như gia gia của mình, là người Hán thoát khỏi từ cõi Mông Cổ?”
Nghĩ như thế, bất giác nổi lòng kính trọng thư sinh ấy, nhưng liếc nhìn thấy y đang ra vẻ nghênh ngang, lại cảm thấy bực bội. Nghĩ một lát, nàng lấy ra đôi Nhật Nguyệt song kỳ của Châu Kiện, ném tới rồi nói: “Ta cho ngươi có này, ta không đi cùng đường với ngươi nữa”.
Thư sinh ấy liếc nhìn lá cờ rồi nói: “Ta không phải kép hát, cần gì đến hai lá cờ của ngươi?”
Vân Lối nói: “Ngươi một mình đi đường rất nguy hiểm, có hai lá cờ này, kẻ cường đạo không dám đụng đến ngươi”.
Thư sinh ấy nói: “Cái gì, hai lá cờ này là thánh chỉ?”
Vân Lối cười rằng: “Chỉ e còn hơn cả thánh chỉ! Đây chính là Nhật Nguyệt song kỳ của Kim Đao trại chủ, ngươi từ miền bắc đến, chả lẽ chưa từng nghe? Kim Đao trại chủ tương đương với Minh chủ cường đạo ở miền bắc, hào kiệt lục lâm ai mà không nể ông ta mấy phần”.
Vân Lối tặng y Nhật Nguyệt song kỳ là có ý tốt, không ngờ thư sinh ấy biến sắc, cầm hai lá cờ, đột nhiên cười lạnh nói: “Đại trượng phu đứng ở trên đời, sao có thể nhờ vả kẻ cướp? Ngươi đã đọc sách Khổng Mạnh chưa?” Thế rồi xé rách mảnh Nhật Nguyệt song kỳ!
Vân Lối giận đến nỗi mặt tái xanh, nàng quát rằng: “Kim Đao trại chủ uy chấn cả Hồ lẫn Hán, là một anh hùng đội trời đạp đất, sao ngươi có thể phỉ báng được!” Thế rồi vung tay tát cho y một bạt tai, nhưng chợt thấy bộ mặt của y trắng như ngọc, nên nghĩ bụng: “Nếu để lại năm dấu tay trên mặt y thì thật khó coi!” Thế rồi rụt tay lại tức giận nói: “Ta mặc kệ tên hủ nho nhà ngươi, ta tha cho ngươi một lần. Từ rày về sau ngươi bị kẻ cướp truy sát, ta cũng mặc ngươi!” Thế rồi đột nhiên xoay người, lướt ra khỏi cửa, nàng vốn có ý tốt mà lại rước thêm nỗi bực bội vào người, trong lòng rất không vui, nên cũng chẳng muốn nhìn lại thư sinh ấy. Thư sinh thấy Vân Lối xông ra cửa, y chậm rãi đứng dậy, vốn định lên tiếng gọi nhưng đột nhiên lại cười lạnh, không thèm kêu nữa. Vân Lối thúc ngựa ra khỏi rừng, đang đi chợt nghe một tiếng tách lướt qua đỉnh đầu, Vân Lối vung cây roi ngựa lên quát: “Tên tiểu tặc dám ám toán, có giỏi hãy ra đây!” Chợt thấy trên đầu vang lên một tiếng bốp, Vân Lối kéo đầu ngựa tránh qua một bên, chỉ thấy một cành cây rơi xuống, trên cành cây là một tay nải nhỏ nhắn. Vân Lối thất kinh, đó chính là đồ của mình, nàng vội vàng mở ra xem, chỉ thấy kim ngân châu báu Châu Kiện đã tặng cho nàng đều ở trong tay nải, cả mấy lượng bạc lẻ nàng đã đánh cắp cũng ở trong đó. Vân Lối vội vàng phóng lên khỏi lưng ngựa, lướt lên cành cây đưa mắt nhìn xung quanh, nhưng chẳng thấy có ai cả. Vân Lối thở dài nói: “Quả thật ngoài trời có trời, không ngờ ở nơi này lại gặp phải cao thủ”. Thế là nàng tiếp tục vỗ ngựa phóng đi, lúc này trời đã hửng sáng.
Vân Lối vỗ ngựa lên đường tiếp tục đi thẳng về phía tây. Chỉ thấy người ngựa trên đường đi không ngớt, ai nấy đều ra dáng võ phu, vừa nhìn thì đã biết là hảo hán của tam sơn ngũ nhạc.
Vân Lối chợt nhớ đến bài học giang hồ mà Châu Sơn Dân đã dạy cho nàng, nhủ bụng: “Nhìn cảnh tượng này, tựa như không phải là đại lễ của bang hội mà là đại hội võ lâm”.
Những người ấy thúc ngựa lướt qua Vân Lối, chẳng ai thèm để ý đến nàng. Vân Lối đi một hồi thì đói bụng, bước vào quán trà bên đường, ăn bừa một cái bánh bao, nói đùa với người chủ quán: “Chắc hôm nay buôn bán rất khá, người đi đường rất nhiều”.
Chủ quán trà cười rằng: “Khách quan, ngài chẳng phải đến Hắc Thạch trang ư?
Vân Lối nói: “Hắc Thạch trang là gì?”
Chủ quán trà ấy mới nói: “Khách quan chắc là ở nơi khác đến, hôm nay Thạch đại gia mừng đại thọ, rất nhiều bằng hữu đều đến chúc thọ cho ông ta”.
Vân Lối nảy ra một ý, hỏi rằng: “Có phải đó là Oanh Thiên Lôi Thạch Anh không?”
Chủ quán tỏ vẻ cung kính nói: “Té ra ngài cũng là bằng hữu của Thạch đại gia”.
Vân Lối nói: “Thạch lão anh hùng ai mà không biết, tôi tuy là người ở nơi khác nhưng cũng nghe đến tên tuổi của ông ta”.
Chủ quán trà lại bảo: “Đúng thế, Thạch đại gia kết giao rộng rãi, người ở các nơi, dù quen hay không quen, đến gia trang của ông ta đều được tiếp đãi như nhau”.
Vân Lối đã nghe Châu Sơn Dân nói, Thạch Anh uy chấn võ lâm nhờ bộ Nhiếp Vân kiếm và Phi Hoàn thạch, Nhiếp Vân kiếm cố nhiên là nhất tuyệt trong chốn võ lâm, nhưng thủ pháp phóng ám khí Phi Hoàn thạch cũng rất kinh người, người bị trúng cứ giống như bị đạn nổ, cho nên ông ta có ngoại hiệu là Oanh Thiên Lôi. Thạch Anh không những võ công cao cường mà còn là người hào hiệp, nhưng tính tình có hơi kỳ quặc. Vân Lối nghĩ bụng: “Té ra người này sống ở ngoài thành Phúc Dương, chi bằng mình cũng đến bái thọ. Anh hùng trong tam sơn ngũ nhạc đều đã kéo đến đây, cao thủ đã bỡn cợt mình có lẽ trong số ấy, mình không nên bỏ qua cơ hội này”. Thế là đã quyết định, nàng mượn chủ quán giấy bút, viết một tờ thiệp chúc mừng, cười rằng: “Tôi không hề biết hôm nay ông ta chúc thọ, quả thực đây là dịp may”. Sau khi hỏi đường đến Hắc Thạch trang, trả tiền trà thì nàng nhảy lên lưng ngựa phóng thẳng về phía ấy.
Trong Hắc Thạch trang khách khứa đông như mây, tên nô bộc nhận quà nhìn thiệp chúc mừng, cũng chẳng thèm hỏi đến, liền bảo người đón khách rước vào trong đại hoa viên, khi Vân Lối đến, đã có hàng trăm bàn tiệc, đã đến lúc vào tiệc. Vân Lối được xếp cho ngồi ở một góc, ngồi cùng bàn đều là người lạ. Chỉ nghe họ bàn tán xì xào. Một người nói: “Hôm nay Thạch lão anh hùng không những làm đại thọ mà nghe nói cũng tuyển nghĩa tế”.
Một người nói: “Ông ta có lẽ cũng sẽ đau đầu lắm, Sa trại chủ, Hàn đảo chủ, Lâm trang chủ đều cùng cầu hôn cho con trai, lần này không biết phải ứng phó thế nào?”
Một người nói: “Oanh Thiên Lôi tự có cách đâu cần chúng ta phải lo lắng cho ông”. Thế rồi chỉ tay nói: “Các người nhìn kìa!”
Vân Lối ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy trong vườn đã dựng một đại lôi đài, cao khoảng hai trượng. Người ấy cười rằng: “Nghe nói Oanh Thiên Lôi rất hào sảng, nay đã dùng võ chọn chồng cho con, ai có thể đánh hơn con gái của ông ta thì sẽ trở thành nghĩa tế của ông ta, không hề có ngoại lệ, cả ba nhà đều chẳng nói năng được gì”.
Những người khác thì cười rằng: “Sẽ có trò vui xem”.
Vân Lối cười thầm: “Trên thiên hạ lại có cách chọn nghĩa tế như thế này, vạn nhất chọn phải một tên mặt rỗ thì há chẳng phải thiệt thòi cho con gái của mình hay sao!”
Mặt trời dần dần ngả về tây, chợt nghe tiếng chúc mừng vang lên, Vân Lối kiễng chân nhìn, chỉ thấy một ông già mặt đỏ, dắt theo một thiếu nữ bước ra, thiếu nữ ấy trông rất xinh đẹp, mặt tựa phù dung, chân mày thanh mảnh, Vân Lối chen lên phía trước xem, chỉ thấy mặt nàng đầy vẻ tự tin, chẳng hề hổ thẹn trước đám đông.
Đó chính là:
Trước tiệc nổi kiếm khí, hiệp nữ gặp kỳ nam.
Muốn biết sau đó thế nào, hồi sau sẽ phân giải.

Xem tiếp hồi 4
Chỉ vì vô tâm lên lôi đài lại thắng
Giả vờ truy đuổi nửa đêm trốn giai nhân

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:32 pm

Hồi 4
Chỉ vì vô tâm lên lôi đài lại thắng
Giả vờ truy đuổi nửa đêm trốn giai nhân


Vân Lối nghe mọi người xung quanh bàn tán, mới biết ông già mặt đỏ ấy chính là Trang chủ của Hắc Thạch trang, Oanh Thiên Lôi Thạch Anh, còn thiếu nữ ấy chính là Thạch Thúy Phượng, con gái của ông ta. Vân Lối thầm cười rằng: “Ông già này mặt đỏ miệng vẩu, tựa như lôi công trong bức họa, thế nhưng sinh ra người con gái lại xinh đẹp”.
Chỉ thấy Thạch Anh ôm quyền bước xuống đài, cao giọng nói: “Hôm nay là sinh nhật của lão, được các vị bằng hữu nể mặt, không quản ngàn dặm đến tiểu trang, lão xin kính mọi người ba chén!”
Khách khứa bên dưới đều ùn ùn khen hay, mỗi người đều nâng chén uống cạn. Thạch Anh vuốt râu cười rằng: “Hắc Thạch trang ở chốn quê mùa, chẳng có trò gì vui, khiến cho các vị đã chê cười. Con gái của lão biết chút quyền cước, lão sẽ bảo nó múa vài đường quyền để làm vui lòng các vị thúc bá!”
Mọi người càng lớn tiếng khen hay. Thạch Anh lại cười rằng: “Nếu chỉ một người luyện quyền thì chẳng có gì thú vị, làm phiền ba lệnh lang của Sa trại chủ, Hàn đảo chủ và Lâm trang chủ chỉ giáo cho tiểu nữ vài chiêu. Nếu ai luyện tốt nhất, lão sẽ có một chút lễ mọn, không biết ý ba vị thế huynh thế nào?”
Tuy ông ta không nói rõ tỷ võ chiêu thân, nhưng quần hùng dưới tiệc đều biết dụng ý của ông ta, Hàn đảo chủ và Lâm trang chủ thì nói: “Hay lắm, hay lắm!”, rồi dắt con trai từ trong đám người phóng vọt lên đài, thân pháp lanh lẹ vô cùng. Sa trại chủ chỉ hơi chậm trễ, nhưng cuối cùng cũng dắt con trai phóng lên đài. Lôi đài này cao hơn hai trượng, Sa trại chủ vừa nhún người đã vọt lên, mũi chân con trai ông ta thì móc vào mép đài, suýt tý nữa rơi xuống. Mọi người ở dưới đài đều kinh ngạc. Sa trại chủ là nhân vật có tên tuổi trong chốn hắc đạo, ai cũng biết ông ta võ công cao cường, con trai của ông ta hiểu biết rộng rãi, đã được ông ta trân truyền, lòng dạ cũng rất độc ác, lại là đang tuổi tráng niên, uy danh trong chốn hắc đạo đã đuổi kịp cha mình. Những người biết tường tận đều đoán rằng hôm nay y sẽ thắng, nào ngờ y vừa nhảy lên lôi đài thì chẳng bằng con trai của Hàn đảo chủ và Lâm trang chủ, điều đó thật bất ngờ đối với mọi người. Sa trại chủ nhíu mày, tựa như muốn nói gì đấy, con trai của Hàn đảo chủ là Hàn Đại Hải đã nhảy vọt tới giữa lôi đài, vái dài nói: “Thạch lão bá rất mau mắn, tiểu điệt cũng không khách sáo nữa, cho phép tiểu điệt thỉnh giáo vài chiêu của thế muội, mong thế muội nương tay!”
Thạch Anh cười rằng: “Nói hay lắm, nói hay lắm! Lão cũng thích người mau mắn. Mọi người không cần khách sáo nữa, có bản lĩnh gì thì cứ thi triển, bị thương thì lão đã có thuốc chữa”.
Hàn Đại Hải vâng một tiếng, hai chưởng xỉa tới một chiêu Đồng Tử Bái Quan Âm, hai chưởng cùng đánh ra, đó là chiêu số kính lễ, lại là một chiêu số rất hiểm hóc, Thạch Anh kêu một tiếng hay!”
Cha con Sa trại chủ nhìn nhau cười khổ, đành nén những lời muốn nói xuống. Thạch Thúy Phượng nhẹ nhàng xoay chuyển, đột nhiên bước ra sau lưng Hàn Đại Hải, Hàn Đại Hải liên tục phát ra chiêu, nhưng chẳng chạm được vào góc váy nàng, Vân Lối nhủ thầm: “Té ra chiêu số của ả giống mình, đều bắt nguồn từ Bát Quái Du Thân chưởng”.
Thân pháp Xuyên Thoa Nhiêu Thụ mà Vân Lối đã luyện trong rừng đào chính là công phu thượng thừa nhất của Bát Quái Du Thân chưởng, tuy bắt nguồn từ Bát Quái Du Thân chưởng, nhưng còn chính tông hơn cả môn này, cho nên ngay lúc này Vân Lối có thể thấy từng chiêu từng thức của Thạch Thúy Phượng. Hàn Đại Hải thì đã hoa cả mắt, chỉ cảm thấy bốn phương tám hướng đều có bóng dáng của Thạch Thúy Phượng.
Vân Lối nhìn một hồi thì cười thầm, chỉ thấy Hàn Đại Hải cứ xoay mòng mòng theo Thạch Thúy Phượng, càng đánh càng tệ, nhưng vẫn cố chống chọi không chịu ngừng tay. Hàn đảo chủ nhíu mày quát: “Tiểu tử ngốc, ngươi không phải là đối thủ của Thạch cô nương, còn chưa mau lui xuống?” Hàn đảo chủ quát như thế, Thạch Thúy Phượng dần dần chậm lại, Hàn Đại Hải đột nhiên phóng vọt lên liên tục đấm ra ba quyền. Vân Lối thầm cười: “Thật là một kẻ lỗ mãng không biết tiến lùi, người ta nhường mà ngươi cũng chẳng biết”.
Chỉ thấy Thạch Thúy Phượng hơi lách người, chỏ trái thúc ra, Hàn Đại Hải ngã ngựa xuống. Thạch Anh vội vàng nhảy ra đỡ lên: “Phượng nhi, sao còn chưa đến xin lỗi?”
Hàn Đại Hải nói: “Không sao cả, Thạch cô nương thật giỏi, tôi... tôi...” Y cứ đứng ngẩn người ra ở đấy.
“Tôi không dám cưới cô nương làm vợ!” mấy câu ấy nói ra. Cha của y trợn mắt, khiến cho y hoảng hồn im bặt.
Con trai của Lâm trang chủ là Lâm Đạo An phe phẩy cây quạt xếp, chậm rãi bước ra, cất giọng nói the thé: “Tại hạ cũng lãnh giáo vài chiêu, thế muội hãy nương tay!” Y vốn là kẻ rất nho nhã, nói ra cũng tựa như phụ nữ, công phu điểm huyệt vừa chính xác vừa dữ. Chỉ thấy y gấp cây quạt lại, đầu quạt điểm tới, nhẹ nhàng đâm vào huyệt Nhuyễn Ma dưới be sườn của Thạch Thúy Phượng, Thạch Thúy Phượng lại sử dụng thân pháp Bát Quái Du Thân chưởng xoay vòng quang người y, Lâm Đạo An giữ kín môn hộ, không xoay chuyển theo nàng, chốc chốc lại đánh ra một chiêu, toàn là Ma huyệt và Hôn huyệt của người ta. Đôi mắt lim dim nhìn theo bóng dáng Thạch Thúy Phượng. Thạch Thúy Phượng bực dọc, thầm nhủ: “Xem bộ dạng gã này chẳng phải kẻ đàng hoàng tử tế, đôi mắt thật khiến cho người ta bực bội. không thể để cho y đắc thủ đươc”. Thạch Thúy Phượng thật sự không muốn gã cho y, cho nên chưởng pháp càng lúc càng gấp, nhưng võ công của Lâm Đạo An thật sự không kém, đánh đến hơn năm mươi chiêu mà Thạch Thúy Phượng cũng chẳng làm gì được y. Lâm Đạo An thủ rất kỹ, nhủ rằng: “Xem thử nhà ngươi còn bao nhiêu sức?” Thế rồi thu cây quạt lại, chỉ đợi nàng mệt mỏi phân thần thì sẽ điểm ngã nàng. Đang lúc kịch đấu, Thạch Thúy Phượng lướt người lên, đột nhiên nở nụ cười nhìn y, hàm răng đều tăm tắp, đôi má ẩn hiện đồng tiền, Lâm Đạo xốn xang trong lòng, nhủ thầm: “Võ công nhân phẩm của mình đã khiến nàng khâm phục”. Tưởng rằng sau khi nàng cười thì sẽ nhận thua, thế là thu cây quạt lại để đáp nụ cười ấy, không ngờ Thạch Thúy Phượng đột nhiên cười rằng: “Xin đắc tội!” rồi nàng đưa tay phất nhẹ lên huyệt Thái Dương của y, Lâm Đạo An kêu hoảng một tiếng, chỉ thấy trước mắt nổ đom đóm, thế là ngã xuống đài bất tỉnh.
Lâm trang chủ thấy con trai đã thất bại, trong lòng bực tức nhưng chẳng dám làm gì. Thạch Anh thì đến sờ sau ót Lâm Đạo An rồi nói: “Không sao, không sao! Phượng nhi, sao con lại ra tay không biết nặng nhẹ, đánh vào chỗ yếu hại của người ta?”
Lâm Đạo An tỉnh dậy, cười lạnh rồi nói: “Thạch cô nương, xin lãnh giáo!” rồi cùng cha nhảy vọt xuống lôi đài.
Thạch Anh lắc đầu, vuốt râu cười rằng: “Tiểu nữ may mắn thắng được hai trận, lần này xin mời Vô Kỵ thế huynh dạy cho nó một bài học để nó đừng quá đắc ý!”
Vô Kỵ là tên con trai của Sa trại chủ, trong ba người, Thạch Anh ưa thích y hơn cả, chỉ là y ra tay quá độc ác, trong chốn lục lâm có uy danh chứ không có uy võ. Nhưng Thạch Anh nghĩ bụng trên đời này chẳng có người mười phân vẹn mười, có một nghĩa tế như tế coi như cũng đã quá tốt. Thạch Anh biết võ công của Vô Kỵ hơn hẳn con gái mình, tưởng rằng y sẽ hiên ngang ra tay, song không ngờ y nhíu mày, nở nụ cười khổ sở: “Không cần nữa, nếu hôm nay phải tỉ thí, tiểu điệt xin đành nhận thua!” Vừa nói ra, quần hào ở bên dưới đều ngạc nhiên. Thạch Anh cũng không vui, hỏi rằng: “Sa hiền điệt sao lại nói thế, chả lẽ tiểu nữ có điều gì không phải?”
Sa Vô Kỵ lại cười khổ sở, chậm rãi vén tay áo lên, chỉ thấy trên vai phải của y có một vết thương rất sâu, kéo dài đến cổ tay, Thạch Anh thất kinh hỏi: “Hiền điệt sao lại như thế?”
Sa Vô Kỵ nhìn xuống bên dưới một vòng rồi nói: “Hôm qua bị lật thuyền, hừ, hừ, gặp phải một tên tiểu tặc”.
Phụ thân của y là Sa Đào lên tiếng: “Hôm qua tôi bảo Hồ lão nhị và hắn đuổi theo một con dê từ miền Bắc đến (tiếng lóng của cường đạo chỉ đối tượng đánh cướp), không ngờ y đã mời một tên bảo tiêu, Vô Kỵ vì thế mà bị thương”.
Thạch Anh càng thất kinh hơn, Hồ lão nhị là Phó trại chủ của Sa Đào, võ công hơn hẳn Sa Vô Kỵ, với sức của hai người mà bị một bảo tiêu đánh bại thật là khó hiểu. Sa Đào thì lạnh lùng nói: “Đại ca, huynh thấy phải làm thế nào?”
Thạch Anh sững người ra, đột nhiên cười ha hả: “Nói như thế, tên bảo tiêu ấy là người tài giỏi. Không biết y lai lịch như thế nào? Hiện nay đang ở đâu? Ta sẽ hòa giải giùm các người”.
Sa Vô Kỵ biến sắc nói: “Tiểu điệt từ ngày xuất đạo chưa bao giờ chịu nhục thế này, chuyện này không thể hòa giải được”.
Thế rồi đột nhiên chỉ tay xuống đài nói: “Kẻ ấy ăn gan hùm mật gấu, quả thật rất lớn gan, y đang ở đây”.
Sa Đào quát hỏi: “Cha con nhà họ Sa bọn ta phải tìm ra cho bằng được ngươi, ngươi chạy đi đâu!”
Từ trên lôi đài, hai bóng người nhảy bổ xuống, khách khứa chúc thọ đều nhao nhao hỏi: “Y đang ở đâu?”
Trong số khách khứa có quá nửa là bạn bè của Sa trại chủ, thấy tình hình ấy thì vội vàng đến giúp. Nói thì chậm, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ thấy Sa Đào lướt tới phía trước mặt Vân Lối, co năm ngón tay chụp xuống đầu nàng. Vân Lối nhanh nhẹn tránh qua một bên, Sa Vô Kỵ cũng đuổi tới, tay trái đâm cây trủy thủ ra. Vân Lối xoay gót chân, trở tay lại phất nhẹ rồi cười: “Ồ, té ra ngươi là tên tiểu tặc che mặt đêm qua!” Chỉ nghe keng một tiếng, cây trủy thủ của Sa Vô Kỵ đã rơi xuống đất.
Vân Lối xoay người, chỏ thúc chân đá, hai kẻ đang lao tới đã bị nàng đánh ngã, rồi nàng nhảy vọt lên chiếc bàn bát tiên, Sa Đào rút thanh yêu đao phóng tới, Vân Lối kêu lên: “Thật xấu hổ, muốn lấy đông hiếp yếu ư?” Thế rồi nàng lật chiếc bàn bát tiên, chén đĩa trên bàn rơi xuống loảng xoảng, Sa Đào không tránh kịp, bị rượu thịt văng vào người tung tóe, y tức tối chém ra hai đao, đao pháp lanh lẹ vô cùng, Vân Lối vội vàng rút ra thanh kiếm, phóng người lên, Sa Đào hạ người xuống đánh ra một thế Trảm mã đao, chặt vào hai chân của Vân Lối. Vân Lối kêu lên: “Tên cường đạo độc ác!” Thế rồi nàng phóng vọt lên theo thế Yến Tử Tà Phi, lướt qua khỏi màn đao loang loáng, rồi nhẹ nhàng đâm ngược lại một kiếm, kiếm thế còn nhanh hơn đao thế, Sa Đào vội vàng hạ thấp đầu, chỉ nghe keng một tiếng, thanh yêu đao đã bị Vân Lối chém gẫy thành hai đoạn.
Vì Vân Lối không muốn đả thương y cho nên chỉ chém gãy binh khí. Sa Đào vẫn chưa biết phận, phóng vọt người lên, hai tay lại chụp ra, Vân Lối đánh tròn thanh kiếm, chém ngang ra một chiêu Đẩu Chuyển Tinh Di, trong khoảnh khắc đã đánh ra mấy chiêu, trong lúc gấp gáp, Vân Lối không thể đẩy lùi được y. Lại có mấy tên xông lên giúp cho Sa Đào, Vân Lối không thể nào thi triển được kiếm pháp, Sa Đào quát lớn một tiếng, bổ thẳng xuống một chưởng!
Vân Lối liếc mắt nhìn, chỉ thấy chưởng của Sa Đào đỏ như máu, biết y luyện môn Đôc sa chưởng, cho nên không thể nào để y đánh trúng, trong lúc vội vàng đã kéo một tên địch tới phía trước chặn lại, Sa Đào vội vàng rụt tay, Vân Lối thừa thế nhảy vọt ra, phóng tới một chiếc bàn, cầm bát đĩa trên bàn ném bừa về phía kẻ địch, khiến ai nấy mặt mày sưng vêu, quần áo bẩn thỉu. Đang lúc náo loạn, chỉ nghe khách khứa kêu lên: “Không xong rồi, không xong rồi!”
Sa Vô Kỵ khiêng một chiếc bàn lao bổ tới giáng xuống, Vân Lối chém ra một kiếm Phượng hoàng điểm đầu, chiếc bàn toác ra làm đôi. Sa Đào vung tay chém tới, Vân Lối không đổi chiêu, nàng vẫy thanh kiếm đâm ra, đột nhiên thấy có bóng người lao tới ở giữa, hai chưởng đẩy xéo ra, Sa Đào, Vân Lối đều thối lui ba bước, chỉ nghe Thạch Anh kêu lên: “Mong Sa đại ca nể mặt tiểu đệ, mời vị tiểu ca này cũng ngừng tay!”
Sa Đào nói: “Đại ca, ông phải làm chủ cho tôi. Sĩ diện của cha con chúng tôi hôm nay chỉ nhờ vào một câu nói của ông”.
Thạch Anh liếc nhìn Vân Lối, nhủ thầm: “Trong thiên hạ lại có nam tử tuấn tú như thế này, nếu không tận mắt chứng kiến bản lĩnh của y, có thể thực sự không dám tin y đã đánh bại cha con nhà họ Sa”.
Thế rồi đã chần chừ, Vân Lối nói: “Thạch trang chủ, tôi đã đắc tội với quý khách của ông, hôm nay tôi đến chúc thọ, thật sự không dám động thủ với ông, muốn giết muốn mổ tùy ông xử lý”. Theo quy củ giang hồ, Vân Lối lần này đến chúc thọ cũng là khách của Thạch Anh, dù chuyện lớn bằng trời xảy ra Thạch Anh cũng phải gánh vác. Sa Đào nghe thế thì thầm mắng: “Tên tiểu tặc thật bẻn mép. Thế rồi trợn mắt hỏi: “Thạch đại ca, dám hỏi vị tiểu ca này tên họ là gì, sư phụ là ai?”
Thạch Anh ngạc nhiên, hỏi: “Tôi làm sao biết?”
Sa Đào cười ha hả rồi nói: “Té ra Thạch đại ca không quen với y. Các vị bằng hữu đang ngồi ở đây, có ai nhận ra y không?”
Khách khứa đều vây lên Vân Lối, không ai quen với nàng. Sa Đào cười lạnh nói: “Đại ca chắc biết rõ, tiểu tử này mạo nhận là khách đến chúc thọ, bề ngoài là chúc thọ nhưng thật sự là gây chuyện. Để y ăn không là chuyện nhỏ, nhưng nói ra có lẽ sẽ làm tổn hại uy danh của hắc đạo Sơn Tây chúng ta!”
Thạch Anh không vui, nói: “Vậy theo ý của Sa trại chủ thì phải thế nào?”
Sa Đào nói: “Bảo y giao ra Chiếu dạ sư tử mã và châu báu của thân chủ y, rồi để cho Vô Kỵ chém một đao vào cánh tay thì mọi chuyện coi như đã xong”.
Vân Lối nghe y nói mấy chữ Chiếu dạ sư tử mã, nhủ thầm: “Từ lâu đã nghe Chiếu dạ sư tử mã là loại ngựa quý hiếm có nhất ở Mông Cổ, trước đây đều là cống vật, dù có ngàn lượng vàng cũng không mua được. Không ngờ con ngựa trắng của thư sinh ấy chính là Chiếu dạ sư tử mã”. Rồi trong đầu nàng hiện ra vẻ nghênh ngang phách lối buồn cười của thư sinh ấy, nàng nhớ lại những chuyện ngày trước, cho nên càng nghi ngờ thân phận của y hơn.
Thạch Anh thấy Vân Lối đang đứng ngẩn người ra, chỉ tưởng rằng nàng đã hoảng hồn, thế rồi vỗ vai nàng nói: “Tiểu ca có muốn nói gì không?”
Vân Lối nói: “Y cướp của người ta, ta cứu người, vậy có gì đáng nói nữa? Nếu bọn họ không phục thì cứ xông lên, chỉ cần cha con bọn họ thắng, đừng nói là vạch một đường đao trên cánh tay, dù cho có đâm ba đao sáu lỗ, ta cũng không bỏ chạy”.
Thạch Anh sầm mặt, thầm nhủ: “Té ra tên tiểu tử này lần đầu tiên ra giang hồ, mình đã bảo sẽ gánh vác chuyện này, y lại khiêu chiến với người ta, chẳng khác nào khiêu chiến với mình!”
Quả nhiên Sa Đào nghe thế thì cười lớn. Vân Lối trừng mắt hỏi: “Ngươi cười cái gì? Cha con ngươi cứ xông lên, xem ta có sợ ngươi hay không?” Vân Lối nhớ kỹ quy củ giang hồ mà Châu Sơn Dân đã dạy cho nàng, nếu gặp phải đối phương người đông mà lại là những nhân vật có tiếng tăm thì phải khích họ đơn đả độc đấu. Vân Lối nhủ bụng, cha con họ Sa cũng chẳng phải đối thủ của mình, cho nên mới yên tâm thách đấu hai cha con họ. Nào ngờ những điều Châu Sơn Dân dạy chỉ là ở tình huống bình thường, nhưng không hợp với hôm nay. Chỉ thấy sau khi Sa Đào cười lớn thì lại nói: “Thạch trang chủ, ông có nghe rõ chưa? Tiểu tử này đâu chỉ coi thường cha con chúng tôi, trong mắt y cũng chẳng có ông!”
Thạch Anh lại sầm mặt nói: “Ta tự biết cân nhắc. Này, vị tiểu ca kia, ngươi muốn tỉ kiếm hay là tỉ quyền?”
Vân Lối nói: “Cái gì, ai muốn tỉ thí với ông? Trang chủ, Nhiếp Vân kiếm của ông nổi danh thiên hạ, vãn bối nào dám động thủ với ông? Tôi chỉ muốn tỉ thí với họ mà thôi!”
Thạch Anh đột nhiên quát: “Câm miệng! Ai muốn ra tay ở đây thì đến tìm ta!” Rồi ông ta đưa mắt quét một vòng, lời ấy tuy nói với Vân Lối, nhưng thực sự là nói với cha con nhà họ Sa. Vân Lối ngạc nhiên, trong nhất thời không biết ứng phó thế nào. Chỉ nghe Thạch Anh lại nói: “Ngươi đã sợ Nhiếp Vân kiếm pháp của ta, vậy thì hãy tỉ thí quyền pháp”.
Vân Lối nói: “Vãn bối không dám”.
Thạch Anh nghiêm mặt nói: “Không tỉ thí thì không được! Song nghĩ ngươi là hạng hậu bối, lão phu cũng không thèm động thủ với ngươi. Thúy nhi, con hãy thay ta tiếp vài chiêu! Tiểu tử, hãy mau lên lôi đài!”
Lời ấy của Thạch Anh khiến cho mọi người đều bất ngờ. Cha con họ Sa càng tức giận hơn, sắc mặt đã đỏ ửng. Thạch Anh hôm nay cho con gái lên lôi đài, tuy không nói rõ dụng ý, nhưng mọi người đều biết ông ta dùng cách này để chọn rể. Thạch Anh liếc nhìn cha con họ Sa, rồi không thèm để ý đến bọn họ, vẫn không ngừng thúc giục Vân Lối: “Tiểu tử, ngươi đã có gan lẻn vào Hắc Thạch trang, vậy thì phải có gan lên đài trổ tài, ngươi không lên, chả lẽ lão phu ném ngươi lên?” Lời nói tuy dồn ép người khác, nhưng khách khứa xung quanh đều cười thầm, làm như thế rõ ràng là đã chọn Vân Lối.
Vân Lối ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy Thạch Thúy Phượng sắc mặt đỏ ửng, ánh mắt đang nhìn xuống đài, Vân Lối nảy ra một ý, đột nhiên sửa sang quần áo, khẳng khái nói: “Cung kính không bằng tuân lệnh, vậy tôi sẽ lên đài tiếp tiểu thư vài chiêu”.
Mọi người đã nhường ra một lối, Vân Lối ung dung bước ra phóng vọt lên đài. Thạch Anh căn dặn người nhà mấy câu, rồi ngồi xuống bên cạnh Sa Đào, vuốt râu cười: “Sa trại chủ với mối giao tình bao nhiêu năm nay giữa chúng ta, tôi sẽ không để cho ông thiệt thòi”.
Sa Đào tức giận đến nỗi nói không ra lời, nhưng cũng không thể lên tiếng. Thạch Anh mỉm cười nói: “Song kẻ có tài trong bọn hậu bối, chúng ta cũng phải vun bồi, nếu cứ nhất định dồn y vào chỗ chết, chẳng phải đã quá hẹp lượng hay sao?”
Thạch Anh là lãnh tụ võ lâm của miền Sơn Tây, Thiểm Tây, Sa Đào chỉ đành nuốt giận: “Trang chủ nói phải, tiểu đệ xin lãnh nhận, nay xin cáo từ!”
Thạch Anh đè y xuống rồi nói: “Xem một lát rồi quay về cũng không muộn. Ông xem kìa, bọn chúng đánh thật náo nhiệt!”
Chỉ thấy trên lôi đài có hai bóng người cứ xuyên qua lướt lại, nhìn muốn hoa cả mắt. Cả hai đều có thân pháp giống nhau, Vân Lối mặc bộ y phục màu trắng, còn Thạch Thúy Phượng thì mặc bộ váy đỏ áo xanh, tà áo phất phới càng xoay càng nhanh, tựa như một áng mây màu trắng vây quanh ngọn núi xanh, khiến ai nấy cũng hoa cả mắt. Vân Lối vốn có thể đánh bại Thạch Thúy Phượng trong vòng vài mươi chiêu, nhưng nàng cũng muốn xem võ công của Thạch Thúy Phượng như thế nào. Còn Thạch Thúy Phượng thấy Vân Lối rõ ràng cố ý nương tay, tựa như trò đùa thì thầm nhủ: “Nếu mình không ra tay, sau này thành thân sẽ khiến y coi thường”. Thạch Thúy Phượng háo thắng, tưởng rằng Vân Lối có ý nhường mình là coi thường, thế rồi chưởng pháp thay đổi, đánh tới nhanh như mưa gió, trong nhu có cương, chưởng chém chỉ đâm, trong đó có chứa nhiều chiêu số của Nhiếp Vân kiếm. Vân Lối khựng người lại, nàng thâu nhiếp tinh thần, tiếp một mạch đến mười chiêu, thế rồi cũng thi triển kiếm pháp Bách Biến Huyền Cơ để hóa giải chưởng, loại kiếm pháp này hư thực tương sinh biến hóa vô cùng, trong nhất thời đã hóa khách thành chủ, giành được chủ động. Thạch Thúy Phượng thấy nàng như thế thì lại mừng rỡ, nhủ rằng: “Rốt cuộc cũng buộc ngươi giở ra bản lĩnh thực sự”. Đang lúc đánh rất hăng, Thạch Thúy Phượng đột nhiên đánh ra một chiêu hiểm hóc, người chồm về phía trước, ngả và trong lòng Vân Lối, tay chụp vào mạch môn của nàng, Vân Lối tuy võ công cao hơn nàng, nhưng quả thật khó mà hóa giải nổi chiêu ấy, trong lúc vội vàng đã giở cổ tay lên, đẩy cánh tay của nàng lên cao, tay trái quàng qua ôm chặt lấy nàng, ngón tay bóp vào be sườn nàng, Thạch Thúy Phượng ngả vào trong lòng Vân Lối. Vân Lối kêu ối chao một tiếng khiến cho khách khứa dưới đài đều cười ầm lên, đột nhiên nhớ lại mình đang mang thân phận của nam giới, bất giác đỏ mặt, vội vàng đè vào be sườn nàng, giải Ma huyệt vừa mới điểm, rồi đẩy nhẹ nàng ra, thối lui ba bước, ôm quyền vái dài rồi nói: “Cô nương thứ lỗi, tiểu sinh đã đắc tội!”
Thạch Anh ở dưới đài mỉm cười, Sa Đào tức giận đến nỗi mặt tái xanh, nói: “Chúc mừng Trang chủ đã kiếm được rể tốt, tiểu đệ xin cáo từ”.
Thạch Anh vẫy tay, gọi quản gia đến nói: “Sa trại chủ, tôi xin bồi thường cho ngài, ở đây có một túi châu báu, xin dùng để chuộc tội. Còn Chiếu dạ sư tử mã chẳng phải là loại ngựa thường, chỉ mong Trại chủ hãy vào chuồng ngựa của tôi chọn một con ngựa tốt nhất, mong hiền đệ nương tay tha cho y lần này”. Thạch Anh nghe Sa Đào nói tưởng rằng Vân Lối là người bảo tiêu.
Sa Đào cười lạnh nói: “Đa tạ Thạch trang chủ, tiểu đệ cũng không cần những món này. Chỉ là theo quy củ trong hắc đạo, lần này tiểu đệ đã thất thủ, không thể nào ngừng tay lại được, mong Trang chủ thứ lỗi”. Thế rồi vái dài một cái, dắt Sa Vô Kỵ vẹt mọi người bước ra. Thạch Anh rất bực bội, gọi quản gia tiễn khách, còn mình thì nhảy vọt lên lôi đài. Trên lôi đài Thạch Thúy Phượng mặt đỏ ửng, thấy cha mình nhảy lên thì cúi đầu, vân vê tà áo, Vân Lối thì lộ vẻ lúng túng. Thạch Anh cười ha hả rồi nói: “Trường Giang sóng sau xô sóng trước, trên đời người mới thay người cũ. Anh hùng đang tuổi thiếu niên thật hiếm có”.
Thạch Anh lúc nãy ở dưới đài, đã bảo quản gia tìm bái thiếp của Vân Lối, biết được tên họ của nàng, rồi lại cười rằng: “Vân công tử, thân thủ công tử như thế, cần gì phải làm bảo tiêu?”
Vân Lối đáp: “Tôi không hề làm bảo tiêu! Mấy ngày trước đi đường quen một người bạn, đã giúp y chống lại bọn cường đạo, vô tình kết thù với cha con Sa trại chủ”.
Thạch Anh mới an tâm hỏi: “Té ra là thế. Ở nhà tiểu huynh đệ có ai? Đã đính thân chưa?”
Vân Lối chần chừ một lúc rồi nói: “Chỉ còn một người anh, vẫn chưa đính thân”.
Thạch Anh cười ha hả rồi nói: “Người trẻ tuổi nhắc đến chuyện đính thân thì lại lo lắng”.
Vân Lối càng lúng túng hơn, chỉ nghe Thạch Anh lại nói: “Trận này ngươi đã thắng, ta có một món quà cho công tử”. Thế rồi lấy ra một chiếc nhẫn bằng lục ngọc, trên có đính hai viên bảo thạch sáng lấp lánh. Thạch Anh nói: “Trước khi lâm chung, mẹ của Thúy nhi đã trao chiếc nhẫn này cho nó, giờ đây tặng lại cho công tử”.
Vân Lối nói: “Đây là vật của Thạch tiểu thư, vãn bối không dám nhận”.
Thạch Anh lại cười ha hả nói: “Đây là quà đính ước của các người, sao lại không thể nhận”.
Vân Lối đáp: “Vãn bối không dám trèo cao”.
Thạch Anh sầm mặt, hạ giọng hỏi: “Có phải công tử chê con gái của ta không?”
Vân Lối bảo: “Nào dám chê tiểu thư, nhưng chuyện này không thể phục tùng”.
Thạch Anh tức giận nói: “Vậy thì thế nào?”
Vân Lối liếc mắt, chỉ thấy Thạch Thúy Phượng đang vân vê tà áo, sắc mặt đỏ ửng, mở đôi mắt vừa to vừa tròn nhìn mình, trong mắt rân rấn nước, thế rồi nàng thầm nhủ: “Cũng được, sau này ta sẽ dùng kế đổi hoa ghép cành”. Thế rồi giả vờ từ chối rằng: “Vẫn chưa bẩm báo với bậc tôn trưởng, làm sao có thể đính thân được?”
Thạch Anh nói: “Vậy huynh trưởng của ngươi ở đâu?”
Vân Lối nói: “Huynh đệ chúng tôi từ nhỏ đã mất tung tích”.
Thạch Anh nhíu mày: “Vậy ngươi phải bẩm cáo với ai?”
Vân Lối nói: “Cha mẹ tôi đều chết, chỉ còn một vị thế giao thúc tổ, coi tôi như cháu gái, việc hôn sự phải bẩm cáo với người”.
Thạch Anh nói: “Thế giao thúc tổ ấy của ngươi tên họ là gì, là nhân vật như thế nào?”
Vân Lối nói: “Tên họ của thế giao thúc tổ tôi không thể nói ở đây, người là nhân vật có tiếng tăm trong võ lâm”.
Thạch Anh cười lớn nói: “Nhân vật có tiếng tăm trong võ lâm, khi nhắc đến Oanh Thiên Lôi Thạch Anh thì cũng nể mấy phần, hôn sự này ngươi đừng lo nữa”.
Vân Lối cúi đầu xuống lại kêu lên một tiếng: “Nhạc phụ đại nhân!” Thế rồi lấy ra một cây san hô, nói: “Tiểu điệt không có thứ gì quý giá, chỉ đành dùng cây san hô này làm sính lễ”.
Thạch Anh cười ha ha rồi trao cây san hô cho con gái, kéo Vân Lối đứng lên, lớn giọng nói: “Từ nay Vân công tử sẽ là nghĩa tế của ta, sau này y đi lại trên giang hồ, mong các vị hãy chiếu cố cho”.
Khách khứa bên dưới đều lên tiếng chúc mừng, Thạch Anh lại quay sang dặn: “Thúy nhi, con hãy đưa Vân Lối vào bên trong thay đồ”.
Thạch Thúy Phượng đưa Vân Lối vào một căn phòng rồi dặn a hoàn: “Hãy thay hết toàn bộ mùng mền”.
Thạch Thúy Phượng một tay cầm đèn, một tay dắt Vân Lối đi lòng vòng qua mấy hành lang, bước vào một tòa lầu lớn.
Tòa lầu cao năm tầng, Thạch Thúy Phượng dắt Vân Lối vào trong, chỉ thấy bên trong lầu có bày một chiếc bàn tròn, trên bàn có vô số kỳ trân dị bảo, Thạch Anh cũng ngồi ở đấy, xung quanh có bốn người. Thạch Anh thấy nàng bước vào, mỉm cười nói rằng: “Thúy nhi, Lối nhi, các con hãy chọn một món, số còn lại mới cho bằng hữu thân thiết”.
Vân Lối ngạc nhiên, Thúy nhi nói: “Đây là quy củ của chúng tôi, huynh hãy nghe lời cha, chọn trước một món”.
Vân Lối chọn một con sư tử bằng ngọc bích, Thạch Thúy Phượng cũng lấy một cây ngọc trâm. Vân Lối đưa mắt nhìn xung quanh, căn phòng rất đơn giản, ngoài một hòm sắt, chẳng có đồ đạc gì cả, trên tường thì treo một bức họa, bức họa vẽ cảnh một cô thành lớn, sông núi vây quanh, thấp thoáng đình đài lầu các, vườn tượt người ngựa, xem ra đó là một thành nổi tiếng ở miền Giang Nam. Thạch Anh cười rằng: “Công tử có thích bức họa này không, ngày mai ta sẽ kể cho công tử nghe câu chuyện về bức họa này. Được, các con có thể quay về”.
Vân Lối và Thạch Thúy Phượng bước ra khỏi phòng, chỉ nghe khách trong phòng nói: “Thật đáng tiếc, đây là lần giao dịch cuối cùng”.
Thạch Anh cười ha hả nói: “Trên thế gian đâu có loại hoa nào trăm năm không tàn, nay ta đã già, chẳng làm ăn buôn bán gì được nữa. Được, chúng ta cứ theo phép tắc cũ, các người hãy định giá”.
Vân Lối cảm thấy tò mò, muốn tiếp tục nghe nhưng bị Thạch Thúy Phượng kéo xuống lầu.
Về đến tân phòng, mọi thứ trên giường đã được thay đổi, một chiếc mền thêu màu đỏ mới tinh trải trên giường, càng tăng thêm vẻ sang trọng của căn phòng, lúc này có tiếng báo canh vang lên, Thạch Thúy Phượng nói: “Ồ, đã canh ba rồi”.
Vân Lối nói: “Lúc này tôi không muốn ngủ, tiểu thư hãy cho tôi biết, lúc nãy cha của tiểu thư đang làm chuyện gì?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Cha của tôi là một đại đạo độc cươc, mỗi năm ra ngoài gây án một lần. Người nhà quê không ai biết. Mỗi lần ông ta gây án trở về, đều cho tôi chọn một món châu báu, những thứ còn lại đều đem bán cả”.
Vân Lối nói: “Những thứ đã đánh cắp thì làm sao bán?”
Thạch Thúy Phượng bảo: “Đương nhiên có người làm ăn trong nghề này, lúc nãy bốn hán tử chính là người chuyên mua châu báu của cha tôi, nghe nói họ thần thông quảng đại, cướp những thứ ở miền Bắc đem về bán ở miền Nam, những thứ ở miền Nam thì đem bán ở miền Bắc, chưa bao giơ lọt tay. Tiền cha tôi kiếm được, một phần giữ lại, còn lại thì đem cứu tế bạn bè khó khăn trong giang hồ”.
Vân Lối nói: “Té ra là thế, hèn gì cha của tiểu thư được người ta gọi là Trại Mạnh Thường”.
Thúy Phượng mỉm cười, chợt nghe một tiếng trống báo canh nữa vang lên, nàng đưa mắt nhìn Vân Lối mỉm cười: “Huynh muốn nói chuyện đến suốt đêm sao?”
Vân Lối nói: “Ta lại hỏi tiểu thư một chuyện nữa, bức họa ấy có câu chuyện gì?”
Thúy Phượng nói: “Tôi cũng không biết, cha chưa bao giờ nói”. Trầm ngâm một lát rồi nói: “Muội cũng rất lấy làm lạ, chuyện gì cha cũng cho muội biết, nhưng chưa bao giờ nhắc đến bức họa này”. Một tiếng trống báo canh nữa lại vang lên, Thúy Phượng cười rằng: “Huynh còn muốn hỏi điều gì nữa?”
Vân Lối đang héo ruột héo gan, không nghĩ ra kế nào trì hoãn, cũng không thể nói chuyện với nàng suốt đêm, trong lòng lo lắng lắm. Thúy Phượng hạ giọng hỏi: “Vân công tử, phải chăng huynh đã chê muội?”
Vân Lối nói: “Tiểu thư mãi mãi là tỷ tỷ tốt của tôi, tôi làm sao chê tiểu thư?”
Thúy Phượng dịu dàng nói: “Được, vậy chúng ta ngày mai nói tiếp, huynh cũng nên ngủ đi”.
Vân Lối đưa tay lên cúc áo, nói: “Đúng thế, nên ngủ đi thôi”. Nhưng nàng lại ngừng lại. Đang lúc lúng túng, chợt nghe có người la lên: “Bắt trộm, bắt trộm!” Trong nhà Oanh Thiên Lôi Thạch Anh lại có trộm ghé đến, thực là chuyện buồn cười! Khách ở lại trong nhà đều là người tài của tam sơn ngũ nhạc, nghe thế thì đều chạy ra tìm kiếm. Vân Lối cười rằng: “Ngủ không được nữa, kẻ trộm ấy chắc chắn dòm ngó châu báu của cha tiểu thư”. Thế rồi cùng Thúy Phượng nhảy vọt ra, chạy tới tòa Tàng bảo lâu.
Vân Lối khinh công siêu việt, hơn hẳn mọi người, trong chớp mắt đã vượt qua mấy tên gia đinh và khách khứa, bỏ Thạch Thúy Phượng ở phía sau, Thạch Thúy Phượng vừa mừng vừa giận, mừng là vì “y” đang lo lắng cho chuyện của Thạch gia; buồn là vì nàng kêu lớn mà y vẫn không chịu ngừng lại.
Khuôn viện Thạch gia trang rất rộng rãi, Tàng bảo lâu nằm ở góc phía đông hậu viện, Vân Lối chạy tới dưới lầu như làn khói, quay đầu nhìn lại thì chỉ thấy bóng dáng của Thạch Thúy Phượng, còn ở trên mái nhà của đại điện bên ngoài. Vân Lối rút kiếm ra khỏi bao, phóng vọt người lên, chân móc vào mái nhà, tay đè nhẹ, từ mái của tầng thứ nhất đã phóng vọt lên tầng thứ hai, nàng nghiêng tai lắng nghe thì có tiếng rên rỉ như ma kêu trong đêm tối khiến người ta phải run sợ. Vân Lối quát lên: “Kẻ tiểu tặc giả thần giả qủy, muốn hù dọa ư?” nàng nghe được âm thanh lạ ấy xuất phát từ bên trong, thế là đánh mồi lửa lên, nàng chợt nhìn thấy ở dưới cầu thang lầu ba, có bốn đại hán lần lượt đứng ở trên các bậc cấp, mỗi người đều giơ chân lân, tựa như muốn chạy xuống, nhưng lại bị người ta dùng Định thân pháp giữ chặt lại, hai mắt trợn ngược lên, cổ họng thì kêu lên khèn khẹc.
Tiếng khèn khẹc này rất đáng sợ, mặt họ như biến dạng, tựa như những ác ma mới thoát ra khỏi địa ngục! Nàng bạo dạn giở mồi lửa bước tới, bộ mặt của bốn người này tuy đã thay đổi, nhưng nhìn kỹ lại thì có thể nhận ra đó là bốn kẻ đã mua châu báu của Thạch Anh.
Bọn chúng có thể làm nghề này đương nhiên võ công không kém, nhưng trong khoảnh khắc chạy xuống lầu thì đã bị người ta điểm huyệt đạo, cầu thang lầu lại nhỏ mà có thể một đòn đánh trúng bốn người, có thể suy đoán võ công của người này rất cao cường.
Vân Lối nhủ thầm: “Phương pháp điểm huyệt này quả thật hiếm thấy, không biết có thể dùng cách giải huyệt độc môn của mình hay không?” rồi nàng xem lại, hình như đã bị người ta điểm vào Ma huyệt và Á huyệt ở xương sống lưng, thế rồi nàng thử giải nhưng chẳng được, chỉ thấy bốn người này kêu lớn, đột nhiên ngã bổ ra sau, Vân Lối vội vàng nhảy vọt né tránh, chợt nghe tiếng ngọc khí va vào nhau, châu báu trong áo những người này văng đầy ở dưới đất. Vân Lối khựng người lại, châu báu của bọn họ giá trị không chỉ mười vạn, vậy kẻ đã đánh lén bọn họ không chỉ vì đánh cướp của cải. Vân Lối quát: “Kẻ cướp ở đâu?”
Bốn người đè tay vào ngực, một tay chỉ lên, thở phì phò mà chẳng nói ra lời. Té ra bốn người này bị điểm Á huyệt, dùng nội công vận khí đẩy lên, cho nên cổ họng mới phát ra tiếng kêu kỳ lạ, đến khi huyệt đạo được giải thì kình khí xông ra ngoài, cổ họng đau rát, người thì mềm nhũn, tựa như mới trải qua một trận bệnh. Vân Lối phóng ra cửa sổ, tung người vọt lên tầng thứ tư. Chợt nghe ở trên mái có giọng nói của Thạch Anh: “Hai đời cha con chúng tôi đã đợi sáu mươi năm, người vẫn không chịu lộ mặt cho tôi gặp hay sao?”
Vân Lối vội vàng phóng người lên. Vân Lối liếc nhìn, chỉ thấy người ấy xoay lưng về phía mình, trầm giọng nói: “Đến đây!” Giọng nói này nghe rất quen, chỉ thấy Thạch Anh lấy bức họa cuộn lại, bóng người ấy đột nhiên giơ hai tay ra, một tay cầm bức họa, một tay tựa như vỗ xuống đầu Thạch Anh. Vân Lối kêu lớn, phóng người vọt lên, chợt nghe vù một tiếng, có một món ám khí phóng tới trước mặt nàng, Vân Lối vung kiếm lên gạt, chỉ thấy một luồng kình lực rất lớn như sấm sét đè xuống, tia lửa bắn ra tung tóe, nhưng ám khí cũng vỡ vụn, Vân Lối cũng bị đẩy lùi ra phía sau, đột nhiên nàng hụt chân rơi xuống. May mà Vân Lối võ công không kém, nàng đưa chân móc vào mái nhà.
Gió thổi vù vù trong đêm tối, một luồng ám khí thứ hai lại phóng tới, người phát ám khí đã dùng thủ pháp liên châu, Vân Lối dùng thân pháp Thiên cân trụy móc chặt vào mái nhà, thanh kiếm Thanh minh vung lên, tia lửa bắn ra tung tóe, ám khí lại vỡ ra thành nhiều mảnh. Loại ám khí này vốn là một viên đá. Vân Lối đánh vỡ ám khí, nhìn lên phía trên, đột nhiên thấy Thạch Anh thò đầu xuống, quát lớn: “Ai?” rồi đột nhiên đổi giọng, ngạc nhiên nói: “Lối nhi, là con ư? Không có chuyện của con, hãy mau tránh chỗ khác!”
Vân Lối càng kinh hoảng hơn, thấy kẻ địch rõ ràng là cướp bảo vật của Thạch Anh, nhưng tại sao Thạch Anh lại giúp ngược lại y, phóng Phi Hoàn thạch để ngăn cản mình? Lúc này ở dưới tàng bảo lâu, bóng người thấp thoáng, khách khứa cũng đã chạy tới, Vân Lối né không kịp, chợt thấy Thạch Anh nhảy ra, lớn giọng kêu: “Kẻ địch đã bỏ chạy, mọi người hãy quay về!”
Vân Lối chợt thấy một bóng người từ cửa sổ phía sau phóng tọt ra, trông rất nhẹ nhàng, Vân Lối xoay người lướt qua một góc mái nhà, người ấy đã vọt tới bức tường sau hậu viện. Vân Lối thi triển khinh công thượng thừa, phóng người lao tới, chợt thấy người ấy nhảy lên tường, từ trên không trung, đột nhiên quay đầu lại vẫy tay với Vân Lối, người ấy đã che mặt chỉ để lộ đôi mắt, Vân Lối nhìn không rõ ràng cho nên vẫn phóng người đuổi theo.
Bên ngoài tường là một mảnh rừng, trong rừng chợt nghe tiếng ngựa hí, dưới ánh trăng, chỉ thấy một con ngựa trắng đang chạy trong rừng, Vân Lối vừa nhìn thì đã thất kinh, con ngựa ấy trông rất phi phàm, đó chính là con ngựa của thư sinh nàng gặp ngày trước! Vân Lối hoảng hồn, trong chuyện này rất khó hiểu: “Mấy ngày trước đã thử, nhưng thư sinh ấy rõ ràng không biết võ công, tại sao giờ đây có thể đi đoạt bảo vật? Người che mặt có phải là y hay không? Y có phải là cường đạo hay không, nàng cũng không biết. Nếu bảo là cường đạo thì tại sao y không thèm lấy châu báu của bốn khách thương kia mà chỉ lấy một bức họa, chả lẽ giá trị của bức họa này hơn hẳn số châu báu kia? Còn có một điểm khả nghi nữa, thư sinh ấy xem ra chỉ là một thiếu niên hai mươi mấy tuổi, nhưng tại sao Thạch Anh lại bảo đã đợi y đến sáu mươi năm?”
Bao nhiêu câu hỏi cứ lẩn quẩn trong đầu, Vân Lối đang suy nghĩ, chợt nghe có tiếng ồn ào ở phía sau, Thạch Anh kêu lớn: “Đừng đuổi theo, Lối nhi hãy trở về!”
Vân Lối càng nghi ngờ hơn, nàng thấy Thạch Anh toàn bảo vệ cho kẻ địch. Lòng tò mò nổi lên, Vân Lối không những chẳng nghe lời Thạch Anh mà ngược lại còn phóng vọt ra khỏi bức tường, đột nhiên nghe ở trong rừng có tiếng ngựa hí, Vân Lối ngẩng đầu lên nhìn thì càng kinh ngạc hơn!
Trong rừng có một thớt ngựa bờm đỏ chạy ra, đó chính là con ngựa của Vân Lối, Vân Lối nhớ nàng đã buộc ngựa trước Hắc Thạch trang, nhưng giờ đây tại sao ngựa lại chạy ra khỏi khu rừng? Lúc này quái khách che mặt đã nhảy lên lưng ngựa, nhưng không thúc ngựa tiến về phía trước mà quay đầu lại, vẫn tay với Vân Lối, lần này thì Vân Lối càng thấy rõ, tuy không dám đoán, nhưng bộ dạng của người ấy trông rất giống thư sinh nàng đã gặp. Thế là Vân Lối nổi giận, mắng rằng: “Tên giặc kia, ngươi dám ba lần bốn lượt trêu ghẹo ta!” Thế rồi phóng người lên lưng ngựa, hai chân kẹp bụng ngựa thúc ngựa đuổi theo. Thớt ngựa trắng tung vó chạy như gió, trong chớp mắt đã phóng ra khỏi khu rừng. Vân Lối nghe tiếng vó ngựa, biết Thạch Anh dắt gia đinh đuổi theo, cho nên càng vỗ ngựa chạy nhanh hơn. Con Chiếu dạ sư tử mã quả nhiên là loại ngựa hiếm có trên đời, còn thớt ngựa của Vân Lối là loại chiến mã của Mông Cổ được chọn lựa rất kỹ càng, loại ngựa thường của Hắc Thạch trang làm sao đuổi kịp! Trong khoảnh khắc, hai thớt ngựa đã phóng vào con đường từ Dương Phúc đi kinh đô.
Thớt ngựa trắng của người che mặt vẫn chạy trước Vân Lối nửa dặm, khi thấy Vân Lối không đuổi kịp thì chậm lại, Vân Lối lại nổi giận, vừa hiếu kỳ, nôn nóng muốn tìm ra sự thật, cho nên không màng nguy hiểm ở trước mặt, cứ vỗ ngựa đuổi theo!
Hai thớt ngựa một trước một sau rượt đuổi nhau đến mấy trăm dặm đường, bóng trăng đã ngã về tây, bất giác trời đã hửng sáng, nàng cũng không biết mình đã đuổi đến nơi nào, nhưng thấy trước mặt có một mảnh rừng, người che mặt ấy quay lại nói: “Xin thất lễ!” Thế rồi thớt ngựa trắng tung vó lẩn vào trong rừng.
Vân Lối tức giận bảo: “Dù ngươi có chạy đằng trời, ta cũng phải đuổi theo ngươi!”
Thế rồi nàng vỗ ngựa đuổi theo, vừa vào mép rừng, chợt nghe có tiếng ngựa hí và tiếng người hú dài! Vân Lối kìm ngựa lại, chỉ thấy con ngựa trắng từ trong rừng phóng ra, người ấy cũng biến mất. Vân Lối thất kinh thầm nhủ, võ công của người che mặt chẳng phải kém cỏi, chả lẽ cũng bị ám toán?
Sau tiếng hú dài thì trong rừng lại vọng ra tiếng quát tháo, Vân Lối hơi trầm ngâm, lộn người xuống ngựa, thi triển khinh công nhảy lên cành cây, chỉ thấy trong rừng có mấy người đuổi ra: “Đáng tiếc, đáng tiếc! Để con ngựa chạy mất! Ồ, lại còn có một con ngựa hồng, đáng tiếc cũng chạy mất!”
Ngựa của Vân Lối là loại chiến mã đã được huấn luyện, biết cách tự trốn tránh, nhưng chỉ cần chủ nhân gọi thì sẽ quay trở lại. Vân Lối không cần lo lắng, thế là thi triển khinh công đạp từ cành này sang cành khác, trong khoảnh khắc đã vào sâu trong rừng.
Trong rừng có tiếng người nói ồn ào, Vân Lối nấp trên cây nhìn xuống, chỉ thấy thư sinh ngồi bệt xuống một tảng đá, khăn che mặt của y cũng bị lột ra. Xung quanh có bảy tám người đứng lố nhố, cha con Sa Đào cũng có ở trong đó, ngoài ra còn có một đầu đà xõa tóc, một đạo sĩ mặc áo xanh, bộ dạng trông rất kỳ quặc. Chỉ nghe Sa Đào cười lạnh nói: “Dù ngươi có chạy thế nào cũng chẳng thoát nổi bàn tay của ta, ngươi có muốn sống không?”
Thư sinh ấy lắc đầu nói: “Loài kiến kia còn ham sống huống chi là con người?”
Sa Đào nói: “Ngươi đã muốn sống, vậy hãy gọi con Chiếu dạ sư tử mã trở về! Ta không cần châu báu của ngươi, nhưng con ngựa thì phải lấy cho bằng được!”
Thư sinh ấy lại lắc đầu: “Bảo mã thần câu, đâu thể dễ dàng đổi chủ!”
Sa Đào cười lạnh nói: “Tên bảo tiêu của ngươi đã làm rể ở Hắc Thạch trang, còn ai có thể bảo vệ được cho ngươi?”
Thư sinh ấy đột nhiên chỉ tay: “Ngài không biết đó thôi, bảo tiêu của tôi đã tới!” Rồi đột nhiên kêu lớn: “Bảo tiêu, ngươi không mau xuống cứu ta?”
Đó chính là:
Sóng gió giang hồ thật khó đoán, liễu mờ hoa sáng lại một thôn.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 5
Rong chơi trong cõi người nửa cuồng nửa hiệp
Danh sĩ chợt đau lòng lúc khóc lúc ca
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:33 pm

Hồi 5
Rong chơi trong cõi người nửa cuồng nửa hiệp
Danh sĩ chợt đau lòng lúc khóc lúc ca


Vân Lối không ngờ y chỉ ra chỗ ẩn nấp của mình, lòng tuy bực bội, nhưng cũng đành đáp người xuống đất. Đầu đà tóc dài biến sắc phất tay, ba mũi phi tiêu phóng tới, Vân Lối đang lơ lửng trên không trung, không thể rút kiếm được, cũng không thể chống đỡ, né tránh, nhưng chợt nghe ba tiếng keng keng keng vang lên, ba mũi phi tiêu của đầu đà ấy rơi cả xuống đất. Đầu đà tóc dài thất kinh, lại thò tay rút ám khí, Sa Đào trầm giọng nói: “Hãy khoan, dù tên tiểu tử mọc cánh cũng khó thoát!” Thế là phất tay, bảy tám người chạy tới bao vây Vân Lối vào giữa. Sa Vô Kỵ vừa thấy Vân Lối, nỗi ganh tị và hận thù trỗi dậy trong lòng, y nghiến răng kèn kẹt quát: “Tên tiểu tử kia, ngươi không làm rể ở Hắc Thạch trang mà đến đây làm gì? Dù Oanh Thiên Lôi có giỏi đến mấy cũng không thể bảo vệ được cho ngươi nữa!” rồi giương đao toan phóng lên, Sa Đào ghé lại rồi hỏi Vân Lối: “Có phải Thạch Anh bảo ngươi đến hay không?” Sa Đào e ngại Thạch Anh, khi chưa hỏi rõ ràng thì không dám làm bừa. Thư sinh ấy ngồi trên tảng đá, cười ha hả nói: “Các ngươi không nghe ta nói ư? Là ta kêu y đến! Y là bảo tiêu của ta, các người muốn lấy của cải của ta, hại mạng ta, sao y lại không thể đến? Tên bảo tiêu, ngươi ăn của ta, uống của ta, nay ta gặp nạn, sao ngươi vẫn chưa ra tay?”
Sa Đào quát: “Có thật không liên quan đến Oanh Thiên Lôi hay không?”
Vân Lối rất tức giận, nhưng trong tình thế ấy cũng đành phải ra tay, nàng rút thanh bảo kiếm trong tay, quát rằng: “Cái gì mà Oanh Thiên Lôi, Oanh Địa Lôi? Ta chỉ nhờ thanh kiếm này trong tay độc lai độc vãng, chưa bao giờ giả thần giả qủy, nói một bên kêu người khác ra tay cho mình!” lời ấy rõ ràng là mắng kẻ địch, nhưng thực tế là mắng thư sinh ấy. Thư sinh lại cười ha hả, nói: “Hay lắm, hay lắm! Tên bảo tiêu này rất giỏi, quả nhiên có bản lĩnh!”
Sa Đào cười gằng rồi nói: “Tên tiểu kia, nếu không liên quan đến Oanh Thiên Lôi, vậy thì ngày chết của ngươi đã tới!” Thế rồi hai chưởng vỗ ra liên tục, đầu đà tóc dài và đạo sĩ áo xanh cũng lắc người tiến lên, vây Vân Lối vào ở giữa. Vân Lối xoay bước, giơ kiếm đâm thẳng vào huyệt Phong Phủ trên vai của Sa Đào, chợt nghe keng một tiếng, đầu đà ấy dựng thanh giới đao gạt kiếm của Vân Lối ra, khiến nàng cảm thấy hổ khẩu tê rần, lại một bóng xanh xẹt tới, thanh trường kiếm của đạo sĩ áo xanh cũng đâm tới, Vân Lối vội vàng thi triển thân pháp Xuyên Hoa Nhiêu Thụ, lách xéo qua một bên, chưa kịp quay lại thì chỉ nghe soạt một tiếng, ống tay áo đã bị mũi kiếm chém mất một mảnh! Đao của đầu đà ấy chạm vào kiếm của Vân Lối, tuy đẩy nàng thối lui, nhưng thanh đao cũng bị mẻ mất một mảnh, lớn giọng quát: “Tên tiểu tử sử dụng bảo kiếm!”
Đạo sĩ áo xanh nói: “Hay lắm, hay lắm! Ngựa tốt kiếm quý đều giành được!” Thế rồi xoay kiếm lại chém tới, Vân Lối lật kiếm đón lấy, nào ngờ đạo sĩ ấy chém được nửa đường thì hạ xuống đâm tới, quát: “Xem chiêu!” Đạo sĩ ấy biến chiêu rất nhanh, Vân Lối biến chiêu càng nhanh hơn, nàng đánh ra một chiêu Điên Đảo Âm Dương, đổi chiều kiếm đâm vào bụng dưới của đạo sĩ áo xanh, rồi cũng quát: “Xem chiêu!”
Huyền Cơ Dật Sĩ năm xưa đã sáng tạo hai bộ kiếm pháp, một bộ gọi là Bách Biến Âm Dương Huyền Cơ kiếm, một bộ gọi là Vạn Hán Triều Hải Nguyên Nguyên kiếm.
Bách Biến Âm Dương kiếm pháp là bộ kiếm pháp rất kỳ ảo, trong đó chiêu Điên Đảo Âm Dương này là hay nhất, vốn tưởng rằng đạo sĩ ấy sẽ trúng kiếm, nào ngờ kiếm vừa đâm ra, chỉ nghe soạt một tiếng, thanh giới đao của đầu đà ấy đã bị nàng chém trúng!
May mà đạo sĩ áo xanh né tránh lanh lẹ, đai tơ cột đạo bào đã bị Vân Lối chém đứt, khiến cho đạo sĩ toát cả mồ hôi. Vân Lối sử dụng chiêu kiếm pháp tuyệt diệu này đâm không trúng đạo sĩ, nàng cũng thất kinh, vội vàng phóng người né tránh, chặn thanh giới đao của đầu đà, lại né thêm được một cú chụp của Sa Đào, đạo sĩ áo xanh lại giơ kiếm xông tới. Sa Vô Kỵ kêu lên: “Bắt sống không được thì giết chết! Cùng nhau xông lên chém chết tên tiểu tử này!” Thế rồi hô mọi người cùng bao vây Vân Lối.
Cha con nhà họ Sa chẳng phải tay vừa, đầu đà tóc dài và đạo sĩ áo xanh kia võ nghệ càng cao cường hơn, hai thanh giới đao, một thanh trường kiếm hô ứng lẫn nhau khiến cho Vân Lối không thể nào thi triển sở trường của thanh bảo kiếm. Vân Lối bị vậy vào ở giữa, vòng vây càng lúc càng siết chặt, Sa Vô Kỵ hận nàng đã cướp mất tiểu thư nhà họ Thạch, nhờ thanh giới đao và trường kiếm yểm hộ, cứ lao lên trước tiên. Trong lúc kịch chiến, đao kiếm, chưởng của đầu đà, đạo sĩ và Sa Đào đồng thời đánh tới, Vân Lối đánh ra một chiêu Lực Hoạch Hồng Câu, gắng gượng chống đỡ, Sa Vô Kỵ đã nhìn thấy sơ hở, thanh qủy đầu đao chém thẳng xuống đầu nàng, một tên thuộc hạ của y cũng móc xéo cây câu liêm thương vào, Vân Lối dù cho ba đầu sáu tay cũng không thể nào địch nổi với nhiều đối thủ như thế, Sa Vô Kỵ nghiến răng nghiến lợi, nhát đao ấy càng mạnh hơn, đột nhiên bỗng cảm thấy ở cổ tay tựa như có người dùng kim đâm vào, bất giác kêu lên một tiếng, thanh qủy đầu đao vụt khỏi tay, ánh hàn quang xẹt tới, khí lạnh lướt qua cổ Vân Lối. Vân Lối thất kinh, chỉ thấy kẻ sử dụng câu liêm thương cũng kêu lớn một tiếng, cây câu liêm thương móc ngược trở về, tự làm bị thương mình, thế là ngã nhào xuống đất, chẳng mò dậy nổi nữa. Té ra hình như y cũng bị người ta dùng kim châm đâm trúng, cánh tay cầm thương bị đau quá nê rút lại, cho nên không những chẳng làm Vân Lối bị thương mà ngược lại còn móc một mảng thịt ở be sườn của mình.
Vân Lối rất lanh lẹ, nhân lúc kẻ địch đang lúng túng, đột nhiên nhảy vọt ra, chỉ nghe thư sinh ấy cười rằng: “Hay lắm, hay lắm! Tên bảo tiêu, món ám khí của ngươi cũng lợi hại lắm!”
Vân Lối được tên thư sinh ấy nhắc, lòng thầm nhủ: “Địch động ta ít, phải dùng ám khí mới được!” nhân lúc sơ hở, nàng lấy ra một nắm Mai Hoa Hồ Điệp tiêu phóng về phía trước, Vân Lối xuất đạo chưa bao lâu thì được người ta gọi là Tán Hoa nữ hiệp, công phu phóng Hồ Điệp tiêu đã rất ghê gớm. Chỉ nghe tiếng leng keng vang lên, ngoại trừ đầu đà, đạo sĩ và Sa Đào có thể gạt được ám khí, những kẻ còn lại đều bị trúng ám khí ngã xuống. Đầu đà tóc dài và đạo sĩ áo xanh đều là những cao thủ hắc đạo do Sa Đào mới tới, thấy thế thì kinh hoảng, không biết có phải hai món ám khí ban đầu là do Vân Lối phóng hay không? Nếu Vân Lối phóng thì y đang ở trong vòng vây, mà vẫn có thể thần không biết qủy không hay, âm thầm phóng ra ám khí, bản lĩnh ấy thật kinh người! Nếu không phải Vân Lối phóng, vậy thì cao thủ đã âm thầm trợ giúp cho nàng là một kình địch. Thế là ba kẻ cường địch đang bao vây Vân Lối đều run sợ trong lòng. Đầu đà tóc dài kêu lên: “Tùng Thạch đạo huynh, ông hãy chặn y, Sa trại chủ, ông hãy cướp bảo kiếm của y để tôi xem thử!” Chợt nghe tách một tiếng, cổ tay của đầu đà ấy lại tựa như bị kim đâm vào. Trong ba người, đạo sĩ áo xanh võ công cao nhất, y để ý thì thấy thư sinh ngồi trên tảng đá hơi nhúc nhích, vội vàng kêu lên: “Sư huynh, chính là hắn!” Thế là trường kiếm mở ra, từ bên cạnh Vân Lối phóng kiếm về phía thư sinh ấy! Thư sinh kêu lên: “Cứu mạng, cứu mạng!” người run bần bật tựa như cành hoa trong mưa gió. Đạo sĩ mặc áo xanh ấy tên gọi là Tùng Thạch đạo nhân, là đệ tử đời thứ hai của phái Võ Đang, phái Võ Đang nổi tiếng với môn Thất thập nhị thủ liên hoàn đoạt mệnh kiếm. Nhát kiếm này rất nhanh, kêu soạt một tiếng, đâm xuyên qua be sườn của y, cả áo cũng không chạm tới. Kiếm pháp của Tùng Thạch đạo nhân, cứ chiêu này tiếp lấy chiêu khác, liên miên không ngớt, trong chớp mắt đã đánh ra bốn chiêu, thư sinh nhảy nhót loạn xạ, nhưng đều có thể tránh được, mặc cho kiếm quang loang loáng, kiếm ảnh tung hoành nhưng thư sinh ấy chẳng hề gì.
Từ sau khi Tùng Thạch đạo nhân nhảy ra khỏi vòng chiến, tuy áp lực đã giảm nhiều, nhưng đại đao của tên đầu đà càng nặng nề hơn, Độc Sa chưởng của Sa Đào càng khó phòng bị, dù Vân Lối gắng gượng cũng chỉ ngang sức với bọn họ. Chợt nghe thư sinh ấy kêu cứu mạng, lòng thầm nhủ: “Chả lẽ mình đã nhìn sai người, tên thư sinh này thực sự không biết võ nghệ?” Đang lúc kịch chiến thì nàng phân thần, đến khi liếc mắt lại thì suýt nữa bị đầu đà ấy chém trúng một đao, Vân Lối tức giận nhủ thầm: “Tên thư sinh này thật đáng ghét, mình phải liều mạng với kẻ cường địch vì y, y lại bỡn cợt mình! Lần này xong chuyện thì mình đừng thèm để ý đến y nữa!”
Vân Lối đã bị thư sinh ấy trêu ghẹo đến nỗi nổi giận, nhưng lại không biết Tùng Thạch đạo nhân đã bị y trêu ghẹo đến điên tiết! Tùng Thạch đạo nhân cứ đánh ra liên tiếp, nhưng chẳng đâm được thư sinh ấy, thư sinh thì kêu inh ỏi “Cứu mạng!” Đột nhiên buông giọng cười dài nói: “Hà hà, té ra ngươi đang đùa với ta, thật là vui! Một, hai, ba, bốn... tám, chín... mười hai, mười ba... mười chín, hai mươi...” Đạo nhân cứ đâm một kiếm thì y đếm một lần, trong chốc lát đã đếm đến hai mươi. Sa Vô Kỵ trúng một châm, bị thương không nhẹ, lúc này đã bò dậy được nhặt thanh qủy đầu đao len lén tiến tới gần. Thư sinh ấy vừa né vừa đếm, chẳng để ý gì đến xung quanh, Sa Vô Kỵ từ sau tảng đá xuất thần nhảy vọt ra, một đao chém tới, thư sinh ấy đột nhiên trở tay đánh lại một chưởng, trúng vào sóng mũi của Sa Vô Kỵ, máu tươi phun ra. Thư sinh buông giọng mắng: “Tên vô dụng kia, ta cứu mạng của ngươi, ngươi lại muốn lấy mạng ta, không đánh một chưởng thì ngươi không tỉnh, ngươi chẳng có lễ phép gì cả! Sa lão tặc dạy ngươi lấy oán báo ân đấy ư?” lời ấy vừa nói ra, Sa Đào, Sa Vô Kỵ và Vân Lối đều hiểu ra. Đêm ấy Sa Vô Kỵ và Phó trại chủ đánh lén ở ngôi chùa cổ, lẽ ra đã mất mạng dưới kiếm Vân Lối, nhưng lại có người âm thầm, phóng ám khí khiến cho kiếm thế của Vân Lối lệch qua một bên, Sa Vô Kỵ mới có thể thoát thân. Sau đó Sa Vô Kỵ đã kể lại với cha, cả hai người suy đoán nhưng cũng không thể nào đoán được chính là thư sinh này.
Sa Đào bất giác ngẩn người ra, Vân Lối đang lấy công làm thủ, kiếm thế nhanh nhạy lạ thường, soạt một kiếm đã chém chiếc mũ trên đầu Sa Đào ra làm hai, Sa Đào cả giận, lòng thầm nhủ: “Con mình cướp ngựa quý châu báu của y, y lại âm thầm giúp đỡ? Trên đời này sao lại có chuyện như thế!” Thế rồi mười ngón tay chụp vào mặt Vân Lối. Tên đầu đà ấy cũng bị kiếm phong của Vân Lối quét trúng, suýt tý nữa thì bị thương, cả hai người đều là cao thủ trong chốn hắc đạo, ngang ngược đã quen, chưa bao giờ chịu nhục như thế này. Trong lúc tức tối, chẳng thèm để ý đến lời nói của thư sinh ấy, thấy Vân Lối tuổi trẻ võ công kém, cứ từng bước dồn tới, ý đồ sau khi đánh ngã Vân Lối sẽ cùng đối phó với thư sinh ấy. Vân Lối bị bọn họ tấn công gấp, trước sau đều gặp địch, hầu như không thở nổi. Đang lúc kịch chiến, nàng cũng chẳng thèm nhìn đến thư sinh ấy. Bên tai chỉ nghe y luôn miệng đếm: “Ba mươi lăm, ba mươi sáu... ba mươi chín, bốn mươi... bốn mươi ba, bốn mươi bốn... bốn mươi tám, bốn mươi chín, năm mươi! Hay lắm, ta đã lãnh giáo kiếm pháp của phái Võ Đang! Ta không muốn đùa với ngươi nữa!” Nói vừa dứt, chợt nghe Tùng Thạch đạo nhân quát lên một tiếng, té ra trong chớp mắt, thanh trường kiếm của Tùng Thạch đạo nhân đã bị thư sinh ấy giật mất! Vân Lối đang lúc nguy hiểm, ban nãy vừa mới tránh được một chưởng của Sa Đào, cây giới đao của đầu đà ấy lại chém tới trước mặt, Vân Lối chém ngược lại bằng một chiêu Đảo Quyện Chu Liêm, tránh được mũi đao của tên đầu đà, trở cổ tay lại, mu bàn tay vỗ xuống, chiêu này rất quái dị, Vân Lối chưa kịp biến chiêu chống đỡ, chợt thấy một bóng áo xanh xẹt tới. Soạt một tiếng, tia lửa bắn tung tóe, chỉ nghe thư sinh ấy kêu lên: “Con lừa trọc nhà ngươi thật đáng ghét!” Đầu đà ấy kêu thảm, cùng Sa Đào phóng người bỏ chạy. Té ra chỉ trong chớp mắt, thư sinh ấy đã dùng thủ pháp sấm sét đột nhiên lướt tới, giật thanh trường kiếm của Tùng Thạch đạo nhân, chém về phía thanh giới đao. Thanh kiếm của Tùng Thạch đạo nhân mỏng hơn thanh giới đao, theo lý nếu đao kiếm chạm vào nhau, thanh trường kiếm sẽ gãy, nhưng thư sinh ấy chỉ chém nhẹ một nhát mà đã chặt gãy thanh giới đao của đầu đà, nếu kiếm này là loại bảo kiếm như Thanh Minh kiếm thì chẳng có gì là lạ, nhưng thanh kiếm của Tùng Thạch đạo nhân chẳng qua rất bình thường! Có thể thấy kình lực nội gia của thư sinh này thần kỳ vô cùng, khiến cho người ta kinh hãi, dù cho thư sinh ấy không cắt một lỗ tai của đầu đà ấy, y cũng cùng Sa Đào co dò bỏ chạy! Thư sinh cười ha hả, ném thanh kiếm về phía Tùng Thạch đạo nhân rồi nói: “Cướp của giết người đã là bất nhân, không lượng sức mình là bất trí, bất nhân bất trí, sao có thể gây chuyện? Trả lại kiếm cho ngươi, hãy về luyện thêm mười năm nữa”.
Kiếm pháp của phái Võ Đang là chính tông kiếm học, đệ tử dưới trướng xưa nay kiêu ngạo tự đại, nhất là Tùng Thạch đạo nhân thường thích lo chuyện bao đồng. Cho nên y tuy chẳng phải là người trong chốn hắc đạo, Sa Đào mời y đến cướp của thì chấp nhận ngay, không ngờ đánh luôn năm sáu chục chiêu kiếm, cũng chẳng chạm được vào chiếc áo của thư sinh ấy, lúc này còn bị người ta mắng cho một trận, nào dám nghênh ngang nữa, thế là tiếp lấy thanh trường kiếm, ủ rũ trầm giọng hỏi: “Xin hãy để lại tên tuổi”.
Thư sinh nói: “Ngươi muốn tìm ta báo thù ư?”
Tùng Thạch đạo nhân nói: “Không dám”.
Thư sinh ấy lại nói: “Đã không dám, cần gì phải hỏi nhiều, ngươi không dám đối địch với ta, ta cũng không muốn kết bạn với ngươi, không phải địch cũng chẳng phải bạn, để lại tên tuổi làm gì?”
Thư sinh lý luận một hồi khiến Tùng Thạch đạo nhân cứng họng, thở dài một tiếng rồi buồn bã bẻ kiếm thành hai đoạn, xoay người bước ra khỏi rừng, thề rằng từ nay không sử dụng kiếm nữa.
Thư sinh cười ha hả rồi nói: “Hay lắm, cút hết cho ta!”
Những kẻ bị Vân Lối dùng ám khí đánh ngã xuống đất toàn là bị điểm huyệt đạo nên không thể nhúc nhích được, thư sinh đi một vòng rồi đá cho mỗi tên một cước, lập tức huyệt đạo của bọn chúng được giải khai, Hồ Điệp tiêu của Vân Lối vốn là thủ pháp độc môn, thư sinh ấy chỉ đá nhẹ thì có thể giải được, quả thật rất kinh hãi. Chỉ thấy thư sinh vừa giải huyệt vừa cười rằng: “Đêm qua ngươi đã phá thủ pháp điểm huyệt độc môn của ta, nay ta cũng phá của ngươi, vậy đôi bên không ai trách ai được!”
Vân Lối thấy thủ pháp giải huyệt của y lại không giống thủ pháp mình đã được truyền, lại chẳng hề giống như có cùng một gốc, trong lòng rất ngạc nhiên. Trong khoảnh khắc, bọn cường đạo đều đã được giải huyệt đạo, lúc nãy Sa Vô Kỵ bị thư sinh ấy đánh trúng một chưởng, đứng sững ngay tại trận, vẫn chưa bỏ chạy, thấy thư sinh cứu đồng bọn của mình thì đột nhiên tiến tới, vái dài thư sinh ấy rồi nói: “Người cứu mạng của ta, đánh ta một chưởng. Ngày sau ta cũng tha người một mạng, rồi trả cho người lại một chưởng”.
Thư sinh ấy nói: “Ta cứu ngươi một mạng là nể mặt Sa lão tặc, không cần tên tiểu tặc nhà ngươi ghi nhớ trong lòng, ngươi cũng không cần phải tha cho ta, nhưng ta vẫn chờ ngươi trả lại một chưởng. Chỉ là ngươi còn thua cả Tùng Thạch đạo nhân, vậy ngươi hãy trở về mà luyện thêm hai mươi năm nữa, cút cho mau!”
Sa Vô Kỵ lòng dạ hẹp hòi, trừng mắt nhìn thư sinh và Vân Lối rồi dắt bọn tiểu tặc bỏ chạy ra khỏi khu rừng.
Thế rồi thư sinh ấy lắc đầu, ngửa mặt lên trời than rằng: “Cha con họ Sa cũng có chút hư danh trong chốn hắc đạo, nào ngờ lại chẳng ra thể thống gì!” khi đang nói thì mặt lộ vẻ thất vọng. Tiếng ngựa hí bên ngoài khu rừng dần xa.
Vân Lối vốn muốn bỏ đi, nghe y than vắn thở dài như thế thì nén không được lớn giọng hỏi: “Kim Đao trại chủ ở Nhạn Môn quan thì thế nào? Chả lẽ cũng không phải anh hùng hào kiệt thực sự?”
Thư sinh ấy hơi biến sắc, nhưng lại mỉm cười rồi lắc đầu bảo: “Kim Đao trại chủ đương nhiên khác hẳn với cha con nhà họ Sa, nhưng bảo ông ta là hào kiệt thực sự thì cũng chưa chắc!”
Vân Lối tức giận nói: “Được, trong khắp thiên hạ, chỉ có ngươi là hào kiệt!” Rồi nàng tức giận xông ra ngoài, chợt thấy có bóng người lướt tới, chỉ nghe thư sinh ấy cười rằng: “Tiểu huynh đệ, hãy khoan, ta bảo ngươi mới thực sự là hào kiệt”.
Vân Lối luồn qua lách lại nhưng vẫn bị y chặn trước mặt. Vân Lối tức giận nói: “Ngươi cản đường ta làm gì?” Thế rồi mặc cho thư sinh đứng trước mặt, nàng phóng vọt người lên, thư sinh ấy đưa tay ra toan chặn trước ngực nàng, Vân Lối trừng mắt quát: “Ngươi... ngươi... ngươi dám bắt nạt...” Nàng định nói hai chữ “cô nương” thì chợt dừng lại, thanh Thanh Minh kiếm đột nhiên đánh về phía trước, thư sinh ấy không ngờ nàng đã thực sự nổi giận, y vội vàng thối lui, chợt nghe Vân Lối kêu lên một tiếng, nhào về phía trước. Té ra nàng đã vung kiếm quá mạnh cho nên trật khớp tay, thư sinh ấy nói: “Để ta nối khớp lại cho ngươi”.
Vân Lối tức giận nói: “Ta không cần ngươi”. Thế là hai tay bóp vào nhau, dùng lực đè mạnh, xoay lưng lại, vén tay áo xoa thuốc kim sang, rồi nàng đứng lên toan chạy tiếp, chợt cảm thấy người mềm nhũn. Té ra đánh nhau cả nửa ngày, khí lực đã tiêu hao. Thư sinh ấy vội vàng bước tới, vài nàng rồi nói: “Lần này ta xin lỗi ngươi! Tiểu huynh đệ, ngươi tâm địa hiền lành, biết lo cho người khác, quả thực là có tấm lòng hiệp nghĩa, những người ta gặp, chỉ có ngươi mới xứng làm bạn. Tính tình của ta phóng khoáng, nếu có lỗi mong ngươi đừng để trong lòng”.
Đôi mắt sáng ngời của y cứ nhìn thẳng vào người Vân Lối, Vân Lối đỏ mặt, chỉ cảm thấy thư sinh ấy rất tuấn tú, nàng cúi đầu hỏi: “Vậy tại sao ngươi mắng Kim Đao trại chủ?”
Thư sinh ấy cười rằng: “Người mà ngươi khâm phục, chưa chắc ta đã khâm phục, cần gì phải ép người ta giống như ngươi. Vả lại ta cũng chưa mắng ông ta, ông ta cũng có chỗ cho người ta kính trọng. Chỉ là... nói ra thì dài, không nói thì hơn”.
Vân Lối giật mình hỏi: “Có phải ngươi từ bên ngoài Nhạn Môn quan đến hay không?”
Thư sinh ấy ngửa mặt cười lớn ngâm rằng: “Bèo trôi vô định, cần gì phải hỏi tới!” nụ cười rất thê lương, Vân Lối nhủ thầm: “Kẻ này chắc cũng có thân thế giống như mình. Mình không muốn người ta biết thân thế đau lòng của mình, vậy cần chi phải hỏi y?”
Nàng nghĩ như thế, lòng thông cảm trỗi lên, lại bảo rằng: “Được, ta không làm phiền ngươi nữa, chúng ta hãy chia tay nhau ở đây!”
Thư sinh ấy đột nhiên cười: “Tiểu huynh đệ, hôm nay ngươi đã bảo vệ cho ta, ta cũng nên mời ngươi uống một chén rượu. Lần này ngươi có công mà nhận lộc, ta không bảo ngươi ăn không nữa”.
Vân Lối đã nghe quen với kiểu nói đùa cợt của y, nàng đã không nổi giận nữa, suy nghĩ rồi hỏi: “Ở nơi hoang vắng thế này, làm gì có rượu?”
Thư sinh ấy chúm môi lại huýt sáo, chỉ nghe bên ngoài rừng có tiếng ngựa hí dài, một lát sau, hai thớt ngựa chạy vào trong rừng, thớt ngựa đi trước chính là con ngựa trắng của thư sinh ấy, phía sau là con ngựa hồng của Vân Lối. Thư sinh cười rằng: “Bọn chúng đã kết bạn với nhau trước”. Thế rồi lấy xuống một túi da, trong túi da có một cái hồ lô sơn màu đỏ, trao cho Vân Lối nói: “Ngươi đã mệt, hãy uống trước một hớp”.
Vân Lối uống một hớp, nhíu mày buột miệng nói: “Ồ, té ra ngươi quả nhiên từ Mông Cổ đến!”
Đây là rượu sữa ngựa chỉ có ở Mông Cổ, vị hơi chua, rượu rất mạnh. Thời còn bé Vân Lối thường uống rượu cùng cha, Vân Lối thích uống rượu ngọt, không thích loại rượu mạnh này, nàng rất sợ mùi vị vừa chua vừa cay, cho nên không thể nào quên được. Thư sinh ấy mở to mắt hỏi: “Ngươi cũng từ Mông Cổ tới? Trông ngươi nho nhã như thế này, cứ tưởng là đến từ miền Giang Nam”.
Vân Lối được y khen, cũng mỉm cười đáp lại. Thư sinh ấy búng tay đánh tách một tiếng rồi cười: “Bèo nước gặp nhau, cần gì phải hỏi nguồn gốc, ngươi không cần hỏi ta, ta cũng không cần hỏi ngươi, lần này ta đã sai”.
Vân Lối không nén được sự hiếu kỳ của mình, vuột miệng hỏi: “Đêm hôm ấy, có phải hai người Hồ ấy đuổi theo ngươi không?”
Thư sinh ấy tợp một ngụm rượu, mỉm cười không đáp, Vân Lối mặt lẩm bẩm: “Ngõa Thích và Trung thổ sắp đánh nhau, ngươi là hào kiệt trong người Hán, cho nên mới bỏ chạy khỏi đất Hồ?”
Thư sinh ấy cười khổ sở, vẻ mặt rất kỳ lạ, nhưng vẫn tợp một ngụm rượu, mặc cho Vân Lối đoán mò. Vân Lối ngẩng đầu lên nhìn y, trong mắt đầy nghi vấn, lại hỏi: “Hai người Hồ ấy đã đuổi bắt ngươi, tại sao ngươi giúp ta giết một người, lại cứu một người kia?”
Thư sinh lại tợp một ngụm rượu, đột nhiên cười rằng: “Tiểu huynh đệ, ngươi hỏi rất hay! Ngươi có biết ta cứu ai không?”
Vân Lối buột miệng nói: “Là đồ đệ của Đàm Đài Diệt Minh”.
Thư sinh ấy liếc nhìn Vân Lối, thấy nàng đáp như thế thì rất ngạc nhiên, mỉm cười rồi chậm rãi nói: “Kẻ chết là võ sĩ dưới trướng của Thoát Hoan”. Chỉ nói đến câu ấy thì ngừng lại. Vân Lối càng nghi hoặc hơn nhủ rằng: “Đàm Đài Diệt Minh là võ sĩ đắc lực nhất dưới trướng Trương Tôn Châu, kẻ chết là thủ hạ của Trương Tôn Châu hay Thoát Hoan thì có gì khác nhau? Tïi sao lại giết người của Thoát Hoan mà thả võ sĩ của Trương Tôn Châu?”
Đang định hỏi tiếp thì thấy thư sinh chỉ uống rượu, biết có hỏi cũng vô dụng. Thư sinh uống vài hớp thì lắc bầu rượu, kêu lên: “Chỉ còn một nửa”. Vẻ luyến tiếc hiện ra lên khuôn mặt. Vân Lối nói: “Rượu này có gì ngon? Trung thổ ở đâu cũng có rượu ngon, ngươi uống chưa đủ hay sao?”
Thư sinh ấy buồn bã nói: “Người rời quê thì hèn, vật rời quê thì quý, ta chỉ quý loại rượu này”. Thế rồi bưng bầu rượu, cho lên mũi ngửi. Vân Lối thấy thần sắc y thì đột nhiên nhớ lại chuyện lúc bé thơ. Khi bảy tuổi, nhà và gia gia khi trở về Trung thổ, ở bên ngoài Nhạn Môn quan, gia gia đã bốc một nắm đất rồi đưa lên mũi ngửi, vẻ mặt cũng giống như y, lại bất giác buột miệng hỏi: “Ngươi không phải là người Hán ư?”
Thư sinh ấy ngạc nhiên nói: “Ngươi thấy ta không giống người Hán ư?” Thư sinh này mày kiếm mắt to, tuấn tú lạ thường, đừng nói là ở Mông Cổ chẳng tìm ra một người như y, dù tài tử ở chốn Giang Nam cũng không gặp nhiều. Vân Lối nhìn y, lại đỏ mặt rồi nói: “Dù ngươi có cháy thành tro cũng là người Hán”.
Nàng nói xong mới biết lỡ lời, thư sinh ấy liền bảo: “Đúng lắm, đúng lắm! Dù ta có chết thành tro thì cũng là người Hán! Chúng ta uống rượu!” Thế rồi mở nút bầu rượu, ngửa cổ tợp thêm một ngụm. Vân Lối cười rằng: “Ngươi cứ uống như thế, hết thì sao?”
Thư sinh ấy đã ngà ngà say, cười lớn nói: “Hôm nay là ngày ta vui nhất, đương nhiên phải uống cho thỏa thuê”.
Vân Lối nói: “Tại sao là ngày vui nhất?”
Thư sinh ấy nói: “Một là kết giao được một người bạn như ngươi, hai là ta tìm được báu vật trên đời. Nào, nào! tiểu huynh đệ, ta mời ngươi uống rượu ngắm trăng!” Thế rồi lấy ra một bức tranh, treo lên cành cây rồi lớn giọng nói: “Ngươi xem đi, có phải là báu vật hay không?”
Vân Lối xuất thân từ nhà thư hương, từ nhỏ đã có hiểu biết chút ít về từ chương tự họa. Đây cũng chính là bức tranh trong bảo tàng lâu của Thạch Anh, đêm qua ngắm không rõ, nay nhìn kỹ lại thì cũng chẳng thấy có gì đặc biệt, lòng cười thầm rằng: “Thư sinh này trông phong lưu nho nhã, thế nhưng con mắt ngắm tranh lại không cao minh”.
Thư sinh ấy uống cạn bầu rượu rồi cười lớn nói: “Chắc ngươi không nhận ra chỗ kỳ diệu của bức tranh?”
Chỉ thấy thư sinh ấy bước đến gần, nhìn một hồi rồi cao giọng hát rằng: “Có ai hát khúc Tô Hàng, hoa sen thơm mười dặm quế nở ba thu. Tưởng biết cỏ cây là thứ vô tình, mà vẫn gợi sầu vạn cổ!”
Hát đến câu cuối cùng thì cứ ngâm nga, tựa như trong lòng đang chứa đựng nỗi sầu vạn cổ. Vân Lối nhủ bụng: “Cổ nhân bảo cuồng ca sẽ khóc, nghe tiếng ca của y quả thực còn khó chịu hơn tiếng khóc!”
Không ngờ thư sinh ấy hát xong thì lại lại bật khóc, tiếng khóc chấn động cả núi rừng, khiến cho lá rụng chim bay. Vân Lối lúng túng, không biết tại sao y lại trở nên âu sầu như thế!
Thư sinh ấy khóc không ngừng, Vân Lối cũng rầu rĩ trong bụng, đối phương là một người đàn ông xa lạ, nàng muốn khuyên nhủ nhưng lại cảm thấy ái ngại; nếu bỏ đi thì lại không phải. Thư sinh càng khóc càng đau khổ, Vân Lối cũng cảm thấy mủi lòng, thế là bật khóc theo y. Thư sinh ấy liếc nhìn nàng, đột nhiên lại lau nước mắt, ngừng khóc. Rồi y ngẩng đầu lên, ngửa mặt cười lớn. Vân Lối hừ một tiếng rồi nói: “Ngươi đã uống say rồi ư? Cứ khóc khóc cười cười như thế có nghĩa là sao?”
Thư sinh ấy chỉ về phía nàng nói: “Ngươi cũng say”.
Vân Lối cúi đầu nhìn, quả nhiên thấy áo mình cũng ướt đẫm cả nước mắt. Nàng đã vô duyên vô cớ khóc cùng y, cho nên bất giác cũng bật cười.
Thư sinh ấy buông giọng cười lớn rồi ngâm rằng: “Cũng cuồng cũng hiệp chân danh sĩ, cũng khóc cũng ca vạn cổ sầu. Khi khóc thì nên khóc, khi cười thì nên cười, cần gì phải che giấu tâm tư. Ta người cũng khóc khóc cười cười, có gì khác đâu?” Thế rồi cuộn bức tranh lại, lại ngâm rằng: “Trường giang vạn cổ chảy về đông, cột ngựa Hồ sơn ý chưa sầu, sáu mươi năm quay đầu nhìn lại, Giang Nam Mạc Bắc mấy ai sầu?”
Vân Lối nghĩ bụng: “Đêm qua thư sinh này đến Hắc Thạch trang lấy bức họa, Thạch Anh nói đã chờ y sáu mươi năm, nay thư sinh ấy lại bảo sáu mươi năm quay đầu nhìn lại, còn số rất hợp nhau, ở đây chắc có một bí mật gì đó? Thế nhưng thư sinh này chỉ khoảng hai mươi mấy tuổi, Thạch Anh cũng vừa mới sáu mươi, không biết chuyện này phải giải thích như thế nào?”
Nàng đang thắc mắc trong lòng, chợt nghe thư sinh ấy chậm rãi nói: “Hôm nay khóc cũng thỏa thuê, cười cũng thỏa thuê, đáng tiếc rượu đã hết”. Bốp một tiếng, y đã ném bình hồ lô xuống đất vỡ tan. Hành vi của thư sinh ấy tuy quái dị nhưng Vân Lối cảm thấy rất cảm động. Y ngẩng đầu nhìn lên thì thấy mặt trời đã đến đỉnh đầu, Vân Lối nói: “Chúng ta chia tay thôi”.
Nàng vừa nói ra thì ngay cả mình cũng cảm thấy luyến tiếc. Thư sinh ấy hỏi: “Ngươi đi đâu, ngươi có trở về Hắc Thạch trang không?”
Vân Lối nói: “Không cần ngươi lo”.
Gã thư sinh cười rằng: “Chuyện đêm qua ngươi làm, ta đều thấy cả!”
Vân Lối nhớ lại chuyện động phòng, mặt đỏ ửng, gã thư sinh nói: “Thạch tiểu thư xinh đẹp vô cùng, lại biết võ công, tại sao ngươi cứ lần lửa từ chối, không muốn thành thân với nàng?”
Vân Lối bĩu môi nói: “Ta muốn hay không có liên quan gì đến ngươi?”
Thư sinh ấy cười rằng: “Nếu đêm qua không nhờ ta quấy rối, ngươi đã không thoát khỏi Hắc Thạch trang, sao còn chưa tạ ơn ta!”
Vân Lối nghe thế thì bật cười. Gã thư sinh lại nói: “Một bậc hào kiệt như ta, nếu rơi vào cảnh ấy cũng chẳng biết làm gì, định lực của ngươi ta rất khâm phục”.
Vân Lối lại đỏ mặt, lo rằng nếu cứ tiếp tục nói với y nữa, sẽ lộ ra bộ mặt thật của mình, thế là im lặng, phóng người lên lưng ngựa. Nào ngờ vừa mới ra khỏi rừng thì nghe tiếng chuông ngựa ở phía sau, gã thư sinh đã phóng con ngựa trắng đuổi tới, cao giọng kêu: “Tiểu huynh đệ ta có mấy lời muốn nói với ngươi”.
Vân Lối kìm ngựa quay đầu: “Nói đi”.
Thư sinh ấy thúc ngựa đến phía trước, đi song song với Vân Lối rồi mỉm cười: “Ở đại phận Sơn Tây đều thuộc thế lực của Thạch Anh và Sa Đào, ngươi đi một mình như thế không bị Thạch Anh đuổi theo bắt về Hắc Thạch trang làm nữ tế thì cũng bị cha con họ Sa bắt về hành hạ, chi bằng cứ đi cùng ta, ta sẽ làm bảo tiêu cho ngươi”.
Vân Lối nghĩ ngợi cũng thấy có lý. Chưa kịp trả lời thì gã thư sinh lại hỏi: “Ngươi đi đâu?”
Vân Lối nói: “Ta lên kinh”.
Thư sinh nói: “Thật trùng hợp, ta cũng lên Bắc Kinh, chúng ta cứ gọi nhau là huynh đệ”.
Vân Lối cười rằng: “Ta vẫn chưa biết họ tên của ngươi, làm sao xưng hô? Chả lẽ suốt ngày gọi ngươi là ca ca”.
Thư sinh ấy nói: “Ta họ Trương, tên là Đan Phong. Đan trong đan tâm, Phong trong chữ cây phong”.
Vân Lối cười rằng: “Tên thật hay, nhưng ở đất Mông Cổ không có cây phong, sao ngươi lại đặt tên như thế?”
Thư sinh ấy hỏi: “Hiền đệ, tên họ của ngươi là gì?”
Vân Lối nói: “Ta họ Vân, tên chỉ có một chữ Lối, chữ Lối trong bội lối (nụ hoa)”.
Thư sinh ấy cũng cười rằng: “Cái tên hay thật, nhưng có vẽ giống tên của một thiếu nữ hơn, ở nơi lạnh lẽo như đất Hồ, cũng khó thấy một nụ hoa, sao tên của ngươi lại được đặt như thế?”
Vân Lối biến sắc nói: “Sao huynh biết tôi lớn lên ở đất Hồ?”
Thư sinh ấy cười rằng: “Rượu của ta ngươi vừa mới uống vào thì đã biết được lai lịch, điều đó chẳng phải rõ ràng đã cho ta biết lai lịch của ngươi hay sao?”
Vân Lối nghĩ bụng, bất giác gượng cười. Nhưng nghĩ kỹ lại lời của thư sinh hình như y biết không chỉ có điều đó, bất giác trong lòng cảm thấy không yên. Trương Đan Phong tựa như biết hết mọi chuyện thiên văn đại lý từ chương võ nghệ, Vân Lối lắng nghe say sưa, dần dần quên cả sự cảnh giác. Đi một mạch thì trời về chiều, Trương Đan Phong chỉ về phía trước: “Ở phía trước có một trấn nhỏ, chúng ta hãy đến đó qua đêm”.
Hai người phóng ngựa chạy nhanh, chỉ trong khoảnh khắc đã đến một căn khách sạn. Trương Đan Phong nói: “Cho chúng tôi một phòng lớn ở phía nam”.
Vân Lối lo lắng kêu lên: “Chúng tôi cần hai phòng lớn ở phía nam”.
Lão chủ gãi đầu nói: “Rốt cuộc là cần một hay hai phòng?”
Vân Lối nói: “Hai phòng, hai phòng!”
Lão chủ quán lại nhìn thư sinh, Trương Đan Phong mỉm cười bảo: “Được, thì hai phòng”.
Lão tiểu qủy lại nói: “Chỉ có hai người thôi sao?”
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, chính là hai người chúng tôi”.
Lão chủ rất ngạc nhiên, nhưng được thuê thêm một phòng, đối với y đã có lợi, cho nên không hỏi nhiều, thế là vui vẻ dắt hai người Trương, Vân vào xem phòng rồi ra ngoài làm thức ăn. Sau khi Trương Đan Phong vào phòng thì mỉm cười nói: “Hiền đệ, không phải ta tiếc ngân lượng, hai người chúng ta cùng ở một phòng có thể nói chuyện với nhau chẳng tốt hơn hay sao? Cần gì phải cần đến hai phòng?”
Vân Lối nói: “Hiền huynh có điều không biết, bình thường tôi sợ ngủ cùng phòng với người khác”.
Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Trả trách nào ngươi đã không chịu động phòng với Thạch tiểu thư”.
Vân Lối đỏ mặt, vội vàng lảng sang chuyện khác, thư sinh ấy cũng chẳng hỏi gì cả, hai người ăn xong cơm tối thì mỗi người vào phòng nghỉ ngơi.
Vân Lối trong lògn bất an, sau khi chốt cửa phòng lại, nàng đóng chặt cửa sổ rồi lên giường nằm. Nàng cứ mãi nhớ đến giọng nói nét cười của thư sinh ấy, không dám chợp mắt, nghe bên ngoài đã đánh canh ba, trong khách sạn im lặng như tờ, dần dần cũng không cảm thấy căng thẳng nữa, tự cười thầm rằng: “Thư sinh ấy tuy cuồng phóng, xem ra chẳng phải hạng khinh bạc”.
Vân Lối đã hai đêm rồi không ngủ ngon, lúc này chẳng còn nghĩ ngợi gì nữa cho nên bất giác chìm vào giấc ngủ. Không biết ngủ bao lâu, trong mơ hồ nàng chợt thấy hình như thư sinh ấy bước đến gần giường mình, cúi người xuống mỉm cười, Vân Lối phóng kiếm tới, thư sinh ấy đột nhiên kêu hoảng, trong khoảnh khắc toàn thân đầy máu tươi. Vân Lối kêu lên kinh hoảng, chỉ nghe bên ngoài cửa kêu bình một tiếng, Trương Đan Phong kêu lên: “Hiền đệ, hãy ra mau!”
Vân Lối dụi mắt, nghe tiếng kêu của Trương Đan Phong, trong lòng rất ngạc nhiên, vừa rồi hình như không phải là cơn mơ, tiếp theo tiếng kêu của Trương Đan Phong, rồi nàng lại nghe tiếng ngựa hí, tiếng ngựa hí nghe rất thê lương.
Vân Lối nhảy bật dậy, may mà nàng chưa thay đồ, cho nên liền chạy ra khỏi cửa phòng, Trương Đan Phong ở trên mái nhà vẫy tay nói: “Ngựa tốt của chúng ta đã bị người ta đánh cắp, hãy mau đuổi theo!”
Con Chiếu dạ sư tử mã của Trương Đan Phong và con chiến mã bờm đỏ của Vân Lối đều là loại ngựa tốt đã trải qua nhiều trận chiến, người bình thường làm sao có thể tiếp cận được nó? Nhất là con ngựa của Trương Đan Phong rất hung dữ, ngoại trừ chủ nhân, không ai sai khiến nó được, cho nên Trương Đan Phong đã dám bỏ kỳ trân châu báu lên người con ngựa, chẳng hề lo lắng. Nhưng không ngờ hai con ngựa quý như thế đã bị người ta đánh cắp, người đánh cắp ngựa nếu chẳng phải là những kẻ diệu thủ thần thâu, thì là những kẻ võ nghệ phi phàm.
Dù Trương Đan Phong võ nghệ cao cường và lớn gan, nhưng chàng ta vẫn lộ vẻ lo lắng. Vân Lối nhảy vọt lên mái nhà, nói: “Đuổi theo có kịp không?”
Trương Đan Phong nói: “Ngưạ của chúng ta sẽ không nghe lời kẻ địch, đuổi theo kịp!” Thế rồi chàng lấy ra một đĩnh bạc, từ trên mái nhà ném xuống, lúc này chủ khách sạn mới chạy ra kêu gọi inh ỏi, Trương Đan Phong nói: “Tiền ở dưới đất”. Nói chưa hết câu thì người đã lướt ra đến mười mấy trượng!
Vân Lối đuổi sát theo sau chàng, phía trước ngựa vẫn hí vang trời, phía sau hai người vẫn đuổi theo, bất giác đã chạy ra đến ngoại ô, dưới ánh trăng mờ ảo, chỉ thấy thớt ngựa hồng chạy ở ph, ngựa trắng chạy ở phía sau, cả hai thớt ngựa đều hí vang trời tựa như không muốn đi, hai tên mã tặc, một kẻ mặc y phục màu xanh, che cả đầu lẫn mặt, trên tay cầm một bó nhang, trong đêm tối nhìn rất rõ ràng. Bó nhang không ngừng quét vào mình con ngựa, con ngựa bị đau muốn lồng lên nhưng bị tên mã tặc dùng hai chân kẹp lại, không thể nào làm dữ được, cứ mỗi lần bị bó nhang quét vào thì chạy một đoạn, cho nên tuy không bằng tốc độ bình thường, Trương Đan Phong và Vân Lối thi triển khinh công tuyệt đỉnh cũng không thể nào đuổi kịp. Chỉ nghe hai thớt ngựa hí lên thảm thiết, Trương Đan Phong và Vân Lối đều cảm thấy lòng đau như cắt!
Con Chiếu dạ sư tử mã nghe được tiếng của chủ nhân, lồng lộn càng dữ, tên mã tặc lại chính nhang vào mình nó, Trương Đan Phong gầm lớn một tiếng, lướt ra đến mấy trượng, tay phải vung lên, chỉ thấy mười đường ngân quang bắn tới, hai tên mã tặc tựa như phía sau có mắt, một tên lộn người móc chân xuống nấp dưới bụng con ngựa. Trương Đan Phong tiếc con ngựa quý, chỉ dám phóng ám khí vào người trên ngựa, cho nên mười mấy mũi phi châm mà chẳng trúng mũi nào. Hai thớt tuấn mã đau đớn hí lên, phóng lên trên đồi, Trương Đan Phong và Vân Lối đuổi theo không rời, chợt nghe hai tên mã tặc cười ha hả, giọng cười nghe rất trong trẻo, tựa như là hai phụ nữ. Vân Lối ngạc nhiên, chỉ thấy trên đồi có ánh lửa, mộ hoang nhấp nhô, trông rất rợn người, Vân Lối vừa đến thì bất giác nổi da gà, Trương Đan Phong đột nhiên buông giọng cười lớn: “Sao lại có giai nhân làm kẻ trộm, nửa đêm làm bạn với ma? Hãy trả ngựa lại cho ta, ta không động thủ với hạng phụ nữ”.
Rồi chàng cùng Vân Lối phóng lên đồi, chợt nghe có người nói: “Tên cướp thật lớn gan!”
Vân Lối nhìn lại, chợt thấy hai thớt ngựa chổng vó lên, chẳng kêu, cũng chẳng nhúc nhích, dưới ánh trăng trông rất lạ thường.
Vân Lối kêu hoảng lên một tiếng, chỉ nghe Trương Đan Phong cười lạnh: “Té ra là các người giở trò!”
Vân Lối định thần lại, đến khi nhìn kỹ thì thấy trên đồi có bốn hán tử, mỗi người giở một chân, tựa như đang bước lên cầu thang, ngồi ngây ra như những bức tượng. Bốn hán tử này chính là bốn thương nhân đã mua bán với Thạch Anh.
Vân Lối thở phào, trên giang hồ có một loại mã tặc, trong lúc ngựa hoang đang phóng nhanh, đột nhiên có thể chặn đường máu ở chỗ yếu hại của nó, tựa như điểm huyệt đạo, lúc đó ngựa sẽ đứng yên. Bốn thương nhân này có lẽ đêm qua đã chịu khổ, cho nên đã lấy hai thớt ngựa này báo thù. Bộ dạng trông rất quái dị, nhưng Vân Lối đã biết bọn chúng không phải là ma, cho nên không lo sợ như trước mà xông đến bốn hán tử kêu lên: “Đêm qua ta đã giải huyệt đạo cho các ngươi, tại sao các ngươi còn cướp ngựa của ta”.
Bốn hán tử ấy vẫn ngây người ra, chợt nghe trên đồi có giọng nói: “Khách đều đã đến rồi ư? Dắt họ vào mộ!” Giọng nói tựa như từ dưới đất phát ra, nghe rất lạnh lẽo, tựa như rất xa mà cũng tựa như rất gần. Vân Lối thất kinh, công phu Truyền âm nhập mật này nếu không có nội công tin thuần thì không thể làm được. Xem ra đêm nay kẻ địch không phải là ma, nhưng còn đáng sợ hơn cả ma!
Sau khi giọng nói ấy truyền ra, trong đống loạn thạch đột nhiên xuất hiện hai người, cả hai đều mặc áo xanh, che kín chỉ để lộ hai đôi mắt xanh lè, rõ ràng đó không phải là phụ nữ người Hán. Chỉ thấy hai phụ nữ khụy gối xuống đất thi lễ nói: “Xin mời!”
Trương Đan Phong nói: “Trả ngựa cho chúng tôi trước”.
Hai phụ nữ ấy nói: “Chủ nhân tôi đã căn dặn, quý vị không cần lấy làm lạ, nếu không như thế, làm sao có thể dụ được hai người đến đây”.
Vân Lối thấy họ nói với vẻ rất khách sáo, hỏi: “Chủ nhân của các người là ai?”
Một người lắc đầu cười: “Tôi đã quên quy củ lục lâm Trung Quốc các người, nhị tẩu, hãy đưa bái thiếp cho họ!” người phụ nữ phía sau đưa hai mảnh xương đầu tới, Trương Đan Phong vừa nhìn thì mặt đã biến sắc!
Vân Lối giả vờ trấn tĩnh nói: “Bái thiếp này thật đặc biệt”.
Hai phụ nữ mỉm cười đi trước dẫn đường. Trương Đan Phong bội vàng ghé tai Vân Lối nói: “Hãy chạy cho mau, chủ nhân của bọn chúng là Hắc Bạch Ma Ha!”
Vân Lối thầm kêu trong lòng: “Hắc Bạch Ma Ha!”
Đột nhiên nàng nhớ lại, đó là hai quái nhân đáng sợ nhất trong giang hồ hiện nay mà Châu Sơn Dân đã nói. Cha của họ là thương nhân Ấn Độ, vào Tây Tạng buôn bán, sống tại Tây Tạng, lấy thiếu nữ người Tây Tạng làm vợ, sinh ra một đôi anh em song sinh, một người da trắng một người da đen trông rất kỳ quái. Tiếng Phạn gọi ác ma là ma ha, cho nên những người trong tộc của họ gọi người anh là Hắc Ma ha, người em là Bạch Ma Ha. Cha của Hắc Bạch Ma Ha vốn là một bậc danh gia võ học của Ấn Độ, hai người này đã học được võ công của Ấn Độ, lại học các môn võ của Tây Tạng, Mông Cổ cho nên võ công rất kỳ quái. Hai người này được mười mấy tuổi thì rời Tây Tạng, đi khắp Trung thổ, nghe nói sau đó đã lấy thiếu nữ người Ba Tư định cư ở Quảng Châu làm vợ, bởi vậy cả nhà họ thông hiểu cả tiếng Ấn Độ, tiếng Hán, tiếng Ba Tư, tiếng Mông Cổ, tiếng Tây Tạng. Cả nhà này xuất hiện vô thường, có nhiều nhà cửa ở khắp nơi, trong người thường mang thwo kỳ trân dị bảo, nếu đạo tặc trong chốn lục lâm hay người trong quan phủ không biết họ mà muốn cướp đoạt châu báu của họ thì sẽ bị hành hạ rồi xử tử. Do đó hai đạo hắc bạch đều coi cả nhà này là sát tinh. Còn họ tại sao thường mang theo châu báu trong người, có người bảo rằng được tặng, có người bảo rằng do đánh cắp, có người bảo họ là những thương nhân châu báu buôn bán châu báu đàng hoàng tử tế, nhưng rốt cuộc sự thực ra sao, không ai dám tìm hiểu.
Thật ra cả nhà họ vừa không phải đại tặc, cũng chẳng phải thương nhân bình thường, vốn là họ thực hiện những cuộc mua bán châu báu đen tối. Vừa mua bán tang vật của đại đạo độc cướp (kẻ cướp chỉ đi một mình không có đồng bọn, gọi là độc cước đạo), sau đó bán đến Ba Tư hoặc Ấn Độ.
Phàm là đạo độc cướp thì võ công chắc chắn sẽ không tầm thường, y ráng không bao giờ thất thủ đánh cắp đồ vật không khó, khó là bán châu báu ra, có những người như Hắc Bạch Ma Ha thu mua, bọn họ rất mừng, vả lại Hắc Bạch Ma Ha bán châu báu ra nước ngoài, họ không phải lo án bị phá. Cho nên vài đại đạo độc cướp lợi hại nhất trên giang hồ đều âm thầm qua lại với Hắc Bạch Ma Ha, Oanh Thiên Lôi Thạch Anh là một trong những người ấy, cũng chỉ có Hắc Bạch Ma Ha mới dám buôn bán với họ. Thương nhân mua châu báu mà Vân Lối đã thấy đêm trước đều là những kẻ thu mua cho Hắc Bạch Ma Ha, câu chuyện này không những Vân Lối không biết mà cả Trương Đan Phong cũng thế. Trương Đan Phong vừa thấy cái đầu lâu thì thấy cái đầu lâu thì biết đó là dấu hiệu của hbmd, cho nên chàng mới len lén bảo Vân Lối bỏ chạy, không ngờ Vân Lối lại mỉm cười nói: “Ban ngày huynh chẳng phải đã bảo sẽ làm bảo tiêu cho tôi hay sao? Giờ đây tôi phải đi theo huynh!”
Trương Đan Phong tưởng rằng nàng không biết võ công và lai lịch của Hắc Bạch Ma Ha cho nên muốn giải thích với nàng, nhưng không thể nói một đôi lời được, hai phụ nữ Ba Tư ấy chốc quay đầu lại nhìn. Trương Đan Phong thầm kêu khổ.
Thật ra Vân Lối không phải không biết mà là không muốn bỏ chàng trong lúc nguy nan. Hai phụ nữ Ba Tư đi trước dẫn đường, luồn qua lách lại trong những khu mộ, không bao lâu thì đến trước một ngôi cổ mộ to lớn lạ thường, trong mộ có tiếng hỏi: “Có phải khách đến là hai tên nhãi nhép không?”
Người phụ nữ Ba Tư cười rằng: “Đúng thế, hai tên nhãi nhép này thật lớn gan!”
Người trong mộ lại lên tiếng: “Được, bảo chúng vào!”
Người phụ nữ Ba Tư đè vào cửa mộ, cửa mộ kêu lên kèn kẹt, Trương Đan Phong đột nhiên vỗ ra một chưởng. Bùm một tiếng vang lên, cửa mộ bị phá tung, chàng mới cười ha ha rằng: “Không cần ngươi mời, tự ta đã biết vào”.
Trong ngôi mộ là một sảnh đường bài trí rất sang trọng, tựa như cung điện ở dưới đất, trong sảnh có mươi hai ngọn đuốc to như cánh tay, có lẽ trong cung điện có ống không khí cho nên khi vào thì không cảm thấy khó chịu.
Vân Lối đưa mắt nhìn, chỉ thấy trong đại sảnh có một cái bàn đá thật lớn, ở giữa có hai quái nhân tóc xoăn mũi khoằm, một trắng một đen trông rất kỳ quái. Hai bên mỗi bên có hai người Hán ngồi, đó chính là bốn thương nhân đã mua châu báu. Vân Lối nghĩ bụng: “Té ra trong ngôi cổ mộ này còn có lối vào khác”.
Hắc Bạch Ma Ha hỏi: “Kẻ đánh cắp châu báu có phải là hai người này hay không?”
Thương nhân người Hán trả lời: “Chính là kẻ lớn tuổi hơn, kẻ trẻ tuổi là nữ tế của Thạch Anh, y không ra tay, lại còn giải huyệt đạo cho chúng tôi”.
Hắc Ma Ha gật đầu, chỉ về phía Vân Lối nói: “Ngươi đứng qua một bên!”
Vân Lối tiếng chống đối: “Ta và y cùng tới, tại sao phải đứng qua một bên?”
Bạch Ma Ha nhíu mày, nói: “Tên nhãi này không biết tốt xấu”. Rồi yên lặng.
Hắc Ma Ha lại chỉ về phía Trương Đan Phong, nói: “Tên nhãi nhà ngươi cũng lớn gan lắm, dám cướp của đám người ở Hắc Thạch trang, lại còn phá tổng của bọn ta, ngươi tưởng rằng bọn ta dễ dãi lắm ư?”
Trương Đan Phong cười lớn: “Các người đã đến Trung Quốc được bao lâu?”
Hắc Bạch Ma Ha tức giận nói: “Ngươi hỏi như thế là có ý gì?”
Trương Đan Phong nói: “Các người có nghe qua câu tục ngữ của người Trung Quốc “oan có đầu, nợ có chủ chưa”? Chưa nói là ta chẳng phải kẻ cướp châu báu của các người, dù cho ta có đến Hắc Thạch trang quấy rối thì có liên quan gì đến các người? Thạch Anh không hỏi đến thì cớ gì các người lại lên tiếng?”
Hắc Bạch Ma Ha lại biến sắc, chỉ nghe Trương Đan Phong lại nói: “Các người đánh cắp rượu của ta, lại còn trách ta đánh hỏng cửa lớn của các người? Lại nói nơi này chẳng phải là của riêng các người, đây là chỗ người chết ở!”
Hắc Ma Ha nói: “Hay lắm, ngươi cũng bẻn mép lắm, lại còn quản cả chúng ta nữa”.
Trương Đan Phong cười rằng: “Chả lẽ chỉ có các ngươi quản người ta? Ta thấy, các người đóng cửa mộ, thà đừng ra ngoài thì hơn!”
Bạch Ma Ha nói: “Cái gì?”
Trương Đan Phong lại nói: “Ngôi mộ này chắc là của vị vương công nào đó?”
Bạch Ma Ha nói: “Trước đây là của Tấn vương, thế nào?”
Trương Đan Phong nói: “Tục ngữ nói, đóng cửa lớn làm Hoàng đế, các người đã đóng cánh cửa lớn này chẳng phải cũng có thể xưng Hoàng đế rồi ư? Dù không làm được Hoàng đế, ít nhất cũng có thể giả mạo Tấn vương. Song, làm Hoàng đế thực sự cũng chẳng có ý nghĩa gì”.
Hắc Bạch Ma Ha bị chàng dùng lời dồn ép, không khỏi cả giận, chỉ thấy bọn chúng đột nhiên từ trong chỗ ngồi phóng vọt lên, bốn bàn tay đều chụp xuống đầu Trương Đan Phong. Vân Lối kêu lên một tiếng, đột nhiên thấy một luồng bạch quang lướt ngang qua sảnh. Té ra thanh kiếm của Trương Đan Phong cũng là loai bảo kiếm, chỉ vung lên thì đã có một luồng bạch hồng.
Hắc Bạch Ma Ha kêu lên: “Tên nhãi thật giỏi!”
Chỉ thấy trong ánh kiếm bóng người, giọng nói tựa như xé vải, Trương Đan Phong cả cười: “Ha ha! Hay thật, hay thật! Hắc Bạch Ma Ha hợp lực đối phó với một tên nhãi nhép!” lời ấy vừa nói ra, chỉ thấy Hắc Bạch Ma Ha đột nhiên lộn người lại ngồi vào chỗ cũ, tỏ vẻ rất lúng túng. Té ra bọn chúng khinh thường Trương Đan Phong, lúc nãy vừa mới nổi giận cho nên cả hai đều động thủ, không nghĩ đến quy củ võ lâm, bõn chúng tưởng rằng trong chốc lát có thể giải quyết được chàng, nhưng nào ngờ Siêu Viễn lại xảy ra ngoài ý muốn.
Trương Đan Phong rút kiếm rất nhanh, bọn chúng phóng người chụp xuống, đột nhiên thấy ánh kiếm, né tránh không được, kết quả là dù tà áo của Trương Đan Phong bị bọn chúng xé toạc, nhưng mũ tơ từ đỉnh đầu của bọn chúng cũng bị cháy mất, cả tóc cũng bị cháy mất một mảng, còn chịu mang tiếng là lớn hiếp nhỏ, đông hiếp ít.
Hắc Ma Ha nhìn Trương Đan Phong rồi nói: “Kiếm pháp hay, chúng ta phải tỉ thí mới được”. Lúc này y đã thay đổi cách gọi, đã không còn gọi Trương Đan Phong là tên nhãi nhép nữa, đã xem chàng là một đối thủ bình đẳng. Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Là hai người cùng lên hay là một đối một? Thắng thì như thế nào, bại thì như thế nào? Phải nói ra cho rõ trước!”
Hắc Ma Ha tức giận nói: “Các người hai người, bọn ta cũng hai người, không ai chiếm được phần hơn”.
Với những nhân vật đã thành danh như Hắc Bạch Ma Ha, chịu đơn đả độc đấu với hai người, có thể thấy bọn họ đã kiêng dè hai người Trương, Vân. Trương Đan Phong cướp lời nói: “Chuyện này chẳng liên quan gì đến huynh đệ của tôi, chỉ một mình tôi tỉ thí với hai người”.
Hắc Ma Ha nói: “Vậy một mình ta sẽ đối chiêu với ngươi”.
Hắc Ma Ha vừa mở miệng, Vân Lối đã nói: “Hai người chúng tôi cùng tới, đương nhiên phải cùng nhau tỉ thí với hai người”.
Hắc Ma Ha nói: “Hay lắm, hay lắm, nếu các người cùng ra tay thì ta cũng sẽ chìu theo”.
Trương Đan Phong lo lắng kêu lên: “Không, không, chỉ có một mình tôi tỉ thí với hai người!”
Hắc Ma Ha nói: “Sao lại cứ lắm lời như thế? Ta và ngươi tỉ thí, nếu huynh đệ của ngươi ra tay, huynh đệ của ta cũng không ra tay, có phải sẽ rất đơn giản hay không?”
Vân Lối chưa kịp lên tiếng thì Trương Đan Phong đã nói: “Hảo huynh đệ, hãy để ta thừ trước, nếu không xong thì ngươi ra tay nữa cũng không muộn”.
Hắc Ma Ha lấy một cây gật ngọc trong quan tài bằng ngọc ở góc phòng, cây gậy phát ra ánh sáng màu xanh, y xoay người nhảy vọt ra giữa đại sảnh rồi nói: “Đến đây, đến đây! Nếu ta thắng, tất cả châu báu và ngựa của ngươi đều thuộc về ta”.
Trương Đan Phong nói: “Nếu ngươi bại thì sao?”
Hắc Ma Ha tức giận nói: “Nếu ta bại, ngươi sẽ là chủ nhân của nơi này”.
Ngôi cổ mộ này chính là một trong những nơi cất giấu báu vật của Hắc Bạch Ma Ha, Hắc Bạch Ma Ha đem ra cá cược quả thật rất công bằng. Trương Đan Phong cười lớn: “Ai cần làm chủ nhân của cái hố ma này?”
Hắc Ma Ha hỏi: “Vậy ngươi muốn thế nào?”
Trương Đan Phong nói: “Phải chữa trị cho con ngựa của ta”.
Hắc Ma Ha cũng cười lớn nói: “Điều này thì dễ dàng vô cùng. Nhưng bọn ta đã quen mua bán, nói là phải làm. Chúng ta cá cược công bằng, ta cũng không muốn chiếm phần hơn. Báu vật của ta và báu vật của ngươi khó phân cao thấp, có lấy hay không thì tùy ngươi. Hãy xuất chiêu!”
Tà áo dài của Trương Đan Phong bị Hắc Ma Ha xé nát, vẫn còn nằm trên người, rất vướng tay chân, vả lại cũng khó coi. Trương Đan Phong sửa áo lại rồi tự cười rằng: “Mình đã trở thành một tên ăn mày”. Soạt một tiếng, chàng đã xé rách chiếc áo dài, lộ ra bộ áo bó sát người, trên áo có thêu hai con kim tâm đang quần nhau trên biển, dưới ánh đèn trông rất đẹp đẽ sang trọng. Vân Lối nhìn thế đã xuất thần, lòng thầm nhủ: “Ở Mông Cổ mà cũng có thợ thêu giỏi như thế này!”
Trương Đan Phong sửa lại quần áo, vung kiếm lên nói: “Xin mời!”
Hắc Ma Ha mỉm cười, tựa như rất hài lòng về sự lễ phép của chàng. Thân hình hơi động, nét cười chưa kịp tắt thì vù một trượng đã quét tới trước mặt chàng, Trương Đan Phong lật tay trả lại một kiếm, chỉ thấy bạch quang và lục quang chạm nhau, phát ra tiếng kêu lanh lảnh.
Đó chính là:
Bóng trượng ánh kiếm hoa cả mắt, nửa đêm cổ mộ đấu ác ma.
Muốn biết hai người thắng bại như thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 6
Liên kiếm trừ hung kỳ chiêu khải nghi đậu
Trừu ti bác kiển mật thất lộ đoan nghê
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:34 pm

Hồi 6
Liên kiếm trừ hung kỳ chiêu khải nghi đậu
Trừu ti bác kiển mật thất lộ đoan nghê


Hắc Ma Ha múa cây ngọc trượng, ánh lục quang loang loáng, chạm vào thanh bảo kiếm của Trương Đan Phong, phát ra tiếng kêu lanh lãnh, Vân Lối thấy thế thì thất kinh thầm nhủ: “Té ra cây ngọc trượng này cũng là một món báu vật!”
Hai người tựa như dùng nội công thượng thừa tỉ thí, thanh bảo kiếm của Trương Đan Phong dán sát vào cây ngọc trượng không rời, còn cây ngọc trượng của Hắc Ma Ha cũng tựa như bị luồng kiếm quang của chàng bao bọc lấy, rút không ra. Chỉ thấy hai người tựa như bị đóng đinh xuống đất, giằng co một hồi, cả hai người đều toát mồ hôi trán. Vân Lối thầm nhủ: “Cứ như thế mãi, há chẳng phải cả hai đều bị thương?” Chợt nghe vù một tiếng, Hắc Ma Ha phóng vọt người lên, cây ngọc trượng chưa rút ra, cả người lẫn trượng tựa như treo trên kiếm của Trương Đan Phong, xoay chuyển kêu lên vù vù. Vân Lối thầm nhủ: “Đầy là loại võ công gì?” Chỉ nghe keng một tiếng, Trương Đan Phong kêu lớn: “Không xong rồi!”
Vân Lối thất kinh, định rút kiếm, chợt thấy hai người tách ra, lại nghe Trương Đan Phong cười lớn: “Không sao, không sao! Té ra ngươi chẳng qua là một lão lừa già, xoay chuyển cả buổi mà chẳng hiểu ra! Ha ha! Chỉ hư danh làm kinh hãi thế tục, thế nhưng không có bản lĩnh đánh lui một tên nhãi nhép! Ha ha!” Cười chưa dứt thì chỉ thấy Hắc Ma Ha râu tóc dựng ngược, quát rằng: “Tên nhãi kia, không biết sống chết!” rồi phóng vọt người lên, màn lục quang mở rộng tựa như sấm sét bổ xuống đầu Trương Đan Phong, đòn đánh này nhanh nhạy cực kỳ. Vân Lối nghe Trương Đan Phong nói xong hai câu thì cười thầm, vừa định mở miệng ra, tiếng cười đã bị người ta chặn lại, chỉ kêu a một tiếng!
Đột nhiên nghe Trương Đan Phong lại cười lớn nói: “Tên nhãi nhép đánh chết lão lừa già!” Thế rồi bước chân không dời, bụng dưới hóp vào, người rê ra phía sau, thanh kiếm dài ba thước phóng vọt lên, chiêu này đánh ra rất đúng lúc và đúng chỗ, trong khoảnh khắc một cánh tay của Hắc Ma Ha đã bị kiếm của Trương Đan Phong chặt đứt. Té ra hai người tỉ thí bằng nội công thượng thừa, dùng giằng mãi không xong, Trương Đan Phong không dám biến chiêu, còn Hắc Ma Ha thì dùng Ma bàng công của Tây Vực để thoát ra. Trương Đan Phong tuy không bị thương nhưng cũng thất kinh, lòng thầm nhủ: “Mình không thể nào thoát khỏi cục diện giằng co này, thế nhưng y lại thoát thân được, quả thật không thể coi thường”. Lúc này chàng không có thế phá địch cho nên mới cố ý nói khích. Khi Trương Đan Phong mới vào trong mộ, Hắc Ma Ha đã coi thường chàng, cứ bảo chàng là tên nhãi nhép, sau đó mới thấy chàng thể hiện bản lĩnh, cho nên mới đổi cách gọi. Nay Trương Đan Phong lại cố ý tự bảo mình là tên nhãi nhép, quả thực đã làm cho y tức giận.
Hắc Ma Ha quả nhiên trúng kế, nổi giận phóng vọt lên thi triển độc chiêu. Nào ngờ cao thủ tỉ thí với nhau, kỵ nhất là nổi giận, trong chốc lát đã rơi vào cái bẫy lấy tĩnh chế động của Trương Đan Phong, chỉ thấy kiếm của Trương Đan Phong chém xéo ra, kiếm quang đánh vào lục quang, đã chặt vào cánh tay của Hắc Ma Ha, dù y võ công tuyệt đỉnh cũng khó thoát nổi cái họa bị chặt tay!
Nào ngờ võ công của Hắc Ma Ha lại khác hẳn Trung thổ, y vốn luyện Phật du già của Ấn Độ, toàn thân mềm nhũn như không có xương, cơ bắp ở các bộ phận đều có thể co duỗi tùy ý. Trương Đan Phong đang mừng vì sắp đắc thủ, đột nhiên cảm thấy mũi kiếm của mình trượt từ cánh tay ra sau lưng của y, còn bản thân y thì lộn một vòng chổng ngược xuống đất, hai mắt mở to, tức giận quát lớn: “Tiểu tử, ta liều với ngươi!” Rồi đột nhiên nhảy bật lên, lấy chân làm tay, múa tít cây ngọc trượng đâm về phía huyệt Đan Điền của Trương Đan Phong!
Trương Đan Phong múa kiếm như gió, trong chớp mắt đã đánh ra mấy chiêu, nhưng thấy Hắc Ma Ha lúc thì phóng vọt người lên, lúc thì chổng ngược người xuống đất, tay chân đều sử dụng, đánh cây ngọc trượng kêu lên vù vù, thế công rất mãnh liệt mà chiêu nào cũng toàn là kỳ quái. Vân Lối hít một hơi, định thần nhìn lại, chỉ thấy Trương Đan Phong đã không còn mỉm cười, còn người thì bị chụp dưới màn lục quang, chẳng hề nhúc nhích, thanh kiếm múa tít, tựa như bạch hồng quán nhật, dưới vầng lục quang, lúc thì đâm bên trái, lúc thì vạch bên phải, ra tay không nhanh lắm nhưng mỗi chiêu đều ảo diệu, hóa giải từng thế công của Hắc Ma Ha. Nàng thấy kiếm phong của chàng lúc thì chỉ sang phía đông, nhưng chợt chém sang phía tây, rõ ràng là gạt bên phải, nhưng lại không biết thế nào sau khi ra tay thì lại đâm sang trái, trong mỗi chiêu đều có công lẫn thủ, thế công của Hắc Ma Ha tựa như gió bão, nhưng không thể đẩy chàng rời nửa bước. Trượng pháp của Hắc Ma Ha là bí truyền của miền Tây Vực, là tuyệt học võ lâm hiếm thấy ở miền Trung thổ, đó gọi là Thiên Ma trượng pháp. Hắc Ma Ha đánh ra hơn một trăm chiêu mà chẳng tìm thấy sơ hở của kẻ địch, cũng bất giác lạnh mình. Bạch Ma Ha ngồi một bên lo lắng, nhưng vì đã nói trước cho nên không tiện ra tay giúp đỡ.
Hai người đều dùng quái chiêu tấn công lẫn nhau, đang lúc giằng co chợt nghe bên ngoài có tiếng gà gáy sáng, chim hót véo von, thế là đã đến lúc trời sáng. Hắc Ma Ha đánh mãi mà không thắng nên nôn nóng lạ thường, ra tay càng kịch liệt hơn, Trương Đan Phong thì vẫn chẳng hề nhúc nhích, gót chân như đóng đinh xuống đất, kiếm thế không nhanh không chậm, cứ đều đều tựa như gãy đàn, trông nặng nề có vẻ nhẹ nhàng!
Vân Lối nhìn mà hoa cả mắt, trong lòng thầm lạ, nàng từ nhỏ đã theo Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh học kiếm, tuổi tác tuy chỉ mười bảy, nhưng đã học được mười năm. Kiếm thuật của Diệp Doanh Doanh trong võ lâm có thể nói thuộc hàng số một số hai, bà ta thông hiểu kiếm thuật của các môn các phái, do đó Vân Lối tuy tuổi còn nhỏ nhưng đối với đạo kiếm thuật có thể nói là một đại hành gia, chỉ cần đối phương ra tay thì sẽ biết được lai lịch tông phái của y. Thế nhưng nàng đứng xem cả một hồi mà chẳng thấy nguồn gốc kiếm thuật của Trương Đan Phong, chỉ cảm thấy kiếm thuật của nàng cũng tựa như những gì mình đã học, bao gồm kiếm chiêu của các môn các phái, nhưng khi ra tay thì lại khác cả những gì mình đã học, bất đồ ngạc nhiên vô cùng!
Đến khi xem đến một hồi thì chợt thấy kiếm pháp của Trương Đan Phong tựa như rất quen thuộc, nhưng lại không nói được tên của bộ kiếm pháp này. Vân Lối ngẫm nghĩ trong lòng, bản thân nàng rõ ràng chưa từng gặp, cũng chưa từng nghe sư phụ nói loại kiếm pháp quái dị ấy, nhưng tại sao nàng lại có cảm giác như rất quen thuộc? Càng suy nghĩ càng ngạc nhiên, chẳng biết giải thích thế nào. Nàng chợt thấy mỗi chiêu của chàng đánh ra tuy bất ngờ, nhưng khi ra tay xong thì lại cảm thấy chiêu ấy rất hợp ý mình, tựa như mình muốn nói một câu, chưa kịp biết thể hiện như thế nào thì người khác đã nói, mà lại nói rất đúng, khiến cho mình vừa khâm phục, vừa sảng khoái, vừa bất ngờ lại vừa trúng ý.
Vân Lối toàn thần chú ý, đột nhiên trong lòng như cảm thấy có một luồng điện lướt qua, nàng cảm nhận rằng bộ kiếm pháp của Trương Đan Phong tuy khác hẳn những gì mình đã học, nhưng tựa như tương sinh tương khắc với kiếm pháp của mình, có thể phối hợp lẫn nhau, cũng giống như một đôi huynh đệ song sinh, tâm linh giao cảm, hơi thở tương thông!
Lúc này Vân Lối cảm thấy cõi lòng xao xuyến, ký ức tràn về, tuy Hắc Ma Ha và Trương Đan Phong đang kịch chiến, nhưng hình như nàng nhìn như không thấy, nghe nhưng không thấy, đột nhiên nhớ lại những lời sư phụ đã nói với nàng trước khi xuống núi.
Đó là một đêm trừ tịch, trong một căn thạch thất trên đỉnh núi Tiểu Hàn thuộc miền Xuyên Bắc, trong phòng có mười hai ngọn đuốc to như cánh tay, số lượng và kiểu dáng của ngọn đuốc cũng giống như trong căn phòng này. Dưới ánh đuốc, một phụ nữ trung niên và một thiếu nữ xinh xắn như hoa đang ngồi, đó chính là Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh và ái đồ suy nhất của bà ta là Vân Lối. Trong phòng có bày rượu thịt nhưng không phải là bữa tiệc gặp gỡ trong đêm trừ tịch mà là bữa li biệt giữa hai thầy trò, té ra Diệp Doanh Doanh đang tiễn hành cho đồ đệ của bà ta, Vân Lối học nghệ đã thành, tuân lệnh thầy ngày mai sẽ xuống núi.
Từ lâu Vân Lối đã biết mình có một mối huyết hải thâm thù, lúc nào cũng muốn xuống núi báo thù, nhưng đêm nay sư phụ tiễn đưa nàng, nàng lại cảm thấy bất ngờ. Tại sao bà ta lại bảo nàng ra đi trong đêm trừ tịch thế này? Vân Lối vừa nghe sư phụ căn dặn, vừa suy nghĩ mông lung, mặt lộ vẻ nghi hoặc. Diệp Doanh Doanh tựa như cũng cảm nhận điều đó, bà ta uống ba chén rượu rồi đột nhiên buồn bã than rằng: “Năm đã sắp hết, người đi vạn dặm vẫn chưa về. Hai mươi năm trước ta tiễn một người, không, là đuổi một người ra đi, hôm nay ta lại tiễn con”.
Vân Lối nghe thế thì thắc mắc nhưng lại không dám hỏi. Phi Thiên Long Nữ thở dài xong, định thần nhìn Vân Lối thì đột nhiên nói: “Sau này nếu đến Mông Cổ, con gặp được một người thì hãy bảo rằng ta gọi y quay về”.
Vân Lối nói: “Người đó là ai?”
Phi Thiên Long Nữ nghe nàng hỏi thì gượng cười, mặt lộ sắc đỏ, lại uống thêm một chén nữa, thì thầm nói: “Tam sư bá Tạ Thiên Hoa của con”.
Vân Lối ngạc nhiên nói: “Tam sư bá Tạ Thiên Hoa? Ông ta chẳng phải đến Mông Cổ, báo thù cho gia gia của con hay sao?”
Diệp Doanh Doanh nói: “Đúng thế, y đến Mông Cổ là chuyện mười năm trước, nhưng y rời ta là đêm nay của hai mươi năm trước. võ công của y cao cường, tánh tình lại cương nghị cơ trí, y bảo sẽ báo thù cho gia gia của con thì chắc chắn sẽ làm được. Nhưng không cần phải đến mười năm”.
Vân Lối nói: “Tại sao mười năm nay không có tin tức của người?”
Diệp Doanh Doanh thở dài: “Ta đoán y không muốn trở về nữa”.
Vân Lối nói: “Tại sao?”
Diệp Doanh Doanh đột nhiên lảng sang chuyện khác, nói: “Kiếm pháp của các môn các phái trong thiên hạ ta đều hiểu, nhưng chỉ có kiếm pháp của một nhà là ta vẫn chưa thấy, con bảo có kỳ lạ hay không?”
Vân Lối nói: “Trong thiên hạ có rất nhiều môn phái, chưa từng thấy kiếm pháp của một nhà thì đâu có gì là lạ”.
Không ngờ câu nói tiếp theo của sư phụ đã khiến cho Vân Lối thất kinh, sư phụ nàng nói rằng: “Đó chính là kiếm pháp của phái chúng ta!”
Dưới ánh nến, tựa như vẻ mặt tiếc nuối của sư phụ hiện ra trước mặt nàng. Nàng tiếp tục suy nghĩ.
Lúc đó mình cảm thấy rất kỳ lạ, liền hỏi sư phụ. Sư phụ bảo: “Con không biết rằng, những điều con học tuy cũng có thể trở thành một phái, nhưng nói thực, chỉ là nửa bộ kiếm pháp của bổn môn mà thôí. Mình hỏi tiếp thì mới biết té ra sư tổ Huyền Cơ Dật Sĩ tính tình kỳ quặc, ông ta hiểu biết rộng rãi, nhưng điều đắc ý nhất là đã sáng tạo ra hai bộ kiếm pháp khắc nhau, một bộ gọi là Vạn lưu triều hải Quy Nguyên kiếm pháp, một bộ gọi là Bách Biến Âm Dương Huyền Cơ kiếm pháp, sư phụ và sư bá mỗi người đều học một bộ kiếm pháp, thật ra chỉ là nửa bộ. Sư tổ nói: “Hai bộ kiếm pháp này là tuyệt học của muôn đời, không thể truyền cho một người. Có thể nói Quy Nguyên kiếm pháp như ngọa long, Huyền Cơ kiếm pháp như phượng hoàng, ngọa long và phượng hoàng không thể cùng một chủ, nếu cùng một chủ sẽ gây họa”. Cho nên nghiêm cầm hai người không được tự tiện truyền riêng cho nhau!”
Vân Lối đang suy nghĩ xuất thần, đột nhiên nghe Trương Đan Phong cười ha hả, Hắc Ma Ha kêu lớn một tiếng!
Vân Lối bị cắt đứt luồng suy nghĩ, ngẩng đầu lên nhìn, té ra Trương Đan Phong đã chạm với Hắc Ma Ha một chiêu, Hắc Ma Ha quét ngang cây trượng tới, không ngờ quét không trúng, ngược lại suýt nữa bị Trương Đan Phong đâm vào be sườn. Sau khi hai người đổi nhau chiêu ấy, không ai dám đánh liều tiến tới cho nên tiếp tục giằng co.
Kiếm phong vù vù, ánh đuốc chao đảo, Vân Lối đột nhiên thầm nhủ: “Chả lẽ bộ kiếm pháp này của Trương Đan Phong chính là loại kiếm pháp mà sư phụ của mình chưa từng thấy? Chả lẽ y là đồ đệ của tam sư bá ở Mông Cổ? Nhưng nhìn công lực và kiếm pháp của y rất thâm hậu, dẫu được danh sự truyền thụ cũng phải rèn luyện trên mười năm, tam sư bá một lòng báo thù cho gia gia, không thể nào vừa đến Mông Cổ đã lập tức nhận đồ đề, chuyên tâm truyền thụ võ công cho y”.
Nàng nhớ lại bức thư của đại sư bá Đổng Nhạc gởi cho Kim Đao trại chủ Châu Kiện.
Vả lại, nghe nói sư bá đã bị kẻ địch bắt sống, giam lỏng trong cung cấm, càng không thể nào thu nhận đồ đệ trong hoàng cung Mông Cổ, dù cho lùi một bước để tiến, thu nhận đồ đệ cũng không nhất thiết phải thu người Hán. Chuyện này như thế nào đây?
Vân Lối suy nghĩ mãi mà không ra. Nàng lại nhủ rằng: “Sư phụ của mình thường hay khen bản lĩnh của tam sư bá, bảo rằng người nói thì làm được, đã chịu hứa sẽ báo thù cho gia gia, chắc chắn sẽ làm được, vả lại không cần đến mười năm. Sư phụ không ngờ rằng Trương Tôn Châu vẫn nắm quyền lớn ở Mông Cổ, còn tam sư bá thì không biết sống chết! Ôi, sư phụ, người thật đáng thương!” Trong lòng hiện lên vẻ mặt của sư phụ trong đêm tiễn đưa. Tửu lượng của sư phụ vốn rất cao, nhưng đêm ấy uống vài chén thì đã say. Đột nhiên bà ta kéo tay áo lên cao, chỉ thấy cánh tay có vết kiếm ngang dọc, thì ra đó là dấu một bông hoa hồng. Sư phụ nói rằng: “Lối nhi, một người không nên quá ngang ngược, nếu ngang ngược thì làm hỏng chuyện, sau đó hối hận cũng đã muộn. Mười hai năm trước, ta đã đuổi Tạ sư bá của con, sau này mỗi đêm trừ tịch ta đều đau lòng như cắt, nén không được nên rút Thanh minh bảo kiếm vạch lên cánh tay, ha ha, đây quả thực là một cách hay, cánh tay tuy đau, nhưng nỗi đau khổ trong lòng đã giảm bớt. Mỗi lần ta vạch là một cánh hoa, con xem đây, cánh hoa hồng đẫm máu của ta có đẹp hay không?”
Vân Lối đếm lại thì đúng là mười hai cánh hoa, nàng bất giác run người. Chỉ nghe sư phụ lại tiếp tục nói: “Con đã ở đây mười năm, nhưng chưa bao giờ nghe ta kể chuyện này. Con có biết rằng mười ba năm trước, ta cũng giống như con, là một thiếu nữ trẻ tuổi xinh xắn, nhưng ta ngang ngạnh hơn con nhiều, đối với những chuyện mình không biết thì tìm mọi cách để biết. Sư tổ của con nghiêm cấm bọn ta truyền riêng võ nghệ, cho nên khi luyện kiếm thì ngăn cấm đến gần, sư tổ càng nghiêm ta càng hiếu kỳ, Thiên Hoa và ta tình như huynh muội, thế nhưng ở chuyện này thì không bao giờ lơi lỏng, chẳng hề tiết lộ cho nhau. Sư tổ của con thu nhận năm đồ đệ, ngoài cha của con là Vân Đăng học nghệ chưa xong đã đến Mông Cổ, bốn người chúng ta mỗi người đều học một môn võ nghệ, sau khi thành tài đều có thể tự lập môn hộ,ï Thiên Hoa và ta qua lại thân thiết nhất, ta đã nhiều lần ép ông ta, ông ta không chịu tiết lộ kiếm pháp đã học, thật ra ta cũng không phải có lòng muốn học kiếm pháp của ông ta, chỉ là muốn mở rộng tầm mắt mà thôi. Ông ta bình thường rất nuông chìu ta, nhưng khi nói đến kiếm pháp của mỗi người thì lại im lặng không nói. Đêm trừ tịch năm nọ, ông ta lên núi Tiểu Hàn thăm ta, ta lại buộc ông thi triển kiếm pháp, ông ta cũng giống như trước, chỉ cười mà không nói. Ta tức giận mắng rằng: “Té ra bình thường huynh bảo yêu mến tôi, toàn là giả dối”. Ông ta nghe thế thì sắc mặt tái nhợt, môi mấp máy, nhưng vẫn nói không ra lời. Ta rút thanh kiếm, lập tức đâm thẳng tới trước ngực ông ta. Ta vốn buộng ông ta dùng kiếm chống đỡ, để xem thử kiếm pháp mà ông ta đã học, nào ngờ ông ta không hề chống đỡ, ta đâm tới một kiếm, thu chiêu không kịp, mũi kiếm vạch một đường dài trên tay ông ta, mau tươi nhỏ thành từng giọt xuống tuyết, tựa như trên viên bảo ngọc có chạm đậu tượng tư. Ta không ngờ ông là như thế, cầm kiếm đứng sững sờ ở đấy, một lúc sau chẳng nói ra lời. Ông ta đột nhiên che mặt kêu lên một tiếng, cũng không thèm băng bó vết thương rồi lướt nhanh như cơn gió. Mấy ngày hôm sau, sư tổ của con đích thân đến núi Tiểu Hàn, nổi trận lôi đình, suýt nữa đã giết chết ta, may mà có đại sư huynh cùng đến cầu xin, kết quả đã được tha mạng, nhưng trừng phạt ta ở núi Tiểu Hàn Diện Bích hối lỗi mười lăm năm. Trong mười lăm đó không được xuống núi một bước, vả lại còn buộc ta trong mười lăm năm phải làm hai chuyện tốt, một là luyện thành hai môn võ nghệ khó luyện nhất; hai là phải dạy được một đồ đệ tinh thông Bách Biến Huyền Cơ kiếm pháp, sau đó trao kiếm Thanh minh cho nó. Giờ đây mười hai năm đã trôi qua, hai môn võ công ta vẫn chưa luyện thành, nhưng đã dạy xong một đồ đệ tinh thông Huyền Cơ kiếm pháp”.
Vân Lối nghe xong mới biết Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh thu mình là học trò vốn là có duyên cớ. Chỉ nghe sư phụ lại tiếp tục nói: “Đại sư huynh Đổng Nhạc cũng rất tốt với ta, ba năm trước khi sự việc này xảy ra, ông đã phụng lên sư tổ đến biên giới Mông Cổ và Tây Tạng để làm một chuyện, lúc đó vừa từ Tây Tạng trở về. không bao lâu sau lại ra đi, trước khi ra đi đã đến gặp ta, bảo ta yên lòng luyện võ công ở núi Tiểu Hàn, bảo rằng có lẽ lần này vì họa mà được phúc. Lại hỏi ta: “Muội có biết sư phụ tại sao đã nghiêm cấm chúng ta truyền riêng võ công cho nhau không, lần này sao lại tức giận như thế?” Ta bảo: “Sư phụ hành sự chẳng ai hiểu được, muội làm sao biết được dụng ý của người? Song có một lần muội nghe người nói rằng, người đã xem hai bộ kiếm pháp này như ngọa long và phụng sồ, không thể ở cùng một chủ, về cùng một chủ sẽ có họa xảy ra. Muội cũng không hiểu tại sao”. Đại sư huynh cười rằng: “Muội có biết rằng hơn hai mươi năm trước, sư phụ đã từng tranh giành chức Minh chủ võ lâm với một ma đầu, đã đấu ba ngày ba đêm với y trên đỉnh Nga Mi không phân thắng bại được hay không?” Ta nói: “Muội biết”. Ông lại nói: “Ma đầu ấy là Thượng Quang Thiên Dã, vốn là một đại đạo trong chốn lục lâm, sau trận chiến ấy đột nhiên đã mất tích, không biết trốn ở nơi nào. Hơn hai mươi năm nay sư phụ không yên tâm, ta ra đi là phụng lệnh sư phụ dò hỏi tin tức của người này”. Ta lại hỏi: “Tên ác ma ấy lợi hại như thế, huynh đi dò thám tin tức, nếu bị y biết thì làm thế nào?” Đại sư huynh nói: “Tên ác ma ấy và sư phụ của chúng ta cùng một thời với nhau, lại rất tự phụ, dù cho có biết cũng sẽ không làm khó hạng tiểu bối chúng ta”. Ta nghe ông nói như thế, lúc này mới yên tâm, nhưng vẫn không biết chuyện này có liên quan gì đến việc sư phụ không cho phép bọn ta truyền riêng kiếm pháp cho nhau, thế là liền hỏi đại sư huynh, đại sư huynh cười rằng: “Ta đoán rằng dụng ý của sư phụ là muốn muội và Thiên Hoa đối phó với tên ma đầu ấy, để tên ma đầu ấy bại trong tay của các người khiến cho anh hùng trong thiên hạ đều biết rằng, không cần người đích thân ra tay, đồ đệ của người vẫn có thể làm được”. Ta nghe thế thì giật mình, nói: “Võ công của chúng ta so với sư phụ chẳng khác gì đom đóm so với mặt trời mặt trăng. Sư phụ không thể thắng nổi đại ma đầu ấy, bảo chúng ta đi chẳng phải sẽ chịu chết hay sao? Sư huynh, huynh không phải đùa với muội chứ?” Đại sư huynh cười lớn: “Sư phụ nếu không nắm chắc, làm sao có thể đưa các người vào chỗ chết, muội vốn rất thông minh, tại sao cũng không thể đoán ra được chuyện này?” Ta suy nghĩ mãi mà không hiểu, liền bảo đoán không được. Đại sư huynh nói: “Sư phụ đã tốn công sức của nửa đời để tìm hiểu bí mất kiếm thuật của trăm nhà để sáng tạo ra hai bộ Quy Nguyên kiếm pháp và Huyền Cơ kiếm pháp. Hai bộ kiếm pháp này chỉ cần học được một sẽ xưng bá giang hồ, nếu song kiếm hợp bích thì trong thiên hạ không ai địch nổi! Điều kỳ diệu hơn là hai bộ kiếm pháp này vốn tương phản tương thành. Không cần phải tập luyện trước với đối phương mà khi sử dụng tựa nhiên sẽ kín kẽ như áo trời, hô ứng lẫn nhau. Cho nên ta đoán sư phụ không cho các người biết cả hai bộ kiếm pháp chắc chắn có hai lý do, một là sợ các người sau khi biết bộ kiếm pháp còn lại sẽ phân tâm, len lén học lẫn nhau, ta biết rằng một người sức lực có hạn, hai bộ kiếm pháp đều phức tạp vô cùng, chỉ học một bộ thôi cũng đã phải mất nhiều công sức, tốn từ mười năm trở lên, nếu học cả hai bộ thì chỉ e khó đạt đến đỉnh cao. Vả lại hai bộ kiếm pháp này phải có hai người sử dụng mới có thể phát huy sở trường, cho nên thực tế không cần phải học cả hai bộ. Hai là tên Thượng Quang Thiên Dã ấy, bản lĩnh quả thật đã siêu phàm, sư phụ tuy muốn khắc chế kiếm pháp của y, nhưng sợ y biết trước”. Ta vừa nghe đại sư huynh nói xong thì lập tức hiểu ra sư phụ có lẽ vì sợ bọn ta trẻ tuổi hiếu sự, nếu biết cả hai bộ kiếm pháp này hợp lại thì thiên hạ không ai địch nổi sẽ gây ra họa, rồi để lộ ra ngoài, lúc đó Thượng Quang Thiên Dã sẽ biết được, cho nên đề phòng trước. đại sư huynh nói xong, hôm sau liền ra đi. Hai năm sau, Thiên Hoa cũng đi Mông Cổ, ta tuy biết bí mật song kiếm hợp bích, nhưng chưa bao giờ thử qua, Quy Nguyên kiếm pháp mà Thiên Hoa đã học, ta cũng chưa thấy qua một chiêu nửa thức”.
Câu chuyện của Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh lướt qua trong đầu Vân Lối nhanh như điện chớp, lúc này nàng mới thầm nhủ: “Nếu gã ấy đang sdu Quy Nguyên kiếm pháp, vậy mình ra tay há chẳng phải sẽ lập tức khắc chế được kẻ địch hay sao?”
Chợt nghe Hắc Ma Ha lại kêu lớn một tiếng, Trương Đan Phong hú dài một tiếng, khi ngẩng đầu lên chỉ thấy trong trường đã thay đổi. Hắc Ma Ha không cần tấn công dữ dội như trước nữa, chỉ thấy y sử dụng cây lục ngọc trượng tựa như rất mất sức, Trương Đan Phong giơ ngang kiếm đỡ trước ngực, sắc mặt ngưng trọng, tựa như tập trung tinh thần vào đầu trượng của đối phương, cứ cách một lúc lại đột nhiên đánh ra một kiếm. Hai người xuất chiêu đều chậm chạp, xem ra tựa như sau cơn mưa thì trời lại yên bình, thực ra cả hai đều đang đấu nội công thượng thừa, mỗi chiêu mỗi thức đều ẩn chứa sát cơ vô hạn. Kiếm pháp của Trương Đan Phong tuy tinh diệu, nhưng kiếm quang không thể nào dồn vào luồng hàn quang màu xanh ngọc, Vân Lối vừa nhìn thì biết chân lực nội gia của chàng kém hơn đối phương một bậc, chỉ có thể chống đỡ mà thôi. Lúc này mặt trời đã lên cao, cánh cửa mộ sau khi bị Trương Đan Phong đánh vỡ vẫn chưa lắp lại, ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào. Ánh sáng chiếu lên mặt Trương Đan Phong khiến cho chàng càng thêm bất lợi, chỉ thấy Hắc Ma Ha càng lúc càng dồn tới, y múa tít cây ngọc trượng, mỗi chiêu phát ra đều mạnh mẽ như sấm nổ. Luồng kiếm quang của Trương Đan Phong càng lúc càng thu nhỏ lại, dần dần chỉ xoay tít trên đỉnh đầu, Hắc Ma Ha quát lớn một tiếng, cây trượng bộ xuống đầu Trương Đan Phong.
Vân Lối kêu lên: “Không xong!” Rồi nàng không kịp suy nghĩ, vội vàng phóng ba mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu ra. Trương Đan Phong kêu lớn: “Hiền đệ chạy mau!”
Chỉ thấy phi tiêu phóng ra như điện, nhưng vẫn mất hút như đá rơi xuống biển chẳng còn tung tích, té ra đã bị luồng kình phong của trượng và kiếm đánh vỡ. Nói thì chậm, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, Bạch Ma Ha vốn đang vận kình chờ đợi cười lên điên cuồng, phóng vọt người lên, tay trái vung ra, chụp xuống đầu Vân Lối. Vân Lối lật tay đánh một kiếm, đột nhiên cảm thấy be sườn tê rần, nàng vội vàng phóng ngựa lướt ra mấy trượng, hít một hơi, thanh kiếm chém ngược lại, chỉ thấy trên tay Bạch Ma Ha đã có thêm một cây bạch ngọc trượng, té ra lúc nãy hai người đổi một chiêu, Bạch Ma Ha không biết thanh kiếm của Vân Lối là bảo kiếm, đã bị cây Thanh Minh kiếm chém trúng một mảng thịt trên vai, tuy khinh công của Vân Lối đã rất tinh diệu, nhưng cũng bị cạnh bàn tay của y quét trúng huyệt Tất Tông ở phía sau lưng, may mà hai người đều né tránh kình lực của đối phương, cho nên cả hai đều bị thương rất nhẹ, nếu không đã mất mạng ngay tại chỗ.
Bạch Ma Ha không dám coi thường, rút cây ngọc trượng đối phó với thanh bảo kiếm của Vân Lối. Cây ngọc trượng của Bạch Ma Ha và cây lục trượng của Hắc Ma Ha đều được chế tạo bởi loại bảo ngọc chỉ có ở Thiên Trúc, cứng rắn như sắt đá. Công lực Bạch Ma Ha hơn hẳn Vân Lối, y quét tới một trượng tựa như sấm sét, Vân Lối nào dám chống đỡ, nàng vội vàng đánh ra một chiêu Ngọc Nữ Đầu Thoa né tránh trượng phong, lách người chém kiếm tới. Bạch Ma Ha quả nhiên rất lợi hại, y vung cây ngọc trượng vù một tiếng, kéo cả người lẫn kiếm của Vân Lối vào trong luồng trượng ảnh của mình. Cây bạch ngọc trượng dài đến bảy thước dài đến bảy thước khi múa ra thì trong vòng một trượng toàn là kình lực của y, Vân Lối thi triển khinh công xuyên qua lướt lại trong màn trượng ảnh kiếm phong, nàng biết mình đang gặp nguy hiểm.
Vân Lối đột nhiên ra tay khiến Trương Đan Phong bất ngờ. Té ra công lực của chàng tuy kém Hắc Ma Ha một bậc, nhờ vào bộ kiếm pháp tinh diệu cho nên có thể tự bảo vệ được, lúc nãy chàng thu nhỏ vòng kiếm quang chính là vì muốn vận dụng lực thanh bảo kiếm để phối hợp với nội công thượng thừa giành lấy ưu thế, Thiên Ma trượng pháp của Hắc Ma Ha tuy lợi hại, nhưng cũng không thể làm gì được chàng. Hai người tỉ thí suốt đêm, tưởng rằng sẽ hòa nhau, với những kẻ có tên tuổi như Hắc Bạch Ma Ha mà chàng có thể ngang tài ngang sức với họ, họ đã phải nhận thua, không ngờ Vân Lối lại đột nhiên xen vào, dụ cho Bạch Ma Ha vào vòng chiến, đất bằng đã dậy sấm, Trương Đan Phong thầm kêu khổ: “Mình dùng một đối một, còn chịu thua thiệt, võ công của Vân Lối kém hơn cả mình, chẳng phải là đối thủ của Bạch Ma Ha”. Nhưng thấy Vân Lối nguy cấp, trong lòng nôn nóng, vội vàng đâm ra hai kiếm, chuyển thủ thành công, lướt người ra, tuy biết hai người liên thủ cũng chẳng phải là kẻ địch của Hắc Bạch Ma Ha, nhưng việc đã đến nước này, cũng đành chịu, lòng nhủ rằng: “Vân Lối mạo hiểm cho mình, mình bỏ đi sao đành”. Trương Đan Phong lướt cả người lẫn kiếm tới cứu Vân Lối. Hắc Ma Ha cười ha hả rồi nói: “Hai tên nhãi nhép nhà ngươi muốn bỏ chạy ư?” Y đang khổ sở vì không thể thắng được Trương Đan Phong, trong lòng đang lo lắng, chợt thấy Vân Lối ra tay, y vừa nhìn thì đã biết kiếm pháp của Vân Lối tuy tinh diệu, công lực vẫn còn kém, với sức của hai huynh đệ thì có thể nắm chắc phần thắng, thế rồi cây ngọc trượng chĩa về phía trước, đâm thẳng vào bối tâm của Trương Đan Phong. Chợt thấy Vân Lối kêu lên một tiếng, hai kiếm hợp lại, luồng kiếm quang chợt mở ra, đâm soạt soạt hai kiếm, gót chân trái và phải của Bạch Ma Ha mỗi bên đều trúng một kiếm, cây lục ngọc trượng của Hắc Ma Ha đâm vào, bị hai kiếm cuộn lại rồi ném ra. Hắc Ma Ha thất kinh kêu lên: “Ra khỏi phân ly, đạp vào vị đòi, vây bọn chúng!”
Thiên Ma trượng pháp của Hắc Bạch Ma Ha cũng là loại trượng pháp có thể phối hợp lẫn nhau, hai người đầu đuôi tiếp ứng với nhau, đạp vào phương vị của bát quái, tựa như bày một trận hợp vây, dù kẻ địch mạnh đến bao nhiêu cũng không thể xông ra nổi. Hắc Bạch Ma Ha là anh em song sinh, tâm ý tương thông, chiến lược vừa định, Bạch Ma Ha cố nén đau, vung trượng xéo một vòng, phối hợp với Hắc Ma Ha, tấn công về phía hai người Trương, Vân, sử dụng toàn những chiêu sát thủ! Bốn khách thương người Hán đứng một bên cũng phải hoa mắt!
Vân Lối đâm ra một kiếm, Hắc Ma Ha hất ngang qua một trượng, đó chính là chiêu Thiên Ma Hiến Tửu, đầu trượng hất lên hàm của kẻ địch, thân trượng thì đánh vào cổ tay của kẻ địch, chui trượng thì lại đè vào huyệt Đan Điền của kẻ địch, một chiêu đánh ra ba thức, quả thực lợi hại vô cùng. Bách Biến Huyền Cơ kiếm pháp của Vân Lối có sở trường kỳ dị biến hóa, nàng lách người đánh ra một chiêu Đảo Chuyển Âm Dương, mũi kiếm từ dưới đâm lên, chém ngược lại, né tránh cú hất của cây ngọc trượng, lại buộc Hắc Ma Ha nghiêng thân trượng, theo lẽ có thể giải khai được chiêu số đè huyệt của chui trượng. Nhưng Hắc Ma Ha là kẻ đã trải qua hàng trăm trận chiến, công lực lại thâm hậu, thấy kiếm pháp của Vân Lối tinh diệu, liệu rằng hai thức trước chắc chắn sẽ vô hiệu, đột nhiên tăng lực cho đòn đánh ở phía sau, xoay ngang cây ngọc trượng, chui trượng đè mạnh vào, Vân Lối chỉ cảm thấy một luồng kình lực dồn tới, chui trượng đã chạm vào đan điền của mình.
Chợt nghe keng một tiếng, lửa bắn ra tung tóe, Trương Đan Phong đánh một kiếm gạt cây ngọc trượng của Bạch Ma Ha, vẫn còn đà thuận tay quét mũi kiếm tới, lướt tới cổ họng của Hắc Ma Ha. Hắc Ma Ha cảm thấy kiếm khí lạnh lẽo dồn vào đến tận xương cốt, không biết là hư là thực, vội vàng đánh ngược lại một trượng, gạt Vân Lối ra. Hắc Ma Ha ra đòn theo phương vị của bát quái, Bạch Ma Ha đánh ngược lại một trượng, người xoay ngược lại vị càn, Bạch Ma Ha bước xéo qua khương tốn, bạch ngọc trượng cũng chém ra, hai trượng cùng hợp thành một vòng tròn lớn, Trương Đan Phong không kịp biến chiêu, kêu lên: “Không xong!”
Vân Lối đột nhiên đâm một kiếm vào ở giữa, kiếm này đâm rất đúng chỗ, chợt thấy cả hai kiếm chém xéo ra, Bạch Ma Ha né không kịp. Chiêu này nhanh như lửa xẹt điện chớp, không ai có thời gian ngẫm nghĩ, nhưng không ngờ lại phối hợp rất kín kẽ, Vân Lối mừng rỡ kêu lên: “Song kiếm hợp bích quả nhiên vô địch!”
Rồi nàng phóng ra một chiêu, chợt thấy thanh bảo kiếm của Trương Đan Phong cũng chém ra theo hướng ngược lại, cả hai kiếm tựa như song long xuất hải, khiến cho Hắc Bạch Ma Ha phải từng bước thối lui!
Trương Đan Phong vừa ngạc nhiên vừa kinh hãi, liếc nhìn Vân Lối, Vân Lối cười: “Ngươi xem, tên bảo tiêu như ta cũng không tệ chứ! Chúng ta hãy cùng sánh vai tiến lên!”
Nàng đang lúc đắc ý cho nên dùng bừa những tiếng lóng của Châu Sơn Dân đã dạy.
Trương Đan Phong vừa ngạc nhiên vừa buồn cười, múa kiếm cùng nàng sánh vai tiến lên, Hắc Bạch Ma Ha đã dồn ra hết sức, múa trượng chống cự nhưng không thể nào chặn lại được. Trương Đan Phong cười lớn: “Hay lắm, hay lắm! Hai người chúng ta hợp lại quả nhiên là châu liên bích hợp!” Chàng thuận miệng nói ra toàn những lời hay ho, Vân Lối nghe xong thì bất giác đỏ mặt, nhưng thấy Trương Đan Phong cười lớn rồi múa kiếm đánh tới nhanh như gió, ánh mắt chỉ nhìn Hắc Bạch Ma Ha chứ không để ý đến mình.
Uy lực của song kiếm hợp bích đâu chỉ tăng lên như thế, bộ pháp của Hắc Bạch Ma Ha cũng bị rối loạn, đi chẳng đúng vào phương vị của ngũ môn bát quái nữa, hai người Trương Vân sánh vai xuất kiếm, hoặc cả hai người trước sau đều ra chiêu, hoặc chia nhau đánh hai bên trái phải, hoặc tấn công cả trên lẫn dưới, hết chiêu này đến chiêu khác, thức này nối thức khác, cả hai kiếm múa tít như sóng dồn trên biển lớn. Hắc Bạch Ma Ha tuy kiến thức sâu rộng, nhưng cũng không thể nào hiểu được loại kiếm pháp quái dị này, cả hai người đều hoảng hồn! Lại đánh thêm hai mươi chiêu nữa, Bạch Ma Ha lại trúng một kiếm, Hắc Ma Ha lại bị chém đứt cái vòng vàng cột tóc. Hắc Bạch Ma Ha thở dài kêu lên: “Đúng là vỏ quýt dày có móng tay nhọn, thôi đi, thôi đi!” Đột nhiên Bạch Ma Ha nhảy vọt ra khỏi vòng chiến, giơ ngang trượng kêu lên: “Các người đã thắng, nơi này do các người làm chủ!” Rồi hú dài một tiếng, đồng bọn của hai người đều tiu nghỉu, mặt tái như xác chết, chẳng nói một lời, lầm lủi cùng Hắc Bạch Ma Ha bước ra khỏi cửa mộ.
Trương Đan Phong cười rằng: “Hai huynh đệ này quả thật là quái nhân, nhưng cũng coi như là bậc anh hùng. Này, tiểu huynh đệ....” Đang định lên tiếng hỏi Vân Lối, chợt nghe bên ngoài có tiếng ngựa hí, con Chiếu dạ sư tử mã và con ngựa bờm đỏ của Vân Lối lần lượt chạy vào. Té ra Hắc Bạch Ma Ha đã giữ lời hứa, trị thương cho hai con ngựa rồi thả về, con ngựa trắng chạy vào trước, miệng thì hí vang trời, cổ thì cọ vào người chủ nhân, tựa như rất vui mừng, Vân Lối cũng vuốt ve con ngựa của mình nói: “Ngựa ơi, ngươi đã dạy cho tên quái vật ấy một bài học. Này đại cạ... đang định hỏi lai lịch kiếm pháp của Trương Đan Phong, nàng chợt cảm thấy ngực đau nhói, nói không ra lời, Trương Đan Phong liếc nhìn Vân Lối, đột nhiên kêu lên: “Tiểu huynh đệ, hình như ngươi đã bị trúng một chưởng của Bạch Ma Ha, đừng lên tiếng...” Vân Lối gật đầu, Trương Đan Phong lại nói: “Hãy mau vận khí hộ Đan Điền, ta sẽ trị giúp cho ngươi, ngươi đã bị thương”. Thế rồi đưa tay về phía trước, Vân Lối đột nhiên xoay người, lắc đầu, ngồi phịch xuống đất, phun ra một ngụm máu rồi nói: “Không cần, tôi tự chữa trị cho mình”.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:34 pm

Trương Đan Phong ngẩn người ra, đột nhiên cười rằng: “Tiểu huynh đệ, lúc này cần gì phải kiêng dè như thế? Ta đã thấy từ lâu rồi”.
Vân Lối đỏ mặt, mở dây cột tóc, suối tóc mềm mại buông dài, nàng e thẹn nói: “Tôi không nên giấu đại ca, tôi là một thiếu nữ”.
Trương Đan Phong nói: “Hợp nhau thì kết làm tri kỷ, cần gì phải phân biệt nam hay nữ. Này, tiểu huynh đệ, chả lẽ đệ cũng suy nghĩ như người ở thế tục hay sao?”
Vân Lối nhìn thấy chàng khí chất sáng sủa, phong thái nho nhã, cũng bất giác không còn để ý đến chuyện nam nữ nữa, thế rồi mỉm cười nói: “Nhưng chúng ta đều không biết lai lịch của nhau!”
Chợt thấy Trương Đan Phong mỉm cười, xua tay rằng: “Tiểu huynh đệ, ta biết trong lòng đệ có nhiều nỗi nghi ngờ, ta cũng có nhiều điều muốn hỏi, nhưng nay đệ đã bị thương, không tiện nói nhiều, lâu thì năm ngày, mau thì ba ngày, sau khi vết thương của đệ đã khỏi, chúng ta lại sẽ nói cho thỏa thích!”
Vân Lối cúi đầu không nói, chỉ thấy Trương Đan Phong lại mỉm cười, nhìn Vân Lối nói: “Tiểu huynh đệ, vết thương của đệ như thế nào, nên trị như thế nào, ta sẽ cho đệ biết”.
Vân Lối nở nụ cười, nàng gật nhẹ đầu rồi nghĩ bụng: “Vị đại ca này thật mau mắn, rất hợp ý mình, nhưng y tại sao lại cười như thế?”
Chỉ nghe Trương Đan Phong tiếp tục nói: “Ta thấy vết thương của ngươi là do Bạch Ma Ha đã dùng chưởng lực chấn động nội tạng, công lực của ngươi không thể phát tán, cho nên cảm thấy rất nóng nực, sắc mặt đỏ ửng, nếu không kịp thời chữa trị thì nguyên khí sẽ bị tổn hao, không chết cũng trở thành tàn phế. May mà nội công của đệ vững chắc, ta sẽ dùng công lực giúp đệ đánh thông ba kinh mạch âm và ba kinh mạch dương, khí ở lục phủ ngũ tạng sẽ được thông suốt, tinh thần sẽ khỏe lại ngay”.
Thiên kinh mạch trong sách Linh khu của y học cổ đại Trung Quốc có học thuyết mười hai kinh và mười lăm lạc, xem ra tựa như ảo diệu vô lý, nhưng thực sự rất có lý, cái gọi là kinh lạc chính là con đường liên lạc mà khí huyết vận hành, khí huyết thông suốt thì đương nhiên chẳng có bệnh tật gì. (Những người học võ ít nhiều đều hiểu trung y, Vân Lối nghe chàng ta thao thao bất tuyệt đàm luận y lý, trong lòng cười thầm: “Vị đại ca này thật thú vị, hai ngày trước thấy y lúc khóc lúc cười, chỉ tưởng rằng y là một cuồng sĩ rong chơi giữa chốn nhân gian, nay thấy y lại đàm luận y đạo tựa như một nho y bác học”.
Trương Đan Phong nói xong y lý, ngừng một hồi thì lại đột nhiên cười, nhưng ta lại yêu cầu đệ một chuyện!”
Vân Lối hạ giọng nói: “Đại ca hãy nói”.
Trương Đan Phong cười rằng: “Tiểu huynh đệ, khi ta trị thương cho đệ, đệ phải quên ta là một nam tử, ta cũng quên đệ là một nữ tử, đệ làm có được không?”
Sau khi Vân Lối đã để lộ mặt thật, Trương Đan Phong vẫn cứ gọi nàng là huynh đệ, mà lại nói rất tự nhiên, trong lòng thực sự đã quên nàng là một thiếu nữ. Vân Lối vốn là người hồn nhiên, thấy chàng như thế thì cũng chẳng lo lắng gì, thế rồi nghĩ bụng: “Y giúp mình đả thông kinh mạch, đương nhiên phải đụng chạm tay chân, mình và y kết bái huynh đệ, tình như tay chân, điều đó có cần nói hay không?” Thế rồi mỉm cười, ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy ánh mắt của Trương Đan Phong như nước thu hợn sóng, tựa như cười mà không phải cười, trong lòng lại xao xuyến, mặt hơi đỏ. Trương Đan Phong nhìn xung quanh rồi cười rằng: “Trong cổ mộ này tựa như đào nguyên thế ngoại, rất hợp với việc trị liệu dưỡng thương. Chỉ là hai con ngựa này không nên ở đây”. Thế rồi hú dài một tiếng, vỗ ra một chưởng, con Chiếu dạ sư tử mã tựa như hiểu tâm ý của chủ nhân, lập tức chạy ra ngoài. Con ngựa bờm đỏ của Vân Lối mấy ngày nay đã rất quen thuộc với con Chiếu dạ sư tử mã, cũng chạy theo ra ngoài.
Trương Đan Phong đóng cửa mộ lại, đến khi nhìn kỹ thì thấy ngôi mộ được xây dựa vào núi, trong mộ có sảnh có phòng, là mộ của Tấn vương thời cổ đại. Trương Đan Phong xem xét bốn bức vách, chàng đập đập gõ gõ một hồi rồi cười: “Trong này còn có mật thất”. Thế rồi nhặt một hòn đá, đập vào một cái lỗ ở góc tường rồi xoay, một lát sau vách tường đột nhiên bật ra, bên trong có một cánh cửa ngầm, té ra loại cung điện dưới đất của các bậc đế vương công hầu đều được xây dựng như thế. Bên trong cửa đó và nơi đối xứng với cánh cửa có một bộ phận nhô ra, dùng để kê một phiến đá được chế tạo rất đặc biệt, gọi là “tự lai thạch”, có tác dụng nâng cửa. Thanh “tự lai thạch” này hai đầu hơi rộng, có khắc cánh hoa sen, ở giữa thì hẹp lại, khi đóng cánh cửa đá, đầu trên bức “tự lai thạch” chặn vào bộ phận nhô ra trong cánh cửa, đâu dưới ăn sâu vào một cái máng lõm xuống ở dưới đất bên ngoài cánh cửa, nếu không hiểu nguyên lý này thì dù để như thế nào cánh cửa cũng không bật ra.
Cánh cửa ngầm vừa mở ra, Trương Đan Phong đã đỡ Vân Lối vào bên trong, chợt cảm thấy bên trong sáng bừng, có ghế ngọc và bàn đá, trên bàn bày rất nhiều châu báu. Trương Đan Phong nhíu mày, gạt đống châu báu rơi xuống đất, rồi dùng chân dồn vào góc tường, nói: “Đừng để những thứ này cản trở”. Thế rồi Vân Lối ngồi trên ghế ngọc, cười rằng: “Loại ngọc cổ này mát mẻ, có thể giúp đệ hút nhiệt độc trong người”.
Chàng nhẹ nhàng xoa bóp những chỗ hai mạch âm dương đi ngang qua một hồi, Vân Lối cảm thấy có một luồng khí nóng đánh thẳng vào tim, một lát nữa thì cảm thấy bớt nóng nực, toàn thân mát mẻ. Trương Đan Phong ngừng tay rồi nói: “Kinh mạch dương minh của đệ đã được thông suốt, đệ hãy tự vận khí hành huyết, ngày mai ta sẽ giúp đệ đánh thông kinh mạch thiếu dương”.
Trong căn mật thất còn có rượu ngon, chắc là của Hắc Bạch Ma Ha, Trương Đan Phong uống rượu ăn thịt, đột nhiên cao giọng ca hát. Tiếng ca hát tựa như cười như khóc, tựa như căm hận chiến tranh liên miên. Vân Lối đang vận công, nghe tiếng ca như thế thì giật mình, bất giác buột miệng nói: “Chiến tranh xưa nay là chuyện bi thảm, nhưng nếu bị người Mông Cổ đánh vào, dù nam nữ già trẻ đều cũng phải cầm can qua bảo vệ xã tắc. Những người lập công cho nước nhà cũng là những người bất hũ”.
Trương Đan Phong hơi run rẩy, chén rượu đổ xuống đất, quay đầu lại nói: “Tiểu huynh đệ, hãy mau vận công, đừng lên tiếng. Ta nhất thời quên bẵng nên ca hát điên cuồng, đã kinh động đến đệ”.
Vân Lối hít một hơi, bĩu môi rồi hỏi: “Đại ca, huynh nói xem, lời của tôi có đúng hay không?”
Trương Đan Phong tợp một ngụm rượu rồi nói: “Hay lắm, hay lắm! Thực ra người muốn chiến tranh không phải trăm họ, nếu những bậc hào kiệt không muốn xưng vương xưng đế tranh đoạt giang sơn thì há chẳng tốt hay sao? Này, tiểu huynh đệ, chúng ta đừng bàn luận nữa, đệ hãy mau chuyên tâm vận công”.
Vân Lối thầm nhủ trong lòng: “Vị đại ca này rất tốt, tại sao vừa nhắc đến chuyện chiến tranh giữa Mông Cổ và Trung Quốc thì lại đau đớn như thế? Tại sao?” Những câu hỏi cứ mãi lẩn quẩn trong đầu nàng. Trương Đan Phong chậm rãi bước tới trước mặt nàng, nói: “Tiểu huynh đệ, ta vốn muốn đợi sau khi đệ khỏe thì chúng ta sẽ nói cho thỏa thích, nhưng thấy đệ hình như nếu chưa hiểu rõ thì không thể nào yên lòng vận công được”.
Vân Lối hạ giọng nói: “Đúng thế”.
Trương Đan Phong nói: “Nhưng đệ bị thương nên không thể nào phân tâm nói chuyện được. Chuyện giữa chúng ta không thể nào hiểu rõ trong một giờ nửa khắc được, thế này nhé, đệ cứ yên tâm vận công, sau khi ăn cơm tối, ta sẽ kể cho đệ nghe một câu chuyện, mỗi ngày đệ đều phải ăn cơm tối, theo ta tính, ba ngày sau đệ sẽ khỏe, vậy mỗi ngày ta đều kể cho đệ nghe một câu chuyện. Đến ngày thứ tư, đệ đã khỏe hẳn, chúng ta lại sẽ nói lai lịch của nhau ra. Tiểu huynh đệ, nếu đệ không nghe lời, ta sẽ chẳng kể chuyện cho đệ nghe, nào, bây giờ đệ không được hỏi, hãy mau vận công”.
Ánh mắt của Trương Đan Phong tựa như có một sức mạnh bắt buộc, Vân Lối chỉ cảm thấy, khi mình còn là một đứa trẻ, mỗi đêm mẹ thường hát bài hát thôi miên bằng tiếng Mông Cổ, ánh mắt dịu dàng ấy khiến cho nàng mãi mãi không quên. Ánh mắt của Trương Đan Phong lúc này khiến nàng nhớ đến người mẹ. Nhưng ánh mắt của hai người vừa giống nhau lại vừa khác nhau. Nàng lại nhớ mỗi lần gia gia dạy dỗ nàng đều nhìn nàng với ánh mắt nghiêm khắc, ánh mắt của Trương Đan Phong lại khiến nàng nhớ đến gia gia. Ánh mắt vừa hiền từ vừa nghiêm khắc khiến cho người ta cúi đầu, Vân Lối như cảm thấy bị thôi miên, cõi lòng yên tĩnh trở lại, không lâu sau thì bắt đầu chú ý vận công.
Ngôi cổ mộ này được xây dựng dựa theo núi, một bên của mật thất trong mộ chính là vách núi, vách núi này trơn bóng như kính, trên đỉnh thạch thất còn có lỗ thông gió và thông khí, vách đá đối diện cánh cửa có khảm một cái kính nhỏ, căn mật thất cấu tạo rất đặc biệt, người trong phòng có thể nhìn thấy cảnh vật ở bên ngoài nhờ tấm kính, nhưng người bên ngoài thì không thể nhìn vào bên trong được. Lúc này ánh mặt trời từ lỗ thông gió chiếu vào trong phòng, nhìn bóng nắng dưới đất tựa như đã đến giờ ngọ, bên ngoài đột nhiên có tiếng động, tựa như có người đang đào cửa, cánh cửa mộ ở bên ngoài, đêm qua khi hai phụ nữ người Ba Tư dắt hai người Trương Vân vào bên trong, đã bị hỏng cánh sen trồi lên ở dưới, không còn thanh “tự lai thạch” chặn lại, sau khi người bên ngoài đào đất thì có thể đẩy ra. Màu sắc của tấm kính đồng cũng giống như màu sắc của bức tường, Vân Lối nhìn kỹ lại, bóng người lờ mờ trong tấm kính đồng tựa như rất quen thuộc. Nàng vội vàng lấy tay áo lau tấm kính đồng, nhìn kỹ lại thì kêu lên, thiếu nữ này chẳng phải ai khác, đó chính là con gái của Oanh Thiên Lôi Thạch Anh, Thạch Thúy Phượng.
Chỉ thấy Thạch Thúy Phượng lò dò bước vào, vừa đi vừa kêu: “Vân công tử, Vân công tử!”
Vân Lối thầm cười: “Mình và nàng ta chỉ là một nửa vợ chồng, thế mà nàng lại lo lắng cho mình đến thế”. Ánh sáng trong mộ mờ ảo, Thạch Thúy Phượng bước gần đến thông đạo, khi vào đại sảnh thì nàng đánh đá lửa lên, thấy trong điện có cắm mười hai ngọn đuốc thế là nàng châm lửa từng ngọn, khiến đại sảnh sáng như ban ngày. Tấm kính đồng khảm trong mật thất chiếu rõ bộ mặt của Thạch Thúy Phượng khiến cho Vân Lối thất kinh: “Không gặp mấy ngày mà nàng lại tiều tụy đến thế!” Thạch Thúy Phượng đi quanh trong căn đại sảnh tìm kiếm, đột nhiên nàng ngồi thụp xuống đất. Nàng bật khóc òa lên, té ra nàng đã phát hiện một vệt máu, đó chính là máu của Bạch Ma Ha, nhưng nàng lại tưởng là của Vân Lối. Hắc Bạch Ma Ha là khách hàng quen thuộc của cha nàng, nàng đương nhiên biết sự lợi hại của hai tên ma đầu này, thế rồi nghĩ bụng: “Vân tường công đã bị Hắc Bạch Ma Ha đánh bị thương, chỉ e không chết cũng tàn phế”. Cho nên khóc òa lên.
Vân Lối thấy nàng khóc thê thảm, trong lòng cảm thấy bất nhẫn đứng dậy, định đẩy cửa bước ra, Trương Đan Phong đè nàng xuống rồi nói: “Dù bên ngoài thế nào, đệ cũng đừng lên tiếng”. Thế rồi đè vào lòng bàn tay nàng, lại giúp nàng vận khí hành huyết. Chỉ thấy Thạch Thúy Phượng khóc một hồi, lấy ra một cây san hô đặt trên bàn, đó chính là sính lễ Vân Lối tặng cho nàng, rồi lại khóc một hồi, kêu lên: “Đệ đệ, đệ đệ, ta thật khổ!”
Vân Lối kêu thầm trong lòng: “Tỷ tỷ, tôi vẫn chưa chết, tôi vẫn chưa chết!”
Nhưng Thạch Thúy Phượng nào nghe thấy, nàng lại vừa khóc vừa kêu, đột nhiên rút thanh bội đao ra, chém hờ trong không trung rồi nói: “Lôi đệ, dù hai tên ma đầu ấy có lợi hại đến mức nào, ta cũng sẽ bảo cha báo thù cho đệ”.
Thế rồi nàng xoay người bước ra, đi được mấy bước thì đột nhiên ngồi thụp xuống, nhặt hai mảnh kim hoàn ở dưới đất lên, đó chính là vòng kim hoàn buộc tóc của Hắc Ma Ha, trong lúc kịch chiến đã bị Trương Đan Phong chém đứt. Thạch Thúy Phượng lẩm bẩm: “Ồ, té ra hai tên ma đầu ấy không gạt mình!” Thế rồi lật qua lật lại một hồi, nàng đứng thững người ra.
Té ra sau khi Vân Lối bỏ đi, Thạch Thúy Phượng cỡi ngựa đuổi theo, giữa đường thì gặp Hắc Bạch Ma Ha, hỏi thăm bọn họ có gặp Vân Lối hay không, Hắc Bạch Ma Ha hỏi hình dạng của Vân Lối, cười lạnh rồi hỏi: “Y là gì của ngươi?”
Thạch Thúy Phượng cứ nói thực ra, Hắc Ma Ha hừm một tiếng rồi nói: “Cháu gái tốt, cháu đã lấy được hảo phu tế, công phu của y cũng không tệ!”
Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên hỏi: “Sao ngài lại biết?”
Hắc Ma Ha lạnh lùng nói: “Y đã giành cho ngươi rất nhiều châu báu, tất cả mọi thứ của ta đều thua cho y. Oanh Thiên Lôi có một nữ tế giỏi như thế, đương nhiên vui vẻ rửa tay gác kiếm không cần phải làm gì nữa”.
Thạch Thúy Phượng thất kinh, nói: “Cái gì, y dám động thủ với ngài?”
Hắc Bạch Ma Ha tức giận nhìn nhau, tưởng rằng Thạch Thúy Phượng có ý trêu chọc bọn họ, thế là không thèm trả lời mà bỏ đi.
Thạch Thúy Phượng biết cổ mộ có giấu châu báu của Hắc Bạch Ma Ha, nàng vội vàng chạy tới, nàng nằm mơ cũng không ngờ rằng Vân Lối đã đánh bại Hắc Bạch Ma Ha, lúc này đã phát hiện vòng kim hoàn bị chém đứt của Hắc Ma Ha, trong lòng nửa tin nửa ngờ, nàng thầm nhủ: “Với bản lĩnh của Hắc Bạch Ma Ha, chẳng thể nào thua Vân Lối. Nhưng Hắc Bạch Ma Ha là kẻ có tên tuổi như thế, cũng không đến nỗi nói dối, chuyện này thế nào đây, chả lẽ có người khác đả thương Lối đệ?”
Nàng tưởng rằng máu ở dưới đất là của Vân Lối. Đang suy nghĩ, chợt nghe bên ngoài có tiếng ngựa hí, chỉ thấy một thiếu niên dắt một thớt ngựa hồng bước vào trong mộ, đây chính là con chiến mã bờm đỏ của Vân Lối.
Vân Lối vừa nhìn thì suýt nữa đã kêu lên thành tiếng!
Thiếu niên ấy chẳng ai khác chính là con trai của Kim Đao trại chủ Châu Sơn Dân, y được lệnh của cha, vào Trung thổ làm một chuyện, đồng thời dò hỏi tông tích của Vân Lối. Đi ngang qua lúc này, đã thấy con ngựa hồng của Vân Lối, con chiến mã bờm đỏ này vốn là ngựa của Châu Sơn Dân, do đó nó đã dắt y vào trong mộ.
Con ngựa hồng hí lên mừng rỡ, tựa như bảo với chủ cũ rằng Vân Lối đang ở đây, Châu Sơn Dân đang thầm mừng rỡ, đột nhiên nhớ lại rằng Hắc Bạch Ma Ha thường thích ở trong cổ mộ, bất giác người toát mồ hôi. Khi bước vào cửa mộ, thấy đèn đuốc sáng choang, y càng thất kinh hơn, toan kêu lên thành tiếng, chợt thấy có một phụ nữ đầu tóc rối bời, từ trong góc tối nhảy vọt ra, một đao chém tới. Té ra Thạch Thúy Phượng khóc cả buổi, thần trí đã hôn loạn, thấy con ngựa bờm đỏ của Vân Lối thì tưởng rằng Châu Sơn Dân chính là người ám hại Vân Lối.
Nhát đao của Thạch Thúy Phượng rất mạnh, Châu Sơn Dân hoảng hồn, vội vàng tránh sang một bên, Thạch Thúy Phượng lại chém tới nhát đao thứ hai, Châu Sơn Dân rút thanh yêu đao gạt nàng ra, chỉ thấy Thạch Thúy Phượng tựa như điên cuồng, liên tiếp chém tới từng đao, Châu Sơn Dân kêu lên: “Chúng ta không thù không oán, sao cô nương lại đánh lén?”
Thạch Thúy Phượng đánh ra liên tục bốn đao, nàng chợt nhủ: “Bản lĩnh của gã này cũng tương đương mình, sao có thể là đối thủ của Vân Lối?” Thế rồi chém ra hai đao, cao giọng hỏi: “Tên tiểu tử nhà ngươi, hãy mau nói thực con chiến mã bờm đỏ từ đâu mà có?”
Châu Sơn Dân cười ha hả, đột nhiên nhảy vọt ra, vuốt con ngựa hồng, nói: “Con chiến mã bờm đỏ này vốn là của ta, sao cô nương lại hỏi như thế?”
Con chiến mã ấy dựa đầu vào người Châu Sơn Dân rất thân mật, tựa như chứng thực lời nói của Châu Sơn Dân không phải giả.
Thạch Thúy Phượng hừ một tiếng, vung cây cương đao lên, chém được nửa đường thì đột nhiên ngừng lại, nhủ rằng: “Con chiến mã bờm đỏ tính rất hung dữ, làm sao có thể chịu nghe lời y?”
Chỉ thấy Châu Sơn Dân đưa mắt nhìn quanh, đột nhiên thấy trên bàn đá có một cây san hô, sắc mặt thay đổi, chàng nhảy vọt tới, cầm lấy cây san hô, Thạch Thúy Phượng giận dữ quát: “Ngươi làm gì?”
Châu Sơn Dân nói: “Ngươi làm gì thế?”
Thạch Thúy Phượng cười lạnh: “Chả lẽ cây san hô này là của ngươi?”
Châu Sơn Dân lại cười ha hả rồi nói: “Thật không dám giấu, cây san hô này là của tại hạ!” rồi giọng nói chợt thay đổi, chàng gằng giọng hỏi: “Ngươi hãy nói thật, ngươi đã đánh cắp hay cướp cây san hô này?”
Cây san hô này vốn là do Châu Kiện tặng cho Vân Lối, Vân Lối lại tặng cho Thạch Thúy Phượng, Châu Sơn Dân thấy cây san hô nên sinh nghi.
Thạch Thúy Phượng cả giận xông tới, chém vù ra một đao, Châu Sơn Dân trả lại một đao, truyệt chẳng hề khách sáo, kình lực rất lớn, đao của Thạch Thúy Phượng suýt bị đánh bay, nàng vội vàng sử dụng Nhiếp vân bộ pháp xoay người, nhảy vòng ra sau lưng Châu Sơn Dân, Châu Sơn Dân lật tay đánh ra một đao nhưng không quét trúng, cả hai người lập tức xông vào nhau, Vân Lối ở trong mật thất thấy hai người đánh nhau rất hăng, trong lòng rất lo lắng, cho nên không thể nào yên tâm vận khí thổ nạp được, Trương Đan Phong đặt hai chưởng vào lòng bàn tay của Vân Lối, thì thầm nói: “Đừng lo, hai người họ chẳng thắng nhau được. Đệ quen gã nam tử kia?”
Vân Lối gật đầu, chợt nhớ lại Trương Đan Phong đã xé cây Nhật Nguyệt song kỳ, trừng mắt nhìn chàng, khiến cho chàng ngạc nhiên.
Châu Sơn Dân và Thạch Thúy Phượng đánh nhau đến năm mươi chiêu, một người hơn ở đao trầm lực kình, một người thắng ở thân pháp lanh lẹ, quả nhiên cả hai bên chẳng ai thắng ai, Thạch Thúy Phượng chém ra một đao, đột nhiên cao giọng quát hỏi: “Ngươi bảo san hô là của ngươi, vậy có ký hiệu gì?”
Châu Sơn Dân cười ha hả rồi nói: “Chả trách nào ngươi chẳng biết, ngươi hãy xem lại cánh thứ ba của cây san hô ấy có phải có khắc một chữ Châu hay không?”
Thạch Thúy Phượng mấy ngày nay nhìn vật nhớ người, cứ cầm cây san hô ngắm không chỉ trăm lần, cho nên nàng đã phát hiện ra chữ Châu ấy từ lâu, trong lòng cứ mãi hoài nghi, tại sao Vân Lối tặng cho nàng sính lễ lại khắc họ của người khác, Châu Sơn Dân nói như thế, nàng vỡ lẽ ra, rút đao nhảy ra khỏi vòng chiến hỏi: “Này, ngươi có phải là nghĩa huynh của Vân Lối không?”
Châu Sơn Dân ngạc nhiên, cũng rút đao nhảy vọt sang một bên, nói: “Ngươi đã biết ta là nghĩa huynh của Vân Lối, tại sao không biết cây san hô này là do ta tặng cho hắn?”
Thạch Thúy Phượng nhớ lại đêm động phòng, Vân Lối cứ mãi nói về nghĩa huynh của mình, bất giác liếc nhìn Châu Sơn Dân, chỉ cảm thấy Châu Sơn Dân tuy không thanh tú bằng Vân Lối, nhưng có nét rắn rỏi uy võ của người đàn ông. Lúc này chàng cũng đưa mắt nhìn mình cho nên bất giác đỏ mặt. Nàng nhớ lại chuyện đêm ấy, trong lòng thực sự rất tức giận Vân Lối. Châu Sơn Dân nói: “Tên nữ tặc nhà ngươi cũng muốn chiếm đồ của ta hay sao?”
Thạch Thúy Phượng cả giận nói: “Đồ gì của ngươi? Cây san hô này là sính lễ Vân Lối tặng cho ta, nếu không nể mặt ngươi là nghĩa huynh của Vân Lối, ta đã một đao chém chết ngươi!”
Châu Sơn Dân ngạc nhiên, lập tức hỏi: “Sính lễ gì? Vân Lối là người thế nào với ngươi?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Y là trượng phu của ta, ta không ngại cho ngươi biết”.
Châu Sơn Dân đột nhiên cười ha hả rồi chợt nghĩ: “Vân Lối cải trang thành nam nhi một mình lên kinh, bí mật thân thế thật sự không thể cho người khác biến, cho nên nàng đã giấu thiếu nữ này, mình không nên vạch mặt thật của nàng ra”. Thế rồi ngừng cười hỏi: “Cô nương, cô tên họ là gì? Thành thân với Vân Lối từ lúc nào?”
Thạch Thúy Phượng đang bực tức, buông đao xuống, trừng mắt nói: “Oanh Thiên Lôi Thạch Anh là cha của tôi, ba ngày trước chúng tôi thành thân, thế nào? Con gái của Thạch Anh không xứng với nghĩa đệ của ngươi hay sao?”
Châu Sơn Dân rất bất ngờ, chàng thi lễ rồi nói: “Đệ tẩu hãy bớt giận, ta thật sự không có ý coi thường. Thạch lão anh hùng khỏe chứ?”
Thạch Thúy Phượng bực dọc đáp: “Khỏe!”
Châu Sơn Dân nói: “Các người đã thành thân ba ngày, y vẫn còn ở Hắc Thạch trang chứ?”
Châu Sơn Dân ngại không hỏi đến chuyện động phòng, cho nên lảng sang chuyện khác, Thạch Thúy Phượng nói: “Đêm ấy chàng đuổi theo một tên cướp sử dụng ngựa trắng, cho đến nay vẫn chưa biết tin tức”.
Châu Sơn Dân thất kinh, chàng đến đây là vì tên cướp đi ngựa trắng này, thế rồi mới nói: “Có phải trung niên sử dụng ngựa trắng trông như thư sinh hay không?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Tôi cũng chưa thấy mặt y”.
Châu Sơn Dân nói: “Có phải ngựa của y chạy rất nhanh, đúng không?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Đúng thế, ngựa tốt nhất Hắc Thạch trang chúng tôi cũng không đuổi theo kịp”.
Châu Sơn Dân nói: “Cô nương hãy dắt tôi đi gặp Thạch lão anh hùng, truyền Lục Lâm tiễn truy bắt gã này. Ôi, có lẽ Vân Lối đã bị tên gian tặc này hại mất rồi!”
Trong mật thất, Vân Lối và Trương Đan Phong đều thất kinh, chỉ nghe Thạch Thúy Phượng hỏi: “Gian tặc cái gì? Ta cho rằng y chỉ là một kẻ cướp bình thường, nhưng gia gia lại bảo y không phải, ta hỏi gia gia y là ai, gia gia không chịu nói, khi nói chuyện, gia gia tỏ ra rất tôn kính y, không biết là chuyện gì đã xảy ra”.
Châu Sơn Dân cười lạnh, nói: “Kẻ này đã yêu...” Chợt thấy một bóng người thoáng qua ở cửa mộ, đột nhiên có một người bước vào, ngắt lời Châu Sơn Dân. Vân Lối vừa nhìn thì thất kinh, kẻ này chính là tên Hồ tặc đã động thủ với nàng ở bên ngoài tòa cổ tự đêm ấy, đồ đệ của Đàm Đài Diệt Minh! Chỉ thấy Châu Sơn Dân nhảy vọt lên, vung đao chém tới, lớn giọng quát: “Người Hồ lớn gan dám vào Trung thổ!” Té ra Đàm Đài Diệt Minh và đồ đệ của y đều đã cầm binh đánh Châu Kiện, Châu Sơn Dân cũng đã từng giao thủ với y.
Đồ đệ của Đàm Đài Diệt Minh tên gọi Cát Đạt Lai, vừa bước vào trong mộ đã kêu lên: “Trương công tử!”
Chợt thấy Châu Sơn Dân chém tới một đao, vội vàng giơ song câu lên đỡ, chỉ nghe keng một tiếng, kim đao của Châu Sơn Dân đã bị gạt sang một bên, quát rằng: “Có phải ngươi đã hại Trương công tử hay không?”
Châu Sơn Dân nói: “Cả ngươi ta cũng phanh thây ra muôn mảnh!” Thế rồi vung đao chém tới, Cát Đạt Lai lập tức vung ngang múa dọc thanh đôi câu, chiêu số thay đổi vô cùng, nhưng chỉ gạt được đao của Châu Sơn Dân chứ không thể nào trả đòn được.
Thạch Thúy Phượng thấy Châu Sơn Dân đã núng thế, nhủ thầm: “Kẻ này tuy vô lễ, nhưng mình phải giúp y”. Thế rồi rút thanh bội đao xông lên vây đánh. Thạch Thúy Phượng thân pháp nhẹ nhàng, khí lực tuy không đủ nhưng đã có Châu Sơn Dân chống đỡ, hai người bù vào chỗ khiếm khuyết của nhau, lập tức dồn Cát Đạt Lai ra phía sau.
Cát Đạt Lai hú lên một tiếng, đôi câu chém xéo ra, gạt hai cây đơn đao, bề ngoài là tấn công nhưng thực sự là muốn bỏ chạy, chỉ thấy y cố gắng đánh ra một đao rồi lập tức xoay người bỏ chạy, Châu Sơn Dân nào chịu tha, cùng Thạch Thúy Phượng đuổi gấp theo sau, một lát sau chẳng còn nghe tiếng ba người nữa.
Trong mật thất, Vân Lối hoài nghi không yên, ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy Trương Đan Phong mỉm cười nhìn mình, tựa như đang nói: “Có phải đệ cho ta là gian tặc không?”
Vân Lối vốn rất tin tưởng cha con Châu Kiện, nếu biết nàng đi cùng với Trương Đan Phong, chỉ e sẽ rút kiếm đâm chàng. Lúc này trong lòng rất mâu thuẫn, Châu Sơn Dân chưa bao giờ nói bừa, mà Trương Đan Phong lại chẳng giống một tên gian tặc, mấy ngày đi cùng, nàng từ căm ghét Trương Đan Phong đã chuyển sang quý mến chàng, thậm chí có thể nói có mấy phần sùng bái chàng, nhủ bụng rằng: “Y từ Mông Cổ trở về, có lẽ cũng là một chiến sĩ người Hán bỏ trốn giống như gia gia của mình, cho nên người Mông Cổ đuổi theo bắt y trở về, còn Châu Sơn Dân lại tưởng y là gian tế”. Nàng suy nghĩ, cuối cùng cũng tìm ra được lời giải thích cho mình, thế rồi đột nhiên mỉm cười, thì thầm nói: “Đại ca, đệ tin đại ca!” Nét mặt Trương Đan Phong giãn ra, lộ vẻ vui mừng vô hạn, chàng thì thầm nói: “Hiền đệ, đệ chính là người tri kỷ đầu tiên trong đời của ta. Hãy ráng vận công, đêm nay ta sẽ kể cho đệ nghe một câu chuyện”.
Rồi chàng rời khỏi mật thất, bước ra bên ngoài đóng cánh cửa mộ lại, lại dùng hai tảng đá chặn lại, nếu không có khí lực ngàn cân thì không thể nào đẩy ra được.
Vân Lối chăm chú luyện công, dẫn khí vận hành, chỉ cảm thấy trong người thoải mái, một lúc lâu sau, chẳng còn ánh sáng mặt trời chiếu vào khe hở nữa, nàng đã biết trời đã về chiều, Hắc Bạch Ma Ha có để lại thức ăn trong mật thất, Trương Đan Phong nổi lửa nấu nồi cháo, đút cho Vân Lối ăn, Vân Lối rất cảm kích, chỉ thấy Trương Đan Phong mỉm cười dịu dàng nói: “Đệ đã bình phục, nhưng không nên nói chuyện, đệ chỉ nghe ta, không nên hỏi, giờ đây ta sẽ kể cho đệ nghe câu chuyện đầu tiên. Sau khi kể ba câu chuyện này, ta sẽ nói rõ lai lịch của mình cho đệ biết”.
Đúng là:
Thân thế ly kỳ thật khó nói, hoa sáng liễu tối lòng nghi ngờ.
Muốn biết chuyện sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 7
Nhất phiến huyết thư tâm cừu thùy khả giải
Thập phân tâm sự vô ngữ độc tư lượng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:34 pm

Hồi 7
Nhất phiến huyết thư tâm cừu thùy khả giải
Thập phân tâm sự vô ngữ độc tư lượng


Vân Lối ngẩng đầu nhìn lên, chỉ nghe Trương Đan Phong nói: “Ngày xưa có hai người nghèo khổ, vốn đều làm việc cho địa chủ, sau đó vì thiên tại nhân họa, một người trở thành ăn mày, một người trở thành kẻ buôn muối lậu, tên ăn mày và kẻ buôn muối lậu cảm thấy hợp nhau nên kết thành huynh đệ. Lúc ấy Trung thổ bị dị tộc thống trị, anh hùng các nơi đều muốn nổi dậy phản kháng, hai người ấy lòng ôm chí lớn, tựa như Trần Thắng, Ngô Quảng thời cổ mưu toan chống Tần, đã vỗ tay thề rằng: “Nếu giành được phú quý, mãi không quên nhau!” Ngoài ra còn có một hòa thượng lớn tuổi hơn hai người này nhiều, đã từng dạy võ nghệ cho hai anh em, hai anh em gọi ông ta là sư phụ. Xưa này chuyện buôn bán muối đều do nhà quan quản lý, người buôn bán muối lậu nếu bị bắt thì sẽ bị xử tử. Kẻ buôn muối lậu là nghĩa huynh, kẻ ăn mày là nghĩa đệ. Kẻ ăn mày không dám mạo hiểm, vào trong một ngôi chùa làm chú tiểu, sau đó vì đói kém nên không ai giúp đỡ cho ngôi chùa này, hòa thượng trong chùa mười thì chết hết bảy tám, kẻ bán muối lậu liều mạng đem một ít tiền đến giúp đỡ cho nghĩa đệ của mình. Sau đó ngôi chùa này sụp đổ, kẻ ăn mày đã trở thành nhà sư hành cước, vẫn đi khắp nơi xin ăn.
Sau đó sư phụ của hai anh em dựng cờ nghĩa, kẻ ăn mày cũng dấy binh theo ông ta, sau một trận đại chiến, hòa thượng ấy mất tích, có người nói ông ta đã chết, có người bảo sau khi mất tích ông ta vẫn là một hòa thượng, nhưng rốt cuộc thế nào thì chẳng ai biết.
Kẻ bán muối lúc này đang buôn bán ở vùng Giang Bắc, tụ tập mấy trăm dân làm muối, dấy binh xưng vương. Qua mấy năm sau, thế lực của người bán muối dần dần mở rộng, xưng đế ở Tô Hàn, mấy tỉnh ở vùng Trường Giang đều thuộc phạm vi thế lực của ông ta. Còn người nghĩa đệ vẫn chưa lập được công danh gì. Lúc đó quần hùng thiên hạ ùn ùn nổi dậy, trong đó có một lộ quân lấy khăn đỏ làm hiệu, thế lực lớn nhất, hai năm trước lãnh tụ của quân khăn đỏ đã chết, do một trung niên anh hùng thay thế, đánh thành cướp đất, thế lực lan đến tận phía nam của Trường Giang. Kẻ bán muối dò hỏi tin tức, thiếu niên lãnh tụ ấy vốn là một lãnh tụ, đến khi dò hỏi kỹ càng mới biết đó là người nghĩa đệ trước đây của mình. Có người nói, kẻ ăn mày đi theo hòa thượng dấy binh, sau khi hòa thượng thất bại y đã âm thầm bán đứng hòa thượng cho nhà quan, còn mình thì giả vờ làm người tốt, thống lĩnh bộ thuộc của hòa thượng, đầu hàng quân khăn đỏ, cho nên đã trở thành một đầu mục của quân khăn đỏ, được chủ soái của quân khăn đỏ coi trọng, do dó sau này mới có thể thay thế vị trí của ông ta. Người nghĩa huynh đã làm Hoàng đế không tin lời đồn này, song sau khi sai người liên lạc thì mới biết được chủ soái mới của toán quân khăn đỏ chính là nghĩa đệ của mình.
Lúc này thế lực của hai người đã chạm nhau ở Trường Giang, người nghĩa huynh sai sứ giả qua sông, đưa thư cho nghĩa đệ bảo rằng: “Ta và đệ ai làm Hoàng đế cũng đều như thế, mời đệ hãy qua sông gặp gỡ, trước tiên nối lại tình huynh đệ, sau đó bàn kế liên minh, cùng nhau chống dị tộc”. Không ngờ người nghĩa đệ ấy xé toạc bức thư, không chịu qua sông, lại còn cắt tai của sứ giả, bảo y về báo rằng: “Một núi không thể có hai cọp, dân không thể có hai chủ, ta và ngươi đều là anh hùng trên đời, nếu ngươi không chết thì ta vong!”
Người nghĩa huynh nhận được thư thì cả giận, cả hai anh em tàn sát lẫn nhau, đánh nhau vài năm, đôi bên đều có thắng bại, lần cuối quyết chiến ở Trường Giang, người em thắng lớn, bắt sống người anh, bảo người anh phải cúi đầu xưng thần, người anh không chịu, cười lớn đáp rằng: “Tên ăn mày kia, ngươi hãy giết ta cho xong”. Người em không nói một lời, lập tức sai người dùng gậy đánh chết người anh, ném xác xuống Trường Giang! Sau khi diệt xong người anh, người em đã tự xưng đế. Mấy năm sau, lại còn đuổi dị tộc ra khỏi Trung Quốc, dẹp tan quần hùng thống nhất thiên hạ, trở thành một vị vua khai quốc. Tiểu huynh đệ, ngươi bảo Hoàng đế ấy có xấu hay không?”
Vân Lối nói: “Người em không màng đến tình thủ túc, đương nhiên rất xấu. Song y có thể xua đuổi dị tộc, lấy lại sông núi của chúng ta, coi như cũng là một bậc anh hùng hào kiệt”.
Trương Đan Phong biến sắc, trả lời: “Hiền đệ, đệ cũng nói như thế ư? Sau khi tên ăn mày ấy làm Hoàng đế, đã giết nhiều công thần, y cũng chẳng tha cho hậu nhân của người nghĩa huynh, cho nên hậu nhân của người nghĩa huynh cùng đời sau của các bậc trung thần đều bỏ chạy khắp nơi. Này, đệ hãy ăn cháo đi, cháo rất ngon, câu chuyện này cũng đã hết”.
Vân Lối ngẩng đầu lên nói: “Đại ca, đệ đã đoán được câu chuyện của đại ca, đó là chuyện Minh triều khai quốc, người nghĩa đệ làm ăn mày chính là Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, còn người nghĩa huynh buôn muối lậu chính là kẻ đã tự xưng Hoàng đế Đại Châu Trương Sĩ Thành! Song đệ chưa nghe nói hai người này đã từng kết bái huynh đệ. Trong sách sử cũng không viết như thế. Sách sử nói Trương Sĩ Thành vốn chỉ là một kẻ tiểu nhân vô lại, Thái Tổ giết ông ta chỉ là trừ giặc cho dân”.
Trương Đan Phong cười lạnh nói: “Thắng thì làm vua, thua thì làm giặc, xưa nay đều như thế cả. Đừng nói sách sử không dám chép chuyện họ kết bái huynh đệ, Chu Nguyên Chương ấy là một kẻ ăn mày, xuất thân từ một nhà sư lang thang, quan chép sử cũng không dám nhắc tới! Thực ra là một kẻ ăn mày, một nhà sư nghèo cũng chẳng có điều gì ô nhục. Hừ, hừ!”
Chuyện Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã làm ăn mày rồi lại đi tu trong chùa Hoàng Giáp, thiên hạ ai cũng biết, sau khi xưng đế thì lại e ngại chuyện này. Một vị quan dâng biểu, trong tờ biểu của mình có bốn chữ “Đốc trí sinh tri” nên đã bị giết, tội danh là vì có chữ sinh đồng âm với chữ tăng, Chu Nguyên Chương nghi ngờ vị quan kia lấy cớ này để mỉa mai ông ta đã là một vị hòa thượng. Một người khác dâng biểu, trong tờ biểu có câu “thủ pháp tượng ngụy”, Chu Nguyên Chương bảo: “Thủ pháp và thúy pháp đồng âm”, cũng có ý mỉa mai ông ta đã là một hòa thượng, cho nên đã ra lệnh giết chết. Những câu chuyện như thế này cứ âm thầm lưu truyền, người trong quan trường ai cũng biết. Vân Lối cũng từng nghe gia gia kể, nghe câu chuyện này của Trương Đan Phong, nàng lại nhớ đến cái chết thê thảm của gia gia, lòng thầm nhủ: “Dầu sao những kẻ làm Hoàng đế cũng chẳng ai là người tốt, dù Chu Nguyên Chương hay Trương Sĩ Thành cũng như thế. Nhưng đại ca kể câu chuyện này có ý gì? Tại sao y lại hận Thái Tổ hoàng đế đến thế?”
Trương Đan Phong không để nàng nói nhiều, lại nhẹ nhàng xoa bóp cho nàng, Vân Lối đã vận công nửa ngày, nguyên khí vẫn chưa hồi phục, nàng cũng không suy nghĩ nhiều, một hồi sau thì chìm vào giấc ngủ.
Sáng sớm hôm sau tỉnh dậy, chỉ thấy Trương Đan Phong ngồi bên cạnh, hai mắt hơi sưng, tựa như đêm qua đã từng khóc, Vân Lối rất cảm kích, lại thấy rất đáng thương, nhủ rằng: “Đợi sau khi y thổ lộ thân thế, mình chắc chắn phải an ủi cho y”.
Trương Đan Phong thấy nàng tỉnh dậy, mỉm cười hỏi: “Đã khỏe hơn chưa?”
Vân Lối đáp: “Đã khỏe nhiều. Đêm qua đại ca không ngủ ư?”
Trương Đan Phong cười rằng: “Ta nhiều đêm không ngủ hay ngủ nhiều đêm đều là chuyện thường, đệ không cần phải lo, hãy đưa chân ra”.
Vân Lối đưa chân trái ra, Trương Đan Phong nói: “Không, là chân phải”.
Rồi cởi giày của nàng, dùng ngón tay đè vào gót chân phải của nàng, men theo mặt trong của gót chân, xoa một vòng tròn trong bàn chân, đó là nơi kinh mạch thái dương của phần chân đi qua, Vân Lối được chàng xoa bóp một hồi, có cảm giác ngứa ngáy, một hồi sau thì thấy thoải mái trong người. Trương Đan Phong nói: “Được rồi, ngày mai huynh sẽ đánh thông ba kinh mạch dương cho đệ, đệ sẽ khỏe hẳn, hôm nay đệ hãy siêng năng vận công”. Thế rồi ngồi xuống đất, lấy ra một bức họa. Chỉ thấy chàng cầm cây đuốc, nhìn kỹ bức họa, xem một lúc lâu tựa như đang tìm thứ gì trong bức họa. Vân Lối vận công cả nửa ngày, cũng thấy chàng xem cả nửa ngày, đột nhiên nghe bên ngoài có bước chân, Trương Đan Phong thở dài, mới cuộn bức họa lại nói: “Tại sao có người cứ thích đến nơi này?” Rồi lắc đầu tỏ ý bảo Vân Lối đừng lên tiếng.
Bên ngoài cửa không chỉ có một người, lúc này có tiếng đào đất, một hồi sau thì chợt nghe ầm một tiếng, cánh cửa đá bị đẩy bật ra, tuy đất ở phía dưới đã bị đào, nhưng người ở ngoài cửa quả là có khí lực không nhỏ.
Bên ngoài cửa có cả thảy năm người, mỗi người cầm một ngọn đuốc nối đuôi đi vào, Vân Lối vừa nhìn thì thấy đó là bốn kẻ đã châu báu, hai kẻ phía trước, hai kẻ ở phía sau, Trang chủ của Hắc Thạch trang Oanh Thiên Lôi Thạch Anh thì đi ở giữa. Vân Lối rất lo lắng, nhủ bụng: “Bốn kẻ mua châu báu chắc chắn biến mật thất này, nếu Thạch Anh gọi mình trở về thì phải làm thế nào?”
Chỉ nghe người đi phía trước nói: “Hai người bọn họ chắc chắn ở đây, Thạch trang chủ, ông phải làm chủ cho chúng tôi”.
Té ra Hắc Bạch Ma Ha tức giận bỏ về Tây Tạng, đã đuổi bốn kẻ thu mua này, kết thúc công việc mua bán ở miền nam, bọn họ đã thua tất cả bảo tàng trong cổ mộ, đã không còn vốn để tiếp tục mua bán nữa. Bốn kẻ này không cam lòng, trên đường lại gặp Thạch Anh đang đuổi theo con gái, liền nhờ Thạch Anh ra mặt cho họ, họ cứ tưởng rằng Trương Đan Phong đêm ấy đến cướp bảo vật ở nhà Thạch Anh, bản lĩnh của Thạch Anh tuy không qua nổi Hắc Bạch Ma Ha, nhưng hảo hán lục lâm ở miền Sơn Tây, Thiểm Tây đều nghe lệnh ông ta, chỉ cần chọc giận Thạch Anh, truyền lục lâm lệnh tiễn thì Trương Đan Phong dù có giỏi cách mấy, mọc cánh cũng khó bay.
Nào ngờ Thạch Anh đang muốn gặp mặt Trương Đan Phong, huống chi cần phải gặp Trương Đan Phong mới biết tung tích của Vân Lối, thế là giả vờ chấp nhận, bảo bốn người họ dẫn đến đây.
Bốn người đi một vòng, kêu lớn: “Tiểu tử kia, hãy mau chui ra đây!”
Thạch Anh vội vàng vái dài lên không trung rồi nói: “Trương công tử, xin mời hãy bước ra, lão phu đang mong muốn gặp mặt, có lão phu ở đây, lão phu sẽ giúp hai bên hóa giải hiềm khích!”
Bốn kẻ kia thấy ông ta cung kính như thế thì đều ngạc nhiên, kẻ đi đầu kề tai Thạch Anh nói nhỏ: “Thạch trang chủ, nếu cả hai người bọn họ đều không bị thương, có thể song kiếm hợp bích, năm người chúng ta đương nhiên cũng chẳng phải là đối thủ của họ. Nhưng lệnh tế đã bị Hắc Ma Ha đánh bị thương, một mình y không phải là đối thủ của chúng ta. Thạch lão anh hùng, chúng tôi đảm bảo có thể trị thương cho lệnh tế, chỉ cần tên tiểu tử ấy trả châu báu lại”.
Bốn kẻ này sợ Thạch Anh trách cứ, ban đầu không dám nói chuyện Vân Lối đã bị thương, lúc này thấy Thạch Anh như thế, tưởng rằng ông ta sợ đối thủ quá mạnh nên không dám chống đối với Trương Đan Phong, cho nên buộc phải nói ra sự thực.
Thạch Anh nghe nói Vân Lối bị thương, trong lòng lo lắng, kêu lên: “Trương công tử, mời hãy ra đây, ngày trước tiểu tế vô tình mạo phạm, mong ngài đừng trách”.
Trương Đan Phong vẫn không lên tiếng, bốn kẻ kia lại nói: “Được, ngươi không ra, bọn chúng ta sẽ vào xem thử!” Thế rồi lấy thanh đá dưới đất, chặn vào chỗ lõm ở ngoài mật thất, dùng lực xoay nhẹ, Trương Đan Phong không đợi cửa mở, căn dặn Vân Lối hai câu, đột nhiên lấy “tự lai thạch”, đẩy cửa phóng vọt người ra, tiện tay đóng cánh cửa mật thất lại.
Bốn tên khách thương đang dùng lực xoay phiến đá, đột nhiên mất đà đều ngã ngửa ra sau, khi đứng dậy thì thây Trương Đan Phong đang nhẹ nhàng phe phẩy chiếc quạt, cả bốn người vội vàng chạy ra bốn góc, ý đồ muốn bao vậy Trương Đan Phong lại, chỉ đợi chàng và Thạch Anh động thủ, sẽ lập tức xông lên.
Dưới ánh đuốc, chỉ thấy Trương Đan Phong nhẹ nhàng tự nhiên, phe phẩy quạt rồi mỉm cười: “Thạch trang chủ, ân tình mấy mươi năm, tôi đã thay tổ tiên bái tạ”.
Thạch Anh đột nhiên bật khóc, quỳ sụp xuống đất, dập đầu bốn cái rồi nói: “Thiếu, thiếu...” Trương Đan Phong xua tay, tỏ ý bảo ông ta đừng nói ra thân phận của mình. Đợi ông ta dập đầu xong thì lập tức đỡ ông ta dậy, cúi người trả lại một lễ, thần thái tuy cung kính, nhưng cũng không quỳ xuống trả lễ, rõ ràng tựa như người bề trên đối với bề dưới.
Hành động ấy của Oanh Thiên Lôi Thạch Anh khiến cho mọi người đều ngạc nhiên. Vân Lối trong mật thất cảm thấy an ủi, nhủ thầm: “Đại ca quả nhiên chẳng phải người xấu, xem ra Thạch lão anh hùng đối với ông ta rất tôn kính! Nhưng đại ca hình như đã quá vô lễ, tuổi còn trẻ mà lại để Thạch lão anh hùng quỳ xuống bái lạy như thế?”
Bốn khách thương càng lúc càng kinh hãi, không ngờ kẻ mình nhờ vả lại cùng một giuộc với kẻ địch, một Trương Đan Phong đã đủ khổ, huống chi nay lại có Thạch Anh nữa.
Chỉ thấy Trương Đan Phong mỉm cười, nói: “Thạch trang chủ ở đây, các người hãy hỏi ông ta rằng ta có phải là kẻ tham tài cướp của hay không?”
Bốn khách thương vội vàng vái dài luôn miệng nói: “Không dám, không dám!”
Trương Đan Phong lại cười ha hả, nói: “Các người hãy chờ đợi, chút tài sản của Hắc Bạch Ma Ha, ta không cần”. Thế rồi đẩy nhẹ cánh cửa một mình lách vào bên trong, căn mật thất rất rộng, Vân Lối ngồi ở góc tường, người ngoài không nhìn thấy nàng.
Bốn người kia và Thạch Anh đều không dám thò đầu vào nhìn, chỉ thấy Trương Đan Phong tay cầm chổi, quét đống châu báu tựa như quét rác ra ngoài, ngửa đầu cười lớn nói: “Người đời cứ thích báu vật, còn ta chỉ mến tài. Nào, nào, các người hãy xem có còn thiếu thứ gì không?”
Bốn người ấy vui mừng ra mặt, bỏ từng món châu báu vào trong túi mang theo, Trương Đan Phong quát: “Cút đi, bảo với Hắc Bạch Ma Ha biết rằng bọn họ phải làm ăn cho đàng hoàng tử tế, không được mua bán bằng cách ép buộc người ta”.
Bốn người ấy luôn miệng kêu: “Vâng, vâng!” Rồi lại ra vẻ khúm núm: “Lệnh hữu bị thương thế nào? Chúng tôi có thể trị được”.
Trương Đan Phong nói: “Chỉ các người có thể trị được hay sao? Ta đã trị cho y khỏe từ sớm, đừng nhiều lời, cút mau!”
Bốn người ấy lại luôn miệng kêu: “Vâng, vâng!”, rồi cúi người bước ra ngoài cửa.
Trương Đan Phong cười lớn nói: “Quét sạch những thứ phế vật này, trong lòng rất sảng khoái! Của cải bất nghĩa không nên dùng, Thạch lão anh hùng, ông nói có phải không?”
Thạch Anh cúi người nói: “Thiếu chủ dạy phải”.
Trương Đan Phong nói: “Thôi được. Ông đã gặp ta, cũng nên trở ề rồi!”
Thạch Anh nói: “Cầu xin thiếu chủ thả tiểu tế trở về”.
Trương Đan Phong nói: “Chuyện nhân duyên của con gái ông cứ giao cho ta và Vân Lối, ông hãy yên tâm, chắc chắn sẽ cho ông một nữ tế tốt, ta không muốn ông ở đây, ông hãy về cho mau!”
Khi nói đến chữ “về”, thì tựa như hạ lệnh.
Thạch Anh cúi người nói: “Vậy tiểu nhân trở về, thiếu chủ còn có gì căn dặn?”
Vân Lối kinh ngạc, nghĩ bụng: “Thạch Anh tốt xấu gì cũng là Minh chủ võ lâm của hai tỉnh Tấn, Thiểm, võ công chẳng kém Trương Đan Phong, tại sao lại cung kính, sợ sệt chàng như thế? Ông ta toàn gọi Trương Đan Phong là thiếu chủ, chả lẽ ông ta từng là hạ nhân của đại ca?”
Chỉ nghe Trương Đan Phong nói: “Không còn gì nữa!”
Thạch Anh nói: “Nếu thiếu chủ cần, tiểu nhân sẽ truyền Lục Lâm tiễn, bằng hữu hắc đạo hai tỉnh, tốt xấu gì cũng phải nể mặt”.
Trương Đan Phong cười ha hả nói: “Chuyện đời đều bất ngờ, e rằng có chuyện không ai giúp được ta!”
Thạch Anh biến sắc, tỏ vẻ ngượng nghịu: “Tiểu nhân tuy vô dụng, nhưng chỉ cần thiếu chủ căn dặn thì dẫu dầu sôi lửa bỏng, tiểu nhân cũng không từ nan”.
Trương Đan Phong vẫy tay buồn bã nói: “Tâm ý của ông ta lãnh nhận, ông hãy đi thôi!”
Thạch Anh lại thi lễ, xoay người bước ra ngoài.
Vân Lối rất nôn nao trong lòng, đợi Trương Đan Phong bước vào trong mật thất thì quay đầu hỏi: “Đại ca, khi Thạch Anh hỏi ông ta có gì căn dặn, sao đại ca không thừa cơ nhờ ông ta một chuyện?”
Trương Đan Phong nói: “Chuyện gì?”
Vân Lối nói lúng búng: “Đêm qua thiếu niên đến cùng Thạch Thúy Phượng, chẳng phải cũng nhắc đến Lục Lâm tiễn hay sao?”
Trương Đan Phong cả cười nói: “Có phải đệ nói Châu thiếu trại chủ ở bên ngoài Nhạn Môn quan phải không? Cha con họ coi như cũng là những người có tiếng tăm. Nếu y bảo Thạch Anh truyền Lục Lâm tiễn, gây bất lợi cho ta, chuyện này ta đã sớm đoán trúng. Ta xưa nay không quen cầu xin người khác, vả lại nếu nhờ vả người khác, ta cũng chẳng thấy vinh quang gì. Nói thực, nếu ta sợ bọn họ truyền Lục Lâm tiễn, lúc đó ta sẽ xông ra, có thể kết liễu nghĩa huynh của đệ, nhưng ta cũng muốn họ thử một lần. Ồ, nếu Thạch Thúy Phượng gả cho Châu Sơn Dân thì thật tốt, chả trách gì trong đêm động phòng, đệ cứ nhắc đến người nghĩa huynh này”.
Lời nói của Trương Đan Phong rất tự phụ mà lại khoáng đạt. Vân Lối nhủ thầm: “Té ra chàng đã biết thân phận của Châu Sơn Dân, khi Châu Sơn Dân mắng chàng, chàng vẫn có thể nén được”. Trong lòng thầm lo lắng, nhưng lại không biết giữa chàng và Châu Kiện có xảy ra hiểu lầm gì. Trương Đan Phong liếc nhìn nàng rồi mỉm cười: “Khí sắc của đệ đã tốt hơn trước, hãy chú ý vận hành nội công. Khi ăn cơm tối, ta lại sẽ kể cho đệ nghe câu chuyện thứ hai”.
Vân Lối có căn cơ nội công, sau khi ăn cơm xong thì bệnh đã bớt đi bảy tám phần, có thể ăn cơm khô. Trương Đan Phong vừa chăm nàng dùng cơm, vừa nói: “Đã rất lâu rồi, có một đất nước, ở đất nước ấy có một trung thần, họ tên như thế nào thì cũng không cần nhắc tới, dù sao triều đại nào cũng đều có trung thần như thế, có thể họ Trương, có thể họ Lý, cũng có thể họ Phương, cũng có thể họ Vân...
Ngoài ra còn có một đất nước láng giềng, hai nước này thường đánh nhau, có lúc nước này xâm nhập vào nước kia, cũng có lúc nước kia lại xâm nhập vào nước này, nhưng dù nước nào thắng, kẻ chịu khổ vẫn là trăm họ.
Khi câu chuyện xảy ra, là lúc đại trung thần của nước kia đắc thế, muốn nước láng giềng phải hàng nắm tiến cống.
Nước kia lại không phục, liền lễ hiền hạ sĩ, chiêu nạp nhân tài, dần dần thế nước đã mạnh lên. Đại trung thần của nước kia thấy không xong, liền phái người đi sứ, đi sứ sang một quốc gia, một mặt là phải dùng thủ đoạn lôi kéo, một mặt là để tìm hiểu hư thực. Không ngờ đại trung thần ấy đã đi đến hai mươi năm. Này, tiểu huynh đệ, đệ sao thế? đệ có biết y tại sao đi một lần đến hai mươi năm không? Té ra là... Này, Lối đệ, Lối đệ!”
Trương Đan Phong đang nói thì thấy sắc mặt của Vân Lối dần dần thay đổi, khi nói đến hai mươi năm, chỉ thấy sắc mặt của Vân Lối tái nhợt, lảo đảo tựa như muốn ngã xuống.
Trương Đan Phong kinh hãi, vội vàng đưa tay đỡ nàng, chỉ nghe Vân Lối kể tiếp câu chuyện rằng: “Huynh hãy nói ông ta tại sao ra đi đến hai mươi năm? Té ra là ông ta bị người ta giữ lại chăn ngựa ở nơi băng thiên tuyết địa! Đại ca, đừng nói nữa, đệ không nghe câu chuyện này!”
Trong chốc lát sắc mặt của Trương Đan Phong trắng bệt, đôi chân mày nhíu lại, tựa như đã suy nghĩ một chuyện gì rất lâu nay đột nhiên vỡ lẽ ra, như bừng tỉnh từ giấc ác mộng, chàng nhìn Vân Lối thắm thiết rồi nói: “Tiểu huynh đệ, té ra đệ cũng biết câu chuyện này! Vậy đêm mai ta sẽ kể câu chuyện thứ ba, đệ sẽ hiểu ra. Tiểu huynh đệ hãy định thần, giờ đây không nên hỏi gì cả, không nên nói gì cả, đệ cần phải được đánh thông thêm ba mạch âm, không nên suy nghĩ phân thần, tiểu huynh đệ, ta sẽ giúp đệ vận công”.
Thế rồi hai chưởng đặt vào lòng bàn tay của Vân Lối, nàng cảm thấy lòng bàn tay mình nóng như lửa đốt, ánh mắt lờ đờ, Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, trong lòng đệ đang buồn, tạm thời đừng tập công phu thổ nạp nữa”. Thế rồi đi qua đi lại trong phòng, nay quá trình trị liệu thương thế cho Vân Lối đã đến lúc quan trọng, nếu không làm cho nàng bình tĩnh thì bệnh tình sẽ nghiêm trọng.
Vân Lối thấy chàng lo lắng đi lại trong phòng, biết chàng đang lo cho mình, tuy trong lòng muốn hỏi rất nhiều nhưng cố gắng nén lại, đưa tay vuốt tóc, mỉm cười nói: “Đại ca, huynh hãy ngủ sớm đi, đệ sẽ kiên nhẫn chờ đợi câu chuyện vào ngày mai của huynh”.
Thế là tâm trạng lúc này đã bình tĩnh hơn nhiều.
Trương Đan Phong mỉm cười, nhặt một cây đàn hồ trên chiếc ghế ngọc, chỉnh lại dây đàn, vừa đàn vừa cất giọng ca một bài từ tả cảnh Hàn Châu của thư nhân đời Tống Liễu Vĩnh, Vân Lối dần dần quên cả âu sầu. Chỉ thấy Trương Đan Phong đặt cây đàn xuống, bước tới gần, vuốt tóc nàng, nhẹ nhàng nói: “Hãy ngủ đi, hãy ngủ đi!”
Vân Lối tựa như bị thôi miên, quả nhiên chìm vào giấc ngủ.
Đến ngày hôm sau tỉnh dậy, vì ngủ ngon cho nên tinh thần rất xung mãn, Trương Đan Phong cười rằng: “Tiểu huynh đệ, hôm nay đệ hãy ngồi tĩnh tọa một ngày thì sẽ khỏe hẳn, công lực không những không giảm mà còn tăng hơn trước”. Cứ mỗi canh giờ chàng lại giúp nàng hành công một lần, đến giờ ngọ thì đã đả thông ba mạch thái âm, thiếu âm, huyết âm của Vân Lối. Sắc mặt của Vân Lối dần dần hồng hào, Trương Đan Phong mừng rỡ nói: “Tiểu huynh đệ, đệ tiến bộ rất nhiều, thêm hai canh giờ nữa thì sẽ hoàn toàn khỏe”.
Vân Lối ngồi tĩnh tọa vận công, Trương Đan Phong ngồi một mình xem bức họa, nửa canh giờ trôi qua, chợt nghe bên ngoài có tiếng người, Trương Đan Phong nhíu mày nói: “Sao lại có người đến quấy nhiễu nữa!” Nói chưa dứt lời, chỉ nghe con Chiếu dạ sư tử mã hí dài, tiếp theo là ầm một tiếng, cánh cửa đá bật ra, cát bụi tung bay, một kỵ sĩ mặc áo đen cỡi con ngựa trắng phóng vào, thanh thế rất kinh người!
Tuy đất ở trước mộ đêm qua đã bị đào, nhưng sức một người có thể phá cửa mà vào, võ công của người này quả thật rất kinh hãi. Điều đáng kinh ngạc hơn là, con Chiếu dạ sư tử mã chỉ nghe lời chủ nhân, thế nhưng giờ đây đã bị người ta chế phục. Trong mật thất, hai người Trương, Vân đều biến sắc. Chỉ thấy thớt ngựa trắng hí dài, chạy vào thông đạo, phóng lên đại sảnh, kỵ sĩ mặc áo đen nhảy xuống ngựa, lớn giọng nói: “Đan Phong, Đan Phong!” Trong tấm kính gắn trên bức tường, kỵ sĩ mặc áo đen chẳng phải ai khác, đó chính là đệ nhất dũng tướng của nước Ngõa Thích, Đàm Đài Diệt Minh. Vân Lối kinh hãi, kêu lên một tiếng, toan đứng dậy, đột nhiên cảm thấy người cứng đờ, té ra Trương Đan Phong đã ghé bên tai nói: “Tiểu huynh đệ, đừng nên làm càn, hãy ngồi vận công, ta đi ra xong sẽ vào, lúc đó ta sẽ kể cho đệ nghe câu chuyện thứ ba”.
Bên ngoài Đàm Đài Diệt Minh lại kêu: “Đan Phong, ngươi và ai ở trong đó?” Rồi đốt ngọn đuốc lên, Vân Lối tuy không thể lên tiếng, nhưng vẫn có thể nhìn thấy rõ ràng, con ngựa trắng cọ vào người Đàm Đài Diệt Minh, tựa như rất thân quen đối với y.
Trương Đan Phong đẩy cửa, nhảy vọt ra. Chỉ nghe Đàm Đài Diệt Minh nói: “Đan Phong, tướng gia...” Trương Đan Phong suỵt một tiếng, Đàm Đài Diệt Minh đổi giọng nói: “Cha của ngươi bảo ngươi quay về!”
Trương Đan Phong nói: “Đàm Đài tướng quân, phiền ông quay về báo lại với người, tôi đã rời khỏi Mông Cổ thì mãi mãi sẽ là người Trung thổ, không quay về nữa!”
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Ngươi không suy nghĩ cho cha mình, cũng phải nghĩ cho bản thân. Ngươi một mình vào Trung thổ, hào kiệt Trung Nguyên, ai có thể biết được lòng ngươi, ai có thể tha thứ cho ngươi?”
Trương Đan Phong trầm giọng nói: “Dù tôi bị phanh thây ra muôn mảnh, cũng phải chết ở cố thổ, còn hơn chết ở quê người. Phiền ông hãy quay về bảo với cha ta rằng người hãy tự bảo trọng”.
Vân Lối kinh hãi, đột nhiên chợt nghĩ: “Nếu y là chiến sĩ người Hán ở đất Mông Cổ, Đàm Đài Diệt Minh sao lại thân mật đối với y như thế? Tướng gia gia, chẳng lẽ y là...” Chợt nghe Đàm Đài Diệt Minh quát lớn một tiếng, Vân Lối bị cắt đứt luồng suy nghĩ, chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh đánh ra một quyền, nói: “Ngươi có chịu theo ta trở về hay không?”
Trương Đan Phong né tránh hai quyền, buồn bã nói: “Đàm Đài tướng quân, ông cớ gì phải ép buộc tôi như thế!”
Đàm Đài Diệt Minh lại tung ra một quyền nữa, Trương Đan Phong giở cánh tay lên gạt ra, Đàm Đài Diệt Minh ra tay nhanh như gió, hóa quyền thành chưởng, quét vào cổ họng của chàng, lại là một chiêu sát thủ!
Lúc này Vân Lối lòng rối như tơ vò, vừa kinh hãi vừa mừng rỡ vừa nghi ngờ, kinh hãi là Đàm Đài Diệt Minh dũng mãnh tựa như sư tử, còn lợi hại hơn cả Hắc Bạch Ma Ha; mừng rỡ là vì Trương Đan Phong ra tay chống cự, rõ ràng không phải là người cùng phe với Đàm Đài Diệt Minh; nghi ngờ là vì hai chữ tướng gia tựa như mũi dao nhọn đâm vào tim nàng, khiến cho nàng càng nghĩ ngợi hơn về thân phận của Trương Đan Phong.
Chỉ thấy Trương Đan Phong cố gắng chống đỡ, bóng người ngang dọc, quyền phong vù vù chấn động cả căn đại sảnh, Đàm Đài Diệt Minh bước đi lanh lẹ tựa như khỉ vượn, ra quyền mạnh như mãnh hổ, lực hùng thế kình, biến hóa khôn lường, từng bước dồn Trương Đan Phong thối lui. Vân Lối tiếc không thể nào nhảy vọt lên, giúp chàng một tay, thế là vội vàng dẫn khí lên, hy vọng có thể tựa giải huyệt đạo. Đang lúc lo lắng, chợt thấy Đàm Đài Diệt Minh vung tay tóm một cái, quát rằng: “Đi!” Thế là nhấc bổng Trương Đan Phong lên ném lên không trung tựa như ném một trái cầu!
Vân Lối hoảng hồn đến nỗi nhắm tịt hai mắt, chợt nghe ồ một tiếng, mở mắt ra thì thấy Trương Đan Phong đã đứng ở dưới đất, tựa như chẳng hề tổn thương. Té ra cú ném của Đàm Đài Diệt Minh xem ra rất hung dữ, nhưng thực sự đã âm thầm thi triển xảo kình, ném Trương Đan Phong lên không trung, rồi lộn người lên sau đó nhẹ nhàng hạ xuống đất. Điều này không những Vân Lối chẳng đoán ra mà cả Trương Đan Phong cũng cảm thấy bất ngờ.
Chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh tiến tới hai bước, mỉm cười nói: “Đan Phong, không uổng sư phụ của ngươi đã khổ công dạy dỗ, võ công của ngươi quả nhiên có chỗ độc đáo, tiếp được năm mươi chiêu của ta, có thể xông pha trên giang hồ. Ngươi hãy tự lo cho mình. Ở trước mặt cha ngươi, đã có ta lên tiếng, ngươi không cần phải lo lắng”.
Lúc này Trương Đan Phong mới biết lòng tốt của Đàm Đài Diệt Minh đối với mình, ban nãy ra tay chỉ là thủ chiêu. Trương Đan Phong vái dài rồi nói: “Đàm Đài tướng quân, tất cả đều nhờ vào ông”.
Đàm Đài Diệt Minh chợt hỏi: “Trong phòng còn có ai nữa?”
Trương Đan Phong nói: “Là một người bằng hữu, y không muốn gặp ông, mong ôn hãy nể mặt tôi, đừng kinh động đến y”.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Đã không muốn gặp thì không miễn cưỡng, ý của Thái sư, tháng mườị...” Trương Đan Phong lại suỵt một tiếng, Đàm Đài Diệt Minh lập tức lảng sang chuyện khác: “Chúng ta sau này không biết có gặp lại hay không, ngươi hãy cùng ta ra ngoài nói chuyện một lát”.
Thế rồi bỏ Trương Đan Phong lên mình ngựa, phóng vọt ra ngoài cửa.
Vân Lối thở phào một hơi, tựa như đã bỏ được tảng đá nặng ngàn cân trong lòng, nỗi lo lắng chợt tan biến. Cao thủ điểm huyệt, mỗi người đều có thủ pháp độc môn, vốn không dễ dàng tự giải khai, Vân Lối thử dùng tâm pháp của bổn môn, vận khí ba vòng thì chợt có hiệu quả, đó là điều khiến cho nàng bất ngờ.
Vân Lối đứng bật dậy, thầm nhủ: “Mình phải tìm hiểu bí mật thân thế của y”. Thế rồi đưa mắt nhìn quanh, chỉ thấy thanh bảo kiếm của Trương Đan Phong vẫn còn để trong phòng, thế là nhặt lên nhìn, chỉ thấy thanh kiếm có khắc hai chữ Bạch Vân. Thanh Minh và Bạch Vân là kiếm của Huyền Cơ Dật Sĩ, một thanh truyền cho Tạ Thiên Hoa, một thanh truyền cho Diệp Doanh Doanh, Vân Lối vừa nhìn thấy thì tim đánh thình một tiếng nhủ thầm: “Thanh kiếm này tại sao y có? Chả lẽ y là đồ đệ của tam sư bá?” Khi nhìn kỹ lại, chỉ thấy trên tua kiếm có một mảnh ngọc khắc hình rồng, làm trang sức. Vân Lối nhìn kỹ, nàng thấy mảnh ngọc này có khắc bốn chữ “Hữu thừa tướng phủ”, ngoài ra còn có một dòng chữ ghi rõ lai lịch của mảnh ngọc này, dòng chữ ấy chính là: Phong nhi ra đời, quốc chủ ban tặng.
Vân Lối tim đập chân rung.
Keng môt tiếng, thanh Bạch Vân kiếm rơi xuống đất, lúc này nàng đã hiểu hết tất cả, Trương Đan Phong chính là con trai của địa gian tặc Trương Tôn Châu, là con trai của kẻ thù!
Vân Lối chỉ cảm thấy hoang mang, lúc này tựa như cả thế giới không còn tồn tại, trong đầu trống rỗng như chẳng có gì, nàng vô tình đưa tay chạm ngực, đụng phải một thứ, đó chính là bức huyết thư bằng da dê mà gia gia đã để lại, mười năm nay lúc nào Vân Lối cũng mang theo bên mình. Bức huyết thư viết rằng: “Hễ là hậu nhân của nhà họ Vân, gặp phải hậu nhân của Trương Tôn Châu, bất luận là nam nữ già trẻ đều phải giết chết!” Tuy đã qua mười năm, tuy cách một lớp áo nhưng Vân Lối tựa như có thể ngửi thấy mùi máu tanh của tấm da dê!
Vân Lối cảm thấy một cơn lạnh dâng lên trong lòng, điều này thật đáng sợ. Bức da dê tựa như một mảnh băng bao bọc lấy người nàng, tâm hồn của nàng tựa như một mệnh lệnh không thể kháng cự buộc nàng phải chính tay giết chết Trương Đan Phong!
Bên ngoài cửa tiếng ngựa hí dài, Trương Đan Phong lại trở về. Vân Lối định thần, cắn răng cúi đầu ngồi, tựa như đang cố gắng vận công, nàng không muốn Trương Đan Phong thấy sắc mặt trắng bệt của mình. Trương Đan Phong nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào, cười rằng, cười rằng: “Ta sẽ tiếp câu chuyện thứ ba này. Tiểu huynh đệ, huynh đệ sao thế?”
Rồi bước tới trước tấm gương đồng, chỉnh sửa lại mái tóc rối bời. Từ tấm gương đồng, chàng đột nhiên thấy Vân Lối trợn tròn hai mắt, cầm kiếm đâm thẳng tới chàng!
Chỉ nghe keng một tiếng bàn tay của Vân Lối run run, kiếm lướt xéo qua cổ chàng, tấm kiếng vỡ toang, Trương Đan Phong vội vàng quay đầu lại: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ, đệ hãy nghe ta nóị...” Vân Lối nhắm mắt, liên tục đâm tới ba nhát kiếm!
Trương Đan Phong phóng người vọt qua chiếc bàn ngọc, chỉ nghe Vân Lối khóc rằng: “Ta đã hoàn toàn hiểu, không cần kể câu chuyện thứ ba nữa!” Thế rồi phóng người vọt lên, đâm soạt ra thêm một kiếm, Trương Đan Phong thở dài, nói: “Đệ có phải là cháu gái của Vân Tĩnh hay không?”
Vân Lối kêu lên: “Ngươi là con trai của kẻ thù nhà ta!” Mũi kiếm đâm tới trước ngực, Trương Đan Phong ưỡn ngực nói: “Tiểu huynh đệ, đệ hãy đâm đi! Ta không cần đệ tha thứ!” Soạt một tiếng, mũi kiếm lướt sang bên phải, tay phải của Trương Đan Phong rách một đường, chỉ nghe Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, sau khi đệ giết ta, không nên nổi giận, đệ phải ngồi tịnh tọa một canh giờ, trên bàn ngọc có một bình bạc nhỏ, trong bình có thuốc cho đệ, có thể giúp đệ tăng nguyên khí! Được, tiểu huynh đệ, ta không cần tha thứ, đệ hãy cứ đâm tới!” Vân Lối nước mắt dâng trào, tay run tim nhói đau, cây Thanh Minh bảo kiếm suýt nữa rơi xuống đất, nàng đột nhiên cảm thấy bức da dệ ở trước ngực tựa như một quả núi đè vào tim nàng, buộc nàng phải báo thù!
Vân Lối run run mũi kiếm, kêu lên: “Hãy nhặt kiếm lên, ta không giết một người chẳng có tấc sắt trong tay!”
Nàng biết võ công của Trương Đan Phong cao cường hơn mình, nều tỉ thí thì kẻ chết sẽ là bản thân mình chứ không phải là Trương Đan Phong. Nhưng không biết thế nào nàng lại buộc Trương Đan Phong tỉ kiếm, tựa như nếu sau một trận kịch chiến. Bản thân chết dưới kiếm của Trương Đan Phong, coi như không có lỗi với gia gia.
Trương Đan Phong đứng yên, vẻ mặt như cười như mếu, khiến Vân Lối không dám nhìn thẳng. Vân Lối nghiến răng, nhặt thanh Bạch Vân kiếm lên, rồi ném qua cho chàng, miệng nói: “Hai nhà chúng ta có mối thù sâu không đội trời chung, không phải ngươi chết thì là ta vong, hãy mau rút kiếm ra”.
Trương Đan Phong nhận lấy thanh kiếm, buồn bã nói: “Tiẻu huynh đệ, ta thề suốt đời này không động thủ với đệ, đệ muốn giết thì cứ giết, nếu đệ không ra tay, ta đi đây!”
Vân Lối quét một luồng kiếm quang trước mặt Trương Đan Phong, nhưng vẫn không chém vào, Trương Đan Phong thở dài, nhảy lên con ngựa trắng rồi nói: “Tiểu huynh đệ, từ nay đệ hãy bảo trọng, ta đi đây!” Bên ngoài cửa tiếng ngựa hí dài, một lát sau tất cả đều rơi vào tĩnh lặng. Vân Lối đứng trân người ra ở đấy, cây trường kiếm rơi xuống đất, trước mắt tối sầm.
Đúng là:
Là yêu là thù cũng khó biết, chỉ khiến ngọc nữ đau lòng thôi.
Muốn biết chuyện sau đó thế nào, mời hãy xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 8
Ái hận nam minh kinh truyện lục lâm tiến
Ân cừu mạc biện sầu triển tử la y
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:35 pm

Hồi 8
Ái hận nam minh kinh truyện lục lâm tiến
Ân cừu mạc biện sầu triển tử la y

Giờ đây Trương Đan Phong đã ra đi, nàng chỉ mong từ nay Trương Đan Phong mãi mãi không xuất hiện nữa, cũng mong trên đời này không bao giờ có một người tên Trương Đan Phong! Đó quả thật là một ý nghĩ kỳ quặc, một Trương Đan Phong có máu có thịt, đã làm bạn với mình trong ba ngày thì làm sao biết mất cho được? Đúng thế, Trương Đan Phong đã đi xa, Trương Đan Phong đã biến mất, nhưng chàng có thật sự biến mất hay không? Không, không! Chàng lại quay lại, đã trở lại, trở lại! Hình bóng của chàng nhẹ nhàng, chậm rãi, đi sâu vào lòng Vân Lối, trong khoảnh khắc bóng đen của tấm da dê đã bị hình bóng chàng che khuất.
Vân Lối hoang mang, là yêu? Là hận? Là vui? Là buồn? Nàng không thể nào phân biệt được, ân thù đan xen, ái hận mù mờ, cắt không đứt, sửa vẫn rối. Trong khoảnh khắc, tất cả mọi suy nghĩ tựa như biến mất, đầu óc của Vân Lối trống rỗng, tựa như nàng chưa từng nghĩ điều gì, cũng chẳng có gì tồn tại, trong mơ hồ nàng chợt cảm thấy Trương Đan Phong như trở lại, thì thầm bên tai nàng: “Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ....”.
Ánh mắt vừa nghiêm khắc như gia gia, vừa đầy tình yêu thương như mẹ! Trên đời này còn có ai gọi mình bằng giọng nói dịu dàng hơn thế? có người đàn ông nào đã nhìn mình với ánh mắt như thế? Ngoại trừ Trương Đan Phong, người mà nàng mong mãi mãi không tồn tại nữa!
Vân Lối chậm rãi đưa mắt nhìn sang, chợt thấy bình bạc Trương Đan Phong để lại trên bàn ngọc, trong bình là thuốc của Trương Đan Phong để cho nàng. “Vật của kẻ thù, không, không, ta không thể uống... Đó là tấm lòng tốt cuối cùng của Trương Đan Phong, không, không, mình không thể từ chối chàng...” hai ý nghĩ ấy cứ giao tranh với nhau trong lòng Vân Lối, trong mờ hồ nàng chợt cảm thấy tựa như Trương Đan Phong đang nhìn mình thắm thiết, kề tai mình thì thầm nói: “Tiểu huynh đệ, đệ vẫn chưa khỏe hẳn, nguyên khí vẫn chưa hồi phục, hãy uống đi, uống đị...” ánh mắt mạnh mẽ, lời nói mạnh mẽ, Vân Lối bất giác cầm bình thuốc, đổ ba viên vào lòng bàn tay rồi bỏ vào miệng.
Nàng cũng không biết mình ngồi đã bao lâu, chỉ thấy ánh nắng bên ngoài cửa mộ dời sang phía tây, nghĩ bụng chắc trời đã về chiều, chợt nghe bên ngoài có tiếng ngựa hí, Vân Lối giật mình, đứng bật dậy nghĩ bụng: “Chả lẽ chàng đã quay về?” Chỉ nghe tiếng reo vui vang lên, Châu Sơn Dân từ bên ngoài chạy vào, cao giọng nói: “Vân muội muội, quả nhiên muội ở đây! Ôi chao, có phải muội đã trúng độc thủ của kẻ ấy hay không?”
Vân Lối mỉm cười, lắc đầu. Châu Sơn Dân ngồi xuống bên cạnh nàng, nhìn lên mặt nàng, thấy vẻ tiều tụy, trông như mất hồn, khiến cho chàng lo lắng vô hạn. Vân Lối định thần, chỉ nghe Châu Sơn Dân nói: “Té ra muội và y đã nấp trong ngôi mộ này, muội có bị thiệt thòi gì không? Muội có biết y là ai không? Y là con trai của đại gian tặc Trương Tôn Châu, là đại thù nhân của gia gia muội!”
Châu Sơn Dân vừa nói ra, tưởng rằng Vân Lối sẽ giật mình, nào ngờ Vân Lối chỉ cúi đầu trả lời: “Ừ, muội biết rồi”.
Nhưng Châu Sơn Dân thì lo lắng kêu lên: “Cái gì? Muội đã biết rồi? Muội biết khi nào?”
Vân Lối vẫn ngồi yên, thì thầm nói: “Muội vừa mới biết, Đàm Đài Diệt Minh lúc nãy mới đến đâỵ...” Châu Sơn Dân suỵt một tiếng, nói: “Té ra là thế, huynh cứ tưởng muội đã biết y là kẻ thù, sao lại còn đi chung với y? Muội có động thủ với y không? Có bị thương hay không?”
Vân Lối nói: “Muội bị Bạch Ma Ha đánh bị thương, y đã trị cho muội”.
Châu Sơn Dân nói: “Y? Y là ai?”
Vân Lối nói: “Kẻ thù của gia gia!”
Châu Sơn Dân ngạc nhiên, nói: “Y có biết muội là cháu gái của Vân Tĩnh không?”
Vân Lối nói: “Muội dùng kiếm đâm y, y đã biết!”
Châu Sơn Dân lại khựng người, đột nhiên vỡ lễ ra: “Ồ, ta biết rồi. Tên gian tặc ấy lúc đầu không biết muội là kẻ thù của y, cho nên mới lôi kéo, dụ dỗ muội. Sau đó muội rút kiếm đâm y, y không phải là đối thủ của muội cho nên đã bỏ chạy. Đáng tiếc muội vừa bị thương mới khỏe lại, khí lực vẫn chưa hồi phục, nếu không chắc chắn sẽ đâm y chết, huynh cũng không cần phải tốn nhiều sức”.
Vân Lối cúi đầu im lặng để mặc cho Châu Sơn Dân suy đoán. Chỉ nghe Châu Sơn Dân cười đắc ý rằng: “Nếu sớm biết võ công của y tầm thường như thế, huynh đã không tốn nhiều sức, nhờ Oanh Thiên Lôi Thạch Anh truyền Lục Lâm tiễn!”
Vân Lối thất kinh, nói: “Cái gì? Lục Lâm tiễn?”
Châu Sơn Dân cười nói: “Kinh nghiệm giang hồ của muội còn kém, chưa biết Lục Lâm tiễn là gì. Lục Lâm tiễn là lệnh tiễn của lãnh tụ lục lâm truyền ra, anh hùng trong chốn lục lâm thấy lệnh tiễn thì dầu sôi lửa bỏng cũng không dám từ chối. Vân muội muội, quả thật ma xui qủy khiến con trai của Trương Tôn Châu dám một mình trở về Trung thổ, thù của muội chắc chắn sẽ báo được!”
Nỗi ám ảnh của bức huyết thư bằng da dê lan ra trong lòng, Vân Lối không biết nên mừng hay nên buồn vì cái tin ấy, nàng không thể nào quên lời dặn dò của gia gia, không thể tha cho bất cứ người nhà họ Trương nào, vậy thì cứ để y bị người ta giết, vậy lúc đó nàng không cần ra tay nữa. Nhưng một khi nghĩ đến Trương Đan Phong sẽ bị anh hùng trong chốn lục lâm giết chết, nàng không dám tưởng tượng cảnh tượng ấy. Chỉ nghe Châu Sơn Dân ngồi một bên tiếp tục nói: “Vân muội muội, từ sau khi muội rời núi, ta luôn mong nhớ muội”.
Giọng nói rất dịu dàng, Vân Lối ngẩng đầu lên, nói với giọng yếu ớt: “Ồ, đa tạ huynh”.
Châu Sơn Dân rất thất vọng khi thấy dáng vẻ rầu rĩ ấy của nàng, thế rồi vẫn nói tiếp: “Ta luôn muốn gặp lại muội, nhưng trong sơn trại có quá nhiều chuyện làm sao có thể đi? Tháng trước thám tử của chúng ta ở biên cảng đã biết được một mình con trai của Trương Tôn Châu vượt Nhạn Môn quan, cải trang thành một tên tú tài, cỡi con ngựa trắng. Cha ta và mọi người trong sơn trại bàn bạc với nhau, đều nói rằng con trai của Trương Tôn Châu một mình về Nhạn Môn quan chẳng có ý gì tốt lành, chắc chắn là có mưu đồ xấu xa. Cha ta bảo ta đuổi theo, cùng với lãnh tụ lục lâm các nơi truyền Lục Lâm tiễn bắt sống y. Nơi này thuộc Sơn Tây, Minh chủ lục lâm hai tỉnh Tấn, Thiểm là Thạch Anh, khi ta tìm đến thì ông ta không có ở Hắc Thạch trang. Sau đó gặp con gái của Thạch Anh mới biết té ra muội đã trở thành nữ tế của Thạch Anh. Thạch tiểu thư rất thích muội!”
Vân Lối mỉm cười, nói: “Huynh thấy Thạch tiểu thư như thế nào?”
Châu Sơn Dân nói: “Võ nghệ cũng tạm được!”
Vân Lối nói: “Còn những chuyện khác?”
Châu Sơn Dân nói: “Ta và nàng quen nhau không quá nửa ngày, làm sao biết những chuyện khác?”
Vân Lối lại mỉm cười. Vốn định nói tiếp nhưng trong lòng mãi nhớ chuyện Lục Lâm tiễn, nàng thấy Thạch Anh tôn kính Trương Đan Phong như thế, tại sao có thể cùng Châu Sơn Dân truyền Lục Lâm tiễn? Cho nên nàng vẫn im lặng nghe chàng nói tiếp.
Châu Sơn Dân tiếp tục nói: “Ngày hôm ấy ta và Thạch cô nương đuổi theo tên đồ đệ của Đàm Đài Diệt Minh, ngựa của y là giống ngựa tốt của nước Đại Uyển, đuổi được mấy mươi dặm thì ngựa của chúng tôi đều mệt, ngựa của y vẫn chạy nhanh như gió cho nên đuổi theo không kịp”.
Vân Lối xen vào hỏi: “Còn Thạch cô nương thì sao?”
Châu Sơn Dân mỉm cười nói: “Phu nhân của muội tựa như rất căm ghét ta, trên đường cứ đối chọi mãi với ta, theo ta thấy, hình như nàng không muốn ta là nghĩa huynh của muội, ta cũng lấy làm ngạc nhiên vì điều đó, ta là nghĩa huynh của muội thì có liên quan gì đến nàng ta?”
Vân Lối buồn cười, không ngờ đêm động phòng hôm ấy, nàng đã nhiều lần nhắc tên nghĩa huynh với Thạch Thúy Phượng, thế nhưng đã khéo hóa vụng.
Châu Sơn Dân tỏ vẻ rầu rĩ: “Đuổi không kịp kẻ địch, ta và nàng đã cãi nhau một trận, nàng bảo sẽ quay về nhà một mình, không muốn dắt ta đến gặp phụ thân nàng, lại còn đòi ta phải trả cây san hô lại, hình như nàng rất quý trọng cây san hô ấy”.
Vân Lối bất giác nhoẻn miệng cười. Châu Sơn Dân nói: “Ta biết cây san hô ấy là sính lễ muội tặng cho nàng, nàng thực sự yêu thương muội, chả trách nào lại coi trọng cây san hô đến thế”.
Vân Lối nói: “Lần này là huynh đã tặng sính lễ cho nàng, không phải muội đấy nhé”.
Châu Sơn Dân đỏ mặt, nói: “Muội lại trêu ta nữa”.
Vân Lối mỉm cười nói: “Thạch cô nương không muốn dắt huynh về gặp phụ thân của nàng, Lục Lâm tiễn của huynh ở đâu mà có?”
Châu Sơn Dân nói: “Thật trùng hợp, Thạch cô nương bỏ đi không bao lâu, ta đuổi ngựa chạy về hướng tây, không lâu sau thì gặp Oanh Thiên Lôi Thạch Anh, ông ta không biết con gái mình đã cùng đi với ta. Chắc là cha con họ mỗi người đi một hướng, cho nên không gặp mặt nhau”.
Vân Lối nói: “Thạch Anh có phải đi với bốn người hay không?”
Châu Sơn Dân nói: “Đúng thế, bọn họ vội vội vàng vàng tựa như có chuyện gì rất gấp gáp, chẳng nói với ta nhiều lời. Ta đòi ông ta đưa ra Lục Lâm tiễn, đang định kể lại tường tận cho ông ta nghe, ông ta lại xua tay bảo: “Xưa nay Kim Đao trại chủ nổi tiếng hiệp nghĩa, ai cũng biết! Nếu kẻ các người đã truy bắt thì chắc chắn đó là hạng người chuyện ác gì cũng làm, không cần phải nói, hãy cầm Lục Lâm tiễn! Ta đang có chuyện gấp, xin thứ không thể phụng bồi. Thiếu trại chủ, sau khi đã giải quyết xong việc, mời đến Hắc Thạch trang một chuyến để nói cho tường tận”. Ông ta không thèm hỏi cũng trao Lục Lâm tiễn cho ta, lập tức cùng bốn người kia bỏ đi”.
Vân Lối nhủ thầm: “Té ra là thế, nếu Thạch Anh hỏi thêm một câu, biết Châu Sơn Dân đang đuổi theo ai, chắc chắn sẽ không có chuyện hiểu lầm này”.
Châu Sơn Dân lại tiếp tục nói: “Ta gặp mặt Thạch Anh ở gần đồi Mạnh Lương, gần đó chính là địa phận của Lam Thiên Thạch trại chủ, ta trao Lục Lâm tiễn cho ông ta, bảo ông ta trong vòng ba ngày phải truyền cho đồng đạo trong chốn lục lâm. Ta ở trong trại ông ta một ngày chờ đợi, sự việc rất thuận lợi, Thạch Anh và cha ta cùng lên tiếng, các anh hùng lục lâm trong thiên hạ đều muốn rút đao tương trợ. Vân muội muội, lần này mối thù của muội đã có thể báo! Ồ, sao thế? Sao muội lại không vui?”
Sắc mặt Vân Lối trắng bệt, nghe chàng hỏi như thế thì nàng cố cười mà nói rằng: “Ồ, muội không được khỏe, bây giờ thì đã khỏe. Muộị... muội rất vui!”
Châu Sơn Dân nói: “Lục Lâm tiễn đã có đồng đạo trong lục lâm truyền đi, không cần đến ta nữa. Ta nhớ lại ngày hôm ấy đã gặp ngựa của muội ở đây, thế là liền trở về tìm muội, nhờ trời thương quả nhiên đã gặp được muội”.
Vân Lối không nói không rằng, Châu Sơn Dân định thổ lộ nỗi niềm nhớ thương, chợt chàng như nghe thấy tiếng gì, thế là vội vàng phục xuống đất.
Vân Lối nói: “Có phải có người đến hay không? Sao muội không nghe thấy gì cả?”
Châu Sơn Dân đứng dậy: “Người ấy vẫn còn cách bảy tám dặm”.
Rồi chàng ung dung bước ra ngoài đẩy cánh cửa lại. Bản lĩnh phục địa thính thanh này là tuyệt kỷ của cao thủ trong chốn lục lâm, cũng là do kinh nghiệm mà có, Vân Lối tuy đã học qua, nhưng vẫn còn kém xa Châu Sơn Dân.
Châu Sơn Dân nhìn Vân Lối rồi mỉm cười: “Muội nên thay y phục!”
Vân Lối từ sau khi tiết lộ chân tướng cho Trương Đan Phong biết, nàng đã thay y phục phụ nữ, lúc này được Châu Sơn Dân nhắc nhở, bất giác mặt đỏ ửng, cúi đầu bước vào mật thất, đóng cửa lại. Châu Sơn Dân đứng ở ngoài cửa, trong lòng hoài nghi: Nhìn bộ dạng của Vân Lối, chả lẽ khi nàng chưa vạch mặt kẻ thù, cả hai đã đến lúc sâu đậm?
Vân Lối vào trong mật thất mở tay nải ra, trong đầu hiện ra hình bóng của Trương Đan Phong.
“Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ....” Giọng nói ấy khiến cho nàng xao xuyến, lại vang lên bên tai. Vân Lối cầm mấy bộ đồ phụ nữ, xé toạc từng chiếc. Nàng hận cái gì? Hận những bộ đồ này ư? Không, cả bản thân nàng cũng không biết mình hận cái gì, chỉ là nỗi u uất tan biến theo tiếng xé vải, nàng xé những tấm áo này, tựa như xé toạc ký ức của mình. Nàng thực sự muốn trở thành một người đàn ông, nếu là đàn ông, chắc chắn sẽ bớt đi rất nhiều nỗi phiền não.
Vân Lối xé từng tấm áo, nàng đột nhiên dừng tay. Trên tay nàng là một tấm áo màu tím, sau khi nàng tiết lộ thân phận của mình, đêm đầu tiên nàng đã mặc tấm áo này, nàng nhớ rất rõ ánh mắt lạ thường của Trương Đan Phong lúc đó, chàng đã xuýt xoa khen nàng xinh đẹp. Vân Lối thở dài, mở tấm áo ra nhìn, đây là tấm áo Trương Đan Phong đã khen! Nàng nhè nhẹ vuốt ve tấm áo, lại nhẹ nhàng gấp tấm áo lại, cẩn thận xếp vào trong tay nải mà không xé đi.
Bên ngoài mật thất vọng vào tiếng bước chân của Châu Sơn Dân, Vân Lối chợt nghĩ: “Mình cứ ngồi thừ người ra ở đây, Châu đại ca đang nôn nóng chờ đợi!” Thế rồi lấy ra một bộ nam trang, vội vàng thay vào rồi bước ra cửa, chỉ thấy Châu Sơn Dân dựa bên cửa mà nói: “Huynh đã nghe tiếng vó ngựa, kẻ ấy càng cách một dặm. Ở nơi cổ mộ hoang vắng này, chắc chắn đó chẳng phải người tầm thường, sức khỏe của muội như thế nào, có thể dùng kiếm chưa?”
Vân Lối nói: “Đã có thể đối phó với kẻ địch. Châu đại ca, huynh hãy kể tiếp chuyện Lục Lâm tiễn”.
Châu Sơn Dân không ngờ trong lúc này nàng vẫn có thể trò chuyện được với mình, ngạc nhiên nói: “Lục Lâm tiễn lúc này đã truyền đi các nơi, còn có gì nói nữa?”
Vân Lối nói: “Trong tỉnh Sơn Tây, có anh hùng lục lâm nào lợi hại?”
Châu Sơn Dân cười nói: “Ồ, muội lo lắng không báo được thù ư? Cao thủ lục lâm ở tỉnh Sơn Tây có rất nhiều! À, ta quên cho muội biết một chuyện, nhị sư bá Triều Âm của muội gần đây đã từ Mông Cổ trở về, e rằng ông cũng biết chuyện chúng ta truyền Lục Lâm tiễn”.
Vân Lối ngạc nhiên nói: “Vậy ư? Ông ta đã đến Mông Cổ từ lúc nào? Huynh có gặp ông ta không?”
Châu Sơn Dân nói: “Ta không gặp, nhưng nghe người ta nói. Ồ, im nào, muội hãy nghe xem, có người gọi muội ở bên ngoài!” Chàng vừa ngừng lại thì chợt nghe ở bên ngoài có người gọi: “Vân Lối, Vân Lối!”
Đó là giọng nói của Thạch Thúy Phượng, Vân Lối ngẩn người ra, đựng ngăn Châu Sơn Dân bước ra mở cửa. Nhưng Châu Sơn Dân đã để cho nàng tiến vào. Thạch Thúy Phượng lướt vào như cơn gió, vừa thấy Vân Lối thì vui mừng ra mặt, nàng kêu lên: “Vân tướng công, muội quả nhiên đã tìm ra huynh ở đây!” Nàng vừa nói vừa rơi nước mắt, Châu Sơn Dân nói: “Vân tướng công vừa mới khỏe, cô nương đừng quấy nhiễu y!”
Thạch Thúy Phượng lúc này mới thấy Châu Sơn Dân đứng bên cạnh, nàng trừng mắt quát: “Chuyện của vợ chồng bọn ta, không cần ngươi quản!” Thế rồi bước tới gần Vân Lối thì thầm hỏi: “Vân tướng công, chàng đã trúng độc thủ của Hắc Bạch Ma Ha ư?”
Vân Lối nói: “Muội không cần lo, giờ đây huynh đã khỏe”. Thế rồi nhẹ nhàng nắm tay Thạch Thúy Phượng, nói: “Châu đại ca nói đúng lắm, ta muốn nghỉ một lát, muội thấy đó, sắc trời đã quá trễ”.
Thạch Thúy Phượng đỏ ửng mặt, trong lòng bực bội nhủ thầm: “Huynh cứ giúp nghĩa huynh của mình, chẳng nghĩ đến tôi tý nào”. Nhưng Vân Lối đã nói như thế, nàng cũng không tiện lên tiếng.
Châu Sơn Dân đứng một bên bật cười, Thạch Thúy Phượng liếc nhìn chàng, nói: “Ngươi cười cái gì?”
Vân Lối xen vào nói: “Ta đã đói bụng, làm phiền Thạch cô nương hãy thổi cơm giùm ta, ở đây có gạo, lại còn có thức ăn. Ta nghỉ ngơi một lát, cơm chín cô nương hãy gọi ta”. Thế rồi bước vào trong mật thất, Châu Sơn Dân cũng muốn bước theo, vừa mới dợm bước thì Thạch Thúy Phượng đã quát lên: “Này, ngươi hãy lấy nước cho ta vo gạo!” Châu Sơn Dân rất ngượng ngùng, chỉ đành thối lui, Vân Lối nhìn chàng mỉm cười, tựa như rất đắc ý vì đã chơi xỏ được chàng.
Châu Sơn Dân lặng lẽ giúp Thạch Thúy Phượng vo gạo, nổi lửa, thổi cơm, Thạch Thúy Phượng cũng im lặng, chẳng thèm để ý đến chàng, rõ ràng vẫn còn đang bực bội. Vân Lối ngồi trong mật thất suy nghĩ, nàng làm sao mai mối cho họ, ngay bên ngoài hai người chẳng nói chuyện với nhau thì cười thầm: “Không phải oan gia không gặp nhau, Thúy Phượng căm ghét y như thế, chắc là cứ tưởng rằng mình thiên vị cho nghĩa huynh, cho nên ghen tức, nếu nàng biết mình cùng là phận nữ nhi, không biết sẽ như thế nào?” Nàng chợt nhớ lại câu nói: “Không phải oan gia không gặp nhau”, đột nhiên nhớ lại ban đầu mình và Trương Đan Phong gặp nhau, mình cũng căm ghét chàng, rồi nàng bất giác nhẹ thở dài.
Vân Lối cứ suy nghĩ mông lung không biết bao lâu thì chợt nghe Thạch Thúy Phượng gõ cửa gọi: “Vân tướng công, cơm đã chín!” Vân Lối lúc này như tỉnh giấc mộng, nàng mở cửa bước ra, chỉ thấy Thạch Thúy Phượng và Châu Sơn Dân chẳng ai thèm nói chuyện với nhau, bất giác bật cười.
Thạch Thúy Phượng và Châu Sơn Dân tranh nhau bới cơm cho Vân Lối, Thạch Thúy Phượng lại liếc Châu Sơn Dân, Vân Lối mỉm cười, nhận lấy bát cơm của Thạch Thúy Phượng trao cho, Châu Sơn Dân nghĩ lại mình đã quá lộ liễu, chỉ sợ Vân Lối sẽ chê cười, cho nên mặt đỏ ửng. Vân Lối nói: “Thúy Phượng, Châu đại ca là Thiếu trại chủ của trại Kim đao, hiểu biết rộng rãi, là người rất tốt, muội nên thỉnh giáo y”.
Thạch Thúy Phượng hừ một tiếng rồi nói: “Muội biết. Nghĩa huynh của huynh là anh hùng hào kiệt, nếu không huynh làm sao nghe lời y?”
Châu Sơn Dân cười khổ sở, Vân Lối giải vây, mỉm cười nói với Thạch Thúy Phượng: “Châu đại ca nói, hôm ấy muội đã trở về nhà, sao còn trở lại?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Sau khi muội đã về nhà, một lát sau thì cha cũng quay về. Sắc mặt của cha rất nặng nề, tựa như trong lòng đang có tâm sư gì rất lớn. Muội hỏi có gặp huynh hay không, người bảo rằng không gặp, nhưng chắc chắn biết huynh vẫn còn ở trong cổ mộ, song có người không cho người gặp huynh. Muội nghe xong cảm thấy rất ngạc nhiên”.
Châu Sơn Dân cũng ngạc nhiên, nén không được hỏi: “Cha của cô nương võ công cao cường, uy chấn chốn lục lâm, ai dám ngăn cản?”
Thạch Thúy Phượng nghe chàng khen ngợi cha mình, ác cảm cũng giảm đi nhiều, nhưng vẫn quay đầu sang nói với Vân Lối: “Muội đã hỏi đi hỏi lại, người đó là ai, gia gia người chịu nói, chỉ nói trên đời này người chẳng sợ ai cả, nhưng người phải nghe lời kẻ ấy. Lại bảo rằng người ấy có nói chuyện hôn sự của muội cứ để mặc cho người ấy và Vân tướng công, cho nên bảo muội không cần phải lo”.
Nói đến đây, Thạch Thúy Phượng đỏ ửng mặt, cúi đầu vân vê tà áo, không dám nhìn thẳng vào ánh mắt của Vân Lối. Vân Lối cười thầm, vừa thích thú vừa buồn bã. Nàng cười là vì bộ dạng e thẹn của Thạch Thúy Phượng; thích thú là vì Thạch Anh tôn kính Trương Đan Phong, đau buồn là vì cảnh ngộ của mình. Nàng biết người mà Thạch Anh nói là Trương Đan Phong, nhưng vẫn không chịu nói rõ ra.
Thạch Thúy Phượng nói: “Hơn mười ngày nay, cha của muội hành sự rất kỳ quái, bình thường người có chuyện gì đều nói với muội, nhưng mười ngày nay cứ như giấu diếm muội chuyện gì đó, người không hề tiết lộ về lai lịch của tên tiểu tặc đã đến đánh cướp, lai lịch của bức họa và kẻ đã ngăn cản người là ai, muội giận người cũng mặc, lại còn bảo lập tức đi đưa thư”.
Vân Lối ngạc nhiên hỏi: “Đưa thư? Đưa thư cho ai?” Thạch Thúy Phượng mỉm cười, nói: “Đưa cho một kỳ nhân nổi tiếng trên giang hồ, muội sẽ không nói cho huynh biết trước, nếu huynh muốn gặp kỳ nhân ấy thì ngày mai hãy đi cùng muội”.
Châu Sơn Dân nói: “Trong tỉnh Sơn Tây có kỳ nhân nào nổi tiếng? Có phải là Lam đại hiệp không? Hay là Hắc trang chủ? Hay là...” Thạch Thúy Phượng hừ một tiếng rồi nói: “Đừng đoán bừa nữa, tuy ngươi là Kim Đao thiếu trại chủ đỉnh đỉnh đại danh, nhưng cũng chưa chắc biết vị kỳ nhân này”.
Châu Sơn Dân bực bội không lên tiếng, Vân Lối cười rằng: “Hai người đừng đối chọi nhau nữa. Nói như thế, ngày mai ta và Châu đại ca sẽ đi cùng muội. Thời gian không còn sớm nữa, ta phải ngủ đây”. Thế rồi đẩy cánh cửa nhỏ bước vào trong mật thất.
Thạch Thúy Phượng hơi ngần ngừ, rồi nàng cũng toan bước theo, Vân Lối dịu dàng nói: “Phượng tỷ tỷ, bên kia còn có một gian phòng”.
Thạch Thúy Phượng vừa thẹn vừa giận, nàng đứng lại, đang định lên tiếng thì chợt nghe Châu Sơn Dân kêu: “Ồ! Cổ mộ này thật kỳ lạ, tựa như cung điện ở dưới đất, ngoài đại sảnh này còn có mấy căn phòng nữa, thật là tốt. Các người mỗi người ngủ một phòng, đêm nay ta sẽ canh ở đại sảnh. Hiền đệ, đệ vừa mới khỏe thì phải nên tịnh dưỡng, hãy ngủ sớm đi, đừng nên nói chuyện nhiều”.
Thạch Thúy Phượng đỏ ửng mặt, đột nhiên nhảy ra, chỉ thấy Châu Sơn Dân nhìn nàng như cười mà không phải cười, nhưng chẳng nói lời nào.
Thạch Thúy Phượng hận không một đao chém chàng ra hai đoạn, nàng lập tức đẩy cánh cửa ở phía bên trái, cả nửa đêm mà vẫn không ngủ được.
Sáng sớm hôm sau, Vân Lối và hai người Châu, Thạch gật đầu chào nhau, hai người Châu Thạch chẳng ai nói với nhau lời nào. Ba người ăn điểm tâm xong định bước ra cửa, chợt nghe từ xa có vang lên tiếng ngựa hí, Châu Sơn Dân đứng lên nói: “Thớt ngựa này đến thật nhanh!” Nói vừa dứt lời thì tiếng vó ngựa càng lúc càng gần, lại nghe hai tiếng hí dài, Thạch Thúy Phượng kêu ồ lên một tiếng rồi nói: “Hình như là tiếng hí của con ngựa trắng!”
Vân Lối sắc mặt đỏ ửng, lảo đảo như muốn ngã xuống, Châu Sơn Dân rút đao kêu lên: “Được, y đã tìm đến chúng ta trước, chúng ta hãy hợp lực đấu với y!”
Vân Lối rút kiếm, tay run run, bảo kiếm chưa rút khỏi vỏ thì nghe ầm một tiếng, cánh cửa đã bị người ta táng vào, cát đá tung bay, một thớt ngựa trắng xông vào bên trong!
Chỉ nghe Châu Sơn Dân kêu lên một tiếng, vội vàng bước tới trước thi lễ, Vân Lối định thần nhìn lại, chỉ thấy người ngồi trên ngựa chẳng phải là Trương Đan Phong mà chính là Triều Âm hòa thượng, một nỗi thất vọng và vui sướng dâng lên trong lòng, khiến cho Vân Lối đứng sững ngay ở đấy, trong khoảnh khắc, nàng nói không ra lời. Triều Âm nhìn Vân Lối cũng ngạc nhiên.
Ông ta đang định lên tiếng, Châu Sơn Dân đã vội vàng kéo Triều Âm hòa thượng qua một bên, hạ giọng nói mấy câu, Triều Âm hòa thượng bật cười ha hả, vẫy tay nói với Vân Lối “Lối nhi, con đến đây, để ta nhìn kỹ lại, mấy năm không gặp mà con đã lớn thế này!”
Vân Lối kêu lên một tiếng sư bá rồi bước tới phía trước thi lễ, Thạch Thúy Phượng cũng đi theo sau Vân Lối, Triều Âm hòa thượng trợn mắt, liếc nhìn Thạch Thúy Phượng rồi đột nhiên buông giọng cười: “Tốt lắm! Lối nhi, con không được đối xử tệ với ả”.
Thạch Thúy Phượng lên tiếng chào hỏi, Triều Âm đột nhiên cười rằng: “Trông rất xinh đẹp, không biết con có biết nấu ăn hay không?”
Thạch Thúy Phượng ngẩn người ra, Châu Sơn Dân đã nói: “Đệ tẩu rất thông minh, đâu chỉ biết nấu cơm, đệ tẩu còn nấu đồ ăn rất ngon”.
Triều Âm hòa thượng nói: “Hay lắm, hay lắm! Hai ngày nay ta đi bảy tám trăm dặm đường, bụng đã đói, hãy mau thổi cơm cho ta!”
Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên nghĩ bụng: “Ông đói cũng không nên bất lịch sự như thế, cha ta chưa bao giờ sai khiến ta bằng giọng điệu như thế”.
Triều Âm hòa thượng buộc ngựa rồi ngồi xuống ghế, lại thúc giục nói: “Sơn Dân hiền điệt, con cũng giúp cháu dâu thổi cơm, hãy đặt ba cân gạo, thức ăn không nên quá nhiều, bảy tám món là được!”
Triều Âm hòa thượng sai khiến không hề khách sáo, khiến cho Thạch Thúy Phượng giở khóc giở cười, nghĩ bụng: “Nghĩa huynh, sư bá của Vân Lối toàn là những quái vật khó ưa!” nhưng ngại có Vân Lối nên chỉ đành bước vào bên trong thổi cơm.
Châu Sơn Dân cũng bước theo nàng, Thạch Thúy Phượng đang bực bội, tức giận nói: “Không cần ngươi giúp ta!”
Châu Sơn Dân cười: “Suỵt, nhỏ tiếng một chút. Cô nương có biết sư bá của Vân Lối là hòa thượng lỗ mãng nổi tiếng không? Nếu ông ta biết chúng ta cãi nhau ở đây, chắc chắn sẽ chê bai cô nương trước mặt Vân Lối”.
Thạch Thúy Phượng quả nhiên không dám lớn tiếng, nàng nhăn mặt, liếc nhìn Châu Sơn Dân. Châu Sơn Dân lại cười rằng: “Hơn nữa hòa thượng ấy ăn rất nhiều, bảy tám món ăn mà vẫn bảo chưa nhiều, một mình cô nương có làm được không?”
Thạch Thúy Phượng nghĩ quả nhiên thấy có lý, chỉ là đang tức tối, nàng quay đầu nhìn ra, thấy Triều Âm hòa thượng đang nói chuyện với Vân Lối. Châu Sơn Dân lại bảo: “Họ đang nói chuyện ở đó, cô nương đừng quấy rối. Hòa thượng này rất nóng tính, cô nương hãy cẩn thận đấy”.
Thạch Thúy Phượng giận đến nỗi suýt phát khóc, gằng giọng bảo: “Được, thầy trò huynh đệ các người coi tôi là người ngoài, tôi sẽ hỏi Vân Lối!” Bên ngoài Triều Âm kinh hãi quát một tiếng, Thạch Thúy Phượng chỉ nói như thế, nhưng nàng vẫn không dám làm gì, chỉ đành cùng Châu Sơn Dân thổi cơm nấu đồ ăn.
Châu Sơn Dân cười thầm, chàng đang cố ý giữ chân Thạch Thúy Phượng để Triều Âm hòa thượng và Vân Lối yên tâm nói chuyện. Nhưng Vân Lối thì lại có ý khác, nàng muốn Châu Sơn Dân ở lâu hơn bên cạnh Thạch Thúy Phượng. Khi hai người Châu, Thạch bước vào bên trong làm cơm, nàng đã kể lại kỹ càng chuyện mình đã bước chân vào Hắc Thạch trang như thế nào, khiến cho Triều Âm hòa thượng cười mãi không ngớt. Đến khi cười xong, ông ta nghiêm mặt nói: “Con thì vui mừng, còn ta ở Mông Cổ chẳng vui tý nào!”
Vân Lối thất kinh, chỉ nghe Triều Âm hòa thượng hỏi: “Lối nhi, còn có nhớ con đã từng gia gia trở về Trung thổ năm nào hay không?”
Vân Lối nói: “Con nhớ, đó là năm Chính Thống thứ ba”.
Triều Âm nói: “Còn năm nay?”
Vân Lối nói: “Năm nay là năm Chính Thống thứ mười ba”.
Triều Âm hòa thượng lại thở dài, nói: “Thật nhanh, chớp mắt đã mười năm. Mười năm trước, ta và tam sư bá của con đã cùng thề rằng, một người nuôi con côi, một người báo thù. Ta đã đưa con đến núi Tiểu Hàn giao cho tứ sư muội dạy dỗ, còn y đến Mông Cổ, giết chết tên gian tặc Trương Tôn Châu, báo thù cho con. Chắc sư phụ của con đã cho con biết chuyện này từ trước?”
Vân Lối chảy nước mắt mà đáp rằng: “Sư phụ đã nói, đa tạ sư bá đã lo lắng cho con”.
Triều Âm hòa thượng lại thở dài: “Con đa tạ đã quá sớm”. Ngừng rồi nói tiếp: “Ta và Thiên Hoa sư đệ hẹn nhau mười năm, phải gặp nhau tại một nơi bên ngoài Nhạn Môn quan. Không ngờ đến thời hạn mà y vẫn không về, có người nói y đã mất tích, lại còn có người nói y đã bị Trương Tôn Châu bắt giữ, vì thế ta một mình vào đất Hồ, nếu Thiên Hoa sư đệ có điều gì bất trắc, ta chỉ đành gánh vác chuyện báo thù”.
Vân Lối xen vào hỏi: “Sư phụ con nói tạ sư bá võ công cao cường, trí dũng song toàn, chắc là không đến nỗi gặp nạn?”
Triều Âm hòa thượng cười lạnh, nói: “Tạ Thiên Hoa quả thật võ công cao cường, nếu không ta đã báo thù được cho con”.
Vân Lối ngạc nhiên nói: “Sư bá nói thế thật khiến cho con khó hiểu”.
Triều Âm hòa thượng vung tay chém vỡ một góc bàn, lớn giọng nói: “Ta cũng không hiểu đây!”
Rồi ông ta lại thở dài, tiếp tục nói: “Ta âm thầm vào Ngõa Thích, nhiều lần dò hỏi mà vẫn không tìm được tung tích của Thiên Hoa sư đệ, muốn báo thù, nhưng Trương Tôn Châu có Đàm Đài Diệt Minh bảo vệ rất nghiêm ngặt, làm sao dễ dàng ra tay? Ta ở nước Ngõa Thích mà lòng như lửa đốt. Không ngờ tháng trước, đột nhiên nghe tin, bảo rằng Đàm Đài Diệt Minh đã không còn ở bên cạnh Trương Tôn Châu, có lẽ được tên gian tặc ấy sai làm việc ở nơi khác. Ta đã dò hỏi hư thực, vì thế chọn một đêm tối trời, một mình đột nhập vào phủ thừa tướng.
Phủ thừa tướng của tên gian tặc ấy thật lớn, y quả thật cũng rất biết hưởng thụ, ở nơi Mạc Bắc lạnh lẽo mà có thể xây dựng được một viên lâm như miền Giang Nam, phòng ốc trong phủ thừa tướng đều xây dựng theo kiểu đình đài lầu các ở hai đết Tô Hàn. Ta lần mò suốt đêm, bắt được một tên tiểu tặc mới biết tên gian tặc họ Trương ở trong một tòa lầu ở góc phía đông.
Lúc này đã đến canh năm, thật kỳ lạ, Trương tặc vẫn chưa ngủ. Y một mình ngồi trong phòng viết chữ, không hề để ý có người ở bên ngoài sắp lấy mạng y. Ta đã nắm trong tay ba mảnh tiền tiêu, thấy cơ hội không thể bỏ qua, lập tức dùng thủ pháp liên châu, phóng vào ba huyệt Tướng Đài, Toàn Cơ, Kim Tuyền của y. Thủ pháp ném tiền tiêu của ta trong vòng ba trượng bách phát bách trúng, đừng nói là y đang chú ý viết chữ, dù cho kẻ võ công cao cường, có phòng bị cũng khó thoát.
Không ngờ ta vừa phòng tiền tiêu ra, chợt nghe ba tiếng leng keng vang lên, ba mảnh tiền tiêu rơi xuống trước mặt y. Trong phòng lại có cửa ngầm, Trương tặc dựa người vào tường, lập tức trốn vào bên trong, ta nhảy vào tóm lấy, chỉ tóm lấy được nút áo của y, lúc đó lại có người xông ra đẩy ta ngã xuống bàn, Lối nhi có đoán được người ấy là ai không?”
Vân Lối buột miệng nói: “Chả lẽ đó là cạm bẫy của Đàm Đài Diệt Minh?” Nói xong, nàng chợt nhớ đầu tháng trước, khi mình còn ở Nhạn Môn quan, đã cùng Châu Kiện đánh với Đàm Đài Diệt Minh, cho nên rất hoài nghi, thế rồi nàng hỏi: “Nhưng Đàm Đài Diệt Minh làm sao có được thuật phân thân? Nhưng nếu không phải Đàm Đài Diệt Minh thì ai có võ nghệ cao cường như thế?”
Triều Âm hòa thượng cười lạnh, lớn giọng nói: “Nếu là Đàm Đài Diệt Minh thì không có gì là lạ, kẻ ấy chính là sư đệ Tạ Thiên Hoa của ta!”
Vân Lối ngạc nhiên kêu lên: “Tam sư bá?”
Triều Âm nói: “Đúng thế, chính là Tạ Thiên Hoa! Như thế ta mới tức giận. Ta bắt hỏi y: “Cái hẹn mười năm ngươi đã quên rồi ư? Ngươi báo thù hay làm việc cho kẻ thù?” Y trừng mắt nhìn ta, liên tục đâm ra ba kiếm, đẩy ta ra ngoài phòng, rồi đuổi gấp theo sau. Ta biết mình không phải là đối thủ của y, nhưng đang lúc tức giận cùng cực, cho nên xoay người lại liều mạng với y!
Điều kỳ lạ là, ở trong phòng y ra tay rất nặng, nhưng ra bên ngoài thì không động thủ, né tránh mấy chiêu rồi chợt hạ giọng hỏi: “Huynh có biết Trương Tôn Châu là ai không?” Ta tức giận mắng rằng: “Theo ngươi nói, chả lẽ Trương tặc là người tốt?” Rồi lại chém ra một đao, lúc này ta không tiện mang theo thiền trượng, ta chỉ dùng đoản đao, cho nên không vừa tay, làm sao có thể chém được y? Chỉ chém được hai đao, chợt nghe y hạ giọng nói: “Sư huynh đã hồ đồ!” Tự nhiên lướt tới, vung tay điểm vào huyệt Nhuyễn Ma của ta, rồi cõng ta trên lưng. Lúc này trong tướng phủ tiếng người ồn ào, võ sĩ gác đêm cũng chạy tới, y cõng ta ra một nơi vắng lặng, ở đó có một chuồng ngựa, y tháo một con ngựa, giải huyệt đạo của ta rồi hạ giọng nói: “Bao nhiêu năm qua chả lẽ sư huynh không hiểu đệ? Hãy chạy mau, chạy mau!” Ta không chịu lên ngựa, nói với y rằng: “Nếu ngươi không nói rõ, ta quyết không đi!” Y biến sắc, đột nhiên gằng giọng nói: “Nếu sư huynh không đi đừng trách đệ vô tình, không những phải ra khỏi tướng phủ, đệ hạn cho huynh trong vòng ba ngày phải rời khỏi Mông Cổ, nếu không sẽ lấy mạng huynh!” Ta nổi điên vung đao chém tới, nhưng đã bị y đánh gãy thành hai đoạn, thế rồi y ném ta lên lưng ngựa rồi quát: “Sư huynh có muốn sống nữa không?” Ta không ngờ rằng y trở mặt vô tình như thế, thầm nhủ: “Y đã quên tín phụ nghĩa như thế, ta liều mạng thì có ai biết y là phản đồ của sư môn? Chi bằng cứ quyền nghi né tránh, sau này sẽ tìm y tính sổ”. Thớt ngựa trắng ấy rất phi phàm, không chịu nghe lời, may mà ta có chút công phu cho nên có thể miễn cưỡng kìm chế được nó, phóng ngựa ra khỏi tướng phủ, ở phía sau lưng có mấy trăm thớt ngựa đuổi theo, thanh thế rầm rộ, chỉ nghe có người mắng rằng: “Kẻ cướp thật lớn gan, dám bắt ngựa quý của Thừa tướng!” Ha ha, té ra con ngựa trắng ấy là của Trương tặc, chả trách nào lại chạy nhanh đến thế, sau khi nó bị ta kìm chế, đã tung vó chạy nhanh như vó, không bao lâu thì bỏ xa bọn kia. Đêm ấy tuy ta thất bại, nhưng đã có được con ngựa này”.
Con ngựa đang được cột trong sảnh, tựa như biết Triều Âm hòa thượng nói đến nó cho nên hí dài một tiếng. Vân Lối nhìn kỹ lại, thấy con ngựa này rất giống với con Chiếu dạ sư tử mã của Trương Đan Phong, chỉ bờm có sắc lông màu vàng, chắc là cùng loại ngựa.
Triều Âm hòa thượng nói: “Lối nhi, con đang mải suy nghĩ gì thế?”
Vân Lối nói: “Nếu tam sư bá cam tâm phụng sự cho kẻ thù, sao lại tặng ngựa tốt của Trương Tôn Châu cho sư bá?”
Triều Âm nói: “Cho nên ta rất không hiểu, nếu không nhờ con ngựa tốt này, ta đã không thoát khỏi Mông Cổ”.
Vân Lối lắc đầu: “Điều này quả thật khó hiểu, Trương Tôn Châu ấy là người thế nào? Chả lẽ...” Triều Âm vỗ bốp một chưởng, lại đánh vỡ một góc bàn ngọc, tức giận nói: “Trương Tôn Châu ấy là con nhà gian tặc, các đời đều làm quan ở Ngõa Thích, giúp Ngõa Thích chỉnh đốn quân ngũ, mưu đồ nuốt trọn Trung Hoa, tên gian tặc mà thiên hạ đều biết này, con nói thử xem y có thể là người tốt hay không?”
Vân Lối nhớ lại gia gia đã bị hành hạ chăn ngựa hai mươi năm ở vùng băng thiên tuyết địa, lòng đau như cắt, rung giọng nói: “Y là kẻ gian làm toàn chuyện ác, là kẻ thù của nhà con! Nhưng, người có biết y có lai lịch khác hay không?”
Triều Âm trợn tròn mắt, đột nhiên như nghĩ ra chuyện gì, lấy ra một cuộn giấy, mở ra nói: “Đêm ấy ta hành thích Trương tặc, bị Tạ Thiên Hoa đẩy một chưởng, ta đã ngã xuống bàn giấy của Trương tặc, thuận tay nhặt được cuộn giấy này, đây chính là cuộn giấy Trương tặc đêm ấy đã viết. Ta nghĩ tên gian tặc nửa đêm mà vẫn không ngủ, chắc là viết văn thư cơ mật, liền mang về. Đáng tiếc là y viết quá cẩu thả, có vài chữ ta không nhận ra. Con hãy xem thử, mỗi hàng đều có bảy chữ, không nhiều không ít, cộng lại là hai mươi tám chữ, chả lẽ đây chẳng phải là văn thư mà là thơ phúng hay sao?”
Vân Lối bật cười, cầm lấy tờ giấy, nhìn kỹ lại, nàng trầm ngâm không nói. Triều Âm hỏi: “Tấm giấy này viết gì?” Vân Lối nói: “Là một bài thơ”. Thế rồi nàng đọc: “Thùy bã Tô Hàn khúc tử khu? Hà hoa thập lý quế tam thu. Ná tri khôi mộc vô tình vận, khiên động Trường Giang vạn cổ sầu!” (tạm dịch: Ai đang hát khúc Tô Hàn, hoa sen mười dặm quế ba thu. Nào biết cây cỏ là thứ vô tình, khơi dậy mối sầu vạn cổ).
Đó cũng chính là bài thơ Trương Đan Phong đã ngâm lên khi nhìn bức họa.
Triều Âm hòa thượng nhíu mày, nói: “Tên gian tặc nửa đêm không ngủ, sao lại viết một bàu thơ làm gì? Sầu cái gì ở dây, Trường Giang làm gì có sầu? Hừ, không hiểu, không hiểu!”
Vân Lối bật cười, nói: “Đó là một bài thơ của thi nhân thời nhà Tống, Trường Giang từ xưa là chiến trường nam bắc giao chiến, con thấy bài thơ này mang niềm cảm khái sâu sắc.
Triều Âm gượng cười: “Điều này thì ta không hiểu, con hãy giảng cho ta nghe y viết bài thơ này có nghĩa gì?”
Vân Lối trầm ngâm rồi đột nhiên nói: “Đây vốn là một bài thơ của Tạ Xứ Hậu thời nhà Tống, nhưng Trương Tôn Châu đã đổi một chữ ở câu đầu và câu cuối. Cầu đầu của bài thơ nguyên gốc là: “Thùy bã Hàn Châu khúc tử khu?” Y đã đổi thành Tô Hàn, câu cuối đã đổi địa vật chi sầu thành thời gian chi sầu, đó là tâm trạng của người đang đau khổ, không cần phải hiểu nó. Câu cuối vốn là “vạn lý sầu” thì y đã đổi thành “vạn cổ sầu”, câu đầu vốn chỉ nói Hàn Châu, nhưng y lại thêm Tô Châu thì có nghĩa là gì? Hừ, Tôn Châu, Tôn Châu, Tôn Châụ...”.
Triều Âm hòa thượng ngạc nhiên nói: “Sao con lại cứ đọc tên của tên Hán tặc ấy?”
Vân Lối nói sư bá bào tướng phủ của Trương Tôn Châu xây dựng như viên lâm ở vùng Giang Nam, con chưa đến Tô Châu, nhưng biết viên lâm Tô Châu nổi tiếng nhất, không biết phủ đệ của Trượng tặc có giống như viên lâm ở Tô Châu hay không?”
Triều Âm nói: “Chính là như thế, xem ra Trương tặc rất thích Tô Châu”.
Vân Lối ngẩn ra suy nghĩ, rồi lại cúi đầu đọc: “Tô Châu, Tô Châu, Tô Châu...” Triều Âm hòa thượng nói: “Lối nhi, con trúng tà ư?” Trong khoảnh khắc, câu chuyện đầu tiên mà Trương Đan Phong đã kể cho nàng nghe lướt qua trong đầu, Vân Lối đột nhiên ngẩng đầu lên nói: “Con đã hiểu, Trương Tôn Châu là đời sau của Trương Sĩ Thành!”
Lúc này cách thời Chu Nguyên Chương khai quốc không quá bảy tám mươi năm, câu chuyện của Trương Sĩ Thành vẫn còn lưu truyền trong dân gian, Triều Âm hòa thượng sững người ra nói: “Trương Sĩ Thành? Có phải người đã tranh đoạt giang sơn với Thái Tổ hay không?”
Vân Lối nói: “Trương Sĩ Thành xưng đế ở Tô Châu, quốc hiệu là Đại Châu, chẳng phải đã nói rằng y đã tôn sùng nước Đại Châu mà tổ tiên y đã lập ra, chứ không phải Đại Minh của Chu Nguyên Chương hay sao?”
Triều Âm hòa thượng nói: “Sao đột nhiên con lại nghĩ đến nhiều chuyện như thế?”
Vân Lối cúi đầu thầm kêu, hình như không nghe lời ông ta mới nói. Triều Âm hòa thượng lớn giọng nói: “Mặc cho y có phải là đời sau của Trương Sĩ Thành hay không, y đã giúp Ngõa Thích đánh vào Trung thổ thì là không phải hạng tốt lành gì!”
Vân Lối khổ não muôn phần, nói: “Sư bá nói phải!” Lòng lại nhớ đến rất nhiều chuyện khi đi cùng Trương Đan Phong, nàng nhủ thầm: “Trương Đan Phong kiên quyết rời khỏi Mông Cổ, nghĩ ra cũng không giống như phụ thân của chàng. Nhưng Tạ sư bá nổi tiếng hiệp nghĩa, nếu Trương Tôn Châu quả là kẻ gian tặc làm toàn chuyện ác, tại sao người không giết y mà còn bảo vệ cho y?”
Những câu hỏi ấy cứ bám lấy nàng. Nhưng dù cho Trương Tôn Châu, Trương Đan Phong là tốt là xấu, tóm lại họ vẫn là kẻ thù của nhà họ Vân, là những người mà gia gia của Vân Lối bảo nàng phải giết chết!
Triều Âm hòa thượng thở dài, lại nói: “Ta không ngờ rằng Tạ Thiên Hoa sư đệ lại mù quáng đến thế, đã giúp cho gian tặc này. Nay tình huynh đệ giữa ta và y đã chấm dứt, lần này quay về là định đến khẩn cầu tổ sư, xin người cho phép sư phụ của con xuống núi trước ba năm. Võ công của sư phụ con và Tạ Thiên Hoa tương đương nhau, ta và sư phụ của con liên thủ, chắc chắn sẽ giết được y!”
Vân Lối lại nhớ đến đêm trước khi mình xuống núi, sư phụ vẫn nhớ mãi Tạ Thiên Hoa sư bá, có thể biết tình yêu của họ sâu đặm đến mức nào, nếu sư phụ biết chuyện này thì không biết sẽ đau lòng đến bao nhiêu!
Triều Âm hòa thượng lại cười rằng: “Ta đang dùng con ngựa của y tặng cho, đến núi Tiểu Hàn không cần đến một tháng. Đây quả thật là ngựa tốt, ha ha!”
Hai người nói cả buổi, Châu Sơn Dân và Thạch Thúy Phượng đã thổi cơm xong bưng lên. Châu Sơn Dân bày cơm lên bàn, chạy ra xem thử con ngựa trắng, suýt xoa khen mãi không thôi. Triều Âm hòa thượng ăn như gió cuốn, chỉ trong chốc là đã chén sạch ba cân gạo, xoa bụng mà cười rằng: “Cháu dâu thật giỏi, tay nghề của ngươi cũng khá lắm! Nấu cơm cũng thơm, thức ăn cũng ngon!”
Thạch Thúy Phượng chỉ hơi mỉm cười, quay đầu nhìn sang con ngựa. Triều Âm hòa thượng lại nói: “Đây là ngựa quý, nhưng còn con ngựa quý hơn!”
Châu Sơn Dân giỏi xem tướng ngựa, ngạc nhiên nói: “Cái gì, còn con ngựa quý hơn?”
Triều Âm hòa thượng nói: “Đúng thế! Trên đời lại có loại ngựa tốt hơn! Sơn Dân hiền điệt, con đã dùng danh nghĩa của Kim Đao trại chủ cùng Thạch Anh truyền Lục Lâm tiễn, hôm trước ta mới biết chuyện này. Những nhân vật nổi tiếng trong giới hắc đạo ở tỉnh Sơn Tây ta đều quen biết, xưa nay ta rất tò mò, nên dò hỏi mới biết các người muốn truy bắt một tên thư sinh cưỡi ngựa trắng, kẻ này thật lớn gan, giờ đây đã là chuyện chấn động giữa lục lâm!”
Vân Lối, Châu Sơn Dân, Thạch Thúy Phượng đều biến sắc, đồng thanh hỏi: “Y đã làm chuyện gì?”
Thần sắc thì rất khác nhau. Triều Âm hòa thượng khen rằng: “Sơn Dân hiền điệt, kẻ thư sinh ấy như thế nào ta không hỏi, nhưng hành vi của y quả thật có bản sắc của bậc anh hùng! Thông thường khi bị anh hùng lục lâm truy bắt, người bình thường đều trốn tránh, còn y lại tìm đến nơi!”
Châu Sơn Dân ngạc nhiên nói: “Tìm đến nơi? Y tìm đến ai?”
Triều Âm hòa thượng nói: “Có lẽ những người nhận được Lục Lâm tiễn của con, y đều tìm đến! Mấy ngày trước ta dò hỏi được ở chỗ Lam đại hiệp, ông ta vừa nhận được thư của thư sinh ấy, hẹn bảy ngày sau sẽ đến gặp nhau tại nhà Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm”.
Châu Sơn Dân, Thạch Thúy Phượng đều kêu lên: “Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm?”
Vân Lối tuy không biết Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm là ai, nhưng thấy vẻ kinh ngạc của họ thì biết đó là nhân vật không tầm thường.
Triều Âm hòa thượng nói: “Chính là Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm. Các người bảo y phải chăng đã ăn trúng mật gấu? Ta từ biệt Lam đại hiệp, buổi chiều hôm đó đến chỗ Long trại chủ, y đã nhận được thư của thư sinh ấy, cũng hẹn bảy ngày sau đến tụ hội tại nhà Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm. Lam đại hiệp và Long trại chủ đều là những nhân vật có tiếng tăm trong chốn võ lâm võ nghệ không phải tầm thường, thế nhưng đã bị y vào nhà, để lại thư, quả thực bản lĩnh của kẻ này rất kinh người”.
Vân Lối lúc mới quen biết Trương Đan Phong, đã bị chàng mấy lần bỡn cợt, đã biết bản lĩnh khinh công của Trương Đan Phong nên cũng không cảm thấy ngạc nhiên, Châu Sơn Dân và Thạch Thúy Phượng thì đều kinh hãi.
Triều Âm hòa thượng tiếp tục nói: “Ta nổi lòng tò mò, tìm đuổi theo Bạch Mã thư sinh, đến cánh đồng phía bắc của huyện Hưng, phát hiện tông tích của y, ta phóng ngựa đuổi theo, chỉ nghe y trên đường cười không ngớt, từ xa quát rằng: “Ngươi cũng nhận được Lục Lâm tiễn của Chấn Tam Giới phải không? Xin thứ ta không biết sào huyệt của ngươi ở đâu, chưa đến bái phỏng, bảy ngày sau, ngươi hãy cũng hãy đến nhà của Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm!” Té ra y tưởng ta là người đi theo truy bắt y. Ngựa của ta đã nhanh, ngựa của y càng nhanh hơn, không đầy một bữa cơm thì y đã chạy mất, ta đuổi theo không kịp nữa! Tối đến khi ta đến chỗ Hắc trang chủ, mới biết vào lúc hoàng hôn, ông ta đã nhận được thư hẹn của thư sinh ấy, xem ra con ngựa của y đã nhanh gấp hai lần con ngựa của ta!”
Châu Sơn Dân nói: “Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm là kẻ bên ngoài hai đạo hắc bạch, hành tung kỳ lạ dị thường, tên giặc này từ mới vừa Mông Cổ đến, sao lại đến chỗ ông ta?”
Chàng vừa nói lời này ra, Triều Âm hòa thượng và Thạch Thúy Phượng đều đồng thời cảm thấy kinh ngạc, mặt đều biến sắc, Triều Âm hòa thượng kinh ngạc vì nghe hai chữ Mông Cổ; Thạch Thúy Phượng hình như rất ngạc nhiên khi Châu Sơn Dân có thể biết được thân phận của Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm.
Triều Âm hòa thượng nói: “Tất Đạo Phàm sống tại một ngôi làng nhỏ tên gọi Hoạt Lộc ở giao giới của hai tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây, ta đã biết được điều này từ chỗ Lam đại hiệp. Y từ Mông Cổ đến đây, sao lại biết rõ những nhân vật nổi tiếng của Trung Nguyên như thế? chuyện này thật đáng nghi, ồ, chả lẽ...” Ông ta toan nói nhưng lại thôi. Vân Lối hỏi: “Các người cứ bảo Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm, vậy y là nhân vật như thế nào?”
Chính là:
Dẫn đến phục hổ đồ long thủ, chỉ ra cô thần nghịch tử tâm.
Muốn biết chuyện sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 9
Cổn cổn đại giang lưu anh hùng huyết sái
Du du trường dạ mộng nhân nữ tình si
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:35 pm

Hồi 9
Cổn cổn đại giang lưu anh hùng huyết sái
Du du trường dạ mộng nhân nữ tình si


Triều Âm hòa thượng nói: “Con không hỏi, ta cũng định nói. Cả nhà Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm là những kẻ hành sự kỳ quái nhất trong võ lâm. Dòng họ của y đều có một quy tắc rất quái dị: Phàm là con trai, khi đến mười sáu tuổi thì phải cạo đầu làm nhà sư du phương, sau mười năm mới được để tóc dài hoàn tục, nhưng vẫn chưa thể thành gia lập thất, lại phải mười năm làm ăn mày, làm ăn mày xong mới được cưới vợ sinh con. Cho nên đàn ông nhà họ Tất, nếu phải thành thân thì ít nhất phải sau ba mươi sáu tuổi. Nhân số nhà họ Tất ít ỏi, nhiều đời đơn truyền, có lẽ là do thành thân muộn. Tất Đạo Phàm võ công cao cường, xuất qủy nhận thần, mười năm làm sư, mười năm làm ăn mày, sau đó lại hoàn tục ẩn cư, trong đời đã có nhiều hành vi kỳ lạ, do đó được người ta gọi là Chấn Tam Giới. Châu hiền điệt, Tất Đạo Phàm là kẻ đã thoát ra khỏi ba giới tăng, trái, tục, lại chẳng phải là một quái nhân trong hai đạo hắc bạch, chả lẽ ông ta cũng nhận được Lục Lâm tiễn của các người, tung vào những chuyện bao đồng này hay sao?”
Châu Sơn Dân nói: “Con làm sao dám truyền Lục Lâm tiễn cho ông ta. Nếu Tất tiền bối ra tay tương trợ, chính là điều con mong muốn, làm sao dám ngăn cản”.
Thạch Thúy Phượng lại hỏi: “Ngươi bảo cha ta truyền ra Lục Lâm tiễn rốt cuộc là vì chuyện gì? Tên tiểu tặc đi ngựa trắng là người như thế nào?”
Châu Sơn Dân mỉm cười nói: “Vì ta muốn giúp phu quân của cô nương báo thù! Tên tiểu tặc ấy chính là con trai duy nhất của Trương Tôn Châu, cũng là kẻ thù của Vân Lối đệ!” Chàng ngập ngừng trong chốc lát rồi lại nói: “Ta thấy Tất tiền bối quá nửa là đã ra tay tương trợ. Đáng tiếc ta không biết ông ta ở Hoạt Lộc, nếu không ta sẽ mời Thạch lão tiền bối cùng cha viết thư cho ông ta”.
Thạch Thúy Phượng chợt hỏi: “Vân tướng công, tên tiểu tặc ấy có thật là kẻ thù của tướng công hay không?”
Sắc mặt Vân Lối trắng bệt, nàng nói: “Ừ, đúng thế. Y là kẻ thù của nhà ta!”
Thạch Thúy Phượng mỉm cười nói: “Vậy huynh phải đáp tạ muội mới phải”. Thế rồi lấy ra một bức thư đang đóng kín, nói: “Cha muội sớm đã nghĩ đến ông ta. Các người T không dám mời, ta sẽ thay các người đến gặp ông ta”. Châu Sơn Dân liếc mắt, chỉ thấy phong thư đền rằng: “Gởi Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm huynh đài”. Rồi vỗ tay cười rằng: “Thạch lão tiền bối, đang suy nghĩ chu đáo, đã sớm nghĩ đến người này. Tên tiểu tặc ấy lần này quả thực tự chui đầu vào lưới, hiền đệ, đệ có thể đích thân báo thù!”
Thạch Thúy Phượng hớn hở nói: “Muội vừa vào nhà, người đã viết thư này bảo muội đi đưa thư. Muội rất ngạc nhiên tại sao người lại nôn nóng như thế, té ra là vì giúp huynh báo thù. Cha thật tốt, người đã dối muội, không chịu nói lai lịch của tên tiểu tặc ấy cho muội nghe. Té ra tên tiểu tặc ấy là kẻ thù của huynh! Lát nữa chúng ta sẽ cùng đi, huynh cũng sẽ làm quen với Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm!”
Vân Lối giật mình hỏi: “Muội đã xem qua bức thư này chưa?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Huynh không nghe muội nói ư, cha muội đã giấu muội! Nếu muội xem bức thư này, chẳng phải sẽ hiểu được tất cả hay sao? Bây giờ không cần xem cũng biết người đã viết gì, đương nhiên là mời Tất Đạo Phàm giúp đỡ cho huynh”.
Vân Lối thắc mắc: “Thạch Anh không hề biết Trương Đan Phong là kẻ thù của nàng, bản thân nàng cũng thấy ông ta khúm núm trước mặt Trương Đan Phong, sao ông ta lại viết thư nhờ Tất Đạo Phàm, giết Trương Đan Phong? Bức thư này nói gì? Quả thực rất khó đoán!”
Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên nói: “Vân tướng công, huynh đang nghĩ gì thế? Cha đã truyền Lục Lâm tiễn cho huynh, lại còn nhờ người báo thù, huynh không vui ư?”
Vân Lối cố nở nụ cười: “Ra rất vui! Thạch cô nương, cha của cô nương và Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm có quen thân nhau không?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Không, ông ta là đối thủ của cha muội! Ông ta ngang ngược bá đạo, muội chưa thấy ai dám bắt nạt cha muội như ơng ta!” Điều ấy thật khiến cho mọi người bất ngờ, Triều Âm hòa thượng kêu lên: “Ai bảo Tất Đạo Phàm ngang ngược bá đạo?”
Vân Lối nói: “Vậy ông ta đã bắt nạt cha của cô nương như thế nào?”
Châu Sơn Dân nói: “Đã như thế, sao cha cô nương lại còn viết chư cho ông ta?”
Ba người đều tranh nhau hỏi, Thạch Thúy Phượng của, nói: “Ông ta bắt nạt cha muội, nhưng cha muội lại rất khâm phục ông ta! Huynh hỏi ông ta đã bắt nạt cha muội như thế nào ư? Chuyện này đã xảy ra mười mấy năm về trước!
Lúc ấy muội vẫn là một cô bé bảy tám tuổi, tuy tuổi nhỏ khờ khạo, nhưng vẫn còn nhớ rõ chuyện ngày hôm ấy. Có một ngày, ngoài cửa nhà muội có một tên ăn mày hưng dữ, gia nhân tặng gạo cho y y cũng không cần, cứ bảo cha muội phải cho y một món báu vật. Ai mà không biết cha muội buôn bán châu báu trong giới hắc đạo, người nhà tưởng rằng y đến gây sự, có người đánh y, y vẫn không nhúc nhích, nhưng người đó thì bị văng xa tới mấy trượng. Sau đó muội mới biết đó là nội công thượng thừa Triêm Y thập bát điệt.
Ngày hôm đó cha muội đáng dạy muội đọc sách viết chữ, gia nhân vào bẩm cáo có một tên ăn mày hung dữ lai lịch bất minh, giọng điệu ngang ngược đến trước cửa.
Cha muội chợt tái mặt, vẫn tay nói: “Được, mời y vào, sau khi y vào không ai đến gần nửa bước, dù ta có bị y đánh chết, các người cũng không được tiến vào!” Rồi lại bảo nấp ở trong phòng ngủ không được bước ra. Muội nghe cha nói như thế thì sợ hãi, nhưng muội vẫn không nghe lời người, sau khi tên ăn mày hung dữ ấy vào, muội đã len lén đứng nhìn vào.
Tướng mạo của tên ăn mày hung dữ ấy rất kỳ lạ, râu tóc rối bời, mặt đen như nhọ nồi, tay cầm một cây gậy, tựa như hung thần ác sát, sau khi bước vào thì ngồi đối diện với cha muội, trừng mắt nhìn cha muội rất lâu, rất lâu, hai người đều không lên tiếng.
Cha muội thở dài, bước vào trong phòng lấy ra rất nhiều châu báu, bày hết trước mặt y rồi nói: “Tất gia, của cải nhà tôi đều ở đây cả”. Tên ăn mày ấy cười lạnh, gạt đống châu báu xuống đất rồi nói: “Oanh Thiên Lôi, người đừng giả vờ khờ khạo với ta nữa! Nhà ta nhiều đời tìm kiếm, đã tìm mấy mươi năm nay, nay ta đã điều tra rõ ràng, vật ấy đang ở chỗ ngươi, ngươi không chịu đem ra cho ta ư?” Cha muội lại nói: “Vật ấy không phải của ngài, sao có thể đưa cho ngài được?” Tên ăn mày ấy cười lạnh: “Chả lẽ là của ngươi đấy hử? Ngươi có biết lai lịch của nó hay không, sao dám nói ta không phải là chủ nhân của nó?” muội chưa bao giờ thấy có người dám ăn nói với cha muội như thế, cha muội thì tỏ vẻ van nài, nói với y rằng: “Món báu vật ấy dù cho Tất gia có chạm vào, cũng không thể nói là của Tất gia. Tôi được người ta gởi gắm, có thể không cần đến gia tài, nhưng mong Tất gia hãy buông vật này!” Tên ăn mày ấy nổi giận, đứng dậy lớn giọng nói: “Của cải, của cải? Vậy ngươi có trao cho ta vật này hay không?” Cha muội nói: “Không!” Tên ăn mày ấy cười lạnh, múa tít cây gậy ăn mày rồi nói: “Được! Ngươi đã không chịu vậy ta sẽ lãnh giáo Nhiếp Vân kiếm pháp của ngươi!”
Cha muội bảo: “Đã là như thế, xin thứ cho tại hạ phóng túng!” Rồi rút kiếm xông vào đánh nhau với y, lúc ấy muội vẫn chưa học kiếm pháp, thấy cha muội tựa như hổ dữ, kiếm quang loang loáng, tỏ vẻ như muốn liều mạng. Tên ăn mày ấy vừa vung gậy thì bị nhốt trong luồng kiếm quang, nhưng cây gậy vẫn co duỗi tự nhiên như con quái mãng, khiến muội xem mà hoa cả mắt!
Họ lao vào nhau khoảng một bữa cơm mà vẫn không phân cao thấp. Chợt nghe tên ăn mày hung dữ ấy quát lên: “Ngươi có đưa cho ta hay không?” rồi đánh bốp một gậy xuống vai cha muội, cha muội nói: “Không đưa!” rồi bất ngờ đâm soạt một kiếm vào vai của y, tên ăn mày ấy kêu lên: “Hảo hán tử!” rồi vung gậy đánh tiếp, một hồi sau chỉ nghe bốp một tiếng, tên ấy vung gậy tới, đánh cha muội lộn nhào, cha muội không thèm kêu một tiếng, bò dậy tiếp tục lao vào đấu với y, không bao lâu thì đâm tên ăn mày ấy một kiếm, tên ăn mày cũng như cha muội, không hề kêu lên một tiếng, càng đánh càng dữ, đến sau này dưới đất toàn là máu tươi, cha muội bị đánh ngã mấy lần, trán cũng bị cây gậy đánh trúng rách da. Tuy như thế, tên ăn mày cũng chiếm không được phần hơn, không những mái tóc rối bời bị luồng kiếm quang chém đứt, trên người cũng bị nhiều vết thương, sau đó hai người đều sức cùng lực kiệt, tên ăn mày ấy lại đánh cha muội một gậy, cha muội cũng đâm trúng y một kiếm, hai người đều ngã xuống đất, không bò dậy nổi nữa. Muội sợ quá lúc đầu không dám kêu, giờ đây thì khóc òa lên, cha muội lăn ở dưới đất mấy vòng, gắng gượng nói: “Được, Tất gia, ông hãy đem đi, tôi đã thua!”, giọng nói của cha muội rung rung, tựa như rất sợ hãi. Tên ăn mày hung dữ ấy nói: “Không, ngươi không thua. Ngươi giữ lời hứa với người ta, quả thật là một thiết hán tử hiếm có, ngươi hãy giữ lại món báu vật ấy. Ta không giành của ngươi nữa, sau này nếu gặp khó khăn, nếu đem báu vật ấy trao đổi, ta sẽ tận lực giúp ngươi”. Nói xong thì bò dậy, băng bó vết thương, rồi chống gậy loạng chọang ra khỏi nhà muội. Cha muội không gượng dậy nổi, muội chạy ra ngoài gọi, người nhà mới dám vào, đỡ cha muội lên giường, nghỉ ngơi hơn nửa tháng mới khỏe lại. Vừa mới đi đứng được, người đã vịn tường đến bảo tàng lâu, nhìn bức họa ấy sững sờ, muội suốt ngày không rời người, hôm ấy muội cũng len lén đi theo. Lúc đó muội vẫn còn nhỏ không dám hỏi, đến khi lớn có hỏi người cũng chẳng nói”.
Vân Lối chợt hỏi: “Là bức họa nào?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Chính là bức họa lớn mà huynh đã thấy ở trên lầu trong ngày thành thân của chúng ta”.
Vân Lối kêu ồ một tiếng, nói gì nữa.
Thạch Thúy Phượng lại kể: “Sau đó cha muội bảo tên ăn mày hung dữ kia thật sự không phải người xấu, mà là một kỳ hiệp, có ý rất khâm phục ông ta. Muội thì không tin, hôm đó y đã bắt nạt cha muội, ngang ngược bá đạo vô cùng, làm sao không phải là người ác? Cha muội buôn bán châu báu trong giới hắc đạo, rủi ro rất lớn, nhiều lần suýt mất cả mạng, lúc đó thường nói với muội về tên ăn mày hung dữ năm xưa, tức là Tất Đạo Phàm ngày nay, bảo rằng nếu chuyện này có Tất gia giúp đỡ thì có thể chuyện nguy thành an, tuy là nói như thế, nhưng cha chưa bao giờ nhờ vả ông ta. Vân tướng công, hôm nay cha vì huynh, đã chịu viết thư cho ông ta, cho thấy người rất thương mến huynh. Hôm nay muội mặc cho ông ta là người tốt hay kẻ xấu, là kỳ hiệp hay quái vật, tóm lại là chỉ cần ông ta chịu rút đao tương trợ báo thù cho huynh, muội đã rất vui mừng, không nghĩ đến chuyện ác năm xưa nữa”.
Vân Lối suy nghĩ, tựa như không hề nghe Thạch Thúy Phượng nói. Triều Âm hòa thượng chen vào nói: “Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm, có thể bảo y là một kẻ độc ác cũng được, cũng có thể nói y là kẻ tâm địa thiện lương cũng được. Hơn hai mươi năm trước, ta đã từng gặp mặt y một lần, lúc đó y cũng là hòa thượng như ta, vẫn chưa để tóc hoàn tục, vẫn chưa làm ăn mày.
Lúc ấy ta vừa mới học võ công, phiêu bạt trên giang hồ, là một nhà sư du phương ăn ở bốn phương. Một ngày nọ đã đến huyện Phụng Dương của tỉnh An Huy, đó là cố hương của Thái Tổ hoàng đế Chu Nguyên Chương, có bài ca dao hát rằng: “Nói Phụng Dương, ăn Phụng Dương, Phụng Dương là nơi tốt, ở Phụng Dương có Hoàng đế họ Chu, mười năm thì có chín năm đói. Nhà lớn thì bán lương thực, nhà nhỏ thì bán con cái, kẻ tôi tớ không có con bán, vác trống ăn mày đi bốn phương”. Có thể thấy Phụng Dương tuy lá quê hương của Hoàng đế, nhưng chẳng nhờ được gì, ngược lại còn bị hoàng đề đặt ra sưu cao thuế nặng, khiến cho dân không sống nổi, hễ gặp năm đói thì trăm họ chạy đói khắp nơi. Năm ấy cũng là năm đói, Phụng Dương mười nhà thì đã có chín nhà trống, quả thực tai họa rất nghiêm trọng. Nhưng có một nơi giàu có xa hoa, các người biết đó là đâu không, đó chính là một ngôi chùa!”
Vân Lối ngạc nhiên nói: “Chùa? Chùa chẳng phải là nơi nhà sư ở hay sao?”
Triều Âm nói: “Đúng thế, chùa chiền là nơi ở, nhưng ngôi chùa này lại giống như nhà giàu sang trọng, bọn họ đều là những đại hòa thượng có tiền có thế! Không hề biết sợ ai, thời còn trẻ Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã từng cạo đầu làm sư, ông ta đã xuất gia ở trong ngôi chùa này. đó vốn là một ngôi chùa nhỏ, sau khi vua Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế, đã mở rộng ngôi chùa này. Chính vì nơi Hoàng đế đã từng xuất gia cho nên gọi là chùa Hoàng Giác.
Nhà sư trong chùa Hoàng Giác ngang ngược bá đạo, điều không cần phải nói đến, bọn chúng không giữ giới luật, cũng không giữ thanh quy, nhân mùa đói kém đã mua rất nhiều phụ nữ nhà nghèo nuôi ở trong chùa làm trò dâm lạc. Khi đi ngang Phụng Dương, ta nghe dân nghèo nói chuyện bán con gái vào trong chùa, người thì bảo bán năm trăm tiền, người thì bảo được ba trăm tiền, nhưng số tiền ấy không đủ mua lương thực cho mười ngày. Có những người nghèo đến nỗi không nuôi nổi con gái, cũng van nài chùa nuôi hộ. Ta nghe như thế thì lửa giận bốc lên, trong thiên hạ lại có một ngôi chùa như thế, hòa thượng như thế, cả một hòa thượng ăn thịt như ta cũng bị bọn chúng làm cho mất mặt!
Lúc ấy ta vẫn chưa tới ba mươi tuổi, tính nóng nảy hơn bây giờ, mặc cho bọn chúng là chùa Hoàng Giác, ta liền xách thiền trượng chạy vào tìm trụ trì hòa thượng mắng cho một trận. Nào ngờ những hòa thượng ấy đều biết võ công, trụ trì, là một có thể, hòa thượng trong cả chùa chạy ra, định bắt sống ta rồi giết chết. Ta đấu với bọn chúng cả nửa ngày cũng giết được vài tên, nhưng địch nhiều ta ít, đến lúc sức cùng lực kiệt, suýt tý nữa thì bị sa vào tay bọn chúng.
Đang lúc nguy ngập, bên ngoài lại có một hòa thượng du phương, tay cầm mỏ, miệng đọc lớn Phật hiệu, lớn giọng nói rằng: “Thế giới thanh bình, càn khôn sáng láng, các người là kẻ bại họai trong chốn cửa Phật!” Vừa niệm Phật A đi đà vừa ra tay giết người, một lát sau thây chất đầy đất, ta thấy mà cũng rung người, liền nói: “Sư huynh, hãy tha cho bọn chúng!” Hòa thượng ấy bảo: “Hòa thượng trong chùa khác thì có thể tha, nhưng hòa thượng trong ngôi chùa này thì ta đã căm hận đến thấu xương! Nêu ông đã nảy lòng từ bi thì cứ để một mình ta ra tay”. Ông ta cứ một đao thì giết chết một tên, hễ tên nào xông tới đều bị chém chết. Trong chùa Hoàng Giác còn treo một bức họa của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, thật buồn cười, trong chùa lại treo bức họa của Hoàng đế, nhưng Hoàng đế trong bức họa lại không phải là một hòa thượng. Hòa thượng du phương ấy ôm bụng cười trước bức họa của Chu Nguyên Chương, rồi phun một bãi nước bọt vào bức họa ấy. Đây là một hành động đại nghịch bất đạo, ta tuy căm ghét bọn ác bá quan phủ bức hại lương dân, nhưng cũng cảm thấy kinh hãi trước hành động sỉ nhục Hoàng đế ấy. Hòa thượng này nói: “Ông không cần phải sợ, trước khi Chu Nguyên Chương làm Hoàng đế đã từng như chúng ta, y sợ người ta nhắc đến chuyện y đã là hòa thượng, ta căm ghét y đã làm ô danh hòa thượng. Ông đã dám giết bọn dâm tăng, tại sao không dám căm ghét tên Hoàng đế dung túng cho bọn dâm tăng, đã từng làm hòa thượng này?” Ông ta nói xong thì xé nát bức họa. Nghe ông ta nói thế, ta không còn lo lắng nữa, cười lớn rằng: “Thống khoái! Thống khoái!”
Hòa thượng ấy bảo: “Giết người thì thống khoái, nhưng cứu người thì rất phiền phức. Làm người cũng không chỉ mong thống khoái mà sợ phiền phức”. Trong chùa Hoàng Giác có giấu rất nhiều phụ nữ, cha mẹ của họ đã bỏ đi khắp nơi, nếu thả bọn họ ra, bọn họ cũng chẳng biết đi về đâu. Hòa thượng ấy nói: “Cứu người phải cứu đến cùng, chúng ta nên hộ tống họ, giúp họ tìm người nhà”. Ông ta nói rất đúng, giết người thì dễ, cứu người thì khó, bọn ta đã mất hai tháng mới đưa từng người về cho cha mẹ huynh đệ họ. Còn của cải trong chùa Hoàng Giác thì đương nhiên chia cho dân nghèo. Đây chính là công đức đầu tiên mà sau khi ta xuống núi, suốt đời này làm sao quên được.
Ta và hòa thượng ấy đi lại với nhau hơn hai tháng, rất hợp ý nhau, đôi bên tỉ thí võ công, cũng không phân biệt cao thấp, kết thành tri giao. Hòa thượng ấy chính là Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm của ngày hôm nay, ta rất nhớ ông ta, đáng tiếc sau lần từ biệt ấy thì không bao giờ gặp lại”.
Vân Lối say xưa lắng nghe, câu chuyện của Triều Âm hòa thượng rất hay, Tất Đạo Phàm trong câu chuyện càng khiến cho nàng suy nghị4 nhiều, nghe Triều Âm hòa thượng nói, tựa như thấy vẻ mặt của Tất Đạo Phàm khi phun nước bọt vào bức họa Chu Nguyên Chương. Tại sao ông ta lại căm hận Hoàng đế khai quốc của triều Minh như thế? Thực sự khiến cho người ta khó hiểu. Vân Lối chợt nhớ đến Trương Đan Phong, nàng nhớ lại vẻ mặt căm hận của Trương Đan Phong khi nhắc đến Chu Nguyên Chương, nàng đột nhiên hoang mang, lòng càng rối bời.
Chỉ nghe Châu Sơn Dân cười rằng: “Triều Âm đại sư, lần này ông có thể gặp lại ông ta. Một Tất Đạo Phàm đã đủ đối phó với tên tiểu tặc, lại thêm đại sư nữa, dù y có ba đầu sáu tay, mọc cánh cũng khó thoát. Ha ha, hiền đệ, đệ đã sắp báo được thù, cha đệ dưới chín suối cũng có thể nhắm mắt”.
Vân Lối nhìn đăm đăm về phía xa, không đáp lời Châu Sơn Dân, cả Triều Âm hòa thượng và Thạch Thúy Phượng cũng cảm thấy ngạc nhiên. Trời đến gần trưa, Triều Âm hòa thượng đứng dậy, nói: “Chúng ta hãy đi cho mau, chỉ còn bốn ngày nữa là tới kỳ hạn với tên thư sinh ấy”.
Bốn người nối đuôi ra khỏi cổ mộ, Vân Lối ngẩng đầu lên nhìn trời xanh, tựa như vừa mới nằm ác mộng. Triều Âm hòa thượng cỡi thớt ngựa trắng chạy đầu tiên, sau đó là đến Vân Lối, Triều Âm hòa thượng đi được một đoạn thì kìm ngựa đi song song với Vân Lối, cố ý tách Châu Sơn Dân và Thạch Thúy Phượng ở phía sau, Thạch Thúy Phượng đương nhiên không vui, nhưng cũng chẳng biết làm cách nào.
Đến khi trời chạng vạng thì đã đến một trấn nhỏ ở huyện Hân, gặp hai tốp nhân mã, tốp đầu là Hỏa Thần Đạn Hắc trang chủ ở Thái cốc, một tốp là Ẩm Mã trại Lam trại chủ, Triều Âm hòa thượng và Châu Sơn Dân đều quen biết họ, đôi bên chào hỏi nhau, họ cũng đến nhà của Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm. Bốn người Triều Âm hòa thượng và họ cùng thuê một khách sạn lớn nhất. Triều Âm hòa thượng lấy ba phòng, ông ta và Châu Sơn Dân ở một phòng, Thạch Thúy Phượng và Vân Lối mỗi ở một phòng, dưới ánh mắt mọi người, Thạch Thúy Phượng nào dám nói đến chữ không.
Đêm nay Vân Lối cứ lăn qua trở lại mà không ngủ được, chợt nghe bên ngoài có người gõ cửa, Vân Lối hỏi: “Ai thế?”
Bên ngoài cửa Thạch Thúy Phượng thì thầm đáp: “Là muội”.
Vân Lối sợ nàng phát hiện, chỉ đành đội khăn, khoác ác ngoài ra mở cửa, nhưng chợt thấy Thạch Thúy Phượng mặt đầy nước mắt, ngả vào trong lòng mình. Vân Lối nhẹ nhàng đỡ nàng lên, ngồi xuống giường rồi hỏi: “Muội sao thế?”
Thạch Thúy Phượng đưa mắt nhìn nàng như hơn trách, nói: “Vân tướng công, muội không phải là kẻ tầm thường, muội không thể nào chịu nổi cái giận này”.
Vân Lối nói: “Ai đã làm muội giận?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Sư bá và nghĩa huynh của huynh, hình như họ có ý chia rẽ chúng ta, họ chẳng coi muội là thê tử của huynh. Có phải họ chê muội không xứng với huynh, cho nên tìm giai nhân khác cho huynh hay không?”
Vân Lối nén không được bật cười, nói: “Muội đã nghĩ đi đâu thế? Họ đều có lòng tốt”.
Thạch Thúy Phượng tức giận nói: “Hay lắm! Họ tìm giai nhân khác cho huynh mà còn bảo có lòng tốt? Muội đã làm điều gì thất đức mà huynh lại có ý thôi muội?”
Thế rồi nước mắt tuôn rơi, Vân Lối lúng túng nói: “Sao lại nói thế? muội càng nói càng sai! Ta muốn thôi muội từ lúc nào?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Vậy huynh, huynh...” rồi nàng e thẹn không nói gì nữa, Vân Lối nhủ thầm: “Giờ đây giả đã thành thật, biết làm thế nào bây giờ?”
Nàng đang định lên tiếng Thanh minh, Thạch Thúy Phượng đã cắt lời: “Nghĩa huynh của huynh, đừng nhắc đến y nữa, muội sẽ lập tức quay về tìm cha. Huynh cưới muội làm vợ hay là cưới nghĩa huynh? Hừ, hừ, muội căm ghét y!”
Vân Lối lúng túng vô cùng, nàng toan nói sự thật, nhưng chợt nghe ngoài cửa có tiếng ho, Châu Sơn Dân nói vọng vào: “Hiền đệ, đệ đang nói chuyện với ai thế?”
Vân Lối như gặp được cứu tinh, đẩy Thạch Thúy Phượng ra nói: “Châu đại ca đến, muội hãy mau ra ngoài, hãy lau khô nước mắt, nếu để y thấy thì không hay lắm”.
Thạch Thúy Phượng đang tức giận, nàng xoay người chạy ra ngoài cửa, nhưng không ngờ lại va phải Châu Sơn Dân, nàng hận không đẩy cho chàng té nhào, thế rồi về phòng trùm mền kín đầu, âm thầm khóc trong mền.
Vân Lối thấy Châu Sơn Dân nửa đêm tìm đến, trong lòng rất kinh ngạc. Chỉ nghe Châu Sơn Dân nói: “Hiền muội, chúng ta thân như người nhà, nếu có điều gì thì cứ cho ta biết. Muội có chuyện gì khó xử?”
Vân Lối giật mình, gượng cười rằng: “Đúng thế, huynh có thấy Thạch cô nương cứ bám lấy muội không? Đây chính là tâm sự khó giải. Muội không thể nào giải được tâm sự này, chỉ đành nhờ đại ca giúp muội”.
Châu Sơn Dân biến sắc, chỉ nghe Vân Lối lại nói tiếp: “Thạch Thúy Phượng thật sự là một người tốt, rất hợp với huynh. Đại ca, huynh đi cùng nàng, chả lẽ chẳng có ý gì với nàng hay sao?”
Lúc này sắc mặt của Châu Sơn Dân đã rất khó coi, chàng đoán rằng Vân Lối chắc chắn đã thích người khác, cho nên mới đẩy Thạch Thúy Phượng cho mình. Vân Lối nào ngờ chàng suy nghĩ như thế, thấy chàng đã biến sắc, cũng bất giác sững người ra. Chỉ nghe Châu Sơn Dân nói: “Vân muội, muội đừng giấu huynh nữa, muội có tâm sự khác”.
Vân Lối giận dỗi nói: “Cái gì?”
Châu Sơn Dân nhìn nàng, đột nhiên nói: “Có phải con trai của Trương Tôn Châu đối xử với muội rất tốt hay không?”
Vân Lối đáp mà giọng hơi rung: “Rất tốt!”
Châu Sơn Dân nói: “Nhưng y là kẻ thù của nhà muội!”
Vân Lối nói: “Không cần huynh phải nhắc muội chuyện này, bức huyết thư của gia gia muội đã nói rất rõ”.
Châu Sơn Dân nói: “Nói những gì?”
Vân Lối nói: “Muốn muội phải giết cả nhà của kẻ thù!”
Châu Sơn Dân hỏi dấn tới: “Nhưng y rất tốt với muội!”
Vân Lối nói: “Tốt hay xấu cũng đều như nhau cả, muội... muội... làm sao có thể quên lời dặn của gia gia được!” Rồi nàng im lặng, trong khoảnh khắc ấy chân tình đã lộ rõ, Châu Sơn Dân đã thất vọng, nhưng nghe nàng kiên quyết sẽ làm theo lời dặn của gia gia, cho nên không còn lo lắng. Thấy Vân Lối run rẩy, rân rấn nước mắt, chàng lại cảm thấy đáng thương, vừa cảm thấy đau lòng, thế rồi cánh tay tê rần, tựa như bị kiến cắn, chỉ nghe bên ngoài có tiếng Triều Âm hòa thượng quát: “Thằng giặc thật lớn gan, có ta ở đây mà ngươi cũng dám tìm tới!”
Châu Sơn Dân giật mình, rút thanh yêu đao phóng vọt lên mái nhà. Chỉ thấy dưới ánh trăng sáng vằng vặc, một thư sinh mặt đẹp như ngọc, tựa cười mà không phải cười đứng sừng sững ở đấy, đó không phải là người mà mình đã truyền Lục Lâm tiễn truy bắt! Lam trại chủ và Hắc trang chủ đều hiện thân, nằm phục ở một góc mái. Triều Âm hòa thượng lại kêu lên: “Ta không động thủ với hạng tiểu bối, ta sẽ kìm chế con ngựa trắng của y, các người hãy cẩn thận đừng để y chạy thoát!”
Châu Sơn Dân kêu lên: “Lối đệ, mau đến đây!”
Hắc trang chủ có ngoại hiệu là Hỏa Thần Đạn, ông ta vừa vung tay thì ba trái hỏa châu phóng tới trước mặt, thư sinh ấy lướt người nhẹ nhàng né tránh; Lam trại chủ Lam Thiên Thạch rút Phán Quan bút, hai bút điểm xéo tới, nhưng thư sinh ấy vẫn không rút kiếm, tay trái đột nhiên vẽ thành nửa vòng cung, tay phải vung lên đánh ra một chiêu Trường Hà Lạc Nhật, trong thủ có công, đẩy Lam Thiên Thạch thối lùi hai bước; Châu Sơn Dân chém nhanh tới một đao, thân hình thư sinh ấy rất nhanh, gót chân xoay nửa vòng, ngón tay phất ra, Châu Sơn Dân không kịp đề phòng, cổ tay đã bị y phất trúng, lập tức sưng đỏ lên. Lúc này Vân Lối cũng đã đuổi tới, cây Thanh Minh kiếm loáng lên trong không trung, tựa như muốn đâm tới, dưới ánh trăng, chỉ thấy Trương Đan Phong tựa như đầy nước mắt, Vân Lối nghiến chặt răng, đâm soạt ra một kiếm, chỉ nghe Trương Đan Phong kêu lên: “Huynh đã nghe cả rồi, chả lẽ đệ hận huynh đến thế sao?” Thế rồi lách mình né tránh, không trả đòn. Châu Sơn Dân kêu lên: “Đâm vào đại huyệt của y, đừng nương tay”.
Hắc Bảo Xuân lại vung ra ba trái hỏa đạn, Trương Đan Phong ngâm rằng: “Thân này rồi sẽ về với đất, ân thù biết bao giờ mới xong!” Rồi đột nhiên lướt người tiến tới, né tránh một kiếm của Vân Lối, vỗ thẳng một chưởng vào mặt Lam Thiên Thạch, Lam Thiên Thạch vội vàng né qua, Trương Đan Phong nhảy vọt xuống Châu Sơn Dân nói: “Đuổi theo mau!”
Vân Lối bần thần, cũng cùng mọi người đuổi theo.
Trương Đan Phong chúm môi huýt một tiếng sáo, tựa như gọi con Chiếu dạ sư tử mã, chỉ nghe tiếng sáo vang dài đến cả mấy dặm, Triều Âm hòa thượng phóng lên con ngựa trắng, chặn con ngựa trắng của Trương Đan Phong lại, lúc này hai con ngựa tựa như rất quen thuộc nhau, con này vừa cất tiếng hí thì con kia cũng đáp lại. Chiếu dạ sư tử mã không chịu tới. Trương Đan Phong lại huýt một tiếng sáo nữa, con Chiếu dạ sư tử mã vẫn cứ đứng sững ra, Triều Âm hòa thượng vỗ một chưởng vào cổ ngựa, con ngựa bị ông ta quét trúng, bốn vó khụy xuống đất. Trương Đan Phong lòng đau như cắt, mắng rằng: “Tặc hòa thượng, dám hại ngựa tốt của ta!” Thế rồi hai chưởng liên tục quét ra, nhưng bốn người Lam, Hắc, Châu, Vân đều đã vây chàng vào ở giữa, đang lúc gấp gáp, lại không thể rút kiếm, cho nên không thể xông ra ngoài.
Triều Âm hòa thượng nói: “Ngươi không còn ngựa, xem ngươi có chạy đi đằng trời?” nói vừa dứt lời, con ngựa trắng mà ông ta đang ngồi đột nhiên hí dài giận dữ, hai vó trước chổng lên, Triều Âm hòa thượng suýt tý nữa rơi xuống. Con ngựa này đã được Triều Âm hòa thượng kìm chế từ lâu, vốn đã nghe ông ta sai khiến, nhưng lúc này đột nhiên nổi giận, điều đó vượt ngoài dự liệu của Triều Âm hòa thượng.
Triều Âm hòa thượng nào biết, con Chiếu dạ sư tử mã của Trương Đan Phong chính là do con ngựa trắng của ông ta sinh ra. Trương Tôn Châu thương con mình cho nên đã nhường con Chiếu dạ sư tử mã cho chàng, Triều Âm hòa thượng đã đánh bị thương con Chiếu dạ sư tử mã, con ngựa trắng đã nổi điên lên, chổng vó hất Triều Âm hòa thượng xuống, nhưng Triều Âm vẫn không rơi xuống, thế là phóng nhanh về phía trước. Triều Âm hòa thượng tuy võ công cao cường, có thể chế phục con ngựa này, nhưng ông ta không muốn đả thương nó, con ngựa lồng lên chạy, ông ta không kìm lại được, chỉ trong khoảnh khắc con ngựa đã chạy được cả mấy dặm!
Con Chiếu dạ sư tử mã mạnh mẽ lạ thường, sau khi bị đau thì hí dái một tiếng, đột nhiên nhảy lên, phóng tới. Trương Đan Phong cười lớn nói: “Hay lắm, hay lắm!”
Lam Thiên Thạch điểm hai bút tới, Hắc Bảo Xuân vung cây roi cuộn ra, cả ba người đều có ý muốn chặn Trương Đan Phong lại, không để cho chàng phóng lên lưng ngựa. Trương Đan Phong lắc người, xông về phía vị trí của Vân Lối, Vân Lối nghiến răng chém xéo ar một kiếm về phía mặt Trương Đan Phong, nói thì chậm, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, con Chiếu dạ sư tử mã cũng xông tới, Châu Sơn Dân buộc phải lùi xéo để né tránh, Trương Đan Phong nhảy vọt lên lưng ngựa, Hắc Bảo Xuân đột nhiên phóng ra hỏa linh châu, tuy rất nhanh nhưng con ngựa ấy càng nhanh hơn, cả ba trái hỏa linh châu đều rơi ở phía sau nó. Chỉ nghe chàng ta kêu rằng: “Xin thứ không thể phụng bồi, ba ngày sau sẽ gặp lại!” Tiếng cười và tiếng vó ngựa tan trong không trung, trong chớp mắt người và ngựa đều mất dạng.
Vân Lối đứng thẫn thờ, Lam Thiên Thạch, Hắc Bảo Xuân, Châu Sơn Dân đều tiu nghỉu. Một lát sau, Triều Âm hòa thượng mới kìm chế được con ngựa của mình, lúc này ông ta chầm chậm dong ngựa trở về, thấy mọi người như thế thì cười khổ rằng: “Đêm nay chúng ta đều đã thất bại. Nói không chừng ba ngày sau, ta cũng phải ra tay”.
Sáng sớm hôm sau, mọi người cùng kéo nhau đi vê phía tây, Thạch Thúy Phượng vừa giận dỗi vừa đau lòng, nàng chẳng thèm nói lời nào với Vân Lối. Còn Châu Sơn Dân thì cứ mãi suy nghĩ, sau trận đánh đêm qua, chàng biết võ công của Trương Đan Phong hơn hẳn Vân Lối, rõ ràng Trương Đan Phong biết nàng là kẻ thù, nhưng vẫn không nỡ đả thương nàng, đủ thấy hai người đã có tình ý với nhau. Trên suốt quãng đường chàng cứ rầu rĩ không vui, cũng chẳng nói năng gì với Vân Lối. Vân Lối mừng vì lỗ tai được yên, chỉ là nỗi buồn trong lòng cứ tăng theo thời gian.
Ba ngày sau, mọi người đã đến Lộc Hoạt, ngôi làng Tất Đạo Phàm đang ở có núi sông vây quanh, địa thế rất hiểm trở. Triều Âm hòa thượng cỡi ngựa đi trước, báo tên cho gia nhân, chỉ thấy quần hùng đã tụ tập trong nhà họ Tất, tất cả đều lộ vẻ nôn nóng. Triều Âm và Tất Đạo Phàm hơn hai mươi năm không gặp, đương nhiên không nén được vui mừng, sau khi chủ và khách đã ngồi xuống, những anh hùng lục lâm nhận được Lục Lâm tiễn, lại được Trương Đan Phong mời đến đều nôn nóng đến hỏi Châu Sơn Dân, rốt cuộc thư sinh đi ngựa trắng mà họ phải đối phó có lai lịch như thế nào.
Tất Đạo Phàm nói: “Lệnh tôn Kim Đao trại chủ tuy chưa gặp mặt với at, nhưng từ lâu đã biêt1 rõ lòng nhau, người ông ta phải truy bắt chắc chắn là hạng cùng hung cực ác, chỉ cần thế sự bố trí ngày hôm nay của kẻ địch đã đủ thấy lòng dạ nham hiểm vô cùng, Thiếu trại chủ không cần phải nói nhiều, tại hạ cũng động thủ với y”. Rồi ông ta đưa mắt liếc nhìn, thấy chỉ có mỗi mình Thạch Thúy Phượng là nữ tử, Tất Đạo Phàm vuốt râu cười: “Xin thứ tại hạ không biết trong chốn lục lâm lại có một nữ trung hào kiệt”.
Châu Sơn Dân đáp thay rằng: “Cô nương này chính là viên ngọc quý của Oanh Thiên Lôi”.
Thạch Thúy Phượng bước tới thi lễ rồi lớn giọng nói: “Gia phụ có thư hỏi thăm”.
Tất Đạo Phàm cả mừng cười: “Nếu Oanh Thiên Lôi có chuyện gì căn dặn, ta dầu sôi lửa bỏng cũng không từ, ta đã đợi bức thư này hơn mười năm nay!” Thế rồi xé thư ra xem, sắc mặt đột nhiên thay đổi.
Vân Lối đang rất hồi hộp trong lòng, không biết trong thư nói gì, chỉ thấy Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm xem đi xem lại rồi chậm rãi gấp thư cất vào trong áo. Châu Sơn Dân đang định lên tiếng nói lai lịch của thư sinh ấy, Tất Đạo Phàm đã liếc mắt, chậm rãi nói: “Thiếu trại chủ không cần phải nói, ta đã có tính toán”.
Rồi ông ta đưa mắt liếc nhìn Vân Lối, Châu Sơn Dân nói: “Vị anh hùng này là sư điệt của Triều Âm đại sư, cũng chính là nữ tế của Thạch lão anh hùng”.
Tất Đạo Phàm nói: “Nữ tế của Oanh Thiên Lôi đã đến, đáng tiếc lại không có ông ta! vụ án này e rằng không thể nào giải quyết cho dứt khoái được”. Thế rồi ông ta ngẩng đầu nhìn lên trời, quần hùng đang ngồi đều nín thở ngưng thần, chỉ nghe ông ta cười khan một tiếng rồi vẫy tay về phía Vân Lối, Thạch Thúy Phượng nói: “Theo ta đến đây!” Rồi chậm rãi nói: “Nếu Bạch Mã thư sinh ấy có đến đây Triều Âm sư huynh hãy thay tôi ứng phó” Tuy ông ta đã hoàn tục, nhưng vẫn xưng hô với Triều Âm hòa thượng như ngày xưa.
Vân Lối, Thạch Thúy Phượng theo ông ta ra hành lang, lên một tòa tiểu lâu, trên tiểu lâu có treo một bức họa, trên bức họa vẽ cảnh sông núi nước non giống hệt như bức tranh trong phòng của Thạch Anh, chỉ là nhỏ hơn nhiều mà thôi. Chưa kịp ngồi yên thì có một đứa trẻ chạy vào, chỉ bức tranh nói: “Cho con bức tranh này!”
Đứa trẻ khoảng bảy tám tuổi, trông rất dễ thương. Tất Đạo Phàm vuốt râu, lấy bức tranh xuống, trao cho đứa trẻ rồi bảo: “Cầm đi! Hôm nay có thể thấy tranh thật, ta không cần đến nó nữa”. Đứa trẻ cầm bức tranh nhảy chân sáo ra ngoài, chắc là nó đã xin cha mình nhiều lần, nhưng hôm nay mới được.
Tất Đạo Phàm chờ cho đứa trẻ đi xuống, mới mỉm cười: “Thạch cô nương, năm ấy khi ta đến nhà cô nương, cô nương cũng còn bé như nó. Cô nương có nhớ không?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Cha tôi phải nằm liệt giường hai tháng, chuyện này tôi làm sao quên?”
Tất Đạo Phàm thở dài, nói: “Ngày đó ta rất hung dữ, cho đến hôm nay cô nương vẫn còn giận ta ư? Cha cô nương có nói cho cô nương biết hay không?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Cha tôi thì không căm giận ông. Nếu hôm nay ông ra tay giúp báo thù, tôi cũng phải đáp tạ ông”.
Tất Đạo Phàm ngạc nhiên nói: “Báo thù, báo thù gì?”
Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên nói: “Chẳng phải cha tôi đã nói rõ trong bức thư rồi ư? Bạch Mã thư sinh ấy là kẻ thù của Vân tướng công?”
Tất Đạo Phàm trợn mắt nhìn nàng, hỏi: “Cái gì?”
Sắc mặt Vân Lối trắng bệt, nàng nói: “Thạch cô nương nói không sai. Chỉ là chuyện báo thù, tôi không muốn nhờ vả người khác!”
Tất Đạo Phàm nói: “Chí khí lớn lắm! Ta không ngờ trong đó lại có nhiều chuyện như thế này, thật khiến cho ta khó xử”.
Thạch Thúy Phượng nói: “Cái gì? Không ngờ ư? Thế cha tôi đã nói gì trong thư?”
Tất Đạo Phàm mỉm cười, quay mặt về phía Thạch Thúy Phượng, trầm giọng nói: “Hôm nay tôi hẹn cô nương đến đây là muốn kể cho cô nương nghe một câu chuyện, câu chuyện này cả cha cô nương cũng không hề biết. Đã từ lâu, có một nhà sư già tinh thông võ công, hiểu rõ việc đời. Lúc đó Trung Hoa bị dị tộc chiếm lấn, thiên hạ hỗn loạn, có hai anh em kết nghĩa, người anh buôn muối lậu, người em là một kẻ ăn mày. Hai người có chí lớn, đều muốn dấy binh đuổi người Hồ. Nhà sư già ấy đi trước họ một bước, đã dựng lá cờ nghĩa ở Hoài Tâỵ...”.
Vân Lối chợt chen vào: “Nhà sư già có hai học trò, một kẻ là người anh buôn muối lậu, và một kẻ là người em ăn mày”.
Tất Đạo Phàm mỉm cười nói: “Vẫn chưa đủ, nhà sư ấy không phải có hai học trò mà có đến ba học trò. Công tử đã nghe câu chuyện không đầy đủ này ở đâu?”
Vân Lối nói: “Thật không dám giấu, đó chính là kẻ hôm nay chúng ta phải đối phó. Y vốn bảo rằng sẽ kể ba câu chuyện, đoạn đầu của câu chuyện đầu tiên chẳng khác gì những lời ông mới nói, câu chuyện thì tôi đã biết, nhưng câu chuyện thứ ba thì vẫn chưa nghe y kể”.
Thạch Thúy Phượng rất ngạc nhiên, thấy Tất Đạo Phàm chăm chú lắng nghe, mặt không đổi sắc, tựa như đã đoán được điều này. Chỉ nghe Tất Đạo Phàm tiếp lời: “Đúng thế. Y biết nhiều hơn ta, những điều ta nói hôm nay có lẽ cũng chỉ là một nửa của câu chuyện thứ ba”.
Thạch Thúy Phượng sắc mặt nặng nề, liếc mắt nhìn Vân Lối, tựa như đang oán trách “chàng” vẫn giấu mình.
Tất Đạo Phàm nói: “Nếu chuyện này y đã kể, ta cũng không cần giấu họ tên nữa. Kẻ buôn muối lậu là Trương Sĩ Thành, kẻ ăn mày là Chu Nguyên Chương, còn nàh sư già ấy chính là Bành Oánh Ngọc. Bành Oánh Ngọc còn có một học trò tên là Tất Lăng Hư, người này thông hiểu binh thư, túc trí đa mưu, đã từng theo Bành Oánh Ngọc đi khắp thiên hạ, cải trang thành các hạng người, cũng đã từng là hòa thượng và kẻ ăn mày. Trước khi Chu Nguyên Chương tham gia quân khăn đỏ, đã từng làm một tiểu đầu lĩnh trong nghĩa quân của sư phụ y. Chuyện này chắc người ấy đã kể cho công tử biết. Lúc đó quân Nguyên vẫn còn hùng mạnh, trong số anh hùng nổi dậy, binh lực Bành Oánh Ngọc không lớn, đã bị quân Nguyên đánh bại vài lần, tình thế rất nguy hiểm. Chu Nguyên Chương có dã tâm rất lớn, trong một lần binh bại thế nguy, y đã bán đứng sư phụ của mình cho quân Nguyên rồi giả vờ than khóc, thu xếp tán cuộc, dắt bộ thuộc của sư phụ gia nhập vào quân Hồng Cân, toan lợi dụng quân Hồng Cân tranh đoạt thiên hạ. Chu Nguyên Chương tưởng rằng sư phụ đã chết, thật sự ông ta không chết, trên đường quân Nguyên giải ông ta lên Bắc Kinh, Tất Lăng Hư đã ngàn dặm đuổi theo, sắp xếp mưu kế, cuối cùng đã cứu thoát ông ta, trong đó có nhiều chuyện rất phức tạp, ta cũng không cần phải nói kỹ.
Lúc này Trung Nguyên đã rất hỗn loạn, hai thầy trò Bành Oánh Ngọc không về được Giang Nam, cho nên đã tụ tập nghĩa binh, mưu đồ nổi dậy một lần nữa. Nhưng miền bắc là căn cứ địa của quân Nguyên, hai người Bành Tất đang mưu đồ khởi nghĩa, bị quân Nguyên tấn công, trong một trận chiến, Bành Oánh Ngọc đã bị trọng thương, trước khi chết còn nói với Tất Lăng Hư rằng: “Đời người ai cũng chết, nay ta đã chết trên sa trường, còn tốt hơn chết trên giường bệnh. Nay có một chuyện vẫn chưa xong, con hãy làm thay cho ta. Cứ theo đà này, người Hán chắc chắn sẽ đuổi được người Hồ. Theo ta thấy, người có thể làm được điều đó chắc chắn là hai sư huynh của con, nếu không Chu thì là Trương. Chu Nguyên Chương hùng tài đại lược, nhưng lại là kẻ khắc nghiệt vô ơn, không phải ta hận hắn đã bán đứng ta, ta thật sự không muốn hắn làm Hoàng đế, bởi vì như thế trăm họ sẽ rơi vào khổ cực. Ta từ nhỏ đã phiêu bạt giang hồ, đi khắp trong thiên hạ, biết rõ địa thế ở các nơi, cho nên đã vẽ lại một bức bản đồ, ai có được bức bản đồ này sẽ làm nên nghiệp bá. Con hãy trao bức bản đồ này cho Trương Sĩ Thành. Sau khi Bành Oánh Ngọc qua đời, Tất Lăng Hư đã mạo hiểm cầm bản đồ xuống miền Nam. Đáng tiếc ông ta đã quá muộn, khi đến được Giang Nam thì cuộc tranh hùng giữa Chu và Trương đã thay đổi, Trương Sĩ Thành bị vây ở Tô Châu, đã sắp đến ngày bị tiêu diệt. Ông ta không muốn bị vây mà chết, cho nên mới đánh liều một phen, hẹn Chu Nguyên Chương đánh một trận cuối cùng ở Trường Giang.
Tất Lăng Hư khuyên ông ta bảo toàn thực lực, mở đường máu bỏ chạy, Trương Sĩ Thành cười lớn rằng: “Ta làm sao có thể thất tín với thằng ăn mày ấy”. Thế rồi ngay đêm ấy gọi một họa sư, vẽ lại bức tranh phong cảnh của Tô Châu. Trương Sĩ Thành rất thích đánh cờ vây, đêm ấy vẫn ngồi uống rượu đánh cờ với Tất Lăng Hư, đến khi trời sáng thì tên họa sư cũng vẽ xong, bức tranh ấy rất kỹ càng, núi non thành quách đều nằm trong bức bản tranh. Trương Sĩ Thành giấu châu báu vào bức bản đồ của Bành Oánh Ngọc ở một chỗ vắng vẻ, rồi đánh giấu lên bức tranh, sai một người thân tín đem bức tranh cùng con trai của ông ta bỏ trốn ngay trong đêm ấy. Tất Lăng Hư rất cảm động, không muốn bỏ đi trong lúc nguy nan, trong trận chiến ở Trường Giang, ông ta đã chết trước cả Trương Sĩ Thành. Ông ta còn có một đứa con nhỏ đã bỏ chạy theo loạn quân, may mà còn giữ được tính mạng”.
Thạch Thúy Phượng nghe thế thì giật mình, hỏi: “Bức tranh đó ở đâu?” Nói chưa xong, chợt thấy một cây hỏa tiễn màu lam phóng lên trên trời, có người kêu: “Bạch Mã thư sinh đã đến!”
Tất Đạo Phàm chậm rãi đứng dậy, mỉm cười: “Bức họa ấy nằm ở trong nhà của Thạch cô nương, giờ đây có lẽ đã nằm trong tay của Bạch Mã thư sinh!”
Thạch Thúy Phượng mở to mắt, chỉ nghe Tất Đạo Phàm lại mỉm cười nói: “Thư của cha cô nương nói rằng ta phải gặp Bạch Mã thư sinh này, không phải có chuyện cần giúp, càng không phải nhờ ta báo thù. Tất cả mọi chuyện đều do ta xử trí. Nhưng hiện giờ ta vẫn còn nhiều chuyện chưa hiểu, đáng tiếc cha cô nương lại không chịu đến gặp ta. Chuyện hôm nay thật khiến cho ta khó xử!”
Vân Lối đứng ngẩn người ra, chỉ nghe tiếng cười của Trương Đan Phong từ xa đã đến gần. Tất Đạo Phàm nói: “Không biết Bạch Mã thư sinh ấy là người thế nào, ta phải đi gặp y!” Thế rồi tay trái dắt Vân Lối, tay phải dắt Thúy Phượng chậm rãi bước xuống lầu.
Vân Lối lòng lo như lửa đốt, vừa mới ra bên ngoài thì thấy Triều Âm hòa thượng đang đánh nhau với Trương Đan Phong.
Công phu ngoại gia của Triều Âm hòa thượng đã lên đến mức đăng phong tạo cực, đã sớm đồn khắp giang hồ, quần hào đứng vây quanh nhìn hai người, cây thiền trượng to như miệng bát của Triều Âm hòa thượng kêu lên vù vù, còn thư sinh ấy thì người nhẹ nhàng phiêu hốt, kiếm thế như cầu vồng, kiếm trượng giao nhau trong nhất thời vẫn chưa biết ai thắng ai thua.
Hai người đánh được nửa canh giờ, Triều Âm hòa thượng quát lớn một tiếng, vung tròn cây thiền trượng quét mạnh ra như giao long xuất động, dời núi lấp biển, Trương Đan Phong thu kiếm thế lại, đạp vào phương vị ngũ hành bát quái từng bước thối lui. Tất Đạo Phàm mỉm cười: “Phục Ma trượng pháp của Triều Âm sư huynh đã tiến bộ. Kiếm pháp của Bạch Mã thư sinh thì ta chưa từng thấy qua”. Đang nói thì hai người đã đấu được thêm hơn mười chiêu nữa, Triều Âm hòa thượng từng bước thối lui, chợt nghe keng một tiếng, tia lửa bắn ra tung tóe, cây thiền trượng của Triều Âm hòa thượng đã bị mẻ mất một miếng, quần hào lục lâm đều kinh hoảng.
Triều Âm hòa thượng đột nhiên phóng vọt tới, vung cây thiền trượng đâm ra, đây là một chiêu sát thủ trong Phục Ma trượng pháp, lại thêm công lực mấy mươi năm của Triều Âm hòa thượng, ông ta đột nhiên tung đòn ar tựa như đâm tựa như quét, trong khoảnh khắc trượng ảnh đã chặn kín xung quanh Trương Đan Phong, Vân Lối kinh hãi kêu lên, chợt nghe Triều Âm hòa thượng cười lớn, còn thanh kiếm của Trương Đan Phong thì đã bay lên không trung.
Quần hào lục lâm đều reo lên như sấm dậy, chợt thấy Triều Âm hòa thượng thu thiền trượng, nhảy vọt ra khỏi vòng chiến, Trương Đan Phong nhảy lướt lên chụp lấy thanh kiếm. Triều Âm hòa thượng nói: “Sư phụ của ngươi tuy đáng ghét, nhưng ngươi là hạng tiểu bối trong bổn môn, ta không muốn lấy lớn hiếp nhỏ, ngươi hãy cứ đi đi!”
Quần hào lục lâm đều ngạc nhiên xôn xao bàn tán. Tất Đạo Phàm mỉm cười nói: “Sự việc càng lúc càng lạ, Bạch Mã thư sinh làm sao có thể lại trở thành đồng môn với Triều Âm sư huynh? Thiền trượng bị chặt, bảo kiếm đã rơi, thú vị! Thú vị”.
Trương Đan Phong nắm chui kiếm, thần thái vẫn tự nhiên, lớn giọng nói: “Vãn bối Trương Đan Phong đến đây theo lời hẹn, kính mong Tất lão anh hùng ra gặp mặt”.
Hắc trang chủ và Độc Hành Đại Đạo Quảng Trung là hai kẻ nóng nảy nhất, Trương Đan Phong chưa lên tiếng, cả hai đã nhảy vọt ra, một người sử dụng roi dài, một người sử dụng thiết bài, roi dài cuốn tới, thiết bài vỗ xuống, hai món binh khí đánh tới như mưa. Trương Đan Phong giơ kiếm ngang trước ngực, người xoay chuyển nhẹ nhàng, không ra đòn phản công, hai người Hắn Quảng đang định đổi chiêu thì chợt thấy Trương Đan Phong lách người, đã thoát ra khỏi kẽ hở của hai món binh khí. Chỉ nghe Tất Đạo Phàm kêu: “Xin hãy ngừng tay, Trương công tử hãy theo tôi!”, giọng nói như chuông đồng trấn động cả toàn trường. Quần hào đều nghĩ bụng: “Chắc chắn Chấn Tam Giới sẽ đích thân tỉ thí với y!”
Chỉ thấy Tất Đạo Phàm chậm rãi tiến về phía trước, dắt Trương Đan Phong ra hoa viên ở phía sau, vào một cái đình nhỏ, trên bàn đá có một bàn cờ vây, quân cờ trong bàn thưa thớt, chắc là vẫn chưa đánh xong.
Tất Đạo Phàm gọi người nhà rót hai bình rượu mang ra rồi bảo: “Danh tướng thích chơi cờ, cao nhân thích ngắm trăng, xưa nay đều như thế cả, công tử có thích chơi một bàn không? Đáng tiếc lão hủ ở đây không có tranh để ngắm!”
Trương Đan Phong mỉm cười, vái dài rồi nói: “Vãn sinh bất tài, nghe tiếng đàn ca thì hiểu nhã ý. Vãn sinh có mang theo một bức tranh, tuy không phải là thủ bút của danh gia, nhưng cũng rất đáng xem”. Thế rồi lấy ra một bức tranh treo lên trong đình, Tất Đạo Phàm liếc nhìn, đột nhiên thở dài, hạ giọng nói: “Giang sơn yên bình ta lại đến. Năm xưa khi vẽ bức tranh này chắc là có người cũng uống rượu đánh cờ, Trương công tử, công tử kỳ nghệ cao cường, xin mời hay chọn quân trắng”.
Hành động của hai người khiến cho quần hào đều bất ngờ. Truyền Lục Lâm tiễn là chuyện rất hệ trọng, thế mà họ lại ngồi ở đây ngắm trăng đánh cờ. Triều Âm hòa thượng cũng ngạc nhiên nói: “Tên sư điệt này mình chưa hề gặp qua, sao Chấn Tam Giới lại biết y kỳ nghệ cao cường?”
Vân Lối đứng một bên, đột nhiên quay đầu nói: “Y đương nhiên biết đánh cờ, có phải bức tranh này là phong cảnh Tô Châu không?”
Triều Âm hòa thượng ngạc nhiên hỏi: “Con chưa từng đến Tô Châu, sao lại biết?”
Thạch Thúy Phượng cũng lạnh lùng nói: “Y đương nhiên biết”.
Hai người vừa uống rượu vừa đánh cờ, quần hào đứng từ xa đều nôn nóng. Tất Đạo Phàm cầm quân đen hạ xuống trước, giở tay bày ra cuộc thế “Yến song phi”, Trương Đan Phong đi quân cờ đầu tiên lại đặt vào giữa bàn cờ, chiếm vị trí thiên nguyên. Thuật ngữ cờ vây có nói: “Kim biên ngân giáp thạch đổ tử”, có nghĩa là khuyên người ta nên giữ ở vị trí gốc, còn đặt ở giữa bàn cờ thì rất dễ bị người ta chiếm lấy. Trận thế “Yến song phi” mà Tất Đạo Phàm bày ra, là chiến lược giữ gốc. Không ngờ Trương Đan Phong không muốn giành các vị trí gốc với ông ta mà đã chiếm ở giữa. Tất Đạo Phàm khen rằng: “Hào khí của công tử quả thực hơn người trước, có thật là không muốn tranh đất với tại hạ không?” Thế rồi suy nghĩ một lúc lâu, cuối cùng hạ xuống một quân cờ, còn Trương Đan Phong thì hạ xuống ngay chẳng hề suy nghĩ, nửa canh giờ sau, quân cờ trong bản vẫn thưa thớt, Tất Đạo Phàm chảy mồ hôi ròng ròng, đột nhiên đứng dậy, gạt quân cờ trong bàn, buồn bã nói: “Ván cờ này tôi không thể tranh với công tử được nữa!”
Trương Đan Phong mỉm cười đứng dậy, nói: “Đã nhường!” rồi cuốn bức tranh lại. Quần hào đều xôn xao, Tất Đạo Phàm liếc mắt, đột nhiên nói: “Trương công tử, không phải lão hủ không biết tiến thoái, công tử đã hẹn nhiều bằng hữu đến đây, lão hủ cũng muốn thỉnh giáo vài chiêu kiếm pháp của công tử theo lệ!”
Trương Đan Phong không ngờ Tất Đạo Phàm lại nói như thế, nhưng chàng vẫn thản nhiên, nói: “Đã như thế, mong lão tiền bối hãy nương tay”.
Tất Đạo Phàm lấy một cây gậy gỗ ở góc tường ra, cười rằng: “Cây gậy ăn mày này vẫn còn sử dụng được!”
Cây gậy của Tất Đạo Phàm được làm từ gỗ giáng long, cứng rắn như sắt đá. Trương Đan Phong vẫn đứng yên thủ thế, Tất Đạo Phàm biết chàng không chịu ra tay trước, chỉ múa gậy về phía chàng nói: “Hãy để ý tiếp chiêu”, rồi giở gậy lên quét tới, Trương Đan Phong nói một chữ hây, đột nhiên lắc người phóng lên, cây gậy giáng long lướt qua dưới chân chàng, chàng chưa hạ xuống thì kiếm quang đã nổi lên, một chiêu Bạch Hồng Quán Nhật đâm vào huyệt Hoa Cái của Tất Đạo Phàm, Tất Đạo Phàm cũng kêu lên một tiếng hây!”
Cây gậy giáng long trầm xuống phía dưới, một chiêu Bình Sa Lạc Nhạn quét xéo vào mạch môn, Trương Đan Phong đột nhiên đánh ra một kiếm Nhật Nguyệt Kinh Thiên, kiếm quang như cầu vồng quét ngang ra, thế công của Tất Đạo Phàm hoàn toàn bị phá giải. Tất Đạo Phàm khen rằng: “Kiếm pháp của Trương huynh quả nhiên siêu phàm!”
Đột nhiên cây gậy giáng long kéo ngược về nhanh như điện chớp, xem ra Trương Đan Phong không thể né được nữa, chàng đột nhiên lật ngược thân kiếm lại, thân pháp cũng nhanh như kiếm chiêu, phối hợp rất kín kẽ, lướt xéo qua cây gậy gỗ, chàng hất kiếm lên, tia lửa bắn ra tung tóe. Tất Đạo Phàm tựa như kinh hoảng, khi rút gậy lại nhìn thì nhát kiếm của Trương Đan Phong đã quét qua cổ ông ta, Tất Đạo Phàm lách người né tránh, xoay qua một bên, quần hào đều thầm kinh hoảng trong lòng. Triều Âm hòa thượng lại ngạc nhiên, mũi kiếm ấy chỉ cần hơi nghiêng qua, thì có thể đâm trúng, chả lẽ Trương Đan Phong không thể khống chế được kình lực của mình?
Tất Đạo Phàm biết chàng có ý nhường nhịn, khi nhìn lại cây gậy giáng long thấy không mẻ miếng nào thì mới cười ha hả nói: “Bảo kiếm của công tử và gậy của tôi đều không hề bị tổn thương, không cần lo lắng”.
Thế là vung cây gậy đánh tới, Trương Đan Phong chú ý ứng phó, chỉ cảm thấy gậy của ông ta có một luồng kình lực vô hình, tựa như gió trời mưa biển dồn tới. Thì ra luận về thân pháp, ông ta có phần hơn Trương Đan Phong, nếu luận về nội lực, Trương Đan Phong lại cao cường hơn Tất Đạo Phàm nhiều. Đánh được ba mươi mấy chiêu, Trương Đan Phong đánh ra một chiêu Long Môn Cổ Lãng, kiếm thế dồn tới, khi thấy mũi kiếm sắp chạm vào cây gậy giáng long, chợt bị Tất Đạo Phàm kéo gậy qua một bên, chợt khom người tựa như muốn ngã xuống. Chỉ nghe vù một tiếng, cây gậy của Tất Đạo Phàm đã quét qua sống lưng chàng, Trương Đan Phong xoay người nhảy vọt qua một bên, quần hào đều kêu thầm trong lòng: “Thật đáng tiếc!”
Triều Âm lại rất ngạc nhiên, cây gậy ấy chỉ cần hạ xuống một chút thì có thể đánh gãy xương sống lưng của Trương Đan Phong, chả lẽ Tất Đạo Phàm cũng không thể tự khống chế kình lực của mình?
Trương Đan Phong biết Tất Đạo Phàm đã nhường một chiêu, chàng định tìm cách hỏi Tất Đạo Phàm tại sao làm thế. Chợt nghe Tất Đạo Phàm cười ha hả, cầm côn xông tới.
Đó chính là:
Tỉ thí mới biết mối hận cũ, tựa như ván cờ tàn.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 10
Nhất cục kỳ tàn anh hùng kinh phách khí
Thâm tiêu mộng đoạn ngọc nữ động phương tâm
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:36 pm

Hồi 10
Nhất cục kỳ tàn anh hùng kinh phách khí
Thâm tiêu mộng đoạn ngọc nữ động phương tâm

Trương Đan Phong giơ ngang kiếm trước ngực, chỉ nghe Tất Đạo Phàm cười ha hả nói: “Kiếm pháp của công tử cao cường, lão hủ có thể yên tâm!” Rồi đột nhiên vươn cây trượng chạm vào thân kiếm, Trương Đan Phong chỉ cảm thấy bị một nguồn lực kéo ra ngoài, thanh kiếm thuận thế mở ra, kiếm và gậy giao nhau dựng đứng trong không trung tạo thành một hình chữ nhân, đó là dấu hiệu cho thấy chuyển địch thành bạn trong võ lâm, quần hào đều rất ngạc nhiên. Tất Đạo Phàm đưa mắt nhìn quanh, lớn giọng nói: “Trương công tử là thế giao của tôi, chuyện này rất hệ trọng, mong hãy nể mặt tôi mà bỏ qua!”
Rồi cười ha hả ném gậy xuống đất, dắt tay Trương Đan Phong bước ra khỏi cửa.
Châu Sơn Dân trợn tròn mắt, quần hào lục lâm cũng đều biến sắc, chỉ thấy Tất Đạo Phàm dắt tay Trương Đan Phong, không hề để ý đến thần sắc của mọi người, đó là cách hộ tống trịnh trọng nhất trong giang hồ, người xung quanh tuy bất mãn nhưng đều nể mặt Tất Đạo Phàm, lúc này không ai dám lên tiếng.
Bên ngoài thớt ngựa trắng hí lên như reo vui, Trương Đan Phong cầm thanh kiếm, cúi người nói: “Đa tạ lão bá”. Rồi chàng phóng lên lưng ngựa, cao giọng ngâm rằng: “Sóng yên gió lặng ta sẽ quay lại, những mong giang sơn có bậc kỳ tài, chờ ngày nào sóng yên gió lặng, sẽ cùng người ngồi nhắp chén rượu vui”. Rồi chàng đưa mắt nhìn Vân Lối, sau đó lập tức nhảy lên lưng ngựa, lời thơ vẫn còn văng vẳng thì ngựa đã phóng ra xa đến mấy dặm.
Tất Đạo Phàm đứng ngẩn ra nhìn theo, đột nhiên giơ ngón tay cái, lớn giọng khen rằng: “Khí khái lớn lắm, quả nhiên hơn hẳn người trước, không uổng cho Thạch Anh đã giữ cho y mấy mươi năm”.
Lam trại chủ Lam Thiên Thạch bước ra hỏi: “Thiếu niên cỡi ngựa trắng ấy là ai? Oanh Thiên Lôi và Kim Đao trại chủ cùng phát ra Lục Lâm tiễn, chả lẽ vô ích?”
Tất Đạo Phàm đưa mắt nhìn Thạch Thúy Phượng, mỉm cười nói rằng: “Thạch cô nương, lúc này cô đã hiểu rồi chứ? Sư tổ của tôi là Bành hòa thượng có ba học trò, học trò thứ hai Chu Nguyên Chương là Hoàng đế khai quốc của triều Minh, học trò đầu tiên Trương Sĩ Thành chết ở Trường Giang, thiếu niên cỡi ngựa trắng ấy chính là con cháu của ông ta, kẻ kém cỏi nhất trong ba anh em là cha của tôi, con cháu chẳng khác gì ông cha”.
Quần hào chưa nghe câu chuyện của Tất Đạo Phàm đều xôn xao hỏi: “Cái gì? Cái gì?”
“Thiếu niên ấy là hậu nhân của Trương Sĩ Thành?”
“Oanh Thiên Lôi Thạch Anh có quan hệ gì với y?”
Thạch Thúy Phượng thở dài nói: “Ồ, tôi đã hiểu, có lẽ tổ tiên tôi chính là người năm xưa đã giữ bức họa cho Trương Sĩ Thành. Nhưng ỵ... y là kẻ thù của Vân tướng công!”
Tất Đạo Phàm nhíu mày nói: “Cho nên ta mới bảo có nhiều chuyện vẫn chưa rõ, chuyện này chỉ là một. Thư của cha cô nương không nhắc đến chuyện này. Vân công tử, sao công tử lại có thù với y?”
Vân Lối sắc mặt trắng bệt, nước mắt rưng rưng, một lúc sau vẫn không nói ra lời, quần hào bàn tán xôn xao. Tất Đạo Phàm nói: “Mời vào trong nhà rồi nói tiếp”.
Khi ngồi vào khách sảnh, Tất Đạo Phàm kể lại câu chuyện đã nói, rồi thở dài rằng: “Năm xưa ba anh em cùng dựng cờ khởi nghĩa, sau đó chỉ có một người độc chiếm thiên hạ, nói thực tôi cũng không phục trong bụng. Gia quy của nhà tôi quy định mỗi người đàn ông đều phải làm hòa thượng mười năm, ăn mày mười năm, thứ nhất là vì muốn nhớ đến tiền nhân, hai là vì muốn tìm bức họa có liên quan đến vận nước ấy, sau đó lại tranh hùng với con cháu của Chu Nguyên Chương. Nhưng hôm nay tôi không cần phải nhọc lòng nữa, con trai của tôi cũng không cần làm hòa thượng hay ăn mày nữa!”
Lam trại chủ hỏi: “Tất lão anh hùng nói thế là có ý gì?”
Tất Đạo Phàm cười buồn bạ nói: “Trước đây Cầu Nhiêm Khách có ý đoạt thiên hạ, đánh một ván cờ với Lý Thế Dân, chưa xong ván cờ thì đã xóa bàn, bảo rằng không thể tranh thiên hạ nữa. Tôi tuy không có bá khí của Cầu Nhiêm Khách, nhưng trước đây cũng không tự lượng sức mình, muốn rằng sau khi kiếm được bức họa ấy thì sẽ tranh hùng với họ Chu. Nhưng hôm nay cũng tình nguyện thua cho Trương Đan Phong, bức họa đã thuộc về chủ nhân thực sự của nó. Các người đã nghe bài thơ Trương Đan Phong ngâm trước lúc ra đi, không hỏi cũng biết, y chắc chắn sẽ đi tìm bảo tàng của tổ tiên y, sau đó lại dựng cờ nghĩa, cùng tranh đoạt giang sơn với họ Chu!” Châu Sơn Dân không thể nén được nữa, chàng đứng dậy lạnh lùng nói: “Chỉ e y sẽ trao giang sơn cho người ngoài!”
Tất Đạo Phàm trợn mắt hỏi: “Sao Thiếu trại chủ nói thế?”
Châu Sơn Dân nói: “Hình như Tất lão tiền bối vẫn chưa biết, cha của Trương Đan Phong là Trương Tôn Châu, đang làm Hữu thừa tướng tại nước Ngõa Thích, người Ngõa Thích sắp tấn công chúng ta, y một mình vào Trung Nguyên, không phải là gian tế thì là cái gì? E rằng còn nguy hiểm hơn cả gian tế. Thử hỏi nếu y biết được những chỗ hiểm yếu trong nước, Trung Quốc làm sao chống cự?”
Tất Đạo Phàm biến sắc nói: “Lời của Thiếu trại chủ có thật không?”
Châu Sơn Dân nói: “Không hề giả chút nào! Cha con chúng tôi dựng Nhật Nguyệt song kỳ chống Hán đánh Hồ, thiên hạ đều biết. Chuyện lớn như thế này làm sao có thể nói dối? Mối huyết hải thâm thù của Vân công tử cũng do tên gian tặc Trương Tôn Châu này mà ra! Lối đệ, đệ hãy cho anh hùng trong thiên hạ biết”.
Vân Lối đang đau xót trong lòng, bị Châu Sơn Dân ép buộc, thế là khóc òa lên, nói chẳng ra lời. Châu Sơn Dân vội vàng nói: “Lối đệ đừng đau lòng. Tất lão tiền bối cùng các vị anh hùng ở đây sẽ làm chủ cho đệ, ta sẽ nói hộ đệ”. Rồi kể chuyện Vân Tĩnh chăn ngựa ở đất Hồ, trên đường về thì bị hại cho mọi người nghe. Tất Đạo Phàm ngồi dựa người trên ghế, một lát sau mới nói: “Chả trách nhiều đời nhà tôi đã tìm con cháu Trương Sĩ Thành, nhưng không hề có chút manh mối, té ra là bọn họ đã ra khỏi Nhạn Môn quan”. Đột nhiên ông ta đứng dậy, nói với vẻ phẫn nộ: “Trương Sĩ Thành có hạng con cháu bất hiếu như thế? Nhưng Trương Đan Phong đầy khí khái như thế, ỵ... y làm sao có thể là một tên gian tặc?”
Châu Sơn Dân nói: “Có câu cha nào thì con nấy, làm sao có thể đánh giá người khác từ bề ngoài?”
Sắc mặt Tất Đạo Phàm đỏ ửng, đôi mắt nảy lửa, lớn giọng nói: “Nói như thế, chả lẽ ta đã sai?”
Châu Sơn Dân im bặt, Triều Âm hòa thượng tiếp lời: “Tất huynh, tôi bảo ông đã sai, Trương Tôn Châu quả thực là một đại gian tặc, tôi đã vào Ngõa Thích, cũng đã từng bị y hại!”
Tất Đạo Phàm bị ông ta nói thẳng như thế, nhất thời tựa như trái bóng bị xì hơi, cúi đầu lẩm bẩm: “Ta đã sai? Ta thật sự đã sai?”
Châu Sơn Dân thấy ông ta đã chịu lép, thế là mạnh dạn nói tiếp: “Tất lão tiền bối, lần này e rằng ông đã sai, bị tên gian tặc ấy lợi dụng, chắc là Trương Đan Phong đã hẹn anh hùng lục lâm đến nhà ông, lợi dụng ông giải mối thù cho y, khiến cho anh hùng lục lâm sau này không làm khó y nữa”.
Tất Đạo Phàm hừ một tiếng rồi nói: “Nếu y thật sự là gian tặc, ta sẽ chính tay giết chết y”. Ánh mắt sáng quắc, nhưng trên mặt vẫn đầy vẻ nghi hoặc, Châu Sơn Dân nghe ông ta nói như thế, tựa như vẫn chưa tin lắm, đang định lên tiếng thì chợt Tất Đạo Phàm bước ra ngoài, lớn giọng nói: “Người đâu!” Rồi căn dặn một tên gia nhân: “Ngươi hãy đi xem thử, người ta phái đi đã trở về hay chưa?”
Thế rồi xoay người bước vào trong khách sảnh, chợt nói: “Nói như thế, e rằng sẽ có một trận đại họa giáng xuống!”
Anh hùng lục lâm đều tranh nhau hỏi: “Họa gì?”
“Có bọn chúng tôi ở đây, cần gì phải lo?”
Tất Đạo Phàm nói: “Mọi người biết đó thôi, nhà tôi là kẻ thù của Thiên tử triều Minh, khi Chu Nguyên Chương còn sống đã từng hạ mật lệnh, giết hết hậu nhân của nhà họ Trương và nhà họ Tất. Các đời nhà tôi phải đi tu và làm ăn mày, ngoại trừ hai nguyên nhân đã nói trên, còn có một nguyên nhân nữa là tránh nạn. Nhờ có tổ tiên phù hộ, bao nhiêu năm qua đều không bị triều đình phát hiện. Có lẽ vì tôi đi lại trên giang hồ, đã gây thù chuốc oán khắp nơi, mấy năm trước cũng phát hiện bọn ưng khuyển để ý đến tôi, vì thế tôi đã tránh đến một nơi hoang vắng mai danh ẩn tích. Không ngờ mười mấy ngày trước, trong làng phát hiện có người lạ đến, nghe người trong làng nói: “Người lạ này đã hỏi đến lai lịch của tôi, những kẻ ấy chắc chắn là bọn ưng khuyển của triều đình. Quả thật không dám giấu, mấy ngày trước tôi đã định dời nhà, nhưng Trương Đan Phong đã bảo hôm nay sẽ gặp các vị ở nhà tôi, cho nên tôi đã tạm gác chuyện này lại. Nếu để Hoàng đế họ Chu ở kinh sư biết quần hùng tụ tập ở nhà tôi, chắc chắn sẽ sai cao thủ đến bao vây, há chẳng phải đã bị y bắt trọn một mẻ lưới hay sao?”
Nghe xong những câu này, quần hào lục lâm càng lo hơn, Hỏa Thần Đạn Hắc Bảo Xuân nói: “Sự việc có trùng hợp như thế không? Tôi cho rằng tên tiểu tặc ấy đã bày kế hại chúng ta!”
Tất Đạo Phàm trầm ngâm không nói, Lam trại chủ cũng bảo: “Chuyện này thật khiến cho người ta nghi ngờ!”
Tất Đạo Phàm nói: “Con cháu của Trương Sĩ Thành sao lại đứng về phía triều đình?”
Châu Sơn Dân nói: “Cha con Trương Tôn Châu đã là gian tế của Ngõa Thích, cũng có thể làm gian tế của triều đình. Hạng người như thế, chuyện gì mà chẳng làm được?”
Triều Âm hòa thượng cũng bảo: “Đúng thế, Trương Tôn Châu và tên gian thần Vương Chấn đã từng gởi thư qua lại, chuyện này tôi cũng biết”.
Tất Đạo Phàm vuốt râu trầm ngâm, lát sau mới nói: “Tôi vốn không có ý nghi ngờ y, nghe Châu hiền điệt nói lai lịch của y, thật khiến cho tôi khó xử. Nếu liên kết hai chuyện này lại với nhau thật khiến cho người ta nghi ngờ, chả lẽ y thật sự dùng kế hoãn binh, ngăn tôi dời nhà, để cho bọn ưng khuyển của triều đình có thời gian đến bắt người? Hỡi ơi, biết người biết mặt khó biết lòng, chả lẽ lần này ta đã nhìn sai? Đã hoa mắt?”
Tất Đạo Phàm là người khôn khéo dứt khoái, nhưng đây là lần đầu tiên ông ta lâm vào tình thế khó xử thế này.
Châu Sơn Dân chợt nổi giận, lớn giọng nói: “Chuyện này chẳng có gì nghi ngờ nữa, chắc chắn Trương Đan Phong đã bày ra cạm bẫy. Chúng ta hãy bàn cách chống lại y!”
Quần hào lục lâm lại bàn tán xôn xao, có người thì bảo chờ quan quân đến liều mạng với bọn chúng một phen, có người thì bảo chi bằng hãy né tránh trước, sau đó truyền Lục Lâm tiễn, kêu gọi hắc đạo ở hai miền nam bắc cùng nhau đối phó với Trương Đan Phong.
Tất Đạo Phàm đừng ngồi không yên, nghe quần hào lục lâm bàn bạc xôn xao, hầu như ai cũng muốn hạ Trương Đan Phong, chỉ có một mình Vân Lối ngồi ở một góc, nước mắt lưng tròng nhưng không nói lời gì. Tất Đạo Phàm chợt nghi ngờ, thầm nhủ: “Kẻ này có thù sâu hận lớn với Trương Đan Phong, sao y lại không lên tiếng, chả lẽ còn có lý do nào khác?” đang định đến nói chuyện với Vân Lối, trong phòng tiếng người ồn ào, không thể nghe cho rõ ràng được. Tất Đạo Phàm nhíu mày, chợt nghe có tiếng ngựa hí từ xa, có người nói: “Tên tiểu tặc ấy lại quay về!”
Một lát sau, tiếng nhạc ngựa càng lúc càng gần, Tất Đạo Phàm vội vàng bước ra cửa nhìn, chỉ thấy có một thớt ngựa phóng tới, quả nhiên đó chính là thớt ngựa trắng của Trương Đan Phong! Chỉ thấy sắc mặt Trương Đan Phong lo lắng, trán đầy mồ hôi, vừa nhảy xuống lưng ngựa đã nói: “Thế bá hãy chạy cho mau!”
Tất Đạo Phàm trợn mắt, lạnh lùng nói: “Hay lắm, ngươi còn giở trò gì nữa đây?”
Trương Đan Phong ngẩn người ra, sắc mặt chợt thay đổi, chàng ngửa mặt cười lớn nói: “Trời xanh mênh mông, có ai hiểu được ta? Tất gia, lúc này tôi cũng không muốn phí lời với ông. Tôi chỉ bảo ông chạy cho mau, quan quân chỉ còn cách đây không đầy mười dặm!”
Tất Đạo Phàm không ngờ quan quân đến lại nhanh như thế, tức giận nói: “Hay lắm ta sẽ liều mạng với ngươị...” Tất Đạo Phàm đang lúc tức giận, định xông tới Trương Đan Phong, nhưng chợt thấy người chàng đầy máu, sắc mặt rất lo lắng, tựa như những lời chàng nói không phải là giả, chỉ nghe Trương Đan Phong lại nói: “Tôi đã gặp phải bọn quân quan cách đây mười dặm, tôi nhờ thớt khoái mã này cho nên mới giết được hai tên, sau đó quay về báo tin”.
Chợt bùng một tiếng vang lên.
Hỏa Thần Đạn Hắc Bảo Xuân chưa nhảy ra thì ám khí đã phóng ra trước, một cây xà diệm tiễn bốc cháy màu xanh lè, bay thẳng về phía trước mặt Trương Đan Phong, quần hùng cũng đều phóng ra khỏi cửa, Lam trại chủ lên tiếng: “Hảo tiểu tử, ngươi cứ tưởng bọn ta là trẻ con, mặc cho ngươi lừa gạt hay sao”.
Không đợi Trương Đan Phong lên tiếng, ba bốn người đã xông lên động thủ, quần hào lục lâm đều quát ầm lên: “Hảo tiểu tử, những lời của ngươi gạt được ai?”
“Giết y trước rồi đến lượt bọn quan quân!”
“Muốn quét trọn một mẻ thì đâu có dễ dàng như thế!”
Mọi người đều cho rằng Trương Đan Phong cùng một giuộc với bọn quan quân, ai cũng xông lên vây Trương Đan Phong vào ở giữa, kiếm khí đao quang dồn về phía Trương Đan Phong!
Chỉ nghe keng keng mất tiếng vang lên, mấy món binh khí đều đã bị thanh bảo kiếm của Trương Đan Phong chém gẫy, Châu Sơn Dân đẩy Vân Lối nói: “Hãy mau tiến lên, dùng bảo kiếm của đệ đối phó với y”.
Vân Lối cũng đành rút kiếm ra xông vào trong đám đông. Chỉ thấy tà áo trắng của Trương Đan Phong luồn qua lách lại trong màn binh khí, chàng cao giọng kêu: “Các người hãy nhìn thớt ngựa của ta, nếu ta là nội ứng của quan quân, làm sao lại để cho nó bị thương thế này?”
Trên bả vai con Chiếu dạ sư tử mã vẫn còn cắm hai mũi tên, chắc là bị quan quân phóng tên theo, người trong võ lâm rất quý bảo kiếm và ngựa tốt, huống chi đây là Chiếu dạ sư tử mã có một không hai trên đời? Lấy lòng đo lòng, Trương Đan Phong đương nhiên sẽ quý con ngựa này như mạng của mình, nay vì chạy về báo tin, đã không màng đến con ngựa bị trúng tên, cho nên quá nửa quần hào đều đã ngừng tay.
Hỏa Thần Đạn Hắc Bảo Xuân nói: “Không biết có phải là kế khổ nhục hay không?” Thế rồi vẫn vung roi tiến tới, chỉ nghe soạt một tiếng, cây roi đã bị thanh bảo kiếm chặt đứt một khúc, Châu Sơn Dân nói: “Lên mau!”
Vân Lối xông lên đánh ra một chiêu Ngọc Nữ Đầu Thoa, sắc mặt Trương Đan Phong tái nhợt, chàng không trả chiêu mà chỉ xoay người né tránh. Hắc Bảo Xuân thấy như thấy thì càng cho rằng chàng đã chột dạ cho nên vung roi từ trên đánh xuống một chiêu Tuyết Hoa Cái Đỉnh, rồi ở dưới đánh ra một chiêu Khô Thụ Bàn Căng, chỉ nghe soạt một tiếng nữa, Trương Đan Phong chỉ vung kiếm ra, đã chặt đứt cây roi sắt thành hai đoạn, Vân Lối như điên như dại, nàng vung cây Thanh Minh kiếm lên, toan đâm nhưng lại không đâm. Chỉ nghe Trương Đan Phong nói: “Lửa đã cháy đến nơi các người không còn mau chạy bao vây ta làm gì?”
Lam trại chủ quát: “Hừ, ngươi muốn lấy quan quân ra dọa lão tử? Bọn ta đều lớn lên dưới đao thương của quan quân!” Thế rồi phẫy tay, xua quần hào tiến lên.
Trương Đan Phong vung cây trường kiếm, mở thành một hình vòng cung, chặn binh khí của quần hào lại, cao giọng nói: “Đây là cậm y vệ từ kinh thành tới, ngươi tưởng bọn chúng là quan quân bình thường ư? Xem ra hình như ba đại cao thủ ở kinh sư đều đã đến đây!”
Chỉ huy Cẩm y vệ Trương Phong Phủ, Ngự tiền thị vệ Phàn trung, nội đình thị vệ Quán Trọng, cả ba người này trước kia đều là nhân vật trong võ lâm, thân thủ phi phàm thiên hạ đều biết, gọi chung là Kinh sư tam đại cao thủ. Quần hào nghe thế thì đều sững người lại, lúc đó thớt ngựa trắng hí dài, bị Triều Âm hòa thượng chặn lại cho nên không xông tới được. Tất Đạo Phàm nghĩ bụng: “Con ngựa trắng này thần dũng vô cùng, chạy nhanh như gió, thế mà vẫn bị trúng hai mũi tên, kẻ bắn hai mũi tên này nếu không phải là Tam đại cao thủ thì cũng là nhân vật phi thường, xem ra lời của thư sinh này rất đáng tin”.
Chỉ nghe Trương Đan Phong kêu lên: “Phía sau Cẩm y vệ còn có Ngự lâm quân, nếu bảo chỉ bắt một mình Tất gia thì đâu cần đông người như thế? Nếu Ngự lâm quân tấn công sơn trại khi các vị không có mặt, vậy phải ứng phó thế nào?”
Chàng vừa nói ra, quần hào đều biến sắc, đã có một nửa phóng lên lưng ngựa, vội vàng cung tay cáo từ Tất Đạo Phàm quay trở về sơn trại.
Châu Sơn Dân cả giận quát: “Hay cho tên gian tặc, dùng lợi hù dọa mọi người, ngươi không phải là chỉ huy của Ngự lâm quân, làm thế nào biết được kế của bọn chúng? Trừ phi ngươi là cùng một giuộc với bọn chúng!”
Trương Đan Phong ngửa mặt cười lớn, thuận tay đánh ra một chiêu Bát Phương Phong Vũ, thanh trường kiếm vung lên gạt binh khí của bọn Lam Thiên Thạch, Hắc Bảo Xuân và Châu Sơn Dân, cười lớn nói: “Uổng cho cha ngươi từng là một danh tướng ở biên quan, ngươi dẫu cho không đọc binh thư, chắc cũng biết một chút binh pháp, đạo làm tướng phải biết tình thế của kẻ địch để cân nhắc nặng nhẹ. Cứ coi như ta đúng là tên gian tặc như ngươi nói, thử hỏi kẻ địch ở trước mặt, các người mạo hiểm vây một mình ta, đó chẳng phải là ngu xuẩn hay sao?”
Không đợi Trương Đan Phong nói xong, quần hào đã bỏ đi hết một nửa, Châu Sơn Dân đỏ mặt quát: “Sơn trại của ta không có ở đây, cũng không sợ quan quân vây đánh, ta vẫn phải lĩnh giáo kiếm pháp của ngươi, Lối đệ hãy xông lên!”
Vân Lối gạt thanh kiếm của Trương Đan Phong ra, Châu Sơn Dân tiến lên chém ra một đao, Trương Đan Phong hơi mỉm cười, tay trái nắm kiếm quyết, vẫn chưa mở ra, thuận thế phất nhẹ, chỉ nghe keng một tiếng, thanh đao của Châu Sơn Dân đã rơi xuống đất.
Tất Đạo Phàm thấy thế thì thầm nhủ: “Nếu Trương Đan Phong thực sự ra tay, Châu Sơn Dân không chết cũng bị trọng thương”.
Thớt ngựa trắng bị Triều Âm hòa thượng chặn lại, cứ hí không ngớt tiếng, Tất Đạo Phàm chạy về phía trước, miệng thì giả tiếng ngựa, tay trái vung ra, đột nhiên phóng người đến gần thớt ngựa, thớt ngựa tựa như có linh tính, biết người tới gần mình không có ác ý, thế là không còn nhảy chồm chồm lên nữa. Tất Đạo Phàm vỗ cổ ngựa, tay phải rút hai mũi tên ra nhanh như điện chớp, rồi bôi ngay thuốc kim sang đã giấu sẵn trong bàn tay vào. Tất Đạo Phàm là kẻ già dặn, biết nhiều môn linh tinh, trong đó chữa trị cho ngựa là sở trường của mình, khiến cho Triều Âm phải há mồm trợn mắt.
Châu Sơn Dân nhặt thanh đơn đao, cùng bọn Lam Thiên Thạch tiếp tục xông vào, Vân Lối thì thẫn thờ, cứ đâm loạn xạ về phía Trương Đan Phong, chợt nghe Tất Đạo Phàm lớn giọng nói: “Trương công tử, ngựa của công tử ở đây, công tử hãy chạy cho mau!”
Châu Sơn Dân thất kinh, đến khi nhìn lại thì thấy Tất Đạo Phàm đang đẩy Triều Âm hòa thượng ra để cho con ngựa phóng tới. Hắc Bảo Xuân vội vàng nói: “Thả cọp dễ bắt cọp khó, Tất lão anh hùng, mong ông hãy suy nghĩ cho kỹ”.
Chỉ nghe Tất Đạo Phàm lại nói: “Trương công tử, tại hạ xin lãnh nhận hảo ý của công tử, ngựa của công tử bị thương không nặng, hãy chạy cho mau!”
Lam Thiên Thạch ngạc nhiên ngừng tay, Vân Lối lách người qua, Châu Sơn Dân cũng thối lui mấy bước.
Chợt nghe Trương Đan Phong mỉm cười, ngâm rằng: “Giao tình mấy đời cũng đáng quý, gặp mặt một lần càng khó hơn! Tất lão bá, ông hãy mặc tôi, hãy chạy cho mau”.
Tất Đạo Phàm nói: “Tôi còn chút đồ cần phải lấy, công tử hãy chạy trước! Lam trại chủ, Hắc trang chủ, Châu hiền điệt, các người cũng chạy cho mau! Các người đừng lo chuyện Trương Đan Phong nữa!”
Lam Thiên Thạch chẳng nói một lời, lên ngựa bỏ chạy ngay. Hắc Bảo Xuân thì đứng ngẩn người ra ở đấy. Châu Sơn Dân cầm đao chần chừ, định lên tiếng, chợt nghe thấy tiếng la hét vọng tới, Tất Đạo Phàm mặt biến sắc, căn dặn quản gia mấy câu rồi buồn bã nói: “Bảo các người chạy cho nhanh mà các người không chịu, giờ đây muốn chạy cũng khó!”
Ngôi làng nhỏ này được núi non bao bọc, chỉ thấy ở trên đường núi có ba bóng người lướt tới, phía sau là mấy chục thớt ngựa nối đuôi nhau, ba người này từ trên núi phóng xuống, nghe tiếng vó ngựa ngoài sơn cốc, chắc là có hàng ngàn Ngự lâm quân đang bao vây.
Tất Đạo Phàm cười ha hả rồi xông lên nói: “Tất mỗ đã già, cần gì ba vị đại nhân phải đến đây, Tất mỗ cảm thấy vinh hạnh vô cùng!”
Trong ba người đi đầu, người ở giữa mắt nhìn không nộ mà oai, đó chính là chỉ huy Cẩm y vệ Trương Phong Phủ, có môn võ gia truyền Ngũ hổ đoạn môn đao thiên hạ vô song, người bên trái mặt đen như nhọ nồi, râu ngắn tua tủa, đó chính là Ngự tiền thị vệ Phàn trung, người bên phải sắc mặt vàng ệt, hai mắt như lồi ra ngoài, đó là cao thủ trong đại nội Quán Trọng. Phàn Trung đã gặp mặt Tất Đạo Phàm một lần trên giang hồ vào mười năm trước, y lên tiếng trước: “Tất đại gia, chúng tôi đều phụng lệnh đến đây, ông đừng trách, phiền ông hãy theo chúng tôi một chuyến, chúng tôi quyết không làm khó ông”.
Tất Đạo Phàm cười lạnh, định lên tiếng trả lời, chợt nghe Trương Phong Phủ buông giọng cười lớn nói: “Phàn hiền đệ, cần gì phải nói những lời như thế? Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm là người đỉnh đỉnh đại danh, làm sao có thể bó tay chịu trói? Chúng ta chi bằng cứ nói thẳng ra. Tất đại gia, hôm nay chúng ta buộc phải động thủ với nhau, hãy rút ra binh khí ban cho chúng tôi vài chiêu, nếu ông vượt qua được cây bảo đao của tôi, tôi sẽ thả cho ông chạy, dù chuyện có to bằng trời giáng xuống tôi cũng gánh vác lấy. Còn những anh hùng lục lâm chúng tôi cũng đang muốn gặp, nói không chừng cũng phải động thủ với nhau. Những ai không phải là người trong giang hồ, chúng tôi quyết không lạm sát kẻ vô tội, xin mời hãy đi nơi khác”. Rồi y liếc mắt nhìn, đột nhiên vung tay chỉ, nói: “Ồ, còn tú tài kia là người thuộc phe nào?”
Trương Đan Phong nói: “Ngươi là chỉ huy bắt người, còn ta là tiến sĩ bắt qủy!”
Trương Phong Phủ cười lớn nói: “Nói như thế, chúng ta cũng phải tỉ thí với nhau!”
Lúc này Quán Trọng là người đã bắn bị thương con ngựa của Trương Đan Phong, y liếc nhìn Trương Đan Phong thì kêu lên: “Ồ, té ra ngươi cũng ở đây, hay lắm hay lắm, hãy trao con ngựa trắng ấy cho ta!” Rồi lắp tên vào cung, toan phóng tên ra. Phàn Trung rất thích ngựa, kêu lên: “Quán hiện đệ, hãy bắt sống nó”.
Rồi xua sĩ tốt tiến lên bắt ngựa, đột nhiên mấy tiếng ối chao vang lên, mấy tên Cẩm y vệ đều bị kim châm đâm trúng ở khớp tay, đau đến nỗi nước mắt chảy dài. Quán Trọng kêu lên: “Té ra ngươi cũng biết phóng mai hoa châm, đến mà không đi thì chẳng phải lễ, xem tên!” Rồi bật dây cung, mũi tên phóng đi như sao xẹt, Trương Đan Phong không dám dùng tay chụp tên, chàng lách người né tránh, mũi tên vẫn còn đà, phóng thẳng tới trước mặt Triều Âm hòa thượng, Triều Âm vung cây thiền trượng, keng một tiếng, tia lửa bắn ra tung tóe, mũi tên bay xéo ra mấy trượng mới rơi xuống. Triều Âm hòa thượng cả giận, vung tay kêu: “Châu hiền điệt, chúng ta xông ra!”
Rồi cây thiền trượng quét ngang bổ dọc xông vào giữa bọn thị vệ, Phàn Trung vung đôi chùy từ trên đầu bổ xuống, chỉ nghe keng một tiếng vang lên, cây thiền trượng của Triều Âm hòa thượng bị lệch sang một bên, Phàn Trung cũng cảm thấy hổ khẩu đau nhói, đôi chùy như muốn vuột khỏi tay, ở trong cung y được người ta gọi là Đại lực sĩ, nay vừa mới chạm với Triều Âm một chiêu thì biết công lực của đối phương bằng mình, lập tức cả hai lao vào nhau ác chiến.
Tất Đạo Phàm ngửa mặt cười ha hả, lấy ra cây gậy giáng long, nói: “Được Trương đại nhân coi trọng, tại hạ cũng phải tỉ thí!”
Trương Phong Phủ vung đao cười rằng: “Hay lắm, hay lắm! Chúng ta cứ theo quy củ giang hồ mà đơn đả độc đấu, nếu ông thắng được cây bảo đao của tôi thì không ai dám ngăn cản ông”. Giọng điệu của y rất tự phụ, Tất Đạo Phàm cả giận, vung tay bổ cây gậy tới, Trương Phong Phủ bước xéo người né tránh, xoay lại đánh ra một đao, kình phong dồn tới, đao và gậy chạm nhau, mỗi bên thối lui ba bước, Tất Đạo Phàm kêu: “Hay! Không hổ là đệ nhất cao thủ ở kinh sư!” Thế rồi xoay cổ tay, cây gậy giáng long lại đánh tới, mũi đao của Trương Phong Phủ điểm nhẹ vào cây gậy, mượn lực của cây gậy phóng vọt người lên, đao quang loáng từ trên không bổ xuống, chiêu này lợi hại phi thường. Tất Đạo Phàm lâm nguy không loạn, đột nhiên thi triển công phu tuyệt đỉnh Thiết bản kiều, chân phải phóng lên, đầu ngửa ra phía sau, thanh đao chém soạt qua đầu ông ta, Tất Đạo Phàm dặm chân phải, lộn người lại một vòng, thanh đao của Trương Phong Phủ cũng bị ông ta đá bật ra, Trương Phong Phủ khen rằng: “Chấn Tam Giới quả nhiên danh đồn không ngoa!” Rồi thay đổi chiêu thức, đánh ra một chiêu Liên hoàn tam đao, dồn Tất Đạo Phàm lùi ra phía sau!
Phía bên kia Quán Trọng và Trương Đan Phong cũng đã động thủ. Quán Trọng sử dụng một cây roi tam tiết, chiêu số rất tinh kỳ, y vẫn chưa biết Trương Đan Phong là người như thế nào, cho nên còn có ý khinh địch, tay phải vung lên đánh ra một chiêu Ô Long Nhiêu Trụ, chân đạp vào trung cung, toan giật thanh kiếm của Trương Đan Phong. Trương Đan Phong cười hì hì, cổ tay trầm xuống, mũi kiếm đâm ngược lại, kiếm quang tỏa ra, lập tức chặt đứt một đoạn roi, người chàng chỉ hơi lay động, chàng cũng chẳng thèm biến chiêu, thế là liên tục đánh ra thêm hai chiêu kiếm nữa. Quán Trọng hoàng hồn, nhưng y là một cao thủ, trong lúc nguy hiểm cũng đột nhiên biến chiêu, không lùi mà tiến, thi triển thủ pháp Cầm Nã thủ, Trương Đan Phong rút kiếm chém ngược lại, y cũng rút cây roi về, quét ngang ra ở dưới eo, Trương Đan Phong không nhường nửa bước, người cứ lắc lư nhẹ nhàng như chiếc lá liễu, tay không ngừng nghỉ, lại liên tục đâm ra ba nhát kiếm, cây roi của Quán Trọng tuy dài, nhưng cũng không thể nào chạm vào tà áo của chàng, ngược lại phải thối lùi mấy bước. Trương Đan Phong tiến lên phía trước, vung kiếm tấn công mạnh mẽ, nhưng cũng không thể nào thoát khỏi vòng vây. Lúc này hai bên đã ở vào tình thế hỗn chiến, bọn Cẩm y vệ đã xông vào trong nhà khiến cho gà chó đều chạy tan tác.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:36 pm

Khi Trương Đan Phong nhìn lại, chỉ thấy Triều Âm ngoài ngự tiền thị về Phàn Trung đang đánh cân sức nhau, Tất Đạo Phàm thì đã rơi xuống hạ phong. Trương Phong Phủ sử dụng một thanh bách luyện miến đao, cho nên đã thắng về mặt binh khí, về mặt công lực hai người không hơn kém nhau bao nhiêu, nhưng Trương Phong Phủ hơn là ở chỗ tuổi trẻ lực mạnh, thanh đao cứ như thần long thám trảo, phi ưng giang cánh, toàn là những chiêu tấn công hiểm hóc, Tất Đạo Phàm đành phải chuyển công thành thủ. Nhưng nếu cứ kéo dài như thế thì chắc chắn sẽ thua thiệt.
Ba người Trương Phong Phủ, ato, Phàn Trung đều đơn đả độc đấu, những người còn lại thì đang lao vào nhau hỗn chiến. Trương Đan Phong nhìn lại, chỉ thấy Vân Lối vung kiếm chém gãt rất nhiều binh khí của bọn Cẩm y vệ, che chở cho bọn Châu Sơn Dân và Hắc Bảo Xuân, vừa đánh vừa chạy, dần dần đã đến dần Triều Âm hòa thượng.
Phàn Trung và Triều Âm đang đánh nhau rất hăng, chợt thấy ánh xanh xẹt tới, thanh bảo kiếm của Vân Lối đã đâm tới nhanh như gió, Phàn Trung chia đôi chùy ra, chùy trái thì hộ thân, chùy phải nghênh địch. Kiếm pháp của Vân Lối có sở trường biến hóa khôn lường, Phàn Trung đánh tới một chùy, tưởng rằng sẽ đánh bay kiếm của kẻ địch, không ngờ chỉ thấy ánh sáng xanh xẹt tới, tựa như bên trái nhưng đột nhiên chuyển sang bên phải, y vội vàng biến chiêu nghênh địch, chùy trái thì bị cây thiền trượng của Triều Âm hòa thượng chặn lại, không thể đánh ra được, nói thì chậm, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ nghe soạt một tiếng, vai của Phàn Trung đã bị chém một kiếm, Phàn Trung gầm lớn ném cây chùy trái ra, Vân Lối thấy luồng kình phong dồn tới trước ngực, vội vàng né qua thì chỉ thấy cây chùy đã bay ra mấy trượng, táng vào tảng đá núi, dá vụn bay lả tả, còn Phàn Trung thì tung mình nhảy vọt ra khỏi vòng.
Vân Lối tuy đánh lui Phàn Trung nhưng đã bị chùy phong dồn tới, tựa như cảm thấy có một vật nặng ngàn cân đè vào ngực, suýt chút nữa thở không ra hơi, nàng đã biết lợi hại của y không dám tiến tới nữa, cùng Triều Âm hòa thượng vội vàng nhảy ra. Con chiến mã bờm đỏ chạy tới, Vân Lối nhảy vọt lên lưng ngựa, vung kiếm mở đường.
Trương Đan Phong thấy Vân Lối sắp thoát hiểm, trong lòng cả mừng, lại đâm ra hai kiếm đẩy lui Quán Trọng, lớn giọng nói: “Tất thế bá, ngừng tay thôi!”
Tất Đạo Phàm chẳng nói một lời, múa gậy đánh tới, tựa như chẳng hề nghe Trương Đan Phong gọi. Trương Đan Phong nhíu mày, khi nhìn lại thì thấy Vân Lối đã phóng ngựa đi trước, bên trái có Triều Âm hòa thượng, bên phải có Thạch Thúy Phượng, Châu Sơn Dân, còn những hảo hán lục lâm thì lục tục chạy ở phía sau, xem ra sắp vượt khỏi vòng vây, Trương Đan Phong nhủ thầm: “Lúc này không chạy thì còn chờ lúc nào?” Rồi lại nói: “Núi xanh vẫn còn, sợ gì không có củi đốt, Tất lão anh hùng, hãy xông ra thôi!”
Tất Đạo Phàm vẫn chẳng nói một lời, cứ vung cây gậy đánh ra tới tấp.
Trương Đan Phong chợt hiểu ra, khi Tất Đạo Phàm tỉ thí với Trương Phong Phủ, đã từng bị Trương Phong Phủ nói khích, nếu không hạ được Trương Phong Phủ thì ông ta dứt khoái không bỏ chạy. Cho nên giờ đây tuy lọt xuống thế hạ phong nhưng vẫn theo quy củ đơn đả độc đấu của giang hồ, đã không nhận thua thì phải đánh cho tới cùng!
Trương Đan Phong lo lắng nhủ thầm: “Đây đâu phải là lúc tranh hơn thua?” Nhưng chàng biết tính khí của Tất Đạo Phàm, dù cho mình có xông lên giúp ông ta, ông ta cũng chưa chắc bỏ chạy, đang lúc không còn kế nào, đột nhiên nghe có đứa nhỏ kêu lên: “Thả ta ra, ta phải đánh kẻ cường đạo!”
Té ra gia đình nhà họ Tất đang hỗn chiến với quan quân, con trai duy nhất của Tất Đạo Phàm đã được quản gia cõng lên lưng, cậu bé cứ vùng vẫy đòi xuống.
Trương Đan Phong chợt nảy ra một ý, chàng phóng người tới, xông vào ở giữa đám cấm vệ quân, thanh trường kiếm vung lên, bọn Cẩm y vệ bình thường làm sao có thể chống cự nổi? Chỉ thấy chàng xông vào ở giữa, tóm lấy cậu bé, lão quản gia kêu ối chao một tiếng, Trương Đan Phong nói: “Các người hãy mau chạy ra ngoài!” Thế là chàng vung kiếm lên, chém thêm vài tên, rồi lập tức xông ra, chàng đột nhiên chúm môi huýt một tiếng sáo, con Chiếu dạ sư tử mã nghe tiếng sáo của chủ nhân, tung vó đá ngã hai tên đang bao vây mình, Trương Đan Phong đột nhiên ném cậu bé lên lưng ngựa, kêu lên: “Ngôi yên!”
Cậu bé ấy tuy chỉ có bảy tám tuổi, nhưng rất lớn gan, cứ nắm lấy bờm ngựa, rồi để mặc cho con ngựa chạy đi.
Trương Đan Phong lướt người rất nhanh, phóng tới trước mặt Tất Đạo Phàm. Lúc này có vài tên Cẩm y vệ đã xông tới chặn con ngựa, con ngựa hí dài, cậu bé cũng khóc òa lên. Trương Đan Phong kêu lớn: “Tất lão bá, ông còn phải lo cho con của mình!” Rồi vung kiếm ra, keng một tiếng chặn lấy thanh miến đao của Trương Phong Phủ. Tất Đạo Phàm thở dài, đánh hờ ra hai đao rồi phóng ra khỏi vòng chiến. Trương Đan Phong lại hù dài một tiếng, thớt ngựa ấy chợt khựng lại, Tất Đạo Phàm phóng ra ba mảnh ám khí, đánh mấy tên Cẩm y vệ đang chặn ngựa. Rồi ông ta tung mình lên lưng ngựa ôm chặt đứa trẻ, thớt ngựa hí dài tung vó chạy gấp, trong khoảnh khắc đã vượt ra khỏi vòng vây.
Trương Phong Phủ cả giận, thanh đoạn môn đao quét ra như gió cuốn, Trương Đan Phong chỉ cảm thấy một luồng tiềm lực húc tới mũi kiếm của mình, thanh kiếm trong tay suýt nữa vuột ra, lòng thầm nhủ: “Gã này quả nhiên danh đồn không ngoa, công lực phi phàm, không hổ là kinh sư đệ nhất cao thủ. Thế là chàng vừa đẩy thanh trường kiếm về phía trước vừa ngầm vận nội lực, hóa giải thế cuốn đao, thanh kiếm xoay nhẹ, keng một tiếng thanh miến đao đã bị chém mẻ một miếng, Trương Phong Phủ thất kinh, đột nhiên cười rằng: “Không sợ bảo kiếm của ngươi!” Thế rồi nghiêm mũi đao qua, chặt vào thân kiếm, dồn lực xoay một vòng, kiếm của Trương Đan Phong lại bị dình vào đao, không thể nào thi triển uy lực của kiếm, nhưng chàng đã buông giọng cười lớn: “Hay lắm, chúng ta hãy tỉ thí thử xem!” Thế rồi chàng vung cổ tay, lật mũi kiếm thoát ra trở lại. Đột nhiên nghe tiếng dây cung bật, thớt ngựa trắng hí dài, Quán Trọng cao giọng nói: “Đại ca hãy mau đuổi theo, Tất lão tặc đã bỏ chạy!” Trương Phong Phủ chợt hiểu ra đây là kế vây Ngụy cứu Triệu của Trương Đan Phong, thế là xoay mũi đao tung mình nhảy vọt ra, Trương Đan Phong vung kiếm đâm thẳng tới, Trương Phong Phủ đột nhiên xoay lại vỗ ra một chưởng, phát ra một luồng kình phong dồn tới trước ngực chàng. Trương Đan Phong lách người né tránh, nhưng ngực vẫn bị dư lực của luồng chưởng phong đánh trúng, chỉ cảm thấy đau nhói, chàng thất kinh vội vàng vận khí hộ thân. Lúc này Trương Phong Phủ đã kịp rút một thớt khoái mã đuổi theo Chiếu dạ sư tử mã.
Trương Đan Phong cười thầm: “Ngựa quý của ta tuy đã trúng ba mũi tên, nhưng ngươi cũng đuổi theo không kịp”. Tất Đạo Phàm tuy thoát được vòng vây, nhưng chàng thì bị giữ chân lại, Phàn Trung đã múa đôi chùy đến tấn công chàng. Đôi chùy của Phàn Trung nặng tám mươi cân, chàng Tân Kỳ nào dùng kiếm chém vỡ được, lại thêm bọn Cẩm y vệ đã bao vây, cho nên khó mà thoát thân. Phàn Trung có thể ngang tài ngang sức với Triều Âm hòa thượng, cũng chẳng hơn thua gì Trương Đan Phong cho nên Trương Đan Phong muốn lập tức thoát khỏi vòng vây không phải là chuyện dễ!
Bọn Vân Lối đã thoát ra khỏi vòng vây, chợt nghe ở phía sau có tiếng gọi, Vân Lối quay đầu lại nhìn, chỉ thấy Trương Đan Phong đã bị bao vây, thế là trong lòng thất kinh, đột nhiên Quán Trọng bắn một mũi tên tới, Vân Lối đang lúc phân tâm, rút kiếm gạt tên chậm chạp nên mũi tên ấy đã bắn vào cổ ngửa.
Vân Lối ngã xuống đất chưa kịp đứng dậy thì bọn Cẩm y vệ ở phía sau đã hò hét đuổi tới, đao thương đâm ra tới tấp. Vân Lối một tay chống xuống đất, lộn người dưới đất một vòng, ánh kiếm quét ra, chỉ thấy dưới mặt đất cuộn lên một vòng ngân hồng, mấy mũi thương đâm tới trước ngực đều bị chặt gãy. Vân Lối nhảy vọt lên, Quán Trọng giở cây roi tam tiết, đuổi tới như bay, y vung roi toan cuộn lấy cổ tay của Vân Lối. Quán Trọng cũng đã biết sự lợi hại của thanh bảo kiếm này, cho nên vung roi rất khéo léo, Vân Lối quét kiếm ra nhưng không chém trúng, cây roi mềm lúc này đã đâm tới trước mặt nàng như con độc xà. Vân Lối đột nhiên co người lại, lướt ra khỏi cây roi như một con phi nhạn, rồi đâm soạt trở lại một kiếm, Quán Trọng bước xéo ba bước, cổ tay gập lại kéo cây roi về, rồi lại đánh vù ra một roi. Hai người đã đổi nhau mấy chiêu mà không phân cao thấp. Theo lý mà nói, hai người vốn ngang tài nhau, nhưng Vân Lối yếu sức hơn, đánh được hai ba mươi chiêu thì nàng thở dốc, mồ hôi toát đầm đìa, đã dần dần lúng thế, Quán Trọng cười ha hả, đột nhiên tấn công gấp gáp, hơn mười tên Cẩm y vệ đã tản ra bao vây xung quanh, ngăn không cho Vân Lối bỏ chạy.
Phía bên kia Trương Đan Phong đã roi vào vòng vây, thanh bảo kiếm không thể nào thi triển được oai lực trước đôi chùy nặng nề của Phàn Trung, chàng lại phải ứng phó với những binh khí khác cho nên cũng rơi vào nguy hiểm. Đang lúc kịch chiến, chàng chợt thấy Vân Lối đã ngã xuống ngựa, trong lòng lo lắng, cho nên xoay người, lật tay đánh ra một kiếm, gạt đôi chùy của Phàn Trung ra, rồi tay trái tóm lấy cổ áo một tên Cẩm y vệ, nhấc bổng y lên. Chiêu này quả thật rất mạo hiểm, chỉ cần có một chút sai sót thì người sẽ bị mười mấy thanh kiếm đâm thủng! Nói ra thì chậm, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, Phàn Trung nhân lúc chàng xoay người đã quét ngang đôi chùy tới, không ngờ Trương Đan Phong đã tóm được tên Cẩm y vệ ấy, quát lớn một tiếng rồi giơ y lên đỡ, Phàn Trung vội vàng rút đôi chùy lại, Trương Đan Phong múa kiếm bằng tay phải, tay trái thì tóm lấy kẻ ấy làm binh khí, trong khoảnh khắc đã thoát ra khỏi vòng vây. Phàn Trung đuổi gấp theo sau, Trương Đan Phong cười lớn, quát rằng: “Đỡ lấy!” Rồi ném ngược kẻ ấy trở lại. Phàn Trung buộc phải nghe lệnh chàng, ném đôi chùy mà tiếp lấy kẻ đồng bọn của mình, lúc này Trương Đan Phong đã lao đến chỗ Vân Lối.
Vân Lối đã đuối sức, chợt thấy Trương Đan Phong cầm kiếm phóng tới, tim nàng đập thình thình, nỗi ám ảnh của bức huyết thư bằng da dê lại hiện lên trong lòng nàng, kẻ thù đáng ghét đáng hận đáng yêu ấy đã đến cứu mình, nên coi chàng là kẻ thù hay bằng hữu? Nên để cho chàng cứu hay là thà chết không chịu? Lòng nàng cứ thấp thỏm không yên, đang lúc hoang mang thì thấy một roi của Quán Trọng đã quét tới, đến khi Vân Lối nhận ra thì roi ảnh đã đến tới đỉnh đầu của mình.
Chỉ thấy ánh kiếm lóe lên, bên tai có người gọi: “Tiểu huynh đệ, hãy mau xuất chiêu!” Vân Lối thuận tay vung kiếm, chỉ nghe hai tiếng soạt soạt, cây roi tam tiết của Quán Trọng đã bị chặt đứt thành bốn khúc! Lúc nãy Quán Trọng đã đấu hơn một trăm chiêu với Trương Đan Phong, tuy đã lọt xuống hạ phong nhưng vẫn chưa đến nỗi thất bại, cứ tưởng rằng có thêm bọn Cẩm y vệ thì sẽ dư sức đối phó với hai người, nào ngờ song kiếm hợp bích thì uy lực tăng lên rất nhiều, hai người Trương Vân chỉ mới đánh ra một chiêu nhưng đã chặt gãy roi của y, khiến cho y vội vàng bỏ chạy. Trương Đan Phong cùng với Vân Lối múa tít đôi kiếm, chỉ trong khoảnh khắc đã có mười mấy tên Cẩm y vệ bị thương, chẳng bò dậy nổi!
Trương Đan Phong kép Vân Lối vừa đánh vừa chạy, Phàn Trung múa đôi chùy quét tới, Quán Trọng kêu: “Nhị ca, cẩn thận” Trương Đan Phong, Vân Lối cùng vung kiếm ra, hợp thành một vòng ánh sáng, Phàn Trung cả kinh, không thể nào địch nổi, vội vàng ném đôi chùy lăn ra hơn một trượng, chỉ thấy đỉnh đầu lạnh ngắt. Dù cho y lăn đã rất nhanh, nhưng cái kim khôi đội trên đầu cũng bị chém đứt, cả tóc cũng bị mất một mảng lớn.
Phàn Trung đã mấy lần thua to, y lộn người phóng dậy, cả giận xua tay quát: “Lên ngựa xông tới!” mười mấy tên Cẩm y vệ phóng người lên ngựa, chia thành bốn đội ra cùng nhau xông về phía hai người Trương Vân. Hai người dù võ công có cao cường hơn nữa cũng không thể nào địch nổi!
Trương Đan Phong kêu lên: “Mau lên núi!” Rồi cùng Vân Lối thi triển khinh công tuyệt đỉnh chạy như bay ra sau núi. Nhà họ Tất cách chân núi khoảng một dặm, khi hai người sắp tới chân núi thì cũng bị đội khoái mã đuổi theo kịp. Trương Đan Phong chợt tóm lấy Vân Lối ném lên núi, khi thớt khoái mã đi đầu đã lao bổ tới, Trương Đan Phong điểm mũi chân xuống đất, người phóng vọt thẳng lên, trong chớp mắt, Trương Đan Phong đã từ trên cao hạ xuống lưng ngựa, ném tên Cẩm y vệ ra xa đến mấy trượng.
Nếu Trương Đan Phong không nhân từ, ném y xuống đất thì e rằng lúc này y đã trở thành một đống thịt bầy nhầy! Thớt ngựa ấy phóng rất nhanh, trong khoảnh khắc đã lao đến chân núi, Trương Đan Phong từ trên lưng ngựa phóng người lên tóm lấy một cành cây trên sườn núi, sau mấy lần trồi hụp chàng đã lên đến con dốc, lúc này Vân Lối đang đứng ở gữa con dốc chờ chàng.
Lúc này trời đã về chiều, màu trời hơi tối, trên núi lại có quái thạch lô nhô nên bọn Cẩm y vệ không thể phóng ngựa lên được, chỉ bao vây ở dưới chân núi mà la hét, Phàn Trung truyền lệnh gọi Ngự lâm quân ở bên ngoài cửa cốc tiến vào, chỉ ở dưới chân núi cười ha hả rằng: “Xem các người có thể ở trên núi bao lâu?” Hai người Trương Vân đứng trên núi nhìn ra xa, chỉ thấy xung quanh cờ hiệu phất phới, ngọn núi nhỏ này đã bị Ngự lâm quân bao vây chặt.
Hai người Trương Vân đã ác đấu đến hơn nửa ngày, lúc này chỉ cảm thấy vừa đói vừa mệt, đây đang là lúc mùa xuân, ban ngày mặt trời chói chang, đến chiều thì đột nhiên lại đổ mưa. Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, chúng ta hãy tìm một nơi tránh mưa, trên người ta còn có lương khô”. Vân Lối im lặng không nói, quay đầu sang một bên. Trương Đan Phong nói: “Bên kia có một hang đá”. Thế rồi kéo Vân Lối chạy tới, Trương Đan Phong nắm tay Vân Lối, chỉ thấy lòng bàn tay của nàng lạnh lẽo, biết nàng đang lo lắng trong lòng.
Hang đá này thật ra chỉ là một kẽ đá do hai tảng đá lớn dựa vào nhau mà thành, trên tảng đá có dây leo cho nên mưa không lọt vào. Kẽ đá ấy chỉ đủ cho hai người, Trương Đan Phong kéo Vân Lối vào trong kẽ đá, hai người đưa mắt nhìn nhau, đều nghe tiếng tim đập thình thình. Trương Đan Phong thở dài, nói: “Tiểu huynh đệ, mối thù giữa hai nhà chúng ta chả lẽ không có cách nào giải hay sao?” Chợt trời tối sầm, mưa càng tối hơn, Trương Đan Phong nghiêng mặt qua, không thấy Vân Lối tỏ vẻ gì cả, nhưng chàng nghe tiếng áo quần xột soạt, tiếng vòng kiếm lay động, biết rằng nàng đã nắm chui kiếm. Trương Đan Phong lại thở dài: “Không phải oan gia không gặp nhau, tiểu huynh đệ hãy cứ giết ta, chết trong tay của đệ, ta chẳng hề oán than!” Chợt sấm nổ rền trời, ánh chớp nhoáng nhoàng, chiếu sáng trong một góc trời, Trương Đan Phong có thể thấy trên khuôn mặt trắng bệt của Vân Lối có đôi dòng nước mắt. Vân Lối ngồi dựa vào tảng đá, tay vân vê tà áo, thanh kiếm ở hông đã lộ ra một đoạn ngắn, chắc là nàng vừa mới rút kiếm nhưng đã ngừng lại. Aùnh chớp vừa mới lóe lên thì tắt ngấm, động đá lại tối om om.
Trong bóng tối Trương Đan Phong chỉ nghe tiếng thở của Vân Lối, một lúc lâu sau mà chẳng nghe nàng lên tiếng. Chàng lấy ra lương khô, nói: “Tiểu huynh đệ, đệ cũng ăn một ít đi”. Vân Lối vẫn ngồi yên chẳng nhúc nhích. Trương Đan Phong rất đau đớn, nhưng vẫn cười hì hì nói: “Tiểu huynh đệ, lần này ta không nói đệ ăn quỵt nữa, hãy ăn một ít đi!” Trương Đan Phong cố ý nhắc lại chuyện ngày mới gặp nhau, thực ra là muốn gợi cho nàng cười nói. Nhưng Vân Lối cầm miếng lương khô ném xuống đất, Trương Đan Phong cười khổ sở, nhặt miếng lương khô đặt lên kẽ đá.
Vân Lối cũng chua chát trong lòng, muốn khóc nhưng nước mắt không trào ra nổi, trong bóng tối chỉ nghe Trương Đan Phong thở dài, chậm rãi nói: “Báo thù, báo thù, oan oan tương báo đến lúc nào mới xong đây? Tổ tiên của ta tranh đoạt giang sơn cùng Chu Nguyên Chương cũng để lại di thư, bảo con cháu đời sau báo thù cho họ, mối thù của nhà ta không phải chỉ trả bằng cách giết chết kẻ địch của mình mà là phải giành lại giang sơn của Thiên tử Đại Minh!”
Vân Lối rùng mình nhủ bụng: “Cách báo thù như thế này quả thật là cách tàn khốc nhất từ xưa đến nay, nếu nhà họ Trương báo được thù, há chẳng phải máu chảy thành sông thây người chất thành núi hay sao?” Rồi nàng chợt nghĩ, nếu Trương Đan Phong vì báo thù mà dắt quân Ngõa Thích vào tranh đoạt giang sơn, vậy y là tội nhân thiên cổ mình cũng không thể nào dung thứ cho y được!” Ý nghĩ cứ dâng trào, thế là bàn tay lại nắm chặt chui kiếm.
Chỉ nghe Trương Đan Phong tiếp tục nói: “Tổ phụ của ta chạy đến Ngõa Thích, lúc đó thế lực Mông Cổ suy yếu, nội bộ rạn nứt, quân Minh thường tấn công vùng thảo nguyên Mông Cổ cướp đoạt, triều Minh còn buộc họ hàng năm phải đến tiến cống, họ cũng rất căm hận, cho nên họ cũng phải báo thù. Ôi, người với người, nước với nước đều có quá nhiều thù oán, ta thật sự không biết tại sao họ không thể đối xử bình đẳng với nhau, sống hòa bình với nhau?”
Vân Lối giật mình, Trương Đan Phong tiếp tục nói: “Tổ phụ và tiên vương của Ngõa Thích đều muốn báo thù triều Đại Minh, cho nên ông đã làm quan ở Ngõa Thích. Ngõa Thích ngày một cường thịnh, chức quan của tổ phụ ta ngày càng lớn, đến đời cha ta thì được thăng làm Hữu thừa tướng. Cha ta nhớ mối thù của đời trước, cho nên căm hận đến thấu xương những người trung với triều Minh và con cháu của Chu Nguyên Chương. Ba mươi năm trước gia gia của đệ đi sứ sang Ngõa Thích, cứ tự xưng là một đại trung thần của triều Minh, trong lúc tức giận cha ta đã buộc ông phải chăn ngựa hai mươi năm ở nơi lạnh lẽo!”
Vân Lối nghiến răng kêu lên kèn kẹt, đột nhiên nghĩ rằng: “Gia gia của mình vì chịu nỗi khổ hai mươi năm chăn ngựa mà phải giết chết tất cả những người nhà họ Trương, vậy triều Minh đã cướp giang sơn của tổ tiên họ, cũng chả trách họ lại căm hận như thế, còn gia gia của mình chỉ bị liên lụy. Những chuyện ân oán thị phi, kẻ hậu bối không thể nào quản được, nhưng còn mối thù của gia gia, mình sao có thể quên được?” Vân Lối nắm chặt chui kiếm, lòng rối như tơ vò, chỉ nghe Trương Đan Phong tiếp tục nói: “Gia gia của đệ chăn ngựa hai mươi năm ở vùng băng tuyết, thủy chung không hề khuất phục. Sau đó cha của ta đã khâm phục ông, cha của ta cũng từng kể câu chuyện của gia gia muội, thật ra năm xưa gia gia muội trốn về nước ông ta đã biết trước, cho nên cố ý không sai quân đuổi theo. Cha còn nói, lúc đó ông đã sai Đàm Đài tướng quân trao cho gia gia của đệ ba túi gấm để cứu lấy mạng ông ta, đáng tiếc gia gia của muội không tin”. Vân Lối vẫn nửa tin nửa ngờ, nàng không lên tiếng, bàn tay vẫn nắm chặt chui kiếm.
Trương Đan Phong thở dài nói: “Cha ta quả thật cũng có lỗi với gia gia của muội, cho nên cũng khó trách gia gia của muội không tin ý tốt của ông ta, tiền nhân mắc nợ hậu nhân trả, ôi, ta cũng không thể trách muội căm hận ta! Lại nói Ngõa Thích ngày một lớn mạnh, triều Minh không dám ức hiếp nữa, ngược lại bị Ngõa Thích coi thường. Mười năm trước, sư phụ cảm thấy đến Ngõa Thích, nghe nói người vốn đến tìm cha ta báo thù, sau đó lại trở thành sư phụ của ta. Người dạy ta nhớ mình là người Trung Quốc, không được đối đầu với Trung Quốc! Sau khi sư phụ ta đến Ngõa Thích, gia gia hình như cũng đổi tính, ta thường thấy ông thức rất khuya trong phòng sách, lẩm bẩm nói: “Báo thù, báo thù, có nên báo thù hay không?” Có đôi lần ta cũng khuyên nhủ, ông ta trợn mắt nói: “Con ơi, con phải nhớ mối thù của bậc tiền nhân!” lần này ta đã giấu cha trốn về đây, chỉ có mỗi mình sư phụ biết chuyện này. Ta biết mọi chuyện ở võ lâm Trung Nguyên cũng là nhờ sư phụ nói. Ta là người Trung Quốc, ta không thể giúp người Ngõa Thích đánh Trung Quốc, nhưng ta cũng phải báo thù...” Vân Lối buột miệng hỏi: “Báo thù như thế nào?” Trương Đan Phong nói: “Sau khi ta trở về, xem xét tình hình, Minh triều thực sự đã mục ruổng đến cùng cực, ta thấy chuyện báo thù không khó lắm, nếu ta tìm được bức bản đồ giấu bảo tàng, dùng vàng bạc chiêu nạp kẻ sĩ, dựng cờ nghĩa, sẽ dễ dàng đoạt được thiên hạ của nhà Minh!” Vân Lối thất kinh, nói: “Ngươi muốn xưng vương xưng đế?” Trương Đan Phong cười nói: “Hoàng đế cũng là người bình thường, giang sơn của một nhà một họ làm sao có thể giữ được đến trăm đời? Song ta cướp giang sơn của nhà Minh cũng không phải là vì muốn làm Hoàng đế...” Vân Lối nói: “Có phải là vì báo thù không?” Trương Đan Phong nói: “Không chỉ là vì báo thù, nếu muôn nhà trong thiên hạ mãi mãi không động đến can qua thì tốt biết bao nhiêu!” Chàng ngập ngừng rồi lại đột nhiên cười lớn ngâm rằng: “Đời người sống được mấy lúc, sao nước non không yên bình? Mong sao có thánh nhân, đại đồng truyền vạn thế! Ha ha, nếu có thể làm được như thế, cần gì phải làm Thiên tử?” Trong bóng tối Vân Lối thì không thể thấy rõ mặt mũi chàng, nhưng nhớ lại bộ dạng cuồng ngạo của chàng, nàng buột miệng hỏi: “Làm Hoàng đế hay không đâu có gì là lạ. Nhưng nếu ngươi mưu toan chiếm giang sơn chín ngàn dặm của nhà Minh, dù ngươi có muốn hay không, e rằng cũng phải có cảnh đầu rơi máu chảy, huống chi giờ đây Mông Cổ sắp đánh vào. Nếu ngươi coi Thiên tử của nhà Minh là kẻ thù, lẽ nào lại phải giúp nước Ngõa Thích?” Tương đối sững người ra, đột nhiên dịu dàng nói: “Tiểu huynh đệ, đệ nói cũng có lý lắm. Tiểu huynh đệ, đại ca nghe lời đệ, đệ bảo đại ca không làm Hoàng đế thì đại ca không làm Hoàng đế. Tiểu huynh đệ, đệ hãy nói đi, ta nghe lời đệ”. Giọng điệu của chàng rất dịu dàng, lời nói lại ngọt ngào, Vân Lối nóng bừng mặt, giận dỗi nói: “Ai cần ngươi nghe lời ta!” Trương Đan Phong nói: “Sao thế? Giận ư?” Vân Lối cũng chẳng nói thêm câu nào nữa, Trương Đan Phong thở dài, đến khi thò tay tìm miếng lương khô thì đã bị Vân Lối ăn mất. Té ra lúc này Vân Lối say sưa nghe Trương Đan Phong nói chuyện, bất giác đã cầm miếng lương khô lên ăn. Đến khi nghĩ lại không nên ăn thì nàng đã ăn đến miếng cúi cùng. Trương Đan Phong cười thầm, dịu dàng nói: “Tiểu huynh đệ, đệ hãy ngủ đi” Rồi khe khẽ hát bài ca ru ngủ cho nàng, Vân Lối vốn đã thấy mệt mỏi, sau khi ăn no lại nghe bài hát ru của chàng, cơn buồn ngủ kéo tới, mi mắt dần dần khép lại. Trương Đan Phong cầm kiếm ngồi ở cửa hàng canh giữ cho nàng, lúc này mưa đã tạnh nhưng trong đêm tối quan quân không dám xông lên.
Trương Đan Phong cũng mệt mỏi rã rời, nhưng chàng chẳng dám chợp mắt, chợt nghe Vân Lối kêu lên: “Đại ca, đại ca.... gia gia.... gia gia....” Trương Đan Phong trả lời một tiếng, khi quay đầu nhìn lại thì Vân Lối không kêu nữa, chỉ nghe nàng thở đều đều, té ra là đang nói mê. Trương Đan Phong cởi áo khoác ngoài nhẹ nhàng đắp cho nàng rồi vẫn ngồi chống kiếm canh gác.
Trong giấc mơ Vân Lối thấy Trương Đan Phong cười lớn, đột nhiên nâng niu bức họa vừa khóc vừa ca, Vân Lối cảm thấy chàng rất đáng thương, bước tới kéo tay chàng, đột nhiên gia gia cầm cây cờ tiết chỉ còn vài sợi lông lơ thơ lừng lững bước tới, chen vào giữa hai người, giơ cây gậy đánh náng, Vân Lối kêu lên: “Đại ca cứu muội!” Cây cờ tiết trong tay gia gia đột nhiên biến thành bức huyết thư da dê, gia gia ném bức thư về phía nàng, mắng rằng: “Ai là đại ca của ngươi, ngươi hãy mau giết chết y!” mùi máu tanh xộc tới, Vân Lối rất khó chịu, muốn kêu nhưng không thành tiếng, thế là nàng choàng tỉnh.
Chỉ thấy ánh nắng mặt trời lọt vào trong hang, Vân Lối trấn tĩnh trở lại, thấy trên người mình có phủ tấm áo ngoài của Trương Đan Phong, mặt nóng ran, đầu nhức như búa bổ, nàng nhẹ nhàng bước ra, chỉ thấy Trương Đan Phong ngồi lên tảng đá, mũi kiếm chống xuống đất, đầu gục xuống. Té ra Trương Đan Phong một đêm không ngủ, đã không thể nào gắng gượng nổi cho nên ngủ gục.
Nỗi ám ảnh của bức huyết thư da dê dâng lên trong lòng, Vân Lối cầm chui kiếm nghĩ bụng: “Đây là cơ hội tốt nhất để đâm y một kiếm. Ôi! Ôi! Sao mình lại nghĩ như thế, gia gia ơi, gia gia ơi! Đừng buộc con, đừng buộc con!” Trong mơ hồ nàng tựa như thấy gia gia cầm cờ tiết bước tới, nhìn mình với ánh mắt nghiêm nghị như trong giấc mơ, chả lẽ mình vẫn còn đang nằm mơ? Vân Lối cắn ngón tay, cảm thấy đau nhói, không phải là giấc mơ, nàng lại mong mình mãi mãi nằm mơ, mãi mãi không thức dậy. Giấc mơ tuy rất khó chịu, nhưng không khó chịu bằng lúc đối diện với “Kẻ thù”! “Mình bỏ qua cơ hội tốt này, không giết người họ Trương, gia gia có trách mình hay không?” Vân Lối cầm chui kiếm, bước tới hai bước, đột nhiên cho ngón tay vào miệng cắn mạnh, cơn đau khiến nàng bừng tỉnh, hình bóng gia gia cũng biến mất, nàng tra kiếm vào bao, nhẹ nhàng choàng tấm áo cho Trương Đan Phong.
Trương Đan Phong cục cựa, đột nhiên vươn vai, cười rồi đứng dậy nói: “Ồ tiểu huynh đệ, đệ tỉnh rồi ư! Sao không ngủ thêm nữa?” Vân Lối cắn môi, sắc mặt tái nhợt, Trương Đan Phong nhìn nàng chăm chú, ánh mắt dịu dàng nhưng đầy xót xa, Vân Lối xúc động đến nỗi suýt nữa thì bật khóc, nàng quay mặt đi mà không dám nhìn Trương Đan Phong. Trương Đan Phong thở dài, khi nhìn xuống núi thì chỉ thấy có mấy chục Ngự lâm quân và Cẩm y vệ đang lần dò lên núi.
Họ đối phó với bọn này thì dư sức, nhưng làm sao vượt khỏi vòng vây ở phía bên dưới? Trương Đan Phong chỉ đành bó tay, lúc này kẻ địch đã đến lưng chừng núi, Trương Đan Phong kéo Vân Lối nấp vào sau tảng đá lớn.
Quan quân càng lúc càng gần, chợt nghe Trương Phong Phủ kêu lớn: “Ra đây, ra đây, ta đã thấy các người, ta muốn nói chuyện với các người”. Trương Đan Phong giật mình, Trương Phong Phủ không hổ là Kinh sư đệ nhất cao thủ, không ngờ y đã quay trở lại nhanh như thế, y đã đích thân dắt người bao vây, họ không còn hy vọng trốn thoát nữa!
Trương Phong Phủ vung thanh miến đao, lớn giọng nói: “Lẩn trốn như thế đâu có phải là hảo hán?” nói chưa xong thì chỉ thấy trên núi có một bóng người hiện ra, Trương Đan Phong nhảy vọt ra khỏi tảng đá, rút kiếm cười lớn: “Trương đại nhân võ công trùm đời, suất lãnh thiên quân vạn mã tấn công núi này, quả thực cũng là bậc hảo hán!”
Trương Phong Phủ đỏ mặt, nói: “Ngươi không cần nói khích ta, dưới chân núi tuy có rất nhiều quân mã, nhưng các ngươi chỉ cần vượt qua một mình Trương mỗ này!” Trương Đan Phong vung kiếm, cười nói: “Hay lắm, hay lắm, vậy xin mời hãy xuất chiêu!” Trương Phong Phủ nhìn họ rồi chợt nói: “Ta thấy các người không phải là nhân vật ở hắc đạo, nhưng có quan hệ thế nào với Chấn Tam Giới?” Trương Đan Phong nói: “Ngươi không cầ biết điều này, đừng nói vớ vẩn nữa, chúng ta hãy cứ đánh nhau vài trăm chiêu, nếu không thắng được ta thì thế nào?” Trương Đan Phong thầm nhủ: “Luận về công lực, mình không bằng y, nhưng luận về kiếm thuật thì mình hơn y nhiều, trong vòng vài trăm chiêu chỉ e sẽ ngang tài ngang sức”. Chàng biết Trương Phong Phủ la đệ nhất cao thủ ở kinh sư, là kẻ rất tự phụ cho nên mới nói khích y”.
Trương Phong Phủ liếc nhìn hai người rồi cười nói: “Không cần phải đánh tay đôi, cứ xông lên cả hai!” Trương Đan Phong lạnh lùng nói: “Vậy kinh sư tam đại cao thủ giờ đây chỉ còn lại hai người!” ý muốn nói, nếu y dám lấy một chống hai thì chắc chắn sẽ thua to. Trương Phong Phủ cười rằng: “Điều đó thì chưa chắc! Ta đã từng lãnh giáo võ công của hai người, nếu đơn đả độc đấu ngươi có thể tiếp vài ba trăm chiêu, ta không mắc lừa ngươi đâu”. Trương Đan Phong ngạc nhiên, nghĩ bụng: “Kẻ này quả thật lợi hại, có thể biết người biết ta, giống hệt như mình”. Rồi liền nói: “Vậy thì không cần phải đánh nhau đến vài trăm chiêu, chúng ta cứ lấy một chọi một, tùy ngươi quyết định”. Chỉ nghe Trương Phong Phủ tiếp tục nói: “Người bằng hữu của ngươi có thể tiếp được một trăm chiêu của ta. Thế nàyvậy, bọn ngươi cứ xông cả lên, trong vòng ba mươi chiêu nếu các có thể thắng được thì ta sẽ đề cử cho hai ngươi trở thành võ chiến sĩ khoa năm nay, không cần phải thi thố”. Trương Đan Phong cười lớn nói: “Hai chúng ta muốn thắng được ngươi thì dễ như trở bàn tay, không cần phải năm mươi chiêu, trong vòng năm chiêu nếu bọn ta không thể thắng được thì tùy ngươi giải quyết. Nếu trong vòng năm chiêu mà thắng được, bọn ta cũng không cần trở thành trạng nguyên hay tiến sĩ, chúng ta ngày sau sẽ gặp lại!” ý chàng muốn nói là trong vòng năm chiêu giả sử mình thắng thì Trương Phong Phủ phải để mặc cho họ bỏ chạy.
Nhưng tại sao Trương Phong Phủ lại nhất định phải đấu với hai người? Té ra đêm qua Trương Phong Phủ không đuổi theo kịp Tất Đạo Phàm, đến khi trở về thì thấy hai người Phàn Trung, Quán Trọng đều đã bị thương, hỏi cớ sự mới biết Trương Đan Phong và Vân Lối liên thủ với nhau thì uy lực tăng lên rất nhiều, Trương Phong Phủ nghe xong thì rất kinh ngạc, nhủ thầm: “Trong hai người, thư sinh Bạch Mã võ công cao cường, nhưng chỉ hơi nhỉnh hơn Phàn Trung và Quán Trọng, đến khi liên thủ thì trong vòng vài mươi chiêu có thể đánh bại được cả hai người Phàn Trung và Quán Trọng cũng không có điều gì là lạ, nhưng đâu có lẽ nào chỉ thắng trong vòng một hai chiêu?” Trương Phong Phủ vốn là một danh gia võ thuật, bình sinh rất thích võ, nghe nói có võ công gì kỳ lạ thì đều muốn biết cho bằng được, cho nên khác hẳn với những Cẩm y vệ bình thường.
Trương Phong Phủ thầm nghĩ, không lẽ nào mình có thể thua trong vòng năm mươi chiêu, đến khi nghe Trương Đan Phong nói chỉ cần năm chiêu thì không khỏi cười rộ, thanh miến đao chém vút vào trong không trung, cao giọng nói: “Hay lắm, đây là chiêu thứ nhất, tiếp đao!”, vừa mới ra tay đã dùng những chiêu số nhanh như điện chớp tấn công hai người.
Vân Lối ngồi dựa vào vách đá thẩn thờ, nói ra thì muộn, nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ thấy đao quang của Trương Phong Phủ loang loáng lướt tới trước mặt. Trương Đan Phong cả kinh kêu lớn: “Tiểu huynh đệ, hãy mau xuất chiêu!” Vừa nói thì đã vung kiếm ra, quét thẳng một chiêu Lan Gian Tiệt Đấu tới trước mặt Vân Lối, gạt thanh miến đao của Trương Phong Phủ ra. Chiêu đao này của Trương Phong Phủ vốn tấn công cả hai người, đao kiếm chạm nhau nghe keng một tiếng, mũi đao lệch về phía trước, vẫn còn đà nên chém thẳng vào mặt Vân Lối, Vân Lối lúc này mới xuất chiêu chống lại, mũi kiếm cuộn lên gạt thanh miến đao của Trương Phong Phủ ra ngoài. Người cũng bất đồ thối lui mấy bước lảo đảo như muốn ngã. Đó là nhờ Trương Đan Phong giúp nàng chặn trước, nếu không kiếm của Vân Lối đã bị y đánh rơi.
Trương Phong Phủ cười ha hả rồi nói: “Té ra song kiếm hợp bích chẳng qua chỉ có thế! Cẩn thận, tiếp đao! Chiêu thứ hai của ta là Bát Phương Phong Vũ, cả hai ngươi đều phải xuất kiếm, đừng trách ta không cho ngươi biết!” Vân Lối rầu rĩ, ánh mắt thất thần, Trương Đan Phong lo lắng thì thầm: “Huynh đệ, đệ tuy hận ta, cũng phải đánh lui gã này trước giữ lại tánh mạng, lúc đó đệ mới có thể trả thù! Huynh đệ ngốc!” nói ra thì chậm nhưng sự việc lúc đó diễn ra rất nhanh, ánh đao của Trương Phong Phủ loang loáng trong không trung tựa như hàng ngàn giọt mưa bạc tuôn xuống, đây chính là chiêu tinh hoa trong Ngũ Hổ Đoạn Môn đao, cho nên càng lợi hại hơn chiêu lúc nãy nhiều! Vân Lối cảm động lắm, nước mắt tuôn trào, nàng đâm thanh kiếm về phía trước, chỉ trong chớp mắt luồng đao quang như mưa tuôn ấy đã bị thu nhỏ trở lại, Trương Phong Phủ thu chiêu kêu lên: “Hay lắm! Quả nhiên là có chút lý lẽ! Tiếp thêm một chiêu nữa”. Nhưng y đã không dám nói trước chiêu này.
Trương Đan Phong mỉm cười, nói: “Tiểu huynh đệ, hãy ra tay nhanh hơn!” Trương Phong Phủ tiến tới một bước, thanh miến đao đẩy tới, rồi chém sang hai bên, chiêu này tên là Phân Hoa Chỉ Liễu, trong nhu có cương, là chiêu nửa thủ nửa công. Trương Đan Phong cười lớn, ra tay nhanh như điện, Vân Lối cũng vung kiếm đâm ra, Trương Phong Phủ chưa kịp xuất chiêu đã bị hai kiếm chặn lại, không khỏi cả kinh, vội vàng đổi thế công làm thế thủ, rút thanh miến đao trở về, hai người Trương Vân đầu cảm thấy mũi kiếm như bị một nguồn lực hút lấy, tuy trong chớp mắt suýt hóa giải được luồng kình lực âm nhu của y, nhưng Trương Phong Phủ đã thoát hiểm, loạng chọang phóng ra hơn một trượng, miệng thở phì phò.
Trương Đan Phong thầm khen, người này quả nhiên không hổ là Kinh sư đệ nhất cao thủ, chỉ thấy Trương Phong Phủ giơ ngang ở trước đao, giữ kỹ môn hộ, hai mắt trợn trừng tựa như rất kinh ngạc. Trương Đan Phong nhíu mày, nghĩ bụng: “Kẻ này quả nhiên là tay già dặn trên giang hồ, y toàn dùng thế thủ, mình chỉ còn một chiêu, chiêu này chưa chắc có thể đánh bại được y!” Trương Phong Phủ dùng đao pháp thượng thừa hộ toàn thân, lòng hơi trấn tĩnh lại rồi cao giọng nói: “Ta đã đánh trước ba chiêu, còn một chiêu cũng nên để cho các người đánh trước! Nào, đến đây!” Trương Đan Phong liếc nhìn Vân Lối, chỉ thấy nàng đang nhìn thẳng vào kẻ địch, Trương Đan Phong hú dài một tiếng, hai người đồng thời nhảy vọt lên, hai kiếm cùng đâm ra, hai luồng ngân quang từ trên không đâm xuống, Trương Phong Phủ hạ thấp người, quét ngang đao lên phía trên, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ thấy hai kiếm hạ xuống, hai luồng ngân hồng giao nhau, đột nhiên mở rộng ra bên ngoài.
Trương Phong Phủ lộn người, đao quang xoay một vòng, đột nhiên y bật người dậy, Trương Đan Phong không ngờ rằng y có thể thoát ra vòng kiếm này, thầm kêu lên: “Không xong!” Chỉ e một đòn đánh không trúng, lại bị y tránh được, như thế đã đủ bốn chiêu, mình đương nhiên chỉ đành nhận thua. Trương Đan Phong đẩy kiếm về phía trước, chiêu số nay đã hết, đang lo lắng trong lòng chợt thấy Vân Lối sau khi hơi đẩy kiếm ra, kiếm thế vẫn chưa hết, mũi kiếm đã chạm vào gót chân của Trương Phong Phủ, chỉ trong chớp mắt đã đánh ngã y!
Trương Đan Phong vừa kinh hãi vừa vui mừng, trong lòng thầm ngạc nhiên, theo công phu của Trương Phong Phủ, cú vọt này chỉ cần hơi nhanh một chút, mũi kiếm của Vân Lối đã không chạm trúng gót chân của y, không biết tại sao hình như y không muốn dốc hết sức mình.
Chỉ thấy Trương Phong Phủ từ dưới đất vọt lên, cười khổ rồi xua tay nói: “Song kiếm hợp bích quả nhiên thần kỳ! Các người hãy đi đi”. Quán Trọng đứng một bên nói: “Đại ca, thả bọn chúng đi dễ dàng như thế sao?” Trương Phong Phủ nói: “Quân tử nói một lời thì xe bốn ngựa khó đuổi, hãy thả bọn chúng đi!” Quán Trọng lắp bắp định nói thêm, Trương Phong Phủ đã nói: “Họ chẳng phải là nhân vật hắc đạo, thả bọn chúng cũng chẳng bị trách tội, cần gì phải lập thêm công này!” Quán Trọng đỏ mặt, nói: “Nếu đại ca đã nói như thế, đệ cũng đành chịu”. Trương Phong Phủ hạ lệnh để cho hai người Trương Vân xuống núi an toàn, không được ngăn cản.
Trương Đan Phong thi lễ, Trương Phong Phủ nói: “Chúng ta hai lần giao thủ, vẫn chưa biết họ tên của ngươi, ngươi rốt cuộc từ nơi nào đến?” Trương Đan Phong ngáp dài một tiếng rồi nói: “Lão tử của ngươi họ Trương, lão tử của ta cũng họ Trương. Trương này tuy không giống Trương kia, nhưng năm trăm năm trước là một nhà. Ta gọi ngươi một tiếng đại ca, nay tiểu đệ đã mệt, ở đây người đông ồn ào ngủ không ngon, xin thứ không thể chìu!” Trương Đan Phong vừa ngạo mạng vừa hoạt kê, Quán Trọng tức đến nỗi mặt biến sắc, Trương Phong Phủ thì lại thản nhiên cười lớn rằng: “Vừa cuồng vừa hiệp, có một huynh đệ đồng tông như thế cũng tốt, được, ngươi đi đi!” Trương Đan Phong lớn giọng nói: “Non xanh còn đó, nước biếc còn đây, ngày sau sẽ gặp lại, ta đi đây!” Rồi kéo Vân Lối bước xuống núi.
Trên suốt quãng đường Vân Lối không lên tiếng, đi được khoảng năm sáu dặm thì thấy phía trước có một ngã ba, Trương Đan Phong ngáp dài một cái rồi nói: “Tiểu huynh đệ, chúng ta hãy tìm một nơi nghỉ chân! Con đường ở giữa đi đến Chính Định, con đường bên trái đi đến Lê Thành, chúng ta hãy đến Chính Định thôi”. Vân Lối phất ống tay áo, lạnh lùng nói: “Ngươi đi đường ngươi, ta đi đường ta!” Trương Đan Phong ngạc nhiên: “Đệ vẫn còn giận ta sao?” Vân Lối tránh ánh mắt của chàng, nghiêm mặt nói: “Đa tạ ngươi đã nhiều lần cứu ta, nhưng mối thù giữa hai nhà chúng ta không thể giải. Hỡi ơi, gia gia ta đã chết cho nên không thể nào khuyên giải người hồi tâm chuyển ý. Con cháu làm sao dám cãi lại lời của ông cha? Số mệnh đã định như thế...” Trương Đan Phong nói: “Ta không tin”. Vân Lối nói: “Không tin thì thế nào?... Được, ngươi cứ đi đi, ngươi đi về hướng đông, ta sẽ đi về hướng tây!” Trương Đan Phong buồn bã nói: “Nếu đệ phải báo thù, tại sao không xuống tay cho mau?” Vân Lối đỏ mặt, bước vào con đường ở giữa, rồi cắm đầu chạy thẳng.
Chính là:
Bóng đêm huyết thư vẫn còn đó, ân thù làm sao giải quyết đây.
Muốn biết chuyện sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 11
Bán dạ tập Phiên vương kỳ tình điệp kiến
Trung đồ lai quái khách dị sự nan sai
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:37 pm

Hồi 11
Bán dạ tập Phiên vương kỳ tình điệp kiến
Trung đồ lai quái khách dị sự nan sai


Vân Lối cứ chạy về phía trước, chỉ nghe phía sau có tiếng thở dài, Trương Đan Phong nói: “Gặp đệ thì khiến cho đệ đau lòng, không gặp đệ thì ta lại đau lòng. Ôi, đệ đau lòng chi bằng ta đau lòng. Tiểu huynh đệ, đệ hãy bảo trọng, hãy đi đi, đi đi!” Vân Lối chua xót trong lòng, cố nén nước mắt không quay đầu lại. Chỉ nghe lời thơ tan trong gió: “Tương kiến chi bằng đừng gặp, có tình tựa như vô tình”. Vân Lối đã mười bảy tuổi, chưa bao giờ nghĩ đến tình yêu trai gái, nghe lời thơ ấy thì mặt đỏ bừng, nàng ngẫm nghĩ hai câu thơ rồi thầm nhủ: “Chả lẽ mình đã rơi vào lưới tình?” Đột nhiên lòng chợt xao xuyến, mặt đỏ bừng. Nàng vẫn cắm cúi bước đi, trong chớp mắt đã đi được mười mấy trượng, khi quay đầu lại thì Trương Đan Phong đã biến mất.
Đi đến Chính Định thì mặt trời vẫn chưa xuống núi, Vân Lối thuê một phòng ở một khách sạn lớn nhất, nàng đóng cửa lại rồi ngủ khì. Không biết ngủ được bao lâu thì chợt nghe tiếng thanh loa leng keng, có người quát lớn, chủ khách sạn đến gõ từng phòng kêu lên: “Tiểu điếm đã bị quan quân trưng dụng, xin mời quý khách hãy đến nơi khác, tiền khách sạn không cần phải trả lại, chuyện này bất đắc dĩ mong quý khách thông cảm”.
Cuối cùng mới đến gõ phòng Vân Lối, Vân Lối đã chuẩn bị hành trang, bước ra mở cửa nói với tên tiểu nhị: “Ngươi không cần nói, ta đi đây”. Tên tiểu nhị nói: “Khách quan cứ ở lại đây”. Thế rồi nhìn Vân Lối dò xét, Vân Lối ngạc nhiên nói: “Ngươi nhìn cái gì?” Tiểu nhị đóng cửa phòng lại, thì thầm nói: “Khách quan có biết tại sao quan gia lại trưng dụng khách sạn này không?” Vân Lối nói: “Tiếng người ồn ào, ta nghe không rõ”. Tên tiểu nhị nói: “Nghe nói là tiếp đãi sứ thần Mông Cổ, Thánh thượng phái Thống lĩnh Ngự lâm quân đích thân hộ tống. Giờ Ngọ hôm nay, tất cả các khách sạn ở Chính Đình đều nhận được thông báo của nha môn, hễ có người lạ đáng nghi ngờ vào ở thì phải báo cho công sai biết. Cho nên tôi sợ khách quan đến nơi khác sẽ gặp phiền toái”. Vân Lối cười nói: “Vậy tại sao các người lại giữ ta? Ta không đáng ngờ ư?” Tiểu nhị đột nhiên nói: “Họ thật của khách quan có phải là một chữ Vân không?” Khi Vân Lối vào đây đã báo tên họ giả, nghe thế thì giật mình, chụp lấy mạch môn của tên tiểu nhị, thì thầm quát: “Ngươi là ai?” Tên tiểu nhị nói: “Khách quan đừng lo, đều là người nhà cả. Nếu khách quan không tin thì hãy xem một vật, khách quan sẽ biết ngay”. Vân Lối nghĩ bụng: “Nếu mình đã bị lộ, sớm muộn gì cũng phải động thủ, không thả y ra cũng chẳng ích gì”. Thế rồi buông tay cho tên tiểu nhị bước ra ngoài.
Một lát sau tên tiểu nhị và chủ khách sạn cùng bước vào, chủ khách sạn lấy ra một cái túi nhỏ, đưa cho Vân Lối nói: “Vân công tử, đây là tín vật vị khách quan kia đã để lại cho công tử”. Vân Lối nhẹ nhàng mở ra, chỉ thấy bên trong là một cây san hô, có cả thẩy chín nhánh, Vân Lối vừa nhìn thì bất giác sững người ra. Cây san hô này chính là sính lễ mà nàng đã tặng cho Thạch Thúy Phượng, không khỏi lạc giọng hỏi: “Nàng đã đến, nàng ở đâu?” Chủ khách sạn nói: “Đêm qua Thạch cô nương đã đến đây, đã tả kỹ tướng mạo của Vân công tử, bảo chúng tôi để ý, Vân công tử quả nhiên đã đến khách sạn nhỏ này, thật trùng hợp!”
Vân Lối lúc này cảm thấy giở khóc giở cười, bởi vì nàng không thể nào thoát khỏi tấm tình si của Thạch Thúy Phượng, nàng bất giác thầm kêu khổ. Chủ khách sạn nói: “Thật không dám giấu, khách sạn nhỏ này là sản nghiệp của Hải Dương bang, dùng để tiếp đãi các nhân vật trên giang hồ, Oanh Thiên Lôi Thạch lão tiền bối là chỗ quen biết của chúng tôi. Thạch cô nương đêm qua đã vội vàng bỏ đi, để lại một nhánh san hô, mời công tử sáng sớm ngày mai nhất định phải đến Thanh Long Hiệp tìm nàng! Đến lúc đó sẽ có người dẫn đường”. Vân Lối chỉ gật đầu, nói: “Vậy, đêm nay ta sẽ ở đâu?” “Công tử là người nhà, chúng tôi sẽ sắp xếp phòng riêng cho công tử”. Vân Lối cả mừng nói: “Hay lắm, hay lắm! Ta phải xem uy phong của sứ thần Mông Cổ như thế nào”.
Vân Lối ăn cơm tối xong, lại lên giường nằm dưỡng thần, chỉ nghe bên ngoài tiếng vó ngựa lọc cọc, người trong khách sạn đều chạy ra đón rước, Vân Lối không dám lộ mặt chỉ đứng trong cửa nhìn ra, chỉ thấy bốn quân quan đưa bảy tám người Mông Cổ vào khách sạn. Vân Lối vừa nhìnt thì đã nhận ra sứ thần ấy chính là tên Phiên vương đã từng đến đánh lén sơn trại của Châu Kiện, cũng đã từng giao thủ với mình.
Đây là khách sạn lớn nhất trong thành, phòng ốc rất nhiều, bốn tên Ngự lâm quân đến từng phòng xem xét kỹ càng, lại hỏi chủ khách sạn: “Có kẻ nào đáng nghi không?” Lão chủ khách sạn trả lời: “Đại nhân xem xét, quán nhỏ may mắn được trưng dụng nào dám để lại những kẻ đáng ngờ?” Tên quân quan toan vào phòng xem xét, Phiên vương Mông Cổ ấy cười lớn nói: “Thống lĩnh đừng quá cẩn thận như thế, Trung Quốc tuy lớn, nhưng e rằng không có ai đối địch nổi với chúng tôi! Nếu có người ám toán thì y chắc chắn sẽ tự tìm đường chết, không cần các vị giúp đỡ, chỉ cần phụ trách chôn xác là được”. Bốn tên Ngự lâm quân cúi người nói: “Vâng, vâng! Võ sĩ của quý quốc thiên hạ vô địch, bị chức đã quá cẩn thận”. Vân Lối rất tức giận, thầm nghĩ trong lòng: “Đợi một lát nữa, ta sẽ cho các ngươi biết lợi hại!”
Thế rồi ai về phòng nấy, chỉ có hai võ sĩ Mông Cổ và hai quân quan luân phiên trực đêm. Vân Lối thay đồ dạ hành, khi đến canh ba nàng lặng lẽ mở cửa sổ nhảy ra, phóng lên mái nhà, trong tay nắm sẵn Mai Hoa Hồ Điệp tiêu, chỉ cần hai võ sĩ Mông Cổ quay lưng về phía mình thì nàng sẽ phóng tiêu ra. Đột nhiên trên mái nhà có một bóng trắng xẹt lên, Vân Lối thất kinh khi quay đầu nhìn lại thì bóng người ấy đã lướt tới. Người này che mặt bằng vải đen, nhưng lại mặc bộ đồ trắng, cho nên trong đêm tối rất bắt mắt. Vân Lối nhớ lại đêm ấy Trương Đan Phong đột nhập vào Hắc Thạch trang cũng ăn mặc như thế này, cho nên tim nàng đập thình thình, vội vàng vẫy tay, người che mặt ấy quay lại, hai tay chỉ ra ngoài, tựa như bảo nàng hãy chạy cho mau! Vân Lối chưa nhìn kỹ thì người ấy đã nhảy xuống, chỉ nghe hai tiếng kêu thảm, người che mặt ra tay nhanh như điện chớp, trong khoảnh khắc đã đánh chết một lúc hai võ sĩ Mông Cổ. Vân Lối thầm khen: “Hay cho thủ pháp Đại Lực Kim Cương trảo! Hình như mình chưa thấy Trương Đan Phong dùng thủ pháp này? Rốt cuộc là chàng hay là ai?”
Khi Vân Lối đang suy đoán, hai viên Ngự lâm quân trực đêm ở bên trong nghe thế thì nhảy vọt ra, người che mặt không nói một lời đã vung hai tay ra điểm vào huyệt Nhuyễn Ma ở be sườn của hai tên Ngự lâm quân. Người ở bên trái ngã ngay xuống đất, còn người ở bên phía thì võ công không kém, đánh ra một chiêu Thủ Huy Tỳ Bà rồi né tránh sang một bên. Người che mặt hạ giọng quát: “Là con cháu của vim hoàng, sao phải bán mạng cho người Hồ!” Giọng nói rất nhỏ, Vân Lối ở bên ngoài nghe không rõ ràng, nàng chỉ ngạc nhiên tại sao người này lại dùng thủ pháp điểm huyệt chứ không dùng Đại Lực Kim Cương thủ nữa!
Chỉ thấy người che mặt thay đổi thủ pháp, viên quân quan ấy đột nhiên thối lui, người che mặt xông vào trong phòng, đó chính là căn phòng của Phiên vương Mông Cổ, y chưa kịp chạy tới thì cửa phòng đột nhiên bật ra. Chỉ nghe bên trong có tiếng cười ha hả, một bóng người xẹt ra, một luồng kình phong dồn ra theo, người che mặt đành thối lui ba bước, Vân Lối định thần nhìn kỹ lại thì té ra đó là Đàm Đài Diệt Minh. Y đã vào Trung thổ, không hiểu tại sao giờ đây lại đi chung với sứ thần Mông Cổ. Người che mặt tiến lên trở lại, chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh xoay người, vung tay ra người che mặt lại ngã xuống đất, nhưng y mau chóng vọt lên. Vân Lối không khỏi kêu lên: “Chạy mau!” rồi phóng ba mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu về phía Đàm Đài Diệt Minh. Đàm Đài Diệt Minh vung ống tay áo phất nhẹ, ba mảnh phi tiêu rơi xuống đất, người che mặt ấy lại nhảy bổ lên, Đàm Đài Diệt Minh vung chưởng ra, bốn chưởng chạm vào nhau, chỉ thấy người che mặt loạng chọang thối lui mấy bước nhưng không ngã xuống. Đàm Đài Diệt Minh khen rằng: “Có thể tiếp được một chưởng của ta coi như cũng là hảo hán!” Sau ba lần giao phong, người che mặt ấy đều thua thiệt, tựa như đã biết mình không phải là đối thủ của Đàm Đài Diệt Minh cho nên xoay người phóng lên vách tường, khi tung mình lên, tên quân quan đi ở phía trước đang ở gần, đột nhiên rút ra một cây roi mềm, phất lên phía trên. Vân Lối cả giận, lại phóng ra thêm mấy mảnh Hồ Điệp tiêu nữa, tên quân quan ấy không có bản lĩnh như Đàm Đài Diệt Minh, cổ tay bị trúng tiêu, lập tức choáng váng đánh rơi cây roi xuống đất, người che mặt nhảy lên bức tường rồi hạ giọng nói: “Xin đa tạ!” rồi phóng vọt đi. Vân Lối ngẩn người ra, hình như bóng dáng ấy, âm thanh ấy, nàng đã từng thấy qua, nhưng không giống như Trương Đan Phong!
Vân Lối đứng ngẩn người ra, vài võ sĩ Mông Cổ và Ngự lâm quân đã phóng vọt ra, Vân Lối nhìn lại thì chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh đang quay về phía mình mỉm cười! Vân Lối thất kinh, chỉ nghe mấy tên võ sĩ ấy nhao nhao hỏi: “Kẻ địch đâu?” Đàm Đài Diệt Minh đột nhiên xoay người nói: “Vây đảng của kẻ địch rất nhiểu, để lại hai người bảo vệ cho vương gia, người còn lại theo ta truy đuổi!” Điều này quả thật khiến cho Vân Lối bất ngờ, Đàm Đài Diệt Minh rõ ràng đã phát hiện ra mình, tại sao lại dụ cho đồng bọn đi xa? Nàng suy nghĩ mãi mà không hiểu. Lúc này bên trong khách sạn đã rối loạn, Vân Lối len lén bước ra, chỉ thấy tên tiểu nhị đứng ở một góc tối, vẫy tay với nàng. Vân Lối bước tới, tên tiểu nhị nói: “Hãy mau theo tôi, nhân lúc rối loạn mà bỏ chạy”. Vân Lối lại theo y ra cánh cửa ngầm ở phía sau, may mà không ai phát hiện. Cửa thành vẫn chưa đóng, tiểu nhị dẫn nàng đến một ngọn đồi ở ngoài thành rồi nói: “Đến canh năm sẽ có người đến rước”. Vân Lối thở phào, nói: “Thật nguy hiểm!” dưới ánh trăng, chỉ thấy tên tiểu nhị ấy nở nụ cười bí hiểm, nói: “Thạch cô nương bảo Vân công tử đem cây san hô đến gặp nàng, công tử có cất chưa?”
Vân Lối đang lo lắng, nghĩ bụng: “Đúng là sóng trước chưa hết lại đến sóng sau”. Thế rồi bực bội trả lời: “Biết rồi!” Tên tiểu nhị thấy nàng biến sắc, không dám mỉm cười nữa, hơn nửa canh giờ sau, hai thớt ngựa phóng tới, nhưng chỉ có một người cỡi, đến khi ngựa chạy tới gần thì mới biết đó là Hỏa Thần Đạn Hắc Bảo Xuân.
Hỏa Thần Đạn là người nghi ngờ Trương Đan Phong nhiều nhất, Vân Lối đối với y cũng chẳng có thiện cảm gì, nhưng giờ đây gặp lại thì cảm thấy vui mừng. Hắc Bảo Xuân ôm quyền thi lễ hỏi: “Công tử cũng thoát được? Vậy tên tiểu tặc bạch mã ấy ở đâu? Có phải hôm đó y đã dẫn quan quân đến hay không?” Vân Lối lạnh lùng nói: “Y đã liều mạng cứu Tất lão anh hùng, Tất tiền bối không nói cho ngài biết sao?” Hắc Bảo Xuân ngạc nhiên, nói: “Thật sự có chuyện này ư? Tôi vẫn chưa gặp Tất lão anh hùng, Thạch cô nương bảo tôi đến đón công tử, rồi lập tức đi tìm ông ta”. Vân Lối nói: “Tất lão anh hùng giờ đây đang ở đâu?” Hắc Bảo Xuân nói: “Nghe Thạch cô nương nói, sau khi Tất lão anh hùng thoát hiểm thì cả nhà đã đến lánh nạn ở Thanh Châu, cách đây không đầy mười dặm đường. Ồ, trời đã hửng sáng, chúng ta hãy mau lên đường!”
Hắc Bảo Xuân mời Vân Lối lên ngựa, còn mình đi trước dẫn đường, ngựa chạy rất nhanh, đến khi trời sáng thì đã đến một sơn cốc, Hắc Bảo Xuân nói: “Đây chính là Thanh Long Hiệp” rồi y hú dài ba tiếng, chỉ nghe bên trong có người lên tiếng trả lời, Hắc Bảo Xuân nói: “Thạch cô nương đã chờ ở bên trong, công tử hãy vào trước, tôi còn phải đi gặp Chấn Tam Giới Tất lão anh hùng”.
Vân Lối xuống ngựa vào núi, trong khoảnh khắc, ở trên núi xuất hiện một người, đó chính là Thạch Thúy Phượng. Chỉ thấy nàng mặt đầy nước mắt chạy tới, ôm Vân Lối nói: “Chúng ta lại gặp nhau!” Vân Lối nhẹ nhàng đỡ nàng ngồi xuống, cười rằng: “Cô nương hẹn tôi gặp mặt sớm như thế này, chắc là có chuyện muốn nói”. Thạch Thúy Phượng hơi giận dỗi, liếc mắt rồi nói: “Nhờ trời phù hộ, chúng ta may mắn gặp lại, nhưng Châu đại ca, Châu đại ca... Vân Lối kinh ngạc hỏi: “Châu đại ca như thế nào?” Thạch Thúy Phượng chợt nói: “Muội đã trách nhầm nghĩa huynh của huynh, Châu đại ca thật sự là một người tốt!” Vân Lối vội vàng nói: “Nói mau, Châu đại ca như thế nào?” Thạch Thúy Phượng nói: “Hôm ấy huynh bị bao vây, chúng tôi muốn đến cứu nhưng bị chặn lại. Sau đó Trương Phong Phủ không đuổi kịp Tất Đạo Phàm cho nên chặn muội và Châu đại ca. Hai chúng tôi không phải là đối thủ của y, sau mười chiêu thì bị y đánh ngã xuống ngựa, lẽ ra cũng bị y bắt, nhưng Châu đại ca đã nhảy xuống ngựa, ôm lấy chân Trương Phong Phủ không cho y tiến tới, Trương Phong Phủ đánh Châu đại ca ngất xỉu, đưa Châu đại ca lên lưng ngựa rồi trở về trị thương, không thèm truy đuổi muội nữa”.
Giữa Vân Lối và Châu Sơn Dân tuy có chuyện không vui nhưng tình như ruột thịt, nàng nghe như thế thì lo lắng nói: “Chúng ta phải tìm cách cứu y mới được”. Thạch Thúy Phượng nói: “Muội hẹn huynh ra đây là muốn tìm cách cứu Châu đại ca! À, còn có một chuyện lạ nữa. Sau khi muội thoát hiểm, hôm trước khi nghỉ lại Gia huyện, lúc nửa đêm chợt bị một người bịt mặt phóng vào, dụ muội ra ngoại ô, võ công của y cao hơn muội, nhưng y không làm tổn thương muội. Khi ra đến ngoại ô thì liền bỏ đi. Muội rất thắc mắc, đến sáng hôm sau thì mới biết đêm ấy trong thành Gia huyện, quan sai và bổ khoái nửa đêm đã tra xét các khách sạn, thẩm vấn người đi đường, nghe nói sắp đón khách quý gì đó, cho nên đã đề phòng trước. Người ấy dụ muội ra khỏi khách sạn, chắc là đã biết trước chuyện này”. Vân Lối càng ngạc nhiên hơn, lẩm bẩm nói: “Người che mặt, người che mặt? Dáng dấp của y có giống thư sinh bạch mã đã từng lẻn vào nhà của muội hay không?”
Thạch Thúy Phượng nói: “Trong đêm tối muội không thấy rõ lắm. Hơn nữa muội cũng không liên tưởng đến thư sinh bạch mã cho nên không thể so sánh được”. Vân Lối bất giác đỏ mặt, nói rằng: “Ta biết bọn họ đang đón một nhóm người Mông Cổ. Vì Gia huyện là một thành lớn cho nên phải tra xét khách sạn trước một ngày”. Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên nói: “Sao huynh biết?” Vân Lối nói: “Đêm qua ta cũng thấy người che mặt đó. Sau này ta sẽ kể cho muội nghe, muội hãy nói những điều muội biết trước”. Thạch Thúy Phượng nói: “Đêm qua muội đã gặp một người bằng hữu của cha, biết Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm đã thoát hiểm, muội liền đi tìm ông ta, ai ngờ ông ta cũng gặp một người che mặt, người che mặt này còn trao cho ông ta một bức thư. Tất Đạo Phàm nói người này trông giống như Trương Đan Phong thứ hai, nhưng không biết có phải là y hay không. Tất Đạo Phàm vừa đến nhà họ Lam, người che mặt đó đã xuất hiện rồi để lại thư, Tất Đạo Phàm vì vừa mới thoát hiểm nên không đuổi theo y. Vân Lối hỏi: “Trong thư nói gì?” Thạch Thúy Phượng nói: “Người che mặt ấy bảo rằng, y biết sứ thần Ngõa Thích sắp đến Bắc Kinh, kẻ cầm đầu là một thân vương, chắc là đưa ra điều kiện gì đó với Minh triều, mối bang giao của Minh triều và Ngõa Thích tuy đã rạn nứt, nhưng Thiên tử Đại Minh vẫn cố gắng cứu vãn thế cuộc. Cho nên đã đón tiếp rất rầm rộ. Trong thư y còn nói rằng Châu đại ca đã lọt vào tay quan quân cho nên đề nghị chúng ta hãy mạo hiểm chặn đám người Mông Cổ ấy lại, nếu có thể bắt sống được tên Phiên vương thì càng có lợi hơn. một là có thể đem ra để trao đổi Châu đại ca, hai là có thể ngăn cản không để cho triều đình cúi đầu cầu hòa với Ngõa Thích. Trong thư còn nói, địa thế Thanh Long Hiệp là hiểm trở nhất, có thể phục kích ở nơi này, đến khi đó y sẽ giúp sức”. Vân Lối nói: “Tất lão anh hùng nghĩ thế nào?” Vân Lối nói: “Tất Đạo Phàm biết Châu đại ca bị bắt, cũng rất lo lắng trong lòng, nhưng nều truyền Lục Lâm tiễn kêu gọi anh hùng các nơi thì nước xa không cứu được lửa gần. Tất Đạo Phàm không nghĩ ra cách nào, cho nên cũng đành mạo hiểm một phen. Ông ta bảo chúng ta thay phiên canh giữ ở đây để đề phòng bất ngờ. Lát nữa ông ta sẽ dắt người đến đây”.
Vân Lối trầm ngâm không nói, nghĩ bụng tên Đàm Đài Diệt Minh ấy dũng mãnh vô cùng, e rằng không thể cướp người được. Chỉ nghe Thạch Thúy Phượng nói: “Tên tiểu nhị ấy có trao san hô cho huynh không?” Vân Lối nói: “Có”. Thạch Thúy Phượng nói: “Giờ đây vẫn còn sớm, muội muốn hỏi huynh một chuyện”. Vân Lối nói: “Chuyện gì?” Thạch Thúy Phượng nói: “Từ trước đến nay, huynh đối với muội như thế nào, muội cũng biết. Chúng ta tuy là mang danh phu thê, nhưng thực ra huynh có coi muội như thê tử hay không?” Vân Lối vội vàng nói: “Sao lúc này lại nói chuyện đó?” Thạch Thúy Phượng nói: “Muội đã suy nghĩ rất nhiều, cho nên không thể không hỏi cho rõ ràng”. Vân Lối cũng đành chịu, lúc ấy mặt trời đã ló dạng, nàng đoán sứ giả Mông Cổ sắp đến, cho nên không còn lòng dạ nào đôi co với Thạch Thúy Phượng, nàng đảo mắt một vòng rồi đột nhiên cười: “Phượng tỷ tỷ, tôi đã ý của tỷ tỷ. Tỷ tỷ bảo tên tiểu nhị trả san hô cho tôi có nghĩa là...” rồi nàng ra vẻ suy đoán, Thạch Thúy Phượng nói: “Có nghĩa là muốn hỏi rõ tâm ý của huynh, nếu huynh không thích tôi, vậy hãy giữ cây san hô này tặng cho người khác. Nếu huynh...” Vân Lối vội vàng cắt lời nàng: “Phượng tỷ tỷ, cây san hô này là sính lễ tôi tặng cho tỷ tỷ, làm sao có thể tặng cho người khác. Bây giờ tôi lại đích thân giao cho tỷ tỷ!” Thạch Thúy Phượng vui mừng, nhận lấy cây san hô, chỉ nghe Vân Lối chậm rãi nói: “Châu đại ca thật sự là người tốt, tôi không gạt tỷ tỷ”. Thạch Thúy Phượng ngạc nhiên, cúi đầu nhìn thì thấy trên cây san hô có khắc một chữ Châu, mặt biến sắc đang định lên tiếng, chợt nghe bên ngoài cửa cốc có tiếng ngựa hí dài, một hàngn tiến vào.
Vân Lối và Thạch Thúy Phượng nấp mình sau tảng đá, chỉ thấy có một nhóm quan binh đi mở đường, tên Phiên vương Mông Cổ và Đàm Đài Diệt Minh cưỡi ngựa đi sánh vai nhau bước vào trong sơn cốc. Thạch Thúy Phượng thì thầm: “Hỏng bét, bọn chúng đến sớm như thế này, còn Tất Đạo Phàm thì vẫn chưa thấy xuất hiện”. Tên Phiên vương ấy đang ngó nghiêng xung quanh, chợt nghe có người hát vang bài dân ca Mông Cổ. Ca rằng: “Ta là chim ưng trên thảo nguyên, đôi cánh của ta giang rộng cùng mây trời, bay qua núi cao sông dài, đêm ngủ không thành khắc lâm, bay ba tháng mà vẫn không thoát khỏi bàn tay của Đại Hãn!”
Người Mông Cổ hát bài dân ca này ca ngợi anh hùng Thành Cát Tư Hãn của họ, tên Phiên vương nghe xong thì rất vui mừng, không ngờ lại gặp người Mông Cổ ở đây. Lại nghe bài ca đầy tự hào của người Mông Cổ, thế là ngừng xe lại, cười nói với Đàm Đài Diệt Minh: “Chúng ta sẽ là những người lập lại oai phong của Đại Hãn”. Thế là sai người gọi người Mông Cổ ấy đến gặp. Chỉ nghe người ấy lại hát rằng: “Địa Hãn lật trời nghiêng đất, khi còn sống đã hưởng vinh danh, đến khi chết đi thì trở về với đất vàng, chẳng qua chỉ nằm trong một nấm mồ nhỏ”.
Y đã hát bài hát này bằng tiếng Mông Cổ, nhưng lời hát là của y soạn, tên Phiên vương nghe xong thì mặt biến sắc, đợi cho y đến gần rồi lập tức hỏi: “Có phải ngươi đến từ Mông Cổ không? Ta chưa bao giờ nghe nửa đoạn sau, ngươi học được ở đâu thế?” Người này đội mũ Mông Cổ, hai miếng da dê buông xuống, che hai bên mặt, chỉ để lộ mũi và đôi mắt sáng quắc có thần, đó là lối ăn mặc bình thường của người du mục Mông Cổ, nhưng ở đất Trung Nguyên thì trông rất kỳ lạ, người ấy cúi người đáp: “Là tôi soạn ra để hát cho người nghe”. Thế rồi lập tức tóm lấy tay tên Phiên vương ấy.
Đàm Đài Diệt Minh đã phòng bị trước, chỉ thấy y thúc chỏ qua, người ấy kéo tên Phiên vương lăn xuống đất, ngón tay vẫn nắm chắc không hề buông lỏng. Đàm Đài Diệt Minh ra tay nhanh như gió, y tung ra một cước đá vào be sườn của kẻ ấy, tay phải chụp xuống dưới, người ấy lăn xuống đất, né tránh cú đá của Đàm Đài Diệt Minh, Đàm Đài Diệt Minh vươn tay chụp vào đỉnh đầu y, tên Phiên vương ấy võ công cũng không tồi, nhân lúc này thì tay trái đánh ngược lại rồi thúc gối lên bụng của y. Người này buộc phải buông tay đứng bật dậy, tiếp của Đàm Đài Diệt Minh một chưởng, người tuy bị chấn động đến lảo đảo, nhưng vẫn lập tức đánh ra ba chưởng, đó là công phu ngoại gia Đại Lực Kim Cương thủ pháp!
Vân Lối kinh ngạc nói: “Chính là người che mặt này!” Tuy nàng không nhìn rõ, nhưng tựa như đã gặp qua, chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh từng bước dồn y thối lui. Chưởng phong của y đánh ra vù vù, mỗi chiêu đều hiểm hóc lạ thường, tuy bị thối lui nhưng không hề rối loạn. Vân Lối nói: “Kẻ này hình như không giống Trương Đan Phong, nhưng có thể chống đỡ được Đàm Đài Diệt Minh, võ công cũng chẳng kém gì Trương Đan Phong”. Rồi lại nghĩ: “Đàm Đài Diệt Minh đêm qua đã thả y chạy, tại sao ylúc này lại liều chết bảo vệ cho tên Phiên vương ấy?”
Đàm Đài Diệt Minh chiếm được thượng phong từng bước áp tới, bọn võ sĩ Mông Cổ cũng biết sự lợi hại của Đàm Đài Diệt Minh, cho nên không ai bước lên giúp, chỉ có hai Ngự lâm quân thì lại muốn lấy lòng Đàm Đài Diệt Minh cho nên phóng lên đánh lén, Đàm Đài Diệt Minh đột nhiên ngừng tay nói: “Tránh ra!” người ấy nhân lúc Đàm Đài Diệt Minh ngừng tay thì tóm hai tên quan quân ném xuống sơn cốc, rồi lao tới Đàm Đài Diệt Minh!
Đấu thêm mấy chiêu, Đàm Đài Diệt Minh quát lớn một tiếng, phóng người bổ ra một quyền, quyền ấy trúng vào vai của y, kẻ này bật ra xa đến hơn một trượng. Đàm Đài Diệt Minh ngừng tay cả cười, bọn võ sĩ Mông Cổ vây tới bắt sống y. Chợt có tiếng la hét vang lên, có mấy người xông tới, quan quân đi phía trước đại loạn, đó chính là bọn người Tất Đạo Phàm, Lam Thiên Thạch và Hắc Bảo Xuân xông tới, cho nên quan quân không thể chống nổi!
Đàm Đài Diệt Minh nhảy vọt ra phía trước, hai quyền đánh ra một chiêu Hoành Vân Đoạt Phong, Tất Đạo Phàm lướt qua một bên, điểm cây gậy giáng long vào huyệt Chương Môn của y, Đàm Đài Diệt Minh kêu lên: “Hay!” rồi đột nhiên lướt người qua tóm lấy cây gậy, Tất Đạo Phàm vừa điểm một gậy, suýt nữa đã bị y tóm lấy. May mà ông ta cũng là người già dặn, thi triển khinh công Thiên Cân Trụy, lập tức hai chân bấu chặt xuống đất, quét ngang cây gậy qua, hóa giải chiêu số ấy của Đàm Đài Diệt Minh, nhưng lúc này trong lòng cũng kinh hãi.
Lại nói người ấy trong lúc rối loạn, đã đánh ngã và tên Ngự lâm quân xông ra khỏi vòng vây. Vân Lối nhíu mày thầm nhủ: “Kẻ này đã có gan một mình đánh lén Phiên vương, tại sao khi có người đến giúp lại bỏ chạy?” Người ấy chạy nhanh như gió, lúc này y đang phóng về chỗ Vân Lối ẩn nấp, Vân Lối nhảy vọt ra, kêu lên: “Ngươi là ai?” Người ấy vỗ ra một chưởng. Vân Lối né tránh, rút thanh bảo kiếm nói: “Không giúp bằng hữu là đồ bất nghĩa, chúng ta hãy xông vào!” người ấy thấy Vân Lối rút cây Thanh Minh kiếm, hai mắt bừng sáng, đột nhiên cũng rút ra một thanh đao, chém về phía Vân Lối một đao, điều này khiến cho Vân Lối bất ngờ, nàng hất thanh kiếm lên, người ấy vừa phát ra chiêu thì lập tức phóng bỏ chạy. Thạch Thúy Phượng nhảy bổ ra nói: “Đúng là quái nhân!” Vân Lối thấy tình thế ở bên ngoài thì nói: “Mặc kệ y, chúng ta đến giúp Tất lão anh hùng”.
Đàm Đài Diệt Minh đấu tay không với Tất Đạo Phàm được mấy mươi chiêu, đôi bên không ai chiếm được phần hơn. Đàm Đài Diệt Minh nói: “Hay lắm, ngươi là hảo hán đầu tiên ta gặp ở Trung thổ, ta cũng phải rút binh khí!” Thế rồi đánh hờ ra một chưởng, rút ra đôi câu bổ ra ở phía trước, chỉ nghe keng một tiếng, cây giáng long bản của Tất Đạo Phàm đã bị đôi câu đánh bật ngược ra, Đàm Đài Diệt Minh múa tít đôi câu khiến Tất Đạo Phàm phải lúng túng, suýt nữa không chống đỡ nổi. Vân Lối kêu lên một tiếng không xong, nàng rút kiếm nhảy vào, tuy đã chém gãy rất nhiều binh khí, nhưng vẫn bị hai võ sĩ Mông Cổ đeo bám. Hai kẻ ấy một người sử dụng cây thiết sách, một người sử dụng liên tử chùy, đều là loại binh khí khó gãy. Đang lúc gấp gáp, Vân Lối không thể thoát ra được. Bọn Lam Thiên Thạch, Hắc Bảo Xuân, Thạch Thúy Phượng cũng bị người ta bao vây không thể nào tụ lại một chỗ.
Tất Đạo Phàm thi triển bản lĩnh cả đời nhưng không thể nào thoát thân, Đàm Đài Diệt Minh múa tít đôi câu như giao long xuất hải, mấy lần suýt nữa đoạt được cây gậy giáng long. Tất Đạo Phàm hít một hơi, nhủ bụng: “Không ngờ mình thoát khỏi móng vuốt của triều đình mà lại chết trong tay người Hồ”.
Đang lúc căng thẳng, chợt thấy quan quân hùa nhau tháo chạy, tiếng ầm ầm vang lên chấn động cả sơn cốc, Vân Lối ngẩng đầu lên nhìn, thì ra quái khách giả thành người du mục Mông Cổ đã lên đến đỉnh núi, đẩy từng tảng đá to xuống! Thanh Long Hiệp là nơi nhỏ hẹp, đá từ trên lăn xuống trông rất kinh hồn, nếu bị đá lăn trúng thì không thể nào tưởng tượng nổi hậu quả. Quan quân nhất thời nổi loạn tháo chạy tứ tán, võ sĩ Mông Cổ cũng hoảng hồn. Vân Lối phấn chấn tinh thần, xỉa ra một kiếm thì đâm trúng võ sĩ sử dụng cây thiết sách, rồi đâm mấy nhát kiếm về phía Đàm Đài Diệt Minh. Đàm Đài Diệt Minh trợn mắt quát: “Lại là tên nhãi nhép nhà ngươi!” Thế là chặn câu trái lại, gạt cây Thanh Minh kiếm ra ngoài. Tất Đạo Phàm nói: “Hôm nay khó thắng, chúng ta rút!” Vừa nói vừa đánh ra một chiêu Lực Địch Thiên Cân, chặn cây cậu của Đàm Đài Diệt Minh lại, cùng Vân Lối xoay người bỏ chạy. Đàm Đài Diệt Minh đuổi được hai bước thì chợt một tảng đá lăn tới trước mặt, Đàm Đài Diệt Minh vội thu đôi câu rồi hạ mình xuống, chụp lấy tảng đá ấy ném lên sườn núi, tảng đá này va trúng một tảng đá lớn đang rơi xuống. Aàm một tiếng, cát đá tung bay, quan quân đương nhiên thoát nạn, nhưng bọn Tất Đạo Phàm cũng đã thừa cơ lẩn mất.
Đàm Đài Diệt Minh còn muốn đuổi theo nữa, tên phiên ấy hoảng hồn kéo lại: “Đàm Đài tướng quân, đừng đuổi theo!” Thật sự là y sợ mai phục cho nên giữ Đàm Đài Diệt Minh bên cạnh mình cho đỡ lo.
Bọn Tất Đạo Phàm chạy lên đỉnh núi, cao giọng nói: “Hảo hán xin hãy dừng bước!” Quái khách cải trang thành người Mông Cổ ấy đợi bọn họ lên đến sườn núi, đột nhiên hú dài một tiếng rồi chạy xuống sườn núi phía bên kia, đến khi bọn Tất Đạo Phàm lên đến đỉnh núi thì y đã mất dạng.
Tất Đạo Phàm nói: “Thật kỳ lạ!” rồi cả bọn lục tục kéo nhau xuống núi. Đến trưa thì trở về nhà họ Lam. Mọi người đều bàn tán xôn xao về quái khách ấy, nhưng không ai đoán được lai lịch của y, chỉ có thể khẳng định được một điều: Quái khách này chính là người che mặt.
Tất Đạo Phàm nói: “Không những kẻ này thật kỳ quặc, tên người Hồ ấy cũng lạ. Khi bọn ta chạy ra thì Hắc lão đệ đi ở trước tiên, nếu y không dừng lại để ném tảng đá lên núi, Hắc lão đệ đã gặp nguy hiểm”. Hắc Bảo Xuân nói: “Có lẽ y vì không muốn để quan quân bị thương cho nên mới làm thế”. Vân Lối nói: “Người này không phải người Hồ, y tên là Đàm Đài Diệt Minh, vốn là một người Hán ở Mông Cổ đã lâu”. Tất Đạo Phàm nhíu mày nói: “Ta tuy hận con cháu của Chu Nguyên Chương, nhưng kẻ này giúp người Hồ, lại còn lấy tên là Diệt Minh thì càng đáng ghét hơn”. Vân Lối lại kể chuyện đêm qua Đàm Đài Diệt Minh đã cố ý để nàng trốn chạy, mọi người lại bàn tán một hồi.
Tất Đạo Phàm nói: “Sau này chúng ta sẽ điều tra lai lịch của quái khách ấy, chúng ta cũng không cần biết Đàm Đài Diệt Minh có dựng tâm gì, điều cần làm hôm này là phải cứu cho được Sơn Dân hiền điệt”. Mọi người đều không nghĩ ra cách. Vân Lối nói: “Đã không còn kế gì thì chúng ta phải cướp xe tù”. Hắc Bảo Xuân nói: “Quan quân thế lớn, lại có Kinh sư tam đại cao thủ áp giải, chỉ e không cướp người được mà còn bị tổn thất”. Tất Đạo Phàm nói: “Dò hỏi tin tức rồi hãy tính tiếp”. Đến khi trời chạng vạng, thám tử quay về báo rằng, Trương Phong Phủ để lại phần lớn Ngự lâm quân và Cẩm y vệ, y và Phàn Trung chỉ mang theo năm bảy mươi Ngự lâm quân áp giải tù binh lên kinh, ngày mai có thể đi qua nơi này. Tất Đạo Phàm vui mừng nói: “Tốt, ngày mai chúng ta sẽ liều với bọn chúng một trận”.
Đó chính là:
Long tranh hổ đấu dựng can qua, lại thấy chuyện ly kỳ sắp xảy ra.
Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 12
Hạp cốc kiếp tù xa biến sanh bất trắc
Hoang giao trì tuấn mã họa nhị vô hình
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:37 pm

Hồi 12
Hạp cốc kiếp tù xa biến sanh bất trắc
Hoang giao trì tuấn mã họa nhị vô hình


Suốt đêm Vân Lối trằn trọc không ngon giấc, Châu Sơn Dân lọt vào tay kẻ địch khiến nàng rất lo lắng, nàng thầm nhủ: “Ngày mai dù mình có liều mạng cũng cứu y”. Trong đầu chợt hiện ra vẻ mặt lúng túng của Châu Sơn Dân khi phải kêu huynh gọi đệ với nàng, nhớ lại tấm chân tình của chàng, lòng không khỏi bất an, thầm nhủ: “Muốn mình liều mạng cứu y thì còn dễ; muốn mình chấp nhận tình ý của y thì muôn lần không thể!” phòng bên kia vọng lại tiếng ho của Thạch Thúy Phượng, chắc là nàng cũng tâm sự trùng trùng, không thể nào ngủ được. Vân Lối nghĩ lại tấm tình si của Thạch Thúy Phượng đối với mình, không khỏi cảm thấy lúng túng, trong đầu lại hiện ra hình bóng Châu Sơn Dân và Thạch Thúy Phượng, thầm nhủ: “Được, cứ như thế, cứ kéo họ lại với nhau, mình chẳng còn phiền phức gì nữa!” nhưng có phải thật sự chẳng còn phiền phức gì không? Hình bóng Thạch Thúy Phượng và Châu Sơn Dân vừa biến mất, hình bóng Trương Đan Phong lại len lén trở về, đó không chỉ là một nỗi phiền phức mà còn là một nỗi oan nghiệt khó giải, Vân Lối đột nhiên hoang mang không thể tiếp tục suy nghĩ, cũng không dám nghĩ tiếp.
Sáng sớm hôm sau thức dậy, Tất Đạo Phàm đã sắp xếp ổn thỏa trước. Vân Lối ra khách sảnh, thấy trong sân rất đông người, Tất Đạo Phàm nói: “Chúng tôi đã dò hỏi rõ ràng, Trương Phong Phủ và Phàn Trung chỉ dắt theo năm mươi tên Ngự lâm quân áp giải sáu xe tù, trong đó có một xe rất lớn, Trương Phong Phủ không rời khỏi xe này, xem ra rất căng thẳng, chắc chắn Sơn Dân hiền điệt trong chiếc xe này. Chúng ta tuy không kịp truyền Lục Lâm tiễn, trang đinh của Lam huynh đệ và các huynh đệ gần đầy cộng lại cũng hơn bốn mươi người, có lẽ sẽ đủ đối phó với bọn chúng. Trương Phong Phủ tuy lợi hại, nhưng đã có tôi và Vân công tử đối phó với y, chúng ta có thể bắt chước quái khách che mặt đẩy đá đè bọn chúng”. Lam Thiên Thạch nói: “Nếu đá đè trúng xe tù thì sao?” Tất Đạo Phàm nói: “Không cần lăn đá lớn, chỉ cần đẩy đá trứng ngỗng làm rối loạn quan quân để chúng ta tiện bề hành động. Hắc trang chủ, Thạch cô nương, hai người hãy dắt mười huynh đệ lên đỉnh núi cứ làm như thế. Trưa nay quan quân sẽ đến Thanh Long Hiệp, chúng ta lên đường thôi!”
Mọi người kéo ra khỏi sân cùng nhau lên ngựa. Vân Lối cùng Tất Đạo Phàm vỗ ngựa đi song song, nàng chợt hỏi: “Tất lão tiền bối, con ngựa trắng kia đâu?” Tất Đạo Phàm cười nói: “Đã trả về cho chủ của nó”.
Vân Lối nói: “Cái gì? Trương Đan Phong đã quay lại từ lúc nào?” Tất Đạo Phàm nói: “Con Chiếu dạ sư tử mã quả thực là loại ngựa quý hiếm có trên trời, rất có linh tính, hôm đó nó được chủ nhân sai bảo cõng ta thoát hiểm, sau khi thoát hiểm thì nó cứ hí liên hồi không cho ta cỡi nữa. Nên ta đã thả nó về cho chủ cũ”. Vân Lối nói: “Sao ông biết nó nhất định tìm được chủ, nếu bị người xấu bắt thì sao?” Tất Đạo Phàm mỉm cười nói: “Loại chiến mã thông thường cũng biết tìm được chủ, huống chi đây là con Chiếu dạ sư tử mã? Hơn nữa ai có thể bắt được nó?” Vân Lối vốn biết con ngựa trắng ấy rất khôn, nhưng vì đang nhớ nhung Trương Đan Phong cho nên không khỏi lo lắng. Tất Đạo Phàm nói xong thì đột nhiên mỉm cười: “Vân công tử, nếu Thạch cô nương không nói, tôi không thể nào biết công tử và Trương Đan Phong có mối thù không đội trời chung!”
Vân Lối đỏ mặt, vội vàng vỗ ngựa phóng về phía trước mà không đáp câu này. Tất Đạo Phàm rất ngạc nhiên, liệu rằng trong đó tất có lý do khác nhưng cũng không hỏi thêm.
Chỉ trong chốc lát mà người đã vào thung lũng, Tất Đạo Phàm theo kế hoạch đã định, chỉ huy mọi người mai phục. Khi mặt trời dần dần dời về tây, chỉ nghe ở phía trước có người báo rằng: “Đến rồi, đến rồi!” mọi người đều nắm chặt binh khí, chỉ thấy một đội quan quân áp giải sáu chiếc xe tù chậm rãi đi vào trong thung lũng, Tất Đạo Phàm nói với Vân Lối: “Chính là cái xe ở giữa”. Chỉ nghe Trương Phong Phủ cười lớn, nói: “Có lẽ đây là lúc cướp xe tù!”
Tất Đạo Phàm, Vân Lối đều thất kinh, Trương Phong Phủ hình như đã phòng thủ trước! Tên đã lắp vào cung, không thể không bắn, chỉ trong chớp mắt phục binh túa ra, chỉ thấy Trương Phong Phủ bày Ngự lâm quân thành một viên trận, bảo vệ chiếc xe tù ở giữa. Tất Đạo Phàm dắt một đội người dẫn ngựa xông tới trước, năm mươi Ngự lâm quân đều là những kẻ tinh nhuệ, trang binh của Lam gia tuy kiêu dũng nhưng không thể nào xông tới được.
Chỉ nghe Trương Phong Phủ cười ha hả, lớn giọng nói: “Lão già Chấn Tam Giới kia, ngày trước ngươi may mắn thoát được, sao nay lại tự chui đầu vào lưới?” Tất Đạo Phàm hừ một tiếng, lạnh lùng nói: “Xem ai tự chui đầu vào lưới?” Rồi đột nhiên hú dài một tiếng, lập tức trên núi có tiếng hô trả lời!
Đó là tín hiệu kêu mọi người trên đỉnh núi ra tay, Hắc Bảo Xuân đang trên núi quát lớn một tiếng, vừa mới đứng dậy thì đột nhiên nghe tiếng ám khí xé gió bay tới, thì ra ba chiếc phi chùy đang bay tới, Hắc Bảo Xuân kêu lên: “Không xong!”, buộc phải ném đá lên đánh rơi phi chùy. Chỉ thấy ở núi đối diện có một đội quan quân đang ào ào ném đá sang, trong đó còn có cả những loại ám khí như phi tiêu, phi chùy, đạn hoàn, kẻ cầm đầu là ngự tiền thị về, Phàn Trung thủ pháp phóng phi chùy của y rất mạnh mẽ, Hỏa Thần Đạn Hắc Bảo Xuân tuy là một danh gia ám khí nhưng cũng không thể nào ứng phó nổi, những người khác thì luống cuống tay chân, hai bên ném đá vào nhau, làm sao có thể rảnh tay ném xuống quan quân ở bên dưới!
Trương Phong Phủ rất đắc ý, lại cười ha hả, vung đao nói: “Đạo làm tướng là phải quan sát địa hình, Chấn Tam Giới nhà ngươi tuy võ công cao cường, nhưng ít đọc binh thư!” Tất Đạo Phàm cả giận, múa tít cây giáng long bản, gạt tất cả những món binh khí ra, rồi tóm một tên quan quân ném tới. Vân Lối chém soạt soạt hai kiếm, cắt đứt áo giáp của tên Ngự lâm quân ấy, uy lực của bảo kiếm thật kinh người, Ngự lâm quân tuy mặc áo giáp nhưng cũng phải tản sang hai bên. Tất Đạo Phàm và Vân Lối một người dùng chưởng, một người dùng kiếm đã thoát ra khỏi vòng vây.
Trương Phong Phủ phất tay, viên trận chợt thay đổi, nhốt hai người vào ở giữa, chặn những người khác ở bên ngoài trận, Trương Phong Phủ dựa vào xe tù, vung đao cười: “Chấn Tam Giới, chúng ta lại đấu thêm ba trăm hiệp nữa!” rồi liếc mắt nhìn Vân Lối, cười rằng: “Hay lắm hay lắm, ngươi cũng đến! Hai người hãy xông lên, ta không cần không khác giúp đỡ”. Tất Đạo Phàm nóng ran mặt, vung cây gậy nói: “Hôm nay bọn ta liều mạng là vì bằng hữu, dù ngươi có bao nhiêu người ta cũng liều với ngươi!” Thế rồi đánh ra một chiêu Phong Hổ Vân Long, bổ xuống đầu Trương Phong Phủ.
Trương Phong Phủ chẳng hề nhúc nhích, múa ra chiêu Dạ Chiến Bắc Phương gạt cây giáng long bảm, rồi đâm soạt soạt trở trở lại ba đao. Tất Đạo Phàm thầm kêu một tiếng “Hổ thẹn”, thay đổi một chiêu thức, dùng loại côn pháp Miên Thân thập bát đả, Vân Lối cũng vung kiếm lên tấn công. Nếu lấy một chọi một Trương Phong Phủ thắng ở khí lực, so với Tất Đạo Phàm thì hơi nhỉnh hơn, đấu được hơn ba mươi chiêu thì Trương Phong Phủ buộc phải thối lui từng bước, thế là Vân Lối nhân lúc đó lướt người nhảy lên chiếc xe tù.
Tuy nàng đập mạnh, không ngờ lại dễ dàng đắc thủ đến thế nhưng nghĩ lại Trương Phong Phủ không phải là hạng vừa, tại sao lại một mình cự địch mà không để cho quan quân canh giữ xe tù? Nếu tự phụ thùi cũng không đến nỗi khinh địch đến thế. Song nàng tuy nghi ngờ nhưng trong lúc này cũng không có thời gian suy nghĩ nhiều, nàng nhảy vọt lên xe, lập tức vén rèm, chỉ thấy có một người nằm cuộn trong xe, ánh sáng lọt vào rất yếu ớt, nàng không thể nào nhìn rõ được, Vân Lối mừng rỡ run rẩy kêu: “Châu đại ca!”
Chợt nghe hai tiếng cười lạnh hì hì, người trong xe ngồi bật dậy, tóm lấy mạch môn của Vân Lối, Vân Lối kinh hoảng.
Người ấy quát rằng: “Vào đây?” rồi kéo mạnh, Vân Lối chúi nhũi vào trong xe, khi ngã xuống thì thanh kiếm chọc thủng màn xe, áh sáng lọt vào, chợt lại nghe có người kêu lên tựa như rất ngạc nhiên: “Ồ, té ra là ngươi!”, Vân Lối rất nhanh nhẹn, điểm chui kiếm lại, người ấy buông tay đánh ra, cùng Vân Lối nhảy vọt ra khỏi xe.
Dưới ánh mặt trời người ấy đội nón che gió, hai mắt lộ ra sáng quắc có thần, đó chính là quái khách đêm qua đã giả thành người Mông Cổ, ám sát tên Phiên vương! Hai người đứng đối diện với nhau, cách nhau không quá một thước, Vân Lối nhìn rất rõ ràng, ánh mắt, thân người hoàn toàn giống như người đêm qua.
Vân Lối vui mừng hớn hở, vội vàng hỏi: “Ngươi có biết Châu đại ca bị nhốt ở xe tù nào không?”
Trong lòng Vân Lối, nàng tưởng rằng người này đã hiến kế cho Tất Đạo Phàm giết tên Phiên vương, lại âm thầm giúp đỡ ông ta, chắc chắn là người của phe mình. Nào ngờ đột nhiên người ấy lại cười lạnh: “Ai mà biết Châu đại ca của cô nương!” Rồi tay trái vạch thành nửa hình vòng cung, bất ngờ dùng thủ pháp Đại Lực Kim Cương toan đoạt kiếm của Vân Lối. Biến cố này khiến cho Vân Lối bất ngờ, nàng không kịp đề phòng, ngón tay của người ấy đã chạm tới, khoảng cách càng gần hơn, chỉ thấy đôi mắt y sáng quắc, ngón tay, ngón tay vung ra, nhưng không phát ra chiêu số. Vân Lối đâm vội ra một kiếm, người ấy tựa như đột nhiên thất kinh, ngón tay búng mạnh vào sóng kiếm đánh keng một tiếng, Vân Lối cảm thấy hổ khẩu đau nhói, suýt nữa không giữ được thanh kiếm, lòng thầm kinh: “Thủ pháp Đại Lực Kim Cương của người này quả thực bất phàm!
Vân Lối liên tục đánh ra chiêu thứ hai, chiêu thứ ba. Nhưng người ấy chỉ dùng đôi chưởng chống lại thanh kiếm của nàng, chưởng phong quét tới, mũi kiếm đều bị đẩy lệch qua. Vân Lối vội vàng thay đổi kiếm pháp, cây Thanh Minh kiếm xoáy tròn ra kêu lên xèn xẹt không ngớt!
Bách Biến Huyền Cơ kiếm pháp của Vân Lối kỳ lạ vô cùng, thiên hạ vô song, lúc này nàng đánh ra toàn những tuyệt chiêu, cứ mỗi hướng nàng lại đánh ra tám nhát kiếm, tám nhát kiếm này đều đi liền một mạch, chỉ trong chớp mắt nàng đã đâm xong ba mươi hai nhát kiếm. Chưởng lực của người này tuy hùng hậu nhưng không thể nào nhanh bằng kiếm chiêu, đã có vài lần nàng suýt bị đâm trúng. Nhưng không biết thế nào, Vân Lối lại cảm thấy người này tựa như rất quen mặt, tuy không biết là đã từng gặp ở đâu, nhưng trong lòng lại có cảm giác rất thân thiết, đã có vài lần lẽ ra đã đâm trúng, nhưng không hiểu sao mũi kiếm lại trượt qua, cả bản thân nàng cũng cảm thấy rất ngạc nhiên.
Vân Lối đâm ra ba mươi hai nhát kiếm, thớt đã hơi chậm lại, người ấy biết dùng đôi chưởng thì không thể nào ứng phó lại nổi, thế là rút soạt thanh yêu đao, lập tức lướt tới tấn công mạnh mẽ. Chỉ thấy ánh đao của y loang loáng, chiêu đao đánh ra rất nhanh, còn chưởng thì nhẹ nhàng tự nhiên, càng đánh càng chậm, chưởng và đao phối hợp với nhau khiến thế công của Vân Lối bất đầu rối loạn. Y lại dùng chưởng lực kìm chế thanh kiếm của Vân Lối, khiến cho nàng không thể nào thi triển được thế mạnh của mình, cứ như thế y đã chuyển khách làm chủ, chuyển thủ làm công. Kiếm pháp của Vân Lối tuy tinh diệu nhưng chỉ có thể chống đỡ. Đao pháp của người này rất lợi hại, nhưng chưởng lực càng hiểm hóc hơn, lúc này Vân Lối đã bị đẩy ra đến tám chín trượng, nàng không thể nào tiến sát vào y nổi. Nhưng nói ra cũng thật kỳ lạ, người ấy đã mấy lần dồn Vân Lối vào nguy hiểm, đao phong và chưởng thế của người ấy đã lướt tới trước mặt nàng, nhưng vừa chạm áo thì lại thối lui, cũng không biết y có ý gì, cũng giống như lúc này Vân Lối đối với y.
Vân Lối gia tăng kiếm pháp, toàn thần ứng phó, chỉ thấy đôi mắt người này lấp lánh, trong lúc tấn công gấp gáp cũng không ngừng nhìn mình dò xét. Vân Lối đâm soạt ra một kiếm, chặn đao đẩy chưởng rồi quát hỏi: “Ngươi là ai?”
Người ấy trả lại một chiêu rồi cũng quát hỏi: “Ngươi là ai?” Vân Lối ngạc nhiên, nói: “Ngươi nói trước!”
Người ấy cũng biến sắc nói: “Ngươi là ai!” Vân Lối nghĩ thầm: “Sao có thể nói lai lịch của mình cho y biết?” Nhưng nàng lại nôn nóng muốn biết lai lịch của kẻ này, thế là vẫn kiên quyết nói!” Vẻ mặt khi nói chuyện tựa như một đứa trẻ ngang ngạnh. Ánh mắt của người ấy càng ngạc nhiên hơn, tựa như gặp phải một người bạn thời còn ấu thơ, y cố nhớ lại vẻ mặt khi còn bé của nàng để so sánh lại lần nữa, cho nên chiêu thế đánh ra cũng chậm lại, ánh mắt không ngừng nhìn lên mặt Vân Lối. Vân Lối thối lui một bước, người ấy đột nhiên chém ra soạt soạt hai đao, vẫn bảo: “Ngươi lúc trước!”
Đang lúc giằng co, chợt nghe Tất Đạo Phàm kêu lớn: “Hôm nay chỉ đành liều mạng!”
Vân Lối liếc mắt nhìn, chỉ thấy Tất Đạo Phàm đã hoàn toàn thua thiệt, bị luồng đao quang của Trương Phong Phủ chụp lấy, tình thế hết sức nguy hiểm. Viện binh ở bên ngoài đã bị quan quân chặn lại cho nên không xông vào nổi.
Vân Lối cả giận, đánh ra toàn những chiêu liên hoàn, người ấy gia tăng chưởng lực, lúc này màn chưởng của y tựa như một bức tường khiến cho nàng không thể nào xông qua được. Người ấy lại kêu lên: “Rốt cuộc ngươi có nói hay không?”
Vân Lối rất tức tối, không hề nói một lời, nàng vung kiếm tấn công gấp tới, trong chớp mắt lại đánh ra hơn ba mươi chiêu nữa. Công lực của Vân Lối vốn thua kém hơn đối phương, nàng chỉ nhờ vào kiếm pháp tinh diệu, cho nên mới có thể miễn cưỡng chống đỡ được kẻ này. Lúc này trong lòng đang lo lắng cho Tất Đạo Phàm nên không khỏi phân thần, không những không tấn công được mà còn bị đối phương đẩy lùi ra phía sau!
Đang lúc đánh ra rất hăng thì chợt thấy bên ngoài cốc cát bụi nổi lên, Trương Phong Phủ quát rằng: “Ai dám xông vào?” Chợt nghe một tràng cười kỳ dị trấn động cả sơn sốc, tám thớt ngựa phóng tới, hai người đi đầu ăn mặc rất kỳ quái, một người mặc đồ trắng, còn người kia thì mặc đồ màu đen, tạo thành một cặp đối xứng, Vân Lối bất giác kêu lên, hai người ấy chẳng phải ai khác, đó chính là Hắc Bạch Ma Ha! Bốn người ở giữa là bốn khách thương đã từng đến Hắc Thạch trang, ở phía sau là hai phụ nữ đầu đội khăn, đó chính là hai người vợ Ba Tư của Hắc Bạch Ma Ha, tám người này cứ phóng ngựa tới tựa như không hề hay biết hai bên đang đánh nhau.
Hắc Ma Ha chạy ở phía trước tiên, Trương Phong Phủ cả giận quát: “Xuống ngựa!” Thế rồi phóng người vọt lên, từ trên bổ xuống một đao. Hắc Ma Ha cười quái dị, cây lục ngọc trượng đâm thẳng lên huyệt Đan Điền của Trương Phong Phủ. Trương Phong Phủ thất kinh, không ngờ quái nhân này chẳng phải hạng vừa, thế là xoay người lên không trung, mũi chân móc vào bàn đạp, người rơi xuống lưng ngựa, lại chém thêm ra hai đao nữa. Hắc Ma Ha cũng không khỏi cả kinh, không ngờ một tên quân quan lại lợi hại đến thế, cây lục ngọc trượng đẩy ngang qua, thúc vào ngực Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ giơ đao cản lại, nhưng lúc này y chỉ ngồi nửa mông trên lưng ngựa, lợi thế kém xa Hắc Ma Ha, y đang nôn nóng cầu thắng, đột nhiên đẩy tay phải qua, đến khi Hắc Ma Ha chồm người về phía trước, chưởng trái đột nhiên tóm về phía trước, giở ra một tuyệt chiêu trong Cầm Nã thủ, thế là chụp ngay được cánh tay của Hắc Ma Ha.
Trương Phong Phủ cả mừng, đang định nhả công lực ra thì đột nhiên cảm thấy cánh tay của Hắc Ma Ha đã trượt khỏi bàn tay của mình tựa như loài cá trạch, rồi y co tay lại, vỗ bốp một chưởng vào diện môn của Trương Phong Phủ. Trương Phong Phủ đâu ngờ rằng Hắc Ma Ha đã sử dụng công phu Dương dà của Ấn Độ, tay chân có thể vặn bẻ biến hình tùy ý, cho nên không kịp đề phòng, khi chưởng phong vỗ tới mặt thì Trương Phong Phủ kêu lớn một tiếng, đặt chân vào bàn đạp phóng lên như tên bắn, rồi nhẹ nhàng rơi xuống cách đó mấy trượng. Hắc Ma Ha vốn đã nắm chắc phần thắng, nhưng không ngờ đã đánh hụt, cũng không khỏi ngạc nhiên!
Những chiêu ấy tuy diễn ra trong khoảnh khắc điện chớp lửa xẹt, Tất Đạo Phàm vẫn chưa biết người mới đến là ai, Hắc Ma Ha đã phóng ngựa tới, Tất Đạo Phàm kêu: “Đó là bằng hữu của phương nào? Tất Đạo Phàm xin đa tạ”.
Tất Đạo Phàm được người ta gọi là Chấn Tam Giới, tưởng rằng khi mình nói ra tên này thì bằng hữu trên giang hồ ai cũng biết, nào ngờ Hắc Ma Ha lại cười quái dị, quát rằng: “Cái gì mà hắc đạo với bạch đạo? Hãy tránh đường cho lão tử!” Thế rồi phóng thẳng ngựa tới, Tất Đạo Phàm giơ gậy ra chặn lại, thớt ngựa ấy chổng hai vó trước lên, Hắc Ma Ha đâm xuống một trượng, trượng và gậy giao nhau, cây gậy giáng long của Tất Đạo Phàm bị đánh lệch sang một bên, cây lục ngọc trượng của Hắc Ma Ha cũng bị ông ta kéo sang một bên, suýt nữa rơi xuống ngựa, Hắc Ma Ha kêu lên: “Hay, ngươi cũng là một hảo hán! Hãy tránh ra là được!” Câu này coi như cũng khách sáo lắm. Tất Đạo Phàm đã gặp phải cường địch, cũng không thèm thu lại gậy, thế là đánh ra một chiêu Hoành Giang Tiệt Đấu về phía thân ngựa, Hắc Ma Ha cả giận, cây lục ngọc trượng từ trên đè xuống dưới, khi sắp chạm vào cây gậy giáng long của Tất Đạo Phàm thì đột nhiên buông ra, Tất Đạo Phàm suýt nữa bổ nhào, bị ngựa dẫm phải, thế là vội vàng lướt người ra, chỉ thấy thớt ngựa ấy phóng vọt qua đầu mình.
Khi Hắc Ma Ha giằng co với Trương Phong Phủ, Tất Đạo Phàm, thớt khoái mã của Bạch Ma Ha cũng đã phóng đến gần Vân Lối và quái khách kia. Vân Lối nhủ thầm: “Hắc Bạch Ma Ha đã từng bị mình và Trương Đan Phong đánh bại trong cổ mộ, nếu y nhớ thù lúc trước thì mình phải làm thế nào đây?”
Bạch Ma Ha liếc mắt thấy Vân Lối thì đột nhiên cười quái dị, quay đầu ngựa chạy thẳng về phía nàng và quái khách kia. Quái khách ấy cả giận, tạt ngang ra một chưởng đánh bốp vào chân ngựa, thớt ngựa ấy khụy vó trước xuống đất, người ấy lại chém ra một đao, Bạch Ma Ha cầm cây bạch ngọc trượng hất ra, cây bạch ngọc trượng là loại trượng bằng ngọc, cứng rắn như sắt thép, nhưng người ấy lại không biết. Chỉ nghe keng một tiếng, lưỡi đao bị bật lại, người ấy lật tay chém sóng đao ra, Bạch Ma Ha cầm cây bạch ngọc trượng đánh một vòng, chỉ nghe keng một tiếng, thanh đơn đao bay vút lên trên không. Bạch Ma Ha nói: “Ngươi có thể đỡ một trượng của ta, tha chết cho ngươi, tránh ra!” rồi chỉ cây ngọc trượng về phía Vân Lối, nói: “Ngươi không phải là đối thủ của kẻ này, sao không chạy cho mau!” Thế rồi hai chân kẹp mạnh, thớt ngựa ấy tiếp tục phóng về phía trước!
Té ra Hắc Bạch Ma Ha bị hai người Trương, Vân đánh bại, bao nhiêu của cải trong cổ mộ đều thua cả cho nên nhụt chí, sai bốn khách thương đến miền nam tính nợ cũ, vốn quay trở về Tây Vực, từ nay không buôn bán châu báu nữa. Nào ngờ Trương Đan Phong đã trả lại toàn bộ châu báu, hai anh em nhà này rất cảm kích, đã có vốn cho nên lại tiếp tục buôn bán, lần này từ nam lên bắc, tám thớt ngựa đã chở theo rất nhiều châu báu, chuẩn bị vượt núi Hy Mã Lạp Sơn bán cho vương công ở Ấn Độ, nhưng không ngờ đến đây thì gặp hai bên đang hỗn chiến.
Hắc Bạch Ma Ha xưa nay nghênh ngang đi lại Trung Nguyên, không được lòng cả hai giới hắc đạo và bạch đạo, lại thêm chở theo rất nhiều châu báu, sợ bị quan quân chặn lại, cho nên cứ làm liều, thấy đường là đi, chỉ vì nhớ ơn Trương Đan Phong trả lại châu báu cho nên lần này mới giúp Vân Lối.
Không những Hắc Bạch Ma Ha võ công cao cường, hai người vợ Ba Tư của họ và bốn khách thương đi theo họ cũng chẳng phải tay vừa. Tám thớt ngựa cứ phóng bừa trong ốc hẻm, nhân mã hai bên đều vội vàng né tránh, Tất Đạo Phàm thấy không thể bỏ qua thời cơ, thế là hú dài một tiếng, dắt mọi người trèo lên đỉnh núi. Hắc Bạch Ma Ha cười quái dị, quan quân tuy nhường đường, nhưng bọn họ không nôn nóng chạy ra, lại gây náo loạn trong sơn cốc một hồi, chặn quan quân lại, đến khi bọn người Vân Lối leo lên được một nửa đường thì mới bỏ đi.
Trương Phong Phủ cả giận, định xua quân đuổi theo kẻ địch nhưng đã không kịp nữa. Chỉ nghe Hắc Bạch Ma Ha từ phía dưới nói vọng lên núi rằng: “Tiểu oa oa, người bằng hữu đại oa oa của ngươi đang chờ ngươi ở phía trước. Tại sao ngươi không đi cùng y?”
Vân Lối biết đại oa oa mà Hắc Bạch Ma Ha vừa mới nói chính là Trương Đan Phong, tim nàng đập thình thình suýt nữa đã lên tiếng hỏi. Tất Đạo Phàm hỏi: “Hai người ấy là ai?”
Vân Lối nói: “Là Hắc Bạch Ma Ha ở Tây Vực”.
Tất Đạo Phàm kinh ngạc nói: “Té ra là hai tên ma đầu này, đã nghe danh từ lâu hôm nay mới thấy mặt. Không ngờ chúng ta thoát được là nhờ bọn chúng, nhưng Sơn Dân hiền điệt vẫn còn bị bắt giữ, làm thế nào đây?”
Trên núi bọn người Hắc Bảo Xuân vẫn còn đang đánh nhau với quan quân, Tất Đạo Phàm cùng với mọi người vượt núi trở về nhà họ Lam, lúc đó đã là buổi hoàng hôn. Lần này không cứu được người mà còn bị tổn thương, ai nấy đều rầu rỉ không vui.
Tất Đạo Phàm nhìn sắc trời, nói: “Đêm nay bọn người Trương Phong Phủ chắc chắn sẽ ở lại trong thành, ít nhất chúng ta cũng phải biết Châu hiền điệt giờ đây sống chết thế nào rồi sau đó mới tính tiếp. Xem ra tên Trương Phong Phủ ấy qủy kế đa đoan, có lẽ chỉ dùng kế Ve sầu lột vỏ, chúng ta cũng không biết Châu hiền điệt có còn trong sáu chiếc xe tù ấy hay không”.
Mọi người đã biết Trương Phong Phủ lợi hại như thế, đều cảm thấy buồn bã. Tất Đạo Phàm lại tiếp tục nói: “Trong số mọi người ở đây, chỉ có Vân công tử có khinh công giỏi nhất, khách sạn lớn nhất trong thành là của người chúng ta”.
Vân Lối rất lanh lẹ, nàng gật đầu nói: “Ban ngày công khai chặn đánh không được, ban đêm chúng ta sẽ quấy rối bọn chúng, ít nhất cũng phải tìm ra hư thực”. Cách trưng Trương Phong Phủ ấy võ công tuy cao nhưng khinh công không phải giỏi. Nếu có gì bất trắc, tôi sẽ dễ dàng tránh được, y cũng chưa chắc đuổi kịp tôi”.
Thế là mọi việc đã định, Vân Lối sẽ đi dò thám hư thực, Tất Đạo Phàm sẽ chờ bên ngoài khách sạn tiếp ứng.
Đến canh hai thì hai người âm thầm vào trong thành, trong thành đã có phái người tiếp ứng, bọn Trương Phong Phủ quả nhiên đang ở trong khách sạn ấy. Vân Lối được tên tiểu nhị dắt đường, lẻn vào trong khách sạn từ cửa sau, sau khi hỏi rõ căn phòng của Trương Phong Phủ, nàng nghỉ một hồi để lấy lại tinh thần. Chờ cho đến canh ba thì thay đồi đồ dạ hành, đang định phóng lên mái nhà, chợt nghe tiếng vó ngựa bên ngoài khách điếm rất gấp, lúc này ngựa đã dừng ở trước cửa, có hai Ngự lâm quân trong khách điếm ra đón tiếp.
Tên tiểu nhị nói: “Vân công tử hãy đợi một lát. Rồi y xách bình nui ra ngoài, khoảng một tuần trà sau thì bên ngoài im hẳn. Tiểu nhị trờ vào báo cáo: “Xem ra đó là khoái mã truyền tin, không biết có văn thư gì mà lịa gấp như thế!”
Việc truyền tin thời cổ đại, gấp nhất thì gọi là khoái mã tám trăm dặm, ở mỗi dịch trạm đều có khoái mã chuyên dùng truyền tin, khi đến trạm tiếp theo thì sẽ được đổi khoái mã khác, cứ như thế trong một ngày sẽ thay đổi khoảng mười lần. Cho nên dù đó không phải là ngựa thiên lý, trong vòng mười hai canh giờ, cũng có thẻ chạy được tám trăm dặm.
Vân Lối ngạc nhiên, nói: “Sao ngươi biết?”
Tiểu nhị nói: “Gã công sai đưa văn thư vừa mới xuống ngựa thì thớt ngựa đã ngã lăn ra đất, phải hai người mới có thể đỡ bờm ngựa dậy uống nước”.
Vân Lối hơi trầm ngâm, nói: “Như thế cũng tốt, ta sẽ xem thử đó là văn thư khẩn cấp gì?”
Trương Phong Phủ ở trong căn phòng lớn ở phía nam, Vân Lối móc chân lên mái nhà, ngã người nhìn xuống dưới, chỉ thấy trong phòng quả nhiên có một tên công sai, Trương Phong Phủ đang cầm một cuộn văn thư, chậm rãi nói: “Ta vẫn chưa thẩm vấn bọn bị bắt cho nên không biết trong số đó có người này hay không. Nếu có, ta đương nhiên sẽ làm theo ý Khang tổng quản. Hôm nay ngươi đã mệt mỏi, hãy nghỉ ngơi chốc lát, ngày mai cứ về kinh, còn phó bản của văn thư này tôi sẽ sai người đưa cho Quán Trọng”.
Công sai ấy đáp rằng: “Đa tạ đại nhân”.
Sau khi kẻ ấy ra ngoài, chỉ thấy Trương Phong Phủ đi qua đi lại trong phòng, chau mày suy nghĩ, tựa như có chuyện gí rất hệ trọng, đột nhiên y kêu lên: “Người đâu!”
Tên lính bên ngcanh cửa nghe gọi thì bước vào, Trương Phong Phủ hạ giọng căn dặn mấy câu bảo y ra ngoài, rồi một mình ở trong phòng vò đau bứt tai, Vân Lối đưa mắt nhìn, thì ra đó là một bức họa.
Nàng thầm kêu hoảng trong lòng, người trong bức họa chính là Châu Sơn Dân. Chỉ nghe Trương Phong Phủ lẩm bẩm: “Trước tiên đục thủng xương tỳ bà của y, móc mắt y ra, còn phải giữ y lại để kỳ kèo với Kim Đao trại chủ, hà, chiêu này quả thật nham hiểm vô cùng!”
Vân Lối nghe thế thì cả kinh, lòng thầm nhủ: “Nếu bọn chúng hành hạ Châu đại ca như thế, vậy hôm nay mình phải liều mạng với y”. Thế là rút ra một mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu, trên người thì toát mồ hôi lạnh.
Chỉ nghe bước chân càng lúc càng gần, Vân Lối thầm nhủ: “Chắc là bọn chúng áp giải Sơn Dân đại ca đến”. Không ngờ chỉ có một người bước vào. Vân Lối nhìn lại, nàng suýt nữa buột miệng lên. Té ra đó chính là một quân quan trẻ tuổi, cũng là quái khách đã từng giao thủ với Vân Lối, mấy ngày trước đanh lén tên Phiên vương. Chỉ nghe tay phải nói: “Trương Lý Minh, có một chuyện này rất khó giải quyết!”
Người ấy hỏi: “Trương đại nhân có điều gì khó xử?”
Trương Phong Phủ không trả lời mà đột nhiên bước tới hai bước, đứng đối diện với người ấy, mỉm cười nói rằng: “Huynh rời khỏi kinh đô vào ngày mười bảy, sao hôm nay mới đến gặp tôi?”
Người ấy lộ vẻ lúng túng, đưa mắt nhìn sang chỗ khác, cười gượng đáp rằng: “Tôi gặp mưa, ngựa lại không đi được cho nên mới chậm”.
Trương Phong Phủ cười ha hả rồi nói: “Có đúng thế không?”
Người ấy chợt biến sắc thối nui một bước, tay chạm vào góc bàn, nói: “ Đại nhân đã nghi ngờ tôi?”
Trương Phong Phủ cười ha hả nói: “Nào dám, nào dám!” Rồi đột nhiên trầm giọng nói: “Huynh vào Cẩm y vệ tuy chưa đầy một tháng, nhưng chúng ta rất thân thiết nhau, có đúng không?”
Người ấy lau mồ hôi, nói: “Trương đại nhân trung can nghĩa đảm, tại hạ rất khâm phục”.
Trương Phong Phủ lại tiến về phía trước một bước nữa: “Nào dám nghi ngờ, nhưng cũng mong nói thực. Mấy ngày hôm trước huynh cũng có phần đánh lén sứ thần Mông Cổ ở Thanh Long Hiệp đúng không?”
Thiếu niên ấy ưỡn ngực nói: “Đại nhân soi xét, không chỉ tại hạ có phần, tại hạ cũng chính là người chủ mưu!”
Trương Phong Phủ lại nói: “Huynh có biết bọn họ là quý khách của triều đình, nếu có chuyện gì sai sót sẽ dẫn đến việc chiến tranh giữa hai nước hay không?”
Người ấy vẫn đáp dứt khoái: “Trương đại nhân, ngài có biết rằng bọn họ đến đây điều đình với triều đình Đại Minh chúng ta chuyện cắt đứt bồi thường hay không? Nếu chịu nhục cầu hòa với bọn chúng, chi bằng liều chết một phen?”
Trương Phong Phủ nói: “Dù thế nào đi nữa, huynh là thân phận quan quân triều đình, xn tội danh đột kích sứ thần nước ngoài không thể tha!”
Người ấy bảo: “Nhiều lắm chẳng qua chỉ bị tội lăng trì, Trương đại nhân, đại nhân cảm thấy khó xử vì chuyện này ư? Ai làm nấy chịu, tại hạ sẽ không liên lụy đến đại nhân. Trương đại nhân, giờ đây tôi sẽ bó tay chịu trói, ngài đã yên lòng chưa?”
Trương Phong Phủ lại cười ha hả: “Thiên Lý huynh, sao lại phẫn nộ như thế? Chuyện khó xử của tôi chẳng có liên quan gì đến huynh”.
Y vừa nói ra câu ấy, người này cảm thấy rất bất ngờ, lúng túng nói: “Vậy... vậy... vì chuyện gì?”
Trương Phong Phủ chậm rãi mở bức văn thư, chỉ vào bức họa nói: “Huynh có biết kẻ này hay không?”
Người ấy lại biến sắc, hỏi: “Đây chẳng phải là một trong những kẻ cường đạo bị đại nhân bắt hay sao?” Trương Phong Phủ nói: “Tôi hỏi huynh có biết thân phận của y hay không?”
Người ấy hơi do dự, đột nhiên đáp rằng: “Y là con trai duy nhất của Kim Đao trại chủ bên ngoài Nhạn Môn quan! Nghe nói mười năm trước, Châu Kiện ra khỏi biên quan cho nên cả nhà bị chém, chỉ có người này chạy thoát”.
Trương Phong Phủ liếc nhìn y, nói: “Thiên Lý huynh tuổi còn trẻ mà biết nhiều việc như thế!”
Người ấy rưng rưng nước mắt, nói: “Trương đại nhân...”.
Trương Phong Phủ cắt lời: “Từ rày về sau, chúng ta coi nhau như huynh đệ, cứ gọi thẳng tên của tôi là được”.
Người ấy nói: “Trương đại ca, thật không dám giấu, Kim Đao trại chủ Châu Kiện là ân nhân của nhà tôi, còn cụ thẻ như thế nào, xin thứ tiểu đệ không thể cho biết được”.
Trương Phong Phủ nói: “Ta cũng đã thấy đệ có bí mật thân thế, điều này không cần nói nữa. Con trai của Châu Kiện đã bị chúng ta bắt, đệ định làm thế nào đây?”
Người ấy nói: “Chuyện này rất phức tạp, tiểu đệ không dám tự tiện giải quyết. Kim Đao trại chủ tuy đã phản triều đình, nhưng họ đã nhiều lần đánh bại quân Hồ ở ngoài Nhạn Môn quan, tính ra cũng có công với nước! Y chỉ còn lại người con này, nếu áp giải về kinh chỉ e không thể thoát khỏi cái chết, điều này thật đáng tiếc!” Chàng tuy nói không dám giải quyết nhưng kỳ thực đã nói rất rõ ý của mình, chàng muốn xúi dục Trương Phong Phủ thả Châu Sơn Dân ra.
Trương Phong Phủ mỉm cười, nói: “Không cần áp giải lên kinh, cũng không cần triều đình thẩm vấn, Khang tổng quản đã sớm biết thân phận của y, nhưng cũng chưa chắc giết chết y”.
Người ấy bảo: “Văn thư tám trăm dặm lần này có phải nói đến chuyện này hay không?”
Trương Phong Phủ nói: “Đúng thế! Chuyện khó xử của ta chính là điều này. Khang tổng quản tai mắt lanh lẹ, đã biết con trai của Châu Kiện lẻn vào Nhạn Môn quan, cũng đã biết chúng ta lần này bắt được không ít cả có tên tuổi trong chốn lục lâm, nhưng không rõ con trai của Châu Kiện có trong số ấy hay không cho nên đã sai khoái kỵ truyền tin, bảo chúng ta phải để ý đến người này. Nếu bắt được thì phải đục xương tỳ bà của y, móc mắt của y ra để cho y mất võ công, người khác cũng không dễ dàng cứu được y. Sau đó Khang tổng quản còn bảo dùng kẻ tàn phế này để uy hiếp Kim Đao trại chủ, khiến cho lão không dám chống cự quan quân”.
Người ấy lạc giọng kêu lên: “Thật là độc ác!”
Trương Phong Phủ nói: “Chúng ta đều hưởng lộc vua, hễ bắt được cường đạo bình thường thì nhận công lãnh thưởng, đó là chuyện đương nhiên. Nhưng cha con Châu Kiện không phải là cường đạo bình thường, nếu không có họ, đại quân của Ngõa Thích đã tấn công chúng ta từ lâu”.
Người ấy chợt vui mừng nói: “Trương đại nhân, Trương đại ca, vậy thì huynh hãy thả y! Nếu tôi biết huynh có ý này...”.
Trương Phong Phủ chợt cười: “Vậy thì không cần phải tốn sức đánh lén Phiên vương ấy đúng không? Thiên Lý huynh, ta đã sớm đoán được việc huynh đột kích Phiên vương ấy là kế một viên đá ném chết hai con chim. Huynh không muốn đối chọi với tôi, lén thả người trong tay của tôi cho nên mới mượn tay bọn Tất Đạo Phàm bắt tên Phiên vương ấy dùng để trao đổi đúng không?”
Người ấy nói: “Đại ca, huynh bảo không sai!”
Trương Phong Phủ chợt nghiêm mặt nói: “Thả người này nói ra thì dễ, chả lẽ huynh không biết sự lợi hại của Khang tổng quản? Ta đương nhiên không thể làm chỉ huy quân Cẩm y vệ nữa, nhưng huynh cũng đừng hòng trúng Võ trạng nguyên khoa này!”
Người ấy im lặng không nói, một lúc lâu mới bảo: “Tôi không cần thi Võ trạng nguyên nữa, nhưng chỉ vì sẽ làm liên lụy đến công danh của Trương đại ca!”
Trương Phong Phủ nói: “Đâu chỉ là mất công danh, e rằng mạng cũng khó giữ”.
Người ấy tỏ vẻ rất thất vọng, lạnh nhạt hỏi: “Trương đại nhân còn căn dặn gì nữa?”
Trương Phong Phủ nói: “Huynh hãy ra ngoài tuần đêm, ngoài trừ một mình Phàn Trung, những người khác đều không được vào. Huynh cũng không được làm càn”.
Thiếu niên ấy nói: “Dưới trướng của đại ca, ồ không, dưới trướng của đại nhân, dù tôi có dám làm càn cũng không thể thoát được cây miến đao của ngài, đại nhân, ngài hãy yên tâm!”
Trương Phong Phủ phất mỉm cười: “Không cần khách sáo nữa, huynh hãy ra ngoài!”
Vân Lối thấy người ấy buồn bã bước ra ngoài, trong lòng cũng rất thất vọng.
Trương Phong Phủ lại gọi người vào, hạ giọng căn dặn mấy câu, sau đó y ra ngoài dắt vào một người.
Người này chính là Phàn Trung, Trương Phong Phủ đưa văn thư cho y xem, chỉ thấy y chau mày, lớn giọng nói: “Đại ca có còn nhớ lời thề lúc trước của chúng ta hay không?”
Trương Phong Phủ nói: “Thời gian đã quá lâu, không nhớ nổi nữa”.
Phàn Trung nổi giận, vỗ bàn nói: “Có thật là đã quên không?”
Trương Phong Phủ nói: “Hiền đệ, đệ hãy nói thử”.
Phàn Trung nói: “Đem bầu máu nóng bảo vệ nước nhà. Chúng ta không muốn kẻ địch xâm lăng cho nên mới đầu quân chứ không phải vì công danh lợi lộc!” Y hơi ngừng rồi lại nói tiếp: “Đệ vốn có ý muốn đến biên quan, một đao một thương liều mạng với quân Hồ, nhưng hoàng thường lại giữ đệ làm vệ sĩ ở nội đình, mấy năm nay đệ buồn chết đi được”. Y ngập ngừng rồi lại nói tiếp: “Chúng ta không thể đến biên quan đích thân chống giặc, ngược lại phải hại chết con trai của Kim Đao trại chủ, người đã xả thân chống lại quân Hồ, vậy có nghĩa là sao?”
Trương Phong Phủ lại hỏi: “Chúng ta còn có lời thề gì?”
Phàn Trung nói: “Có phước cùng hưởng, có nạn cùng chia!”

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:38 pm

Trương Phong Phủ nói: “Tốt, vậy giờ đây ta có một mối họa muốn đệ cùng gánh! Ghé sát tai vào”. Thế rồi thì thầm mấy câu bên tai y, Phàn Trung đột nhiên vái dài: “Đại ca xin thứ cho tiểu đệ thô lỗ, chuyện đại ca đã làm chắc chắn không sai!”
Khi Phàn Trung xoay người bước ra, Trương Phong Phủ buồn bã thở dài: “Chỉ e nhị ca của đệ không có lòng này”.
Phàn Trung nói: “Không cần phải lo nghĩ nhiều”. Rồi bước thẳng ra bên ngoài.
Vân Lối nói: “Té ra hai người này đều là hán tử đầy nhiệt huyết”. Đang định đi theo Phàn Trung xem thử y làm gì, chợt thấy Trương Phong Phủ nhìn về phía mình mỉm cười, vẫy tay nói: “Mời xuống đây! Ở trên đó lâu như thế, không mệt ư?”
Vân Lối mỉm cười, nhẹ nhàng hạ người xuống đất, cung tay nói: “Trương đại nhân, chúng ta là bằng hữu”.
Trương Phong Phủ nói: “Công tử đến đây là cứu Châu Sơn Dân, đúng không?”
Vân Lối nói: “Đúng thế, tôi đã nghe cả rồi, vậy hãy cứ trao y cho tôi”.
Trương Phong Phủ mỉm cười nói: “Trao cho công tử dắt y về? Há chẳng phải sẽ kinh động đến mọi người? Sự việc bại lộ, công tử không nghĩ cho tôi hay sao?”
Vân Lối sững người ra, nghĩ bụng sự việc lúc này đã thay đổi, không cần phải làm liều nữa, giờ đây nghĩ lại, quả nhiên nàng suy nghĩ không chu đáo, không khỏi lộ vẻ áy náy. Trương Phong Phủ lại mỉm cười nói: “Lúc này Phàn Trung đã âm thầm đưa Châu đại ca của công tử ra ngoài, tôi sẽ bảo họ chờ ở cửa bắc. Vậy còn người bằng hữu đi ngựa trắng của công tử đâu?”
Vân Lối giật mình, trả lời với giọng rung rung: “Tôi làm sao biết!”
Trương Phong Phủ rất ngạc nhiên, nói: “Hai người song kiếm hợp bích, trong thiên hạ chẳng ai đánh nổi, sao lại tách nhau ra? Bằng hữu ấy của công tử khí độ phi phàm khiến cho người ta ngưỡng mộ. Nếu khi gặp lại, hãy cho tôi gởi lời thăm”.
Vân Lối nói: “Tôi cũng chưa chắc gặp được y, tôi sẽ nhớ lời của ngài, xin cáo từ”.
Trương Phong Phủ lại nói: “Khoan đã!”
Vân Lối đang nôn nóng, quay đầu hỏi: “Còn chuyện gì nữa?”
Trương Phong Phủ nói: “Chấn Tam Giới Tất Đạo Phàm đang ở đâu?”
Vân Lối giật mình, nghĩ thầm: “Chã lẽ y đã biết hành tung của Tất lão tiền bối”. Rồi nàng đứng lặng không đáp.
Trương Phong Phủ mỉm cười nói: “Công tư3 không chịu nói cũng đành chịu. Làm phiền công tử chuyển lời cho ông ta biết rằng, ông ta không thể sánh với Kim Đao trại chủ, tôi phụng lệnh vua đến bắt ông ta, không thể nào thả ông ta được, ông ta cũng là một hảo hán, mới bảo ông ta chạy cho xa, đừng để tôi gặp mặt! Thôi được, tôi chỉ có thể làm được đến đó, công tử hãy đi đi!”
Vân Lối phóng người lên mái nhà, nàng cũng thấy bất ngờ trước hành vi của Trương Phong Phủ. một nam tử lòng đầy hiệp nghĩa như thế mà lại chịu bán mạng cho Hoàng đế, nàng lại cảm thấy tiếc cho y. Vân Lối cũng chợt nhớ lại gia gia của mình, để bảo vệ cờ tiết của Đại Minh, phải chịu bao nhiêu năm khổ cực, cuối cùng phải đổ máu ở Nhạn Môn quan, không khỏi lẩm bẩm: “Hai chữ ngu trung không biết đã hại bao nhiêu anh hùng hào kiệt!”
Vân Lối là một người trẻ tuổi, nàng vốn không nghĩ đến vấn đề gây khó khăn cho người ta từ xưa đến nay, đó là sự khác biệt giữa trung với vua và trung với nước, trong xã hội phong kiến, nếu không phải người có trí tuệ, thật sự không thể nào phân biệt cho rõ ràng. Chỉ vì nàng đã từng ở bên cạnh Trương Đan Phong, bị ảnh hưởng bởi quan điểm của chàng, cho nên mới dám coi thường tư tưởng trung quân.
Vân Lối đang suy nghĩ nhưng bước chân không hề chậm chạp, trong chớp mắt đã ra khỏi khách sạn, nàng phóng vọt người lên căn nhà dân đối diện, lúc này trời đã không còn sớm nữa, Tất Đạo Phàm vốn đứng bên ngoài khách sạn canh gác cho nàng, nhưng Vân Lối đảo mắt nhìn xung quanh vẫn không thấy bóng ai. Vân Lối vỗ nhẹ ba tiếng, lẽ ra Tất Đạo Phàm đã có thể nghe thấy, một hồi sau vẫn không thấy tiếng vỗ tay trả lời, cũng không thấy bóng người xuất hiện. Vân Lối bất giác lo lắng trong lòng. Tất Đạo Phàm đã đi đâu? Ông ta là một người già dặn, chắc không thể bị người ta ám toán, dù cho ông ta đã gặp Châu Sơn Dân cũng phải đợi mình ra rồi cùng trở về, không thể nào âm thầm bỏ đi trước được. Vậy Tất Đạo Phàm đã đi đâu?
Vân Lối nhìn xung quanh, hít một hơi, thi triển khinh công tuyệt đỉnh đi một vòng xung quanh tìm kiếm nhưng vẫn không thấy bóng người, lòng nhủ rằng: “Chả lẽ Trương Phong Phủ đã phát hiện tông tích của ông ta, sắp đặt mai phục rồi bắt ông ta? Không thể, không thể! Trương Phong Phủ luôn ở trong phòng, ngoại trừ Trương Phong Phủ, trong Ngự lâm quân không ai là đối thủ của Trương Đan Phong, dù cho là Trương Phong Phủ cũng không đánh mấy trăm chiêu mới thắng được ông ta. Thế nhưng tại sao lúc này lại im hơi lặng tiếng? Nếu không phải trong Ngự lâm quân có cao thủ khác ám toán ông ta, vậy thì người có thể bắt Tất Đạo Phàm mà không gây kinh động cho người khác, võ công quả thật khó lường. Mà trên đời này cũng chưa chắc có người như thế”.
Vân Lối càng nghĩ càng lo, thế là chạy thẳng đến cửa bắc, không đầy một tuần trà sau, nàng đã ra đến ngoại thành, Trương Phong Phủ đã bảo Phàn Trung và Châu Sơn Dân đang đợi nàng ở đấy. Vân Lối vỗ tay gọi, phóng người lên cao đưa mắt nhìn, chỉ thấy sao trời lấp lánh, vầng trang sáng đang ở trên cao, tiếng côn trùng đêm rả rích, đêm tối lạnh căm căm. Xung quanh im lặng như tờ.
Vân Lối vừa kinh hoảng vừa tức giận, nghĩ bụng: “Chả lẽ Trương Phong Phủ đã bày kế, mình làm sao có thể tin lời y? Nhưng nếu y không thả Châu Sơn Dân, tại sao lại gạt mình đến đây?”
Trong lòng nàng đầy nỗi nghi ngờ, cho nên xoay người chạy vào trong thành.
Khi về đến khách sạn, chợt thấy cánh cổng bên ngoài khép hờ, nàng càng ngạc nhiên hơn, thế là đẩy cổng bước vào, trong sân vốn có buộc mười mấy thớt ngựa, lúc này thấy mỗi thớt ngựa đều chổng vó trước lên, có chạm vào cũng không động đậy, cũng không phát ra tiếng hí, dưới ánh trăng trông rất rùng rợn, khiến cho ai nhìn cũng nổi da gà.
Vân Lối hơi định thần lại, nàng nhớ lại đây chính là thủ pháp kìm chế ngựa của Hắc Bạch Ma Ha, nàng càng ngạc nhiên nghĩ: “Hai tên ma đầu này xưa nay chẳng xích mích gì với người trong hai đạo hắc bạch, bọn họ tuy đã từng giúp mình trong Thanh Long Hiệp, nhưng cũng chỉ chạy lướt qua, không đánh nhau với quan quân, cớ gì đêm khuya lại đến đây bỡn cợt quan quân?
Vân Lối đoán rằng nếu Hắc Bạch Ma Ha ở đây, chắc chắn sẽ có chuyện xảy ra, thế là nàng phóng lên mái nhà, ngưng thần lắng nghe. Quan quân trú trong khách sạn này khoảng sáu bảy mươi người, nhưng nàng không hề nghe thấy tăm hơi gì, cả tiếng ngáy cũng không, đêm tối lạnh lẽo khiến cho khách sạn tựa như một ngôi ổ mộ. Vân Lối phóng người xuống sân, định tìm tiểu nhị trong khách sạn, chỉ thấy cửa phòng mở rộng, còn tên tiểu nhị đã dẫn đường cho mình thì ngủ say như chết, có lay y cũng không tỉnh; đến khi sờ vào mũi thì thấy vẫn còn hơi thở; thử xoa bóp nhưng không phải bị điểm huyệt. Khi nàng đến những căn phòng khác cũng đều như thế, cả tên chủ quán có chút võ công cũng nằm ngủ say như chết. Vân Lối nhủ thầm: “Nghe nói trên giang hồ có loại mê hương bọn Thái hoa tặc thường dùng, ai ngửi trúng mùi hương này sẽ ngủ say như chết, chả lẽ họ đều trúng mê hương?” Thế là múc một chén nước lạnh, phun vào mặt lão chưởng qủy, chỉ thấy lão hơi nhúc nhích tay nhưng vẫn không tỉnh, cho nên nàng đoán hình như không phải trúng mê hương.
Lúc này Vân Lối rất lo lắng, nàng chạy ra ngoài. Nhưng đã thấy mỗi căn phòng đều mở cửa, quan quân trong phòng và quan quân nằm ở đại sảnh đều ngủ say. Có người nằm giang thẳng tay chân tựa như hình chữ đại; có người thì dựa vào vách tướng, hai mắt nhắm tịt, nghẹo đầu vào vai, tựa như đang định đứng dậy thì đột nhiên bị trúng yêu pháp cho nên ngủ thiếp đi; có người thì há miệng, mặt lộ vẻ rất ngạc nhiên, tựa như vừa mới định mở miệng kêu to thì bị người ta điểm huyệt. Vân Lối toát mô lạnh, nàng cất tiếng kêu lớn nhưng chỉ nghe thấy tiếng của mình vọng về, lúc này Vân Lối cảm thấy mình như lọt vào trong một ngôi mộ, ngoại trừ mình, tất cả những người khác đều đã chết.
Vân Lối định thần lại, nghĩ bụng võ công của Trương Phong Phủ cực kỳ cao cường, tên quân quan được Trương Phong Phủ gọi là Thiên Lý huynh lúc nãy cũng chẳng phải tay vừa, dù cho Hắc Bạch Ma Ha có đến đây cũng chưa chắc có thể chiếm được thượng phong. Vân Lối chạy ra sân sau xem sáu chiếc xe tù, chỉ thấy cửa xe và gông xiềng đều đã bị chặt đứt, trong xe chẳng còn người tù nào.
Vân Lối nổi dậy, đâm ra soạt soạt ba kiếm, nói: “Ngươi thật vô lễ, nếu ta có ác ý thì cần gì cứu ngươi?”
Người ấy nói: “Ngươi có mối quan hệ gì với y, hãy mau nói ra!”
Vân Lối tức giận nói: “Y là người thế nào của ta, ta cần gì phải cho ngươi biết?”
Người ấy chém ra hai đao, sau đó thâu chiêu lại nói: “Ngươi có biết người ám toán ta là ai không? Y là con trai của Thừa tướng nước Ngõa Thích Trương Tôn Châu! Xem ra ngươi cũng là một hiệp khách, nếu hôm nay ngươi biết lai lịch của y, có lẽ phải giúp ta báo thù”.
Vân Lối nghĩ bụng: “Ta đã sớm biết lai lịch của y, cần gì ngươi nói!” nhưng vẫn ngạc nhiên hỏi: “Ngươi có thù gì với y?”
Người ấy nói: “Nói ra thì dài, ta không chỉ có thù với một mình y, ta sẽ giết sạch cả nhà của y! Hơn nữa y là con trai của đại gian tặc Trương Tôn Châu, lẻn vào Trung thổ, còn có ý gì tốt? Ngươi đã là hiệp sĩ giang hồ, lẽ ra cũng có thù với y!”
Vân Lối rùng mình, nàng nghe trong lời nói của y thoang thoảng mùi máu tanh của bức huyết thư bằng da dê, càng nhìn càng thấy thiếu niên này quen mặt, bất giác lòng chợt lạnh lẽo, người rung rung, răng đánh bò cạp. Thiếu niên ấy nhìn nàng hỏi: “Ngươi làm sao thế?”
Vân Lối cố định thần đáp: “Không sao”.
Thiếu niên ấy lại bảo: “Thôi được, chúng ta có đánh nữa cũng vô ích, ta và ngươi hãy hòa giải với nhau. Ngươi hãy cho ta biết lai lịch của ngươi, ta sẽ cho ngươi biết lai lịch của ta”.
Vân Lối nói: “Ngươi không cần phải nói, ta biết ngươi đến từ Mông Cổ”.
Thiếu niên ấy nói: “Ngươi làm sao biết?”
Vân Lối bảo: “Ngày trước ngươi ám toán tên Phiên vương, giọng điệu hay vẻ mặt đều giống như người Mông Cổ”.
Thiếu niên ấy cười nhạt, nói: “Thế ư? Hai đời tổ tiên của ta vốn là kẻ chăn ngựa ở Mông Cổ”.
Vân Lối té phịch xuống đất. Gia gia của nàng đã chăn ngựa ở Mông Cổ hai mươi năm, đã mai danh ẩn tích ở Mông Cổ, sống cuộc đời của dân du mục chăn dê, đúng thế, họ từng là dân du mục ở Mông Cổ, chẳng qua là không tự nguyện mà thôi.
Trong chớp mắt, tựa như có một luồng điện chạy khắp toàn thân, Vân Lối như đờ người ra.
Y là đại ca của mình, đúng thế, y chắc chắn là đại ca. Ôi, y thật sự là đại ca của mình ư?”
??????
Vân Lối vào kinh là để dò tìm tung tích của đại ca, nay đã gặp được, nhưng từ sâu thẳm trong lòng mình, nàng lại mong người này chẳng phải là đại ca của mình. Khi y nói đến cha con của Trương Tôn Châu, giọng điều đầy căm hận, nếu y thật sự là đại ca, biết mình có mối giao tình với Trương Đan Phong, không biết rồi chuyện gì sẽ xảy ra? Vân Lối không muốn báo thù ư? Không phải, trong lòng nàng nỗi ám ảnh về bức huyết thư bằng da dê vẫn mãi không thể xóa nhòa được, nàng thích Trương Đan Phong, nàng cũng hận Trương Đan Phong, nhưng nàng lại không muốn người khác cũng hận Trương Đan Phong, đó là tâm trạng mâu thuẫn đầy kỳ lạ.
Vân Lối té phịch xuống đất. Thiếu niên ấy quát lên hỏi: “Ngươi là ai?”
Lúc này tâm trạng của nàng đang rối bời. Nàng thầm nghĩ: “Tạm thời đừng nhận, giả sử y không phải là đại ca, như thế thân phận của mình đã bị bại lộ. Huống chi y lại là một quân quan”.
Vân Lối tựa như một người đang sắp chết đuối ở dưới nước, tóm được một khúc cây, lấy đó làm “lý do” để không nhận lại đại ca, nàng đứng bật dậy, nói: “Ta là người đến cứu Châu Sơn Dân”.
Thiếu niên ấy ngạc nhiên nói: “Ta biết ngươi đến cứu Châu Sơn Dân, khi lần đầu tiên nơi đến, đã nghe lén trên mái nhà của Trương đại nhân, song ta không lên tiếng mà thôi. Ta không phải hỏi điều này...”.
Vân Lối nói: “Ngươi muốn hỏi điều khác thì ta không nói, bây giờ ta hỏi ngươi, Châu đại ca của ta đâu? Ai đã đến nơi này? Ta nghe những điều ngươi và Trương Phong Phủ nói với nhau, ta biết ngươi cũng muốn cứu Châu đại ca”.
Thiếu niên ấy tựa như hiểu ra, nói: “Đúng thế, chúng ta vào trong xem thử, sao Trương đại nhân không xuất hiện?” Y ngập ngừng rồi lại nói tiếp: “Ngươi thật giống một người ta muốn tìm, nhưng đáng tiếc chuyện này nói ra thì dài, sau này chúng ta hãy tính tiếp”.
Vân Lối bước về phía trước, không để cho y thấy vẻ mặt của mình, điềm nhiên bảo: “Sao ngươi lại không biết chuyện gì đã xảy ra ở đây? Quân sĩ của ngươi đều đã ngủ say như chết. Còn Trương đại nhân cũng chẳng thấy”.
Thiếu niên ấy chạy vào trong, đã thấy cảnh tượng ở bên trong, cũng không khỏi nổi da gà, khi bước vào phòng Trương Phong Phủ, thấy trên tường có để lại những ký hiệu như đầu lâu, khỉ, bảo kiếm, kinh hãi kêu lên: “Quả nhiên bọn chúng đã đến!”
Vân Lối nói: “Bọn chúng là ai?”
Thiếu niên ấy nói: “Hắc Bạch Ma Ha và hai sư thúc của Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải”.
Vân Lối nói: “Ồ, té ra Thiết Tý Kim Viên Long Trấn Phương và Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử là sư thúc của Đại nội tổng quản, chúc mừng các người, các người lại có thêm hai cao thủ nữa”.
Thiếu niên ấy nói với vẻ rất không vui: “Ngươi không biết sự lợi hại trong đó, nếu Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm biết chúng ta thả Châu Sơn Dân, Trương đại nhân cũng khó giữ mạng”.
Vân Lối nói: “Châu Sơn Dân quả thật đã được thả ra?”
Thiếu niên ấy nói: “Đầu tiên ta tưởng rằng Trương đại nhân không chịu thả, ai ngờ ông ta đã âm thầm sắp xếp. Ông ta kêu Phàn Trung len lén thả người đi”.
Vân Lối nói: “Nhưng giờ đây không biết Châu Sơn Dân và Phàn Trung sống chết ra sao”. Thế là kể lại mọi chuyện mình đã thấy.
Thiếu niên ấy thở dài: “Điều bất ngờ này, không ai có thể nghĩ tới”.
Vân Lối định lên tiếng hỏi, thiếu niên ấy lại nói tiếp: “Phàn Trung và Châu Sơn Dân đã len lén ra đi từ cửa sau, còn ta canh gác ở đây, đột nhiên trong gió có một làn hương lạ, ta vội vàng nín thở, nhưng cũng đã hít một ít, làn hương lạ này thật lợi hại, chỉ hít một ít mà lập tức toàn thân mềm nhũn. Đột nhiên có một bóng đen phóng xuống bức tường, đó chính là tên gian tặc Trương Đan Phong, ta đã nhận ra y khi còn ở Mông Cổ. Y đã dùng một loại công phu điểm huyệt hiểm độc, ta không dám thở, cũng không thể kêu lên, đến khi giao thủ được năm sáu chiêu, hít phải một làn mê hương thì dược tính phát tác, ta không chịu đựng nổi nữa cho nên bị y điểm huyệt”.
Vân Lối nghĩ bụng: “Té ra là thế. Nhưng Trương Đan Phong tại sao lại bỡn cợt y như thế?”
Thiếu niên ấy tiếp tục nói: “Ta bị y điểm trúng huyệt đạo, cho nên không hề biết chuyện gì xảy ra bên trong. Cũng không biết đã trải qua bao lâu, bên ngoài chợt có hai người tới, một người là một ông già lưng gấu một khỉ, một người là một đạo nhân hông đeo trường kiếm, hai người này thử giải huyệt cho ta nhưng không được, người ấy mắng một tiếng đồ vô dụng rồi bước vào trong. Thật ra cũng uổng cho họ là trưởng lão phái Điểm Thương, không giải được huyệt do phái khác điểm, há chẳng phải là đồ vô dụng hay sao? Hai người ấy vào một lát thì cùng nhau bước ra, mắng nhiếc Hắc Bạch Ma Ha, rồi lại vượt tường bỏ đi”.
Vân Lối nói: “Nếu bọn họ gặp phải hai ma đầu này, có lẽ sẽ có một trận đánh xảy ra. Bây giờ chúng ta hãy đi về hướng Thanh Long Hiệp tìm họ”.
Thiếu niên ấy khen phải rồi bước ra sân trước, thấy bộ dạng của bầy ngựa thì vừa bực tức vừa buồn cười, mắng rằng: “Hai tên ma đầu này đã sử dụng thủ đoạn của bọn mã tặc, may mà ta ở Mông Cổ nhiều năm, nên hiểu cách trị thương cho ngựa”. Vừa nói vừa xoa bóp cho ngựa, không lâu sau thì đã chữa khỏi cho hai thớt ngựa, cùng Vân Lối phóng ngựa ra ngoại thành.
Lúc này bốn bề đã có tiếng gà gáy, trời đã sắp sáng, trên đường đến Thanh Long Hiệp chỉ thấy dấu chân ngựa. Hai người phóng ngựa chạy một hồi, Thanh Long Hiệp đã ở phía trước mặt, khi đến một ngả rẽ, chợt nghe ở ngả rẽ bên trái vọng lại tiếng binh khí giao nhau, còn ở ngả rẽ bên phải có một người phóng ngựa chạy nhanh. Thiếu niên ấy nói, ta đi sang bên trái, ngươi sang bên phải, chia nhau dò tìm”.
Vân Lối phóng ngựa lên phía trước, chạy được một đoạn thì đã tiến dần đến thớt ngựa phía trước, Vân Lối huýt một tiếng sáo, thớt ngựa ấy chợt ngừng lại, rồi quay đầu chạy tới, người ngồi trên ngựa chính là Trương Phong Phủ.
Vân Lối vẫy tay gọi, Trương Phong Phủ kìm ngựa lại, vội vàng hỏi: “Bằng hữu của ngươi đâu?”
Vân Lối ngạc nhiên, nói: “Ngài đã gặp y? Tôi vừa từ chỗ ngài chạy ra đây”.
Trương Phong Phủ trầm ngâm một lát rồi nói: “Vậy thì chuyện này thật lạ, tại sao y dụ ta ra đây?”
Vân Lối hỏi: “Cái gì? Là y đã dụ ngài ra đây? Còn Hắc Bạch Ma Ha đâu?”
Trương Phong Phủ nói: “Có phải ngươi nói hai tên quái vật đã gặp trong Thanh Long Hiệp hôm qua hay không? Ta không thấy bọn họ. sau khi ta tiễn công tử ra ngoài, đang ngồi tịnh tọa trong phòng, suy nghĩ làm sao đối phó với chuyện này, chợt nghe có người gõ nhẹ vào cửa sổ ba lần rồi nói: “Tông huynh, tôi đã đến!” Công phu khinh công của kẻ này quả thật hơn người, cả ta mà cũng không nghe ra được. Ta nhảy vọt ra, chỉ thấy y ngồi trên mái nhà vẫy tay mỉm cười. Kẻ này hành sự quả thật thần kỳ khó lường, ta lập tức đuổi theo. Người ấy chỉ lắc người thì đã phóng qua hai mái nhà, thân pháp nhanh khó mà hình dung nổi. Ta đoán y không muốn nói chuyện với ta trong khách sạn cho nên mới dụ ta ra đây. Ta đuổi qua hai con phố, chỉ thấy có hai thớt ngựa ở hai ngã rẽ. Y nói: “Lên ngựa”, rồi phóng lên con ngựa trắng, ta cũng phóng lên con ngựa còn lại rồi chạy ra khỏi thành. Ta tưởng rằng y chắc chắn sẽ ngừng lại nói chuyện, nào ngờ y cứ chạy mãi về phía trước, ta gọi mà y không nghe, nhưng đuổi theo thì không kịp. Khi ta đuổi không kịp, y lại kìm cương ngựa chạy chậm lại, quả thật khiến cho ta thắc mắc.
Vân Lối nói: “Bây giờ thì sao?”
Trương Phong Phủ nói: “Y đã vượt qua chân núi phía bên kia. Ta nghe ngươi gọi cho nên không đuổi theo y nữa. Ngươi từ chỗ ta ra đây? Có ai biết không?”
Vân Lối cười nói: “Biết gì nữa? Người của đại nhân đều đã bị Hắc Bạch Ma Ha hại chết!”
Trương Phong Phủ nhảy dựng lên: “Hắc Bạch Ma Ha ấy lại lớn gan như thế ư?”
Vân Lối nói: “Không phải chết, nhưng cũng chẳng khác gì chết”. Rồi kể lại mọi chuyện đã xảy ra.
Trương Phong Phủ nghe xong thì trầm ngâm nói: “Ồ, quả nhiên là Hắc Bạch Ma Ha đã làm điều này. Ở Tây Vực có một loại hương kỳ lạ, là loại mê dược lợi hại nhất, gọi là Kê minh ngũ cổ phản hồn hương, người bị trúng loại mê hương này đến trời sáng mới tỉnh được. Tuy vậy cũng không có hại lắm. Xem tình hình này, Trương Đan Phong và Hắc Bạch Ma Ha đã cấu kết với nhau, Trương Đan Phong dụ ta ra đây, còn Hắc Bạch Ma Ha thì thổi mê hương. Ta không có thù oán gì với Hắc Bạch Ma Ha, cũng có một chút giao tình với Trương Đan Phong, tại sao họ lại đùa với ta như thế này”.
Vân Lối nói: “Tôi cũng chẳng hiểu!”
Rồi nàng tả lại những dấu hiệu thấy ở trong khách sạn, Trương Phong Phủ vừa nghe thì đã biết Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đã đến, bất giác sắc mặt thay đổi. Vân Lối nói: “Bọn họ không phải cùng một phe với ngươi hay sao? Sao ngươi lại sợ?”
Trương Phong Phủ lắc đầu, cười thê thảm nói: “Ngươi khoan hãy hỏi, hãy cứ kể tiếp”.
Vân Lối kể lại toàn bộ những chuyện lạ mà mình đã gặp phải, Trương Phong Phủ nghe thiếu niên ấy cũng đến, bất giác cười khổ. Vân Lối nói: “Sao thiếu niên ấy lại căm ghét y đến thế?”
Vân Lối đã giấu thân phận của Trương Đan Phong, Trương Phong Phủ trầm ngâm một lát rồi nói: “Trương Đan Phong này tuy kiêu ngạo, nhưng cũng chẳng phải người xấu. Tại sao Vân thống lĩnh căm ghét y, ta cũng không rõ lắm”.
Vân Lối nghe được một chữ Vân, bất giác sắc mặt tái nhợt, lảo đảo như muốn ngã xuống. Trương Phong Phủ vội vàng đưa tay đỡ nói: “Ngươi sao thế?”
Vân Lối vỗ ngựa tránh ra, nàng định thần rồi nói: “Không có gì. Vân thống lĩnh ấy tên là gì?”
Trương Phong Phủ nói: “Họ Vân tên là Thiên Lý, ngươi hỏi làm gì?”
Hai chữ Thiên Lý hợp lại thành một chữ Trọng, Vân Trọng chính là đại ca của Vân Lối. Lúc này Vân Lối vừa mừng vừa lo lắng. Mừng là vì rốt cuộc đã gặp lại đại ca của mình, lo lắng là vì y và Trương Đan Phong đã trở thành thế nước với lửa. Chỉ nghe Trương Phong Phủ lại nói: “Các người có biết nhau hay không?”
Vân Lối nói: “Y giống một người bạn thời còn ấu thơ của tôi. Y đã quay về từ lúc nào?”
Trương Phong Phủ nói: “Quay về? Ồ, ngươi cũng biết y từ Mông Cổ trở về ư? Y đến Ngự lâm quân chưa đầy một tháng, ta là chỉ huy Cẩm y vệ kim đô thống Ngự lâm quân, tuy gần gũi rất ít, nhưng lại rất hợp ý nhau. Nghe y nói, hai đời tổ tiên của y đều là người Hán ở nước Ngõa Thích, bị bức hiếp cho nên mới trốn về. Y muốn trở thành một tướng quân, ngày sau có thể cầm quân diệt Ngõa Thích. Cho nên trước tiên đã lập thân trong Ngự lâm quân chuẩn bị thi Võ trạng nguyên năm nay, nếu trúng Võ trạng nguyên thì có thể thực hiện được tâm nguyện của mình”.
Vân Lối bất giác thở dài nói: “Y muốn làm quan báo thù, chỉ e không thể được như ý muốn. Trương đại nhân, ông đừng trách tôi nói thẳng, kẻ có thể thực sự chống lại người Hồ không phải là triều đình Đại Minh”.
Trương Phong Phủ im lặng không nói, một lát sau mới bảo: “Điều đó cũng chưa chắc, trong triều ta toàn là đại thần trung thành, Các Lão Vu Khiêm chính là một vị quan chính trực được muôn người kính ngưỡng”.
Vân Lối không hiểu chuyện triều đình cho nên cũng không đôi co với y.
Trương Phong Phủ thấy Vân Lối quan tâm đến Vân Thiên Lý, trong lòng rất ngạc nhiên, đang định lên tiếng hỏi thì chợt nghe tiếng ngựa hí, Trương Đan Phong đã phóng con ngựa trắng quay trở lại.
Trương Phong Phủ kêu lên: “Này, ngươi rốt cuộc là đang giở trò gì? Bằng hữu của ngươi đang ở đây, đừng chơi trò rượt bắt nữa!”
Trương Đan Phong phóng ngựa như bay, trong chớp mắt đã tới, chàng quay sang Trương Đan Phong nói: “Đắc tội!” rồi quay sang Vân Lối nói: “Xin chào!”
Vân Lối kìm cương ngựa, lạnh lùng nói: “Không dám”.
Trương Phong Phủ thấy hai người không giống như bạn bè thân thiết, trong lòng ngạc nhiên lắm. Nhưng vì đang nôn nóng muốn biết dụng ý của chàng, cho nên hỏi thẳng: “Trương huynh, chúng ta coi như cũng có chút giao tình, tại sao huynh cùng Hắc Bạch Ma Ha đến quấy rối ở chỗ tôi?”
Trương Đan Phong ngửa mặt cười lớn, ngâm rằng: “Một tấm lòng khổ người không biết, tôi hỏi ngài, ngài có biết ai đang điều tra ngài không?”
Trương Phong Phủ biến sắc, nói: “Huynh cũng biết ư? Thiết Tý Kim Viên Long Trấn Phương và Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử cũng đến”.
Trương Đan Phong nói: “Đúng thế, tại sao họ đến, chả lẽ ngài không biết?”
Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm là sư thúc của Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải, Khang Siêu Hải là đại đệ tử của Lăng Tiêu Tử trưởng môn phái Điểm Thương, hai tay có thần lực ngàn cân, công phu ngoại gia đã đến lúc đăng phong tạo cực, chỉ vì y ở trong cung lâu ngày bảo vệ cho Hoàng đế cho nên không có tên tuổi trên giang hồ. Y ganh ghét Trương Phong Phủ được người ta gọi là Kinh sư đệ nhất cao thủ, đã ba lần tỉ thí với Trương Phong Phủ, mỗi lần đều thua một chiêu, tuy là miệng nói khâm phục nhưng trong lòng thì rất bực tức, cho nên âm thầm chèn ép Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ cũng biết chuyện này. Chức vụ của Khang Siêu Hải cao hơn Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ cũng e dè y. Trương Đan Phong nói một hồi khiến cho Trương Phong Phủ biến sắc, lẩm bẩm: “Chả lẽ Khang Siêu Hải mời hai sư thúc của y đến đây là âm thầm hãm hại mình?”
Trương Đan Phong cười nói: “Cần gì phải âm thầm hãm hại, giờ đây ông đã nằm trong tay của y”.
Trương Phong Phủ nói: “Cái gì?”
Trương Đan Phong nói: “Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm vốn không xuất kinh vì ông, nhưng lại gặp phải chuyện của ông. Ông có biết nguyên nhân vì sao không?”
Trương Phong Phủ nói: “Xin hãy nói cho rõ”.
Trương Đan Phong nói: “Hắc Bạch Ma Ha mua được một số hàng gian, đó là báu vật truyền gia của một thân vương nào đó trong kinh đô, đó là một đôi sư tử bích ngọc, trên mắt có khảm một đôi minh châu, giá trị liên thành, chuyện này đồn ầm lên, Khang Siêu Hải biết không phải là đối thủ của Hắc Bạch Ma Ha cho nên mới hai sư thúc ra giúp đỡ điều tra. Bọn họ đoán rằng Hắc Bạch Ma Ha chắc chắn sẽ chạy về Tây Vực cho nên đuổi theo phía bắc, lại gặp ngay phải ông cho nên đã tiện thể theo dõi ông. Thật trùng hợp, ông lại bắt được con trai của Kim Đao trại chủ, ông còn chưa biết thân phận của y thì Khang Siêu Hải đã được người ta báo cho, giá trị của Châu Sơn Dân còn hơn cả đôi sư tử bằng ngọc kia, nếu có thể bắt về kinh thì sẽ lập được công lớn. Khang Siêu Hải lập tức gác chuyện truy đuổi hàng gian sang một bên, một mặt phi báo, một mặt mời hai sư thúc của y đến chỗ ông lấy người. Châu Sơn Dân vừa ra khỏi cửa thì họ đã đến”.
Trương Phong Phủ lo lắng nói: “Nếu họ biết tôi đã thả Châu Sơn Dân, chắc chắn sẽ bị họa diệt tộc”.
Trương Đan Phong cười nói: “Bọn họ đã bị tôi dụ ra, chuyện này họ mãi mãi không biết”.
Trương Phong Phủ nói: “Ồ, té ra ngươi đã dùng Hắc Bạch Ma Ha làm mồi nhử dụ bọn chúng ra. Ngươi có thể sai khiến được hai tên ma đầu ấy, thật khâm phục, khâm phục! Nhưng ngươi quấy rối ở trong khách sạn là vì cớ gì?”
Trương Đan Phong nói: “Bọn họ tuy không biết Châu Sơn Dân đã được ông thả đi, nhưng để một trọng phạm trốn thoát, tội danh này thật không nhỏ! Trương đại nhân, ông thông hiểu binh thư, chắc biết kế khổ nhục của Hoàng Cái chứ?”
Trương Phong Phủ chợt vỡ lẽ ra, ôm quyền thi lễ nói: “Đa tạ đại ơn, mãi mãi không quên!”
Vân Lối vẫn chưa hiểu, chợt hỏi: “Rốt cuộc các người đang làm gì?”
Trương Phong Phủ nói: “Họ mở xe tù, thả cho tù nhân bỏ chạy, ta đương nhiên sẽ được thoát tội, nhưng kẻ địch toàn là những người lợi hại, bọn chúng ta đều đã bị khống chế, có thể nói ta đã tận lực, chỉ là vì không đấu lại kẻ địch, cho nên không còn bị nghi ngờ là đã thả tù phạm nữa”.
Trương Đan Phong nói: “Không chỉ là thế, với tiếng tăm của ông vốn chiến bại sẽ bị mang tội, nhưng nếu kẻ bị đánh bại có bản lĩnh cao hơn ông, vậy Khang tổng quản cũng không thể nào giáng tôi cho ông được”.
Trương Phong Phủ nói: “Nói như thế, các người chuẩn bị cho Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm nếm chút lợi hại, ai có thể đánh bại được họ?”
Trương Đan Phong nói: “Ông hãy nghe kỹ đây!”
Chỉ nghe ở chân núi có tiếng quát tháo vọng lại, tựa như đang chạy về phía bọn họ, Trương Đan Phong nói: “Còn ba dặm đường nữa, Trương đại nhân, tôi sẽ tặng ông một món quà mọn”.
Trương Đan Phong lấy một tay nải màu đỏ, bên trong tựa như đựng một trái dưa hấu. Trương Phong Phủ cầm lấy, nhìn lại thì ra đó là một cái đầu người, Trương Phong Phủ biến sắc, chém một đao về phía Trương Đan Phong, miệng mắng rằng: “Tại sao ngươi giết nhị đệ của ta, đây chả lẽ cũng là kế khổ nhục hay sao?”
Vân Lối đứng một bên nhìn thấy rất rõ ràng, đó là đầu lâu của Quán Trọng.
Trương Phong Phủ đang lúc nổi giận chém ra cho nên uy thế của đao này mạnh mẽ tuyệt luân. Chỉ thấy Trương Đan Phong quát lớn rằng: “Không xong rồi!” Rồi phóng người lên!
Đó chính là:
Lại thấy Trương lang dùng diệu kế, một trường đại họa sắp giáng xuống.
Muốn biết chuyện sau đó thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 13
Đái nguyệt phi tinh khổ tâm cứu lương hữu
Di hoa tiếp mộc trân trọng thác san hô

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:38 pm

Hồi 13
Đái nguyệt phi tinh khổ tâm cứu lương hữu
Di hoa tiếp mộc trân trọng thác san hô

Trương Phong Phủ tuy dùng hết sức bình sinh chém ra, nhưng Trương Đan Phong đã chuẩn bị từ trước cho nên đao phong vừa chém tới thì giả vờ múa may chân tay, tỏ vẻ lúng túng. Trương Phong Phủ nổi giận, mắng rằng: “Ngươi cố ý bỡn cợt ta, đó là ý gì?”
Trương Đan Phong cười ha hả, nói: “Ông chưa kịp cảm tạ ta, sao lại còn mắng ta? Ông xem đây là cái gì?” Thế rồi ném tới một bức văn thư đã được phong bằng dấu son đỏ. Bức văn thư rất nhẹ nhưng chàng có thể ném tới như một món ám khí, cả một cao thủ như Trương Phong Phủ cũng phải thất kinh.
Khi mở ra nhìn, văn thư ấy là bức thư của Quán Trọng viết và gửi cho Khang tổng quản, trong thư kể lại mọi chuyện của Trương Phong Phủ, Trương Đan Phong nói: “Quán Trọng đã nhận ra Châu Sơn Dân, song y không nói cho ông biết. Hôm đó y không kịp viết thư cho nên sai tâm phúc phi báo về kinh đô, song điều đó không có hại gì với ông, có điều nếu bức thư này lọt vào tay Khang Siêu Hải, ông sẽ gặp chuyện bất lợi!”
Trương Phong Phủ ném đao thở dài: “Nhị đệ vốn tham lam lợi lộc, nhưng không ngờ y lại bỉ ổi đến thế!”
Nhưng dù sao tình huynh đệ vẫn còn sâu sắc, Trương Phong Phủ vẫn cảm thấy đau buồn. Vân Lối nén không được hỏi: “Người như thế ông còn khóc làm gì?”
Trương Phong Phủ nói: “Rốt cuộc vẫn là huynh đệ, ta không trách ngươi giết y, ngươi hãy đi thôi!”
Tiếng truy sát càng lúc càng gần, Trương Phong Phủ bọc lại cái đầu lâu rồi treo lên yên ngựa, lúc này y đang đứng xoay lưng. Trương Đan Phong đột nhiên rút kiếm, đâm soạt ra một kiếm, Vân Lối kinh hoảng kêu lên: “Ngươi làm gì thế?”
Chỉ thấy Trương Phong Phủ kêu lên đau đớn, quay đầu lại đầy vẻ kinh hãi!
Nhát kiếm này đã chém đứt một mảng thịt trên vai trái Trương Phong Phủ. Trương Phong Phủ vừa kinh hãi vừa giận dữ kêu lên một tiếng hay. Chỉ nghe Trương Đan Phong hạ giọng nói: “Hãy mau nhặt miến đao giao thủ với tôi”.
Trương Phong Phủ chợt vỡ lẽ ra, lập tức cúi xuống nhặt thanh đao, lao vào Trương Đan Phong, máu trên tay trái rơi xuống từng giọt, nhưng cũng không thèm băng bó.
Vân Lối bất giác buồn cười, thầm nhủ: “Trương Đan Phong quả thật kỳ quặc, kế khổ nhục này làm mình hoảng cả hồn”.
Thử hỏi nếu Trương Phong Phủ không bị kẻ địch đâm bị thương, làm sao có thể trả lời chuyện tại sao để mất trọng phạm.
Trương Đan Phong hạ giọng nói: “Lúc nãy ngươi chém ta một đao, nhưng không hề trúng, ta đâm ngươi một kiếm đã làm ngươi bị thương, ngươi đã phục ta chưa?”
Trương Phong Phủ giở khóc giở cười, đao pháp hơi chậm lại, không ngờ Trương Đan Phong thật thật giả giả, thế là múa kiếm chém tới như mưa, Trương Phong Phủ tay trái đã bị thương, suýt tý nữa đã bị chàng đâm trúng chỗ yếu hại, buộc phải chống đỡ thật sự.
Chỉ thấy ở góc núi có một đám người đang đánh nhau loạn xạ, người đi phía trước là Hắc Bạch Ma Ha, ở phía sau là một ông già mà một đạo nhân, đó là hai sư thúc của Khang Siêu Hải. Hắc Bạch Ma Ha vừa đánh vừa chạy, tuy bại nhưng không loạn.
Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử thấy Trương Phong Phủ bị một thiếu niên áo trắng đánh cho luống cuống tay chân, tuy bị thương mà vẫn ngoan cường chống cự, không khỏi vừa kinh hoảng vừa nghi ngờ, nhủ thầm: “Thiếu niên này là thần thánh phương nào, trẻ tuổi như thế mà có thể đánh Trương Phong Phủ tơi bời, chả lẽ trong thư Khang Siêu Hải đã cố ý thổi phồng bản lĩnh của Trương Phong Phủ hay sao?” Thế rồi đành hờ ra một kiếm, đẩy được Hắc Bạch Ma Ha ra, phóng vọt người về phía trước kêu lên: “Trương đại nhân, hãy lui xuống, đợi ta lấy mạng y!”
Huyền Linh Tử là nhân vật có tiếng tăm trong phái Điểm Thương, ra tay quả nhiên bất phàm. Chỉ thấy thanh trường kiếm của y đẩy về phía trước, lập tức phóng ra một đóa kiếm hoa, thủ pháp không hề thay đổi, mũi kiếm đã đâm hờ hai kiếm sang hai bên trái phải, lại phóng ra tiếp hai đóa kiếm hoa nữa. Mỗi lần y ra tay đều là một chiêu ba thức, hai hư một thực, kiếm hoa phóng ra cũng một lớn hai nhỏ, cho nên được người ta gọi là Tam Hoa Kiếm, những nhân vật tầm thường không thể đỡ nổi hai chiêu ba thức của y.
Trương Phong Phủ kêu lên: “Ối chao, không xong rồi!”
Huyền Linh Tử cười lạnh nói: “Ngươi đã biết không xong rồi sao?”
Thế rồi vung kiếm phóng tới, chỉ thấy ba đóa kiếm hoa bay ra cùng một lượt, Trương Đan Phong xoáy gót chân, cố ý xoay qua hai nhát kiếm đâm hờ của y, tuy ba đóa kiếm hoa cùng phóng tới chàng, nhưng chàng không hề bị thương. Huyền Linh Tử thất kinh, khinh công này quả thật hiếm có. Thế rồi y không dám coi thường nữa, nhanh chóng đâm ra sáu kiếm, mỗi kiếm lại chia thành ba thức, hư hư thực thực biến hóa vô cùng, kiếm hoa tuôn ra tựa như sao xa, dù cho khinh công tuyệt đỉnh cũng khó tránh.
Chợt nghe Trương Đan Phong cười ha hả, đột nhiên một ánh bạch quang từ trong luồng kiếm hoa đâm ra. Trương Đan Phong rút kiếm ra khỏi vỏ nhanh chóng lạ thường, đến ki Huyền Linh Tử thấy bảo kiếm thì mũi kiếm của Trương Đan Phong đã chạm vào cổ tay của y. Huyền Linh Tử lập tức hạ cổ tay xuống, theo lẽ thế nào cũng bị chàng chặt đứt kiếm. Vân Lối nén không được kêu lên: “Hay lắm!”
Chợt thấy Huyền Linh Tử lật cổ tay, ánh bạch quang đột nhiên ngừng lại. Té ra thanh trường kiếm của Huyền Linh Tử đã gác lên thân kiếm của Trương Đan Phong, hai kiếm dính sát vào nhau. Trương Đan Phong không khỏi cả kinh, quả thực Huyền Linh Tử biến chiêu nhanh hơn Trương Phong Phủ.
Trương Đan Phong mạo hiểm nhả kình ra để cho kình lực của Huyền Linh Tử dồ tới, rồi chàng đột nhiên rút kiếm ra, cúi người đâm vào huyệt Thận Thủy ở hạ bàng của Huyền Linh Tử. Nhát kiếm của Huyền Linh Tử chém xoẹt qua đầu chàng, rồi đột nhiên ngửa người ra sau, tuy y né tránh lanh lẹ nhưng tà áo cũng bị chém mất một mảng. Lần này cả hai bên đều mạo hiểm, nếu Trương Đan Phong không mạo hiểm tấn công, đỉnh đầu đã bị trường kiếm của y gọt đứt!
Huyền Linh Tử đánh cả một hồi mà vẫn không chiếm được thượng phong, đột nhiên cả giận, thanh trường kiếm múa tít, đánh ra toàn những sát chiêu, chỉ thấy bóng kiêm ngang dọc, hoa kiếm tung bay, hư hư thực thực, làm cho người ta hoa cả mắt. Trương Đan Phong thầm nhủ: “Trong vòng một trăm chiêu mình có thể đánh tay đôi với y, nhưng nếu qua một trăm chiêu, mình chắc chắn sẽ thua thiệt!” Thế rồi múa kiếm thành một luồng bạch quang hộ toàn thân rồi cao giọng nói: “Đánh tay đôi lúc nào mới kết thúc? Này, ngươi còn có một đồng bọn, kêu y cùng tới! Hắc Bạch Ma Ha, hãy buông lão già ấy ra, các người hãy đi trước đi!”
Thiết Tý Kim Viên Long Trấn Phương đang một mình chọi với Hắc Bạch Ma Ha, vất vả đến nỗi mồ hôi lạnh túa ra toàn thân, chợt cảm thấy áp lực giảm xuống, Hắc Bạch Ma Ha cười rằng: “Coi như ngươi mạng lớn, tiểu bằng hữu của ta đã tha cho ngươi!”
Long Trấn Phương cả giận toan lao tới, Hắc Bạch Ma Ha quét ra một trượng, Long Trấn Phương vội vàng bước xéo hai bước, vừa tung chiêu ra thì nào ngờ Hắc Bạch Ma Ha tâm ý tương thông, bình thường họ phối hợp rất kín kẽ, tựa như đã dự định trước, Long Trấn Phương lách người sang trái, Bạch Ma Ha tiến tới phía trước một bước, đạp vào phương vị ấy, cây bạch ngọc trượng gõ vào lưng Long Trấn Phương, cười lớn nói: “Đánh lão khỉ già không biết tiến thoái nhà ngươi!” Rồi cả hai anh em phóng vọt đi mất. Long Trấn Phương tức đến suýt ngất.
Cây trượng của Bạch Ma Ha nặng nề lạ thường, dù Long Trấn Phương nội công tinh thuần, vận khí cả ba vòng mà vẫn có thể xương sườn đau nhói. Trương Đan Phong cười nói: “Lão khỉ già, đã bị đánh gãy xương rồi ư?”
Thiết Tý Kim Viên là nhân vật đã nổi tiếng mấy mươi năm, chưa bao giờ gặp phải tình trạng như hôm nay, gầm lớn nói: “Tên tiểu tặc bức hiếp ta quá thể!” Rồi người phóng vọt lên, từ trên đánh binh khí xuống.
Món binh khí của Thiết Tý Kim Viên tựa như cây trượng đầu rồng, nhưng cây trượng này có thêm một vật tựa như bàn tay, có chĩa ra năm móc câu sắc bén tựa như năm ngón tay, có thể móc hoặc đâm hoặc kém; trên thân trượng đầy gai, ngoại trừ bộ phận dùng để cầm.
Trương Đan Phong một mình đánh với Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử đã rất vất vả, Thiết Tý Kim Viên đột nhiên phóng người lên từ trên không đánh xuống, thiên linh cái suýt nữa bị thiết chưởng trên cây gậy chụp trúng. Trương Đan Phong thất kinh, đánh ra một chiêu kiếm Phân Hoa Phất Liễu, đâm về phía cả hai kẻ địch, Thiết Tý Kim Viên hạ giọng hú dài, đột nhiên đánh ra ba chiêu. món binh khí quái dị của Thiết Tý Kim Viên múa tít theo ánh kiếm, Trương Đan Phong cũng không khỏi thầm tò mò: “Thiết Tý Kim Viên này quả nhiên danh đồn không ngoa, bị Hắc Bạch Ma Ha đánh trúng một trượng mà vẫn ghê gớm như thế này!”
Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử đột nhiên đánh gấp tới, kiếm nào cũng đâm vào chỗ yếu hại, Trương Đan Phong ứng phó rất khó khăn, nhưng vẫn cười lớn rằng: “Hay lắm, hay lắm! Hai lão tặc cùng tấn công, sẽ đỡ tốn nhiều sức! Tiểu huynh đệ hãy lên!”
Vân Lối đứng thừ người ra, chợt thấy Trương Đan Phong suýt nữa bị kiếm của Huyền Linh Tử đâm trúng, chàng vừa lách người thì bị món binh khí quái dị của Thiết Tý Kim Viên chụp vào yết hầu, quả thật rất nguy hiểm, ai nhìn cũng kinh tâm động phách. Trương Phong Phủ đã lui sang một bên, xem ra rất lo lắng, thấy Vân Lối cứ chần chừ thì suýt nữa đã thúc giục nàng thay cho Trương Đan Phong.
Chợt thấy ánh màu xanh lóe lên, Vân Lối vung kiếm đâm tới, Trương Đan Phong mừng rỡ mở rộng kiếm thế, hai người thay nhau xuất chiêu tựa như thác đổ, một vòng ánh sáng xanh mở rộng, hai kiếm hợp lại quả nhiên uy thế tăng lên rất nhiều. Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm chỉ cảm thấy kiếm thế của kẻ địch dồn tới như dời núi lấp biển, cả hai hoảng hồn thối lui từng bước. Huyền Linh Tử chỉ chờ đợi đối phương sơ hở để ra đòn, nhưng song kiếm hợp bích kín kẽ như áo trời. Huyền Linh Tử lẽ ra không nên trả đòn, nhưng lão vừa đâm kiếm vào thì đã bị chặt thành bốn mảnh, nếu không rút ra nhanh thì tay cũng bị chặt đứt. Thiết Tý Kim Viên thất kinh, gạt món binh khí quái lạ ra ngoài, chỉ nghe soạt một tiếng, hai kiếm đồng thời chém xuống, thiết chưởng trên đầu cây gậy cũng bị chặt đứt, Thiết Tý Kim Viên liều mạng bổ nhào tới. Trương Đan Phong cười ha hả nói: “Thật là một lão khỉ già không biết tiến thoái!” Thế rồi co giò tung ra một cước, đá trúng vào khớp gối của kẻ địch, Thiết Tý Kim Viên không thể đứng dậy nổi nữa, y lộn người lăn ra đến năm sáu bước.
Soạt một tiếng hai chân chổng lên trời, đùi thì bị món binh khí của mình đâm trúng.
Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm là những kẻ nứt tiếng trên giang hồ, không ngờ chỉ khoảng mười chiêu mà bị hai thiếu niên đánh cho thua to, binh khí thì bị gãy, người cũng bị thương, trông thê thảm vô cùng, không đợi hai người Trương Vân đuổi theo đã lập tức xoay người bỏ chạy.
Trương Đan Phong ngửa mặt cười lớn, phất tay kêu: “Tiểu huynh đệ, hãy mau đuổi theo, bắt hai lão khỉ già kia lại!”
Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm sợ mất vía, chạy càng nhanh hơn, thật ra Trương Đan Phong chẳng qua là dọa bọn họ, nếu thật sự đuổi theo, dù bọn họ không bị thương, Trương Đan Phong cũng bắt kịp.
Trương Phong Phủ cố ý kêu to, vung đao trợ chiến, tựa như đang đuổi theo, đến khi Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đã chạy xa thì mới bật cười, quay sang nói với Trương Đan Phong rằng: “Hôm nay ta nhận của đệ một kiếm, quả thật rất đáng. Ngày sau nếu lên kinh, xin mời đến hàn xá gặp gỡ. Trương huynh, Vân huynh, hai người song kiếm hợp bích, trong thiên hạ chẳng ai địch nổi, có thể hợp mà không thể phân, nếu hai người có điều chi hiểu lầm cũng nên xóa bỏ mới phải”.
Trương Phong Phủ nào biết mối ân oán giữa hai người, chỉ nghĩ rằng họ gây nhau nên khuyên giải. Y tuy nói hai người, nhưng chỉ xoay mặt sang nhìn Vân Lối, Vân Lối đỏ mặt, cúi đầu không nói. Trương Phong Phủ thầm nhủ: “Vân Lối là kẻ hiệp sĩ, sao lại không nói mà cúi đầu e thẹn, chẳng khác gì một khuê nữ?” Đang định khéo léo khuyên giải, Trương Đan Phong nói: “Xem kìa, họ đã đến!”
Chỉ thấy Vân Trọng và Phàn Trung từ ở góc núi bước ra. Té ra đêm qua Phàn Trung vừa mới đưa Châu Sơn Dân ra thì đã bị Trương Đan Phong bà Hắc Bạch Ma Ha chế phục, sau đó Trương Đan Phong dụ Trương Phong Phủ ra ngoài, Hắc Bạch Ma Ha dùng mê hương đánh ngã Ngự lâm quân, mai phục ở gần đó, cho đến khi Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm bước ra khỏi khách điếm thì dụ họ đến gần Tất Lăng Hư. Phàn Trung cũng bị họ bắt đến Thanh Long Hiệp, trói ở trên một góc cây. Hắc Bạch Ma Ha đánh nhau với kẻ cường địch suốt cả nửa đêm mà vẫn không phân thắng bại. Chính vì thế mà Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đã thua hai người Vân, Trương trong vòng mười chiêu, nếu không họ cũng có thể chống đỡ được hơn hai mươi chiêu. Vân Trọng và Vân Lối đang đứng ở ngã ba đường, nghe thấy tiếng la hét, đó là do bọn họ phát ra. Đến khi Vân Trọng tới nơi thì trời đã sáng bặt, chỉ thấy Phàn Trung bị trói lủng lẳng trên cành cây, Thiết Tý Kim Viên, Tam Hoa Kiếm và Hắc Bạch Ma Ha đang đánh nhau rất hăng, cho nên chàng không xen vào được. Vân Trọng leo lên cây, tháo Phàn Trung xuống, Phàn Trung bị trói rất lâu, tay chân đã tê cứng, Vân Trọng xoa bóp cho y, Phàn Trung chưa động đậy được thì Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đã bị Hắc Bạch Ma Ha dụ đi.
Đến khi Phàn Trung hoàn toàn khỏe lại, đuổi tới nơi thì Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đã bị hai người Vân Trương đánh bại bỏ chạy.
Vân Trọng thấy Trương Đan Phong thì gầm một tiếng, vung đao chém tới, trong mắt tựa như nảy lửa. Trương Phong Phủ ngạc nhiên nói: “Tại sao Vân thống lĩnh lại căm giận y như thế?”
Phàn Trung cũng vung đôi chùy trợ chiến, Trương Đan Phong nhẹ nhàng chống lại hai người. Vân Lối rất đau khổ, đứng dựa vào vách núi, vẻ mặt rất hoang mang.
Trương Phong Phủ quát rằng: “Ngừng tay!”
Phàn Trung thu đôi chùy lại, nhưng Vân Trọng thì vẫn cứ đánh tới, kêu lên: “Đại ca, kẻ này là con trai của gian tặc Trương Tôn Châu, không thể tha cho y được”.
Trương Phong Phủ giật mình, Phàn Trung lại vung đôi chùy lên, Trương Phong Phủ nói: “Tam đệ đừng làm càn, đêm qua y đã cứu chúng ta. để ta hỏi cho rõ ràng”. Rồi giơ đao lên quát: “Trương Đan Phong, Vân thống lĩnh nói có đúng không?”
Trương Đan Phong ngửa mặt cười, ngâm rằng: “Nực cười thế nhân sao thiển cận, hoa sen vốn mọc ở bùn nhơ! Ông đã thấy việc ta làm, chả lẽ không biết con người của ta sao? Cần gì phải hỏi chuyện nhà ta?”
Trương Phong Phủ ngạc nhiên, thầm nhủ: “Đúng thế, nếu y là con của Trương Tôn Châu thì có hề chi!”
Thế rồi quát lớn: “Vân thống lĩnh hãy ngừng tay! Người này có lòng tốt với chúng ta, không nên lấy oán báo đức!”
Vân Trọng đánh ra vù vù hai chưởng, kêu lên: “Đại ca có điều không biết, kẻ này là thù nhân của nhà tôi! Có thù mà không trả thì đâu phải là trượng phu?”
Trương Phong Phủ nổi giận, quát rằng: “Hay lắm ngươi cứ báo thù của ngươi, ta mặc ngươi!”
Vân Trọng thi triển Đại Lực Kim Cương thủ pháp lao bổ tới, chợt nghe keng một tiếng, thanh đơn đao trên tay trái đã bị Trương Đan Phong chặt gãy. Vân Lối kinh hoảng nhảy bổ tới, vung kiếm gạt kiếm của Trương Đan Phong ra, Trương Đan Phong vốn không có ý đâm Vân Trọng, thừa thế thâu chiêu nhảy ra khỏi vòng chiến.
Trương Phong Phủ thấy Vân Lối nhảy ra, tưởng rằng họ cùng nhau hợp lực đối phó với Vân Trọng, bất đồ cả kinh, cũng vội vàng nhảy ra, chợt thấy Vân Lối gạt kiếm của họ ra, ngạc nhiên rồi cười rằng: “Tốt tốt, oan gia nên mở không nên kết, ngươi gạt rất hay!” Thế rồi kéo Vân Trọng, nói: “Đã biết tài nghệ của y, sao còn chưa đi?”
Vân Trọng trừng mắt nhìn Trương Đan Phong, trong lòng thầm hận mình học nghề không giỏi, mười năm khổ công mà không đánh lại con trai của kẻ thù, bị Trương Phong Phủ kéo đi, cũng đành đi theo y.
Vân Lối gạt kiếm ra, đột nhiên bật khóc òa lên, ngã xuống đất, Vân Trọng đã ra khỏi chân núi, quay đầu lại nhìn nàng, trong lòng cảm thấy rất thắc mắc. Trương Phong Phủ sợ chàng quay lại gây sự cho nên cười rằng: “Còn để ý đến chuyện người khác làm gì?” Thế rồi kéo Vân Trọng bước ra khỏi sơn cốc.
Khi Vân Lối ngẩng đầu lên thì không còn thấy bóng dáng Vân Trọng nữa, không khỏi rầu rỉ, hạ giọng kêu: “Ca ca!” Chợt thấy Trương Đan Phong vuốt tóc nàng, dịu dàng nói bên tai: “Tiểu huynh đệ, hãy khóc đi, hãy khóc đi! Rồi đệ sẽ cảm thấy dễ chịu hơn!”
Chàng nói như thế, trái lại Vân Lối không khóc nữa, nàng xoay người ngồi sang hướng khác, đẩy tay Trương Đan Phong ra: “Ta khóc mặc ta, ai cần ngươi lo!”
Trương Đan Phong nói: “Tiểu huynh đệ, đệ cần gì phải khổ thế? Trên đời này có rất nhiều chuyện khiến cho người ta đau lòng, đệ có được bao nhiêu nước mắt?”
Vân Lối bị chàng chạm đến tâm sự, nước mắt lại tuôn rơi. Trương Đan Phong nói: “Thật ra đời người nhiều nhất cũng chẳng qua được một trăm năm, có rất nhiều chuyện lớn vẫn chưa hoàn thành, cần gì phải coi trọng ân oán của một con người?”
Vân Lối đứng bật dậy, giận dữ nói: “Ngươi nói thật hay!”
Trương Đan Phong thấy nàng chịu mở miệng nói chuyện, trong lòng mừng rỡ, lại nói rằng: “Cha ta buộc gia gia của đệ chăn ngựa hai mươi năm, quả thật có lỗi với các người, nhưng cũng không thể nào thay đổi được. Gia gia của đệ đã chết, chẳng liên quan gì đến ta, ta đã nói nhiều lần, đệ không tin ta ư?”
Vân Lối nghĩ lại gia gia đã viết bức huyết thư khi đang chăn ngựa, có thể thấy gia gia dù không bị kẻ gian hại chết cũng buộc mình báo thù, nên càng đau lòng hơn.
Trương Đan Phong thở dài nói: “Thủ pháp Đại Lực Kim Cương của đại ca muội rất phi phàm, ta từng nghe sư phụ nói, trên đời này chỉ có vài người giỏi Đại Lực Kim Cương thủ, trong đó Đổng sư bá là người cao cường nhất, xem ra đại ca của muội là học trò của Đổng sư bá”. Nói xong thì thở dài. Vân Lối nén không được hỏi: “Đại ca của ra chính là học trò của Đổng sư bá, tại sao ngươi thở dài?”
Trương Đan Phong nói: “Ba người chúng ta đều là đồng môn thủ túc, lẽ ra phải là một nhà. Mà nay người đã chết chia cắt người còn sống, khiến cho chúng ta trở thành thù địch, không ai sống vui, điều đó chẳng đáng buồn sao?”
Vân Lối như bị nện một gậy, nàng vội vàng né tránh ánh mắt của Trương Đan Phong, trong lòng rối bời, buồn bã chẳng nói lời nào. Trương Đan Phong lại thở dài nói: “Nếu đệ đã không chịu tha thứ, vậy chúng ta chi bằng hãy chia tay thôi, để đôi bên khỏi đau lòng”.
Vân Lối chợt nói: “Khoan đã”.
Trương Đan Phong quay đầu lại nói: “Ồ, đệ vốn rất thông minh, có phải đã nghĩ thông suốt rồi không?”
Vân Lối né tránh ánh mắt của Trương Đan Phong, nói: “Giữa chúng ta đã không còn gì nữa. Còn Châu đại ca đâu? Ngươi giấu Châu đại ca ở đâu? Còn Tất lão tiền bối, ngươi có gặp ông ta không?”
Trương Đan Phong cười thầm, nàng bảo không có gì để nói nữa, thế nhưng lại có quá nhiều lời như thế, cười rằng: “Châu đại ca coi ta như kẻ địch, ta đã đánh ngã y”.
Vân Lối nói: “Cái gì?”
Trương Đan Phong cười nói: “Khi y được Phàn Trung dắt ra cửa sau, Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm đã đến, ta sợ họ chạm mặt nhau thì sự việc sẽ hỏng bét. Cho nên khuyên Tất lão tiền bối và y hãy mau cỡi ngựa của ta bỏ đi, y lại không chịu nghe, ta chỉ đành điểm huyệt đạo của y, còn Hắc Bạch Ma Ha thì ngăn cản Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm, ba người chạy được một người thì đến Lam gia. Thủ pháp điểm huyệt của ta có nặng có nhẹ, nếu nhẹ thì sau một canh giờ sẽ tự giải, chắc nay có thể y đang quát tháo ở trong nhà họ Lam”.
Vân Lối vừa bội phục vừa ngạc nhiên, nhưng vẫn điềm nhiên nói: “Trong một đêm mà ngươi có thể làm được nhiều chuyện đến thế”.
Trương Đan Phong nói: “Ngựa của ta một ngày đi ngàn dặm, đó có xá gì?” Lời đã nói xong, Vân Lối lại im lặng không nói, nàng lại né tránh ánh mắt của Trương Đan Phong. Lúc này mặt trời đã lên cao, Thanh Long Hiệp trải dài dăng dặc trước mắt, sắc xuân đã sắp tàn, hoa dại mọc bên vệ đường, hoa lê trắng như tuyết càng rực rỡ hơn dưới ánh mặt trời. Trương Đan Phong chợt lấy ra một bức thư, nói: “Làm phiền đệ hãy trao cho Thạch cô nương”.
Vân Lối không quay đầu, chỉ đưa tay nhận lá thư, nàng biết trước sau gì cũng chia tay Trương Đan Phong cho nên cố kìm nén mình không nhìn lại thêm để khỏi đau lòng. Trương Đan Phong thở dài, phóng lên ngựa rồi chầm chậm vỗ ngựa ra khỏi cửa cốc, trong chốc lát đã khuất dạng. Lát sau Vân Lối cũng đứng dậy lầm lủi đi ra.
Đến trưa thì Vân Lối đã về đến nhà của Lam Thiên Thạch, Châu Sơn Dân quả nhiên đã ở đó đang cùng mọi người đàm luận. Tất Đạo Phàm vừa thấy Vân Lối thì cười ha hả rằng: “Đêm qua chúng tôi để lại một mình công tử, thật sự rất lo lắng, nhưng nghĩ lại đã có Trương Đan Phong nên sau đó không lo gì nữa”. Ông ta nói với vẻ rất khâm phục Trương Đan Phong.
Lam Thiên Thạch cũng bảo: “Chúng ta phí hết tâm sức mà không cứu được người, Trương Đan Phong vừa đến thì đã dễ dàng giải quyết được mọi chuyện, kẻ này hành sự thật thần kỳ khó đoán”.
Hắc Bảo Xuân, kẻ cảnh giác Trương Đan Phong nhất cũng nói: “Xem ra gã này là một hán tử đầy nhiệt huyết, trước đây chúng ta đã trách lầm y”. Châu Sơn Dân liếc nhìn Vân Lối rồi nói: “Đáng tiếc y là kẻ thù của Vân công tử, nếu không chúng ta sẽ kết nạp y”.
Vân Lối đỏ mặt, im lặng không nói. Thạch Thúy Phượng nói: “Vân công tử, huynh cũng có công cứu Sơn Dân đại ca, sao huynh không nói gì cả?”
Vân Lối nói: “Ta có công gì đâu, ta chỉ là một quân cờ nhỏ trong bàn cờ mặc cho người ta sắp xếp mà thôi”.
Thạch Thúy Phượng lộ vẻ không vui, nói: “Ai có thể sắp xếp huynh?”
Vân Lối đang suy nghĩ chuyện của mình, cho nên buột miệng nói ra, đến khi nàng ta hỏi lại thì cười gượng, rồi lại buồn bã nói: “Ta bảo ta bị sản phẩm sắp xếp, không thể làm chủ được”.
Mọi người đều ngạc nhiên, không biết tại sao nàng lại nói năng khó hiểu đến thế, Châu Sơn Dân chợt nói: “Đệ và Trương Đan Phong có thù với nhau, há chẳng phải là do sản phẩm sắp xếp hay sao?”
Châu Sơn Dân tuy đã dần dần có thiện cảm với Trương Đan Phong, nhưng nhớ lại tình cảm sâu sắc của Vân Lối đối với Trương Đan Phong thì không khỏi buồn lòng.
Thạch Thúy Phượng nói: “Các người toàn nói những lời khó hiểu. Vân công tử, công tử có vào kinh không?”
Thạch Thúy Phượng vốn muốn đi cùng nàng, Vân Lối chợt nói: “Suýt nữa ta quên trao một bức thư cho cô nương”.
Thạch Thúy Phượng nói: “Trương Đan Phong tại sao trao thư cho tôi? Thật là kỳ lạ”. Rồi lại nói: “Công tử và y có thù, thế nhưng lại như bằng hữu tốt, cũng thật kỳ lạ!” Thế rồi nàng vừa bóc bức thư, vừa kêu lên: “Té ra là thư của cha. Ồ, có chuyện gấp gì mà bảo mình quay về? Vân công tử, ở đây còn có một bức thư trao cho công tử, không, là nhờ công tử trao cho Các Lão Vu Khiêm, ồ, đây không phải là bút tích của người!” Thế rồi xem tiếp: “Té ra bức thư này do người khác viết, sao lại truyền qua chuyển lại thế này?”
Vân Lối nhận bức thư, chỉ thấy chữ trên bì thư như rồng bay phượng múa, tim nàng đập thình thình, nét chữ này là của Trương Đan Phong! Trương Đan Phong sợ mình không chịu nhận bức thư, hay là trong đó có tâm ý gì khác?
Thạch Thúy Phượng xem xong bức thư thì tỏ vẻ thất vọng, nói: “Cha có chuyện bảo tôi phải quay về, công tử lại vào kinh, không biết chừng nào chúng ta mới gặp nhau đây?”
Vân Lối đang vui mừng vì thoát khỏi Thạch Thúy Phượng, cười rằng: “Có duyên sẽ gặp lại”.
Mọi người đều tưởng đôi vợ chồng này nũng nịu với nhau, bất giác cười ầm lên, khiến Thạch Thúy Phượng đỏ ửng cả mặt.
Đến ngày hôm sau thì quần hùng chia tay nhau, Tất Đạo Phàm đến Hoa Sơn tránh nạn, Châu Sơn Dân thì không dám ở lại lâu, chuẩn bị quay về sơn trại. Còn Vân Lối một mình vào kinh, Thạch Thúy Phượng và Châu Sơn Dân cũng đưa nàng một đoạn. Khi chia tay Vân Lối chợt nói: “Phượng tỷ, tỷ hãy quay về trước, tôi có chuyện muốn nói với Châu đại ca”.
Nếu là ngày trước, Thạch Thúy Phượng chắc chắn sẽ tức giận, lại trách Vân Lối chỉ nghĩ đến nghĩa huynh của mình chứ không có nàng. Nhưng chỉ vì Châu Sơn Dân đã từng liều mạng cứu nàng, cho nên nàng không tiện nói ra, chỉ đành buồn bã một mình quay về.
Châu Sơn Dân nói: “Trước kia ta coi Trương Đan Phong là kẻ gian tặc, nay nhìn lại y là một nhân tài. Đệ vào kinh thì phải dò hỏi kỹ càng, nếu gia gia của đệ không phải do nhà y hại, có lẽ không cần giết cả nhà họ để trả thù nữa”.
Châu Sơn Dân đã suy nghĩ suốt đêm qua, mỗi người đều có lương duyên của mình, bất giác lòng chán nản, chàng vốn là người hiệp nghĩa, sau khi buồn bã thì đã thông suốt, cho nên mới nói ra những câu này. Vân Lối nghe xong rất cảm động, bảo rằng: “Sau này hãy tính. Muội có một vật tặng cho huynh, không, vật này vốn là của huynh”. Nói xong thì rút ra cây san hô đưa cho Châu Sơn Dân nói: “Giờ đây cây san hô phải nên trở về chủ cũ!”
Châu Sơn Dân chợt biến sắc, nói: “Muội... muội làm thế là có ý gì?”
Đó chính là:
Nối cây dời hoa thật khéo tay, nhân duyên đã định khó cưỡng cầu.
Muốn biết chuyện sau đó thế nào, xin hãy xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 14
La Hán miên quyền tướng quân tao hiểm trứ
Kim Cương Đại Lực quái khách sính kỳ năng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:39 pm

Hồi 14
La Hán miên quyền tướng quân tao hiểm trứ
Kim Cương Đại Lực quái khách sính kỳ năng


Cây san hô này là sính lễ Vân Lối tặng cho Thạch Thúy Phượng, Châu Sơn Dân nào dám nhận! Vân Lối cười khanh khách nói: “Đây vốn là vật của nhà huynh, muội chẳng qua chỉ mượn dùng mà thôi, giờ đây phải trả về cho chủ cũ sao lại không dám nhận?”
Châu Sơn Dân hơi bực bội nói: “Vân muội, chúng ta đã sắp chia tay, muội cần gì phải bỡn cợt ngu huynh như thế?”
Vân Lối nghiêm mặt, nói: “Châu đại ca, muội có một chuyện muốn nhờ, huynh có chịu giúp hay không?”
Châu Sơn Dân nói: “Chúng ta tình như huynh muội, nếu ngu huynh có thể làm được thì dù dầu sôi lửa bỏng cũng không từ”.
Vân Lối cười nói: “Chuyện này rất dễ dàng”.
Châu Sơn Dân không phải là kẻ ngốc, thấy vẻ mặt của nàng như thế thì vỡ lẽ ra, trong lòng lại nổi giận, nghĩ bụng: “Muội đã có ý trung nhân thì thôi, cần gì phải dùng kế dời hoa ghép cây?”
Chàng đang định lên tiếng, chỉ nghe Vân Lối lại nói: “Thạch cô nương si tình đến đáng thương. Muội làm sao có thể dấu diếm nàng, để cho nàng lỡ tuổi thanh xuân?”
Châu Sơn Dân tức giận nói: “Chuyện này có liên quan gì đến ta?”
Vân Lối rưng rưng nước mắt, nói: “Muội mồ côi cha mẹ, có chuyện khó khăn không nhờ huynh thì nhờ ai? Muội nghĩ chuyện này chỉ có huynh mới giúp được muội. Thúc tổ và Oanh Thiên Lôi Thạch Anh lại quen biết nhau, quả thật rất thích hợp!”
Châu Sơn Dân nói: “Cái gì, muội định ép người đấy ư?”
Vân Lối nói: “Huynh biết muội cần huynh làm chuyện gì không? Muội không phải muốn huynh lập tức thành thân, huynh lo cái gì? Muội chỉ mong huynh nhận lại cây san hô này, khi có thời cơ thích hợp thì hãy nói rõ sự thực cho Thạch cô nương biết, có được không?”
Châu Sơn Dân thấy nàng rất đáng thương, mà chuyện này cũng chẳng có gì trái lẽ, cho nên không thể nào từ chối, chỉ đành chấp nhận. Vân Lối mỉm cười đáp tạ, vỗ ngựa lên đường. Châu Sơn Dân đứng ngẩn ra nhìn hình bóng của nàng, trong lòng trăm mối tơ vò.
Vân Lối đi thẳng một mạch mấy ngày thì đến kinh sư. Từ giữa thời Nguyên, Bắc Kinh là trung đô của nhà Kim, đã có quy mô rộng lớn, đến thời Minh Thành Tổ đã từ Nam Kinh dời đến đây, sau khi cải tạo thì đã trở thành một đô thành sầm uất. Khi Vân Lối vào thành, chỉ thấy trong Tri Cơ Tử lầu điện liên tiếp nhau, đường phó rộng rãi, trông rất náo nhiệt. Vân Lối tìm đến một khách sạn thuê phòng, trong lòng nhủ rằng: “Ở kinh thành mình chẳng có người quen, Vu Khiêm là đại thần nhất phẩm, không biết ông ta có chịu gặp mình hay không? Mình cũng không biết nơi ông ta ở”. Rồi lại nghĩ: “Mình biết quân quan trẻ tuổi kia là đại ca của mình, mà lúc này y đang ở kinh đô, mình phải tìm đại ca mới phải”. Trong lòng nàng chợt hiện ra ánh mắt thù hận của đại ca đối với Trương Đan Phong, không khỏi thở dài nhủ thầm: “Ngày hôm đó cứ vội vội vàng vàng, không thể nào nói rõ cho đại ca biết. Trên đời này rốt cuộc chỉ có y là người thân của mình, dù mình có bị trách mắng cũng phải cho đại ca biết tâm sự của mình! Nhưng nếu đại ca buộc mình phải cùng trả thù thì phải làm thế nào đây? Trương Đan Phong đã nhiều lần cứu mạng mình, mình làm sao có thể hại y? Ôi, chỉ đành đi tới đâu hay tới đó!”
Lúc này nàng vui buồn lẫn lộn, vui vì tìm được đại ca, buồn vì phải báo thù. Nhưng nàng buộc phải đến gặp đại ca của mình! Còn đi đâu tìm đại ca thì đó không phải chuyện khó, nàng đương nhiên sẽ đến chỗ Trương Phong Phủ.
Trước đây Trương Phong Phủ đã từng nói, nếu nàng và Trương Đan Phong có cơ hội đến Bắc Kinh, chắc chắn phải đến thăm y, rồi đã để lại địa chỉ cho nàng. Vân Lối ở trong khách sạn ba ngày, dần dần quen thuộc đường sá Bắc Kinh, đến ngày thứ tư thì đến nhà họ Trương.
Nhà họ Trương cũng không phải là nhà phú quý, nhà cửa cũng rất rộng rãi, từ bên ngoài nhìn vào chỉ thấy một bức tường, bên trong tường cây cối thưa thớt, chỉ thấy có bốn năm gian nhà trệt, Vân Lối chỉ cảm thấy ngạc nhiên: “Tại sao có nhiều đất trống thế này?” Thế rồi mới nghĩ: “Đúng rời, Trương Phong Phủ là chỉ huy Cẩm y vệ, trong nhà đương nhiên phải có sân luyện võ”.
Vân Lối gõ cửa, tên gia nhân giữ cửa nhìn Vân lối dò xét một lúc lâu, mới chậm rãi nói: “Tiểu ca, thật xin lỗi, Trương đại nhân hôm nay không tiếp khách”.
Vân Lối bực dọc hỏi: “Sao ngươi biết y không chịu gặp ta?”
Người giữ cửa nói: “Trương đại nhân đã dặn trước, ngoại trừ Ngự lâm quân và Cẩm y vệ, những người khác đều không muốn gặp”.
Vân Lối nói: “Trương đại nhân đã mời ta đến đây, sao lại không gặp?”
Tên giữ cửa ấy liếc nhìn Vân Lối rồi lắc đầu, mặt có vẻ không tin.
Vân Lối bực dọc nói: “Ngươi không báo cho ta, ta sẽ tự vào”. Thế rồi nàng bước thẳng tới. Tên giữ cửa ấy vội vàng nói: “Tiểu ca đừng vội, tôi sẽ thông báo cho tiểu ca một tiếng, còn gặp hay không thì phải xem Trương đại nhân”.
Một hồi sau, tên giữ cửa ấy bước ra, nói: “Vân công tử, Trương đại nhân mời ngài vào. Công tử cứ đi thẳng con đường đá bên phải, sau đó rẽ sang trái, có một cánh cửa đá khép hờ, công tử cứ đẩy cửa bước vào, Trương đại nhân đang ở trong đó. Tôi đang canh cửa nên xin thứ không thể dắt công tử vào”. Rồi nhường đường cho Vân Lối bước vào. Vân Lối vẫn chưa hết bực bội, nghĩ bụng: “Trương Phong Phủ thật phách lối, khi đến Thanh Long Hiệp tỏ vẻ rất thân thiết với mình, hôm nay mình đến gặp thì lại không chịu tiếp. Hừ, nhà quan nào cũng thế”.
Vân Lối bực bội bước vào, đang suy nghĩ nên nói thế nào với Trương Phong Phủ, chợt nghe có tiếng cười vang lên: “Ha ha, cẩn thận đấy!” Té ra đó là tiếng cười của Đàm Đài Diệt Minh. Vân Lối thất kinh, đẩy cửa đá vào, chì thấy trong sân có rất nhiều Ngự lâm quân và Cẩm y vệ, Trương Phong Phủ đứng ở hàng đầu tiên, thấy Vân Lối bước vào thì gật đầu chào, trong sân Đàm Đài Diệt Minh đang tỉ thí với một võ sĩ, y đột nhiên cười lớn chân trái móc vào tên võ sĩ ấy.
Đàm Đài Diệt Minh nói: “Đứng dậy, đứng dậy”. Lại một tên võ sĩ khác nhảy ra: “Tôi cũng muốn lãnh giáo tuyệt kỹ của Đàm Đài tướng quân!”
Đàm Đài Diệt Minh cười rằng: “Hay lắm, hay lắm!”
Võ sĩ ấy hạ người xuống rồi đấm thẳng ra một quyền, đó là loại công phu Thập bát lộ trường quyền, quyền thế của y nhanh như gió, trông rất mạnh mẽ, hai chân bám xuống đất như đóng đinh, Đàm Đài Diệt Minh đẩy ra hai quyền nhưng chỉ làm cho y lắc lư chứ không ngã.
Vân Lối cảm thấy rất ngạc nhiên, Đàm Đài Diệt Minh đi theo bảo vệ cho tên Phiên vương của Ngõa Thích, tại sao lại tỉ thí với võ sĩ Trung Quốc trong nhà của Trương Phong Phủ? Trương Phong Phủ chăm chú đứng nhìn, Vân Lối không tiện đến gặp y, chỉ đành chen vào đám người, nghe bọn võ sĩ bàn tán.
Nhờ đó Vân Lối mới biết, té ra Đàm Đài Diệt Minh đến Bắc Kinh lâu ngày, rất thân thiết với các võ sĩ, thường hay đàm luận võ nghệ. Đàm Đài Diệt Minh lâu nay là đệ nhất võ sĩ ở Ngõa Thích, cho nên có người muốn tỉ thí võ công với y, Đàm Đài Diệt Minh là người mau mắn, lại thêm y muốn biết võ công của võ sĩ Trung Nguyên cho nên nhờ Trương Phong Phủ mời những người giỏi ở Bắc Kinh đến tỉ thí. Những người học võ tỉ thí võ công là chuyện rất bình thường, nhưng vì Đàm Đài Diệt Minh là đệ nhất dũng sĩ ở nước Ngõa Thích, cho nên những ai có tấm lòng yêu nước đều muốn tỉ thí với y, coi việc đánh bại Đàm Đài Diệt Minh là vinh quang, vì thế không khí rất căng thẳng, chẳng giống như Đàm Đài Diệt Minh nghĩ lúc ban đầu.
Cuộc tỉ thí đã trải qua ba ngày, Đàm Đài Diệt Minh đánh bại tám cao thủ trong kinh thành, hôm nay là ngày cuối cùng, nếu vẫn không ai có thể địch lại y, võ sĩ Trung Quốc sẽ mất mặt, cho nên mọi người đều có tâm trạng căng thẳng nặng nề.
Người đang tỉ thí với Đàm Đài Diệt Minh trong sân là Phó thống lĩnh của Ngự lâm quân, tên gọi Dương Oai, đã luyện công phu Thiết bố sam, y tin rằng có thể chịu nổi chưởng lực của Đàm Đài Diệt Minh, lúc này hai bên đã đánh nhau hơn hai mươi chiêu. Dương Oai dùng loại công phu Thật bát lộ trường quyền, đường quyền đánh ra rất cứng cáp, trong quyền nghe thấy tiếng gió, oai thế cũng rất kinh người, Đàm Đài Diệt Minh chỉ dùng một bộ chưởng pháp bình thường Thiết Tỳ Bà, nhẹ nhàng gạt từng quyền của Dương Oai ra, đấu được khoảng ba mươi chiêu thì Dương Oai đổ mồ hôi như mưa, quyền pháp dần dần rối loạn. Đàm Đài Diệt Minh mỉm cười nói: “Dương thống lĩnh, ông hãy nghỉ ngơi thôi!” rồi đột nhiên xoay người, liên tục vỗ ra ba chưởng, đẩy song quyền của Dương Oai ra, rồi lướt người bổ tới, đẩy Dương Oai ngã chỏng xuống đất. Đàm Đài Diệt Minh nói: “Đắc tội”. Rồi đỡ Dương Oai lên, cười rằng: “Đây là trận thứ mười, còn ai muốn chỉ giáo?”
Trương Phong Phủ không nén được nửa, nhảy vọt ra giữa sân, ôm quyền nói: “Tôi đến lãnh giáo cao chiêu của Đàm Đài tướng quân!”
Đàm Đài Diệt Minh cười ha hả nói: “Từ lâu đã nghe Trương đại nhân là đệ nhất cao thủ trong kinh thành, lần này may mắn được gặp đối thủ, quả thật là chuyện vui trong đời”. Lời lẽ tuy đưa Trương Phong Phủ lên cao, nhưng thật sự rất tự phụ, trận này là tranh hai chữ đệ nhất, nếu tay phải thua thì không ai tỉ thí với y nữa.
Trương Phong Phủ kêu một tiếng lãnh giáo rồi đứng đối diện với Đàm Đài Diệt Minh, cung tay về phía trước, đó là nghi lễ ra mắt khi các bậc danh gia tỉ võ, nhưng thật sự là âm thầm vận nội kình để lấy khỏe đợi mệt. Đàm Đài Diệt Minh đương nhiên là người có hiểu biết, thế là mỉm cười chắp hai tay lại, trả một lễ rồi sau đó tách ra, đánh ra một chiêu Bạch Viên Thám Lộ, vỗ xuống thiên cái của Trương Phong Phủ. Trương Phong Phủ lướt người lên, chưởng phải gạt ngang, chưởng trái phất ra, trong khoa học đã trả lại hai chiêu, Đàm Đài Diệt Minh hư hư thực thực, một chưởng chưa kịp chém tới thì đột nhiên biến chiêu, xỉa thẳng hai ngón tay vào be sườn của Trương Phong Phủ.
Nếu bị y điểm trúng, Trương Phong Phủ chắc chắn sẽ ngã xuống đất. Nhưng Trương Phong Phủ cũng là người có kinh nghiệm, vừa thấy thế thì lập tức thừa thế bổ về phía trước, nhưng lại không biến chiêu, vỗ thẳng chưởng vào ngực Đàm Đài Diệt Minh. Đó là lối đánh liều mạng lưỡng bại câu thương, Đàm Đài Diệt Minh nếu bị y đánh trúng thì chắc chắn sẽ phun máu ngay tại trận!
Đàm Đài Diệt Minh kêu lên: “Hay cho một chiêu Đảo Đả Kim Chung!” Nói chưa dứt thì người đã lay động, bước ngược vào trung cung, lướt thẳng tới, chưởng trái chặt vào cổ tay của Trương Phong Phủ, các võ sĩ đều buột miệng kêu hoảng.
Chỉ nghe bốp bốp hai tiếng, hai người chạm chưởng vào nhau, mỗi người nhảy xéo ra ba bước. Mọi người đang đợi họ phải tấn công như thế nào, nhưng không ngờ Đàm Đài Diệt Minh lại chồm người về phía trước, hai chưởng cùng đẩy ra, người trong võ lâm thật sự chưa bao giờ thấy thân pháp và lối đánh kỳ lạ như thế!
Chỉ thấy Trương Phong Phủ vạch nửa hình vòng cung, hai chưởng chậm rãi đẩy ra ngoài, chưởng thế của Đàm Đài Diệt Minh rất mạnh mẽ, nhưng Trương Phong Phủ thì rất chậm chạp, xem ra không thể chống đỡ nổi, cả Vân Lối cũng lo lắng. Chợt nghe Đàm Đài Diệt Minh kêu lên: “Hay cho công phu Miên chưởng!” Thế rồi người bật dậy như chiếc lò xo, cười ha hả, hai chưởng tách ra hóa giải chiêu số của Trương Phong Phủ, trong chớp mắt đã tấn công ra ba chiêu!
Té ra Trương Phong Phủ cũng biết công lực của mình không bằng Đàm Đài Diệt Minh, nhưng cũng may là y học loại công phu chính tông của nội gia, cho nên có thành tựu phi thường trong Miên chưởng, Miên chưởng chú trọng lấy nhu khắc cương, nếu luyện đến cảnh giới thần diệu thì có thể nhẹ nhàng đánh vỡ đá thành bột. Trương Phong Phủ tuy chưa đạt đến cảnh giới này, nhưng cũng có thể hóa giải thế đánh của Đàm Đài Diệt Minh.
Cao thủ trong trường đều không khỏi mừng rỡ, nhưng Vân Lối thì thầm lo lắng. Chỉ thấy sau ba chiêu thì Trương Phong Phủ tựa như rất căng thẳng, còn Đàm Đài Diệt Minh thì tỏ vẻ thong thả, cũng chẳng thấy y dùng lực như thế nào, nhưng trong mỗi chưởng đều có tiếng gió, vừa nhẹ nhàng vừa mạnh mẽ. Vốn là nếu có thể luyện đến cảnh giới tối cao, đương nhiên có thể lấy nhu khắc cương, nhưng nếu công lực của hai bên có khoảng cách, dư kình sẽ bị cương mãnh đè bẹp!
Hai người tiến lùi công thủ một hồi, vẫn chưa phân thắng bại, nhưng Trương Phong Phủ dần dần toát mồ hôi trán, các võ sĩ trong trường vẫn chưa nhận ra, Vân Lối đã biết không xong. Nàng tuy đã thấy Trương Phong Phủ lúng thế, nhưng thầm nhủ: “Võ công của Trương Phong Phủ tương đương với Trương Đan Phong, trong cổ mộ, Đàm Đài Diệt Minh thử chiêu Trương Đan Phong, Trương Đan Phong chẳng qua chỉ có thể chống đỡ được hơn năm mươi chiêu, công lực của Trương Phong Phủ tuy hơi cao hơn Trương Đan Phong, nhưng cũng không thể đỡ được bảy mươi chiêu. Nay họ đã đánh gần năm mươi chiêu, chỉ e Trương Phong Phủ sẽ thua to”.
Trương Phong Phủ cũng biết không xong, đánh được bảy mươi chiêu thì đã thở hồng hộc, thầm nhủ: “Nếu bại thì chẳng sợ mất thanh danh, nhưng há chẳng phải mình đã làm mất mặt võ sĩ Trung Nguyên hay sao?” Trong lòng lo lắng, thế là mạo hiểm dốc hết toàn lực, dồn kình lực nội gia vào lòng bàn tay, Đàm Đài Diệt Minh quét vù ra một chưởng, lại là một đòn nặng như ngàn cân, Trương Phong Phủ đột nhiên thu bàn tay lại, quát lớn một tiếng, nhả hết chưởng lực ra. Cao thủ tỉ thí sợ nhất là đánh hụt một chưởng, chắc chắn sẽ bị người ta phản công. Có câu cứng quá thì dễ gãy, đối phương chưa phản công trở lại thì cổ tay đã trật khớp.
Nhưng Đàm Đài Diệt Minh là nhân vật rất ghê gớm, y tuy đánh hụt, nhưng chưởng lực đã dồn tới như dời núi lấp biển, chưởng lực của y đã bao trùm trong vòng một trượng. Trương Phong Phủ không ngờ công lực của y lại thâm hậu đến thế, cho nên lần này khéo quá hóa vụng, chiêu sát thủ này trở thành một đòn liều mạng, chỉ thấy ngực như bị giáng một nhát búa nặng ngàn cân, hơi thở tắt nghẽn, toàn thân phát nóng! May mà vừa rồi y phát nội kình ra cho nên đã ngăn được một nửa chưởng lực của Đàm Đài Diệt Minh, nếu không đã không thể chịu đựng nổi nữa.
Lúc này hai bên chạm nhau bằng chân lực, đã không thể nào thối lui nữa, Đàm Đài Diệt Minh cũng thầm thất kinh. Vốn là công lực của Trương Phong Phủ tương đối yếu hơn, nhưng công phu Miên chưởng của y lại là công phu thượng thừa của nội gia, cương nhu đều có, chưởng lực của Đàm Đài Diệt Minh vừa tiếp với y thì tựa như bị dính vào, không thể nào thoát ra được. Đàm Đài Diệt Minh thầm kêu khổ, bản thân tuy không có lòng làm tổn thương người ta, nhưng trong tình thế này, y không thể nào thu chưởng lực lại, vả lại công phu Miên chưởng của Trương Phong Phủ cũng rất ghê gớm, khi cao thủ tỉ thí với nhau, đến bước liều mạng, thì không thể nào nhường nhịn được nữa, buộc phải dốc hết toàn lực ra, không để cho chưởng lực của đối phương chạm vào người mình.
Hai người tỉ thí chưởng lực với nhau, cao thủ xung quanh đều kinh hoảng, chỉ thấy hai người trầm eo tọa mã, bốn chưởng giáng vào nhau, bốn mắt nhìn trừng trừng. Một lát sau, Trương Phong Phủ thở nhè nhẹ, trên trán toát mồ hôi, bàn tay không ngừng lắc lư, tựa như đang cố phá giải thế công hung mãnh của kẻ địch, nhìn bộ dạng y hình như rất hao sức. Đến lúc này, mọi người dù muốn lên kéo hai người ra nhưng không ai có nổi công lực này.
Vân Lối thấy thế thì ngẩn người ra, thầm nhủ: “Theo tình thế lúc này, nếu cứ để cho họ tiếp tục thì Trương Phong Phủ không chết cũng bị trọng thương, nhưng mình lại không thể nào giúp đỡ”.
Lại một lát sau trôi qua, tiếng thở của Trương Phong Phủ càng nặng nề hơn, những người hơi biết võ công cũng có thể nhìn thấy được y đang rơi vào nguy hiểm, chỉ lát nữa thôi thì sẽ biết được ai sống ai chết. Lúc này toàn trường đều lặng lẽ, có thể nghe được cả tiếng tim rơi.
Chợt có người ho nhẹ, trong sân lại có thêm một người, sắc mặt vàng ệt, râu ba chòm tuổi khoảng trên dưới năm mươi, người mặc một bộ đại quải, tay cầm chiếc quạt nan rách, tựa như một ông già nhà quê vừa mới cầy ruộng về. Mọi người đang tập trung chú ý, không biết ông ta đã vào từ lúc nào, ai nấy đều kinh ngạc. Chỉ thấy trong chớp mắt ông ta đã đến trước mặt hai người, khẽ cười nói: “Hai vị đại gia đã mệt, hãy nghỉ ngơi một lát!” Giọng nói tuy có khác nhau, nhưng lời lẽ thì giống như Đàm Đài Diệt Minh nói với tên võsĩ lúc nãy bị y đánh ngã. Đàm Đài Diệt Minh giật mình, chỉ thấy ông già ấy gạt cây quạt vào giữa hai người, chỉ nghe soạt soạt mấy tiếng vang lên, chiếc quạt nan lập tức rách bươm. Trương Phong Phủ quát lớn một tiếng, ngã ngửa ra cách đó một trượng, Đàm Đài Diệt Minh cũng lảo đảo rồi chợt thu hai chưởng về, mặt đầy vẻ kinh ngạc.
Té ra ông già này ra tay rất chính xác, ông ta đã mượn lực ngăn của cây quạt rách, kéo nội lực của hai người lên cây quạt, còn mình thì không hề bị thương. Những người không có võ công tinh thâm thì không thể nào sử dụng công phu Ngự lực hóa kình này, mà ông ta ra tay vừa đứng lúc hai người đang đổi khí, nếu không cả bản thân ông ta cũng gặp nguy hiểm!
Mọi người đang kinh hãi, chỉ nghe Đàm Đài Diệt Minh cười ha hả nói: “Hôm nay may mắn gặp cao nhân, Đàm Đài Diệt Minh này muốn thỉnh giáo!”
Người khách kỳ lạ tựa như ông già nhà quê này cầm cái quạt rách, nói với vẻ lo sợ: “Đàm Đài tướng quân đừng nói đùa, lão già nhà quê này có biết võ nghệ gì đâu!”
Đàm Đài Diệt Minh sầm mặt, nói: “Nói vậy lão tiên sinh không chịu chỉ giáo?” Lúc này cả hai người đứng cách nhau ba Trung Hoa, Đàm Đài Diệt Minh vung tay ra, chỉ thấy cái quạt đạ bị gãy cả nan, tựa như bị dao chém! Mọi người đều cả kinh thất sắc, trong lòng rất ngạc nhiên, cả kinh là vì công phu Thiết Chỉ Tỳ Bà của Đàm Đài Diệt Minh đã lên đến mức đăng phong tạo cực; ngạc nhiên là vì thấy người quái khách này lúc nãy đã nhẹ nhàng tách hai cao thủ ra, nhưng nay lại không chịu chống cự, để mặc cho Đàm Đài Diệt Minh ra tay.
Mọi người đều không biết, quái khách này lúc nãy gạt Đàm Đài Diệt Minh và Trương Phong Phủ ra thật sự một nửa nhờ vào xảo kình, một nửa nhờ vào công lực, dẫn nguồn chân lực nội gia của hai đối thủ lên cây quạt, để cho hai nguồn chân lực này chạm vào nhau, triệt tiêu lẫn nhau người mới không hề bị thương, chỉ có chiếc quạt là bị rách bươm. Nay Đàm Đài Diệt Minh đột nhiên ra tay quả thật bất ngờ đối với y, trong khoảnh khắc chỉ có thể vận khí hộ thân. Chỉ có một mình Trương Phong Phủ biết sự ảo diệu của loại võ công thượng thừa này, cho nên trong lòng cảm khái muôn phần, thầm nhủ: “Quả thực ngoài trời có trời, ngoài người có người, xưa nay mình tự phụ võ công, nhưng nay nhìn lại không những Đàm Đài Diệt Minh hơn cả mình, mà cả ông già nhà quê này còn giỏi hơn mình nhiều. Xem ra hai người này võ công lại cao cường, không biết mèo nào sẽ cắn mỉu nào”.
Trong lòng không khỏi lo lắng không yên. Đàm Đài Diệt Minh là sứ giả của nước Ngõa Thích, bọn Trương Phong Phủ chấp nhận tỉ thí với y chẳng qua là muốn hạ uy phong của y, để cho y biết rằng Trung Quốc có người tài, chứ không phải muốn dồn y vào chỗ chết. Nhưng lúc này không ai biết quái khách từ đâu tới, y lại là cao thủ ngang tài ngang sức với Đàm Đài Diệt Minh, võ công của hai bên thâm sâu đến khó lường, nếu giao thủ chắc chắn không chết cũng bị trọng thương, quái khách ấy không phải là người trong triều đình, khi ra tay chắc chắn sẽ không kiêng dè, mà đã không kiêng dè thì đến lúc quan trọng sẽ chẳng biết nhường nhịn nhau. Trương Phong Phủ nghĩ thầm: “Nếu Đàm Đài Diệt Minh mất mạng, họa này sẽ to bằng trời, giả sử ông già mất mạng, nhưng ông ta đã từng cứu mình, mình sao có thể ngồi yên mà nhìn? Vừa rồi mình và Đàm Đài Diệt Minh giao thủ, có ông ta can ra, nếu hai người họ giao thủ thì ai có thể can được?”
Các võ sĩ đều suy nghĩ như Trương Phong Phủ, họ đều hy vọng hai người giao thủ, nhưng đến khi nghĩ lại sự lợi hại thì lại mong muốn cuộc tỉ thí này không thành công, mấy mươi cặp mắt trong sân đều nhìn ông già quái lạ. Trương Phong Phủ cứ thầm kêu lên trong lòng: “Đừng tỉ thí, đừng tỉ thí”.
Ông già quái lạ ấy vung cây quạt, chợt nói: “Ngươi đã làm hỏng quạt của ta, ta không cần nữa, tặng cho ngươi!” Lúc này chiếc quạt chỉ còn lại cái cán, chỉ thấy hai ngón tay ông ta búng mạnh, cán quạt bay như điện xẹt bắn thẳng về phía huyệt Linh Đài trên trán của Đàm Đài Diệt Minh, lúc này Đàm Đài Diệt Minh cũng không kịp đề phòng, khoảng cách lại quá gần nên né tránh không kịp, chỉ nghe tiếng xé gió chẳng khác gì tên bay, Đàm Đài Diệt Minh kêu lên: “Hay cho công phu Đạn Chỉ thần công!”
Các võ sĩ đều kinh hoảng kêu lên, chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh chỉ trong khoảnh khắc, hai tay đã thu vào trong tay áo, tay áo phất mạnh đánh soạt một tiếng, đến khi hạ xuống thì tay áo bị lủng một lỗ to, té ra cái cán quạt ấy đã xuyên thủng vào ống tay áo của y rồi cắm phập lên gốc liễu gần đó. Đàm Đài Diệt Minh kêu: “Ta đã biết công phu Đạn Chỉ thần công của ngươi, nay ta lại muốn lãnh giáo quyền chưởng của ngươi”. Thế rồi phóng vút lên, người chưa hạ xuống thì liên tục đấm ra hai quyền. Ông già quái lạ ấy đẩy chưởng sang một bên, nói: “Ối chao, sao ngươi lại đánh lão già nhà quê này?”
Đàm Đài Diệt Minh xoay một vòng trên không trung, sau khi hạ người xuống đất thì lại đấm ra thêm một quyền nữa, ông già ấy vòng hai tay lại thành nửa vòng tròn tựa như bế con đẩy ra ngoài, nói: “Đánh gãy bộ xương già của ta rồi!”
Quyền chưởng của hai bên thật ra vẫn chưa chạm vào nhau, nhưng áo quần, râu tóc của hai người đều bị gió quyền chưởng thổi bay phất phơ!
Trương Phong Phủ kinh hãi thất sắc, không ngờ rằng hai người này không ra tay thì thôi, hễ ra tay thì lại tỉ thí bằng chân lực! Chỉ thấy Đàm Đài Diệt Minh tựa như con sư tử điên phóng nhanh tới, vỗ ra hết chưởng này đến chưởng nọ; còn ông già quái lạ ấy thì xoáy chuyến bốn phía tựa như con rắn nước, chỉ thấy ông ta đột nhiên lộn người, vỗ nhanh một chưởng ra nhanh như điện chớp. Đàm Đài Diệt Minh quát lớn, hai quyền đấm ra, quyền và chưởng giao nhau mạnh đến nỗi toàn thân bị chấn động bay lên. Ông già quái dị cũng hự một tiếng, nhảy lui ba bước, người lắc lư. Đàm Đài Diệt Minh mặt biến sắc, kêu lên: “Hay cho công phu Đại Lực Kim Cương thủ! Lão anh hùng, tôi kết bằng hữu với ông, ông có thể cho biết họ tên, lai lịch hay không?”
Ông già ấy lại hừ một tiếng, lạnh lùng bảo: “Người nhà quê nào dám trèo cao!” Thế rồi chưởng trái phất ra, chân phải tung một cú đá vào huyệt Bạch Hải trên đầu gối của y, Đàm Đài Diệt Minh cả giận quát: “Ngươi tưởng ta sợ ngươi đấy hử!” Rồi quyền trái đấm ra, chưởng phải chụp tới, ông già ấy đột nhiên biến chiêu, lạnh lùng nói: “Ngươi đã giở hai món tuyệt kỷ của Thiên Dã lão quái ra, hay cho công phu La Hán quyền và Thiết Tỳ Bà thủ!”
Sư phụ của Đàm Đài Diệt Minh là Thượng Quang Thiên Dã, rất giỏi năm món công phu là Thiết Tỳ Bà thủ, La Hán quyền, Ngô câu kiếm, Nhất chỉ thiền, Phi hoàn châm cho nên được võ lâm gọi là Ngũ Tuyệt, bốn mươi năm trước đã tề danh cùng với sư tổ của Vân Lối là Huyền Cơ Dật Sĩ, các bậc hậu bối trong võ lâm khi nhắc tới tên y thì đều kinh hoàng. Đàm Đài Diệt Minh thấy ông già này đã dám gọi tên của sư phụ mình ra thì không khỏi cả giận, quyền đấm ra như thiết chùy, chưởng chém ra như lợi đao, thế công càng lúc càng dữ dội!
Ông già ấy tuy cuồng ngạo, nhưng trong lòng thực sự không dám khinh địch, thế là giơ một chưởng hộ thận, một chưởng đón đòn của kẻ địch, dùng Đại Lực Kim Cương thủ chặn La Hán quyền và Thiết Tỳ Bà thủ lại, hai người càng đánh càng nhanh đến nỗi đá chạy cát bay, vòng chiến càng lúc càng mở rộng, những người xung quanh đều bất giác thối lui vì quyền phong của hai người phát ra, La Hán quyền vốn là một loại quyền pháp bình thường của chùa Thiếu Lâm, Thiết Tỳ Bà thủ cũng không khó học, nhưng vào tay Đàm Đài Diệt Minh thì uy thế tăng lên kinh người, y đã phối hợp hai loại võ công bình thường này lại, khiến cho hai môn võ công này trở thành hai môn công phu cực kỳ thâm diệu. Thế nhưng hễ y đánh ra đòn nào đều bị ông già quái dị kia đón lấy, tuy thế công của Đàm Đài Diệt Minh tựa như nước tràn đê, nhưng cũng không thể nào thắng nổi ông ta. Có điều Đại Lực Kim Cương thủ của ông ta cũng không thể nào phá được Thiết Tỳ Bà thủ và La Hán quyền của Đàm Đài Diệt Minh.
Lúc nãy Đàm Đài Diệt Minh đấu với Trương Phong Phủ, ai nấy đều đã trợn mắt lè lưỡi, nhưng so với trận chiến lúc này thì tựa như trò trẻ con. Lúc nãy Trương Phong Phủ chỉ muốn hạ nhuệ khí của đối phương, vả lại mạnh yếu rất rõ ràng, tuy nguy hiểm nhưng không kịch liệt; còn trong trận này hai bên như liều mạng với nhau, cho nên đều dùng loại võ công thượng thừa nhất, đánh cả trăm chiêu mà vẫn không thấy ai mạnh ai yếu. Có lúc rõ ràng Đàm Đài Diệt Minh đã đánh trúng vào người ông già quái dị, nhưng đều bị ông ta nhẹ nhàng đẩy ra; có lúc rõ ràng ông già ấy đã chiếm được thượng phong, Kim Cương thủ đã chặn hết đường rút bốn bên, nhưng không biết thế nào lại để Đàm Đài Diệt Minh thoát ra rồi đột nhiên phản công. Mọi người đều hoa cả mắt, tình thế trong sân căng thẳng đến nỗi không ai dám thở mạnh!
Vân Lối thầm ngạc nhiên, nhủ rằng: “Công phu Kim Cương thủ của ông già này quả nhiên thần diệu đến khó lường, mình đã từng nghe công phu Kim Cương thủ của đại sư bá vô địch thiên hạ, không biết ông ta có phải là đại sư bá của mình không?”
Huyền Cơ Dật Sĩ có năm học trò, ngoại trừ cha của Vân Lối đã chết sớm, bốn người còn lại đều học được một môn tuyệt nghệ, luận về võ công kiếm pháp thì đệ tử thứ ba Tạ Thiên Hoa giỏi nhất, nhưng luận về hỏa hầu công lực thì phải tính đến đại đệ tử Đổng Nhạc. Vân Lối lại nghĩ: “Mình từng nghe sư phụ nói, đại sư bá và tam sư bá đều là người văn võ toàn tài, dáng dấp nho nhã, nếu đây là người, tại sao lại trông giống một ông già nhà quê đến thế? Vả lại hơn mười năm nay người đã đi vân du Mông Tạng, sao lúc này lại xuất hiện ở kinh đô?”
Vân Lối đang suy nghĩ, chợt thấy tình thế ở trong trường đã thay đổi, Đàm Đài Diệt Minh và ông già nhảy bật ra, lúc nãy vận chưởng như gió xuất quyền như điện, vòng chiến càng lúc càng mở rộng, nhưng lúc này thì hai người ra tay rất chậm chạp, vòng chiến càng lúc càng thu hẹp, có lúc chỉ đứng nhìn thẳng vào nhau mà không động thủ, đột nhiên quát lớn một tiếng rồi cả hai nhảy vọt lên đổi nhau một chiêu rồi lại nhanh chóng tách ra.
Nhìn từ bề ngoài tình thế không có gì căng thẳng, thật sự là hai bên đã dùng tuyệt học bình sinh để hạ đối phương, mỗi chiêu mỗi thức đều ẩn chứa sát cơ! Những cao thủ như Trương Phong Phủ đều nhìn không chớp mắt, có lúc thấy ông già ấy chém xuống một chưởng, Đàm Đài Diệt Minh tựa như không thể nào tránh nổi, chợt thấy y nhẹ nhàng hóa giải, trước khi y xuất chiêu, mọi người đều không nghĩ ra là phải chống đỡ như thế nào, đến khi y xuất chiêu thì đều đồng thời khen rằng: “Ồ chiêu số tầm thường như thế mà chúng ta đều không nghĩ ra!”
Thật ra tầm thường nhất lại là không tầm thường nhất, mọi người vì thấy hai bên xuất chiêu quá lợi hại, khi chiêu sau chưa đánh ra, họ đều nghĩ phải dùng những chiêu số phức tạp để hóa giải, nhưng không biết cả đôi bên đều là những nhân vật kiệt xuất, dù đánh chiêu số phức tạp nhất cũng không thể giấu được đối phương, chi bằng cứ bám theo quyền lý chính tống, tùy cơ ứng biến, cả hai đều muốn thủ cho kỹ trước sau đó mới phản công. Nhưng cứ như thế sẽ rất mất sức, đến một hồi lầu chỉ thấy trên trán hai người bốc khói nghi ngút tựa như lồng hấp. Trương Phong Phủ cả kinh thất sắc: “Cứ như thế chắc chắn sẽ lưỡng bại câu thương, nhưng không thể nào tách hai người ấy ra được!”
Suốt đời Đàm Đài Diệt Minh chưa bao giờ gặp đối thủ mạnh như thế này, trong lòng thầm kinh hoảng. Y là kẻ tương đối nóng nảy, biết rõ nếu lúc này biến chiêu thì sẽ cực kỳ nguy hiểm, nhưng không muốn cứ giằng co mãi như thế, mỗi bên đều sẽ bị nội thương, vì thế khi ông già ấy sử dụng Đại Lực Kim Cương thủ đánh tới, Đàm Đài Diệt Minh đột nhiên quát lớn một tiếng, thay đổi chiêu số, quyền trái chưởng phải đánh tới như sấm sét, càng giữ dội hơn lúc nãy!
Ông già ấy kêu ối chao một tiếng, thối lui liền mấy bước, chỉ thấy ông ta bước vào phương vị cửu cung bát quái, tuy lui nhưng không rối loạn, một chưởng vẫn hộ ở trước ngực, một chưởng vẫn đón địch, xem bề ngoài chỉ thủ chứ không công nhưng thật ra đã hàm chứa lực phản công rất lớn. Đàm Đài Diệt Minh đánh mãi không xong, nhiều lần bị Đại Lực Kim Cương chỉ buộc thối lùi, không khỏi giật mình nhủ thầm: “Mình ngang dọc đã hơn hai mươi năm, ngoại trừ Tạ Thiên Hoa có thể xưng là địch thủ, nay còn có ông già này nữa, kiếm pháp của Tạ Thiên Hoa xưa nay thiên hạ vô song, nhưng công lực thì hơi kém hơn ông ta. Hỡi ôi, chả lẽ ông ta và Tạ Thiên Hoa đều là đệ tử của Huyền Cơ Dật Sĩ?”

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:40 pm

Hơn ba mươi năm trước, sư phụ của Đàm Đài Diệt Minh là Thượng Quang Thiên Dã đã từng tranh nhau ngôi Minh chủ võ lâm trên đỉnh núi Nga Mi, cả hai người đấu ba ngày ba đêm mà vẫn không phân thắng thua.
Thượng Quang Thiên Dã lúc này mới đến Mông Cổ, thu nhận học trò lập ra môn phái của mình.
Đàm Đài Diệt Minh thắc mắc trong lòng, nhưng đây là lúc căng thẳng cho nên không thể nào lên tiếng hỏi. Ông già quái dị tuy lớn hơn Đàm Đài Diệt Minh khoảng mười tuổi, nhưng nội kình rất thâm hậu, khí lực rất dồi dào. Chỉ thấy ông ta trong thủ có công, chỉ dùng một chưởng nhưng có thể phát huy uy lực của Đại Lực Kim Cương thủ đến mức lư hỏa thuần thanh. Khi Đàm Đài Diệt Minh tiếp chiêu đầu tiên chỉ cảm thấy một nguồn đại lực dồn tới, khi tỉ thí nội lực với đối phương, đột nhiên cảm thấy kình lực của mình biến mất dạng rồi ông già ấy lại vỗ ra thêm một chiêu như dời núi phá đá!
Ông già quái dị đánh liên tục ba chưởng, phá vỡ lối đánh công thủ đều có, phòng bị nghiêm ngặt của Đàm Đài Diệt Minh. Vân Lối thấy thế thì ngẩn người ra, nhủ thầm: “Ngoại trừ đại sư bá thì còn ai có được công lực như thế này?” Rồi nàng bất giác kêu lớn: “Hay lắm!”
Chợt thấy Đàm Đài Diệt Minh trầm vai xuống, bốp một tiếng, té ra đã trúng một chưởng của ông già. Trương Phong Phủ kêu lớn: “Không xong!”
Rồi nhiều cao thủ cũng nhảy ra, nhưng Đàm Đài Diệt Minh đã trầm vai xuống, chưởng thế của ông già bị y dẫn xuống không kịp rút lên, Đàm Đài Diệt Minh đã đột nhiên táng ngang eo tới!
Ông già ấy kêu hự lên một tiếng rồi đột nhiên bay vọt người lên, lướt qua khỏi đỉnh đầu của mọi người, trong chớp mắt đã phóng ra khỏi vách tường. Vân Lối chỉ cảm thấy ánh mắt của ông ta tựa nhiên nhìn về phía mình, tim không khỏi đập mạnh.
Lúc nãy Trương Phong Phủ đã liều mạng chống cự với Đàm Đài Diệt Minh, khí lực vẫn chưa hồi phục, nhảy ra hơi chậm hơn người khác, hai võ sĩ chạy tới phía trước đang định đỡ Đàm Đài Diệt Minh đứng dậy, Đàm Đài Diệt Minh đã ngồi xếp bằng dưới đất chẳng hề nhúc nhích, thấy hai người chạy đến thì đẩy hai chưởng ra. Chỉ nghe một tiếng ối chao vang lên, cả hai võ sĩ đều đã loạng chọang thối lui, không khỏi đồng thanh kêu lên: “Cái gì?”
Trương Phong Phủ chợt hiểu ra, y chạy đến phía trước chặn hai võ sĩ lại, nói: “Đàm Đài tướng quân đang dùng nội công thượng thừa hộ thân, mọi người đừng quấy nhiễu ông ta!”
Đàm Đài Diệt Minh mỉm cười, gật đầu với Trương Phong Phủ tựa như khen ngợi y.
Té ra ông già ấy dồn toàn lực chém xuống chưởng cúi cùng, Đàm Đài Diệt Minh vốn không chết cũng tàn phế. Nhưng may y cũng là người có nhiều kinh nghiệm, trong lúc nguy hiểm đã trầm vai tiếp lấy chưởng ấy, nhờ đó mà sức mạnh của đòn đó giảm xuống một nửa, trên người y có mặc kim giáp hộ thân, kim giáp cũng bị rách, nhưng lục phủ ngũ tạng thì không bị chấn thương. Ông già quái lạ ấy không ngờ rằng y lại đối phó bằng cách này, cho nên người bị lôi theo thế trầm vai của y, không kịp rút chưởng về hộ thân, cũng bị y đánh một đàn Thiết Tỳ Bà thủ vào ngang hông. May mà Đàm Đài Diệt Minh vận kình hộ thân, lực đánh ra chỉ bằng khoảng hai ba phần chưởng lực bình thường, nếu không ông già không chết cũng bị trọng thương. Dù như thế, sau khi ông ta bị đánh bật ra khỏi vách tường cũng ói máu, đến khi vào trở lại cũng ngồi tịnh tọa nửa ngày mới hồi phục công lực.
Đàm Đài Diệt Minh biết rõ không bị nội thương, nhưng nguyên khí đã hao tổn rất nhiều, ngoại thương càng không nhẹ hơn, cho nên không dám lên tiếng chỉ ngồi xếp bằng tịnh tọa hành huyết vận khí. Trương Phong Phủ liếc nhìn y, nói với các võ sĩ rằng: “Tỉ võ đã xong, mời các vị hãy trở về nhà”.
Các vọ sĩ đều lo lắng Đàm Đài Diệt Minh có điều gì bất trắc sẽ liên lụy đến mình, đang mong để cho một mình Trương Phong Phủ lo lắng, thế là kéo nhau ra về. Chỉ còn lại ba võ sĩ mặt lộ vẻ khác lạ, vẫn không chịu đi. Vân Lối chờ đợi rất lâu, đang định lên nói chuyện với Trương Phong Phủ, chợt thấy hai võ sĩ còn lại đều đồng thanh nói với Trương Phong Phủ: “Thời gian vẫn còn sớm, Đàm Đài Diệt Minh cũng chưa hồi phục, huynh đệ chúng tôi định ở lại nơi này...”.
Trương Phong Phủ ngắt lời: “Không dám làm phiền hai vị”.
Hai người ấy lại tiếp tục nói: “Huynh đệ chúng tôi ở lại đây một là muốn bầu bạn của Đàm Đài tướng quân, hai là nhân lúc còn sớm, muốn lãnh giáo đao pháp của Trương đại nhân, mong Trương đại nhân chỉ giáo choo”.
Trương Phong Phủ liếc nhìn, trong lòng lo lắng. Té ra hai kẻ này là võ sĩ tâm phúc của Tư Lễ thái giám Vương Chấn, là đôi anh em sinh đôi, tên gọi Lộ Minh và Lộ Lượng, có môn võ gia truyền sáu mươi ba đường Hỗn Nguyên bài pháp, loại bài pháp này vốn là một tay cầm thuẫn, một tay cầm kiếm, có thể xung phong ở trận tiền, cũng có thể chống đỡ binh khí ngắn. Nhưng hai anh em nhà này, một người thì luyện kiếm, một người luyện thuẫn, cả hai người sử dụng Hỗn Nguyên bài pháp lợi hại hơn một người Trương Phong Phủ lần này cũng không muốn mời họ nhưng họ lại tự động lẩn vào.
Trương Phong Phủ vừa nghe thì biết hai anh em nhà này chẳng có ý tốt lành gì. Trương Phong Phủ lúc nãy đã hỗn chiến với Đàm Đài Diệt Minh, khí lực đã giảm xuống nhiều. Nhưng trước mặt Đàm Đài Diệt Minh y không muốn nói ra nguyên nhân từ chối lời khiêu chiến, thế rồi mới hiên ngang nói: “Nếu hai vị đã có nhã hứng này, Trương mỗ chỉ đành chìu theo, chúng ta chỉ tỉ thí võ công, nên dùng lại đúng lúc, không luận thắng bại”.
Anh em nhà họ Lộ cười rằng: “Điều đó đương nhiên, thắng bại không quan trọng, chỉ vui là được”.
Thế rồi hai người rút ra thuẫn và kiếm.
Vân Lối bồn chồn trong lòng, nhủ thầm: “Đã êm xuôi lại tỉ võ gì nữa?”
Nhưng nàng là người ngoài không thể nào ngăn cản, chỉ đành đứng một bên xem. Chỉ thấy Trương Phong Phủ rút thanh miến đao ra nói: “Mời xuất chiêu!”
Lộ Minh nói: “Mời Trương đại nhân xuất chiêu trước!”
Trương Phong Phủ vung đao chém ngang vào cổ tay của Lộ Minh. Chỉ nghe keng một tiếng, thuẫn bài của Lộ Lượng đột nhiên vung ra, chặn lấy nhát đao, Trương Phong Phủ đã biết y sẽ có chiêu này, cho nên đao vừa chạm vào thiết bài thì lập tức bật ngược ra trở lại, đánh ra một chiêu Hồng Hà Đoạn Mục, đâm thẳng vào yết hầu của Lộ Lượng. Lộ Minh vung kiếm gạt qua, tạt vào cánh tay của Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ rút đao về gạt ra, hóa giải thế công của y.
Lộ Minh nhìn lại, trên thuẫn bài đã bị lõm một vệt dài, không khỏi kinh hãi nhủ thầm: “Mình cứ tưởng y không còn sức lực”. Thế rồi không dám chậm trễ, múa tít cái thuẫn bài yểm hộ cho người anh em của mình. Chỗ lợi hại của sáu mươi ba đường Hỗn Nguyên bài pháp toàn là ở cái thuẫn bài này, người sử dụng có thể vừa công vừa thủ khiến cho đối phương không trở tay kịp. Người sử dụng kiếm nhờ có thuẫn bài che chở cho nên có thể tấn công. Chính vì vậy, uy lực của thuẫn và kiếm tăng lên gấp hai lần. Nếu lúc bình thường, cả hai tên này không phải là đối thủ của Trương Phong Phủ, nhưng vừa rồi Trương Phong Phủ vừa mới mất sức, y lại muốn đánh nhanh thắng nhanh, cho nên không đầy một tuần trà đã đánh ra đến mấy mươi chiêu, nào ngờ anh em nhà họ Lộ phối hợp rất kín kẽ, trong công có thủ khiến cho Trương Phong Phủ không thể nào phá vỡ được thế liên thủ của hai người. mấy mươi chiêu đã đánh xong, Trương Phong Phủ cảm thấy đuối sức, Lộ Lượng giơ cây thuẫn bài đánh ra một chiêu Tấn Lôi Quán Đỉnh, chụp xuống đầu Trương Phong Phủ. Trương Phong Phủ biết y ra đòn rất mạnh, ít nhất cũng phải đến bảy tám trăm cân, nếu mình còn đủ sức thì bảy tám trăm cân ấy là chuyện nhỏ, nhưng lúc này đã suy kiệt cho nên không dám tiếp đòn. Nào ngờ Trương Phong Phủ vừa mới lách qua, Lộ Lượng đã đuổi theo giáng thuẫn bài xuống thanh miến đao, lúc này Trương Phong Phủ đã đuối thế, Lộ Minh vung kiếm tấn công mạnh mẽ, chiêu kiếm nào cũng đâm vào những chỗ yếu hại của Trương Phong Phủ như con độc xà.
Vân Lối không biết nội tình, thấy thế thì ngạc nhiên nhủ thầm: “Chuyện gì thế này? Xem ra không giống như ấn chứng võ công!”
Chợt thấy Lộ Lượng lộn người xuống đất, giở thuẫn bài lên quét ra một chiêu Hoành Tảo Thiên Quân vào ngang eo của Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ lập tức thi triển Long Hình Phi Bộ lướt ra khỏi thuẫn bài, vung đao trả lại một chiêu Đường Lang Triển Tý, mũi đao chém vào hai chân của kẻ địch, nào ngờ đó quả thật là “bọ ngựa bắt ve, chim sẻ ở phía sau”, vừa mới đánh ra chiêu ấy, Lộ Minh đột nhiên từ bên cạnh đâm tới một kiếm!
Vân Lối kêu hoảng, ngón tay búng mạnh một mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu, Lộ Minh vừa mới đâm kiếm ra, tưởng rằng sẽ đâm thủng người Trương Phong Phủ, nào ngờ keng một tiếng, mũi kiếm đã bị Mai Hoa Hồ Điệp tiêu bắn trúng lệch qua một bên, chưa thấy rõ ám khí thì vội vàng rút kiếm lại, đang định quát hỏi thì Vân Lối cũng toan nhảy vọt phải, chợt thấy Đàm Đài Diệt Minh phóng dậy, kêu lên: “Ta muốn đánh một trận nữa, nếu hai vị đã ở đây bầu bạn với ta, để đáp tạ tấm thịnh tình, ta chỉ đành xá mạng chìu quân tử! Trương đại nhân, mời ông hãy lui xuống!” Nói chưa xong thì người đã phóng lên, y đã vận khí đi khắp người, lúc này khí lực đã xung mãn như thường. Chỉ thấy y tay trái chụp ra, chưởng phải chém tới vù một chưởng, đánh rơi cái thiết bài lên không trung, thanh kiếm của Lộ Minh cũng bị y đoạt lấy bẻ làm hai đoạn, anh em nhà họ Lộ đứng ngẩn người ra. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Đàm Đài Diệt Minh hai tay nhấc bổng Lộ Minh và Lộ Lượng lên cao rồi quát rằng: “Đi!” rồi ném hai người ra xa đến mấy trượng, cả hai đau đến nỗi kêu ầm lên, rồi ngất ngay tại chỗ.
Đàm Đài Diệt Minh ngửa mặt cười lớn, nói: “Từ xưa đến nay, ta chưa bao giờ sảng khoái như lúc này!” Thế rồi gật đầu chào Trương Phong Phủ, rồi quay sang Vân Lối nói: “Ta còn phải đánh lão già kia, không thể chìu ngươi!” rồi sải bước ra bên ngoài.
Trương Phong Phủ vội vàng chạy tới xem thương thế của anh em nhà họ Lộ, chỉ thấy Lộ Minh đã bị gãy hai chiếc xương sườn, còn Lộ Lượng thì hãy hai răng cửa, Đàm Đài Diệt Minh đã dùng xảo kình để ném bọn chúng, chỉ làm cho bọn chúng bị nội thương, không ảnh hưởng đến tính mạng. Trương Phong Phủ thoa thuốc kim sang, cả hai tên đều rên ư ử rồi dìu nhau bỏ đi.
Trương Phong Phủ thở dài: “Ồ, thật không ngờ!”
Vân Lối hỏi: “Không ngờ gì?”
Trương Phong Phủ nói: “Ta xưa nay không chịu đi theo Vương Chấn, hai kẻ này là võ sĩ tâm phúc của Vương Chấn, xem ra chuyện lúc nãy là do Vương Chấn sai khiến, y đã có ý hại ta”.
Vân Lối không ngờ mọi chuyện lại rắc rồi đến thế, nhưng nàng có chuyện khác nên không hỏi nhiều. Chỉ nghe Trương Phong Phủ nói: “Ồ, người bạn hữu Trương Đan Phong của công tử đâu?”
Vân Lối đỏ mặt, nói: “Chúng tôi đã chia tay ở Thanh Long Hiệp”.
Trương Phong Phủ nói: “Đáng tiếc đáng tiếc! Nếu không có hai người ở đây song kiếm hợp bích, chắc chắn có thể đánh bại Đàm Đài Diệt Minh, ba ngày hôm nay y đã thắng liên tiép mười trận, may mà có ông già quái lạ kia hạ nhuệ khí của y, nhưng cũng chỉ ngang tài ngang sức. Lần này thật mất mặt võ sĩ ở kinh đô chúng tôi”.
Vân Lối thấy y rầu rĩ, cười rằng: “Nhưng ngài vẫn chưa thua Đàm Đài Diệt Minh kia mà!”
Trương Phong Phủ nói: “May mà ông già ấy đến kịp thời, nếu không đừng nói thất bại, cả mạng cũng khó giữ! Không biết ông già ấy vào đây bằng cách nào?” Ông ta hơi ngừng rồi lại nói tiếp: “Đàm Đài Diệt Minh cũng thật kỳ lạ, lúc nãy nếu y không ra tay, e rằng cả ta cũng bị ám toán. Ồ, ta cũng phải đa tạ mảnh Mai Hoa Hồ Điệp tiêu của công tử!”
Nàng lập tức nói: “Trương đại nhân, lần này tôi vào kinh thật sự đã có chuyện nhờ ông giúp đỡ”.
Trương Phong Phủ nói: “Cứ nói”.
Vân Lối nói: “Ngài có một thuộc hạ họ Vân, mong ngài hãy gọi y đến gặp mặt tôi được không?”
Trương Phong Phủ chớp mắt, ngạc nhiên hỏi: “Công tử vào kinh chỉ là chuyện này thôi sao?”
Vân Lối nói: “Đúng thế, chỉ vì chuyện này”.
Trương Phong Phủ nói: “Công tử có quan hệ gì với Vân thống lĩnh, sao tôi không nghe y nhắc”.
Vân Lối nói: “Đôi bên cùng họ cho nên muốn làm quen mà thôi”.
Trương Phong Phủ nhủ thầm: “Trong thiên hạ người cùng họ rất nhiều, lý do này không thể không được”.
Vân Lối lại nói: “Nếu Trương đại nhân có việc, vậy cứ cho tôi biết nơi ở của Vân thống lĩnh, tôi sẽ tự đi tìm y”.
Trương Phong Phủ chợt mỉm cười, nói: “Chuyện này sẽ bàn sau, xin mời vào trong nói tiếp”.
Vân Lối nghĩ thầm: “Chuyện này có gì mà bàn, cứ cho ta biết là xong”. Nhưng nghĩ lại mình là khách cho nên không hỏi nhiều.
Trương Phong Phủ dắt Vân Lối ra khỏi sân luyện võ, mời vào trong khách sản, sai người nhà rót trà thơm rồi nói: “Đắc tội, ta phải thay y phục”.
Lúc nãy Trương Phong Phủ đã bị Đàm Đài Diệt Minh dùng công phu Thiết Chỉ Tỳ Bà xé rách mấy chỗ trên người, vả lại trên người cũng dính rất nhiều đất bụi, cả đầu cũng lấm lem. Lúc nãy Vân Lối đang có chuyện gấp nên không để ý, đến giờ nhìn lại thì thấy Trương Phong Phủ tựa như người vừa mới đi xa về, quần áo rách bươm, mặt mũi dơ bẩn, trông rất khó coi, không khỏi cười rằng: “Đàm Đài Diệt Minh ấy thật lợi hại, ngay cả đại nhân mà vẫn không địch lại”.
Trương Phong Phủ trở vào thay quần áo, Vân Lối đợi một lúc sau thì mới thấy y bước ra ngoài nên vội vàng nói: “Trương đại nhân, Vân thống lĩnh đang ở đâu?”
Trương Phong Phủ từ tốn sửa sang áo quần, ngồi xuống hớp một ngụm trà rồi mới mỉm cười rằng: “Có thể rất khó gặp Vân thống lĩnh!”
Vân Lối giật mình hỏi: “Sao? Y gặp chuyện gì bất trắc?”
Nàng hỏi mà mặt lộ vẻ lo lắng tựa như người thân mình gặp nạn, Trương Phong Phủ đã nhận thấy điều đó, y mỉm cười nói: “Đây chỉ là chuyện ngoài ý muốn, song đó là chuyện tốt, Hoàng thượng đã coi trọng y cho nên điều đến nội đình làm thị vệ, không thể dễ dàng ra khỏi cung được cho nên mới bảo khó gặp”.
Vân Lối lo lắng nói: “Ngài có cách nào gọi y ra không?”
Trương Phong Phủ nói: “Giờ đây y đã không còn là thuộc hạ của ta nữa, đương nhiên không thể”.
Vân Lối nói: “Vậy phải làm thế nào đây?”
Trương Phong Phủ nói: “Nếu công tử muốn gặp y, nửa tháng sau có lẽ sẽ có cơ hội”.
Vân Lối nói: “Tại sao thế?”
Trương Phong Phủ nói: “Nửa tháng sau sẽ mở màn khoa thi võ năm nay, Thiên Lý huynh đã báo tên, y võ nghệ siêu quần, thông thuộc binh thư, chắc có thể đậu Võ trạng nguyên. Nếu y đậu Võ trạng nguyên, Hoàng thượng đương nhiên sẽ phong chức, ban cho nơi ở, lúc đó không cần vào cung làm thị vệ nữa”.
Vân Lối rất thất vọng, thế rồi toan cáo từ. Trương Phong Phủ lại giữ nàng lại nói chuyện, y cứ luôn mồm nhắc đến Trương Đan Phong. Vân Lối nghe y nhắc tới Trương Đan Phong thì tim đập thình thình, Trương Phong Phủ đã thấy thì trong lòng rất ngạc nhiên, chợt hỏi: “Trương Đan Phong có phải là con của Trương Tôn Châu không?”
Vân Lối nói: “Đúng thế”.
Trương Phong Phủ nói: “Vậy thì đúng là gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Y đúng là một người yêu nước, thật buồn cười Thiên Lý huynh chuyện gì cũng tốt, nhưng cứ giữ mãi thành kiến đối với Trương Đan Phong, thật buồn cười y”.
Vân Lối đau lòng, nàng không nói được gì. Trương Phong Phủ chợt hỏi: “Có phải công tử cũng từ Mông Cổ trở về không?”
Vân Lối nói: “Lúc còn bé tôi đã ở Mông Cổ”.
Trương Phong Phủ nói: “Vậy thì cũng giống thân thế của Thiên Lý huynh, công tử có biết tên Phiên vương và Đàm Đài Diệt Minh là người như thế nào không?”
Vân Lối nói: “Tôi chưa tròn bảy tuổi thì đã rời Mông Cổ, cho nên biết rất ít chuyện ở Mông Cổ, tại sao đại nhân lại hỏi hai người này?”
Trương Phong Phủ nói: “Gần đây trong triều có một chuyện vẫn bàn chưa ra, thật khiến cho người ta ngạc nhiên”.
Vân Lối chợt nghĩ mình là người dân thường không tiện hỏi chuyện trong triều, cho nên không hỏi tới, Trương Phong Phủ lại coi nàng như tri kỷ, không hề lo lắng gì cho nên mới tiếp tục nói: “Phiên vương ấy tên là A Thích, được vua Ngõa Thích phong là Tri viện, có nghĩa là chấp chính, quyền hành lớn hơn cả các Phiên vương khác, chỉ thua có mỗi Thái sư. Lần này đến đây bàn bạc chuyện hòa bình với chúng ta, đã đưa ra ba điều kiện, một là cắt mảnh đất một trăm dặm bên ngoài Nhạn Môn quan, hai nước lấy Nhạn Môn quan làm giới tuyến. Hai là lấy binh khí của Trung Quốc trao đổi ngựa tốt của Mông Cổ. Ba là phải gả Công chúa cho con trai của vua Ngõa Thích là Thoát Bất Hoa. Các lão Vu Khiêm không chấp nhận ba điều kiện này, ông ta bảo rằng không thể cắt một tấc đất nào của Trung Quốc, nếu đổi binh khí cho Ngõa Thích, binh vị của họ mạnh hơn, càng làm mối hậu họan sau này, cho nên vạn lần không thể. Còn gả Công chúa sang Ngõa Thích thì sẽ để lộ bí mật trong hoàng tộc, sẽ ảnh hưởng đến thể diện của thiên triều cho nên cũng không thể được”.
Vân Lối nói: “Vu Khiêm là một đại thần ngay thẳng, có lòng trung với nước, có điều gì kỳ lạ?”
Trương Phong Phủ nói: “Vu Khiêm làm thế không có gì là lạ. điều kỳ lạ là họan quan Vương Chấn cũng không chủ hòa. Vương Chấn âm thầm cấu kết với Ngõa Thích, bọn chúng ta đều đã nghe. Mảnh đất một trăm dặm bên ngoài Nhạn Môn quan là địa bàn của Châu Kiện, triều đình không quản được, Vương Chấn rất căm hận Châu Kiện, mười năm nay đã nhiều lần bí mật ra lệnh cho tướng giữ Nhạn Môn quan chuẩn bị chuẩn bị liên kết với Ngõa Thích tiêu diệt Châu Kiện. Chúng tôi tưởng rằng y vui vẻ nhường mảnh đất bên ngoài Nhạn Môn quan cho Ngõa Thích, nào ngờ y cũng không chịu. Hơn nữa mười năm nay Vương Chấn âm thầm dùng vũ khí của Trung Quốc đổi ngựa tốt của Mông Cổ”.
Vân Lối nói: “Có lẽ y cảm thấy áy náy vì đã công nhiên giúp cho kẻ địch”.
Trương Phong Phủ cười rằng: “Vương Chấn uy hiếp Thiên tử để ra lệnh cho trăm quan, lại cấu kết vây cánh ở trong triều, y có chuyện gì mà không dám làm, cả Hoàng đế cũng phải nể mặt y mấy phần. Lại thêm đương kim Hoàng thượng là kẻ nhát gan, nếu Vương Chấn cũng chủ hòa thì đã ký hòa ước từ lâu”.
Vân Lối nói: “Chuyện trong triều đình tôi không biết, tôi cũng không hiểu lý do gì”.
Trương Phong Phủ nói: “Còn có một điều kỳ lạ nữa. Vương Chấn không những không chủ hòa mà còn chủ trương bắt sứ của Mông Cổ, nhưng Vu Khiêm không chấp nhận. Vương Chấn âm thầm giúp Ngõa Thích, nhưng lần này lại có chủ trương đó khiến cho trăm quan trong triều đều ngạc nhiên”.
Vân Lối nghĩ gia gia mình đi sứ ở Ngõa Thích cũng bị bắt lại, phải chăn ngựa hai mươi năm ở vùng tuyết phủ, không khỏi phẫn nộ nói: “Hai nước đánh nhau không chém sứ, không nên bắt giữ”.
Trương Phong Phủ nói: “Chuyện này ta cũng biết, song chính Vương Chấn đã đòi bắt giữ sứ giả, quả thật khiến cho mọi người đều thắc mắc”.
Đang nói chuyện thì trời đã về chiều, Trương Phong Phủ sai người nhà chuẩn bị cơm nước, nói với Vân Lối rằng: “Vân công tử sống ở nơi nào, nếu không chê thì hãy dọn tới đây ở!”
Vân Lối nghĩ mình là một thiếu nữ cho nên cảm thấy không tiện, vội vàng từ chối.
Trương Phong Phủ nghĩ bụng: “Sao người này chẳng mau mắn tý nào, cứ tựa như một thiếu nữ chốn khuê các, chẳng hào sản như Trương Đan Phong”.
Trong buổi cơm tối, Vân Lối hỏi địa chỉ của Vu Khiêm, Trương Phong Phủ cười rằng: “Công tử muốn gặp Vu đại nhân? Mấy ngày hôm nay ông ta bận rộn việc nước, dù ông ta có chịu gặp, gia nhân cũng chẳng cho vào”.
Thế rồi cúi cùng vẫn cho biết nơi ở của Vu Khiêm.
Đến khi cơm nước xong, Vân Lối kiên quyết cáo từ, Trương Phong Phủ muốn giữ lại cũng không được thế là đưa nàng ra cửa, lại nhắc đến Trương Đan Phong, cười rằng: “Nếu bằng hữu ấy của công tử cũng đến kinh đô, đến khi Thiên Lý huynh đã đậu Võ trạng nguyên, ta nhất định sẽ làm người mai mối, dàn hòa cho hai người họ. Đương nhiên công tử cũng sẽ đi cùng”.
Vân Lối lúng túng mỉm cười, nói: “Trương đại nhân thật nhiệt tình, tôi xin đa tạ bữa tiệc rượu này trước”. Thế rồi cáo từ Trương Phong Phủ, một mình trở về khách sạn.
Đêm hôm ấy Vân Lối cứ trằn trọc, chẳng ngon giấc, một lát thì nhớ đến đại ca, một lát thì nhớ đến Trương Đan Phong. Nghĩ lại mình chỉ có một người thân này, mà nay từ xa đến Bắc Kinh, y lại vào trong cung làm thị vệ, tuy bảo y có thể đậu Võ trạng nguyên mới gặp được, nhưng chuyện này rco rất mong manh, nếu y không đậu trạng nguyên thì thế nào? Sau khi đậu Trạng nguyên không biết lại có chuyện gì xảy ra nữa? Không khỏi thầm than rằng: “Sao mình khổ đến thế, cả người thân duy nhất ở trên đời mà cũng không được gặp”.
Khi nghĩ đến người thân duy nhất trên đời, không biết thế nào nàng lại nhớ đến Trương Đan Phong. Trương Đan Phong tuy không phải là người thân của nàng, nhưng mỗi lần Vân Lối nghĩ đến tên chàng thì bất giác có cảm giác thân thiết kỳ lạ, bên tai nhớ lại câu nói của Trương Phong Phủ, nàng bất giác cười khổ rằng: “Ông đâu có biết nhà tôi và y có thù sâu như biển, muốn khuyên huynh trượng của tôi giải hòa với y, ông đã uổng phí tấm lòng ấy rồi”.
Nhớ lại đp, lại liên tưởng đến Vu Khiêm, Vân Lối lấy ra bức thư của Trương Đan Phong nhờ nàng trao cho Vu Khiêm, trên bức thư có dòng chữ như rồng bay phượng múa, nàng chợt cảm thấy như thấy con người chàng. Vân Lối nghĩ bụng: “Trương Đan Phong mới vài Trung thổ, sao lại quen biết Vu Khiêm? Lại còn viết thư giới thiệu mình đến gặp ông ta?”
Nhưng chợt nghĩ Trương Đan Phong tuy cuồng phóng nhưng làm việc rất chu đáo, chưa bao giờ sai sót, cũng chưa bao giờ nói dối, y có thể viết bức thư này, chắc chắn sẽ có lý. Lại nghĩ rằng: “Dù sao mình cũng không có cách gặp Vu Khiêm, chi bằng cứ cầm bức thư này đi thử. Ồ nếu bọn giữ cửa không cho mình vào thì như thế nào? Chả lẽ cũng xông bừa vào? Vu Khiêm là đại thần nhất phẩm, được muôn người kính ngưỡng, không thể nào làm càn như thế được. Ồ, có rồi, dù sao mình cũng biết khinh công, đến đêm tối thì cứ lẳng lặng đến gặp ông ta”.
Đến ngày hơm sau Vân Lối nghỉ ngơi cho khỏe, đến canh ba thì thay đổi đồ dạ hành, len lén rời khỏi khách sạn, theo địa chỉ tìm đến Vu gia.
Trong tưởng tượng của Vân Lối, Vu Khiêm là quan đại thần nhất phẩm, nhà cửa chắc chắn phải to lớn nguy nga, nào ngờ chỉ là một canh tứ hợp viện rất bình thường, phía sau là một vườn hoa nhỏ, chẳng khác gì nhà dân bình thường.
Vân Lối thầm chép miệng: “Đúng là một bậc danh thần, chỉ nhìn nơi ở cũng đã biết con người của ông ta”. Thế rồi nhẹ nhàng nhảy lên mái ngói, đưa mắt nhìn xuống bên dưới. Chỉ thấy căn phòng ở gần vườn hoa ba mặt đều có cửa sổ, đèn bên trong vẫn còn sáng, Vân Lối thầm nhủ: “Trông chẳng giống nhà phú quý, đây chắc là thư phòng của Vu Khiêm. Vu Khiêm hãy còn châm đèn, chắc là ông ta chưa ngủ”.
Thế rồi bước nhẹ đến thư phòng, chợt nghe trong phòng có tiếng nói chuyện. Vân Lối lắng nghe thì tim đập thình thình, đó chính là giọng nói của Trương Đan Phong. Nàng có phải đang nằm mơ không? Sao chàng lại đến đây? Đêm qua Vân Lối còn mong được thấy chàng, nay nghe giọng nói của chàng, thì lại không muốn gặp. Nhưng thật là không muốn gặp chàng không? Không, nàng đã khao khát được gặp chàng một lần, chỉ len lén nhìn chàng cũng được. Vân Lối chậm rãi bước gần tới, ghé mắt nhìn, thấy trong cửa sổ có hai bóng người, một người trong đó đúng là Trương Đan Phong!
Đó chính là:
Trương lang đang ở trong nhà, mà sao chẳng muốn người là Trương lang.
Muốn biết chuyện sau thế nào, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 15
Gian hoạn lộng quyền trầm oan thùy dữ tuyết
Lôi đài tranh thắng hiệp sĩ ám phi châm

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:40 pm

Hồi 15
Gian hoạn lộng quyền trầm oan thùy dữ tuyết
Lôi đài tranh thắng hiệp sĩ ám phi châm

Vân Lối nhìn thấy bóng Trương Đan Phong, bất giác ngẩn người ra. Một lát sau mới sực tỉnh, một làn gió mang hương hoa thổi tới, khiến cho nàng lấy lại tinh thần, đứng bên ngoài cửa sổ lắng nghe.
Chỉ nghe Trương Đan Phong nói: “Thoát Bất Hoa tuy là vua Ngõa Thích, nhưng quyền hành đều nằm trong tay Dã Tiên, một phần thì nằm ở trong tay A Thích. Cho nên thật sự Ngõa Thích đang bị chia ba. Lần này Vương Chấn chủ trương bắt giữ A Thích, tôi thấy đó có lẽ là ý của Dã Tiên”.
Vu Khiêm nói: “Tại sao?”
Trương Đan Phong nói: “Đó chính là mượn đao giết người. Tôi biết con người Dã Tiên, dã tâm của y rất lớn, tự xưng là người kế thừa của Thành Các Tư Hãn, y sớm muội gì cũng sẽ đoạt ngôi, A Thích và Thoát Bất Hoa tương đối gần gũi nhau, nếu y trừ được A Thích thì sau này sẽ đoạt ngôi dễ dàng hơn nhiều”.
Vu Khiêm chép miệng: “Nghe công tử nói mà tôi đã hiểu ra nhiều. Đáng tiếc triều ta không ai biết tình hình của kẻ địch”.
Trương Đan Phong nói: “Nếu Ngõa Thích xảy ra chuyện tranh chấp nội bộ thì đó là phước của triều Minh”. Thế rồi cười khổ, ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, Vân Lối vội vàng thu mình nấp vào trong bụi hoa, thầm nhủ rằng: “Trương Đan Phong rõ ràng có thù với Thiên tử nhà Minh, sao chàng lại lo cho nhà Minh đến thế?”
Chỉ nghe Trương Đan Phong lại nói tiếp: “Đàm Đài Diệt Minh thật ra là một người Hán được sinh ra ở Ngõa Thích, y tương đối gần gũi với A Thích, đêm qua tôi đã gặp y, nhờ y dùng đại nghĩa khuyên cha tôi thuận nước đẩy thuyền, gây rối nội bộ nước Ngõa Thích”.
Vu Khiêm nói: “Lệnh tôn có chịu không?”
Trương Đan Phong nói: “Thật không dám giấu, ông quả thật có ý giành lại giang sơn nhà Minh, nhưng ông cũng không quên mình là người Hán, cho nên chuyện này thành hay bại cũng khó đoán”.
Vu Khiêm chợt hỏi: “Sao công tử không đích thân khuyên lệnh tôn”.
Trương Đan Phong nói: “Lần này tôi về Trung thổ còn có một chuyện rất quan trọng, đó là phải lấy cho bằng được báu vật liên quan đến vận nước, cho nên không thể lập tức trở về”.
Vu Khiêm nói: “Ngõa Thích có nội loạn hay không vẫn chưa biết, nhưng người Ngõa Thích đã sắp đánh tới nơi, vậy phải nên làm thế nào đây?”
Trương Đan Phong nói: “Trung Quốc lớn hơn Ngõa Thích gấp mười lần, nếu muôn người có thể chung lòng thì sợ gì cường địch?”
Vu Khiêm nói: “Chỉ e không thể muôn người đều một lòng!”
Trương Đan Phong nói: “Phiêu kỵ tướng quân Quách Đăng, Binh bộ chủ sự Dương Hồng, Đại thống lĩnh Ngự lâm quân Trương Phong Phủ đều là những người có tài, đại nhân có thể sắp xếp trước. Vương Chấn tuy quyền cao thế lớn, nhưng ai cũng biết y là gian thần, đến khi vận nước gặp nguy, đại nhân chỉ cần kêu một tiếng, đương nhiên bốn phương sẽ hưởng ứng, tên họan quan Vương Chấn làm sao có thể ngăn cản được?”
Vu Khiêm thở dài nói: “Thành bại khó biết, tôi chỉ mong dốc hết sức mình mà thôi”.
Trương Đan Phong nói: “Tà không thể thắng chính, đó là điều chắc chắn!”
Vu Khiêm nói: “Công tử sáng suốt, suy nghĩ sâu xa quả thật là kỳ tài trên đời này, tại sao không chịu đứng ra giúp cho nước nhà?”
Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Mỗi người đều có chí riêng, hơn nữa nam nhi trả ơn nước đầu cần phải đứng trong triều?”
Vu Khiêm bất giác buồn bã. Trương Đan Phong biết mình nói hơn quá đáng, thế rồi cười nói: “Nhưng trụ cột triều đình như đại nhân thì lại khác”.
Vân Lối đứng bên ngoài nghe Trương Đan Phong nói chuyện với Vu Khiêm, phân tích tình hình kẻ địch, bàn bạc chuyện nước nhà, có thể thấy tấm lòng trung của chàng đối với đất nước. Bất giác không khỏi kinh ngạc và vui mừng. Kinh ngạc là vì Trương Đan Phong hành sự rất khó lường; vui mừng là vì mình quả nhiên không nhìn sai người, Trương Đan Phong là một người mang bầu máu nóng. Bất giác cảm thấy mối thù oán giữa hai nhà thật vô vị.
Chỉ nghe Trương Đan Phong lại nói: “Lần này tôi vào kinh mạo hiểm đến gặp, được đại nhân tin mà không nghi ngờ, ngày sau nếu có cần gì thì dù thịt nát xương tan cũng sẽ dốc hết lòng”.
Vu Khiêm nói: “Công tử nên trả ơn nước chứ không phải trả ơn tôi”.
Trương Đan Phong nói: “Nam nhi phải đến nợ nước, cần gì phải so đo. Đêm đã khuya, đại nhân nên an giấc. Vãn sinh xin cáo từ”.
Vu Khiêm trầm ngâm, chợt hỏi: “Chừng nào chúng ta gặp lại?”
Trương Đan Phong nói: “Khi cần gặp thì tôi tự nhiên sẽ đến”.
Vu Khiêm nói: “Người xưa có nói, bạch đầu như tân, khoảnh trái như cố (hai câu này có nghĩa là, có những người làm bạn suốt đời với nhau, đến khi đầu bạc răng long, nhưng vẫn như mới gặp nhau, đôi bên chẳng hiểu nhau nhiều. Có những người chỉ gặp nhau qua đường, ngừng xe lại, giở rèm xe ra nói chuyện, nhưng tựa như bạn bè thân thiết lâu năm. Cho nên tình bằng hữu có thân thiết hay không là không phải ở thời gian mà là có hiểu nhau hay không). Lời này rất đúng. Tôi đến lúc về chiều mới có thể quen biết một tri kỷ vong niên như công tử, thật là chuyện vui trong đời”.
Trương Đan Phong cười nói: “Sau này sẽ gặp lại, mong đại nhân đừng tiễn”. Thế rồi nghe tiếng Vô Kỵ mở cửa, Trương Đan Phong bước ra ngoài.
Trong khoảnh khắc, Vân Lối rối bời lòng dạ, gặp hay không gặp, trong nhất thời nàng không thể quyết định. Chỉ nghe Trương Đan Phong bước ra khỏi thư phòng, đang từ biệt Vu Khiêm, Vân Lối chợt nhớ đến lời của Trương Đan Phong: “Khi cười thì nên cười thì nên cười, khi khóc thì nên khóc, cần gì phải kìm nén?” Rồi nàng nghĩ: “Vậy mình cũng nên gặp thì gặp, cần gì phải lo lắng?” Khí huyết dâng trào, lòng như lửa đốt, nàng đang định nhảy ra, chợt cảm thấy sau lưng có tiếng gió, tựa như ở eo có người chạm vào, Vân Lối sờ xuống eo mới thấy chỉ còn lại vỏ kiếm. Vân Lối không dám kêu lớn, nàng xoay người vọt lại, hai chưởng quét ra, chợt cổ tay cảm thấy tê rần, phía trước mắt một bóng người xẹt tới, Vân Lối tuy võ công cao cường, nhưng vẫn bị người ấy điểm trúng Ma huyệt, thế rồi nhấc bổng nàng lên, nàng có kêu cũng không ra lời, bên tai tựa như nghe tiếng Trương Đan Phong: “Buông y xuống, buông y xuống. Tiểu huynh đệ, tiểu huynh đệ, có đúng là đệ không?”
Trương Đan Phong tựa như từ sau đuổi tới, nhưng người này chạy nhanh không thể hình dung nổi, Vân Lối bị y kẹp vào người mà tựa như đạp mây cỡi sương. Khinh công của Trương Đan Phong cũng hiếm thấy trên giang hồ, nhưng người này còn nhanh hơn cả chàng, trong khoảnh khắc đã bỏ Trương Đan Phong ở phía sau.
Vân Lối vừa kinh hoảng vừa tức tối, nhưng lại không thể vùng vẫy được, chợt thấy người ấy điểm vào lưng mình, rồi nhẹ nhàng đặt nàng xuống đất. Vân Lối chợt cảm thấy khí huyết lưu thông, tứ chi thoải mái, đang định xông tới thì nhìn thấy người đã bắt cóc mình chính là ông già hôm trước đã đánh Đàm Đài Diệt Minh bị thương!
Vân Lối chỉ đành khựng lại, ông già ấy săm soi cây Thanh Minh kiếm, nhìn thẳng vào Vân Lối, chợt lên tiếng hỏi: “Sư phụ của ngươi có phải là Phi Thiên Long Nữ Diệp Doanh Doanh hay không?”
Vân Lối nói: “Đúng thế”.
Ông già ấy thở dài, nói: “Đã mười năm nay ta không gặp bà ta, thấy kiếm như thấy người, nay bà ta đã trao Thanh Minh kiếm cho ngươi, chắc là đã làm xong hai chuyện sư tổ sai khiến”.
Mười hai năm trước, Phi Thiên Long Nữ đã phạm lỗi, bị Huyền Cơ Dật Sĩ phạt phải ở lại núi Tiểu Hàn mười lăm năm, trong vòng mười lăm năm này bà ta phải làm xong hai chuyện: Thứ nhất là luyện hai môn võ công khó nhất, thứ hai là dạy một học trò tinh thông Bách Biến Huyền Cơ kiếm pháp, Vân Lối đã từng nghe sư phụ kể lại chuyện này. Lúc này nghe ông già ấy nhắc lại, cho nên vội vàng hỏi: “Người có phải là Đại Kim Cương Thủ Đổng sư bá hay không?”
Ông già này chính là Đại Lực Kim Cương Thủ Đổng Nhạc, nghe thế thì cười ha hả, nói rằng: “Ngươi rất thông minh, đêm qua ta thấy ngươi mang thanh kiếm này đến nhà Trương Phong Phủ, ta đã để ý, chỉ vì thấy ngươi là nữ giả nam cho nên không dám nhận. Quả nhiên ngươi là sư điệt của ta, ngươi có biết tại sao ta không cho ngươi ra tay hay không?”
Vân Lối ngạc nhiên hỏi: “Tại sao?” Rồi nghĩ bụng: “Mình đâu có muốn động thủ với ai!”
Đổng Nhạc nói: “Lúc nãy ngươi chẳng phải xông ra ám sát Trương Đan Phong ư? Nếu ngươi giết y, ngươi đã sai lầm”.
Vân Lối bị ông ta hiểu lầm, thế nhưng nàng cũng hỏi: “Sai thế nào?”
Đổng Nhạc nói: “Trương Đan Phong tuy là con trai của Trương Tôn Châu, nhưng lại là một người có trái tim yêu nước. Hôm qua sau khi ác đấu với Đàm Đài Diệt Minh, buổi tối ta đã đến khách sạn của tên Phiên vương Mông Cổ, lúc đó Trương Đan Phong đang nói chuyện với Đàm Đài Diệt Minh. Té ra hai người đang bàn bạc một chuyện bí mật, chuyện này con không cần biết, nhưng lại có lợi đối với Trung Quốc. Vì thế ta vốn định đánh Đàm Đài Diệt Minh một chưởng, nhưng đã tha cho y”.
Vân Lối cười thầm: “Chuyện này con cũng đã biết trước”.
Đổng Nhạc nói: “Thử hỏi nếu con giết y thì chẳng phải đã phá hỏng chuyện rồi sao. Hơn nữa võ công của con cũng chẳng phải là đối thủ của y, con có thấy bản lĩnh của y chưa?”
Vân Lối nói: “Đã từng thấy”.
Đổng Nhạc nói: “Ồ, vậy thì càng không nên. Người hiệp sĩ trong võ lâm phải biết tự lượng sức mình. Con tên là gì?”
Vân Lối nói: “Con tên là Vân Lối”.
Đổng Nhạc kêu ối chao một tiếng, nói: “Đi khắp nơi mới tìm được con, té ra con là tiểu muội của Vân Trọng, thật là kỳ lạ! Chả trách nào con đòi giết Trương Đan Phong”.
Vân Lối giở khóc giở cười, Đổng Nhạc lại nói: “Đêm qua ta nghe nói Trương Đan Phong sẽ đến gặp Vu Khiêm, cho nên đã theo dõi, nhưng trên đường có chút chuyện, vì thế đến nơi thì y vừa mới bước ra, không biết họ đã nói gì? Con có nghe không?”
Vân Lối trả lời: “Con cũng không nghe rõ”.
Đổng Nhạc nói: “Cũng không sao. Nghe nói Vân Trọng cũng ở đây, huynh muội các con đã gặp mặt nhau chưa?”
Vân Lối buồn bã nói: “Ca ca đã được điều vào cung làm thị vệ”.
Đổng Nhạc thở dài: “Như thế cũng tốt, nhưng hắn cứ tưởng rằng có làm quan thì mới có thể báo thù rửa hận cho tổ phụ, nhưng lại là sai”.
Vân Lối nói: “Quyền thần đang nắm quyền, Lý Quảng vô công, đại sư bá nói phải lắm”.
Đây là hai câu Đổng Nhạc viết trong thư gởi cho Châu Kiện. Đổng Nhạc nói: “Ồ, té ra con cũng đã xem bức thư đó. Đáng tiếc Trọng nhi không hiểu lý lẽ này. Nói như thế, chúng ta sẽ khó gặp hướng Thế rồi kể lại lời Trương Phong Phủ. Đổng Nhạc nói: “Lần này ta đột nhiên quay về là vì một chuyện rất khẩn cấp, sắp phải gặp sư tổ của con cho nên không thể đến gặp Châu Kiện. Ta đi ngang qua kinh sư cho nên ghé vào dò hỏi tung tích của Trọng nhi, cũng không thể ở lâu được, khi con gặp hắn, hãy chuyển lời của ta”.
Vân Lối gật đầu, Đổng Nhạc lại nói tiếp: “Các con nếu muốn báo thù nhà họ Trương thì cứ theo quy củ võ lâm, ta không quản đến chuyện này. Nhưng Trương Đan Phong là người thuộc lớp các con, mối thù của đời trước không liên quan gì đến y, nếu có thể giải được thì cứ giải. Song đại ca của con là con trưởng, chuyện báo thù con phải nghe hắn. Con cứ chuyển lời của ta, để hắn suy nghĩ”.
Theo quy cử võ lâm, phàm những chuyện liên quan đến thù hận của cha mẹ tổ tiên, dù là bậc sư phụ hay tôn trưởng cũng chỉ có thể khuyên giải, không thể dùng mệnh lệnh ngăn cản cho nên Đổng Nhạc mới nói như thế.
Đổng Nhạc lại nói tiếp: “Còn Trương Tôn Châu ấy là xấu hay tốt, ta vẫn chưa biết. Tạ Thiên Hoa sư đệ giờ đây vẫn còn ở nước Hồ, ta cũng không biết tin tức của y. Lần này ta gặp sư tổ của con là cầu xin ngài cho phép sư phụ của con xuống núi”.
Vân Lối nói: “Có lẽ lúc này nhị sư bá đã đến núi Tiểu Hàn”.
Thế rồi nói sơ qua về chuyện của Triều Âm hòa thượng. Đổng Nhạc cười rằng: “Hay lắm! Xem ra bốn anh em bọn ta đã sắp đến nước Hồ làm chuyện long trời lở đất. Chỉ e sư phụ của con vẫn chưa được xuống núi”.
Huyền Cơ Dật Sĩ đã bế quan hơn ba mươi năm nay, Vân Lối cũng chưa gặp ông ta, nàng nghĩ bụng: “Nếu cả người cũng xuống núi, e rằng đây là chuyện rất khó khăn”. Thế nhưng nàng cũng không dám hỏi nhiều. Đổng Nhạc nhìn sắc trời, nói: “Trời đã sắp đến canh bốn, ngày mai ta sẽ rời kinh, con đang ở đâu, ta không đưa con về được”.
Vân Lối nói: “Con đang ở khách sạn, sư bá cứ tùy tiện, con cũng không đưa người được!”
Lúc này họ đang đứng bên một đầm nước ngoài ngoại ô, dưới ánh trăng bóng nước bàng bạc, trong hồ chỉ có hai bóng người. Đổng Nhạc lại thở dài, nói: “Hơn mười năm ở đất Hồ, cả đầu cũng bạc phơ! Ôi, thời gian qua thật nhanh, nhớ lại năm xưa khi chia tay với sư phụ của con, bà ta cũng trẻ trung như con”.
Vân Lối chợt giật mình, nhớ lại tình cảm của sư phụ với đại sư bá, cho nên nàng rất thắc mắc lời nói ban nãy của Đổng Nhạc. Khi ngẩng đầu nhìn lên thì Đổng Nhạc đã đi xa.
Vân Lối xoay người không bước về khách sạn mà đi thẳng về hướng nhà của Vu Khiêm. Khi đến nơi thì nghe tiếng trống canh gõ bốn lần, chỉ thấy trong thư phòng của Vu Khiêm đèn vẫn sáng trưng. Vân Lối ngạc nhiên nói: “Ồ, ông ta vẫn chưa ngủ!” Thế rồi lặng lẽ đi đến trước cửa phòng, gõ nhẹ mấy tiếng, Vu Khiêm mở cửa phòng, mỉm cười nói: “Vân cô nương, mời cô hãy vào đây, tôi đã đợi cô nương rất lâu!”
Vân Lối cải dạng nam trang, suốt quãng đường chẳng ai nhận ra, Vu Khiêm vừa nhìn thì đã gọi là Vân cô nương, nàng không khỏi ngạc nhiên. Vu Khiêm mỉm cười: “Trương Đan Phong đã sớm cho tôi biết chuyện này, sao đến lúc này cô nương mới đến gặp tôi?”
Vân Lối thấy ông ta cười thân thiết, không khỏi tuôn nước mắt rồi quỳ xuống đất.
Vu Khiêm cúi người đỡ nàng dậy, nói: “Khi ta đi thi, gia gia của cô nương làm chủ khảo, nếu không chê, ta có thể gọi cô nương một tiếng điệt nữ”.
Vân Lối nghe ông ta nhắc tới gia gia thì càng đau lòng hơn, nàng run rẩy hỏi: “Gia gia của con đã chết như thế nào? Có đúng là Hoàng thượng hạ thánh chỉ ban chết hay không? Bá bá có biết nội tình không?”
Vu Khiêm bảo Vân Lối ngồi xuống, rót cho nàng tách trà nóng rồi nói: “Con hãy lau khô nước mắt rồi ta sẽ nói kỹ”.
Vân Lối lau nước mắt lắng nghe. Vu Khiêm thở dài rồi nói: “Năm gia gia con gặp nạn, ta đã làm đến Binh bộ thị lang, nghe tin dữ của gia gia con từ Nhạn Môn quan truyền về, trăm quan văn võ đều rất bi phẫn, mọi người đều bảo gia gia của con bị giữ ở nước người, chăn ngựa hai mươi năm ở vùng tuyết phủ, trước sau vẫn không cúi đầu, quả thật còn hơn cả Tô Vũ, xin Hoàng thượng rửa oan, rửa sạch tội danh, phong tặng tước hiệu. Hoàng thượng thấy tấu chương thì bảo rằng: “Vân Tĩnh đã chết rồi ư, trẫm cũng không biết, để trẫm quay về hỏi thử, tấu chưởng của khanh hãy để lại một bên”. Nói xong thì hạ lệnh bãi chầu, đại thần Lưu Tân không nhịn được, bước ra chạy đến ngự thư phòng hỏi rằng: “Vậy chiếu thư ban chết Vân Tĩnh chẳng phải do Thánh thượng viết ư? Hoàng thượng ấp úng, Tư Lễ thái giám Vương Chấn nghe thế chạy tới, nói: “Hoàng thượng, cả chiếu thư ngài viết mà cũng quên rồi sao?” Hoàng thượng vội vàng nói: “Ồ, phải, phải, chính là trẫm đã viết chiếu thư. Y bị mang tội gì, để trẫm nhớ lại xem”.
Vương Chấn đứng một bên, nói: “Y là sứ thần mà không làm tròn trách nhiệm cho nên bị ban chết”. Hoàng thượng nói: “Đúng thế, đúng thế! Chết vì tội này!” Lưu Tân mắng Vương Chấn rằng: “Rõ ràng ngươi đả giả truyền thánh chỉ, hại chết bậc trung lương, lại còn đổ cho Hoàng thượng, khiến cho Hoàng thượng mất lòng người!” Vương Chấn thẹn quá hóa giận, lập tức bắt Lưu Tân giam vào thiên lao, bịa đặt ra một tội danh xử tử ông ta. Văn võ trong triều không phục dâng tấu chương đàn hạch, sau đó Lưu Tân mới được miễn tội chết, cắt chức làm dân. Một ngự sử khác kêu oan cho gia gia của con cũng bị đày đi Hải Nam, không lâu sau thì bị Vương Chấn hại chết. Những người lên tiếng đàn hạch y đều bị đày đi nơi khác, cả ta cũng bị đày đến Giang Tây làm tuần án”.
Vân Lối phẫn nộ vô cùng, nói: “Tên họan quan đáng căm giận, té ra là gia gia của con đã bị y hại chết! Tại sao y lại phải hại chết gia gia của con?”
Vu Khiêm nói: “Sau đó bọn ta dò hỏi được, té ra tên họan quan Vương Chấn này đã cấu kết với cha con Dã Tiên, âm thầm đem binh khí của Trung Quốc trao đổi ngựa tốt của Mông Cổ, gia gia của con là đại thần tiền triều, rất có tiếng tăm, lại đã giữ lòng trung hai mươi năm chẳng khác gì Tô Vũ chăn dê, nếu ông ta quay về chắc chắn sẽ sửa sang triều chính, bài trừ gian đảng. Ta đoán Vương Chấn sợ gia gia của con đã biết được chuyện y tư thông với người Mông Cổ, nếu gia gia con trở về triều thì chẳng có lợi đối với y cho nên giả truyền thánh chỉ ra tay trước! Y là Tư lễ thái giám, ngọc tỷ của Hoàng thượng nằm trong tay y, tấu chương trong ngoài ngoại trừ đại thần đích thân đem lên, tất cả đều phải qua tay y, y muốn giả truyền thánh chỉ thì dễ như trở bàn tay”.
Vân Lối nghe xong, bất đồ nhớ lại năm xưa Trương Tôn Châu đã bảo Đàm Đài Diệt Minh tặng cho gia gia nàng ba túi gấm.
Ba túi gấm này rất kỳ lạ, cho nên tuy còn nhỏ nhưng Vân Lối vẫn nhớ rất kỹ, đến khi lớn lên, Triều Âm hòa thượng, Châu Kiện và Trương Đan Phong đã từng nhắc. Trong túi gấm thứ nhất có một viên sáp, bên trong có giấu thư của Vương Chấn gởi cho Thoát Hoan (tức là cha của Dã Tiên) và Trương Tôn Châu, bàn bạc chuyện dùng vũ khí trao đổi ngựa Mông Cổ, túi gấm này suy đoán Vân Tĩnh sẽ bị bắt, bảo Tạ Thiên Hoa vào kinh trao viên sáp cho Vu Khiêm tố cáo Vương Chấn. Tuy túi gấm thứ ba suy đoán không đúng (Vân Tĩnh không chỉ bị bắt mà còn bị lập tức ban chết), nhưng cũng là ý tốt của Trương Tôn Châu. Vân Lối nghĩ: “Nếu năm xưa giao viên sáp này cho Vu Khiêm, thế lực của Vương Chấn không đến nỗi lớn mạnh như bây giờ”.
Vu Khiêm nói xong, thở dài than rằng: “Vân đại nhân chưa được rửa oan, nhưng ông ta có một cháu gái tốt thế này, ở dưới suối vàng cũng có thể nhắm mắt”.
Vân Lối nhớ lại cái chết thê thảm của gia gia, lửa phẫn nộ lại sinh ra, vỗ tay thề rằng: “Tiểu nữ không phanh thây tên gian tặc ra muôn đoạn, thề không làm người”.
Vu Khiêm lắc đầu: “Vân cô nương, lúc này tôi không tán thành cô nương báo thù”.
Vân Lối hỏi: “Lão báo có dụng ý gì?”
Vu Khiêm nói: “Lúc này Vương Chấn đang nắm quyền lớn, trong phủ có rất nhiều giáp sĩ. Trong quân cũng có nhiều tướng lĩnh là người của y, giờ đây chúng ta đang toàn lực đối phó với người Ngõa Thích, nếu nôn nóng sẽ hỏng chuyện lớn. Tục ngữ có nói, kẻ làm điều ác chắc chắn sẽ chết. Sau này mưu gian của y bị bại lộ, dù cho cô nương không trả thù, chắc chắn cũng có người giết chết y. Cô nương tuy tinh thông võ nghệ, nhưng một tay khó vỗ nên kêu, ít nhất cũng phải gặp ca ca của cô nương rồi tính tiếp”.
Vân Lối nghĩ cũng có lý, thế rồi im lặng không nói, nước mắt dâng tràn. Vu Khiêm chậm rãi đứng dậy, đến đẩy cửa sổ ra, nói: “Trời đã sắp sáng. Vân cô nương, cô nương đang ở đâu?”
Vân Lối nói: “Tôi đang ở khách sạn”.
Vu Khiêm nói: “Khách sạn người đông, cô nương chỉ có một mình, lại là gái giả trai, chắc là có nhiều điều bất tiện, chi bằng cứ dọn đến nơi này. Tôi có tin gì cũng dễ dàng thông báo”.
Vân Lối nói: “Nếu lão bá đã bảo như thế, điệt nữ cũng không khách sáo, để điệt nữ về thu xếp rồi sẽ lập tức dọn tới”.
Phòng bên kia có giọng nói trong trẻo của thiếu nữ vang lên: “Cha, đêm nay cha lại không ngủ ư?”
Vu Khiêm mỉm cười, nói: “Cha sắp ngủ đây”.
Rồi nói với Vân Lối: “Con gái của ta cứ thúc giục ta đi ngủ, cô nương hãy mau về dọn hành lý đến. Ta thường làm việc đến suốt đêm, cho nên không chăm sóc cho đứa con này được”.
Vân Lối thấy tình cha con của họ thắm thiết, không khỏi nhớ lại gia gia và cha của mình. Tuổi tác của Vu Khiêm cũng tương đương với gia gia vào mười năm trước, nhưng gia gia lại không hiền từ với mình như Vu Khiêm.
Vân Lối trở về khách sạn tính tiền, dọn đến nhà họ Vu, con gái của Vu Khiêm tên gọi Vu Thừa Châu, năm nay chỉ vừa mới chín tuổi, thông minh lanh lẹ, hoạt bát vô cùng, Vân Lối ăn mặc lại theo lối nữ giới, Thừa Châu cứ chạy theo nàng kêu tỷ tỷ. Vân Lối và cô bé rất thân thiết với nhau, từ đó nàng ở lại nhà họ Vu.
Vân Lối ở lại nhà họ Vu, trong lòng còn có một hy vọng, nàng mong Trương Đan Phong sẽ quay lại tìm Vu Khiêm, thế nhưng cả nửa tháng trời cũng chẳng thấy Trương Đan Phong. Vân Lối ở nhà họ Vu được sáu ngày thì tên Phiên vương Mông Cổ và Đàm Đài Diệt Minh cũng trở về Ngõa Thích.
Ở được nửa tháng, Vân Lối nhớ rằng Trương Phong Phủ đã từng nói khoa thi võ năm nay đã sắp mở, cho nên hỏi thăm Vu Khiêm, Vu Khiêm cười rằng: “Điệt nữ ngoan, đừng nôn nóng, nếu ca ca của con đi thi, ta sẽ gọi hắn đến gặp con”.
Vân Lối hỏi: “Đã mở khoa thi chưa?”
Vu Khiêm nói: “Giờ đây chỉ mới thi buổi đầu, người rất đông, để ta đến binh bộ xem thử thành tích của ca ca con như thế nào”.
Năm ngày lại trôi qua, một buổi sáng sớm, Vu Khiêm đột nhiên gọi Vân Lối vào phòng rồi cười rằng: “Con có muốn gặp ca ca không?”
Vân Lối mừng rỡ nói: “Hôm nay bá bá dắt con đi gặp ca ca hay sao?”
Vu Khiêm nói: “Đúng thế! Nhưng con phải thiệt thòi một chút. Con phải giả thành người tì tùng của ta, ta sẽ dắt con xem tỉ thí”.
Vân Lối rất mừng, vội vàng cải dạng thành một tên thư đồng của Vu Khiêm. Té ra hôm nay là ngày thi cúi cùng, vốn là thi võ không cần đòi hỏi cử tử, tỉ thí võ công với nhau, nhưng vì khoa thi năm nay rất đặc biệt, mục đích là tìm kiếm những bậc kỳ tài giỏi võ nghệ trong thiên hạ, bởi vậy vòng đầu là phải tỉ thí cỡi ngựa bắn cung, vòng thứ hai là thi binh pháp, xong xui rồi sẽ tỉ võ. Đây là ý kiến của Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải, y bảo rằng đây là kỳ thi võ, lẽ ra phải lấy võ nghệ làm chủ, võ nghệ thì có nhiều loại, không chỉ có bắn cung cỡi ngựa, múa đao lọc thương, nếu không tỉ võ thì làm sao biết được ai có tài thật sự? Hoàng đế ở trong cung buồn bã, nghe có trò vui thì lập tức phê chuẩn tấu chưởng của Khang Siêu Hải, rồi ra lệnh dựng lôi đài ở trong hiệu trường, bắc khán đài ở xung quanh cho mình và Thượng thư các bộ cùng với các quan đến xem. Khang Siêu Hải đưa ra chủ trương này thật ra là có lòng riêng. Té ra y có hai sư huynh đệ cũng tham gia cuộc thi năm nay, hai sư huynh đệ của y võ công rất cao, nhưng chỉ hiểu biết sơ sài về binh pháp, cho nên Khang Siêu Hải muốn giúp cho họ tỏ rõ oai phong trong trận tỉ võ.
Xung quanh hiệu trường có Ngự lâm quân canh giữ, bên trong bách trăm khán đài. Vu Khiêm dắt Vân Lối cùng với các quan trong binh bộ, hộ bộ trên khán đài ở phía đông, hoàng đề và các thân vương, thái giám thì ngồi ở khán đài chính giữa. Vu Khiêm thì thầm: “Con xem kìa, người mặc long bào, ở phía sau có một hàng võ sĩ đang đứng chính là đương kim Hoàng thượng. Người đứng bên trái Hoàng thượng là thái giám Vương Chấn”.
Vân Lối liếc nhìn Vương Chấn, cố gắng ghi nhớ tướng mạo của y.
Cử tử tham gia tỉ võ nghỉ ngơi ở dưới lôi đài, Vu Khiêm nói với Vân Lối: “Trong khoa thi năm nay tuy bảo bất cứ ai cũng có thể tham gia, nhưng ngoại trừ những người có quân chức, người khác khác phải có võ quan từ tam phẩm trở lên làm người bảo hộ, cho nên Hoàng thượng mới yên tâm ra xem”.
Vân Lối nghĩ thầm: “Té ra là thế. Vậy thì những người thật sự có năng lực trong giang hồ chắc chắn sẽ không tới”.
Chỉ nghe ba tiếng trống vang lên, cuộc tỉ võ bắt đầu. Vân Lối căng thẳng vô cùng, nàng tập trung chú ý lên những người tỉ võ trên lôi đài, nhưng đó lại là hai hán tử thô lỗ xa lạ, một người sử dụng đơn đao, còn người kia sử dụng hoa thương, chỉ trong khoảnh khắc người sử dụng đơn đao đã thắng, liên tiếp ba cặp lên lôi đài, Vân Trọng vẫn không thấy xuất hiện. Những người bại thì bước xuống đài, những người thắng thì tiếp tục đấu, nếu thắng được hai trận liên tiếp thì có thể nghỉ để người khác lên đấu, đến khi đấu xong thì lại thi thêm một vòng nữa. Vân Lối không thể nào nhớ được tên của họ, đến khi cặp thứ tư đấu xong, người thắng còn đứng lại trên lôi đài là một kẻ mình cao bảy thước, hai tay cầm hai cây thiết chùy trông rất oai phong.
Binh bộ thượng thư nói với Vu Khiêm rằng: “Đó là tướng quân Hồ Đại Khánh mà binh bộ chúng ta vừa mới đề bạt, hai tay có sức mạnh ngàn cân. Khoa thi năm nay có rất nhiều người ứng thí, sau hai vòng thi trước chỉ còn lại chín mươi sáu người, vốn tất cả đều có thể tỉ võ trên lôi đài, nhưng Hoàng thượng lại bảo muốn xem những người giỏi nhất trong vòng một ngày, cho nên hôm qua binh bộ đã tổ chức thi vòng loại, từ trong chín mươi sáu người chọn ra bốn người. Hồ tướng quân là người có thành tích tốt nhất trong cuộc thi vòng loại”.
Vu Khiêm mỉm cười, ông ta biết Hồ Đại Khánh là thân tín của Binh bộ thượng thư, đương nhiên Binh bộ thượng thư mong y thắng. Một viên quan cầm loa đứng trước lôi đài kêu to: “Cử tử số chín Lâm Đại An lên đài! Người đảm bảo là Lễ bộ chủ sự Lý Thuận”.
Sau tiếng Hô ấy, mọi người đều biết cử tử này không có chức quan. Vân Lối ngạc nhiên, chỉ thấy một cử tủ phe phẩy quạt xếp nhảy lên đài, y tuy ăn mặc theo quy định của khoa thi võ, nhưng tướng mạo rất nho nhã trông như một thiếu nữ, cây quạt xếp trong tay chẳng xứng tý nào với bộ nhung trang trên người. Người này chính là con trai của Lâm trang chủ, một người bạn thân của Oanh Thiên Lôi Thạch Anh, mấy tháng trước đã từng đến cầu hôn Thạch Thúy Phượng, bị Thạch Thúy Phượng dùng kế đánh bại.
Lâm Đại An xếp quạt vái một cái rồi cất giọng the thé nói: “Mong Hồ tướng quân nương tay”.
Hồ Đại Khánh thầm kêu lên: “Thật xui xẻo, ở đâu lại xuất hiện một quái vật nửa âm nửa dương thế này!” Thế rồi vung cây chùy, quát rằng: “Nương tay cái gì? Ở đây là chốn triều đình, ngươi tưởng là trò đùa ư? Hãy mau rút ra binh khí!”
Lâm Đạo An dịu dàng nói: “Binh khí của vãn sinh là cây quạt xếp này!”
Hồ Đại Khánh cả giận, bổ xuống một chùy, y nào biết công phu điểm huyệt của Lâm Đạo An vừa chính xác vừa hung hiểm, chỉ thấy y xếp cây quạt lại, đầu quạt chỉ tới huyệt Nhuyễn Ma ở dưới be sườn Hồ Đại Khánh. Hồ Đại Khánh rất cao lớn, xoay chuyển không tiện, hai cây chùy sắt thật lớn đánh vù vù nhưng không thể nào cản nổi Lâm Đạo An, vừa mới tung chiêu ra, chỉ nghe ầm một tiếng, thân hình to như trâu nước của Lâm Đạo An ngã bổ xuống lôi đài. Lâm Đạo An đã quét một cước, cười rằng: “Đa tạ đã nhường!”
Hoàng đế thấy thế thì không vui, chỉ cười rằng: “Hay thật!” Vương Chấn nói: “Trận sau càng hay hơn, Hoàng thượng nhớ xem cho kỹ!”
Chỉ nghe quan cầm loa lại kêu lên: “Cử tử số mười!”
Thấy một người nhảy lên đài giơ cao thiết thuẫn, té ra đó là Lộ Lượng, kẻ tâm phúc của Vương Chấn, hai anh em Lộ Minh và Lộ Lượng đều tham gia tỉ thí, nhưng Lộ Minh thì đã bị loại ra ngay từ vòng đầu bởi một thiếu niên không rõ lai lịch, chỉ có y là mới được vào chung khảo.
Hỗn Nguyên bài pháp của Lộ gia tuy yêu cầu kiếm và thuẫn phải phối hợp với nhau, nhưng chỉ có một tấm thuẫn cũng đã đủ đối phó với Lâm Đạo An. Lộ Lượng mở thiết bài ra, tựa như bày một tấm bình phong ở trước người, Lâm Đạo An nào dám tiến vào, hai người đấu được vài mươi chiêu thì Lộ Lượng cố ý để lộ sơ hở, Lâm Đạo An lập tức vung quạt điểm vào huyệt Toàn Cơ trên ngực của y. Nào ngờ thiết thuẫn đột nhiên kéo về, chỉ nghe bốp một tiếng, cây quạt nan bằng sắt của Lâm Đạo An đã bị đánh gãy, Lâm Đạo An bị gãy mất cây quạt chẳng khác gì ăn mày mất gậy đánh chó, không thể nào múa may được nữa chỉ đành nhảy vội xuống lôi đài.
Vương Chấn mỉm cười, Hoàng đế khan rằng: “Võ sĩ của công công quả nhiên có bản lĩnh!”
Chỉ nghe quan cầm loa lại kêu lên: “Cử tử số mười một Sa Vô Kỵ lên đài, người đảm bảo làm Phó thống lĩnh Ngự lâm quân Dương Oai!”
Vân Lối lại ngạc nhiên, không ngờ tên đạo tạc lục lâm Sa Vô Kỵ cũng tham gia cuộc tỉ võ lần này.
Sa Vô Kỵ nhảy lên lôi đài, hai chưởng đẩy ra nói: “Ta chỉ dùng đôi chưởng tiếp thiết bài của ngươi!”
Lộ Lượng cả giậ, vung thiết bài từ trên đầu giáng xuống, quát rằng: “Được, ngươi tiếp thử xem!”
Thiết bài từ trên giáng xuống, ít nhất cũng đến bảy tám trăm cân. Sa Vô Kỵ nhảy né sang một bên, Lộ Lượng vừa nhìn thì thấy lòng bàn tay của Sa Vô Kỵ đen như sơn, quả nhiên đó là loại công phu Độc sa chưởng, y không khỏi cả kinh, vội vàng thu thiết bài lại hộ thân. Nói thì chậm, sự việc diễn ra lại rất nhanh, chỉ thấy Sa Vô Kỵ ra tay nhanh như điện chớp. Chỉ nghe bốp một tiếng, chưởng của y đã đánh trúng vai của Lộ Lượng, Lộ Lượng kêu lớn rồi đâm xuống lôi đài. Vốn là Lộ Lượng kém cỏi, nếu dùng thiết thuẫn hộ thân, Độc sa chưởng của Sa Vô Kỵ tuy lợi hại nhưng cũng không thể nào đánh vào được, Sa Vô Kỵ lại giỏi dùng tâm kế, cho nên vừa mới nhảy lên đài thì đã khích y ra tay, nhân lúc y không phòng bị đã đánh ra một chưởng.
Chưa đầy ba chiêu Lộ Lượng đã bị đánh ngã, Vương Chấn tức giận đến nỗi sắc mặt tái xanh. Tổng quản Khang Siêu Hải cười rằng: “Công công đừng tức giận, trận sau tiểu tử ấy sẽ thua to!” Thế rồi chỉ nghe quan cầm loa lại kêu: “Cử tử số mười hai Lục Triển Bằng lên đài, người đảm bảo là Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải!”
Chỉ thấy một hán tử người ngũ đoản nhảy lên lôi đài, trên eo của y cột sợi roi tơ vàng nhưng vẫn không tháo xuống, mỉm cười nói rằng: “Độc sa chưởng của ngươi quả nhiên lợi hại, ta sẽ nhường ngươi đánh trước ba chưởng! Nếu ta né tránh thì coi như ta thua!”
Sa Vô Kỵ ngạc nhiên, chỉ nghe Lục Triển Bằng cứ thúc giục: “Đánh đi, sao lại không đánh? Đây là lôi đài tỉ thí võ công, nếu ngươi không đánh thì hãy cút xuống cho ta!”
Sa Vô Kỵ nghĩ hầm: “Môn Độc sa chưởng của mình rất lợi hại, chả lẽ y có thể chống lại độc khí, mình chưa từng nghe nói đến loại võ công này”.
Y rất bực tức trong lòng nhưng không động thanh sắc, chỉ lạnh lùng nói: “Chưởng của tôi rất độc, Lục gia hãy cẩn thận!” nói chưa dứt thì vỗ thẳng một chưởng vào mặt, y nghĩ bụng: “Đánh vào áo chỉ e y mặc áo giáp, đánh vào mặt y làm sao chống đỡ nổi!”
Nào ngờ y vừa mới vỗ ra một chưởng, Lục Triển Bằng húc vai vào khủyu tay của y, Sa Vô Kỵ đau đến thấu tim, cánh tay của bị sụi xuống, nhưng y cũng đành đánh liều thừa thế chụp vào tử huyệt dưới be sườn của Lục Triển Bằng, nếu y chụp trúng thì Kim Cương La Hán cũng chịu không nổi. Vân Lối lúc này đang xem chăm chú, nàng đang suy nghĩ làm cách nào để hóa giải đòn này!
Chợt nghe Sa Vô Kỵ kêu lên thảm thiết, Lục Triển Bằng chưa nhúc nhích Sa Vô Kỵ đã ôm cánh tay bị gãy nhảy xuống lôi đài! Vân Lối cả kinh thất sắc, đó chính là nội công thượng thừa hiếm thấy trên võ lâm tên gọi Triêm Y thập bát điệt! Nàng thầm nhủ rằng: “Có cao thủ như thế này tham gia khoa thi, chỉ e đại ca của mình chưa chắc đậu Võ trạng nguyên!”
Lục Triển Bằng chính là sư đệ của Khang Siêu Hải, võ công tương đương với y, Lục Triển Bằng đang dương dương đắc ý thì chợt nghe quan cầm loa gọi: “Cử tử số mười bốn là đài!” Vân Lối thấy người ấy thì vừa vui vừa lo, bởi vì y chính là Vân Lối!
Lục Triển Bằng giơ tay cười: “Vân thống lĩnh cũng tới, xin mời rút ra binh khí!”
Vân Trọng vào Ngự lâm quân chưa bao lâu, nhưng võ công suất sắc cho nên thường được người ta đem ra so sánh với Kinh sư tam đại cao thủ, Lục Triển Bằng không dám khinh địch, y tháo sợi roi tơ vàng xuống, bước lên thủ thế. Cây roi này của y vốn dùng gân cọp và dây thừng ngàn năm bện lại, có thể khắc chế đao kiếm, còn Vân Trọng thì lại sử dụng một cây đao cho nên vừa nhìn thì đã thấy chàng thua thiệt. Chỉ thấy Lục Triển Bằng bày ra chiêu thế, lật tay đánh ra một roi quét ngang về phía eo của Vân Trọng!
Thế roi đánh ra nhanh như điện chớp, nhưng Vân Trọng càng nhanh hơn. Chỉ thấy chàng lắc lư thân người, nương theo đầu roi phóng thẳng ra, sợi roi quấn ngược vào người chàng, nhưng lại không chính xác, không thể nào chạm vào áo quần Vân Trọng. Vân Trọng xoay người chém ra một đao, Lục Triển Bằng cũng rất ghê gớm, liên tục đánh ra ba roi, tiếng gió cuộn lên, chỉ thấy trên lôi đài là một màn bóng roi tựa như cuồng phong cuộn tới. Vân Trọng tung người phóng vọt lên, xuất chiêu dưới màn roi dày đặc, Lục Triển Bằng thấy chiêu roi Hồi Phong Tảo Liễu của mình chẳng làm gì được Vân Trọng, thế là trầm cổ tay xuống, lại sử dụng một tuyệt kỷ sát thủ. Chỉ thấy y lại vung cây roi ra, cuộn vào cổ tay Vân Trọng, nếu Vân Trọng bị roi cuộn vào thì chắc chắn sẽ roi đao. Vân Trọng đẩy tay trái ra, vổ thẳng một luồng chưởng phong vào ngực địch thủ, đó chính là công phu Đại Lực Kim Cương thủ. Lục Triển Bằng kêu một tiếng hay lắm, chỉ thấy y đột nhiên lướt ra sau nửa thước, chưởng trái cũng đẩy ra, hai chưởng chưa chạm vào nhau thì đột nhiên cả hai bên đều biến chiêu, phóng roi múa đao, rồi lại thay cung đổi vị, khiến ai cũng hoa cả mắt!
Cũng là loại công phu Triêm Y thập bát điệt của Lục Triển Bằng cực kỳ lợi hại, tuy không hạ được Đại Lực Kim Cương thủ nhưng cũng kìm chế được chàng, Vân Trọng vỗ ra ba chưởng, đều bị y cản lại, cho nên cũng cả kinh. Lúc này hai bên đều thi triển tuyệt học cả đời, tỉ thí cả binh khí, nội công và chưởng pháp, chỉ cần bên nào hơi yếu hơn thì sẽ lập tức bị đánh rơi xuống lôi đài, khó giữ nổi tánh mạng. Hoàng đế vừa nhìn vừa luôn miệng kêu lên, còn Vân Lối thì thầm thất kinh!
Chỉ thấy hai người đánh một hồi lâu mà không phân thắng bại, bộ pháp của hai bên đều dần dần chậm chạp. Vân Lối thầm nhủ: “Nếu trận này dù ca ca có thắng cũng đã mệt đến đứt hơi, theo quy củ cuộc tỉ võ này, thắng hai trận thì mới được nghỉ ngơi. Nếu trong trận tiếp theo có kẻ cứng cỏi như Lục Triển Bằng, chắc chắn chẳng còn hy vọng gì, huống chi trận này cũng chưa chắc thắng!”
Hai người đánh nhau được hơn trăm chiêu, cả hai đều nôn nóng. Vân Trọng quyết chí giành cho bằng được chức Võ trạng nguyên cho nên liên tục đánh ra những chiêu hiểm hóc, Kim Cương thủ lúc nặng lúc nhẹ, lúc nhanh lúc chậm để tìm sơ hở chế địch. Lục Triển Bằng thì tương đối già dặn hơn, y không hề nôn nóng mà ngưng thần ứng phó. Chỉ thấy Vân Trọng loạng chọang, chồm người ngã vào trong vòng roi, đao trên tay phải và chưởng trái đều tấn công vào ba mặt của Lục Triển Bằng, đây là một lối đánh rất mạo hiểm, nếu ra đòn không trúng thì bản thân không chết cũng bị thương. Lục Triển Bằng kêu lên: “Hay lắm!”
Thế rồi hóp bụng lại, cây roi cuộn tròn vào trong, vừa né tránh chưởng lực vừa phản công, chiêu này cũng rất hiểm hóc, Vân Trọng suýt nữa kêu lên. Chợt thấy Lục Triển Bằng kêu ối chao một tiếng, Vân Lối chưa kịp nhìn rõ thì đã thấy y buông roi bật ngửa té xuống lôi đài! Té ra y vừa tung đòn phản công, cổ tay tựa như trúng một mũi kim, may mà y lăn thật nhanh, nếu không đã mất mạng bởi Đại Lực Kim Cương thủ. Y thầm mắng: “Hừ, tên tiểu tử này đã để sẵn ám khí trong lòng bàn tay, bị ám toán như thế thật không đáng!”
Nhưng tỉ võ không cấm ám khí, y cũng chẳng lên tiếng được. Thực ra y không hề biết, mũi phi châm ấy chẳng phải do Vân Trọng phóng ra!
Vân Lối và Vân Trọng đều thắc mắc! Chỉ thấy quan cầm loa lên rằng: “Cử tử số mười lăm Trương Đan Phong lên đài, người đảm bảo là Cẩm y vệ chỉ huy kim Ngự lâm quân tổng giáo đầu Thạch Thúy Phượng!”
Vân Lối vừa nghe thì đã hồn bay phách tán, nàng nhất thời đứng sững ra! Trương Đan Phong cũng tham gia tỉ võ, tranh đoạt chức trạng nguyên với đại ca của mình, chuyện nay quả thật không thể ngờ nổi!
Đó chính là:
Lại thấy Trương lang tính toán hay, thần châm bảo kiếm giải thâm thù.
Muốn biết Trương Đan Phong và Vân Trọng ai sẽ đạt được chức Võ trạng nguyên, mời xem hồi sau phân giải.

Xem tiếp hồi 16
Bao phen dâu bể danh viên thành đổ trường
Vung tay cá cược hiệp sĩ thắng hung đồ
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:41 pm

Hồi 16
Bao phen dâu bể danh viên thành đổ trường
Vung tay cá cược hiệp sĩ thắng hung đồ


Vân Lối sững sờ nhìn lên lôi đài, chỉ thấy Trương Đan Phong mặc bộ đồ trắng, đầu đội khăn vuông màu trắng, mỉm cười tung mình vọt lên lôi đài, tư thế rất đẹp đẽ, Hoàng đế ngồi xem bên dưới cũng thầm khen rằng: “Hay cho một nhân vật phong lưu!” Rồi mỉm cười quay sang nói với Khang Siêu Hải rằng: “Người này nên thi văn thì đúng hơn!”
Khang Siêu Hải trả lời ậm ừ, nhìn chăm chăm Trương Đan Phong, trên mặt lộ vẻ ngạc nhiên. Chỉ thấy Trương Đan Phong đưa mắt liếc xuống đài, chỉ thấy ánh mắt của chàng lạnh như băng, Hoàng đế bất giác rùng mình nghĩ thầm: “Gã này trông nho nhã phong lưu mà ánh mắt tràn đầy sát khí!”
Y nào biết, tổ tiên của Trương Đan Phong đã bị tổ tiên của y đoạt mất giang sơn!
Trương Đan Phong nhảy lên đài tỉ võ, không những gây bất ngờ cho Vân Lối, ngay cả Vu Khiêm và Vân Trọng cũng không thể ngờ tới! Vu Khiêm nghĩ bụng: “Trương Đan Phong là bậc kỳ tài hiện nay, mình đã nhiều lần khuyên y ra sức cho triều đình, lại còn bảo đảm cho y, mà y vẫn không chịu, tại sao lần này lại thi Võ trạng nguyên?”
Vân Trọng càng thất kinh hơn, nghĩ bụng: “Gã này rõ ràng là gian tặc của nước Ngõa Thích, tại sao y cũng đến tranh đoạt chức Võ trạng nguyên với mình?” Đang định lên tiếng phanh phui thân phận của chàng, nhưng lại ngại vì người đảm bảo cho Trương Đan Phong chính là Trương Phong Phủ. Vì thế Vân Trọng tuy tức tức giận trong lòng nhưng không dám lên tiếng.
Trương Đan Phong xoay người lại, đối mặt với Vân Trọng, mỉm cười nắm lấy chuôi kiếm, vái dài nói: “Vân huynh đệ hãy nương tay!”
Vân Trọng nổi cơn giận, mắt như nảy lửa. Nhưng chàng đang ở trên lôi đài không thể nào thất lễ, chỉ đành trợn đôi mắt, cầm chuôi đao trả lại một vái, gằn giọng nói: “Hôm nay không phải ngươi chết thì ta vong!”
Trương Đan Phong mỉm cười nói: “Đâu cần phải thế!” Nói vừa dứt lời, chỉ thấy Vân Trọng bày ra thức Khoa Hổ Đăng Sơn, rồi chàng hô lên một tiếng, tung ra một đòn thật mạnh mẽ. Vân Lối lo lắng đến nỗi toát mồ hôi lạnh, chợt thấy Trương Đan Phong móc tay phải, hạ chưởng xuống kéo về, vừa mới quát một tiếng “Hay”, Vân Trọng đã vung bảo đao lên, ánh xanh loang loáng, đao đánh ra cùng với chưởng, chỉ thấy cả người cũng đâm xéo tới! Vân Trọng đã tung ra một đòn nặng cả ngàn cân nhưng bị Trương Đan Phong nhẹ nhàng ngự kình hóa giải, trong lóng cũng rất kinh hoảng. Cho nên chàng không hề nương tay khi chém xuống đao này. Còn Trương Đan Phong thì ngầm vận chân lực nội gia, dùng lực đạo của chưởng phải hóa giải kình lực trên tay trái của Vân Trọng, trong lòng thầm khen rằng: “Đại Lực Kim Cương thủ của đại sư bá thật danh đồn không ngoa!” Rồi chàng không dám chậm trễ, xoay người rút kiếm ra, khi bảo đao của Vân Trọng vừa chém tới thì chàng đâm soạt lại một chiêu. Chiêu này đỡ rất chính xác, Vân Trọng cũng bất giác kêu lên một tiếng hay, rồi chàng chuyển mũi đao biến thành một chiêu quét ngang.
Vân Trọng biết thanh kiếm của Trương Đan Phong là loại thần binh lợi khí, thanh đao của mình kém xa, cho nên cứ sợ bị thanh kiếm của chàng chặt gãy, vì thế chỉ sử dụng thủ pháp chém ngang, đao quang loang loáng không rời những chỗ yếu hại trên mình Trương Đan Phong. Lối đánh xáp lá cà này xuất phát từ lối đánh vật, hoàn toàn là kiểu đánh lưỡng bại câu thương, mỗi chiêu mỗi thức đều hiểm hóc lạ thường!
Trương Đan Phong cười dài, vung thanh trường kiếm ra một vòng, người xoay theo, chỉ thấy kiếm quang nổi lên, kiếm phong tuôn ra ào ạt, trên lôi đài chỉ toàn là bóng dáng của Trương Đan Phong, tựa như có mấy mươi người cầm kiếm từ bốn phương tám hướng chém tới. Vân Trọng đứng giữa lôi đài, không dám rời chân nửa bước, khi thấy bóng người xẹt tới thì tung ra một đao, mỗi chiêu đều nhanh như điện chớp. Thủ pháp chém đao đoạn môn của Vân Trọng tuy ghê gớm, nhưng thân pháp của Trương Đan Phong nhanh đến cực điểm, tựa như chuồn chuồn giỡn nước, cả hai bên đánh nhanh khoảng năm mươi chiêu, đôi bên không ai núng thế, Hoàng đế kêu lớn: “Hay lắm, hay lắm!”
Vân Lối thì lòng lo như lửa đốt, chỉ sợ Trương Đan Phong đả thương Vân Trọng, Vân Trọng đánh bị thương Trương Đan Phong.
Dưới ánh mắt của những người khác, hai người này một người kiếm pháp tinh diệu, một người đao pháp hiểm hóc, công lực lại bằng nhau, không thể phân được thắng bại, nhưng theo Vân Lối thì có người cao kẻ thấp. Vân Lối từng nhiều lần liên thủ với Trương Đan Phong nên biết kiếm pháp của Trương Đan Phong rất tinh diệu, chàng đánh lâu như thế mà vẫn chưa dùng tuyệt chiêu, tựa như có ý nương tay, còn Vân Trọng thì đã dốc hết toàn lực. Khi hai cao thủ tỉ võ với nhau, việc thắng thua sống chết chỉ diễn ra trong chớp mắt, do đó cả hai bên đều sử dụng những chiêu số hiểm hóc, mà số lần gặp nguy hiểm của Trương Đan Phong nhiều hơn Vân Trọng.
Vu Khiêm thấy thế thì lo lắng, tựa như tự nói với mình, tựa như nói với Vân Lối: “Hai hổ đánh nhau, chắc sẽ có một bị thương, cần gì phải khổ như thế?” nhưng không ai có thể cản lại được.
Vân Trọng đã dốc hết toàn lực mà vẫn không thể thắng nổi, trong lòng lo lắng vô cùng. Lại thêm lúc nãy chàng vừa mới đấu một trận với Lục Triển Bằng, hao tổn không ít khí lực, nay lại ác chiến với Trương Đan Phong, đánh được sáu bảy mươi chiêu thì cảm thấy đã đuối sức. Trương Đan Phong thì vẫn nhẹ nhàng tự nhiên, nhưng chàng đánh mỗi chiêu đều rất chính xác, lúc nhanh lúc chậm, không hề để cho Vân Trọng núng thế, rõ ràng là cố ý duy trì cực diện ngang tài cân sức. Lúc này cả Vân Trọng cũng nhận ra chàng đang có ý nhường nhịn, cho nên lửa giận càng bốc cao, thế là thi triển thủ pháp Đại Lực Kim Cương, đao trên tay phải và chưởng tay trái liên tục đánh ra vù vù, đẩy Trương Đan Phong lùi đến mấy thước, rồi đột nhiên xoay người bỏ chạy. Trương Đan Phong cười thầm: “Kế giả bại này lừa được ai?”
Thế rồi chàng tương kế tựu kế cầm kiếm đuổi theo, nào ngờ Vân Trọng lộn người lại, tay trái vung ra, sáu bảy trái Tuyết Liên tử xé gió bay vào các huyệt đạo yếu hại trên mình. Thủ pháp đánh ám khí này là thủ pháp độc môn của Huyền Cơ Dật Sĩ, ám khí có thể bay thẳng tới hoặc bay theo hình vòng cung, khiến cho tất cả những cao thủ đứng bên dưới đều trợn mắt há mồm!
Chợt nghe mấy tiếng keng keng vang lên rất nhỏ, người xem bên dưới đều không nhận ra, nhưng Vân Trọng thì nghe rất rõ ràng, chỉ thấy những trái Tuyết Liên tử đều rơi xuống đài. Vân Trọng biết Trương Đan Phong đã phóng ám khí đánh rơi Tuyết Liên tử của mình, chàng vừa nghe thì đã biết đây chỉ là loại ám khí nhỏ như Mai Hoa châm, nhưng được phóng ra bằng kình lực rất mạnh, đánh rơi trái Tuyết Liên tử nặng gấp mười lần Mai Hoa châm, công lực này quả thật ghê gớm! Không chỉ thế, Trương Đan Phong vừa ra tay lập tức khiến cho Vân Trọng nhớ lại một chuyện lạ!
Khi đang giao đấu với Lục Triển Bằng, Vân Trọng đã đánh ra đòn cuối cùng vốn là sẽ khiến cho hai bên lưỡng bại câu thương, nhưng trong lúc nguy hiểm nhất, Lục Triển Bằng lại đột nhiên ngã xuống, lúc đó Vân Trọng cũng thắc mắc, nay nhìn lại ám khí của Trương Đan Phong thì chàng mới vỡ lẽ ra, té ra kẻ lúc nãy đã ám toán Lục Triển Bằng là Trương Đan Phong! Không ngờ kẻ địch không đội trời chung này lại giúp cho mình!
Trong khoảnh khắc ấy, Vân Trọng vừa hổ thẹn vừa cảm kích, nhưng cũng có vài phần tức giận. Đang không biết làm thế nào, chợt nghe Trương Đan Phong cười: “Xem kiếm!”
Ánh bạch quang loáng lên trước mắt, Trương Đan Phong lại đâm soạt ra một kiếm, Vân Trọng trả lại một đao theo bản năng, đang suy nghĩ có nên nhường lại chức Võ trạng nguyên hay không, đột nhiên phát giác kiếm quang của Trương Đan Phong đã bao vây xung quanh của mình, chỉ thấy kiếm thế của chàng như cầu vồng, trong khoảnh khắc chàng sử dụng toàn sát chiêu, Vân Trọng cả kinh. Lúc này chàng không đủ thời gian suy nghĩ có nên nhường hay không, vội vàng chưởng trái chém ngang ra, đao phải đâm tới, định dùng chiêu Băng Khứ Liệt Thạch phá giải, chợt nghe Trương Đan Phong hạ giọng nói nhỏ: “Chiêu này không được, mau dùng Tam Dương Khai Thái!”
Vân Trọng bất đồ chém ra ba đao, quả nhiên chàng đã sử dụng chiêu số Tam Dương Khai Thái. Còn Trương Đan Phong đã sử dụng Bát Phương Phong Vũ bao vây Vân Trọng, lúc này mũi kiếm vừa vẽ ra nửa vòng cung, chiêu số vẫn chưa hết thì bị Tam Dương Khai Thái phá ra, lập tức chuyển khách thành chủ, môn hộ mở rộng, Vân Trọng lại liên tục chém ra ba đao nữa. Chỉ thấy Trương Đan Phong thối lui từng bước, đến khi đao thứ ba của Vân Trọng vừa chém ra, chàng tựa như không thể chống cự nổi, lộn mình vọt ra sau, nhẹ nhàng hạ xuống đất như con diều bị đứt dây. Thắng bại đã định, Trương Đan Phong đã thua! Cao thủ bên dưới đều kêu vang dội, khen ngợi chiêu số Tam Dương Khai Thái chuyển bại thành thắng của Vân Trọng, ngoại trừ Vân Lối, không ai biết Trương Đan Phong đã cố ý nhường nhịn!
Té ra Trương Đan Phong lần này tham gia tỉ võ mục đích là âm thầm giúp Vân Trọng đoạt chức Võ trạng nguyên. Trương Đan Phong biết hai sư huynh đệ của Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải cũng tham gia tỉ võ, võ công của hai người này tương đương với Vân Trọng, những cao thủ khác thì hơi kém Vân Trọng một chút. Theo quy củ của cuộc tỉ võ, ít nhất phải thắng liên tục hai trận mới được nghỉ ngơi, mà Vân Trọng lại không hề nắm chắc phần thắng, bởi vậy chàng mới mạo hiểm nhờ Trương Phong Phủ làm người đảm bảo để được tham gia khảo thí. Trong cuộc thi vòng loại ngày hôm trước, chàng không cùng một nhóm với Vân Trọng, chàng thi chung với một sư huynh của Khang Siêu Hải tên gọi là Kim câu Ngô Phong và những cao thủ khác như vệ sĩ Lộ Minh, Trương Đan Phong đã hạ ba người này để giảm bớt kẻ kình địch cho Vân Trọng, đến khi lên lôi đài lại âm thầm giúp chàng đánh bại Lục Triển Bằng, cuối cùng thì Trương Đan Phong ra trận, chỉ cho chàng một chiêu, cố ý để cho chàng chuyển bại thành thắng giúp Vân Trọng lấy được công danh. Cả Vu Khiêm và Trương Phong Phủ đều không hiểu nỗi khổ tâm của Trương Đan Phong. Vân Trọng đã thắng như thế, thật sự chàng không ngờ tới, tiếng hô vang dội vẫn chưa dứt, Vân Trọng đứng sững sờ trên đài mà quên cả bước xuống, chợt nghe trên đài có tiếng quát: “Mau mau bắt tên phản tặc!”
Vân Lối, Vân Trọng đều nghe tiếng quát, cho nên bừng tỉnh, chỉ thấy Đại nội tổng quản Khang Siêu Hải đứng trước đài, chỉ về phía Trương Đan Phong, quát võ sĩ chạy tới bắt. Té ra hai sư thúc của Khang Siêu Hải là Thiết Tý Kim Viên Long Trấn Phương và Tam Hoa Kiếm Huyền Linh Tử sau khi bị Trương Đan Phong và Vân Lối đánh bại ở Thanh Long hiệp đã chạy về kinh sư, tả lại cho Khang Siêu Hải biết dung mạo của hai người, nhất là Trương Đan Phong.
Hôm nay Thiết Tý Kim Viên và Tam Hoa Kiếm tuy không có mặt, Khang Siêu Hải đã nghi ngờ Trương Đan Phong, âm thầm để ý, lúc này đã quyết định thà bắt lầm chứ không bỏ sót, cho nên đã hạ lệnh bắt Trương Đan Phong trước mặt Hoàng đế.
Tiếng quát của Khang Siêu Hải đã át hẳn tiếng hoan hô, Ngự lâm quân và các võ sĩ vẫn chưa hiểu chuyện gì, chợt nghe một tràng cười rộ lên, Trương Đan Phong đột nhiên chạy đến mép sân, còn Khang Siêu Hải thì ngã xuống đài. Té ra y không đề phòng bị Trương Đan Phong phóng ám khí phi châm trúng vào huyệt đạo!
Bọn võ sĩ cả kinh la hét, ùn ùn đuổi theo, chỉ nghe Trương Đan Phong huýt một tiếng sáo, con Chiếu dạ sư tử mã phóng tới như bay, Trương Đan Phong cười ha hả rồi nhảy lên lưng ngựa, vung thanh kiếm đánh rơi những mũi tên bắn tới từ sau lưng, con ngựa hí dài tung vó phóng ra khỏi hiệu trường nhanh như điện chớp, không ai có thể cản nổi!
Vương Chấn tay chân run bần bật, miệng kêu lên: “Không... không thể được! Mau bảo Trương Phong Phủ đến đây!”
Chợt nghe Hoàng đế nói: “Khoan đã, trước tiên hãy hỏi Khang Siêu Hải có chuyện gì?”
Khang Siêu Hải cũng là người võ công cao cường, lúc này đã vận khí giải huyệt đạo, nhưng be sườn vẫn còn bị cắm mấy mũi kim, phải dùng đá nam châm mới hút ra được, thế là y lặc lè bước lên đài. Hoàng thượng nói: “Ngươi sao thế?”
Khang Siêu Hải là Đại nội tổng quản, thường ngày rất muốn tranh giành danh hiệu Kinh sư đệ nhất cao thủ với Trương Phong Phủ, y cũng là kẻ rất trọng sĩ diện nhưng nay bị Trương Đan Phong, một người dưới tay Trương Phong Phủ đánh xuống đài, cho nên không dám nói thẳng ra, chỉ ấp úng đáp rằng: “Lúc nãy nô tài vì nôn nóng bắt phản tặc, không cẩn thận bị ngã”.
Hoàng đế hỏi: “Đấy là phản tặc ư?”
Khang Siêu Hải nói: “Đúng thế, y đã từng đả thương Đại thống lĩnh Trương Phong Phủ, đã cướp trọng phạm trong tay Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ chẳng phải đã bẩm cáo lên Hoàng thượng rồi ư?”
Khang Siêu Hải đã suy nghĩ trước, cho nên che giấu chuyện sư thúc của mình bị Trương Đan Phong đánh bại, đùn đẩy hết mọi tội danh lên đầu Trương Phong Phủ. Hoàng đế nghe xong thì không khỏi cười ha hả, nói rằng: “Ái khanh, chắc ngươi đã nhìn nhầm người! Nếu Trương Đan Phong đã từng đả thương Trương Phong Phủ, Trương Phong Phủ làm sao chịu làm người bảo đảm cho y? Ta thấy Trương Đan Phong tuy bị Vân thống lĩnh đánh bại, võ công cũng không kém, vả lại tướng mạo nho nhã, có thể trọng dụng được, đáng tiếc đạ bị ngươi dọa chạy mất. Ngươi hãy mau tìm y về, không được hù dọa y!”
Ông vua nhỏ này thường ngày bị Vương Chấn kìm kẹp, nhưng cũng không đến nỗi ngu muội, vả lại cũng thích tỏ ra khôn vặt, lúc ấy cảm thấy mình cao minh hơn Khang Siêu Hải, cho nên mới trêu Khang Siêu Hải một hồi. Còn Trương Phong Phủ thì toát mồ hôi lạnh, mừng vì Hoàng đế không truy cứu.
Sau một hồi náo loạn, cuộc tỉ võ lại tiếp tục, Vân Trọng thắng liên tiếp hai trận, giành được quyền vào trận cuối cho nên được tạm thời nghỉ ngơi. Lần này cử tử tham gia không nhiều, nhưng sau ba vòng thi chỉ còn lại hai mươi bốn người đủ tư cách tham gia tỉ võ trên lôi đài, tranh đoạt chức Võ trạng nguyên, đến lượt Trương Đan Phong là trận thứ mười lăm, còn lại chín trận, lúc này đã sắp có kết quả.
Chín trận cũng đấu xong, chỉ còn lại một người có thể thắng liên tiếp hai trận bước vào quyết đấu với Vân Trọng, người này tên gọi là Phàn Tuấn, là em ruột của Phàn Trung, chính Phàn Trung đã truyền võ công cho y. Phàn Tuấn kém xa Vân Trọng, đấu không được mười chiêu đã bị Vân Trọng đánh rơi xuống đài. Hoàng đế tuyên bố Vân Trọng đã đoạt đức chức Võ trạng nguyên.
Vân Lối vui mừng trở về nhà Vu Khiêm, chì đợi Vân Trọng có được quan chức sẽ dời ra khỏi hoàng cung, nào ngờ cả mấy ngày trôi mà chẳng có tin tức gì. Không chỉ Vân Lối lo lắng, mà cả Vu Khiêm cũng lấy làm lạ. Theo lý Vân Trọng đã trúng trạng nguyên, ít nhất cũng phải được phong chức tướng quân, ban cho nhà cửa, không cần phải làm thị vệ trong nội đình nữa, nhưng lúc này lại không thấy Hoàng đế ban chiếu, đó là điều chưa từng thấy bao giờ. Vu Khiêm tuy là đại thần, nhưng cũng không tiện hỏi đến chuyện này.
Vân Trọng sau khi đoạt được chức Võ trạng nguyên thì cảm thấy trong người bần thần, dù mọi người đến chúc mừng nhưng cũng không thể nào mỉm cười nổi. Chàng quay trở về phòng đóng cửa lại, bạn bè chúc mừng càng đều không tiếp. Không ai biết rằng chàng đoạt được chức Võ trạng nguyên thì tâm trạng càng buồn bã hơn.
Người khác không biết, nhưng Vân Trọng thì hiểu rõ, chàng không phải giành được chức Võ trạng nguyên bằng bản lĩnh thật sự của mình mà nhờ Trương Đan Phong nhường cho! Đây chính là nỗi nhục lớn nhất! Nhưng chàng đã giành được chức Võ trạng nguyên, chả lẽ lại cho Hoàng đế biết sự thật? Vân Trọng đang rầu rĩ trong lòng, chợt nghe thái giám đến gõ cửa kêu: “Hoàng thượng triệu kiến”.
Vân Trọng vừa mừng vừa lo, lật đật thay đổi trang phục, đi theo thái giám vào ngự thư phòng ở điện Văn Hoa, chỉ thấy trong ngự thư phòng đèn đuốc sáng trưng, Hoàng đế đang ngồi xem xét tấu chương, thấy Vân Trọng bước vào thì xua tay bảo thái giám lui ra hết, đóng cửa phòng lại cười rằng: “Khanh gia võ nghệ cao cường, thật đáng chúc mừng!”
Vân Trọng đỏ mặt, ấp úng nói: “Được Hoàng thượng để mắt tới, vi thần dù tan xương nát thịt cũng phải đền ơn”.
Hoàng đế nhìn Vân Trọng rồi hỏi: “Khanh gia là người ở đâu?”
Vân Trọng hơi chần chừ rồi đáp rằng: “Tổ tiên của thần ở Khai Phong Hà Nam”.
Hoàng đế liếc nhìn Vân Trọng, chợt nói: “Nói như thế, khanh gia là đồng hương đồng tính với đại thần tiền triều Vân Tĩnh. Khanh gia và Vân Tĩnh có mối quan hệ thế nào?”
Vân Trọng lòng đau nhói, quỳ xuống tâu rằng: “Vân khâm sứ của tiền triều là gia gia của thần”.
Vân Trọng là kẻ hậu nhân của tội thần, không bao giờ dám nhắc với ai chuyện này, nay Hoàng đế hỏi tới cho nên phải nói. Hoàng đế biến sắc, nói: “Vân trạng nguyên, ngươi có hận trẫm không?”
Vân Trọng lòng đau như cắt, nói: “Tổ phụ của vi thần trung thành với nước, cầu mong Hoàng thượng tẩy rửa tội danh”. Thế rồi bất giác ứa nước mắt, Hoàng đế nói: “Trẫm biết tấm lòng trung thành của gia gia khanh, nhưng ban chết cho ông ta cũng không phải là ý của trẫm”.
Vân Trọng ngẩng đầu nhìn lên Hoàng đế. Hoàng đế tiếp tục nói: “Song muốn tẩy rửa tội danh cho gia gia của khanh phải đợi đến ngày sau”.
Té ra vị vua nhỏ này không phải ngu xuẩn, chỉ là từ nhỏ ông ta bị Vương Chấn kìm kẹp, không thể tự làm chủ, ông ta cũng từng nghĩ đến việc thu hồi quyền bính, nhưng Vương Chấn đã dựng bè kết đảng, không thể nào đụng tới được, do đó muốn gầy dựng thế lực tâm phúc, dần dần cắt quyền bính của Vương Chấn. Vân Trọng là người trung thành lại có thù với Vương Chấn, cho nên dã được ông ta chọn lựa. Vân Trọng nghe Hoàng đế nói người hại chết gia gia của chàng chính là Vương Chấn, quả nhiên nước mắt tuôn trào, tỏ ý sẽ ra sức cho Hoàng đế, quét sạch gian đảng. Hoàng đế đợi chàng lau nước mắt mới mỉm cười nói: “Khanh gia không cần gấp, đừng nên đánh cỏ động rắn”.
Vân Trọng tâu rằng: “Cầu mong Hoàng thượng hãy cho phép thần ra biên quan, cầm quân đánh lui Ngõa Thích, sau đó quay về triều dẹp từ gian tặc”.
Hoàng đế mỉm cười nói: “Chuyện này cũng phải chờ đã!”
Vân Trọng rất thất vọng, chỉ thấy Hoàng đế nhìn mình cười rằng: “Cử tử tỉ thí với khanh có phải là Trương Đan Phong không? Võ nghệ của y cũng khá lắm!”
Vân Trọng nóng ran mặt, nghiến răng đáp rằng: “Hoàng thượng soi xét, võ nghệ của Trương Đan Phong thật sự hơn vi thần, y đã có ý nhường cho vi thần!”
Trước đó Vân Lối cứ suy đi tính lại, cảm thấy bất an, nay nói ra lời thực trong lòng, trái lại đã thấy yên lòng. Hoàng dế ngạc nhiên, chợt cười rằng: “Ngươi rất thành thực, thật ra ngươi không nói trẫm cũng nhận ra!”
Vân Trọng bất giác ngạc nhiên, nghĩ bụng: “Hoàng thượng sống trong nhung lụa, chắc ông ta không hiểu võ nghệ, Trương Đan Phong nhường mình, cả cao thủ cũng không biết, sao ông ta lại nhận ra?” Trong lòng thắc mắc vô cùng.
Hoàng đế nói: “Ngươi có biết Trương Đan Phong là người thế nào không?”
Vân Trọng nói: “Vi thần đang định tâu lên Hoàng thượng, Trương Đan Phong là con trai của Hữu thừa tướng Trương Tôn Châu nước Ngõa Thích, lần này y về Trung thổ chỉ e không có ý tốt”.
Hoàng đế hơi ngạc nhiên, nói: “Té ra y còn là con trai của Trương Tôn Châu!”
Vân Trọng vội vàng nói: “Trương Phong Phủ hình như không biết lai lịch của y, thấy y võ nghệ cao cường cho nên tiến cử. Trương thống lĩnh rất trung thành, mong Hoàng thượng đừng nên nghi ngờ”.
Hoàng đế nói: “Kẻ không biết không có tội, trẫm cũng không nghi ngờ Trương Phong Phủ...”.
Vân Trọng biến sắc tâu rằng: “Trương Đan Phong nhường chức Võ trạng nguyên cho vi thần, chả trách nào Hoàng thượng nghi ngờ, thực ra y là kẻ thù của nhà thần!”sau khi nói rõ nguyên do, lại dâng bức huyết thư cho Hoàng đế xem, Hoàng đế mới cười rằng: “Trẫm cũng không nghi ngờ khanh. Trương Đan Phong làm thế chẳng qua là muốn ra ơn để cho khanh quên mối thù nhà hận nước. Khanh đương nhiên không thể sa vào bẫy của y”.
Hoàng đế chỉ nói mấy câu mà khiến cho Vân Trọng phục sát đất, mấy phần cảm kích đối với Trương Đan Phong cũng tiêu tan. Chỉ nghe Hoàng đế lại nói: “Đến đây, trẫm cho ngươi xem một bức tranh!”
Hoàng đế mở tủ sách, lấy ra một bức tranh, người trong tranh đội hoàng quán, mình mặc long bào, tướng mạo rất oai võ. Chỉ nghe Hoàng đế run run hỏi: “Ngươi thấy Trương Đan Phong của giống kẻ này không?”
Vân Trọng rất ngạc nhiên, khi nhìn kỹ lại thì chỉ thấy tướng mạo quả nhiên có nét giống nhau nhưng người trong tranh thì thô hào hơn, còn Trương Đan Phong thì trông rất nho nhã, thần tình khí độ cũng rất khác nhau. Vân Trọng nghĩ bụng: “Chả lẽ Trương Đan Phong là người trong hoàng thất?”
Hoàng đế lại hỏi: “Có giống chút nào không?”
Vân Trọng trả lời: “Vâng, hơi giống”.
Chỉ thấy Hoàng đế mặt biến sắc, chỉ bức tranh nói: “Ngươi đã chết không nhắm mắt, còn bảo con cháu đến cướp đoạt giang sơn của ta ư?”
Vân Trọng kinh hãi, nói: “Y... y là ai?”
Hoàng đế cười lạnh nói: “Y chính là Hoàng đế nhà Châu Trương Sĩ Thành, Trương Tôn Châu, Trương Đan Phong đều là con cháu của y, hừ, đặt tên nước là Đại Châu, sao lại muốn mượn sức giặc ngoài khôi phục Đại Châu của y, diệt giang sơn Đại Minh của ta?”
Trương Đan Phong là con cháu của Trương Sĩ Thành, Vân Trọng mới biết lần đầu, chàng cảm thấy bất ngờ, trong nhất thời không nói ra lời, lòng thầm nhủ: “Chả trách nào cha con họ lại hận triều Minh đến thế, nhưng Hoàng thượng sao cũng biết? Ông ta đã biết tại sao không ra lệnh bắt Trương Đan Phong ngay tại chỗ?”
Chỉ nghe Hoàng đế nói: “Năm xưa Trương Sĩ Thành tranh đoạt giang sơn với Thái Tổ, đã thua to trong cuộc quyết chiến ở Trường Giang. Nghe nói trước khi chết y đã chôn kim ngân châu báu ở một vùng tại Tô Châu, ngoài ra còn có một bức địa đồ quân dụng, ghi chép rõ các nơi hiểm yếu ở Trung Quốc, để lại trong dân gian. Cho nên Thái Tổ ra lệnh, cần phải tiêu diệt con cháu nhà họ Trương, lấy lại tấm bản đồ bảo tàng của Trương Sĩ Thành, giang sơn Đại Minh mới có thể yên ổn. Trương Đan Phong giờ đây đã rời khỏi kinh thành, trẫm đoán rằng y sẽ đến Tô Châu tìm bảo tàng. Trẫm sẽ ban ngự mã cho ngươi, lệnh ngươi lập tức đuổi tới Tô Châu, theo Trương Đan Phong, trước khi y chưa tìm ra bảo tàng thì không được ra tay, đến khi y lấy được thì lập tức giết chết, mang thủ cấp về gặp trẫm”.
Vân Trọng rùng mình không dám trả lời, chỉ nghe Hoàng đế lại mỉm cười nói: “Trẫm lại phái thêm bảy cao thủ đại nội giúp ngươi, các ngươi sẽ gặp nhau tại Tô Châu, ngươi hãy yên tâm”.
Vân Trọng nghĩ bụng, Trương Đan Phong tuy cao hơn mình một bậc, nhưng đã có bảy cao thủ giúp đỡ, đoán rằng có thể chế phục được chàng, thế là vui vẻ nhận lệnh.
Tại sao Hoàng đế có thể biết lai lịch thân phận của Trương Đan Phong? Vốn là Trương Đan Phong đã suy tính rất kỹ càng trước khi bước ra tỉ võ, quả nhiên sau khi chàng tỉ thí với Vân Trọng, đã bị Khang Siêu Hải ra lệnh bắt giữ, chàng vừa dùng phi châm đả thương Khang Siêu Hải, một mặt đã viết sẵn một bức thư cuộn lại ném vào long bào của Hoàng đế, thủ pháp phóng ám khí của chàng rất khéo léo, người khác không thể nào nhìn được, cả bản thân Hoàng đế cũng không biết. Đến khi về cung nghỉ ngơi cởi long bào thì mới phát hiện bức thư này, trong thư trước tiên nói rõ người Ngõa Thích sắp đánh vào Trung thổ, bảo Hoàng đế phải biết nhìn ra ai là trung ai là gian để chống cự kẻ địch bên ngoài, đồng thời đưa ra chứng cứ Vương Chấn cấu kết với người Ngõa Thích, bảo Hoàng đế phải sớm phòng bị. Thứ đến chàng cũng nói rõ mình vốn có mối thù truyền đời với nhà Minh, nếu Hoàng đế chịu toàn tâm chống địch, mối thù này cũng có thể hóa giải. Lại khuyên Hoàng đế không nên giết hại trung lương, nếu không thì mình sẽ lấy thủ cấp của y.
Đây chẳng qua là tấm lòng trung của Trương Đan Phong đối với nước nhà, nào ngờ Hoàng đế vừa xem thì thất kinh, thầm nhủ: “Không ngờ trên đời lại có dị nhân như thế, nếu không trừ y thì chả lẽ tính mạng của trẫm nằm trong tay y hay sao?”
Rồi lại nhớ đến di chiếu của Thái Tổ, đoán rằng người này là con cháu của Trương Sĩ Thành, cho nên y mới bảo “có mối thù truyền đời”, cho nên vào trong cung lấy bức tranh vẽ Trương Sĩ Thành ra so sánh, mới thấy giống nhau, càng kinh hãi hơn cho nên chẳng thèm nghĩ đến ý tốt của Trương Đan Phong. Vì thế mời hạ lệnh cho Vân Trọng cùng bảy cao thủ đại nội đến Tô Châu. Trương Đan Phong viết bức thư này tuy giống như gãy đàn cho trâu nghe, nhưng cũng có một điểm thành công, đó chính là trước khi Hoàng đế bắt được Trương Đan Phong, vì sợ y dám sát cho nên không giám giáng tội Trương Phong Phủ.
Lại nói Vân Trọng nhận lệnh vua, sáng sớm ngày hôm sau thì bí mật rời kinh đô, con ngựa Hoàng đế ban cho tuy không bằng con Chiếu dạ sư tử mã của Trương Đan Phong nhưng cũng không quá kém cỏi, trong vòng sáu mươi ngày đã vượt qua Hà Bắc, Sơn Đông, tiến vào Giang Tô. Ngày hôm nay thì đã đến huyện Ngô, huyện Ngô tiếp giáp với Tô Châu, hai nơi này cách nhau nửa ngày đường. Vân Trọng dong ngựa đi chậm rãi. Phong cảnh núi sông Giang Nam nổi tiếng đẹp, lúc này Vân Trọng không gấp gáp lên đường, trong lòng thơ thới, chàng chợt cảm thấy bao nhiêu công danh lợi lộc rất vô vị, đi được một đoạn thì gặp được một mặt hồ. Bên hồ có ngôi cổ mộ, khi Vân Trọng đưa mắt nhìn thì thấy trên bia mộ có viết mấy chữ “Đàm Đài Diệt Minh chi mộ”, chàng thất kinh nghĩ bụng: “Đàm Đài Diệt Minh là đại tướng ở Ngõa Thích, tháng trước vẫn còn ở Bắc Kinh, sao ở đây lại có mộ của y? Vả lại ngôi mộ trông cổ xưa, rõ ràng chẳng phải mới đắp”.
Đang suy nghĩ thì chợt thấy một mục đồng chăn trâu gần đó, thế rồi mới bước tới hỏi: “Tiểu ca, đây là nơi nào? Là mộ của ai thế?”
Mục đồng ấy cười rằng: “Chắc ngài là khách từ xa đến, nơi đây gọi là làng Đàm Đài, còn hồ này gọi là hồ Diệt Minh, đây là mộ thủy tổ chúng tôi”.
Vân Trọng ngạc nhiên nói: “Cái gì, là mộ thủy tổ của các người?”
Mục đồng ấy cười rằng: “Hình như ngài không phải là người đọc sách, chả trách nào cả Đàm Đài Diệt Minh mà cũng không biết!”
Vân Trọng ngạc nhiên, chỉ nghe mục đồng ấy hỏi: “Dĩ mạo thủ nhân, thất chi Tử Vũ, ngài có hiểu câu thành ngữ ấy không?”
Vân Trọng hơi bực bội, nói: “Tiểu ca ngươi đang khảo ta đấy hử? Câu này là của Khổng Tử, Tử Vũ là học trò của Khổng Tử, tài năng và nhân cách đều hơn người, nhưng tướng mạo xấu xí cho nên Khổng Tử nói “dĩ mạo thủ nhân, thất chi Tử Vũ”. Ý muốn bảo rằng không nên đánh giá bề ngoài của mỗi người”.
Mục đồng cười rằng: “Không phải thế. Thủy tổ của chúng tôi là Đàm Đài Diệt Minh, chính là một trong bảy mươi hai học trò của Khổng Tử, người có biệt hiệu là Tử Vũ, người đã từng đọc Tứ Thư đều biết. Hồ này là nơi ở của người, nghe nói sau đó dâu bể thay đổi, lõm xuống thành hồ, cho nên gọi là hồ Đàm Đài. Trong huyện chí đã có ghi rõ”.
Mục đồng ấy nói rất lưu loát, dẫn cả sách vở ra chứng minh khiến cho Vân Trọng ngẩn người ra.
Sư phụ Đổng Nhạc của Vân Trọng là người văn võ toàn tài, từ nhỏ Vân Trọng đã đọc qua sách lịch sử, nhớ lại trong số bảy mươi hai học trò của Khổng Tử quả nhiên có một người tên là Đàm Đài diệt Minh. Nhớ lại lần đầu tiên khi nghe ở Ngõa Thích có một đại tướng tên là Đàm Đài Diệt Minh thì không khỏi cười thầm, bởi vì một võ phu mà lại lấy tên của một nhà nho cổ đại. Chàng còn tưởng rằng Đàm Đài là họ của người Hồ, nào biết người này lại ở miền Giang Nam văn vật, lại còn có mộ ở Ngô huyện, được mọi người kính ngưỡng. Song chắc con cháu đời sau của ông ta đã xây ngôi mộ này, nhìn nét chữ và kiểu cách, ít nhất cũng là kiến trúc thời Trần, Hán, không thể nào là mộ ở thời Xuân Thu.
Mục đồng ấy mỉm cười nói: “Dĩ mạo thủ nhân, thất chi Tử Vũ. Lời thánh nhân quả nhiên không sai!” Thế rồi giơ ống sáo lên thổi, thả trâu chầm chậm quay về. Vân Trọng ngạc nhiên, lẩm bẩm hai câu “Dĩ mạo thủ nhân, thất chi Tử Vũ”, lòng nhủ thầm: “Té ra Đàm Đài Diệt Minh quả nhiên là người Hán, chả lẽ y muốn như bậc tiên hiền? Đàm Đài Diệt Minh tướng mạo xấu xí, điểm này có thể giống với Đàm Đài Diệt Minh thời cổ, nhưng y đã đi theo phiên bang, sao có thể so sánh với bậc tiên hiền? Chả lẽ y lấy cái tên này còn có ý nghĩ gì khác? Phải chăng bảo mọi người đừng đánh giá bề ngoài của y? Chả lẽ hai chữ Diệt Minh chẳng phải có ý tiêu diệt Minh Triều hay sao? Hừ, lẽ nào một tên võ phu như Đàm Đài Diệt Minh có chí lớn?”
Vân Trọng đi quanh hồ Đàm Đài, vào làng Đàm Đài, trong lòng cứ nghĩ mãi chuyện Đàm Đài Diệt Minh, nghĩ mình lần trước đã ám toán tên Phiên vương, Đàm Đài Diệt Minh võ công hơn hẳn mình nhưng lại nương tay với mình. Lại nhớ trong cuộc tỉ võ ở nhà Trương Phong Phủ, Đàm Đài Diệt Minh cũng giúp Trương Phong Phủ đánh lui kẻ địch của y, càng thắc mắc, hơn, chợt cười rằng: “Đàm Đài này so với Đàm Đài kia, Đàm Đài này chẳng phải Đàm Đài kia, cần gì phải nghĩ đến?”
Lúc này đã đến trưa, mặt trời đã đứng bóng, Vân Trọng khát khô cả cổ họng. Ở miền Giang Nam, trà đình tửu quán ở khắp nơi, con đường này băng ngang qua làng, hai bên là ruộng lúa mà chẳng thấy ai làm việc, trà đình tửu quán cũng chẳng có, Vân Trọng nhìn thấy cảnh đó thì rất ngạc nhiên, nhủ thầm: “Chả lẽ làng Đàm Đài này không có người ở?”
Vân Trọng lại vỗ ngựa đi một đoạn nữa, miệng càng khát giữ hơn, chợt thấy bên đường có bà lão bán trà. Vân Trọng cười rằng: “Đi cả ngày đường mới thấy nơi bán trà.
Mình còn tưởng rằng đang đi giữa đại mạc”.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10210
Points : 13603
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Bình Tung Hiệp Ảnh - Lương Vũ Sinh   Mon Jul 03, 2017 6:41 pm

Thế rồi vào trong trà đình, buộc ngựa xong. Bà lão ấy nói: “Khách tới, Minh nhi rót trà”.
Chợt thấy một thiếu nữ tuổi khoảng mười bốn mười lăm bưng bình trà ra, rót cho chàng một chén trà. Thiếu nữ ấy tuy ăn mặc xoàng xĩnh, nhưng bộ mặt rất thanh tú, cụ già nói: “Làng