Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 8:10 pm



Phần Một. Án mạng dưới tàu Hokan Maru

Mới 4 giờ chiều mà trời bỗng tối sầm lại. Mây đen kéo vần vũ ở chân trời, che lấp những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tháng tư trên cửa sông Sàigòn.

Ngọn gió báo mưa từ ngoài khơi thổi lại. Dựa vào lan can con tàu Hokan Maru treo cờ Nhật, Kô-băng nhìn về phía thương cảng đương chạy dài trước mắt. Xa xa một lùm đen cây cối, đó là khu công xưởng Hải Quân và vườn Bách Thảo: cây cột cờ sơn trắng cao ngất còn nguyên lá cờ vàng ba sọc chưa rút xuống, gần đó là những thương thuyền mới ghé bến, sườn sơn màu xám hay trắng đục, xen lẫn hàng ngàn chiếc ghe của bạn chài, của những gia đình lênh đênh trên sông Sàigòn, đọc bến Bạch Đằng và Tân Thuận Đông.

Chiếc Hokan Maru cập bến số 7. Thủy thủ lăng xăng ghì tàu vào cột bến. Tiếng ồn ào trên bờ tuôn xuống tàu làm Kô-băng suýt điếc tai. Một tiếng ồn ào quen thuộc, kết hợp bởi nhiều âm thanh kỳ quặc, mà bến tàu nào cũng có, mà người thủy thủ nào cũng nghe khi con tàu ghé đất liền.

Mọi người tất tả làm việc bởi vì trời sắp nổi cơn bão. Bản tin tức khí tượng mà thuyền trưởng nhận được mấy phút trước trù liệu một cơn giông sẽ từ biển Phi-Luật-Tân ào tới trước khi chiều xuống.

Vẫn không rời lan can tàu, Kô-băng ngước nhìn viên thuyền trưởng người Nhật đương ra lệnh cho thủy thủ bằng máy vi âm. Thuyền trưởng Sa-tô-đa người lùn nhưng to ngang, nét mặt lì lợm… cái lì lợm rám nắng của kẻ sống nhiều trên mặt biển mặn chát. Sa-tô-đa là một viên chỉ huy giỏi giang và sắc sảo, đầy tin tưởng vào sức khỏe vật chất và tinh thần của mình. Sa-tô-đa tin tưởng là phải, vì trước đây y là một võ quan hải quân nổi tiếng ở Trân-châu-cảng. Chiến tranh chấm dứt, Sa-tô-đa giải ngũ và được một hãng buôn chọn làm thuyền trưởng tàu Hokan Maru trên đưòng biển Viễn-Đông.

Giọng Sa-tô-đa qua máy phóng thanh át cả tiếng gió gầm trên thương khẩu. Thủy thủ vâng lệnh răm rắp, chục người như một, vẻ kính sợ hiện rõ trên nét mặt.

Nhưng có một thủy thủ không sợ thuyền trưởng. Thủy thủ đó là Kô-băng.

Kô-băng cao hơn Sa-tô-đa một cái đầu, bề ngang của đôi vai rộng hơn, ngực lại dầy hơn. Kô-băng không có cặp mắt một mí trầm tưởng và cái miệng nho nhỏ, vừa vặn của dân Phù-Tang tam đảo.

Trông Kô-băng, người ta không đoán được y là người xứ nào, ở Á Đông. Tuy nhiên, mũi Kô-băng lại cao cao như người phương Tây. Thật ra, Kô-băng không là người Nhật mà là một sự hỗn hợp tinh vi giữa màu da vàng Nhật-Bản với người Nga.

Kô-băng không sợ Sa-tô-đa, trái lại còn coi thường nữa là khác. Vì dưới bộ áo thủy thủ hạng nhì của tàu Hokan Maru ghé bến Sàigòn, y là thượng cấp của thuyền trưởng Sa-tô-đa.

Kô-băng là một nhân viên quan trọng của sở R.U.[1] Viễn-Đông mà tổng hành dinh đóng bí mật tại Nhật-Bản, cử tới Việt-Nam hoạt động.

Thủy thủ trên tàu không biết Kô-băng là ai cả. Ban đêm, buổi trưa, Kô-băng cũng nằm võng, cũng đánh bài ăn tiền trong phòng, nhưng y không hé răng tâm tình như bạn thủy thủ cùng tuổi. Y mới 34 tuổi nhưng là tinh hoa của trường Do Thám của Nga Sô ở Cộng Hòa Uy-cờ-ren[2].

Tuần trước; tàu Hokan Maru còn buông neo ở Hoành Tân. Sa-tô-đa nhận được lệnh của R.U. chở một thủy thủ mới rời Nhật-Bản. Chở đi đâu, Sa-tô-đa không biết và không được quyền biết, vì y chỉ là điệp viên ăn lương từng vụ, và trung ương R.U. đã dặn rõ Sa-tô-đa phải tuân theo mọi đòi hỏi của Kô-băng.

Từ giã Hoành Tân, chiếc Hokan Maru ghé Hương-cảng, Ma-ni, Tân-gia-ba và trên đường về lưu lại Sàigòn, chở hàng hóa về Nhật. Đến Hồng-kông, thủy thủ lên bộ, Kô-băng vẫn nằm lì trong phòng. Kô-băng cũng không rời tàu ở Tân-gia-ba. Sàigòn là chặng nghỉ sau chót, trước khi về Nhật.

Cơn giông mùa hạ đã làm bầu trời đen kịt. Ngọn gió không còn mang lại hơi mát nữa mà là cái hơi nồng nặc, tức ngực của những thùng ma-dút chất đống gần bến đò Thủ Thiêm. Đột nhiên, mưa đổ rào rào như thác. Mưa nhiệt đới bao giờ cũng gấp gáp và trâng tráo như vậy.

Kô-băng mở cửa phòng thuyền trưởng vào từ nãy. Sa-tô-đa vừa lau giọt mồ hôi trên trán lẫn với nước mưa vừa đẩy cửa phòng vào.

Kô-băng ngồi yên trên ghế, không thèm đứng dậy. Đã quen với cử chỉ kẻ cả của Kô-băng nên Sa-tô-đa không lấy làm phật ý.

Thở một hơi thuốc lá thơm đắt tiền, Kô-băng hỏittr Sa-tô-đa:

- Thủy thủ đã được phép lên bộ chưa?

Sa-tô-đa đáp một cách nhọc mệt, phần vì chỉ huy trong trận bão lớn, phần khác vì mãi nghe giọng nói trịch thượng của Kô-băng:

- Rồi.

Kô-băng đứng dậy, vặn lưng kêu đánh "rắc" một cái:

- Tôi lên bộ ở đây.

Sa-tô-đa giật mình, như vừa tỉnh giấc mơ đồng thiếp:

- Chút nữa hẵng lên. Đợi tôi tối một chút nữa. Đội an ninh thương cảng ở đây đắc lực lắm chứ không lơ mơ như ở nơi khác dâu. Chỉ sơ suất một tí thì….

Kô-băng khoát tay:

- Anh không có bổn phận dậy tôi. Việc tôi, tôi lo, việc anh, anh liệu.

Sa-tô-đa nuốt nước bọt ừng ực:

- Vì tình anh em tôi góp ý như vậy. Mặt khác, nếu họ biết anh từ tàu tôi xuống, tôi sẽ bị làm khó dễ. Tuy nhiên, tôi muốn hỏi anh một điều: lúc rời Hoành Tân, ông chủ hứa khi nào anh muốn lên bộ tôi sẽ hỏi anh cách nói thế nào để nhà chức trách địa phương không phiền nhiễu và do đó làm bại lộ công việc. Anh còn lạ gì chính phủ Nhật, đồng minh của chính phủ Sàigòn, họ sợ bên ngoài nhập cảnh lậu nên đã kiểm soát danh sách thủy thủ cẩn thận, kiểm soát ngay từ Hoành Tân, chứ chẳng phải đợi đến đây nữa. Tên anh đã được ghi vào sổ bạ thủy thủ. Bây giờ anh rời tàu Hokan Maru, đêm nay hay mai kia nhỡ họ lên khám xét thì tôi biết nói sao?

Kô-băng buông thỏng:

- Nhật là nước đồng minh, có bao giờ họ lại xét trên tàu như vậy?

Sa-tô-đa chống chế:

- Cho dẫu họ không lên tàu nữa, nếu trong số thủy thủ có người làm cho họ, hoặc cho Sở Phản Gián Đông Kinh thì sao? Tôi bị lộ thì sao anh chẳng hỏng việc.

Kô-băng mỉm cười, nhe hàm răng trắng toát và nhỏ như răng chuột:

- Khỏi lo, rồi tôi sẽ cho anh biết. Bây giờ anh đưa tiền cho tôi.

Sa-tô-đa gật đầu, đoạn móc túi lấy chìa khóa. Số tiền mà R.U. gởi Sa-tô-đa cất và giao cho Kô-băng khi lên bộ không phải là nhỏ, và số tiền mà R.U. thưởng cho Sa-tô-đa cũng không ít vậy. Nghĩ đến cái "xéc" có mấy con số dê-rô ở sau, Sa-tô-đa thấy man mát trong ruột như vừa ăn một cốc cà-rem. Thôi, rán một vài phút nữa, Kô-băng sẽ đi khuất mắt.

Sa-tô-đa quay lưng ra phía Kô-băng ngồi hút thuốc, lưng hơi gập xuống, lúi húi vặn cái tủ két gắn luôn vào thân tàu.

Cuộc tấn công diễn ra trong một thời gian chưa đầy nửa tích tắc đồng hồ. Cửa két sắt vừa mở thì Kô-băng đã cho tay xuống chiếc tất len ở chân trái, rút ra một lưỡi dao bấm, thứ dao mà lưỡi nhỏ xíu nhưng sắc như dao cạo, bấm vào một cái nút ở chuôi là lưởi dài gần hai tấc nhảy phọt ra ngoài.

Con dao nhảy khỏi bàn tay thành thạo của Kô-băng cắm phập vào sau gáy thuyền trưởng tàu Hokan Maru. Trúng chỗ phạm, Sa-tô-đa đứng dựng hẳn lên, rồi ngã luôn vào phía trong két.

Lúc phóng dao, Kô-băng vẫn ngồi một cách bình thản, bên tay trái, điếu thuốc lá Mỹ vẫn còn bốc khói nghi ngút. Thấy Sa-tô-đa ngã xuống, y mới đứng lên, rút lưỡi dao khỏi gáy, rồi lau máu vào thân áo trắng muốt giữa hàng cúc mạ vàng óng ánh của viên thuyền trưởng xấu số.

Kô-băng lôi ra cái cặp da màu đen đựng đầy giấy bạc. Y lấy ra một khẩu Colt 45 mạ kền bóng loáng và một hộp đạn, bỏ tất cả vào túi áo trong.

Bây giờ còn xác Sa-tô-đa nữa?

Bên ngoài trận bão vẫn thổi mạnh. Giòng sông Sàigòn bồng bềnh lên, sóng dữ như ở biển khơi. Trong phòng thuyền trưởng Kô-băng mở cánh cửa cấp cứu.

Trời đã tối. Những chiếc tàu gần bên đã lên đèn. Một vài con thuyền lẻ tẻ buộc chặc vào bến cũng có ngọn đèn thắp hơi đất, nhưng ngần ấy ánh đèn không đủ sức xua đuổi khí tối bao trùm lấy sông nước. Trời mùa hạ bao giờ cũng tối sớm. Nhất là những buổi chiều mưa giông dấm dẳn như hôm nay.

Tin rằng mọi người đã chui vào phòng để tránh mưa giông, Kô-băng ném cái xác ngăn ngắn của Sa-tô-đa qua khung cửa xuống sông. Kô-băng không quên gói Sa-tô-đa vào một chiếc chăn dạ xám và buộc vào chân tử thi một quả tạ 50 kí lô, thứ tạ mà Sa-tô-đa thường cử lên cao quá đầu mỗi buổi sáng cho bụng khỏi ứ mở. Giờ này nàm dưới sông Sàigòn, Sa-tô-đa không còn lo to bụng nữa.

Kô-băng lẩm bẩm một mình:

- Ông chủ đỡ tốn 5.000 đô-la. Tham lắm cho chết, con ạ!

Năm ngàn mỹ kim là món tiền thưởng hậu hĩ mà "ông chủ" hứa trao cho Sa-tô-đa sau khi hoàn thành công việc. Sở R.U. còn cần tiền để làm nhiều công chuyện khác, đâu có dư dật để làm giầu cho anh chàng thuyền trưởng hám tiền Sa-tô-đa.

Vả lại, nếu đã mua được bằng tiền thì mai kia Sa-tô-đa sẽ có thể đem bán bằng tiền. Biết đâu ít lâu nữa, người ta lại chẳng đem 10.000 đô-la ra dử trước mũi Sa-tô-đa và hắn sẽ đem bán Kô-băng cho họ? Cẩn tắc vô áy náy, chỉ có bịt miệng Sa-tô-đa vĩnh viễn là ổn nhất.

Lúc ông chủ bắt tay Kô-băng ở Hoành Tân và rót cốc rượu bồ đào thơm phức mời Sa-tô-đa, chính là lúc mà Kô-băng được lệnh thủ tiêu viên thuyền trưởng Hokan Maru khi cập bến Sàigòn.

Kô-băng xốc lại cổ áo vét-tông, mở cửa phòng. Y không còn thu mình trong bộ y phục thủy thủ hàng hải nữa mà là thoải mái trong bộ tét-gan mới cắt, không thấm nước và không nhầu nếp, màu hồng nhàn nhạt. Kô-băng sính màu hồng như cái ông tỉ phú, chủ hãng Kaiser ở Đức, đến đâu cũng tô màu hồng, nhà hồng, quần áo hồng, thậm chí đến tàu thủy của ông cũng sơn hồng nữa.

Tóc Kô-băng láng mượt, tạo cho y cái phong cách của một nhà doanh nghiệp giàu có. Y đeo luôn cái kính cận thị vào mắt. Kô-băng không cận thị, nhưng phải đeo như vậy để khỏi bị công an Sàigòn nhận diện sau này.

Cửa vừa mở, ngọn gió từ đầu kia thổi vút lại làm Kô-băng rùng mình. Kô-băng không rùng mình vì lạnh, vì trời bên ngoài còn nóng nực, mặc dầu bão lớn. Y rùng mình vì thấy chương trình của mình bị vấp chướng ngại vật.

Chướng ngại vật đối với Kô-băng là một người đàn bà. Một thiếu nữ thì đúng hơn, với cái thân hình cân đối, đôi chân dài dấu sau lần tất ni-lông, cái xiêm Tây phương kéo cao trên đầu gối, cái áo hở cổ mở rộng xuống phía dưới, để lộ một làn da trắng muốt, và một bộ ngực tròn trĩnh, cứng chắc và khiêu khích.

Thấy Kô-băng bước ra, nàng mỉm cười thi lễ:

- Chào ông.

Thiếu nữ nói bằng tiếng Pháp. Nói bằng giọng rất đầm. Thi ra thiếu nữ là đầm lai.

Kô-băng lấy lại bình tĩnh. Chương trình của y chắc không thể nào bị lộ. Có lẽ thiếu nữ này là một trong những cô nhân tình ghé bến của Sa-tô-đa chăng?

Kô-băng đoán không lầm. Nàng hỏi Kô-băng:

- Xin lỗi ông, tôi là bạn gái của thuyền trưởng Sa-tô-đa. Lần nào tàu Hokan Maru ghé Sàigòn tôi cũng xuống đây, đưa anh ấy lên bộ. Hiện anh ấy có trong phòng không, thưa ông?

Thế mới nguy chứ! Thiếu nữ này là tình nhân của Sa-tô-đa tất sẽ bị công an mời tới điều tra một khi Sa-tô-đa biệt tích.

Cô ta tất sẽ nhắc đến sự có mặt của y trong phòng thuyền trưởng. Không, Kô-băng không thể để cho thiếu nữ đó trở lên bộ được nữa!

Kô-băng liền cố tạo một nụ cười thật lịch sự mà y đã học trong trường Do Thám bên Nga:

- Thưa có. Tôi là bạn thân của Sa-tô-đa đây. Anh ấy đương bận, có nhờ tôi ra đưa cô vào.

Thiếu nữ mừng rú lên, ôm lấy bên vai lực lưỡng của Kô-băng, miệng nói:

- Thế thì còn gì bằng? Tôi không dè anh Sa-tô-đa lại có một người bạn đẹp trai và phong nhã như ông? Xin ông cho biết quý danh là gì?

- Tôi là Kô-băng.

Kô-băng không cần giấu tên thật nữa. Dù muốn dù không, chốc nữa nàng cũng phải chết. Kô-băng muốn nàng nhớ lấy tên y cho kỹ để sang thế giới bên kia đỡ phải thắc mắc.

- Kô-băng, chà cái tên đẹp quá. Ông là người Nhật sao có dáng điệu như người Tây phương thế?

- Vâng, tôi lai Bạch Nga.

- Thảo nào.

Cánh cửa phòng thuyền trưởng mở hé ra rồi đóng lại. Hình như linh tính báo hiệu có sự nguy hiểm, thiếu nữ đứng dừng hẳn lại, quay đầu, nhìn vào mặt Kô-băng.

Tia mắt của Kô-băng lúc bấy giờ cũng bắt đầu đổi khác. Cái cảm giác hiền lành, hào hoa lúc nãy đã biến đâu mất. Con mắt của người lai Bạch Nga Kô-băng tóe ra cái chết.

Thiếu nữ bước lùi, miệng rú lên một tiếng sợ hãi. Kô-băng từ tốn bước theo, tay phải vẫn xách cái cặp da đen, còn cánh tay trái hoành ra, chụp lấy cổ thiếu nữ. Thiếu nữ vùng ra nhưng cái kềm sắt đã bao quanh cổ. Kô-băng kéo thiếu nữ vào phía mình, khuỷu tay xiết dần dần lại. Thiếu nữ quằn quại, đôi mắt nhắm nghiền, miệng méo xệch đi vì kinh hoàng, mớ tóc dái, quấn lên thành đuôi ngựa, đứt giây tung ra.

Toàn thân thiếu nữ cứng đờ ra như khúc gỗ. Kô-băng đẩy cái xác vô tội xuống sàn tàu.

Thiếu nữ cũng được Kô-băng ném qua khung cửa cấp cứu xuống sông, nối gót tình nhân Sa-tô-đa.

Bây giờ thì không còn chướng ngại vật nào nữa. Kô-băng huýt sáo miệng một bài hát thủy quân đoạn trèo lên boong, xuống bờ.

Màn thứ nhứt của gián điệp Nga Sô, Kô-băng, trên đất Sàigòn bắt đầu.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 8:11 pm

Phần Hai. Xác chết vô thừa nhận ở Lăng Tô

Khác với mọi chủ nhật khác, chủ nhật này tiệm bán máy vô tuyến Trường Thanh ở đường Nguyễn Văn Xâm lại đóng cửa im ỉm. Nhân viên của tiệm đột nhiên được ông chủ cho nghỉ lễ hàng năm. Mọi người không lấy làm ngạc nhiên. Từ lâu ông Trường Thanh đã hứa sẽ cho toàn thể nghỉ luôn 15 ngày liền vì trong suốt năm họ phải làm việc cả ngày chủ nhật và ngày lễ. Dịp nghỉ này, ông Trường Thanh hẹn đến mùa mưa, mùa mà khách hàng thưa thớt.

Mọi người cám ơn ông chủ rối rít. Cô giữ két đã đi từ sáng sớm, cửa hàng ngày thường vui vẻ đông đúc bao nhiêu thì tối nay lại đìu hiu, cô quạnh bấy nhiêu.

Nghe tiếng mưa rơi như xối ngoài đường, Trường Thanh cảm thấy sốt ruột. Liệu người đó có tới đúng hẹn hay không?

Người đó là một cán bộ cao cấp do cơ quan gởi tới hoạt động. Trường Thanh, chủ một tiệm bán máy vô tuyến bình thản, lại là nhân viên của bộ máy gián điệp Sô Viết tại Sàigòn. Trường Thanh dong dỏng cao, long lanh cặp mắt sáng quắc. Thoạt nhìn thì cặp mắt có vẻ đôn hậu, nhưng nhìn lâu ai cũng phải nhận ra một tia lửa độc ác và phản bội.

Trường Thanh là một đảng viên cộng sản. Sau khi nhập Đảng ít lâu, y được tổ chức vào cơ quan do thám R.U. hoạt động ở Viễn-Đông.

Từ mấy năm nay, với số tiền của R.U., Trường Thanh mở tiệm buôn bán máy ra-đi-ô đội lốt một nhà buôn hiền lành, thuần thục, ít phê bình, tôn trọng pháp luật. Y có nhiệm vụ phát triển tổ chức, lấy thêm nhân viên dưới quyền. Bộ máy đương chạy đều đột nhiên bị trục trặc, sở Phản Gián Việt-Nam phăng ra đầu mối, một số tiểu tổ của R.U. sa lưới. Nhanh chân Trường Thanh thoát nạn, và từ bấy đến nay đành chôn chân một chỗ.

Sóng gió đã qua. Một bản mật điện của R.U. ra lệnh cho y hoạt động lại. Nhưng lần này không phải là việc lấy tin như thường lệ và không phải làm chỉ huy nữa. Người chỉ huy sẽ từ bên ngoài tới, trực tiếp với Trường Thanh. Dĩ nhiên, công tác phải thập phần hệ trọng nên R.U. mới chịu đưa cán bộ cao cấp vào.

Theo lệnh, người đó sẽ tới gặp y tại đây. Tới vào khoảng chập tối. Nhưng trời đã tối từ nãy. Trận bão ban chiều giật phăng những cành cây ngô đồng trước cửa, vứt bừa bãi trên vệ đường. Mưa rào đã hết. Bầy trẻ con trong phố rủ nhau ra dưới máng kẽm bên cạnh, té nước nô đùa. Rạp chiếu bóng thường trực ở góc đường rú lên một bài cha-cha-cha nóng bức.

Reng. Reng. Reng…. Trường Thanh giật bắn người. Y tắt ngọn đèn nê-ông ngoài cửa hàng, đoạn mở cửa. Một người trẻ tuổi, cao lớn đội mũ phớt, bận âu phục sang trọng, tay xách cặp da đen nặng chĩu, lách vào. Trường Thanh nhìn vào tận mắt người lạ mặt:

- Có phải ông đến dạm bán cho tôi 4 cái máy thâu thanh hiệu Novak 8 đèn đấy không?

Kô-băng, (vâng, người lạ mặt đó là Kô-băng) đáp khô khan:

- Phải. Hãng tôi lại vừa về một tá máy Grundig và R.C.A. nữa. Ông muốn mua 3 cái hay 6 cái?

Theo lệnh, người lạ mặt phải nói 2 mật hiệu cả thảy. Mật hiệu thứ nhất đã trao xong. Còn câu thứ hai.

Vẫn Trường Thanh hỏi trước:

- Xin lỗi ông ở hãng nào tới, tôi sơ ý quên mất? Hãng Tô-xi-a hay là hãng Tatwoong?

- Không. Tôi ở hãng Hoàng-Định.

Trường Thanh bắt đầu yên tâm. Y nói:

- Chào đồng chí. Tôi là Trường Thanh.

Kô-băng hất hàm:

- Tôi biết. Tôi biết.

Trường Thanh dẫn Kô-băng vào nhà trong rồi trèo lên gác. Chiếc đồng hồ quả lắc trên tường điểm 8 tiếng. Kô-băng hỏi:

- Anh ở đây có một mình thôi chứ?

Trường Thanh đáp, giọng kính nể:

- Thưa có một mình. Tôi biết đồng chí tới nên đã cho người làm nghỉ phép hết.

Kô-băng có vẻ không bằng lòng:

- Anh nên gọi tôi là Kô-băng, hoặc là anh tiện hơn. Đây có phải là Hà-nội hay ở Mát-scơ-va[3] đâu mà gọi đồng chí? Cái tinh thần cảnh giác của anh để đâu?

Trường Thanh nín thinh. Kô-băng tiếp:

- Tôi muốn anh làm việc ngay bây giờ. Anh báo tin cho các công tác viên biết lập tức đi.

Trường Thanh hỏi, giọng lo lắng:

- Thưa tình hình còn "động". Chưa làm cái gì mạnh bạo được đâu. Nếu mình cựa quậy. Họ sẽ bắt sạch. Vả lại….

Kô-băng buông thỏng:

- Không có vả lại gì hết. Tôi là thượng cấp của anh, anh phải tuân lệnh tôi. Nghe chưa?

- Xin nghe.

- Anh là đảng viên cộng sản. Anh phải tuân lệnh Đảng. Tôi thay mặt Đảng đến đây giao công tác cho anh.

Miệng Trường Thanh khô hẳn lại, nhưng y cũng cố đáp:

- Xin vâng.

Kô-băng dằn từng tiếng một:

- Tôi cũng biết hoạt động ở đây không phải dễ. Lão Hoàng của họ cũng là tay cáo già trong làng Phản Gián chứ không là bọn do thám tập sự đâu. Nhưng có tôi mọi việc đều trôi chẩy. Việc này quan trọng lắm nên tôi mới đích thân tới đây. Bây giờ tôi cần hai người. Cần ngay bây giờ.

- Vâng. Tôi sẽ gọi ngay cho họ. Còn vấn đề chỗ ở của đồng chí. Dạ, mỗi khi tôi cần tiếp xúc thì sẽ tới đâu?

Kô-băng ngắt lời:

- Tôi sẽ đến đây. Hoặc tôi sẽ ra mật hiệu.

Trường Thanh nhắc ống nói tự động lên tai, còn tay thì quay dĩa số. Số điện thoại mà Trường Thanh gọi là của một khiêu vũ trường trên đường Trần Hưng Đạo.

. . . . . . . . . . . .

Đèn chuyển sang màu đỏ tươi. Ban nhạc đánh một bài tăng-gô quyến rủ. Phạm Đồng liến nhìn Thu Thủy, một vũ nữ có sắc đẹp mê hồn, Phạm Đồng không nói ra, nhưng cái nhìn muốn nói:

- Nhảy một bài với anh đi em.

Thu Thủy đứng dậy, chìa tay ra mời. Phạm Đồng dắt nàng ra sàn nhảy, giữa lúc ấy mấy cặp trai gái đã bắt đầu khiêu vũ. Phạm Đồng là khách quen của tiệm nhảy Thiên Đường. Tối nào cũng vậy, cứ tiệm nhảy mở cửa là chiếc xe Ford mới tinh hảo của y lại đỗ xịch trước cửa, nhả xuống một trang tuyệt sắc giai nhân: Thu Thủy.

Thu Thủy được nhiều người săn đón, nhưng thanh niên được nàng dành cảm tình đặc biệt là Phạm Đồng. Đồng có đủ điều kiện để chiều chuộng một vũ nữ: Y chưa vợ, ăn tiêu rộng rãi, lại lúc nào cũng sẵn tiền. Đồng lại nhảy đẹp nữa, chả thế mà người ta gọi y bằng cái tên rí rỏm là Đồng-tăng-gô. Gọi là Đồng-tăng-gô cũng không ngoa vì y thích mỗi cái bản tăng-gô quay chậm, tuy y nhảy kiểu khác không phải là vụng về. Mỗi khi giàn nhạc chơi tăng-gô là trên mặt bít nhất định phải có Phạm Đồng dính liền với Thu Thủy.

Vừa bước nhè nhẹ, Phạm Đồng vừa nói nhỏ bên tai Thu Thủy:

- Gớm, em cưng hôm nay lộng lẫy quá!

Thu Thủy lả lơi:

- Em bao giờ chả thế!

- Chút nữa về với anh nhé?

- Cái anh nầy bao giờ cũng hay đòi hỏi thôi!

- Đâu mà đòi hỏi? thế có bằng lòng không để người ta chờ?

Thu Thủy gật đầu. Đèn tắt. Phạm Đồng dìu Thu Thủy về chỗ cũ rồi vừa uống rượu vừa nói một giọng bình thản:

- Em vẫn còn thích hoa tai kim cương chứ?

Thu Thủy trố mặt ngạc nhiên:

- Sao lại không thích? Mỗi lần qua đường Tự Do có bao giờ em không nài anh mua cho kỳ được. Em thích nhất cái đôi có vòng tròn tròn ấy. Anh mua cho em nhé?

- Anh sắp có tiền. Chóng ngoan, anh sẽ mua cho.

- Thật nhá!

Thu Thủy ôm tình nhân hôn chùn chụt lên má, lên tóc, lên trán.

Giữa khi đó, tiếng chuông điện thoại ở quầy rượu, gần bàn 2 người reo lên. Chủ tiệm nghe xong, đặt ống nói xuống, ngoắt một người bồi. Anh bồi cung kính đến trước mặt Phạm Đồng, nghiêng mình thi lễ:

- Thưa ông, có giây nói.

Phạm Đồng tái mặt. Thật ra, có giây nói là có tin mừng, là có tiền. Từ mấy ngày nay, y vẫn đợi cái phút có tiền ấy. Nhưng không hiểu sao y lại thấy bồi hồi trong dạ.

Đầu giây kia là tiếng nói ngọt ngào, dễ thương của chủ tiệm vô tuyến Trường Thanh:

- Alô, Phạm Đồng đấy ư?

- Vâng. Phạm Đồng đây. Ai đó?

- Tối nay có phim cao-bồi hay lắm, anh định đi xem không?

Nhận ra mật hiệu của Trường Thanh, Phạm Đồng đáp:

- Phim cao-bồi ấy à? Tôi không thích. Tôi thích xem phim tình cảm kia.

- Thế thì đợi đến mai vậy.

Phạm Đồng nghe tiếng ống nói đạt xuống giá ở bên kia đường giây. Câu "thế thì đợi đến mai vậy" là một ám hiệu nói rằng Phạm Đồng phải đến chỗ hẹn ngay tức khắc.

Lòng Đồng-tăng-gô vui như hội. À, ra Sở lại vừa tìm ra việc làm cho y? Đồng không phải là hạng điệp viên bình thường, chỉ làm cái việc theo dõi kẻ khả nghi, hoặc lượm vài ba mẩu tin dễ dãi mà là nhân viên hành động. Lệ thường, người ta chỉ vời y một khi cần đến tay súng bá phát bá trúng và món đòn nhu đạo tàn sát.

Đồng ăn lương của R.U. tuy y không phải là đảng viên cộng sản. Y cần tiền để bao gái đẹp, cần tiền uống rượu, và ăn ngon, mặc đẹp.

Đồng thuộc vào xã hội của những người không có tình cảm, không còn lương tri để phân biệt trắng đen, ngoại trừ cái trắng đen của xấp giấy bạc, như bọn đoàn viên của Nghiệp Đoàn Sát Nhân mà Al Capone lập ra mấy chục năm trước bên Mỹ.

Chiếc xe Ford sơn màu trắng của y đang đậu trước cửa. Phạm Đồng mở cửa, nổ máy, đoạn trước khi vào số cho xe chạy, liếc vào tấm kính xem có ai khả nghi chung quanh không. Không. Tịnh không một ai.

Trời mới mưa xong nên đường phố sạch sẽ, trơn bóng, trải một lớp ánh đèn nê-ông sáng quắc. Cơn nóng ban chièu đã tản đi hết, nên dân chúng Sàigòn cảm thấy cần đi ngủ hơn là lang thang ngoài đường như y. Phạm Đồng nốc một hơi hết một góc tư chai rượu mạnh mà y vẫn cất sẵn trong túi xe hơi phía trước. Đồng không hèn nhát. Y đã giết người nhiều lần rồi. Nhưng, mỗi khi nhận công tác, y lại cần uống rượu. Và y thấy uống rượu vào, can đảm lại tăng lên.

Địa điểm gặp gỡ là một cái hẻm tối om gần Chợ Lớn mới. Như thường lệ, Phạm Đồng lái xe sát lề, đoạn tắt máy, bước xuống, trèo lên chiếc Pờ-Dô sơn đen, bề ngoài cũ kỹ của Trường Thanh.

Xe của Trường Thanh vẫn còn để máy chạy. Dưới ánh sáng của táp-lô, nét mặt Trường Thanh có vẻ đăm chiêu và suy nghĩ.

Trường Thanh không chào hỏi vồn vã như thường lệ. Xe chạy được một quãng, Phạm Đồng liền hỏi:

- Có việc gì cần thế?

- Cần lắm. Trường Thanh đáp. Hãy nhìn ra sau xem có bị theo không?

Phạm Đồng, ngồi lách sang một bên ở ghế trước, hai mắt nhìn qua ô cửa kính chữ nhật sau chiếc Pờ-Dô. Phía sau còn tung tóe ánh đèn binh-đinh 6 từng của một khách sạn Hoa kiều. Một giãy xe xích lô gác càng ở phía trước. Không có ai đáng quan tâm cả. Chợt Phạm Đồng nhìn thấy một cặp đèn xe vừa ở ngã ba quẹo tới, và chạy từ từ. Đèn không sáng lắm nên y nhận rõ được mác xe: đó là một chiếc xe Đức hiệu Mercédès cực mạnh. Không biết có phải là xe của Họ hay không?

Phạm Đồng nói nhanh:

- Có lẽ bị theo đấy. Thử rẽ sang bên trái xem sao?

Chiếc Pờ-Dô quẹo sang ben trái. Xe Mercédès cũng quẹo theo. Trường Thanh đạp lút ga, chiếc xe 7 mã lực rùng lên rồi chạy vút như tên. Lại rẽ sang bên phải. Lần này chiếc Mercédès quẹo trái. Trường Thanh lái ra đường Đồng Khánh, rồi vòng ra sau chợ An Đông. Chiếc xe Đức lúc nãy mất hút.

Phạm Đồng mới hoàn hồn:

- Chúng mình tự kỷ ám thị đấy. Nếu là xe của Họ thì không có lẽ lại mất hút như vậy?

Trường Thanh rút khăn tay ra lau mồ hôi. Tuy là đảng viên cộng sản mà y thấy nghề này bạc bẽo quá! Nếu không sợ bàn tay vô hình của R.U., nếu có thể khước từ thì y không lao đầu vào công tác nguy hiểm này.

Chạy một quãng đường xa nữa. Trường Thanh mới nói:

- Sở ra lệnh cho anh nội đêm nay phải thủ tiêu AS 2.

Phạm Đồng giật mình như bị điện giật:

- Giết AS 2 sao? Hắn ta là đồng chí trung thành tại sao lại giết?

Trường Thanh lắc đầu:

- Không, chúng mình lầm cả. Chính y đã bán chúng ta cho họ. Tôi cũng tin một cách khờ khệch như anh. Trung ương vừa phái đồng chí cao cấp về đây ra chỉ thị đó. Anh phải tìm đủ mọi cách giết y trong đêm nay. Kế hoạch thế này….

. . . . . . . . . . . .

Một tiếng đồng hồ trước, Trường Thanh cũng sửng sốt như Phạm Đồng khi nghe nói đến thủ tiêu AS 2.

AS 2 là bí danh của một nhân viên hành động ăn lương của R.U. từ 3 năm nay. Suốt 3 năm phục vụ, y bao giờ cũng làm tròn bổn phận và hết mực trung thành. Là người tìm ra, rồi phát triển vào tổ chức, Trường Thanh hiểu y hơn người nào hết.

Ngồi yên trong chiếc ghế bành bọc nỉ xanh, Kô-băng nói chậm rãi từng tiếng một:

- Lệnh thứ nhất mà anh phải thi hành là giết AS 2.

Trường Thanh đứng bật lên như lò so:

- Thưa… có lẽ đồng chí lầm rồi. Y là một trong những công tác viên trung kiên nhất của ta kia mà!

Kô-băng hất hàm:

- Tại sao anh dám chắc AS 2 trung kiên nhất?

Trường Thanh nói lắp bắp:

- Thưa… thưa….

Kô-băng gắt:

- Anh không phải thưa bẩm gì cả vô ích. Tôi ra lệnh cho anh xử tử y nội trong đêm nay. Nếu anh từ chối, tôi sẽ báo cáo về trung ương sự phản bội này.

Trường Thanh, mặt tái như gà cắt tiết:

- Thưa đồng chí, tôi đâi dám cãi lệnh nhưng đây là một trường hợp đặc biệt. Chính tôi giới thiệu AS 2 cho tổ chức. Cũng chính tôi điều khiển hắn. Hắn không thể là phần tử phản bội.

Kô-băng vẫn lạnh như nước đá:

- Anh có bằng cớ gì cụ thể không?

Trường Thanh chống chế một cách tuyệt vọng:

- Bằng cớ cụ thể thì không, nhưng tôi biết. Tôi biết hắn không phải là kẻ phản bội.

Kô-băng dằn từng chữ một, cặp mắt quắc ra lửa, nhìn vào mặt Trường Thanh:

- Tôi muốn dân chủ với anh nhưng không thể dân chủ được mãi. Anh nên nhớ cái nghề này không phải là một nghề tình cảm. Anh tin, anh biết, là một chuyện, còn bằng cớ là chuyện khác. Anh là cá nhân, làm sao có nhiều mắt, nhiều tai, nhiều bàn tay bằng Sở được. Một cơ quan khác của Ta ở đây đã tìm đủ tài liệu chứng tỏ AS 2 là gián điệp đôi. Mấy tháng trước vì hắn hai lòng nên một phần tổ chức bị bại lộ. Theo kỷ luật, đúng ra một khi nhân viên phản bội, kẻ giới thiệu cũng bị trừng phạt. Anh đã bảo trợ cho AS 2. Anh có biết nếu AS 2 bị xử tử, anh sẽ ra thế nào không?

Trường Thanh run lên như bị sốt rét:

- Thưa biết.

Kô-băng cười nhạt, hút một hơi thuốc lá và nói từ từ, như muốn kéo dài cái giây phút hãi hùng ấy mãi:

- Trên nguyên tắc là như vậy, nhưng Đảng xét anh là một đảng viên trung thành, nên muốn tạo cơ hội cho anh đái tội lập công. Bây giờ anh còn thắc mắc gì về việc trừng phạt AS 2 nữa hay không?

Trường Thanh lắc đầu:

- Thưa không. Tôi xin thi hành ngay tức khắc.

Trường Thanh thở một cái rõ dài, như muốn trút hết làn khí độc đương ép ngực y. Thì ra Đảng khoan hồng thật! Đảng biết người biết của thật! Lúc nãy y còn nghi ngờ về việc AS 2 phản bội, phút này y đã tin chắc trăm phần trăm. Vì AS 2 mà tổ chức bị bại lộ. Cũng vì AS 2 mà y suýt mất mạng. Lòng Trường Thanh đột nhiên nhẹ nhõm, thư thới. Y sửa soạn lái xe đi gặp Phạm Đồng.

Kô-băng vẫn ngồi im trong chiếc ghế bành. Nét mặt người gián điệp Nga không thay đổi tuy trong lòng tràn trề vui sướng.

Cái kế mà y nghĩ ra từ mấy tuần trước khi đặt chân xuống Sàigòn không ngờ lại hợp lý đến thế. Nếu Trường Thanh khôn hơn chút nữa y sẽ không chịu cho đầu vào bẫy. Nếu y chịu khó nhớ đến khuôn mặt, khổ cao, vóc người của AS 2 nhỉ?

AS 2 mà hình ảnh được cất kỹ trong tủ sắt của sở R.U. ở Mạc-tư-khoa không may lại giống Kô-băng gần như giọt nước. Giống nhất là dáng đi điềm đạm, vóc người cao lực lưỡng, đôi vai đầy, cái bụng thót, đôi chân dài, lẳn, của người chạy đua. Mặt thì hơi khác, khác ở chỗ đôi mặt một mí, nhỏ hơn, đần độn hơn, ở cái miệng rộng toác, và cái mũi dèn dẹt. Nhưng chỉ giống khổ người là được, Kô-băng có cần gì y phải giống cả mắt, cả mồm, cả mũi?

Trước khi xuống tàu Hokan Maru ở bến Hoành Tân, Kô-băng mất một đêm thảo kế hoạch. Thuyền trưởng Sa-tô-đa, kẻ ham tiền, kẻ thứ nhất biết y nhập lậu vào Sàigòn cần phải thủ tiêu để trừ hậu hoạn.

Song le, sớm hay muộn người ta sẽ khám phá ra sự biệt tích của một viên thủy thủ mới nhập tàu Hokan Maru. Nếu thi thể Sa-tô-đa được tìm ra, thì không phải là công an tư pháp cũng có thể biết rõ viên thuyền trưởng bị thủy thủ Ma-Tê giết. Ma-Tê là tên mà Kô-băng ghi vào danh sánh thủy thủ của tàu Hokan Maru. Biết được Ma-Tê là sát nhân, sở công an Sàigòn sẽ huy động bộ máy ruồng bắt. Công việc mà Kô-băng lãnh nhiệm vụ thi hành sẽ bị chận đứng lại.

Chỉ còn một cách, đó là giết luôn gã thủy thủ Ma-Tê. Lần đầu tiên khi cầm tới tấm ảnh toàn thân của AS 2, Kô-băng đã nảy ra ý nghĩ tàn nhẫn này…

Phải, có khó khăn gì? Sa-tô-đa bị Ma-Tê giết. Giết xong Ma-Tê trốn lên bộ. Đêm đó, sau nhiều phút bị lương tâm con người vò xé, Ma-Tê hối hận và tuyệt vọng, cho họng súng vào miệng lảy cò. Ngay khi đó công an sẽ đổ xô lại, và ít ra sẽ nhận diện được tên thủy thủ sát nhân Ma-Tê, với cái bót-phơi đầy giấy tờ căn cước.

Ma-Tê chết, Kô-băng sẽ thảnh thơi hoạt động. Hy sinh AS 2 không phải là chuyện đáng tiếc. AS 2 chết thay cho y, AS 2 lại là bóng ma luôn luôn hăm dọa Trường Thanh nữa. Sau khi thấy Đảng khoan hồng đối với mình, y sẽ trung thành thêm lên và hoạt động thêm tin tưởng.

Một mũi tên giết một lúc 2 con chim, Kô-băng còn ngần ngại gì mà không bắn ra?

Viên giám đốc R.U. ở Viễn-Đông cũng tán thành kế hoạch của Kô-băng. Vả lại, một khi Kô-băng đề nghị, thượng cấp bao giờ cũng đồng ý. Kô-băng là tài hoa của Sở. Dẫu vô tội và trung thành, một khi Kô-băng đòi giết, AS 2 cũng phải chết.

Tiếng máy xe của Trường Thanh rú lên ngoài đường. Kô-băng xé một mảnh báo đổ cái đựng tàn thuốc lá vào gói lại bỏ vào túi. Thứ thuốc lá y hút thuộc vào hạng đắt tiền, y không muốn lưu lại cho công an Sàigòn một dấu tích cỏn con nào hết.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

- Lầu 3 nghe!

- Tôi lên từng thứ 5.

Trần Đào nghe cả ba câu nói cùng một lúc. Là người giữ thang máy cho một khách sạn lớn ở đường Tự Do, mạch máu của hòn ngọc Viễn-Đông, Trần Đào đã nghe quen tai những tiếng lên, xuống lầu 3, lầu 4….

Trần Đào mới 20 tuổi. Hồi còn đi học, y nuôi giấc mơ sẽ thành nhà học giả. Đậu bằng tiểu học, y lên thủ đô, tiếp tục lớp trên. Xa nhà, thui thủi một mình, Đào chỉ biết bầu bạn với ngọn đèn đêm và chồng sách đầy rẫy chữ số và công thức toán lý hóa.

Bỗng một hôm, một tờ truyền đơn được chuồi vào cặp sách của Đào. Giọng văn viết thật cảm động. Đào sợ quá định vứt đi nhưng không hiểu tại sao lại cất dưới đáy rương. Cái thứ hai lại đến. Rồi cái thứ ba, thứ tư.

Một buổi trưa nắng, mật thám Tây ập tới căn phòng cậu học sinh chất phác. Trần Đào bị bắt về tội tuyên truyền và tàng trữ tài liệu phiến loạn. Đào bị đưa ra tòa lãnh án. Vào tù, y gặp những cán bộ cộng sản thực thụ. Đào được tổ chức. Mãn án, Đào trở nên một người khác, một thanh niên hy sinh mù quáng cho Đảng, tuy Đào không ưa chính trị, tuy Đào chỉ muốn tiếp tục học vấn.

Đảng ra lệnh cho y bỏ học mặc dầu cha mẹ y vẫn tiếp tục gởi tiền hàng tháng. Y xung vào ban hành động. Nhờ vóc người cao và thân hình lực lưỡng, không có vụ nào là không có bàn tay của Trần Đào dúng vào. Mỗi lần xong công tác, y lại được khen tặng. Trường Thanh đã nhiều lần cam kết sẽ mang y sang Nga học nghề bác sĩ. Và chỉ mấy tháng nữa y sẽ từ giả miền Nam lênh đênh trên bể khơi….

Nhưng, trong khi chờ đợi, y phải tạm đóng vai một gã bồi đần độn, giữ thang máy ở khách sạn này.

Cho đến nay….

Thang máy dừng lại ở tầng lầu thứ 6, tần cao chót. Người khách cuối cùng đã ra. Lệ thường, mỗi khi lên tầng thứ 6 là Trần Đào chạy về cái phòng xép mà khách sạn dành cho bồi. Trong đó có giường ngủ độc thân của Trần Đào và ở đầu giường có một tấm ảnh to bằng góc tư tờ nhật báo, ảnh của một cô gái quê hương thùy mị mà y hứa sẽ lấy làm vợ một mai công thành danh toại.

Trần Đào nhắm mắt lại, ghé bức ảnh tô màu sát vào đôi môi mấp máy. Y đứng yên như vậy lâu lắm, tưởng chừng người chung thủy đã đứng uyển chuyển băn cạnh, với chiếc áo dài trắng thướt tha, đôi guốc cao gót cũng sơn trắng, với bàn tay thon thon như nặn và với một bộ ngực vừa vặn, ngập ngừng như trái thơm chín mọng.

Một giọng nói quen thuộc thốt bên tai:

- Đào? Đào?

Trần Đào mở choàng hai mắt. Trường Thanh không biết đứng tự bao giờ bên cạnh. Trần Đào, hai mắt lộ vẽ sợ hãi:

- Em xin lỗi đồng chí.

Trường Thanh vỗ vai y cười xòa:

- Em đâu có gì mà xin lỗi? Ai chả có lúc mềm lòng như vậy?

Trần Đào cất tấm ảnh lên bàn, miệng hỏi:

- Anh đến báo tin mừng cho em phải không?

Trường Thanh gật đầu:

- Phải, anh đến báo tin mừng cho em đây… Thay quần áo đi theo anh, đi ngay bây giờ.

Trần Đào hỏi thêm:

- Thế nào? Em được đưa sang Nga học bác sĩ à, thưa đồng chí?

Trường Thanh vẫn cười:

- Ừ, trung ương chấp nhận đơn của em rồi. Mặc áo đi mau.

Trần Đào vội cởi chiếc áo trắng có phù hiệu khách sạn vứt lên giường, đoạn khoác chiếc áo sơ-mi rằn ri lên mình. Trường Thanh nói:

- Em xuống nói với ông quản lý xin thôi ngay có được không?

Trần Đào đáp vui vẻ:

- Thưa đồng chí, đưọc chứ! Em có nói với ông ta em sắp về tỉnh lấy vợ. Ông ấy dặn hễ khi nào có người nhà lên thì ông ấy cho thôi ngay.

- Được, anh chờ em ở góc đường Tự Do - Ngô Đức Kế. Nhớ mang cả quần áo đi nghe không? Không được lưu lại một dấu vết gì đấy. Công an tóm được một chiếc tất, hoặc một mẩu giấy sẽ phăng ra em và hết cả đi với đứng nhớ chưa?

- Em xin nhớ.

Trường Thanh đi ra phía cầu thang, xuống bộ chớ không ra thang máy. Trái tim Trần Đào đập mạnh. Cái ngày mà y mong đợi từ bao năm nay đã đến. Đảng đã thưởng công cho y. Thì ra y thôi học, y nhận cái chân gác thang máy này có phải là thiệt thòi, dại dột đâu.

15 phút sau, Trần Đào xách va-li nhẹ nhàng rời khỏi khách sạn. Chiếc Pờ-Dô sơn đen của Trường Thanh đóng cửa kêu sầm một tiếng. Ngồi trên ghế sau đợi y là Phạm Đồng, gã ăn chơi khét tiếng của các tiệm nhảy, sòng me.

Phạm Đồng cười hỏi Trần Đào:

- Chào chú Đào, có thú không?

Đào đáp:

- Cám ơn đồng chí, em đâu dám mong gì hơn nữa.

Thấy xe chạy qua cầu Tân Thuận sang Phú Xuân. Trần Đào nhìn Phạm Đồng, lộ vẻ ngạc nhiên:

- Đi đâu thế này, các đồng chí?

Ngồi trước vô-lăng, Trường Thanh bình thản đáp:

- Ngốc lắm. Xuống Nhà Bè đón tàu ngầm chứ còn đi đâu nữa? Chú tưởng máy bay đến đón chú ở Tân Sơn Nhất à?

Nói xong, Trường Thanh cười ngất. Trần Đào cũng cười theo. Cái vui của y tràn lên như sóng bể. Nhưng sóng vui của chàng thanh niên yêu đời kia không đươc lâu. Qua cầu Phú Xuân, qua cái lô cốt sơn trắng bên cạnh một cây cầu xi-măng, Trường Thanh cho xe chạy chậm lại, trong khi đó Phạm Đồng cho tay sang hai bên cửa, quây kính lên kín mít. Tiếng ra-đi-ô trong xe bắt đầu nổi lên. Quái, Trường Thanh ghét nghe nhạc "da" tại sao lại chọn bài nhạc ầm ỹ này?

Linh tính con người báo cho Trần Đào một cái gì khác lạ. Bỗng nhiên, y thấy tóc gáy dựng lên một cách khó hiểu. Trần Đào run lên như tên bắn, cố thu mình vào một góc xe mong sao cho nhỏ lại.

Phạm Đồng cười khà khà một cách độc ác:

- À ra mày cũng biết sợ nữa kia à?

Trần Đào ấp úng:

- Thưa thưa… em không hiểu sao cả… Tại sao thưa các anh?... Em sợ quá….

Phạm Đồng quát lên:

- Còn vờ mãi? Mày liên lạc với ai bên Phản Gián của địch?

Đôi mắt Trần Đào như muốn lòi hẳn ra ngoài mặt. Hắn ngạc nhiên một cách kỳ dị như đương sống một giấc mơ dưới âm phủ:

- Em có liên lạc với ai đâu?

Phạm Đồng vẫn quát:

- Sắp chết đến nơi rồi mà còn già họng. Khai ra thì mày được chết yên ổn hơn. Nhược bằng mày….

Đến phút đó, Trần Đào mới biết mình sẽ bị giết. Trong một phần mười giây đồng hồ, một cảm giác tiếc nuối và hối hận bừng dậy như tia nắng ấm một ngày mưa rét. Trần Đào biện hộ:

- Em bao giờ cũng trung thành với Đảng. Nếu em nói dối, trời tru đất diệt em đi.

Phạm Đồng không thèm nói lại. Trường Thanh cũng im thin thít. Tiếng Trần Đào tha thiết hơn:

- Anh Trường Thanh ơi? Tại sao lúc nãy anh đánh lừa em bảo rằng xuống Nhà Bè đón tàu ngầm? Anh rủ em vào Đảng, bây giờ anh lại rủ em đi giết nhưng em có phản Đảng đâu mà giết. Các anh tha cho em đi, rồi có bảo gì em cũng làm. Nếu em nói dối trời tru đất diệt em đi.

Trường Thanh nói giọng ráo hoảnh:

- Tao không muốn nhiều lời nữa. Mày liên lạc với ai, nói ra?

Đột nhiên giọng nói của Trần Đào rắn lại:

- Tôi không liên lạc với ai cả. Các anh bảo tôi phản bội thì thử hỏi đã có bằng cớ nào chưa? Thử đưa ra xem?

Khốn nạn! Đến Trường Thanh cũng không biết Trần Đào phản bội ra sao nữa là…

Trần Đào còn muốn nói nữa. Hắn đến lúc liều rồi. Nhưng bàn tay võ sĩ đạo của Phạm Đồng đã giáng một cái vào đầu hắn. Giáng vừa đủ để làm cho cái thân hình cao thước bảy của Trần Đào gập xuống và ngất đi.

Trường Thanh đã hãm xe lại bên vệ đường. Phạm Đồng lột áo quần Trần Đào ra rồi mặc bộ âu phục tét-gan mới tinh của thủy thủ Ma-Tê vào người. Từ cái sì-líp, chiếc áo lót mình, đến cái đồng hồ cũng đều mang nhãn hiệu Nhật-Bản.

Trường Thanh bỏ vào túi sau Trần Đào cái bót-phơi đầy ứ giấy tờ của thủy thủ Ma-Tê trong đó có hơn một chục tấm ảnh gái đĩ khỏa thân. Kô-băng muốn mọi người phỉ nhổ vào mồ tên thủy thủ chơi bời và dâm đảng.

Xong xuôi, chiếc Pờ-Dô quay đầu, lái về Khánh Hội. Nhưng đến khi qua cầu Tân Thuận, Trường Thanh lại rẽ sang nên trái, đi Lăng Tô. Rừng điện của những quán ăn đón gió Lăng Tô đập vào mắt hai người. Trận mưa hồi chiều dâng nước sông gần ngập sân các quán cất trên cọc. Một giãy xe hơi đắt tiền đã đậu từ bao giờ. Một bản nhạc êm ái từ một cái quán ở đầu đường vẳng lại.

Trường Thanh ấn ga, chạy qua, đoãn rẽ vào một cái bãi trống gần đấy. Y tắt hết đèn, hãm phanh cho xe chạy vào sát bờ sông.

Trên xe, Phạm Đồng rút ống hãm thanh bằng cao-su tối tân cắm vào khẩu Bờ-rao-ninh cỡ 7,65. Họng súng đút sâu vào miệng Trần Đào, y thản nhiên bóp cò một cái.

Bụp! Viên đạn mà đầu chì đã được cưa sẵn soi lên óc, phá tung cả miệng, mũi và đôi mắt.

Nhìn xác chết một cách lạnh lùng, Phạm Đồng rút mù soa ra lau báng súng, đoạn nhét súng vào tay phải của Trần Đào sau khi cầm ngón tay trỏ của nạn nhân ấn mấy cái thật mạnh vào cò.

Nhiệm vụ của Trường Thanh và Phạm Đồng đêm nay đã hết. Ngày mai, vũ nữ Thu Thủy sẽ có một đôi bông tai nhận họt soàn óng ánh. Thủy thủ sát nhân Ma-Tê đã chết. Và gã bồi giữ thang máy, tức đảng viên R.U. số AS 2 đã chết.

Bốn áng mạng cực kỳ bí mật xảy ra luôn một đêm tại thủ đô Sàigòn với ba tử thi và với một sát nhân: Kô-băng.

Nicôlai Kô-băng của sở R.U. Sô Viết ở Viễn-Đông.




Được sửa bởi Admin ngày Sun Jun 11, 2017 9:40 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 8:11 pm

Phần Ba. Ma quỷ hiện hình

Như Luyến vặn máy ra-đi-ô, chọn một bản nhạc nhẹ. Nàng là con cưng của nhạc nhẹ. Chiếc xe Mo-rít 4 mã lực nhỏ xíu của nàng vẫn băng băng trên con đường nhựa từ Thủ Đức về tới Sàigòn.

Mỗi chiều sau khi tan sở, nàng lái xe về Gia Định với con. Như Luyến làm việc tại Trung Tâm Thí Nghiệm Nguyên Tử Thủ Đức. Buổi trưa, nàng ở lại văn phòng nhưng đến chiều, cũng như một số đông nhân viên khác của Trung Tâm, Như Luyến về nhà riêng ở Sàigòn.

Như Luyến là một thiếu phụ còn trẻ. Tuổi thật của nàng vừa gần ba mươi, nhưng ai cũng cho nàng mới hăm ba, hăm bốn. Nếu không góa bụa có lẽ Như Luyến còn đẹp nữa.

Nàng có khuôn mặt dài, cái miệng nhỏ, hàm răng đều bóng, đôi môi luôn đỏ không cần thoa son, cái mũi dọc dừa và nhất là đôi mắt rất đẹp. Hàng mi dài và đen nhánh không che nổi cặp mắt to rộng và trong vắt. Hồi còn ở Trung Tâm Nguyên Tử Huntsville bên Mỹ, nàng đã được các đồng nghiệp ngoại quốc gọi là Liz Á Đông. Liz là tên tắt mà khách mộ điệu màn bạc thường gọi nữ minh tinh Elizabeth Taylor. Như Luyến không khác Liz mấy. Da nàng cũng không kém da Liz. Nhất là bàn tay của nàng. Bàn tay thuôn thuôn, mười ngón nho nhỏ, dài dài như được Tạo Hóa nặn ra để cho thế gian chiêm ngưỡng. Mình cao một thước sáu, nghĩa là bằng Liz nhưng cái đẹp của Như Luyến, có người còn cho là sắc sảo và thấm thía hơn cô đào điện ảnh Hồ Ly Vọng nữa.

Nàng trông gầy gầy, cái bụng thót lại, hình như dạ dầy không bao giờ chứa thức ăn, ngực nhô ra phía trước với những đường cong tròn trĩnh, không khiêu khích, không gợi ra một thèm muốn dâm đãng, nhưng lại không thấp thỏi, rụt rè và tầm thường. Như Luyến hơn người ở chỗ đó. Hơn ở chỗ nàng làm cho ai đã gặp phải trầm trồ khen ngợi, khen ngợi một cách lễ độ, trang nghiêm chứ không sỗ sàng, thô bĩ. Toàn thân nàng toát ra một vẻ đẹp tôn kính, mực thước, thấm sâu vào mọi người như hương vị phong lan.

Lúc nàng thoăn thoắt đi, nàng còn đẹp hơn lúc ngồi nữa. Trông phía sau, ai cũng phải nhận rằng Như Luyến có một thân hình cân đối, kết quả của nhiều năm luyện tập và ăn uống chừng độ. Đôi chân của nàng khi mặc đầm thật là nhất tuyệt. Khi về nước, mặc áo dài Việt-Nam tha thướt, đôi chân diễm ảo của nàng vẫn tìm cách khoe khoang sau lần vải lụa.

Như Luyến bất giác nhìn vào cái gương chiếu hậu. Nàng tự thấy mình còn trẻ và đẹp quá. Nàng se sẻ mỉm cười, và sực nhớ đến nhà bác học nguyên tử Đoàn Trung. Đoàn Trung hơn nàng mười tuổi. Suốt một đời hoa niên giam mình trong phòng sách, bên cạnh lọ, chai và hóa chất. Đoàn Trung chưa có phút nào tận hưởng khoái lạc của con người. Nàng gặp Đoàn Trung từ mười tháng nay, vừa chẵn bốn năm sau ngày Lăng, chồng nàng, thiệt mạng trong một tai nạn thí nghiệm nguyên tử. Lăng cũng là một nhà bác học nguyên tử mà nàng gặp lần đầu trên bờ sông Sen ở Ba-lê ánh sáng. Hai người lấy nhau, và chiến tranh chấm dứt, cùng sang Mỹ phục vụ tại Trung Tâm chế tạo hỏa tiễn nguyên tử.

Cặp vợ chồng trẻ đương sống trong hạnh phúc thì Lăng mất. Nàng vẫn ở lại làm việc trong Trung Tâm, với chân thơ ký của ủy ban nghiên cứu, một chức vụ quan trọng, cần số vốn kiến thức khá lớn. Và để quên cái khung cảnh buồn thảm của nơi Lăng từ trần, nàng xin đổi qua Huntsville. Hình dáng khoan thai, bộ điệu nhã nhặn, tiếng nói thanh tao của Lăng đã được truyền sang cho thằng Lập, đứa con trai duy nhất của hai người. Mặc ngày tháng qua, mặc cho hoàn cảnh éo le, nàng vẫn không quên được người chồng quá cố, người chồng mà nàng vẫn yêu một cách thiết tha và chân thành.

Cho đến khi Đoàn Trung bước vào cuộc đời cô quạnh của nàng ở trung tâm Huntsville. Huntsville là một địa điểm mà các nhà bác học nghiên cứu ra những công thức mới về nguyên tử và phi đạn dưới quyền điều khiển của bộ óc kỳ tài Von Braun. Dưới quyền Von Braun có gần hai trăm nhà bác học thuộc đủ quốc tịch khác nhau, tuy đa số là người Đức được mang đi sau khi Hít-Le đại bại. Đoàn Trung là một trong những nhà bác học xuất sắc.

Lần đầu gặp Đoàn Trung, Như Luyến đã thấy mến trọng. Tình cảm ban sơ có lẽ do lòng yêu nước và sự hãnh diện mà ra. Vì Đoàn Trung cũng nói tiếng mẹ đẻ như nàng. Đoàn Trung là người Việt. Đêm đó nàng gặp Đoàn Trung trong buổi dạ hội long trọng. Dạ hội này đánh dấu thành công thứ nhất trong việc bắn một vệ tinh nhân tạo lên khỏi trái đất. Hôm đó nàng đẹp lắm. Màu đen của tang tóc, nàng không mặc nữa. Nàng bận một cái áo nhung ngắn đến đầu gối và đi một đôi giầy lợp nhung, trên vai quấn một lông dạ vi-dông đắt hơn ngàn đô-la. Lệ thường mọi người chen chúc nhau tới bắt tay Như Luyến và mời nàng khiêu vũ.

Các nhà bác học ở Trung Tâm, nàng đều quen mặt không sót một ai, và ai cũng biết nàng là người Việt. Tuy nhiên, đêm đó có một nhóm bác học mới vừa ở sa mạc thí nghiệm nguyên tử Nêvada chuyển sang và cũng tham dự cuộc dạ hội. Họ trẻ tuổi, và đều nhìn nàng không chán mắt. Trong số đó có một thanh niên cao, nét mặt hiền lành, phục sức giản dị, giản dị đến mức bình thường như sinh viên, với cái vét-tông khác màu với quần, với cái áo len ngắn rằn ri thay cho áo di-lê và cái cà-vạt có sọc đỏ. Thanh niên đó là nhà bác học Việt-Nam Đoàn Trung.

Chàng đứng chôn chân bên cốc rượu, nhìn Như Luyến chăm chăm như sợ nàng tan thành khói. Như Luyến cũng nhìn đáp lại. Trong cái nhìn đầu tiên nàng bỗng thấy say tuy đêm đó nàng chưa uống chén rượu mạnh nào.

Nhưng nếu chỉ có thế thì nàng không đến nỗi yêu Đoàn Trung. Lúc đó dạ hội đã vãn. Như Luyến nhảy suốt buổi nên mệt nhừ. Bên ngoài vừng đông đã ửng màu hồng. Nàng dựa lưng vào ghế bành, uống ly sâm-banh mới rót còn sủi bọt. Đoàn Trung không nhảy một bài nào mà cứ đứng bên bàn rượu thâu đêm không mỏi.

Chợt nhớ đến thằng Lập sắp dậy ở nhà, Như Luyến đứng vội dậy, không ngờ gặp vỏ cam, trượt té xuống sàn gỗ. Hình như Đoàn Trung cũng cầu mong cho nàng ngã xuống để chạy vội tới đỡ. Và khi chạy tới chàng buột ra một tiếng Việt-Nam:

- Trời ơi!

Và nàng cũng kêu lên bằng tiếng Việt-Nam:

- Trời ơi!

Tới khi đó, Như Luyến mới biết chàng là người cùng xứ, và Đoàn Trung cũng vỡ lẽ nàng không là người Trung Hoa. Lầm vì hai người không biết tên nhau vì cả hai chỉ nói tiếng Mỹ. Sáng hôm đó, Đoàn Trung đưa nàng về phòng nàng. Hai người dần dà chơi thân với nhau. Thật ra, sự thân mật giữa hai người không phải là chuyện lạ, vì nàng là giai nhân tuyệt sắc còn Đoàn Trung là nhà khoa học đại tài, lại trẻ trung và đĩnh ngộ. Mấy tháng sau, Đoàn Trung được cử làm phụ tá cho Von Braun trong công cuộc tìm tòi về hỏa tiễn xuyên lục địa. Đoàn Trung chuyên về nghiên cứu nhiên liệu cho hỏa tiễn.

Cho đến ngày Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử Việt-Nam được thiết lập ở Thủ Đức cách Sàigòn 19 cây số. Đoàn Trung được vời về điều khiển bộ phận nghiên cứu của Trung Tâm.

Mãi nghĩ ngợi nên nàng về đến cầu Bình Lợi lúc nào không biết. Xe cộ nối đuôi nhau một hàng dài. Như Luyến xua tay khoát mấy đứa bé kháu khỉnh mời nàng mua mía, những khúc mía róc vỏ sẵn, và cắm vào những que ngắn.

Trông mấy đứa trẻ bán hàng mau miệng, Như Luyến sực nhớ đến thằng Lập, con nàng.

Thằng Lập đã được 7 tuổi, nhưng vì nuôi dưỡng theo phương pháp khoa học nên lớn như đứa trẻ lên 10. Vì vắng nhà cả ngày nên Như Luyến gửi con vào một ký túc xá và buổi chiều, đi làm về nàng mới qua trường lãnh về. Thằng bé giống bố như tạc. Cũng cái miệng có duyên, cái nhìn trầm trầm và gợi cảm của người thanh niên năm nào mà Như Luyến gặp trên con đường sương mù ở kinh đô ánh sáng Ba-lê.

Ngọn đèn xanh trên cầu đã cháy. Chiếc cam-nhông đầu hàng đã băng lên cầu. Như Luyến cho máy nổ, sang số, cho xe chạy từ từ. Sàn cầu rung chuyển ầm ầm. Ngọn gió sông man mát quạt vào mặt Như Luyến.

Nàng rướn ngực thở một hơi dài, như muốn thu hút thật nhiều dưỡng khí cần thiết trước khi về thành phố Sàigòn đông đúc và chật chội.

Thằng Lập thấy nàng đậu xe trước cửa trường đã la rầm lên và chạy vội ra. Như Luyến kéo vội cái thắng tay, và mở tung cửa xe xuống đường, ôm chầm lấy con. Nàng thương con một cách kỳ lạ, có lẽ còn thương hơn bản thân nàng nữa.

Mẹ con nàng ở một cái biệt thự một tầng, xinh xinh và tối tân ở cuối đường Chi Lăng. Biệt thự có vườn rộng, cây cối um tùm. Nàng là nhân viên thuộc một cơ quan quốc phòng nên ban ngày khi nào cũng có một công an viên bận thường phục đứng gác, tuy nhiên có tinh ý mới nhận thấy người gác. Ban đêm, Như Luyến có ba con chó bẹt-giê khổng lồ. Loại chó săn này được huấn luyện chu đáo, theo phương pháp giữ nhà và giết gian phi của công an Anh quốc.

Với những biện pháp canh phòng này, Như Luyến có cảm tưởng như sống trong một pháo đài bằng sắt. Nhiều lần nàng yêu cầu bỏ người gác nhưng ban an ninh của Trung Tâm không đồng ý. Mặc dầu cuộc sống ở Trung Tâm vẫn bình thường, mặc dầu Địch chưa có một dấu hiệu hoạt động nào, biện pháp bảo vệ cũng không vì thế mà sao lãng.

Trời đã chuyển tối. Người nữ quản gia độc nhất của nàng đã bầy bàn tươm tất. Thằng Lập chưa cần đợi xe tắt máy, đã nhảy bổ xuống sân, ba chân bốn cẳng chạy vào trong nhà. Thằng bé mê máy phát thanh như điếu đổ. Ở Huntsville, nàng đã sắm cho con hàng chục cái máy ra-đi-ô tí hon chạy bằng tờ-răng-dít-to.

Thấy ba khăn trên bàn, trên mỗi khăn có đĩa, dao, và phóng xiết, Như Luyến bèn hỏi bà Ngọc:

- U quên rồi à? Có ai ăn mà bầy bàn ba người?

Người nữ lão bộc cười một cách đậm đà:

- Thưa cô, hồi nãy ông Trung gọi giây nói rằng cô mời ông ấy ăn tối nay.

Như Luyến cười xòa:

- Ừ nhỉ, suýt nữa quên mất. Hôm nay có gì ăn không u?

Người lão bộc rút khăn đeo lòng thòng trên vai, lau những giọt mồ hôi trên trán, đoạn giơ ngón tay ra trịnh trọng:

- Thưa, xúp tôm cua này, thịt bít-tết này, sà-lách Đà Lạt này… Tráng miệng thì có sầu-riêng, thứ này bác sĩ Trung ưa lắm.

Như Luyến nhìn u già, có vẻ ái ngại:

- Tội nghiệp u quá! Trời như thiêu thế này mà chui vào bếp!

Người lão bộc cười, nhe hàm răng đen như hạt huyền:

- Cô cứ vẽ….

Thằng Lập đã nép ra-đi-ô sang bên và với tay lấy cái ống nhòm, đeo vào cổ. Nó nhìn ra ngoài cổng, rồi bỗng reo to:

- A, bác Trung đến rồi.

Đoàn Trung vừa lái chiếc Lanh-Côn mui trần đến trước cửa, và được người gác mở toang mời vào.

Thấy Đoàn Trung, lòng Như Luyến vui hẳn lên. Nàng đon đả bắt tay Đoàn Trung rồi dẫn chàng vào phòng khách. Vẫn như mọi lần, nhà bác học trẻ tuổi nheo mắt nhìn u già, đoạn nói đùa:

- Tôi đến chắc sớm quá, u nhỉ? Bản tính vốn tham ăn mà lại!

U già cung kính đáp lại:

- Ông cứ dạy, cháu đâu dám.

Thằng Lập bỏ ống viễn kính và nắm tay áo Đoàn Trung bắt chàng bơm bánh xe đạp cho nó. Thằng bé rõ tinh quái, khi nào nghe chàng tới cũng mở đầu van xe đạp, xì cho xẹp bánh, rồi bắt chàng bơm căng lên. Nó trèo lên xe được một phút lại nhảy xuống và đòi chữa cái xe hơi chạy bằng "bin" bị hỏng và vứt vào một góc nhà. Đoàn Trung cởi áo vét-tông trắng, treo lên mắc, đoạn lúi húi chữa cho thằng Lập.

Ngoảnh sang phía Như Luyến đang đánh cốc-tay, Đoàn Trung nói:

- Luyến này, chữa cái xe điện của cháu Lập còn khó hơn chữa hỏa tiễn đó!

Thằng Lập lanh chanh xen vào:

- Chà, hỏa tiễn có cái gì mà bác bảo khó. Ngày nào mà cháu chả bắn nó.

Vừa nói, nó vừa dơ tay chỉ mấy cái giàn hỏa tiễn chạy bằng bin, một thứ đồ chơi tối tân mới xuất hiện ở Mỹ mà Như Luyến đã gửi mua cho con.

Đoàn Trung xoa đầu thằng bé:

- Cháu của bác giỏi quá. Bác còn thua cháu đấy.

Mà quả Đoàn Trung còn thua nó thật. Chàng chỉ giỏi về tính toán trong phòng thí nghiệm còn ra ngoài đời thì lại dút dát, hiền lành như cậu học sinh trung học. Chàng yêu Luyến đã lâu, từ cái thuở gặp nhau bên Mỹ, và chàng cũng biết cảm tình đặc biệt của Luyến đối với chàng. Không phải lần đầu chàng lại ăn cơm với mẹ con thằng Lập, nhưng lần nào cũng như lần nào, tráng miệng xong, nhắp ly cà-phê phin do tự tay Như Luyến pha và bưng tận tay cho chàng, Đoàn Trung lại lặng lẽ ra về, sau khi ôm thằng Lập hôn lên má lên trán.

Hình như từ mấy tháng nay Như Luyến cũng chỉ đợi chàng nói ra trước. Nhiều khi đôi mắt của nàng bỗng sâu hẳn thêm như chờ mong và oán trách. Nhất định tối nay chàng sẽ nói. Chàng sẽ hỏi Như Luyến làm vợ.

Bữa cơm hôm nay rộn rịp và ngon lành lạ thường. Có lẽ chưa bao giờ Đoàn Trung được ăn một món xúp tôm cua ngọt như vậy. Chàng ra hiệu cho u già múc thêm nữa.

Thằng Lập phê bình:

- Bác Trung sơi nhiều cơm hơn mẹ đấy?

Như Luyến mắng con:

- Hỗn nào? Bác thì bao giờ chả sơi nhiều hơn mẹ?

Đoàn Trung trả lời:

- Vì bác là đàn ông.

Thằng Lập cả cười:

- À ra thế! Còn mẹ là đàn bà, đàn bà ăn ít, chắc yếu lắm nhỉ?

Câu nói vô tình của đứa bé làm Như Luyến trạnh nghĩ đến cuộc sống cô quạnh của mẹ con nàng từ mấy năm nay. Nàng không đáp, cúi đầu xuống dĩa bít-tết. Tâm trí để đâu đâu nên nàng cầm dao vụng về và miếng thịt bị cắt quá mạnh nhảy ra ngoài dĩa, bắn cả nước xốt vào Đoàn Trung đối diện.

Như Luyến đỏ mặt ngượng ngùng:

- Luyến vụng quá, xin lỗi anh.

Đoàn Trung cười một cách hồn nhiên. Chàng lấy dao và nĩa đỡ miếng bít-tết của Như Luyến, để lên dĩa rồi bưng lại trước mặt chàng, cắt hộ. Loáng một cái, chàng đã cắt xong những khoanh thịt hồng hồng, thơm thơm nằm trên mặt dĩa trắng bóng.

Như Luyến đỡ lấy dĩa bít-tết:

- Cám ơn anh, Luyến thì bao giờ cũng vụng cả.

Thằng Lập vừa nhai nhồm nhoàm một miếng sà-lách, vừa nói với mẹ:

- Mẹ bao giờ cũng vụng, tại sao mẹ không mời bác Trung ở lại đây dạy mả mẹ?

Đề nghị ngây thơ của thằng Lập như luồng điện manh giật nàng nẩy bắn người. Một giọt bồ hôi thấm vào cổ áo nàng, mặc dầu không khí trong phòng mát mẻ. Hai người không ai nói với ai một tiếng.

Theo thường lệ, tráng miệng xong, thằng Lập sang phòng bên học bài. Đợi đứa bé khuất ra ngoài hành lang, Đoàn Trung mới nói với Luyến:

- Hôm nay trăng lên sớm, Luyến có ra vườn chơi cho tiêu cơm không?

Nàng gật đầu. Hai người chậm rãi ra vườn. Ba con bẹt-giê to lớn, phục ngay trước cửa xuống vườn. Thấy Đoàn Trung, chúng ve vẩy đuôi, ra vẻ mừng rỡ.

Như Luyến chỉ một giẫy chậu xứ trồng thược dược, nói với Đoàn Trung:

- Ở bên Mỹ anh cũng thích trồng hoa lắm kia mà! Tại sao về đây không thấy anh trồng nữa?

Đoàn Trung đáp:

- Có Luyến trồng rồi nên tôi không muốn trồng nữa, sợ không khéo bằng. Vả lại ….

Chàng không dám nói hết y nghĩ. Hai người đã tới một góc vườn. Mấy cây mít cành lá xum xuê che kín căn nhà phía sau. Ánh đèn nê-ông lọt qua lá xanh có một màu huyền ảo, trông hao hao như ánh trăng rằm đương chiếu trên trời.

Đoàn Trung dừng bước, nói:

- Này Như Luyến….

Như Luyến không đáp. Đoàn Trung tránh dùng tiếng anh và em nên nói bằng tiếng Anh

- Luyến có bằng lòng làm vợ anh không?

Lời tỏ tình của Đoàn Trung như tiếng sét dội bên tai nàng. Nàng vẫn đợi lời tỏ tình ấy, nhưng không ngờ nó lại đến một cách giản dị và long trọng như vậy. Nàng lặng người đi một phút rồi bỗng quay lại phía cửa phòng ăn như sợ u già bắt gặp. Đoàn Trung cười:

- Em nói đi. Em có bằng lòng làm vợ anh không?

Như Luyến muốn đáp, nhưng tiếng nói của nàng bị một sức mạnh vô hình chẹn ở cổ họng. Rồi như muốn tỏ cái bất lực của mình trước sự tỏ tình của Đoàn Trung, nàng òa lên khóc vì sung sướng. Đoàn Trung xiết chặt lấy bàn tay búp măng kiều diễm của nàng:

- Thôi, ta vào đi em.

Đoàn Trung về rồi. Như Luyến như người mất hồn, ngồi thừ trong phòng khách. Thấy mẹ buồn, thằng Lập đề nghị:

- Sao mẹ không ra nghe ra-đi-ô như mọi bữa, hả mẹ? Bác Trung giận mẹ hay sao mà mẹ buồn thiu ra thế?

Sợ thằng bé hỏi vặn, bộc lộ tâm trạng của mình, nên nàng vội đứng dậy, sang phòng học. Chiếc máy phát thanh II đèn to tướng đã được vặn sáng. Ban thoại kịch của đài Sàigòn đương diễn một vỡ kịch vui tả lại cuộc tình yêu éo le giữa một cậu giáo nghèo đến kèm trẻ trong một gia đình trưởng giả, và cô gái đẹp đẽ, nhưng bình dân của gia đình này.

Trong vỡ kịch, xen vào các vai chính là một vai hề ý nhị. Thằng Lập vỗ tay reo ;

- Hay quá, hay quá!

Vai hề tự giới thiệu bằng những danh từ văn vẻ và rí rỏm khiến thằng Lập ôm bụng cười như nắc nẻ. Đến một đoạn, vai hề nói:

- Thưa bà con cô bác, chắc bà con cô bác nóng ruột muốn biết tên tôi là gì? Tôi xin thưa, vì cha mẹ tôi sinh tôi cao như sếu vườn nên người ta mới gọi tên là Kinh Kong, Kinh Kong….

Nàng giật mình tái mặt. Từ mấy năm qua, đột nhiên tiếng Kinh Kong quái ác lại được thốt bên tai nàng. Dầu lần này là trường hợp vui vẻ, nàng vẫn không quên được hôm đó ở bến tàu Nữu-Ước.

Như Luyến tắt ra-đi-ô và nói với thằng Lập:

- Thôi đi ngủ con, khuya rồi.

Thấy mẹ tự động tắt ra-đi-ô không hỏi ý nó như mọi hôm, đứa bé phụng phịu, nước mắt chảy quanh:

- Tai sao đương hay mẹ lại không cho Lập nghe nữa?Con bắt đền đấy!

Nàng đáp:

- Khuya rồi, mai còn đi học.

Thằng bé cũng không kém:

- Khuya đâu mà khuya, mới chín rưỡi mà mẹ bảo khuya ư? Tại sao nhiều hôm đã mười một giờ mà bác Trung ở đây bác muốn về, con đòi đi ngủ, mẹ cứ bảo là còn sớm chán?

Lý luận của thằng bé cứng quá! Không thể biện hộ nổi, nàng liền dùng quyền cha mẹ, mắng át:

- Mẹ nói, con không được cãi. Có chịu đi ngủ không?

Vốn ngoan sẵn, thằng Lập nhảy trên ghế xuống đi vào phòng ngủ, song le cố tình tỏ sự bất bình của mình bằng cách dậm chân xuống đất bành bạch.

Lệ thường, Như Luyến vẫn ngọt ngào với con. Đã bao năm, nàng không đánh con một roi. Nhưng hôm nay kỷ niệm xưa, những kỷ niệm vui buồn có, xâm chiếm hồn nàng. Nàng cần được thảnh thơi để suy nghĩ.

Chỉ mười lăm phút sau, thằng bé đã ngủ say. Ánh trăng bạc chiếu qua kẽ lá vào giường mẹ con nàng. Thằng Lập rúc đầu vào nách mẹ, một chân gác lên người mẹ, trên cái miệng bé nhỏ còn nguyên nụ cười tưoi tắn mà nó dành cho Như Luyến trước khi ngủ thiếp đi.

Cái nụ cười tươi tắn ấy, đêm nào nàng cũng thấy trên môi chồng.

Túc Lăng cũng là một bộ óc khoa học kỳ tài. Cái tài xuất chúng của chàng đã được Von Braun chú ý và nâng đỡ.

Trong thời gian ở Pháp, Túc Lăng liên lạc với một tổ chức cộng sản. Tuy nhiên, chàng chưa được giao công tác gì, mãi đến khi theo Von Braun qua Mỹ.

Một cán bộ do thám đến tiếp xúc với chàng, ngỏ ý cần một số tài liệu. Cũng như một vài nhà bác học khác, tin rằng muốn bảo vệ hòa bình phải san sẻ mọi bí mật nguyên tử cho bất cứ mọi ai trên thế giới nên Túc Lăng nhận lời.

Hành động tội lỗi này của chàng, Như Luyến không hay biết. Đến khi biết thì muộn rồi. Túc Lăng đã thành người thiên cổ.

Túc Lăng phụ trách nghiên cứu một thứ kim khí khả dĩ chịu được sức nóng và lạnh tột độ, để dùng vào việc chế hỏa tiễn. Chàng làm việc trong một phòng thí nghiệm bằng bê-tông cốt sắt, cách mặt đất hai thước, bên cạnh những hóa chất cực kỳ nguy hiểm.

Một hôm, tai nạn xảy ra: chiếc ghế điện trì nguyên tử dùng để thí nghiệm bỗng nhiên không tuân theo các bộ phận điều khiển nữa. Tia phóng xạ nguyên tử được thả lỏng, nhập vào cơ thể Túc Lăng. Hồi đó, tai nạn bị điện trì phóng xạ xảy ra là thường.

Hôm đó, Túc Lăng đương thử sức chịu đựng của một thứ kim khí mới. Chỉ năm phút nữa là chàng sẽ lên mặt đất về nhà, lái xe đưa vợ con đi câu ở ngoại ô.

Nhưng Thần Chết đã lại. Một cây kim trước mặt Túc Lăng vượt qua lằn gạch đỏ, báo hiệu nguy hiểm. Trên táp-lô điều khiển điện trì nguyên tử, cây kim thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư, rồi tất cả lần lượt vượt qua cái gạch đỏ. Điện trì không kiểm soát được nữa, tia phóng xạ giết người sẽ bắn vào thân thể các nhà bác học.

Cùng một lúc với cây kim vượt qua lằn đỏ, tiếng chuông báo động reo vang, những tấm cửa bằng chì nặng tự động xập xuống ngăn cho tia phóng xạ khỏi lọt ra ngoài.

Là nhân viên chỉ huy, Túc Lăng phải ở lại đến phút chót, mở kỳ hết các bộ phận báo động và bảo vệ. Vì vậy chàng phải chết. Chàng phải chết cũng như nhà bác học Sơ-lô-tanh, người Gia-nã-đại, người đã tìm ra hộ thống bom nguyên tử đầu tiên, bị tia gam-ma phóng xạ giết chết năm 1946.[4]

Túc Lăng được đưa tới bệnh xá. Đồng hồ do tia phóng xạ cho biết chàng bị tới 1.000 roentgen, nghĩa là bị gấp đôi số phóng xạ chết người[5].

Trong mười ngày sau tai nạn, bạch huyết cầu bị mất hết. Một trăm ngày sau, hồng huyết cầu bị hủy diệt. Cái chết đến từ từ, đau đớn, thê thảm, không phải đối với chàng, vì chàng là nhà bác học, chàng biết rõ, nhưng là đối với Như Luyến và thằng Lập mới mười mấy tháng.

Cái ngày ghê sợ đã đến. Đêm đó chàng thiếp luôn trên giường bệnh, thiếp đi để không trở lại cõi thế nữa. Nhưng trước khi từ trần, Túc Lăng đòi được gặp mặt Như Luyến. Cái gặp trước khi nhắm mắt là chuyện dĩ nhiên, nhưng đối với Túc Lăng, còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Chàng cần gặp vợ để bộc lộ một tâm trạng đau khổ.

Túc Lăng hấp hối trong một bệnh viện lớn, trông ra bến tàu Nữu-Ước. Nằm trong phòng bệnh, qua ô cửa kính rộng như bức tường, chàng có thể thấy xa xa bức tượng Nữ Thần Tự Do….

Các bác sĩ và y tá đã ra hết, trong căn phòng trắng toát chỉ có một mình nàng ngồi cạnh giường. Không hiểu sao khi sang thế giới bên kia nhà bác học Túc Lăng lại sáng suốt và khỏe mạnh lạ thường. Chàng mở rộng đôi mắt nhìn vợ, từ từ kể lại câu chuyện mà chàng chôn giấu từ lâu dưới đáy lòng. Lời nói của chồng suốt đời có lẽ không bao giờ nàng quên được.

… Như Luyến ơi! em hãy tha thứ cho anh! Mãi đến lúc gần đất xa trời như bây giờ anh mới thấy anh lầm, lầm một cách tai hại. Anh là gián điệp của cộng sản. Anh đã đánh cắp tài liệu trao cho Nga Sô.

… Đúng ra sau ba lần tiếp xúc một cán bộ cộng sản, nhận tài liệu, anh bắt đầu hé thấy sự thật nhưng lúc đó anh không còn là anh nữa… Em ơi, lúc đó con người như là chiếc xe đứt thắng trên con đường đổ dốc, dầu anh có đầy đủ nghị lực đến mấy cũng không kềm hãm nổi. Người ta cứ lôi kéo mình đi và không thể nào cưỡng lại tuy mình không thích.

… Em còn trẻ, lại đẹp, anh không muốn em ở vậy mãi. Em hãy tìm người xứng đáng mà tái giá. Anh chết như thế này là đáng lắm, vì nếu không bị tai nạn trong phòng thí nghiệm, anh cũng sẽ tự tử. Nếu em không tin, em thử về nhà mở cái tủ két trong phòng ngủ sẽ biết. Anh đã viết sẵn một bức thư thú tội với em và nhà chức trách. Điều mà anh van xin là đừng mang chuyện này cho ai biết. Anh van em để linh hồn anh được yên nghỉ nơi suối vàng…. Để cho thằng Lập đinh ninh cha nó là người đáng kính, đáng yêu, có tinh thần ái quốc, chứ không phải là tên gián điệp hoạt động cho kẻ thù của Tự Do.

… Thôi anh sắp ra đi rồi… Chân anh đã lạnh… Kìa, cái lạnh đã lên đến đầu gối… Cái thư trong tủ két, nhớ đốt đi nhé, đốt và nghiền cái tàn vụn ra, bỏ chúng vào thùng tắm, giật nước đi cho hết nhá!....

Túc Lăng thở hắt ra một cái thật mạng, rồi im bặt, trên miệng còn phảng phất nụ cười âu yếm. Tang lễ của chàng được cử hành trọng thể, mọi nhân viên trong Trung Tâm Nguyên Tử đều đi đưa, có cả điếu văn cảm động của ông bộ trưởng Quốc Phòng và ông chủ tịch ủy ban Nguyên Tử Năng nữa. Đó là chưa kể hàng trăm bức điện và thư từ, từ khắp nơi gửi đến chia buồn, và những bài tường thuật kính cẩn trên mặt báo kèm chân dung của chàng.

Nhà bác học Túc Lăng bỏ mình trong vinh dự…. Nhà bác học Túc Lăng vĩnh biệt cõi thế, trong khi thừa hành công vụ, một công vụ cứu nhân loại ra khỏi sự tối tăm… Cái chết của thiên tài Túc Lăng, một cái tang chung cho thế giới tự do… Nhà bác học quá cố Túc Lăng, một công dân gương mẫu, một con người trọn đời hy sinh cho tự do….

Những giòng tít in đậm trên báo chí quốc tế đập vào mắt nàng. Túc Lăng được tôn cao như thiên thần. Nhưng nếu thiên hạ biết rằng thiên thần Túc Lăng chỉ là đảng viên cộng sản đánh cắp tài liệu của Trung Tâm trao cho cán bộ Nga Sô thì phản ứng của họ sẽ ra sao?

Như Luyến không dám nghĩ xa nữa. Nàng đã tuân theo di ngôn của chồng. Dầu chồng lầm lỗi, nàng vẫn thương chồng, vẫn kính chồng như dạo nào còn ở Ba-lê, nàng là sinh viên khoa học, chàng là giảng sư trẻ tuổi nhưng lỗi lạc của trường Soọc-bon…

Như Luyến cố tìm ra nguyên nhân của sự lầm lẫn đó. Nàng càng thương chồng hơn nữa sau khi đọc bức thư thú tội của chồng. Túc Lăng không phải là đảng viên cộng sản thực thụ, Túc Lăng cũng không phải là gián điệp chuyên nghiệp: Người ta lợi dụng chàng, ép buộc chàng, và như chàng dối dăng, chàng chỉ là chiếc xe không còn bộ phận hãm máy nữa….

Bọn cán bộ không đòi Túc Lăng đánh cắp tài liệu ở các phòng khác, mà là ở ngay phòng chàng, những tài liệu tự tay chàng viết ra về công cuộc tìm tòi một thứ kim loại đặc biệt dùng chế hỏa tiễn xuyên lục địa.

Mỗi khi họ cần, chàng thản nhiên về phòng thí nghiệm chụp lại tài liệu, rửa thành phim rồi trao cho một gián điệp tên là Kinh Kong. Kinh Kong là bí danh, tên thật chàng không biết. Chàng cũng không biết mặt mũi người đó ra sao, vì lần gặp nào cũng diễn ra trong bóng tối một công viên ban đêm. Có lần chàng định đánh ngã y. Nhiều phen Túc Lăng định cho công an và Phản Gián hay tự sự, nhưng hễ nghĩ đến lời hăm dọa của Kinh Kong, chàng lại chùn tay.

Kinh Kong cảnh cáo nếu chàng tiết lộ thì Như Luyến và thằng Lập, không phải chỉ đâm chết, mà là giết từ từ mỗi ngày cắt một bộ phận trong cơ thể rồi gửi bảo đảm đến cho chàng… Kinh Kong…. Kinh Kong… Cái tên khủng khiếp ngày nọ lại dội bên tai nàng do lời thốt ra của thằng Lập.

Những lúc này nàng mới cảm thấy sự có mặt của Đoàn Trung là cần thiết. Chàng chưa hề hôn môi nàng, chàng chưa dám có cử chỉ xuồng xã từ mười tháng nay, nhưng trong cái đúng đắn nghiêm chỉnh ấy, nàng đã đọc thấy mối tình chân thành và thắm thiết. Nàng sẽ nhận lời làm vợ Đoàn Trung. Vả lại chính Túc Lăng trước khi nhắm mắt cũng căn dặn, bắt nàng thề như vậy. Thề sẽ tái giá.

Như Luyến quay mặt sang phía thằng Lập cố ngủ. Ánh trăng chiếu rõ vết mực tím mà thằng Lập chơi tự quẹt lên má lúc nãy…

Nằm đã lâu mà Như Luyến vẫn không tài nào ngủ được. Chuông đồng hồ treo bên phòng ăn đã điểm hai giờ lúc nãy. Nàng nghe rõ tiếng xe hơi chạy ngoài đường, tiếng ông lão mù rao bánh mì nóng và tiếng giép lệt xệt của một bà già đêm nào cũng bán bánh chưng, giò chả trên đường liên tỉnh Chi Lăng…

Đột nhiên chuông điện thoại ở đầu giường reo vang…. Ai gọi nàng vào lúc này? Không lẽ ở Trung Tâm gọi, mặc dầu nhiều khi có chuyện cần gấp, viên giám đốc vẫn gọi thẳng cho nàng, nhưng chưa bao giờ xảy ra ban đêm cả. Hay là Đoàn Trung? Mà tiếng Đoàn Trung thật!

Chàng hỏi một cách lo lắng và rồn rập. Nàng nín hơi thở, lắng tai nghe:

- Luyến chưa đi ngủ ư? Tôi cũng thế. Tại sao hồi nãy Luyến không trả lời? Luyến trả lời đi. Nếu không, tối nay tôi sẽ thức trắng mất.

Như Luyến đáp nho nhỏ:

- Anh nói khẽ chứ, thằng Lập vừa cựa mình đấy. Em xin lỗi anh.

Đoàn Trung có vẻ hốt hoảng:

- Em, em từ chối ư?

- Thưa anh, em bằng lòng.

Như Luyến nghe rõ tiếng thở của người yêu ở đầu giây bên kia. Đoàn Trung im lặng một phút, như muốn để cái sung sướng tan thành hơi, lan vào các bộ phận trong cơ thể. Đoạn chàng nghẹn ngào:

- Anh yêu em lắm. Anh cũng tin rằng em sẽ bằng lòng.

Như Luyến kéo cái ống nói sát môi:

- Em cũng vậy. Em yêu anh lắm.

Lại im lặng một phút. Tiếng của Đoàn Trung:

- Thôi, em đi ngủ ngon nhá. Mai anh tới.

Đợi cho chàng đặt ống lên giá, nàng mới có can đảm hôn qua giây nói nghe chụt một cái. Ngực nàng nóng ran lên như vừa có bàn tay yêu đương của chàng. Những cảm giác say sưa của cái thuở ban đầu nàng gặp Túc Lăng, hồi còn là con gái, đột nhiên thức dậy trong lòng nàng. Toàn thân nàng run bắn lên. Như Luyến ôm ghì lấy con, cố ngủ.

Tiếng chuông lại reo vang. Như bắt được của, nàng nhốc vội ống nói, và không cần đầu giây bên kia lên tiếng, nàng đã nói hấp tấp:

- Anh Trung đấy ư? Trời, em cũng không ngủ được.

Không nghe tiếng Đoàn Trung trả lời, Như Luyến lại tiép:

- Anh giận em ư? Tội nghiệp. Em cũng yêu anh lắm.

Đột nhiên trái thương mãi nàng lạnh ngắt đi như bị dầm vào thùng nước đá. Tiếng nói của người đối thoại không êm êm, quyến rũ như của người mà nàng yêu, định lấy làm chồng. Tiếng nói không phải của Đoàn Trung. Một tiếng nói chắc nịch, lạnh lẽo, ráo hoảnh, có pha chút tàn nhẫn và gớm ghiếc. Trời ơi. Kinh Kong! Kinh Kong! Ma quỷ hiện hình! Nàng suýt rú lên một tiếng nhưng vì vốn giầu nghị lực nên nàng cố trấn tĩnh. Điện đàm đã cắt. Như Luyến đặt ống nói vào chỗ cũ.

Con ma Kinh Kong tái hiện. Một nỗi sợ mênh mang từ ngoài đất trời rộng lớn ùa vào tâm hồn Như Luyến.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:41 pm

Phần Bốn. Kinh Kong hành động

Buông ống nói xuống, Kô-băng thở phào ra một cái. Mụ vợ của Túc Lăng chắc bị một phen bở vía!

Vẻ mặt hiền lành của y đã biến đâu mất. Con mắt y bắn ra những tia lửa dữ tợn, cái cầm bạnh ra như muốn gây sự với bất cứ người nào.

Kô-băng vừa tự giới thiệu với Như Luyến. Kinh Kong, Kinh Kong. Đúng ra không phải là Kinh Kong, mấy năm trước đến gặp Túc Lăng bên Mỹ, nhận tài liệu. Kinh Kong hồi đó là một nhân viên khác của cơ quan R.U.. Tuy nhiên hồ sơ của Túc Lăng, y đã nắm gọn trong tay. Trước khi đi, y đã giành gần nửa tháng để nghiên cứu kế hoạch này.

Kô-băng mỉm cười với một cô vũ nữ có thân hình uốn khúc như rắn, vừa ưỡn ẹo đến bên mình. Kô-băng là người biết thưởng thức cái đẹp. Nhưng y lại ghét cái đẹp phương Đông. Đẹp theo Kô-băng phải là phô diễn mọi kỳ quan ra ngoài, chứ không che đậy một cách ỡm ờ như mấy ả vũ nữ này.

Mặc cho mấy cô gái liếc mắt đưa tình, mặc cho ông chủ cúi mình xuống một cách cung kính, ra vẻ tiếc nuối ông khách sang trọng và hào phóng mới tới lần đầu, Kô-băng thản nhiên bước ra ngoài cửa, sau khi ném lên bàn cái giấy một trăm mới tinh, thưởng cho hai bồi rượu.

Y vẫy một chiếc tắc-xi vừa chạy ngang, dặn chạy về đường Trần Hưng Đạo.

Chiếc tắc-xi nhỏ xíu dừng trước nhà khiêu vũ Thiên Đường. Không khí trong khiêu vũ trường ngột ngạt. Ngột ngạt vì thuốc thơm ở đâu cũng có, vì vũ nữ bận những cái áo dài kỳ lạ, như muốn dính hẳn vào lưng ong, vì cách trang trí huyền ảo, với những chỗ tối mờ giấu sau những chậu cây xanh um, những cặp trai thanh gái lịch chụm đầu vào nhau tình tự.

11 giờ đêm. Khách chơi đêm rộn rịp, giàn nhạc Phi đã trỗi lên những bản nhạc tình tứ.

Kô-băng chọn một cái bàn thấp nhỏ ở một góc, gần chỗ treo điện thoại. Mục đích của Kô-băng đêm nay không phải là khiêu vũ mà là thực hiện đợt đầu của kế hoạch.

Từ lúc gọi giây nói cho Như Luyến đến giờ đã 15 phút. Một khắc đồng hồ đó đủ thấm cái sợ vào người Như Luyến rồi. Đã đến lúc Kô-băng tái hiện. Uống xong một ly xâm-banh "Mum" y rảo bước lại máy điện thoại:

- Alô, alô, Kinh Kong đây. Bà nhớ ra rồi chứ?

Tiếng Như Luyến đáp cương quyết:

- Tôi nhớ. Nhưng ông muốn gì? Chồng tôi đã chết đã 5 năm nay rồi, ông không hay sao?

Kô-băng cười khà khà:

- Sao không biết? Mục đích của tôi là muốn giáp mặt bà để trả lại cho bà những giấy tờ của chồng bà ngày trước.

Như Luyến vẫn không núng:

- Nếu muốn trả cái gì, xin mời ông mang lại nhà, hoặc gửi nhà giây thép.

Kô-băng cười ròn tan:

- Nhưng những giấy tờ này gửi bưu điện thế nào được, thưa bà? Nếu bà muốn lấy lại như chồng bà hằng muốn, thì đúng hai mươi phút nữa, tôi sẽ đợi bà trước rạp chiếu bóng Gia Định.

- Tôi không thể đi ban đêm được.

- Thế thì bắt buộc tôi phải gửi cho Đoàn Trung một bản và công an Sàigòn một bản.

Kô-băng không cần nghe Như Luyến trả lời. Y dư biết nàng sẽ chửi rủa thậm tệ. Nhưng Như Luyến sẽ đến chỗ hẹn. Nàng không bỏ được Đoàn Trung. Nàng không phụ được lời hứa của chồng.

Kô-băng đánh diêm châm thuốc hút, đoạn đút tay vào túi quần, ra khỏi tiệm Thiên Đường, gọi xe lên Gia Định.

Cuộc nói chuyện thứ hai với Kinh Kong làm Như Luyến đổ mồ hôi ra ướt đầm cả người.

Di ngôn của chồng lại văng vẳng bên tai. Nàng không thể để mọi người phỉ nhổ lên mộ phần của chồng. Tấm huy chương danh dự mà chính phủ Mỹ gắn lên quan tài Túc Lăng mấy năm trước, nàng đương cất kỹ trong cái hộp nhung trong ngăn kéo bàn đêm. Như cái máy, Như Luyến mở ô kéo, rút cái hộp ra, ngắm nghía.

Ánh vàng của huy chương lấp lánh dưới tia sáng trăng rằm. Như Luyến thay mặt chồng, nhân huy chương vinh dự. Tiếng khen tụng của ông bộ trưởng còn vang rõ trong trí.

… Bác học Túc Lăng, một người trọn đời hiến thân cho chủ nghĩa tự do… Sở dĩ chúng ta còn hơn được cộng sản xâm lược ngày nay, sở dĩ chúng ta còn bảo vệ được hòa bình cho nhân loại, cũng nhờ sự hy sinh sáng suốt và trung thành của những người nổi tiếng như nhà bác học Túc Lăng vậy.

Sáng mai, công an Sàigòn sẽ nhận được một bản tài liệu tố cáo rằng Túc Lăng là đảng viên cộng sản, là một tên gián điệp của cộng sản chủ nghĩa. Nàng sẽ bị thiên hạ khinh rẻ, thằng Lập sẽ không còn bạn bè nữa… Ai lại kết thân với con một đứa phản bội bao giờ…

Và còn Đoàn Trung nữa.

Chàng yêu nàng, điều đó dĩ nhiên. Nhưng đến khi chàng biết rõ Túc Lăng là một gã phản bội, chàng đâu dám hỏi nàng làm vợ nữa… Dầu yêu nàng đến mấy đi nữa, chàng cũng phải thoái thác, vì cơ quan an ninh sẽ chống lại cuộc hôn nhân này. Họ sẽ mở cuộc điều tra, họ sẽ mời nàng đến khai cung vì họ sẽ nghi ngờ nàng. Biết đâu họ chả cho nàng là người đã gây ra vụ phản bội ấy? Và biết đâu họ chả cho nàng là nhân viên bí mật của cộng sản có nhiệm vụ mê hoặc Đoàn Trung để đánh cắp những tài liệu quan trọng?

Nàng nấc lên một tiếng, nước mắt ràn rụa hai bên gò má. Bên cạnh nàng, thằng Lập đã co chân lên, mím môi lại ngủ một cách say sưa.

Từ khoảng thinh không, đưa xuống tiếng nói thiết tha của Túc Lăng, tiếng nói của chàng thốt ra đêm nào, trên giường chết của bệnh viện Nữu-Ước, nhìn ra vịnh Huýt-xông lạnh giá:

- … Anh van em, anh van em, em hãy tha thứ cho anh. Anh biết anh lầm rồi. Anh đã sống nhiều đêm hối hận. Em đừng bắt linh hồn anh phải đau khổ nữa… Hãy để cho anh chết thảnh thơi. Anh van em… Dầu sao này có xảy ra chuyện gì chăng nữa, hãy cố thương nuối lấy anh, em ơi …

Nàng không thể trù trừ nữa. Từ dưới đáy mồ, Túc Lăng đã bừng tỉnh dậy. Nàng phải đến chỗ hẹn. Và sẽ tùy cơ ứng biến… Biết đâu Kinh Kong sẽ chẳng yêu sách điều gì quá đáng… Nếu cần hy sinh cái thân thể của nàng cho Kinh Kong, nàng cũng chịu… chịu để cứu vớt thanh danh của chồng… Nàng sẽ đánh lừa cho Kinh Kong tin rồi sẽ liệu… Nàng vẫn được khen là đa mưu túc trí lắm kia mà….

Như Luyến ngồi dậy nhè nhẹ, sợ chuyển cái đệm cao-su dầy, làm con thức tỉnh. Nhưng không, thằng Lập chơi cả ngày nên ngủ say lắm. Vả lại, nàng chỉ vắng nhà độ nửa giờ thôi chứ có lâu đâu? Rạp xi-nê Gia-định gần chỗ nàng ở có mấy phút đi bộ….

Giờ này rạp chiếu bóng vãn khách, người về như thác chảy chắc không ai để ý đến nàng đâu! Như Luyến khoác cái áo dài đen lên người, vớ lấy cái sắc da cũng màu đen trong tủ, đoạn chọn một đôi giép thấp, quấn cái khăn mỏng lên đầu tránh sương rồi mở cửa nhẹ đi ra….

Ánh trăng man mác vẫn chan hòa trên cảnh vật. Ba con bẹt-giê trung thành, đánh hơi thấy chủ, ngoe nguẩy cái đuôi mừng rỡ.

Người gác thường trực đã về từ nãy. Lệ thường ban đêm, ba con bẹt-giê cũng đủ bảo vệ an ninh cho nàng. Nàng mở khóa cổng. Lũ chó bẹt-giê hục hặc thở ra phì phò, hình như tỏ dấu ngạc nhiên sao cô chủ lại ra phố giữa đêm hôm khuya khoắt như vậy. Thấy bầy chó thương yêu mình, nàng nước mắt ràn rụa, ngồi xuống xoa đầu từng con trước khi khép cửa cổng lại, đi băng ra đường.

Trời đêm lạnh, tuy là tiết tháng tư nóng nức. Như Luyến rẽ sang bên trái, đi rảo qua sân vận động rồi đến rạp chiếu bóng cách đấy gần trăm thước. Khi nàng bước qua cây cổ thụ xum xuê, trước khi tới rạp xi-nê, một tiếng gọi giật nàng lại:

- Bà Túc Lăng?

Người gọi nàng ngồi trong một xe hơi sơn đen, có tài xế lái. Cửa phía sau mở rộng. Tiếng người lúc nãy, tiếng người xưng là Kinh Kong trong điện thoại, mời nàng:

- Mời bà lên đây nói chuyện.

Lúc ấy, nàng không thấy sợ hãi nữa. Nàng vén áo, trèo lên xe. Kô-băng, ngồi phía sau, nghiêng đầu chào:

- Hân hạnh được gặp bà.

Như Luyến không thèm đáp. Kô-băng ra lệnh cho Trường Thanh:

- Lái qua Lăng Ông xuống Đakao nghe.

Như Luyến hỏi Kô-băng:

- Lái xuống Đakao làm gì? Ngồi đây nói chuyện không tiện hơn sao?

Kô-băng đáp:

- Tôi cũng như bà, đều muốn giấu kín chuyện này. Hay bà cứ ngồi đây, rồi công an biết, lúc đó tôi sẽ không chịu trách nhiệm nữa đâu.

Lần này cũng như lần trước, Kô-băng vẫn có lý. Chiếc xe bon bon vượt qua Lăng Ông, chạy thẳng đến cầu xi-măng gần Đakao.

Như Luyến hỏi Kô-băng:

- Ông muốn gì? Xin ông nói ngay, tôi phải về.

Giọng Kô-băng ngọt ngào:

- Bà nóng nảy quá! Tôi thay mặt các đồng chí đến đây thưa với bà một chuyện. Trước nhất, tôi xin thành thật chia buồn với bà về việc đồng chí Túc Lăng tạ thế.

Như Luyến ngồi yên, không đáp. Nàng không thèm cải chính cái tiếng "đồng chí" ngọt sớt mà Kinh Kong vừa dùng.

Kô-băng tiếp:

- Trong thời gian làm cho Đảng, đồng chí Túc Lăng đã tỏ ra trung thành và gương mẫu. Đảng đã quyết định truy tặng đồng chí Túc Lăng là chiến sĩ lao động hạng nhất, và ban thưởng huân chương tối cao Xít-ta-lin. Vì điều kiện an ninh, tôi không thể mang những bằng khen và huân chương tới đây được, xin bà hiểu cho….

Kô-băng dùng chiến thuật mềm trước. Biết đâu Như Luyến chả xiêu lòng? Nhưng nàng vẫn không đáp lại. Nét mặt của nàng lạnh như tiền. Kô-băng nói tiếp:

- Chắc bà đã biết ngày nào cán cân lực lượng trên thế giới được quân bình, ngày ấy chiến tranh không thể xảy ra… Và dầu Liên Sô có mạnh mấy nữa, hòa bình vẫn được bảo vệ, vì thưa bà, Liên Sô là thành trì của hòa bình… Bác sĩ Túc Lăng đã cống hiến cho hòa bình. Nếu bà noi được tầm gương anh dũng của đồng chí Túc Lăng, nhân loại sẽ cám ơn bà.

Như Luyến đáp chậm rãi:

- Hồi nãy ông gọi giây nói mời tôi đến để trao trả những giấy tờ của chồng tôi kia mà! Bây giờ ông hẵng trả cho tôi đã!

Kô-băng không cười nữa. Y dằn từng tiếng một:

- Đó là việc thứ hai. Việc thứ nhất là mời bà cộng tác với đoàn thể, như đồng chí Túc Lăng ngày trước.

Như Luyến gạt phắt:

- Cám ơn ông, tôi không thể cộng tác với đoàn thể các ông được.

Kô-băng nắm lấy tay Như Luyến:

- Bà có thể cho biết tại sao không?

Nàng đẩy tay Kô-băng ra:

- Nếu ông muốn tôi tiếp tục nói chuyện thì đừng sàm sỡ như thế nữa.

Lúc nãy nàng định hy sinh tất cả thân thể nàng để bảo vệ thanh danh cho chồng, nhưng đến khi gặp Kô-băng, nàng không hiểu tại sao lại đổi thái độ. Nàng thấy ghét Kô-băng thậm tệ. Nàng đáp:

- Vì lẽ gì ư? Vì tôi không phải là cộng sản. Tôi ghét cộng sản. Các ông đã giết chồng tôi. Bây giờ các ông muốn gì thì nói ra. Tôi không muốn nghe lời tuyên truyền rỗng tuếch!

Kô-băng cười nhạt:

- À, nếu bà muốn thế thì được. Tôi mời bà đến đây để điều đình với bà. Điều đình là một chuyện có lợi cho bà, nếu bà không muốn ai đá động tới Túc Lăng và tới cuộc hôn nhân tương lai của bà với bác sĩ Đoàn Trung.

Nghỉ một phút, Kô-băng tiếp:

- Chắc bà cũng biết Túc Lăng là cộng tác viên của tổ chức chúng tôi. Nếu bà nghe theo đề nghị của tôi, tôi sẽ trả cho bà cái thẻ nhân viên cộng sản của Túc Lăng ngày trước. Cái thẻ ấy cũng quan trọng đối với tương lai của bà, của con bà lắm đấy chứ?

Cố nén tức giận, Như Luyến hỏi Kô-băng:

- Điều kiện của ông thế nào?

Kô-băng cười nửa miệng:

- Giản dị lắm. Tôi chỉ cần bà cung cấp một mảnh giấy tầm thường.

- Tôi không phải là gián điệp.

- Bà để tôi nói nốt. Có phải là tài liệu tối mật đâu mà là gián điệp. Như tôi vừa nói xong, tôi chỉ cần một mảnh giấy tầm thường, nếu không là vô nghĩa. Bà không phải mất công tìm kiếm ở đâu xa cả. Bà có thể thấy ngay trong văn phòng bà. Chúng tôi muốn bà cho một phó bản của những vật liệu mà Trung Tâm Thủ Đức dùng trong tháng qua.

Như Luyến nghĩ nhanh như máy. Danh sách những vật liệu mà Trung Tâm dùng hàng tháng không phải là tài liệu tối mật. Dĩ nhiên cũng là bí mật, nhưng so với nhiều cái khác còn là hết sức tầm thường. Tại sao Kinh Kong lại đòi một mảnh giấy tầm thường như vậy? Hắn đánh lừa nàng chăng?

Như Luyến đáp ;

- Nếu tôi từ chối ông sẽ làm gì?

Kô-băng cười một cách nhã nhặn:

- Chúng tôi sẽ không làm gì cả. Chiều mai, công an sẽ nhận được một tấm ảnh của cái thẻ đảng viên của Túc Lăng. Và ngày sau đến lượt Đoàn Trung. Và lần lượt, sẽ gửi đi cho các tòa báo.

- Phải, bọn các ông giàu ý kiến lắm! Cưỡng bách người ta mà dám khoe khoang là phụng sự cho hòa bình! Nếu tôi bằng lòng bao giờ ông sẽ trả tài liệu đó cho tôi?

- Tôi sẽ đưa bà ngay bây giờ một tấm ảnh.

- Tôi không cần ảnh, tôi cần cái phim và cái thẻ thực thụ kia.

- Cái thẻ thực thụ tôi cũng trả luôn đêm nay cho bà. Riêng còn cái phim chính….

- Nghĩa là ông đợi tôi trao bản danh sách rồi mới trả cái phim chính chứ gì?

- Bà thông minh quá! Tôi rất hân hạnh được một cộng tác viên như bà.

Như Luyến mắng hắt:

- Tôi không phải là cộng tác viên của ông, xin ông đừng lầm!

Kô-băng vẫn cười tươi tỉnh:

- Bà nóng tính quá. Nội trong ngày mai bà phải có danh sách ấy cho tôi.

- Khi nào ông lấy?

- Nội trong đêm mai.

- Mấy giờ? Gặp ở đâu?

- Được, bà cứ yên tâm, tôi sẽ cho bà biết sau. Bây giờ tôi trả cho bà cái tôi đã hứa đây.

Kô-băng trao cho nàng một cái phong bì dẹt. Nàng cầm lấy. Chiếc xe do Trường Thanh lái vừa vặn qua chợ Gia Định khỏi cây đèn ở ngã tư và rẽ sang tay phải, gần rạp chiếu bóng lúc nãy.

Trông trước, trông sau, không thấy một ai. Kô-băng mở cửa xe ra, mời nàng xuống. Chiếc xe sơn đen lại rồ máy biến về phía Phú Nhuận.

Như Luyến mở khóa bước vào trong vườn. Ba con bẹt-giê vẫn phục ở chỗ cũ. Trong phòng, thằng Lập ngáy ngon lành. Nàng sang phòng học, bật ngọn đèn vách lên, xem cái phong bì mà Kinh Kong vừa trao cho nàng.

Nàng rút ra một tấm thẻ màu hồng, bằng bìa dầy, trên viết bằng tiếng Anh do đảng cộng sản Mỹ cấp cho Túc Lăng. Đó là bằng chứng hùng hồn Túc Lăng có chân trong đảng cộng sản. Cùng với tấm thẻ là một bức ảnh chụp tấm thẻ trên giấy láng. Nhưng còn tấm phim chính nữa? Nếu nàng trao bảng danh sách vật liệu cho Kinh Kong, đến mai nàng sẽ lấy lại cuốn phim.

Nàng sẽ hết lo và trở lại cuộc đời bình thản đầy hạnh phúc bên thằng Lập, bên Đoàn Trung, người chồng tương lai của nàng.

Mệt quá, nàng thiếp đi lúc gà ở trại bên gáy canh tư.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:42 pm

Phần Năm. Bóng ma theo dõi

Suốt ngày hôm sau, Như Luyến như người mất hồn. Tỉnh dậy, nàng bỏ ăn sáng, trang điểm cho qua loa rồi đưa thằng Lập đến trường. Khi thằng Lập vào lớp, nàng quên ôm hôn con như mọi bữa, đến nỗi thằng bé phải thốt ra một tiếng ngạc nhiên:

- Tại sao mẹ buồn thế?

Như Luyến đánh lừa con:

- Đâu? Mẹ có buồn đâu?

Thằng Lập không tin:

- Mẹ cứ nói dối con mãi. Nếu không buồn sao mẹ không hôn con? Tại sao mẹ mới buồn từ tối hôm qua thế? Để con mách bác cho đấy.

Như Luyến cúi xuống ôm con hôn chùn chụt vào má, vào trán. Nàng cố nén để hai giọt nước mắt không trào ra. Thằng Lập, lây cái ưu tư của mẹ, cũng không vui đùa, nhảy nhót như mọi buổi sáng đến trường nữa.

Trọn buổi sáng, nàng không làm gì cả, mà chỉ nghĩ đến chóng hết giờ về Sàigòn, gặp Kinh Kong trao bản danh sách.

Bản danh sách vật liệu, mà Trung Tâm mua trong tháng qua vẫn nằm nguyên trong xếp hồ sơ ở phòng nàng. Phòng tổng thư ký của Trung Tâm gồm bốn nhân viên thì nàng là người đứng đầu. Phòng này tập trung công văn đi và đến. Vì vậy nàng được giữ một bản sao danh sách vật liệu cung cấp cho Trung Tâm hàng tháng.

Lúc gần đến giờ nghỉ trưa, nàng cố lấy dáng điệu tự nhiên, bước lại tủ hồ sơ, lấy cái bì đựng các bảng danh sách hàng tháng. Chỉ trong ba phút, nàng đã chép xong bản danh sách trên chiếc máy chữ tối tân. Nàng cất bản chính vào tủ, còn tờ giấy đánh máy thì gập tư lại, bỏ vào sắc.

Trong giờ ăn, Đoàn Trung đón Như Luyến ở câu lạc bộ. Chàng vận một bộ âu phục màu xanh nhạt mới lấy ở thợ may về, và cái và-vạt cũng mới mua. Ý hẳn chàng muốn ăn mặc tươm tất để làm vui lòng Như Luyến vì chàng vẫn có thói quen cẩu thả.

Đoàn Trung kinh ngạc xiết bao khi thấy Như Luyến vẻ mặt bơ phờ, cặp mắt sâu trũng như người mất ngủ hàng tuần. Như thường lệ, chàng mang dĩa cơm và thức ăn cho nàng, bưng lại gần chỗ nàng ngồi, hỏi giọng lo lắng:

- Sao em trông có vẻ mỏi mệt thế? Em khó ở ư? Để anh đưa em ra bệnh xá nhé?

Như Luyến lắc đầu đáp:

- Không, có mệt đâu anh. Em chỉ hơi nhức đầu một chút thôi.

Đoàn Trung đon đả:

- Thế để anh lái xe đưa em về vậy. Chiều nay về nhà nghỉ cho khỏe nhá!

Sợ về nhà nghỉ, mọi người nghi hoặc, nàng đành gạt đi. Nhưng sự tử chối của nàng làm Đoàn Trung thắc mắc thêm. Nàng nhớ chồng cũ chăng? Không có lẽ. Như Luyến rất yêu Túc Lăng, nhưng tái giá sau 5 năm đâu phải là bội bạc? Vả lại, mối tình giữa hai người còn nghiêm chỉnh, đâu đã sàm sở khiến nàng âu sầu được. Hay là một chuyện gia đình? Không có lẽ. Đoàn Trung quyết tìm ra bằng được.

Bữa cơm trưa ở Trung Tâm, nàng ăn một cách uể oải. Món thịt cốt-lết thơm phức mà nàng thích nhất, vẫn còn nguyên trên dĩa. Biết người yêu giấu mình, Đoàn Trung không hỏi nữa. Chàng đi rót cho nàng một tách cà-phê đặc, đoạn bảo nàng uống.

Như đứa trẻ, nàng bưng ly cà-phê uống một hơi cạn. Đoàn Trung châm thuốc lá mời hút, nàng cũng cũng hút. Đó quả là một sự khác thường: xưa nay không bao giờ Như Luyến hút thuốc lá nặng của chàng: thỉnh thoảng muốn hút, nàng chọn loại thuốc lá có đầu bằng mấc nhẹ hơi và thơm hơn. Thì ra hôm nay Như Luyến chỉ là một cái máy, không phân biệt được mùi vị thuốc lá nữa.

Muốn dò phản ứng của nàng, chập tối chàng gọi điện thoại lại biệt thự, ngỏ lời muốn đến ăn cơm. Như Luyến không vồn vã như mọi hôm, nàng cũng không tỏ vẻ lãnh đạm, trái lại trong giọng nói có một sự lo lắng khó hiểu.

Như Luyến nói:

- Tối nay em mệt mà anh! Hẹn đến khi khác nhá!

Đoàn Trung đáp:

- Thế thì anh ăn một mình với thằng Lập vậy!

Như Luyến ừ ào không đáp. Nghe Đoàn Trung nhắc lại, nàng bối rối từ khước:

- Xin lỗi anh, tối nay em bận việc.

Tính tò mò của Đoàn Trung bừng dậy. Chàng hỏi già:

- Em bận việc gì, anh không biết được sao?

Như Luyến đáp sẵng:

- Tính anh hay hỏi gặng lắm. Em nói bận là em bận.

Nói xong, nàng dằn mạnh cái điện thoại xuống giá. Từ ngạc nhiên, hiếu kỳ, đột nhiên cái cảm giác kỳ lạ trong lòng Đoàn Trung, người thanh niên mới biết yêu nồng nàn lần đầu chuyển sang tức tối, một sự tức tối ghen tuông. Hay là Như Luyến không cần ta nữa? Hay là Như Luyến có ý trung nhân khác? Một kế hoạch nhú trong đầu nhà bác học trẻ tuổi. Chàng sẽ tìm ra sự thật.

Buổi tối Như Luyến cũng ăn qua loa như không biết đói. Thằng Lập sợ mẹ gắt, cúi gầm mặt trên đĩa xúp gà. Nó cũng ăn quàng ăn quấu rồi học bài, đi ngủ. Đêm nay, nàng lại bắt con đi ngủ sớm hơn hôm qua nữa, khiến u già phải nói:

- Thưa cô, còn sớm lắm, xin cô cho em Lập ra vưòn chơi một lát.

Như Luyến không bằng lòng:

- Ra vườn chơi thế nào được, nhỡ gặp sương bị cảm sao?

U già ngạc nhiên:

- Thưa cô, mới chập tồi làm gì có sương mà sợ cảm?

Như Luyến phát bẳn. Nàng lên giọng:

- Cái u này mới lôi thôi chứ? U còn đợi đến bao giờ mới cho thằng Lập đi ngủ?

U già nín thinh, dắt thằng Lập vào buồng, bỏ màn, khép cửa lại. Ở với nàng từ bao năm, chưa bao giờ u già thấy cô chủ nặng lời, hoặc gắt gỏng vô lý.

Như Luyến cũng trèo lên giường giả vờ ngủ. Khác với mọi hôm, phần vì đi ngủ quá sớm, phần vì trước sự thay đổi tính tình của mẹ, thằng Lập cứ trở mình mãi. Như Luyến phát cho nó một cái vào mông, thật đau, miệng quát:

- Mầy có chịu ngủ đi không nào?

Thằng bé tủi thân, òa khóc. Chưa bao giờ nàng lại đánh con một cách vô lý như vậy. Nhưng rồi giấc ngủ hồn nhiên đã đến với thằng bé.

Còn Như Luyến thì vẫn mở mắt, nhìn lên trần nhà. Nàng đợi Kinh Kong. Người lạ mặt kia sẽ đến đây hay nàng sẽ đến gần rạp chiếu bóng trao tài liệu cho hắn? Nàng không biết nữa.

Đúng 11 giờ 20 phút, chuông điện thoại trên bàn đêm reo vang. Như Luyến không nhận ra tiếng Kinh Kong mà là tiếng một người chưa quen biết:

- 10 phút nữa, Kinh Kong sẽ đến nhà bà. Yêu cầu bà mở khóa cổng và nhốt ba con chó lại.

Có thế thôi. Nàng muốn trả lời, đề nghị một chỗ khác nhưng đầu giây bên kia đã cắt. Nàng đành lấy gối kê bên cạnh cho con ngủ, đoạn lấy chìa khóa ra mở cổng. Phiền phức nhất là việc nhốt ba con bẹt-giê vào ga-ra. Nhốt chúng vào là chuyện dễ, nhưng ngăn không cho đánh hơi người lạ là chuyện khó, hoặc không thể được. Loại chó này đã được huấn luyện đặc biệt để giữ nhà ban đêm, mọi hơi khả nghi đều lọt vào mũi chúng. Nhưng Kinh Kong bắt nàng phải gặp hắn ở biệt thự của nàng kia mà… Trót đâm lao phải theo lao, nàng đành nhắm mắt nghe lời hắn. Như Luyến đang loay hoay với ly rượu mạnh trên tay mà nàng rót uống lấy sức thì Kô-băng đã mở cửa bước vào lúc nào không biết. Vào xong, hắn quái tay tắt ngọn đèn ngoài hành lang mà nàng để quên, lúc ra sân nhốt chó. Như Luyến không giấu được ngạc nhiên. Hiểu ý nàng, Kô-băng cười xào:

- Bà cứ lo ba con bẹt-giê nhốt trong ga-ra sẽ đánh hơi thấy khách lạ chứ gì?

Như Luyến gật đầu. Kô-băng cười ngất:

- Loại chó của bà rất khôn, rất thính nhưng chỉ khôn chỉ thính với người không quen nghề thôi. Không giấu gì bà, nếu bà để chúng ngoài vườn, tôi không cần giết cũng có thể đột nhập dễ dàng.

Như Luyến đưa tay lên miệng:

- Xin ông nói nhỏ kẻo u già dưới nhà thức dậy. U ấy tỉnh ngủ lắm đấy.

Kô-băng lại cười, lần này to hơn:

- Tôi đã bảo bà yên tâm mà. Đêm nay u già sẽ ngủ say hơn mọi đêm, thưa bà…

Nàng nhìn tận mắt Kô-băng, giọng gắt gỏng:

- À ra các ông đánh thuốc mê cho u già? Còn con tôi nữa, nó có việc gì không?

Kô-băng vắt chân chữ ngũ, rít một hơi thuốc lá thơm:

- Thưa bà, cháu Lập không hề gi đâu. Còn u già là tại u ấy tỉnh ngủ nên tôi phải bắt ngủ say đi đấy chứ! Tôi giữ tiếng cho bà, bà còn trách móc nữa ư? Nhường ấy việc chứng tỏ chúng tôi không cẩu thả, phải không thưa bà? Cũng may bà nghe lời tôi hôm qua, không báo với công an, chứ nếu bà….

- Tôi chả dại cho công an biết.

- Chính thế. Bà cũng thông minh lắm, nên tôi khỏi cần dặn nhiều. Bây giờ vào việc, cái danh sách bà hứa đêm qua đã có chưa?

- Có rồi. Ông hẵng đưa cái phim ấy cho tôi đã.

Kô-băng nheo con mắt dưới cặp kính cận thị giả, và nói với thiếu phụ, giọng hài hước:

- Trời ơi, bà sợ tôi lường gạt bà ư? Nhưng thôi, bà đã chắc lép tôi cũng xin chiều ý. Bà xem cho chán đi rồi đưa tài liệu kia cho tôi.

Như Luyến run run cầm lấy miếng phim mỏng dính màu đen, đoạn dơ lên ánh đèn xem. Rõ ràng là phim chụp tấm thẻ đảng viên của Túc Lăng. Nàng đã cầm được trong tay bức tài liệu làm hại thanh danh của chồng nàng. Dưới suối vàng, Túc Lăng sẽ ngậm cười sung sướng.

Như Luyến mở xắc, trao mảnh giấy đánh máy gập tư cho Kô-băng. Không cần mở ra coi, y thản nhiên bỏ vào túi trong áo vét-tông. Sự thản nhiên đó khiến Như Luyến chột dạ. Nàng hỏi:

- Tại sao ông không xem có đúng bản tài liệu ông cần không?

Kô-băng nghiêng mình thi lễ:

- Cám ơn bà đã quan tâm. Khỏi phải coi, tôi cũng biết là thật rồi. Thôi cám ơn bà và chào bà.

Trút được gánh nặng ngàn cân, Như Luyến nói với Kô-băng:

- Mẹ con tôi chỉ xin ông một điều: bây giờ các ông mãn nguyện rồi, xin đừng sách nhiễu gia đình tôi nữa. Ông có can đảm cam kết như vậy không?

Kô-băng nghiêng mình chào lần nữa:

- Tôi xin hứa với bà.

Trước khi ra cửa, Kô-băng dừng lại một giây, đoạn cầm lấy tay nàng đưa lên môi hôn. Trong lúc quá sung sướng vì lấy lại được mảnh phim, Như Luyến quên bẵng cử chỉ xuồng xã ấy. Mãi đến khi cánh cửa ra vườn khép lại, nàng mới nhớ ra Kinh Kong đã nắm lấy tay nàng một cách thân mật.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đêm đó Như Luyến ngủ vùi như một đứa trẻ. Sáng nàng dậy trưa, quên cả giờ đi làm. Thấy nàng trong phòng đi ra, vẻ mặt tươi tỉnh, u già đon đả:

- Thưa cô, ông Trung vừa gọi giây nói cho cô, hỏi cô hôm nay cô đã khỏe chưa. Nghe nói cô còn ngủ, ông ấy dặn cháu nói lại với cô rằng ông ấy đã xin phép cho cô rồi, cô cứ ở nhà nghỉ cho khỏe.

Đến lúc đó, nàng mới nhớ tới thái độ khó hiểu của mình đêm qua ở câu lạc bộ. Nàng sốt ruột, muốn gặp Đoàn Trung ngay để xin lỗi. Như Luyến không phải đợi lâu. Đoàn Trung lại gọi giây nói cho nàng. Sự thay đổi đột ngột của nàng càng làm cho Đoàn Trung nghi ngờ thêm. Đến sáng, chàng đã biết chắc một chuyện khó hiểu vừa vò xé tâm hồn Như Luyến trong nội ngày hôm qua. Vui như chim sơn ca, Như Luyến xin lỗi Đoàn Trung và cám ơn chàng rối rít. Đoàn Trung cũng lây cái vui của nàng. Chàng đề nghị:

- Mai ngày lễ, em đi Vũng Tầu chơi nhá?

Như Luyến đáp:

- Không, đợi đến mai lâu quá. Em muốn đi ngay bây giờ kia.

- Đi ngay bây giờ thì em đã sửa soạn xong đâu?

- Em biết anh bằng lòng nên đã sửa soạn rồi.

- Thế thì đi, nhưng hẵng đợi anh báo tin nghỉ đã chứ? Không biết họ có chịu cho anh đi khỏi hộ vệ không? Có người kè kè bên mình thì còn gì thú nữa?

- Phải đấy. Em ghét có người đi theo lắm!

Đoàn Trung điều đình với ban an ninh của Trung Tâm. Sau gần một giờ thuyết phục, Đoàn Trung vẫn đụng phải một bức tường sắt. Viên chỉ huy nhất định từ chối đề nghị của chàng. Sau cùng, Đoàn Trung phải nhận một giải pháp trung dung: chiếc xe hộ vệ cũng vẫn đi theo, nhưng sẽ đi sau xe chàng năm trăm thước, và đoàn vệ sĩ sẽ không phiền nhiễu chàng trong thời gian chàng nghỉ mát ở Cấp.

Như Luyến tạm quên được Kinh Kong. Hạnh phúc như cánh tay âu yếm của người mẹ giang rộng ra ôm chặt lấy nàng. Trên chuyến xe ra Vũng Tàu, Như Luyến tràn trề hy vọng. Nàng thấy mọi vật tươi vui như hồi nào nàng còn là con gái:

- Đố mẹ cái gi đây?

Thàng Lập bận xì-líp xanh, quỳ trên cát, bên cạnh đống xẻng, cuốc tí hon, và đào một cái mương dài, đố Như Luyến. Nàng mỉm cười:

- Con sông chứ còn gì nữa?

Thằng bé lấy xẻng vun cát lại thành một đống cao:

- Lại đố mẹ nữa đấy.

Như Luyến phì cười trước cử chỉ thơ ngây của con:

- Trái núi.

Thằng Lập cười phá lên như bị ai cù vào nách:

- Mẹ giỏi quá!

Như Luyến liền nghĩ trò vui cho con chơi:

- Bây giờ đến lượt mẹ đố con nhé.

Thằng Lập gật đầu. Như Luyến liền đắp một cái tháp rõ cao, trên đỉnh để một cái thùng tưới nước nhỏ xíu, và nhìn con, đợi trả lời. Thằng Lập trề môi đáp:

- Tưởng gì, chỉ có thế thôi mà mẹ cũng đố con. Thằng Kinh Kong chứ còn ai nữa!

Như Luyến đau nhói ở tim. Mặt nàng tái mét như mất máu. Sau nửa tháng sống yên ngoài Cấp, trong tiếng gió biển, tiếng sóng vỗ vào bãi cát, Như Luyến đã trở lại với hy vọng thường ngày, đột nhiên nàng nhớ đến những kỷ niệm gớm ghiếc mà nàng nguyện sẽ quên cho bằng được. Kinh Kong! Kinh Kong!

Nửa tháng trước, khi ban kịch đài phát thanh diễn vỡ Kinh Kong thì Kinh Kong bằng xương bằng thịt hiện ra, vò xé lương tâm nàng. Liệu lần này, sau lời nói vô tình của thằng Lập, Kinh Kong có còn ám ảnh nữa không?

Dưới ánh nắng rực rỡ, sóng vỗ rạt rào, Những cặp trai gái mặc đồ tắm nhiều màu đùa rỡn bên nhau, chung quanh Như Luyến, mọi vật đều vui. Riêng có nàng không vui.

Như Luyến uể oải đứng dậy, dắt con về khách sạn. Nàng thấy sờ sợ. Nhưng lại trấn tĩnh được ngay. Kinh Kong muốn hăm dọa nàng thì ít nhất cũng phải giữ trong tay một tài liệu nào tố cáo Túc Lăng chứ? Tấm thẻ đảng viên, Kinh Kong đã trả lại. Không lẽ còn những giấy tờ khác nữa? Dẫu có, nàng cũng nhất định cự tuyệt. Nàng không thể phản bội. Mẹ con nàng thuê một căn phòng rộng, có bếp riêng, ở một khách sạn sang trọng, trông ra biển. Lệ thường, sau khi tắm sáng về, thằng Lập ra chợ chơi với u già.

Nó sà vào lòng mẹ, hôn vào mặt, vào má.

Thằng Lập đi rồi. Như Luyến ngồi trên lầu, nhìn qua khung cửa mát dịu. Dáng đi thoăn thoắt của thằng Lập sao giống cha nó thế. Chợt có tiếng gõ cửa lách cách. Đoàn Trung chăng? Không có lẽ. Chốc nữa chàng mới xuống kia mà. Vả lại, chàng có thói quen gõ cửa đâu. Mỗi khi đến phòng nàng, chàng thường đập cả bàn tay vào cửa. Hay là Kinh Kong? Kinh Kong? Kinh Kong tìm nàng làm gì? Cánh cửa mở rộng. Người khách gõ cửa là Kinh Kong thật! Như Luyến ngồi yên trên ghế, đôi mắt nhìn thẳng vào mặt Kô-băng như có vẻ thách thức. Nicôlai Kô-băng cúi đầu chào một cách rất tài tử sân khấu, khiến nàng cau mặt:

- Kính chào bà.

Như Luyến hất hàm:

- Ông còn muốn gì nữa?

Không đáp, Kô-băng tiến lại tủ buýp-phê, rót một ly cỏ-nhác uống, miệng khen:

- Chà, bà có thứ cỏ-nhác ngon quá!

Tuy Kô-băng ăn mặc tề chỉnh, bảnh bao, với bộ đồ đa-crông màu mỡ gà, đôi giày trắng, chiếc cà-vạt chấm vàng; Như Luyến vẫn thấy hắn đểu giả, gớm ghiếc.

Nàng nhắc lại câu hỏi lúc nãy:

- Ông còn muốn gì nữa? U già sắp về rồi đấy!

Kô-băng cười đĩ thỏa:

- Bà không phải lo. Một giờ nữa thằng Lập và u già mới về.

Như Luyến chột dạ. Kinh Kong như ma xó, cái gì cũng biết. Thế mà từ nửa tháng nay nàng cứ đinh ninh rằng được sống yên ổn một mình, xa con mắt địch. Nàng liền sẵng tiếng:

- Tại sao hôm nọ ông cam kết không phiền nhiễu tôi nữa?

Gạt tàn thuốc vào một cái đĩa sứ màu hồng, Kô-băng đáp:

- Thưa bà, đó là vạn bất ắc dĩ. Tôi chỉ dám quấy rầy bà một lần nữa thôi, một lần cuối cùng mà thôi.

Như Luyến cười nhạt:

- À, bây giờ tôi hiểu các ông rồi. Tôi hiểu cái danh dự cam kết của đảng ông rồi. Mấy năm trước, chồng tôi cũng được các ông hứa như vậy.

Kô-băng cười khẩy:

- Bà muốn nhắc đến Túc Lăng ư? Có lẽ chồng bà không nói cho bà biết thì phải. Chúng tôi không cam kết gì với chồng bà cả.

Như Luyến đáp, giọng tức tối:

- Các ông không biết rằng trước khi chết, chồng tôi đã viết thư lại cho tôi, kể lại cái âm mưu đen tối của các ông rủ rê vào Đảng và hứa hẹn này nọ. Bây giờ không phải là lúc lường gạt, đóng kịch nữa. Tôi không còn gì để nộp cho các ông nữa. Nộp cả cuộc đời của Túc Lăng cho các ông mà các ông còn chưa mãn nguyện hay sao?

Kô-băng vẫn không đổi sắc diện:

- Hừ, bà đã gây ra thì tôi cũng sẵn sàng. Bà đã muốn chúng tôi phải làm mạnh, chứ quả tâm chúng tôi không muốn như thế.

Như Luyến không chút sợ hãi, đáp lại giọng rắn chắc:

- Đó, bây giờ ông muốn làm gì thì làm? Ông nên nhớ rằng tôi có người gác ở tầng dưới, tôi chỉ la một tiếng là ông mất mạng ngay.

Kô-băng cười ngất:

- Tôi xin bà dành những cái dọa đó cho người khác. Tôi có ám sát bà hay cưỡng hiếp bà đâu mà la rầm lên? Tôi chỉ muốn bà biết nghĩ chín chắn thêm một chút. Hiện tôi còn một cái giấy nữa của chồng bà. Giấy trên có những chữ ký của chồng bà mỗi khi nhận tiền của chúng tôi. Tôi chắc bà không thích cho mảnh giấy này lạc đến văn phòng công an hoặc bàn giấy của bác sĩ Đoàn Trung vì vậy tôi đến thương lượng với bà.

Câu nói bình thản của Kô-băng như tiếng sét đánh bên tai Như Luyến. Nàng lặng đi. Nàng không ngờ lại còn miếng giấy quái ác ấy nữa. Nếu tấm thẻ đảng viên lạc vào tay công an thì người ta sẽ bảo rằng Túc Lăng là cộng sản không thôi, chứ còn mảnh giấy kia, nó sẽ tố cáo Túc Lăng là gián điệp ăn lương của cộng sản. Biết mình đánh trúng, Kô-băng nhoẻn miệng cười:

- Bà đã thấy chưa? Tôi tin bà sẽ điều đình với tôi để lấy lại những tài liệu ấy. Xin bà nhớ cho không phải một chữ ký của chồng bà mà là nhiều chữ ký. Túc Lăng đã ký tên nhận tiền mười lần cả thảy. Tôi đã mang sẵn mười tấm giấy nhận tiền do chồng bà ký cho bà. Bà muốn xem thì đây.

Kô-băng đưa cho nàng một tấm phim ảnh. Nàng cầm lại vbàn giấy vặn đèn lên xem, đúng chữ ký của Túc Lăng. Mỗi khi nhận tiền, Túc Lăng lại còn ghi ngày tháng và chỗ nhận nữa. Tấm phim này chụp mười miếng giấy nhận tiền. Như Luyến thẩn thờ trả tấm phim cho Kô-băng. Y lắc đầu:

- Không, tôi đưa cho bà đấy. Bà cần có thì giờ xem lại kỹ có phải đúng bút tích của chồng bà hay không!

Giọng nàng khàn khàn:

- Bây giờ ông muốn tôi chuộc lại bằng gì? Ông muốn nhận tiền thì bao nhiêu tôi cũng cố chạy ra bằng được.

Kô-băng ngồi yên không đáp. Như Luyến tiếp:

- Ông chịu không? Tôi còn một tiệu đồng gửi trong ngân hàng, nếu ông thỏa thuận tôi sẽ viết chi phiếu ngay bây giờ.

Kô-băng lắc đầu:

- Một triệu còn ít lắm.

- Tôi sẽ bỏ thêm nữ trang vào.

Chỉ cái nhẫn và cả quả tim nhận kim cương óng ánh. Như Luyến van nài:

- Hai món này cũng được gần một triệu, tính theo thời giá. Tất cả hai triệu, ông chịu không?

Kô-băng xua tay:

- Chúng tôi không cần tiền. Mà là cần việc. Chúng tôi cần bà giúp cho một việc nhỏ mọn như lần trước.

À ra thế, tưởng gì? Như Luyến thở phào ra một cái. Kô-băng rót một ly huýt-ky bưng tận miệng cho nàng uống:

- Bà xanh lắm. Bà uống cho lại người.

Như cái máy, Như Luyến uống một hơi cạn ly rượu đầy ắp. Đợi nàng uống xong, Kô-băng mới chậm rãi nói:

- Cái mà chúng tôi cần, không vượt qua khả năng của bà. Bà muốn chúng tôi không phiền nhiễu nữa thì hãy chụp cho một cuốn phim về những công việc mà bác sĩ Đoàn Trung đương làm.

Như Luyến buột miệng:

- Trời, prô-péc-gôn ấy à?

Kô-băng gật đầu:

- Phải, cái tài liệu về prô-péc-gôn và cái công thức chế tạo mà ông ta vừa tìm ra.

Như Luyến thở dài đánh sượt:

- Tài liệu đó thì tôi chịu, tôi không biết cất ở nơi nào. Vả lại, nếu tôi biết, tôi cũng không dám đụng tới. Tôi không muốn noi gương xấu của chồng tôi, tôi không phải là kẻ ăn cắp tài liệu.

- Bà lại hiểu lầm rồi. Đây là bà cứu chồng bà chứ đâu phải làm chuyện gì sằng bậy?

- Không, không, tôi không thể lấy được cái đó cho ông. Tôi không biết.

- Sao bà không biết? Bà là thư ký của ủy ban nghiên cứu. Có phiên họp nào của ủy ban mà bà không dự? Có tài liệu nào về công cuộc tìm tòi không qua văn phòng của bà?

Kô-băng quả là ma xó. Cái gì xảy ra ở nhà nàng, ở Trung Tâm Thủ Đức, y cũng biết vanh vách. Nàng chống chế:

- Vẫn biết qua tôi, nhưng là qua từng đoạn một. Đoàn Trung tìm ra đến đâu trao cho tôi, nhưng tôi nhớ sao hết.

Kô-băng gạt đi:

- Không, tôi muốn tài liệu hẳn hoi do Đoàn Trung rút lại, chứ không phải cái bà nhớ lỏm bỏm trong óc. Tài liệu ấy trong phòng tình nhân của bà.

Nếu là ngày thường, Như Luyến đã cự nự Kô-băng vì danh từ "tình nhân" sai chỗ ấy. Nàng chỉ đáp một cách buồn bã:

- Tôi không thể ăn cắp được. Tôi không thể phản bội được. Ông muốn xử trí ra sao, tùy ý. Tôi nhất định từ chối.

Mà nàng từ chối là phải! Prô-péc-gôn là một thứ nhiên liệu dùng để chạy hỏa tiễn. Sở dĩ hỏa tiễn xuyên lục địa còn chậm phát minh vì trên thế giới chưa có nhiên liệu nào tuyệt hảo. Đoàn Trung vừa khám phá ra một thứ prô-péc-gôn mới, mà sự xử dụng có thể đánh nghiêng cán cân lực lượng về phe dân chủ được. Việc phát minh này được giữ rất kín. Đó là sự thành công vẻ vang sau 5 năm làm việc thường xuyên và cố gắng của nhà bác học nguyên tử Đoàn Trung. Thế mà địch cũng phong thanh biết! Nhưng không, nàng không thể mềm yếu đến mực ấy. Mấy năm trước chồng nàng đã ăn cắp công thức một thứ kim khí chế hỏa tiễn trao cho Nga Sô. Chồng nàng đã chết vì hối hận. Nàng không thể đi lên trên vết xe đổ của chồng.

Tiếng của Kô-băng vẫn đều đều:

- Cái đó tùy bà, tôi không ép, nhưng trưóc khi cáo biệt bà, tôi cần nhắc một điều nữa: nửa tháng trước, bà trao cho tôi một bản danh sách vật liệu của Trung Tâm. Danh sách này do bà đánh máy lại, và còn nguyên cả dấu tay của bà. Bà bảo rằng không muốn ăn cắp tài liệu, nhưng bản danh sách này chứng tỏ hùng hồn bà đã dúng tay vào. Bà không phản bội nhưng trên thực tế bà đã nhận yêu sách của tôi và trao tài liệu cho tôi.

Như Luyến nghiến răng lại:

- À, ra ông lừa tôi lấy bản danh sách không quan trọng trước để nắm lấy bút tích của tôi và cưỡng bách tôi phải nhận lời đánh cắp tài liệu prô-péc-gôn. Không ngờ các ông lại đáng khinh đến thế?

Nghe nàng nhục mạ, Kô-băng vẫn cười:

- Tôi sẵn sàng cho bà nghĩ kỹ trước khi nhận lời. Đến mai, nếu bà đồng ý, chỉ cần mở cái cửa sổ phòng học của thằng Lập nhìn ra đường và vặn cây đèn treo tường lên, vào lúc 11 giờ khuya. Thế thôi. Chào bà.

Nhưng Như Luyến không chịu cho Kô-băng ra về yên ổn. Trong cơn giận dữ không kềm hãm được, nàng nhảy bổ lại phía Kô-băng tát vào mặt y. Kô-băng không thèm đỡ lại. Nàng càng giận thêm, móng tay sắc nhọn của nàng cào thật sâu vào má Kô-băng. Y lẵng lặng đẩy nàng ra rồi rút khăn mặt lau giòng máu ri rỉ trên má. Đoạn chẳng nói nửa lời, Kô-băng mở cửa ra ngoài. Cái đĩa hồng gạt tàn thuốc lá bị Như Luyến cầm lấy lao luôn vào đầu Kô-băng. Không trúng người, chiếc đĩa bất hạnh trúng vào lọ hoa pha-lê xinh xinh, để trên cái giá bên cửa. Cả đĩa hồng lẫn cái lọ vỡ tan trên nền gạch hoa đỏ chói. Như Luyến ôm mặt khóc như đứa trẻ. Đoàn Trung đứng sững trong khung cửa từ lúc nào mà Như Luyến không biết. Chàng nhìn lọ hoa và cái đĩa gạt tàn thuốc lá vỡ từng mảnh nhỏ, trong lòng phân vân lạ thường. Như Luyến vừa ném ai xong? Vì sao nàng lại bẵn tính như vậy? Khi thấy Đoàn Trung, đột nhiên cơn giận lúc nãy, Như Luyến trút vào đầu chàng. Nàng đứng hẳn dậy, quát to:

- Anh xuống đây làm gì?

Như Luyến trông như người điên. Đoàn Trung đáp:

- Em gọi giây nói bảo anh xuống đưa em và con đi Long Hải.

Nghe tình nhân nói ngọt ngào, thân thiết khác hẳn giọng Kinh Kong lúc nãy, nàng tỉnh mộng, ôm đầu khóc nức nở. Đoàn Trung dìu nàng lại giường, rót nước cho uống rồi vừa vuốt mái tóc vừa hỏi:

- Em có chuyện gì giấu anh đó? Nói ra để anh giúp cho.

Nàng lắc đầu, chối không. Đoàn Trung khẩn khoản:

- Em đã nhận lời làm vợ anh, em quên sao? Anh xuống hôm nay mục đích bàn với em về chi tiết của cuộc hôn nhân. Em có chuyện gì ấm ức trong lòng hãy nói cho anh, anh giải quyết giùm cho.

Nàng vẫn lắc đầu. Lát sau nàng mới nói, vẻ mệt mỏi:

- Anh tha thứ cho em. Anh cũng không giúp được em đâu. À, em có chuyện gì bứt rứt đâu mà anh giúp. Em vốn tính thất thường, khi vui, khi giận như vậy. Em không xứng làm vợ anh đâu. Anh đừng hỏi em nữa vô ích.

Nói xong, nàng nhắm nghiền đôi mắt giả vờ ngủ. thằng Lập và u già đi chợ về đứng quanh giường. Đoàn Trung hỏi u già:

- Cô có bao giờ gắt gỏng như vậy không?

U già đáp:

- Thưa không, cháu làm cho cô từ ngày thằng Lập chưa sinh mà chưa bao giờ nghe cô nói nặng. Làm gì có chuyện đập vỡ đĩa và lọ hoa như thế này! Chắc có cái gì cô cháu giấu chứ chẳng không?

Như Luyến mở choàng mắt, gắt u già:

- Ai cho phép u nói thế?

- Cháu không biết, cháu xin lỗi cô.

Đoàn Trung gọi giây nói cho ban cấp cứu của khách sạn. Ba phút sau, một nữ điều dưỡng xinh xắn, bận áo choàng trắng tinh, mở cửa phòng vào, trên tay cầm cây kim tiêm và ống thuốc moọc-phin. Nhưng Như Luyến nhất định không chịu chích. Nàng ngồi nhỏm dậy sai u già:

- U sửa soạn để tôi về Sàigòn ngay bây giờ.

Đoàn Trung kinh hoàng:

- Em còn mệt, về sao được?

Như Luyến cười gượng:

- Em hết mệt rồi. Lệ thường, em vẫn choáng váng như vậy. Có lẽ tim không được khỏe.

Đoạn nàng ngoảnh sang phía cô y tá:

- Cám ơn cô. Tôi không quen tiêm moọc-phin.

Người nữ điều dưỡng cáo từ ra ngoài. Đoàn Trung khẩn khoản:

- Đợi đến chiều về được không em?

Như Luyến lắc đầu thở dài. Đoàn Trung nhấn mạnh một điểm tâm lý:

- Em giục anh xuống, anh vừa mới đến mà đã hối hả về ngay. Em không chiều anh một chút được hay sao?

Như Luyến buông thõng:

- Không.

U già đương đóng va-li, nghe Như Luyến đáp cộc lốc phải đứng sững lên, nét mặt vô cùng kinh ngạc. Lần đầu u nghe nàng nói một cách khiếm nhã như vậy, nhất là đối với nhà bác học Đoàn Trung, người mà nàng kính trọng, thương yêu từ lâu nay. Biết người yêu bị loạn trí, Đoàn Trung không muốn hỏi gặng nàng nữa. Như cái máy, chàng chất đồ đạc của Như Luyến vào thùng xe rồi vặn lái trở về Sàigòn. Như Luyến đã lấy lại vẻ bình tĩnh thường nhật. Cặp mắt nàng hết lờ đờ, mệt mỏi, trái lại sáng lên một cách ngạo nghễ. Như Luyến vừa có một quyết định ghê gớm. Nàng sẽ nhận lời đánh cắp tài liệu nguyên tử trao cho Kinh Kong.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:43 pm

Phần Sáu. Và đây là Z.28

Vừa ở Đà Lạt một tháng dài nên Văn Bình trông có vẻ khoan khoái và tươi tỉnh. Lần này bị gọi về làm việc, chàng không trách móc ông Hoàng nữa.

Cửa vừa mở, Văn Bình thoáng gặp một Nguyên Hương ngồi dán mắt vào cái máy chữ điện to tướng, hình như không để ý đến chàng nữa. Đã quen với tính giận hờn thường xuyên của cô thư ký trẻ đẹp, con nuôi ông tổng giám đốc Mật Vụ già cằn, Văn Bình vẫn tảng lờ như không biết. Chàng kéo ghế ngồi trước bàn máy chữ rút gói Sa-lem ra hút một cách thản nhiên. Chiếc máy chữ lại kêu lóc cóc. Văn Bình hút hết nửa điếu thuốc. Mắt chàng đăm đăm nhìn vào mớ tóc đen nhánh của Nguyên Hương. Thảo nào! Nàng giận là phải. Nàng mới có bộ tóc đuôi ngựa đa tình, vắt vẻo trên cái gáy trắng muốt như ngó sen mà chàng không biết lựa lời khen một tiếng. Nhưng rồi không lẽ lại giận mãi? Còn công việc nữa chứ? Chàng phải về Sở vì một công tác gấp, há Nguyên Hương không biết sao? Vì vậy chàng cứ hút thuốc ngồi đợi. Căn phòng làm việc của nàng quét một màu xanh dễ thương. Phía sau Nguyên Hương là khung cửa sổ rộng bát ngát, nhìn thẳng ra cửa sông Sàigòn. Ngọn gió buổi sáng quạt vào phòng, mang theo mùi muối mặn của thuyền bườm đậu trên bến. Văn Bình có cảm giác Nguyên Hương cũng mằn mặn như mùi gió. Bất giác chàng phá lên cười. Hình như cũng chỉ đợi chàng nhếch mép, cô thư ký có khuôn mặt diễm lệ, thân hình như đào chiếu bóng Tây phương ưỡn ngực ra phía trước, giọng hờn rỗi:

- Không dám, chào anh. Ở trên đó chắc thú lắm nhỉ?

Lại ghen rồi! Văn Bình nghĩ thầm. Chàng liền đáp:

- Lạnh chết. Anh có dám đi đâu đâu?

Nguyên Hương mỉm cười:

- Định giận anh thật nhiều, nhưng hễ gặp anh là hết. Thế mới biết….

- Thế mới biết mãnh lực của nhớ nhung phải em?

Nguyên Hương dề môi:

- Đừng tưởng? Em định rủa anh, đâu phải hết giận vì nhớ anh. Cái ngữ nói dối ấy, ai chả biết.

Văn Bình nắm cánh tay Nguyên Hương lôi về phía mình. Cô thư ký không cưỡng lại. Văn Bình đặt cái hôn nồng nàn trên môi. Nguyên Hương ngoạm vào má chàng một cái. Rồi bỗng nàng gỡ ra, tát vào má bên kia Văn Bình. Văn Bình vẫn ghì chặt Nguyên Hương vào giữa kềm tay và hôn lần nữa lâu hơn, và lần này thì nàng hết giận, hết ghen và chịu phục hoàn toàn. Tiếng ông Hoàng khàn khàn qua máy phóng âm trên bàn giấy:

- Z.28 đến chưa?

Ra cái ông Hoàng bao giờ cũng can thiệp vào lúc người ta muốn cô đơn nhất! Buông Văn Bình ra, Nguyên Hương đáp, cũng đáp qua máy phóng âm, ăn thông với phòng ông Hoàng:

- Thưa, đến rồi.

Tiếng ông Hoàng:

- Cho vào ngay đi.

Nàng bấm cái nút điện. Một cánh cửa bí mật bên bàn giấy mở ra, một quân nhân cao lớn, đeo súng máy bước vào. Lần này ông Hoàng đặt tổng hành doanh trong một cái binh-đinh cao mười tầng ở trung tâm thành phố Sàigòn. Văn Bình lên trước một cánh cửa sắt gắn vào tường bê-tông. Ở phòng tiếp khách, Nguyên Hương ấn nút điện báo hiệu cho ông tổng giám đốc. Trong phòng riêng, ông Hoàng ấn một cái nút đỏ, nút mở cửa. Vì điều kiện an ninh, cửa ra vào phải mở bằng hơi điện và nút mở ở trong văn phòng ông Hoàng.

Cánh cửa đồ sộ dạt sang bên. Văn Bình vừa bước chân vào nơi bí mật nhất của quốc gia. Nhưng nếu cảnh trí thay đổi thì ông Hoàng vẫn là ông già hiền lành chậm chạp như cũ. Chỉ cái ghế bành đỏ, mời chàng ngồi, ông Hoàng cười mỉm:

- Khỏe hẳn rồi chứ?

Văn Bình ngạc nhiên:

- Thưa ông, tôi có ốm bao giờ đâu mà chẳng khỏe?

Hình như hỏi câu đó lấy lệ và không lưu ý đến câu trả lời của Văn Bình, ông Hoàng tiếp

- Lại có việc làm rồi đấy. Lần này thì ở Sàigòn.

Văn Bình gạt tàn vào một cái bát màu xanh:

- Ở đây chán chết, ông giao cho công an có phải hơn không?

Ông Hoàng lắc đầu:

- Anh đừng tưởng hễ xảy ra ở đây là không quan trọng. Trái lại, vì vậy tôi mới quyết định gọi anh về.

Văn Bình sốt ruột:

- Việc sao thưa ông?

Ông Hoàng nhấc đôi kính, rút một miếng da tí hon trong túi áo ra lau một cách chăm chú:

- Thoạt đầu là một công tác viên của ta bị giết.

Văn Bình mỉm cười:

- Bất cứ vụ nào chẳng khởi đầu bằng cái chết của một người của ta?

Giọng ông Hoàng đột nhiên rắn lại:

- Bao giờ anh cũng châm biếm cả! Đây không phải là một cái chết tầm thường. Nhưng anh yên để tôi nói rõ cho nghe. Chắc anh đã biết ta có khá nhiều công tác viên ngoại quốc. Trong số đó có một người tên Sa-tô-đa, thuyền trưởng tàu Hokan Maru.

- Tàu Hokan Maru vừa ghé bến và vừa xảy ra mấy vụ ám sát chứ gì?

Ông Hoàng đeo kính lên mắt, hai tay xoa vào nhau:

- Chính tàu ấy. Sa-tô-đa làm với tôi đã lâu, đồng thời y lại làm cho R.U. Nhật và Viễn-Đông nữa.

Văn Bình buột miệng:

- À ra thế?

Ông Hoàng nói tiếp:

- Tàu Hokan Maru là của một công ty hàng hải tư nhân Nhật-Bản. Tàu này chạy trên các vùng bể chở nhân viên R.U. tới những nơi mà họ muốn thâm nhập. Họ trả tiền hậu hĩ lắm, nhưng họ quên một điều là Sa-tô-đa vừa lấy tiền của họ vừa báo tin cho ta biết. Mọi lần trước đều trôi chảy cả. Nhưng lần này….

- Sa-tô-đa bị giết.

- Phải, y bị giết và ném xác xuống thương khẩu.

- Như vậy có nghĩa là đối phương biết Sa-tô-đa làm việc với ta?

- Cũng có thể có, cũng có thể không. Nhưng điều đó không cần vì Sa-tô-đa đã chết. Điều mà ta có thể chắc trăm phần trăm là Sa-tô-đa chỉ có nhiệm vụ đưa điệp viên R.U. tới các hải cảng mà thôi. Tàu Hokan Maru ghé Sàigòn. Sa-tô-đa bị giết có lẽ vì một nhân viên R.U. lên bộ không muốn cho y biết tông tích.

- Tôi tin như thế. Tại sao các báo lại loan tin thủy thủ Ma-Tê giết Sa-tô-đa và cô nhân tình lai Pháp trên tàu Hokan Maru, sau đó tự sát bằng súng lục ở Lăng Tô?

- Đó chỉ là sự dàn cảnh của địch. Nhưng vì họ làm vội vã quá nên còn để lại hớ hênh. Nếu xác chết ở Lăng Tô quả là thủy thủ Ma-Tê, tại sao trên tay lại đeo nhẫn cưới bằng vàng làm tại Sàigòn? Các chuyên viên của ta quả quyết đó là nhẫn mua ở Sàigòn. Theo danh bộ, Ma-Tê trên 30 tuổi. Thế mà căn cứ theo các khớp xương, người ta biết nạn nhân chỉ độ hai mươi là cùng. Theo tôi, địch đã giết một người khác thế cho Ma-Tê để công an xếp chuyện này lại, còn Ma-Tê thực thụ thì tha hồ hành động.

- Nhưng ít nhất cũng phải có người thế?

- Đó mới phức tạp, vì cho tới nay đã hơn tháng mà chưa có ai trình báo có thân nhân mất tích. Tuy nhiên, tôi tin chắc họ dàn cảnh để nhờ tin tức sau đây.

Ông Hoàng nghỉ một phút, uống cạn cốc nước bạc hà xanh xanh để trước mặt, đoạn tiếp

- Nhờ một công tác viên ở Mạc-tư-khoa.

Văn Bình kêu "à" một tiếng, tỏ dấu kinh ngạc. Ông Hoàng lục trong hồ sơ lấy ra một tập giấy, lúi húi đọc một lúc, rồi nói:

- Z.501 ở một trung tâm nghiên cứu gần Mạc-tư-khoa cho biết R.U. Viễn-Đông vừa gửi về phim chụp tài liệu viết bằng tiếng Việt. Đó là bản danh sách các vật liệu mà Trung Tâm Nguyên Tử Thủ Đức thường dùng hàng tháng. Vì điều kiện an ninh, Z.501 không chụp lại được mà chỉ thông báo cho ta biết một vài chi tiết mà thôi. Chẳng hạn như cái máy chữ đánh bản tài liệu kia là máy Olympia, và tờ giấy dùng lại là giấy có đề hiệu của Trung Tâm.

- Như vậy chứng tỏ một nhân viên trong Trung Tâm Nguyên Tử đã bán tin cho địch.

- Đúng. Lý thú nhất là bản tài liệu kia được gửi về Nga đúng một tuần sau khi xảy ra vụ Sa-tô-đa ở thương khẩu.

Văn Bình đứng lên, bẻ tay kêu răng rắc:

- Nhiệm vụ của tôi là khám phá xem ai là tay sai của R.U. ở Trung Tâm Thủ Đức phải không ông?

Ông Hoàng xua tay:

- Nếu chỉ có thế thì tôi đã giao cho công an và không triệu anh về. Cho tới nay, nếu tôi không lầm, ta đã biết được người trao tài liệu cho địch.

Văn Bình trợn tròn đôi mắt:

- Nếu đã biết tên thì còn nhờ đến tôi làm gì nữa?

Vẫn cái giọng đều đều, ông Hoàng nói tiếp:

- Theo thường lệ, hễ tìm ra đầu mối tất phăng được ngọn nguồn chứ gì? Đằng này, lại trái hẳn. Ban an ninh của ta trong Trung Tâm Thủ Đức đã theo dõi từng bước mà vẫn chưa tìm ra. Vả lại, nếu tôi thúc giục, họ sẽ làm mạnh khiến đối phương đánh hơi thấy và đề phòng. Bản tâm tôi là tạo cho đối phương cái dịp may hãn hữu hoành hành ở Sàigòn.

- Tôi hiểu rồi. Ông định dùng tay sai của họ trong Trung Tâm Thủ Đức để làm mồi. Nhưng cẩn thận đấy, nếu tay sai ấy là cán bộ cộng sản chính cống thì gậy ông sẽ đập lại lưng ông.

- Đúng thế. Tôi đã nghiên cứu kỹ rồi, giờ anh phải nắm lấy việc ấy. Vì an ninh, vì rút kinh nghiệm của các vụ đánh cắp tài liệu ở nước ngoài, nên Trung Tâm Thủ Đức chúng ta đã áp dụng những biện pháp tầm gian rất khéo.

Mỗi ngành có phòng làm việc riêng, mỗi phòng có máy chữ một loại riêng, và giấy nháp đều có đề hiệu riêng. Vì vậy chỉ cần biết một vài chi tiết của tấm phim hiện ở Mạc-tư-khoa là ta có thể thu hẹp công cuộc điều tra vào một ngành, một phòng. Cái máy chữ Olympia duy nhất của Trung Tâm nằm trong phòng tập trung tài liệu của bà Như Luyến, vợ góa của nhà bác học Túc Lăng. Mỗi khi về tối, bà Luyến có chìa khóa riêng. Tài liệu này cũng do bà giữ trong tủ két phòng bà. Cái giấy dùng để chép tài liệu cũng là giấy riêng của phòng tập trung tài liệu. Do đó, chỉ có hai người đáng nghi: Như Luyến và bác sĩ Đoàn Trung.

Tuy nhiên, Đoàn Trung ít đáng nghi hơn vì ông là người chống Cộng từ thuở nhỏ. Chỉ còn Như Luyến.

- À thế ra bao giờ kết cục lại đàn bà hay làm gián điệp nhất!

- Trường hợp này có vẻ đặc biệt hơn. Như Luyến khó thể là đảng viên cộng sản. Tuy nhiên chính phủ Mỹ vừa cho tôi biết một tiết lộ quan trọng. Túc Lăng khi xưa là cộng sản, từng bán tài liệu cho R.U.. Về sau Túc Lăng hối hận toan tự tử. Thì một tai nạn nguyên tử xảy ra. Tai nạn này, do ai gây ra, chắc anh dư biết. Sở Do Thám Mỹ không muốn mang Túc Lăng ra tòa vì chàng có công khá nhiều trong việc giúp đỡ Von Braun. Chỉ còn cách gây ra tai nạn ngẫu nhiên. Túc Lăng chết, Như Luyến rời Huntsville, nơi bà ta ở với chồng, về Việt-Nam, làm việc với bác sĩ Đoàn Trung, tại Trung Tâm Nguyên Tử Thủ Đức.

Văn Bình ngắt lời:

- Thiếu phụ đó là tai sai của R.U. ở Thủ Đức đứt đuôi rồi còn gì?

- Tôi cũng kết luận như anh. Chút nữa anh sẽ đọc bản tường trình hàng ngày của ban an ninh Trung Tâm về hoạt động từng giờ của Như Luyến. Đọc xong, anh sẽ rõ hơn. Song le, tôi chưa dám chắc Như Luyến là tay sai của R.U. hay là bị họ "săng-ta". Có thể vì nàng muốn bảo vệ thanh danh cho chồng nên bị R.U. dùng cái chiến thuật cũ rích, bắt nạn nhân phải chuộc tài liệu cũ bằng cách ăn cắp tin tức nguyên tử. Anh có trách nhiệm tìm ra điều đó.

- Tôi sẽ được toàn quyền hành động?

- Toàn quyền. Thì có bao giờ tôi không trao toàn quyền cho anh? Tuy nhiên, anh phải hết sức thận trọng. Làm cách nào cho địch không biết. Và sẽ mượn Như Luyến phăng ra tổ chức lấy tin của R.U. ở đây.

- Nhưng tại sao ông chắc nhân viên R.U. sẽ tiếp xúc với Như Luyến?

- Không lẽ họ chịu mất bao tâm cơ, chịu hy sinh bao nhân mạng để vào đây, lấy một bản danh sách nhiên liệu vô nghĩa hay sao? Tất họ muốn nhòm ngó cái khác, cái khác quan trọng hơn. Cái đó là tài liệu về prô-péc-gôn.

- Prô-péc-gôn?

- Anh ngạc nhiên cũng phải. Vì đây là một tài liệu nguyên tử. Chắc anh đã biết một trong hai vấn đề mà thế giới cần giải quyết, nếu muốn chế tạo hỏa tiễn xa tầm là tìm ra một thứ xăng cực tốt. Nhiên liệu này là prô-péc-gôn[6]. Các thứ xăng thường dùng từ trước đến nay và cháy trong dưỡng khí ốc-xy, thì tối thiểu là một gờ-ram sẽ cung cấp được 3.000 ca-lo nhiệt. Nhưng nếu thay thế cạc bon bằng chất ho hay chất li thi, người ta có thể lên tới 4.000 ca-lo, và nếu chất fơ-luơ[7] được dùng để thay cho ốc-xy thì còn tăng thêm nhiệt lượng nữa. Vì vậy nước Mỹ mới dốc tâm vào việc chế tạo thật nhiều thứ xăng mới này, gọi là hýt rua bo[8] và li thi[9]. Nhưng qua các hỏa tiễn Tiền Phong và Xì-pút-ních, kinh nghiệm cho biết muốn bắn vệ tinh lên không trung, và sau đó muốn biến thành khí giới nguyên tử xuyên lục địa, phải dùng một biết cơ man nào là huýt rua mới đốt nổi động cơ hỏa tiễn đến đích. Càng càn nhiều xăng, bình chứa càng nặng, và hỏa tiễn càng khó lên cao. Vì vậy cả Mỹ lẫn Nga đều đương cặm cụi tìm ra một chất prô-péc-gôn cách mạng, dùng ít mà tiết ra nhiều nhiệt lượng. Đoàn Trung là nhà bác học đầu tiên trên thế giới tìm ra chất prô-péc-gôn cách mạng này.

Văn Bình thở phào ra một cái. Thảo nào R.U. phái nhân viên tới tận Sàigòn. Chàng cảm thấy câu chuyện có nhiều tình tiết thú vị.

Ông Hoàng nói tiếp:

- Đoàn Trung mới tìm ra được một vài tháng nay thì phải. Việc tìm ra công thức cuối cùng được giấu hết sức kín đáo, nhưng dẫu kín đáo đến đâu, tôi tin rằng đối phương cũng biết. Nếu anh hiểu rằng phe nào tìm ra một chất prô-péc-gôn cách mạng, phe đó sẽ nắm được quyền bá chủ thì anh sẽ không cho vụ này là không quan trọng. Nhân viên R.U. đến đây chính để đánh cắp tài liệu của Đoàn Trung về công thức prô-péc-gôn. Tôi sẽ bố trí cho họ có cơ hội đánh cắp được tài liệu đó. Còn việc đối phó ra sao, tôi mặc cho anh định liệu. Miễn hồ thành công là được.

Ông Hàng chìa bàn tay gân guốc ra bắt tay chàng:

- Anh sẽ hoạt động một mình, không có cơ quan chính thức nào giúp hết. Tuy nhiên tôi sẽ cho Lê Diệp phụ tá. Về thể thức hành động và tiếp xúc với Như Luyến, anh sẽ xuống hỏi ở Ban Hành Động. Thế thôi. Chúc anh may mắn.

Ông Hoàng ấn điện, mở cánh cửa sắt. Viên vệ sĩ cao lớn của ông giám đốc mật vụ mở thang máy, đưa chàng xuống tầng dưới. Tống Văn Bình, tức Z.28 lại lao đầu vào một cuộc phiêu lưu rùng rợn nữa.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:43 pm

Phần Bảy. Sợi giây thòng lọng

Còn năm phút nữa đến mười một giờ khuya. Còn năm phút nữa đến giờ Kinh Kong đặt làm kỳ hạn chót cho nàng trả lời bằng lòng hay từ chối. Từ lúc ở Vũng Tàu về, Như Luyến quyết định sẽ nhận lời. Việc chụp lại công thức prô-péc-gôn, tuy khó nhưng đối với nàng không phải là bất khả. Nếu khéo léo, nếu giữ kín, nàng sẽ hoàn toàn thành công mà không ai biết. Nhưng còn năm phút nữa đến mười một giờ đêm, một mãnh lực kỳ lạ bắt nàng thay đổi ý kiến. Mãnh lực đó có lẽ là lương tri, là lòng yêu nước.

Như Luyến yêu chồng, nhưng nàng còn yêu nước nữa. Như Luyến lại là người suy nghĩ chín chắn, nhờ có số vốn học thức khá rộng. Thành ra sau hăm bốn tiếng đồng hồ bằng lòng, còn năm phút nữa đến giờ hẹn, nàng lại nẩy ra ý tưởng từ chối, mặc cho Kinh Kong muốn làm gì thì làm. Từng đọc qua nhiều sách, nàng đã đoán rõ được hậu quả của sự từ chối. Kinh Kong nói được tất sẽ làm được. Vả lại những kẻ theo nghề gián điệp làm gì còn có tình cảm. Hắn sẽ tìm đủ mọi cách hại nàng. Hắn sẽ báo cho công an biết Túc Lăng xưa kia đã phản bội. Công an sẽ phiền nàng nhưng lương tâm nàng sẽ không bị cắn rứt, thà nàng chịu nhục còn hơn mang tiếng là con ăn cắp, ăn cắp tài liệu tối mật của tổ quốc. Đoàn Trung sẽ xa nàng! Đành vậy chứ sao? Đã 5 năm nay, không tái giá nàng vẫn chịu được. Mất Đoàn Trung, nàng sẽ trống trải, may thay nàng còn thằng Lập. Nghĩ đến con, trái tim Như Luyến như ngừng đập. Biết đâu Kinh Kong lại chẳng lừa bắt con nàng để chuộc? Nhưng bắt nó đâu phải dễ? Từ sáng mai, nàng sẽ dặn u già theo sát thằng Lập từng bước. Nàng sẽ nhờ ban an ninh của Trung Tâm bảo vệ cho con. Thành phố Sàigòn, đâu phải Chicago hoặc thị trấn quốc tế Tangiers mà bắt cóc ai cũng được?

Nàng bắt đầu thấy yên dạ. Chuông đồng hồ đõng dạc điểm 11 tiếng boong boong. Kinh Kong dặn nàng mở cửa sổ và dặn đèn. Cánh tay nàng đột nhiên rắn chắc dị thường. Nàng đóng sầm cánh cửa. Kinh Kong đừng tưởng nàng chịu thua. Như Luyến sẽ gọi con Ziếc-cô. Ziếc-cô là tiếng tắt của chữ Ziếc-cô-ni-om[10] một thứ kim khí bí mật mà ngày trưóc Túc Lăng đã góp công vào công cuộc tìm ra. Như Luyến dùng tiếng Ziếc-cô để kỷ niệm kỳ công của chồng trong địa hạt khoa học. Nghe chủ gọi, con Ziếc-cô ngoe nguẩy cái đuôi, tiến lại sát cửa, cào cào vào lá sách. Như Luyến dặn:

- Ziếc-cô, Ziếc-cô, nằm ở cửa phòng canh nhà, nghe không?

Con chó khôn ngoan đạp xuống đất ba cái, tỏ dấu đã hiểu. Như Luyến yên tâm, quay vào phòng, kéo mền mỏng lên bụng con, rồi trở người sang bên cố ngủ. Tiếng chuông điện thoại reo lên. Nàng nhấc ống nói và không cần đặt lên tai nghe, nàng vùi xuống nệm. Nàng thừa biết ai gọi cho nàng. Đoàn xe bò chở mía nặng chĩu lốc cốc qua cửa biệt thự. Đêm nào cũng như đêm nào, cứ đúng hai giờ là đoàn xe cục mịch lê qua nhà nàng. Trong đêm vắng, tiếng bánh xe bọc sắt nghiến trên đường nhựa như dội vào tâm can nàng. Nàng thấy yêu đời hơn, và can đảm hơn.



Suốt đêm, không có chuyện nào xảy ra cả. Thỉnh thoảng, con Ziếc-cô lại gầm gừ tíến ra phía cổng, trong khi hai con khác túc trực đi đi lại lại quanh biệt thự. Nàng dậy sớm hơn mọi hôm. Tuy hình ảnh Kinh Kong ám ảnh tâm trí, đến gần sáng Như Luyến vẫn chợp mắt được một lát. Nàng đã quyết định chọi với Kinh Kong. Nàng nhất định không lùi bước. Lệ thường, sau khi dọn điểm tâm, u già ra mở thùng thư ngoài cổng. Như Luyến vẫn có thói quen đọc thư trước khi đi làm. U già lễ mễ mang vào cho nàng một chồng thư dầy cộm. Tuần nào nàng cũng có thư nhiều vì tuy về quê hương, nàng không quên gửi thư cho bạn bè ở ngoại quốc. Vừa uống cà-phê, Như Luyến rọc từng cái thư một ra đọc.Vẫn những cái tên quen thuộc, vẫn những lời hỏi thăm thân mến. Đột nhiên, nàng để ý tới một phong thư nhỏ màu trắng, không có dán tem trên, cũng không có con dấu nhà giây thép. Trên bì chỉ vẻn vẹn một giòng chữ bằng những miếng báo cắt ra, dán vào:

Kính gửi bà Túc Lăng .

Tim Như Luyến đập thình thịch. Mở ra, nàng thấy ở bên trong một tấm giấy ảnh mỏng, màu trắng, bên trên in một bức thư ngắn. Bức thư là bút tích của chồng nàng.

Bức thư như sau:

Thưa đồng chí.

Vạn bất đắc dĩ tôi mới phải viết thư lấy tiền. Chắc đồng chí đã biết từ trước tới nay tôi chưa bao giờ nhận một xu nào mặc dầu đồng chí khẩn khoản nhiều lần. Nhưng hiện nay tôi cần quá. Nhà tôi không may sinh đứa cháu đầu lòng lại bị khó khăn khiến chúng tôi tốn tiền thuốc nhiều quá. Mong đồng chí hiểu cho và như đã hứa trước qua người liên lạc, gửi cho tôi một ngàn đô-la trong tuần này.

Túc Lăng.

Như Luyến xây xẩm mặt mày như bị trúng gió độc. Hai bàn tay nàng đột nhiên lạnh ngắt, mắt nàng mờ đi, rồi một giọt nước mắt trào ra trên má. Cũng may lúc đó thằng Lập đương ở trong phòng tắm với u già.

Nàng đã hiểu sở dĩ Túc Lăng dấn thân vào tội lỗi cũng vì con, vì vợ. Lần nàng sinh thằng Lập cũng là lần đầu tiên Túc Lăng dẫm lên nhân phẩm, ngửa tay nhận tiền của cộng sản. Nếu nàng không đẻ khó, không bắt chàng đưa vào một bệnh việc đắt tiền thì chàng đâu đến nỗi? Cái can đảm hồi đêm đã biến đâu mất. Trong một giây đồng hồ, nàng trở lại trạng huống bị động như lúc gặp gỡ Kinh Kong lần đầu. Như Luyến cảm thấy hối hận. Tình thương Túc Lăng bỗng lớn hơn, rộng hơn, át cả hình dáng trung thành, khả ái của bác sĩ Đoàn Trung. Vì nàng, vì con mà Túc Lăng thiệt mạng. Nàng phải làm một cái gì cho hương hồn chàng khỏi tủi. Nhưng biết làm thế nào? Ngoài cái hẹn 11 giờ đêm qua, Kinh Kong không còn dặn một hẹn nào khác nữa. Phong thư chỉ chứa đựng một lời cảnh cáo. Bây giờ Như Luyến mới thấy mình dại dột. Trước khi tiếp xúc với nàng, Kinh Kong đã có một kế hoạch hẳn hoi rồi. Nàng chối cũng không được. Nếu đêm qua nàng chịu mở cửa và thắp đèn lên biết đâu chỉ nội hôm nay là công việc trôi chảy? Trao tài liệu rồi nàng sẽ được sống bình yên. Kinh Kong chả từng nói với nàng như thế ư?

Kinh Kong không thể phiền nhiễu nàng nữa. Vì công thức prô-péc-gôn là cái bí mật nhất. Một khi đã nắm được cái bí mật nhất, dại gì Kinh Kong chạy theo những cái tầm thường để bị lộ diện?

Đến đây, nàng mới bớt lo ngại. Kinh Kong gửi tấm ảnh này cho nàng tất còn tìm tới nữa. Nhưng bao giờ y tới?

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Sáng hôm đó, Kô-băng không gọi giây nói cũng không đến biệt thự của nàng. Dầu hành động táo bạo, Kô-băng vẫn là tay gián điệp khôn ngoan, biết giữ thân mỗi khi cần tới. Y biết rõ Như Luyến không dám báo công an, nhưng biết đâu? Còn Đoàn Trung, một gã si tình? Còn u già, trước sự biến đổi đặc biệt trong tính tình cô chủ? Trên chiếc xe Pờ-Dô, từ Gia Định qua cầu Bình Lợi, Trường Thanh hỏi Kô-băng, giọng lo lắng:

- Liệu con bé có chịu nghe mình không, thưa đồng chí?

Kô-băng cười gằn:

- Có chú. Cô ả đã chui vào mạng nhện, càng đạp mạnh, càng bị vây chặt lại. Anh đã chứng kiến cảnh con ruồi bị sa mạng nhện tất biết. Không phải tôi mới làm một vụ này lần đầu. Nhiều lần rồi. Mỗi lúc một tí, như người pha thuốc ấy. Đến khi ngấm rồi thì tha hồ… Cái thư sáng nay của ta sẽ làm cô ả thay đổi ý kiến.

Trường Thanh nhìn Kô-băng có vẻ thán phục:

- Đồng chí dùng điện thoại có phải nhanh việc hơn không?

Kô-băng lắc đầu:

- Nhanh thì vẫn nhanh, nhưng nguy hiểm lắm. Như Luyến là nhân viên quan trọng, bên mình khi nào chả có người theo dõi. Biết đâu họ chả nghe trộm điện thoại.

- Tại sao trước khi đồng chí lại nói chuyện với con bé bằng điện thoại?

- Trước khác, giờ khác. Trước vì xuất kỳ bất ý. Giờ thì cá cắn câu rồi, phải thận trọng mới được.

Chiếc xe đến dốc cầu Bình Lợi. Kô-băng xuống xe tiến về lũ trẻ đứng bên vệ đường, đợi xe đi qua để bán mía róc, soài và nem chua. Thấy Kô-băng, cả bọn đổ xô lại, mời mọc rối rít. Kô-băng xua tay, tỏ dấu không mua. Đôi mắt y để ý đến một đứa trẻ trạc bảy tuổi, nét mặt lanh lẹn, thông minh. Y vẫy thằng bé lại mua mấy cặp nem Thủ Đức, đoạn hỏi, giọng thân mật:

- Em bán hàng khá không?

Đứa bé cung kính đáp:

- Thưa ông, ế lắm.

Kô-băng trả tiền xong, ném vào cái thúng đựng nem của đứa bé một tờ giấy hai chục mới tinh, miệng nói:

- Cho con đó.

Đứa bé há hốc mồm, kinh ngạc. Chưa bao giờ nó gặp một ông khách tử tế đến thế. Nó độ chừng là khách ngoại quốc vì Kô-băng cao lớn, lại nói tiếng lơ lớ. Nó liền hỏi:

- Cháu xin cảm tạ ông. Ông có muốn nhờ cháu làm việc gì không?

Thằng bé thông minh thật. Kô-băng đoán không lầm. Kô-băng dúi vào tay đứa bé một cái phong bì nhỏ:

- Độ năm hay mười phút nữa, sẽ có một người đàn bà lái cái xe hơi thân trắng, mui đỏ, nho nhỏ từ Sàigòn tới. Cô ta trắng trẻo, và trông như đầm lai. Con đưa cho cô ta cái phong bì này. Nhớ đừng cho ai thấy, nghe?

Thằng bé gật đầu. Kô-băng tiếp:

- Bác đứng đợi con dưới cây si tít đàng xa kia, thấy chưa con? Đưa thư xong, lại đây bác cho con một trăm đồng về đong gạo. Nhớ đừng cho bọn kia biết, nghe chưa?

Bọn kia tức là lũ bạn nghèo khổ cùng tuổi, bán hàng vặt cho khách qua cầu. Thằng bé nắm chặt cái phong bì trong lòng bàn tay, đoạn đi ra một góc đường đứng đợi. Nó chẳng cần bán nữa. Mẹ nó bị bán thân bất toại ở cái lều trên đường đi Thủ Dầu Một sẽ có tiền mua thuốc và sắm cho nó một đôi dép cao-su vàng, đi cho đỡ bỏng chân. Lòng nó nóng ran lên vì sung sướng và hy vọng. Một lát sau, Như Luyến tới. Xe nàng đậu ở gần cuối dốc, đợi cho đoàn xe nhà binh ở Thủ Đức qua khỏi cầu. Thằng bé mời nàng mua nem. Nàng khoát tay một cách mỏi mệt:

- Cám ơn em, tôi không mua.

Trông trước trông sau không có ai, đứa bé nói nhanh:

- Có một ông sai con đưa cái này cho cô.

Rồi giả vờ đưa nem cho Như Luyến, nó đánh rơi cái phong bì nhỏ trên nệm xe, giữa sự ngơ ngác của nàng. Nó lại nhấc thúng nem lên đầu, miệng rao ròn rã: Ai mua nem ơ? Trong phong bì, Như Luyến thấy có một mảnh giấy nhỏ, dán những chữ cắt trong báo, cũng như bức thư không niên gửi cho nàng hồi sáng sớm: Đúng 9 giờ sáng hôm nay, trước tiệm Woong Sui, trong hẻm Eden, đường Tự Do. Đi từ đường Lê Lợi vào, đến rạp chiếu bóng thường trực mua một cái vé ban công, rồi quay sang đường hẻm về phía đường Nguyễn Huệ, trước khi dừng lại trước tiệm Woong Sui, lưng quay ra ngoài. Nàng mừng rú lên. Một liều ba bảy cũng liều. Nàng sẽ trao tài liệu cho Kinh Kong, miễn hồ không bị hắn đưa ra nhiều điều kiện khó khăn.

Như Luyến không qua cầu Bình Lợi, rẽ sang bên trái, xuống dốc, quay về Sàigòn. Nàng không về nhà. Qua một tiệm uốn tóc gần hồ tắm, nàng dừng xe, bước vào, gọi dây nói cho Trung Tâm Thủ Đức. Một phút sau, nàng nghe tiếng nói quen thuộc của Đoàn Trung. Nghe nàng xin nghỉ vì khó ở, chàng không ngạc nhiên. Chàng cũng mong nàng nghỉ để lấy lại sức khoẻ. Như Luyến nhìn đồng hồ tay. Còn 45 phút nữa, sớm chán. Nàng lái một vòng lên sân bay Tân Sơn Nhất để thở không khí mát lạnh buổi sáng. Xe của Như Luyến qua mặt chiếc Pờ-Dô trong khi Kô-băng giả vờ đọc báo. Y nhìn qua kiếng chiếu hậu thấy đứa bé bán nem tất tả chạy tới. Trên miệng Kô-băng nở một nụ cười gớm ghiếc. Đứa bé thò đầu vào cửa xe, chào Kô-băng:

- Thưa ông, cháu đã đưa cái lúc nãy cho cô ấy rồi.

Kô-băng xoa đầu thằng bé, giọng vồn vã:

- Con ngoan quá, để bác thưởng cho con. À, con tên gì?

Thằng bé nhanh nhẩu:

- Con tên Vĩnh.

Đương nhai kẹo, Trường Thanh xen vào:

- Tên Vĩnh nghe đẹp quá nhỉ?

Vĩnh cười khoan khoái. Trường Thanh cho thằng Vĩnh một miếng súc-cù-là thơm phức, miệng nói:

- Ăn súc-cù-là không?

Còn phải nói? Có đứa bé nào là không thích súc-cù-là? Nhất là thằng Vĩnh từ nhỏ đến lớn mới được nhìn người ta ăn và lượm miếng giấy bạc bọc ngoài lên liếm đỡ thèm, chứ có bao giờ dám mua một thẻ. Nó run lên vì thèm:

- Thưa có.

Cầm lấy kẹo của Trường Thanh, nó đút vào miệng cắn một miếng lớn. Ngon quá, thơm quá! Một miếng nữa! Trường Thanh nói, giọng thương hại:

- Tội nghiệp con quá. Để bác cho con miếng nữa.

Thằng Vĩnh đề nghị:

- Thôi để con gói lại mang về cho má con.

Kô-băng gạt đi:

- Nhỡ má con hỏi, con biết nói làm sao? Thôi ăn đi rồi mang trăm bạc cho má.

Vĩnh cho cả miếng súc-cù-là vào miệng nhai ngấu nghiến. Vị thơm thấm vào cuống họng và xuống đến dạ dầy vẫn còn thơm. Nó gập tư tờ giấy một trăm, nhét vào dưới đống nem, kính cẩn chào hai ông khách rộng rãi, triệu phú. Nó chẳng cần đợi khách trên cầu nữa. Hai tay nắm chặt quai thúng trên đầu, Vĩnh lon ton chạy về nhà. Vừa chạy nó vừa nghĩ đến đôi dép cao-su đầu ngựa vàng mà nó thèml ước từ nửa năm nay, từ ngày má nọ bị thần bệnh giữ riệt trong nhà. Nó phải mua gót mềm mềm, có thể uốn cong được, chứ thứ cái cưng cứng thì chán chết. Phen này bọn thằng Liêu với con Đỏ trước cửa sẽ nhìn nó chảy nước miếng! Lũ bạn hằng ngày chờ khách trên cầu Bình Lợi có đứa nào dám vung tiền mua dép cao-su đâu? Ha, ha, chỉ một mình Vĩnh có. Trời Phật thương nó quá! Má nó sẽ tha hồ sung sướng. Ngọn gió buổi sáng quạt mùi thơm cuống rạ và lá mía vào mũi nó. Sau bãi mía xanh um là cái lều chơ vơ của mẹ con nó. Vĩnh mồ côi cha, má nó buôn hàng chuyến, chẳng may bị tê chân rồi từ bấy đến nay nằm mọp trên chiếu. Nó đành buôn nem nuôi mẹ.

Còn một thôi ngắn nữa thì đến nhà. Con chó Vện chạy ra đón, sủa gâu gâu. Con Vện thương nó, và nó cũng thương con Vện như anh em ruột. Hôm nay nó về sớm tại sao con Vện lại biết mà đi đón? Hay là? Nó không nghĩ thêm được nữa. Đột nhiên nó nghe một tiếng động long trời lỡ đất từ trong đầu nó phát ra. Nó cảm giác như trời đất vỡ tung từng mảnh, từng mảnh đen khủng khiếp. Mắt nó - cặp mắt luôn sáng quắc - mờ hẳn đi, nó chỉ thấy toàn một màu đen. Nó đứng lại, bụng đau như hàng chục mũi kim lớn xuyên vào. Nó đứng không vững nữa. Cái đau trong bụng lớn dần ra. Mắt nó không thấy gì nữa hết. Thằng Vĩnh ngã vật trên nền ruộng khô đét, một tia máu đỏ trào ra bên mép. Ánh nắng mùa hạ dọi một lùm sáng qua mây xanh vào khuôn mặt kinh hoàng của thằng Vĩnh. Nó đã sang bên kia cõi thế với cha nó. Con Vện sủa rống lên. Đoạn há mõm cắn cái đuôi áo của chủ. Rồi nằm phục luôn bên cạnh thằng Vĩnh.

Trong khi đó, cách thằng Vĩnh ba trăm thước, trong chiếc xe hơi sơn đen, Kô-băng lúi húi tháo bộ râu mép. Y đã cải trang trước khi tới cầu Bình Lợi đợi Như Luyến và đem tiền ra nhử mồi thằng bé thơ ngây. Kô-băng hồi nãy đeo râu giả, đôi kính râm che gần hết mặt. Chiếc Pờ-Dô của Trường Thanh cũng đeo số giả. Thằng bé ăn kẹo thuốc độc phải chết. Hoặc giả có ai nghi ngờ cũng không thể nhớ ra người đàn ông cao cao, đeo kính đen, chân đi khập khiễng, có râu mép… Kô-băng không muốn người ngoài biết chuyện. Dẫu người ngoài đây chỉ là thằng bé bán nem vô tội bảy tuổi đầu, cái tuổi mà phần đông con trẻ còn sống trong sự nuông chìu của cha mẹ.

Chiếc Pờ-Dô đậu trước cửa một tiệm hớt tóc có máy lạnh sang trọng ở đường Ngô Đức Kế, Kô-băng xuống để chải lại mớ tóc. Y có thói quen của dân ăn chơi ở Ba-lê không chịu chải tóc ở nhà, mà là ngày ngày ra hiệu. Tiệm Bell là nơi hớt tóc vào bậc nhất nhì thị trấn Sàigòn. Đó là nơi hẹn hò của khách nhiều tiền. Trời còn sớm nên trong tiệm mới có một người khách cắt tóc. Kô-băng treo mũ vành mềm lên giá, ngồi ruỗi chân trên ghế xoay, cầm một tờ báo điện ảnh đọc, trong khi người thợ bận áo choàng trắng toát, trịnh trọng cắt cắt, tỉa tỉa và tưới nước hoa lên bộ tóc mềm mại. Người khách đến cắt tóc sớm trong tiệm Bell ngồi cạnh Kô-băng là một thanh niên trên hai mươi, tuy ngồi vẫn thấy cao như người Âu Châu. Đó là Lê Diệp, nhân viên của sở gián điệp Việt-Nam, người được ông Hoàng cử ra để giúp sức cho Văn Bình. Lê Diệp khác Văn Bình ở chỗ trẻ hơn mười tuổi và gầy hơn. Chàng không phải là một thanh niên đẹp trai, ăn nói dễ thương, dáng điệu đĩ thõa mà các thiếu nữ tân tiến mới gặp đã bám lấy như đĩa đói. Mặt chàng dài ngoằng ra, cái mắt, cái mũi, cái miệng không xấu nhưng lại không đẹp. Cái miệng thì nhỏ, hàm răng thì đều, nhưng không toát ra một cảm giác khả ái.

Thoạt gặp, khó ai dám cho Lê Diệp là mạnh khoẻ, chứ đừng nói là giỏi võ nữa. Thật thế, bộ ngực mỏng dính như vậy trói gà cũng không chặt nữa là… Thế mà Lê Diệp lại là một trong những tay võ nghệ siêu quần của cơ quan Mật Vụ. Lê Diệp đánh kiếm rất giỏi. Chàng chưa chịu thua ai, trừ Văn Bình. Đến cái tài ném dao thì mới là tuyệt luân. Trước ngày gia nhập Mật Vụ. Lê Diệp là tay giang hồ lang thang hết gánh xiếc này đến rạp hát khác, với nghề mọn ném dao.

Dao của chàng thì thôi, đủ cỡ. Lớn bản có, nhỏ thó có, dài có, ngắn có, nhưng một khi cất khỏi tay chàng là phải trúng đích. Cách xa mười thước, Lê Diệp có thể cắt nút chai rượu vang ra làm hai. Tài tình hơn là Lê Diệp ném được hai tay và thạo nhất tay trái. Lê Diệp vốn là kẻ thù của súng. Súng đối với chàng là võ khí kềnh càng, ít hiệu quả, lại gây ra tiếng động nữa. Vì vậy, đi đâu chàng cũng bỏ dao trong túi áo. Khác với Văn Bình mê gái, mê rượu, mê thuốc Salem, Lê Diệp lại dững dưng trước sắc đẹp, không ưa rượu bằng nước ngọt côca côla, và chỉ thích hút xì-gà, thứ to tướng mà ông Hoàng thường để hàng hộp lớn trên bàn làm việc. Đương mãi đi ngựa trong vườn rộng một biệt thự của sở ở ngoại ô Phú Xuân, Lê Diệp được lệnh của ông Hoàng bảo phải gặp Văn Bình tức khắc. Từng phụ tá Văn Bình trong nhiều công tác nên được làm việc chàng thấy trong lòng khoan khoái. Lâu ngày không ném dao, hai tay thấy mỏi rời đi. Nhưng trước khi gặp Văn Bình, chàng cần vạc lại bộ râu nham nhở đã. Và như phần đông khách sang Sàigòn, Lê Diệp vào tiệm BELL. Cạo xong, Lê Diệp ngồi đọc nốt tờ báo buổi sáng trước khi từ giả cô thu ngân xinh xắn. Thì một chuyện bất thường xảy ra.

Một người lính thủy ngoại quốc say mềm từ ngoài cửa lắc lư bước vào. Say rượu buổi sáng quả là chuyện lạ. Trông thấy một cây thịt gần trăm cân loạng choạng bổ vào, ai cũng kinh sợ. Nếu hắn mất trí khôn, giơ bàn tay kếch sù lông lá kia túm đầu ai thì chẳng mấy chốc mà chết ngạt.

Gã lính thủy chẳng nói chẳng rằng buông mình phịch xuống một cái ghế xoay. Một người thợ bước đến, cung kính mời hắn cắt tóc. Hắn gật đầu. À ra hắn đến cắt tóc chứ có gây sự đâu mà mọi người lo ngại? Đối với kẻ đã lênh đênh biển cả thì say sáng hay say chiều đâu có khác? Lê Diệp không ưa đàn bà nhưng lại có cảm tình đặc biệt với cô bé giữ két. Và có lẽ cái cảm tình nồng nàn ấy mà tíc chưa dài, râu chưa nham nhở Lê Diệp vẫn đến cắt, và đến rõ sớm, khi cửa hiệu chưa có khách. Yêu hay không chàng chưa biết, tuy nhiên chàng thấy trong lòng một sự đổi mới là lạ. Bàn tay búp măng, trắng như ngó sen của thiếu nữ, kéo ngăn kéo, rút tiền lẻ ra, trả lại cho Lê Diệp. Chàng nhìn mãi không chán mắt. Bỗng cô bé đưa tay lên mồm, ra dấu kinh sợ. Thì ra gã lính thủy cũng biết cô này khá đẹp! Hắn vùng đứng dậy như lò so, khệnh khạng đi lại két. Hắn đứng bên cạnh Lê Diệp, hai tay tì lên mặt két, nụ cười khả ố, sặc mùi huýt-ky, nở trên cặp môi dầy. Gã thủy thủ đưa cùi tay hích vào vao Lê Diệp một cái nhẹ. Lê Diệp thản nhiên, xích lui sang một bên. Được thể, gã thủy thủ bước chéo theo, rồi khuỳnh tay ra, như muốn gạt Lê Diệp vào tường. Không nhịn được nữa, Lê Diệp quắc mắt:

- Anh muốn gây sự phỏng?

Gã say rượu cười hề hề:

- Gây sự à? Thèm gây sự với thằng con nít.

Máu Lê Diệp sôi sùng sục và trào lên đôi mắt. Đột nhiên, cô giữ két xen vào:

- Thôi, nhịn đi anh. Hắn khỏe và có võ đấy.

Lời khuyên lơn của cô giữ két làm cho Lê Diệp giận thêm. Chàng hất hàm bảo tên lính thủy:

- Đánh trước đi xem sao?

Gã lính thủy dơ hai tay lên khỏi đầu, cười ngất. Hắn có vẻ coi thường đối thủ quá. Mà khinh là phải vì Lê Diệp trông nhỏ xíu, lại gầy guộc, chỉ chịu được một cái tát nhẹ của tên khổng lồ là ngã! Vừa cười, hắn vừa nắm lấy cổ chai huýt-ky đầy ắp để trên một cái bàn bên cạnh, cho vào miệng tu ừng ực. Loáng một cái, hết một góc chai. Thấy hắn say sưa, Lê Diệp không muốn gây sự. Chàng vẫn có thói quen không bao giờ đấu sức với kẻ thù không còn trí khôn chống đỡ nữa. Nhưng tên lính thủy lại gây thêm chuyện khác. Còn nửa chai rượu hắn dốc ngược đổ tung tóe lên quầy két, bắn vào cái áo đắt tiền của cô thiếu nữ khả ái. Lê Diệp bèn nắm lấy tay hắn, miệng ôn tồn:

- Anh say quá rồi.

Hắn vùng mạnh một cái. Nếu là người khác thì cái vùng ấy đủ quật ngã xuống đất và gẫy tay chân, nhưng Lê Diệp là tay võ nghệ siêu quần nên chỉ hơi lạng người sang bên. Liền khi đó, bàn tay to tướng của hắn từ phía hữu giáng xuống như cái búa tạ. Cô gái giữ két đưa tay ôm lấy miệng, hai mắt trợn tròn, lộ vẻ kinh sợ. Nhưng Lê Diệp thản nhiên như không. Đợi cho bàn tay của địch giáng xuống gần đầu, chàng mới thong thả lách khỏi, trong khi đó sống tay phải của chàng đánh mạnh vào xương bả vai của hắn. Rắc một tiếng, xương gẫy. Tên thủy thủ thét lên một tiếng kinh hồn. Một lưỡi dao sáng loáng không biết rút từ bao giờ đã nằm gọn trong tay hắn. Mọi người trong tiệm hớt tóc ra đều nín hơi thở. Không ai dám xông vào can thiệp, và trong khoảnh khắc, mọi người quên bẵng việc báo với cảnh sát.

Ngọn dao chuồi ra khỏi tay tên lính thủy. Mắt không rời lưỡi dao nhọn hoắt, Lê Diệp từ từ bước lùi. Lê Diệp lùi bước nào thì tên lính thủy tiến lên bước ấy. Trên môi hắn vừa lộ một cái cười ghê tởm ướt đẫm mùi máu. Hắn quả là kẻ giết người không gớm tay. Mũi dao hắn đảo một vòng trên không rồi đâm vào cổ Lê Diệp. Cũng như hồi nãy, Lê Diệp không đỡ mà chỉ né tránh. Chân chàng ấn vào đầu gối của địch. Thuận đà, cây thịt trăm cân đâm bổ về phía trước. Lê Diệp bật ra tiếng cười khanh khách. Tên lính thủy gầm lên như con thú bị đạn, và hoành thân, đâm một nhát nữa vào tim Lê Diệp. Lê Diệp đợi lưỡi dao tới mới bắt lấy bàn tay của tên lính thủy không trượt một ly, đoạn bẻ vẹo đi. Tên lính thủy kêu "ái" một tiếng rõ to, lưỡi dao rơi trên sàn gạch hoa kêu đánh "keng". Lê Diệp phủi tay áo ra quầy két đứng nhìn tên lính thủy ôm tay ngồi phịch xuống ghế. Lê Diệp nói, giọng khinh bĩ:

- Còn đợi gì là không đi cho khuất mắt! Lần này thì ta tha cho, lần sau thì gẫy cả tay lẫn chân, nghe không?

Tên thủy thủ ngoại quốc ôm tay và vai gẫy, lảo đảo ra ngoài. Y đã tỉnh rượu. Lê Diệp lượm cái lũ rơm vành to, ấn lên đầu, mỉm miệng chào cô giữ két, rồi từ tốn bước ra cửa. Ngồi trong ghế hớt tóc, Kô-băng theo dõi cuộc đánh lộn, không thiếu chi tiết nhỏ nhặt nào.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Thiếu hai phút đúng chín giờ, Như Luyến vào hẻm Eden. Như đã dặn trong thư, Như Luyến đến trước tiệm Woong Sui đứng đợi. Tim nàng đập thình thịch, sợ bị người quen bắt gặp. Nhưng không, nàng khỏi lo vì giờ ấy trong hẻm Eden, người ra vào như hội. Một người đàn ông mà nàng không quen đến đứng bên nàng, nói giọng nho nhỏ:

- Chào bà Như Luyến. Bà mua vé xi nê chưa?

Như Luyến đáp:

- Rồi, mua vé ban-công như các ông dặn hồi nãy.

Người lạ mặt nói:

- Bà đưa vé vào xem đi. Ngưòi ta đợi bà trong đó.

Như Luyến hỏi gặng:

- Đợi ở chỗ nào?

Người lạ mặt không đáp, quay lưng đi thẳng ra đường Nguyễn Huệ. Như Luyến đứng thần người trước tấm cửa kính bóng loáng, như người vừa tỉnh mộng. Như cái máy, nàng rảo bước lại rạp chiếu bóng, đưa tấm vé thường trực cho người chà gác. Người dẫn ghế chiếu đèn bấm đưa nàng tới một dãy ghế trống cao nhất. Chưa quen với bóng tối nên nàng chưa nhận ra được gì, ngoại trừ đoạn phim đương chiếu trên màn bạc. Đó là phim màu về chiến tranh, một loại phim có bắn giết, phi cơ thả bom, nghĩa là những cái nàng ghét. Kô-băng đã ngồi bên cạnh nàng lúc nào không biết. Đến khi quen với quang cảnh trong phòng tối, nàng mới nhận ra Kô-băng. Kô-băng hỏi nhỏ:

- Bà bằng lòng chưa?

Như Luyến gật đầu. Kô-băng trao cho nàng một mảnh giấy, và dơ tay chỉ một cánh cửa có treo một bóng đèn đỏ. Như Luyến chợt hiểu. Kô-băng đứng dậy đi ra ngoài. Đợi y đi khuất, Như Luyến mới ra theo. Nàng mở cửa phòng rửa mặt, khép lại cẩn thận rồi mở tờ giấy gập tư ra đọc:

"… Ba ngày nữa, tức là ngày thứ tư, đúng bẩy giờ tối, bà lái xe từ nhà bà, qua đường Lăng Ông, cầu Bông Đa Kao, rẽ đưòngTrần Quang Khải, lên Yên Đổ, rồi rẽ xuống đường Công Lý, tới đường Lê Lợi, đậu xe trước rạp chiếu bóng Vĩnh Lợi. Mua vé vào xem. Ngồi trong đó đúng mười phút. Mang sẵn tài liệu trong mình."

Như Luyến đọc nhẩm một hồi, cho từng chữ khắc sâu vào trong trí nhớ, đoạn đánh diêm đốt, ném tàn vào la va bô, vặn nước cho chảy mất hết. Tuy Kinh Kong không nói rõ sẽ gặp ở đâu, nàng có đủ thông minh để đoán rằng y sẽ cho người theo dõi từ lúc nàng rời khỏi biệt thự. Nếu nàng theo đúng lệnh, y sẽ xuất đầu lộ diện. Nhược bằng nàng báo với công an, Kinh Kong sẽ lẩn đi và kiếm cách trả thù. Nàng sợ hai tiếng đó quá. Vả lại, nàng đâu dại đến nỗi tố cáo với nhà chức trách.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Lê Diệp đội cái mũ cát-kết viền vàng mới tinh lên đầu, miệng vui vẻ nói với Văn Bình:

- Trông có giống hệt xốp-phơ không anh?

Văn Bình gật đầu, tủm tỉm:

- Trông chẳng khác chút nào cả. Thôi, ta vào việc đi.

"Vào việc" tức là bắt đầu tấn kịch mới. Văn Bình đóng vai nhà bác học nguyên tử, còn Lê Diệp là anh tài xế trung thành. Nhà bác học Văn Thái, vừa ở Đức quốc về được bổ nhiệm tới trung tâm nguyên tử Thủ Đức. Văn Thái được cử làm chủ sự phòng G7, tức là cơ quan mật mã của Trung Tâm, sát cạnh phòng tổng thơ ký của Như Luyến.

Chiếc Mercédès tối tân của nhà bác học Văn Thái từ từ lái qua cổng canh gác cẩn mật, và đậu trước văn phòng giám đốc. Viên giám đốc là người tin cẩn nên ông Hoàng đã cho biết trước Văn Thái chẳng phải là bác học là là Z.28 của Sở Mật Vụ. Đợi Văn Bình yên vị đâu đấy, viên giám đốc mới đóng chặt cửa phòng lại, rồi nói:

- Tôi đã nhận được chỉ thị về ông. Vậy ông cần gì tôi xin giúp hết sức.

Văn Bình mỉm cười. Ông Hoàng thu xếp chu đáo thật! Đoạn chàng đáp:

- Xin ông đưa tôi giới thiệu với các nhân viên trong Trung Tâm.

Chàng đứng dậy. Viên giám đốc đưa chàng đến phòng G7. Sau khi tiếp xúc với nhân viên, chàng về văn phòng. Đó là một căn phòng sát với phòng làm việc của Như Luyến. Từ tối hôm trước, Lê Diệp đã đặt một hệ thống chụp ảnh giấu trong tường. Nhất cử nhất động của Như Luyến đều được thu vào phim nhựa. Trước khi tới Trung Tâm, Văn Bình đã nghiên cứu kỹ các tấm ảnh chụp Như Luyến ngồi băn khoăn gọt bút chì bên đống hồ sơ bề bộn. Chàng thấy rõ lúc Như Luyến rụt rè mở cánh tủ đựng hồ sơ và mở khóa cái rương sắt đựng tài liệu tối mật. Chàng không còn nghi ngờ nữa. Quả Như Luyến đã đánh cắp tài liệu nguyên tử của Trung Tâm Thủ Đức. Hôm nay chàng muốn đánh một ván bài quyết định. Chàng sẽ nói thẳng thừng cho Như Luyến biết.

Viên giám đốc gõ cửa phòng làm việc của Như Luyến. Bên trong có tiếng:

- Cứ vào.

Tuy nét mặt mỏi mệt, cách trang điểm cẩu thả. Như Luyến vẫn không giảm vẻ đẹp thường ngày. Có lẽ nàng mỏi mệt, càng cẩu thả, nàng còn đẹp hơn nữa.

Viên giám đốc chỉ Văn Bình, giới thiệu:

- Trân trọng giới thiệu, đây là bà Như Luyến, còn đây là bác sĩ Văn Thái, phụ trách phòng G7.

Như Luyến đứng dậy, nghiêng mình chào. Biết công việc của mình đến đây là hết, viên giám đốc cáo từ. Ngồi một mình trong văn phòng với Như Luyến, Văn Bình ngửi thấy mùi nước hoa quyện mùi da thịt thơm ngát của nàng. Thảo nào Đoàn Trung chết mê chết mệt! Văn Bình nói:

- Thưa bà, tôi muốn nói với bà một câu chuyện quan trọng. Tôi không phải là Văn Thái mà là sĩ quan cao cấp của Sở Mật Vụ.

Như Luyến bật nảy như lò so, mắt mở rộng trong sự kinh ngạc:

- Thưa ông là….

- Vâng, tôi là trung tá của cơ quan mật vụ.

Chỉ trong một giây đồng hồ sau, nàng lấy lại bình tĩnh:

- Thưa, Sở Mật Vụ cần tôi có việc gì ạ?

Văn Bình thản nhiên châm thuốc lá hút:

- Thưa bà, tôi có được phép hút không?

Như Luyến gật đầu. Văn Bình nói:

- Tôi đến đây vì một việc quan trọng, không những cho riêng bà mà còn cho cả quốc gia, cả thế giới nữa. Sở dĩ tôi phải đội lốt nhà bác học Văn Thái vì tôi tin tưởng Trung Tâm này có tai mắt của địch.

- Tai mắt của địch? Dạ, của ai, thưa ông?

- Của những người đã tìm mọi cách bắt bà trao tài liệu cho họ!

Như Luyến che miệng suýt kêu lên một tiếng. Văn Bình cảm thấy vào đề một cách tàn nhẫn quá. Nhưng thế giới gấp rút, chàng không được phép từ tốn ngọt ngào. Văn Bình nói giọng nhỏ nhẹ:

- Chúng tôi hiểu bà lắm. Chúng tôi biết đích xác bà đã lấy một số tài liệu không quan trọng của Trung Tâm trao cho gián điệp Nga. Nhưng bà bị cưỡng bách, chứ thâm tâm bà không muốn.

Mặt Như Luyến tái mét. Mắt nàng nhìn đăm đăm nhìn vào khoảng không. Nàng buột miệng chống chế:

- Thưa ông….

Văn Bình gạt đi:

- Chúng tôi biết bà đã trao cho họ bản tài liệu về những vật liệu mà Trung Tâm mua dùng để thí nghiệm trong tháng trước.

Vừa nói, chàng vừa dò phản ứng của Như Luyến. Mặt nàng đã tái lại tái thêm. Bàn tay nàng dựa vào thành ghế bỗng run lên lẩy bẩy như người sốt rét.

- Tuy nhiên - Văn Bình nói tiếp - bà không thông đồng với địch, bà là người vô tội. Ở trong trường hợp bà, có lẽ ai cũng phải làm như vậy. Biết rõ tâm trạng bà, chúng tôi mới đích thân đến đề nghị với bà. Bà hãy hợp tác với chúng tôi.

Như Luyến bật hỏi như trong cơn mơ:

- Hợp tác? Hợp tác thế nào, thưa ông?

Văn Bình đáp chậm rải:

- Bà cho chúng tôi biết ai đã tiếp xúc với bà, và bà trao tài liệu cho ai?

Như Luyến lắc đầu:

- Tôi lấy danh dự thề rằng tôi không biết họ là ai cả. Tôi mới gặp lần đầu.

Văn Bình vặn tay kêu đánh "cắc":

- Bà chưa nói tôi cũng biết. Một vụ quan trọng như vậy không lẽ họ lại cho người quen bà đến tiếp xúc. Song le….

Như Luyến xua tay ngắt:

- Không, tôi sợ lắm. Người đó dặn tôi kỹ càng rồi, nếu tôi phản họ, họ sẽ khủng bố tôi, sẽ giết tôi và con tôi.

Nhìn thẳng vào mắt Như Luyến, Văn Bình nói:

- Bà yên tâm. Họ sẽ không tài nào biết được đâu. Vì muốn bảo vệ bà nên tôi đã đội lốt một nhà bác học đến đây. Nếu bà chịu cộng tác, tôi sẽ bố trí cho bà lấy tài liệu được dễ dàng. Bà vừa có tài liệu trao cho họ, lại vừa khỏi mang tội phản tội phản quốc. Bà có biết trao tài liệu mật cho địch là phạm tội gì không?

Như Luyến ôm đầu khóc. Văn Bình tiếp, giọng sắc như dao cạo:

- Tội tử hình, bà biết rồi chứ? Cộng tác với chúng tôi, bà khỏi lo, lại còn làm tròn bổn phận đối với quốc gia nữa. Bà bằng lòng không?

Nàng lắc đầu. Như không quan tâm đến sự từ chối của nàng, Văn Bình tiếp.

- Gấp lắm rồi, tôi muốn bà quyết định ngay cho. Tôi hẹn bà đến sau bữa cơm trưa. Bà cần gặp tôi thì cửa văn phòng tôi bao giờ cũng mở để đón bà.

Nói xong, Văn Bình thản nhiên quay ra, đóng cửa đánh rầm. Trong phòng, Như Luyến nức nở khóc một mình.

Từng có kinh nghiệm trong những vụ "săng-ta" tương tự, Văn Bình đã đoán chắc sự việc sẽ xảy ra. Trong cuộc giáp mặt đầu tiên, Như Luyến tất nhiên ngập ngừng vì lời địch đe dọa còn đậm nét trong óc. Phải cho nàng thời giờ suy nghĩ. Là người có kiến thức rộng, biết cân nhắc lợi hại, Như Luyến sẽ nhận ra con đường phải theo.

Bữa cơm trưa, Văn Bình dặn mang tới văn phòng. Chàng không muốn ra câu lạc bộ sợ chạm trán với Đoàn Trung. Ba giờ chiều, Như Luyến gõ cửa bước vào phòng G7. Nét mặt của nàng có vẻ rắn rỏi, cương quyết hơn hồi sáng. Văn Bình rót cho nàng một ly huýt-ky nhỏ, đoạn bưng tận tay, miệng nói:

- Mời bà nhấp một chút cho khỏe người.

Như Luyến uống một hơi hết sạch. Văn Bình châm thuốc Salem mời nàng hút. Gần Văn Bình, nàng bỗng cảm thấy ấm áp hơn, yên tĩnh hơn. Văn Bình nói:

- Tôi biết trước thế nào bà cũng nhận lời nên đã cất sẵn một chai rượu hảo hạng để uống mừng.

Như Luyến đáp, giọng vẫn chưa hết lo sợ:

- Cám ơn nhã ý của ông. Tôi vẫn thấy lo lo thế nào ấy.

- Bà yên tâm. Tôi sẽ lo liệu chu đáo hết. Đúng hẹn, bà cứ lấy tài liệu trao cho họ.

- Ông không sợ họ cướp mất hay sao?

Văn Bình cười xòa:

- Chắc bà không lạ rằng tài liệu về công thức prô-péc-gôn gồm hai phần cả thảy. Phần đầu được cất trong phòng bà, còn phần hai trong két sắt của văn phòng bác sĩ Đoàn Trung. Nếu bà biết, chắc họ cũng biết, vì tôi tin chắc họ có một cộng tác viên bí mật ở đây.

Như Luyến sửng sốt:

- Họ có người trong Trung Tâm à?

Văn Bình bình thản đáp:

- Đó là chuyện dĩ nhiên. Bây giờ quay lại câu chuyện tài liệu. Tôi đề nghị bà lần gặp đầu tiên chỉ trao phần tài liệu do bà cất giữ và hẹn lần khác sẽ trao nốt. Họ sẽ không thể nghi bà vì họ dư biết lấy phần thứ hai rất khó.

- Thưa vâng.

- Tôi muốn hỏi bà thêm một chi tiết nữa. Lần đầu địch gọi điện thoại cho bà đến gặp ở Gia Định, lần sau họ vào tận nhà bà phải không?

- Thưa phải.

- Còn sau lần gặp ngoài Cấp, địch hẹn nếu bà ưng thuận thì mở cửa và bật đèn sáng phải không?

- Thưa phải. Điều đó có gì quan hệ không vậy, thưa ông?

- Không. Tôi hỏi cho rõ đấy thôi. Bắt sang chuyện khác, Văn Bình hỏi:

- Còn chuyện này nữa. Biết phật lòng bà cũng hỏi. Xin bà thể tình cho. Bà có thể cho biết họ "săng ta" bà như thế nào không?

- Tại sao ông dám chắc người ta "săng ta" tôi?

- Tại sao không biết? Bà là người yêu nước, không lẽ bà làm gián điệp cho họ? Chỉ còn một giả thuyết: bà bị địch "săng ta". Vả lại, đây không còn là giả thuyết nữa mà là sự thật. Nếu tôi không lầm, địch đã dựa vào một vài hành động của bác sĩ Túc Lăng để "săng ta" bà.

Đến đây, Như Luyến lộ vẻ kinh ngạc khác thường. Nàng không thể ngờ cơ quan mật vụ lại biết lòng nàng vanh vách như vậy. Kinh Kong đã như ma xó rồi, trung tá Mật Vụ này còn biết tường tận hơn nữa. Nàng buột miệng kêu lên:

- Túc Lăng? Nhà tôi ư?

Gật đầu, Văn Bình đáp:

- Vâng, ông nhà ta. Lúc ông bị nạn, ông có để lại cho bà một lá thư. Lá thư đó viết ra sao, tôi tưởng bà còn nhớ hết. Đồng thời, bác sĩ Túc Lăng còn viết một bức thư nữa cho nhà chức trách công an Mỹ, trong thư thuật lại những điều đã tiết lộ với bà. Vì vậy công an Mỹ đã biết rõ hành động của bác sĩ Túc Lăng và kế hoạch đe dọa của cộng sản. Tuy nhận được thư vũnh biệt của bác sĩ Túc Lăng, công an vẫn không hành động, phần vì trọng tài của bác sĩ, phần vì trọng bà và bảo vệ tương lai cháu Lập.

Ngừng một phút như đợi lời nói của mình ngấm vào cơ thể Như Luyến, chàng nói tiếp:

- Địch bắt bà lấy tài liệu nếu không sẽ làm phiền bà về những di bút của bác sĩ Túc Lăng phải không?

Như Luyến gật đầu. Văn Bình nói:

- Vì bà muốn bảo vệ thanh danh của bác sĩ Túc Lăng nên bà chịu nghe lời họ. Bây giờ bà đã biết chính phủ Mỹ rõ việc ấy mà không nói ra. Bây giờ không còn lý do tình cảm nào ràng buộc bà với sự lo ngại ấy nữa.

Ngẫm nghĩ một lát, Như Luyến nói:

- Các ông đã biết cả, tôi tưởng có giấu nữa cũng vô ích. Ông làm thế nào tôi cũng xin vâng, tuy nhiên tôi chỉ cam kết một điều, nếu các ông để cho địch biết, tôi sẽ không nghe lời được nữa. Con tôi là điều tôi quý nhất.

Họ dọa bắt cóc và giết con tôi nếu tôi báo với nhà chức trách. Tôi không thể sống nếu giọt máu duy nhất của tôi có mệnh hệ nào. Nếu ông thỏa thuận như vậy, tôi mới sẵn sàng cộng tác.

Văn Bình nói:

- Tôi xin thoa thuận.

Như Luyến chào chàng, mở cửa bước ra.

Nhìn theo bóng nàng khuất sau làn kính đục, Văn Bình thấy bâng khuâng trong dạ. Nếu Như Luyến biết chàng nói dối nhỉ? Nếu nàng khám phá ra công an Mỹ chỉ biết Túc Lăng bán tài liệu cho Nga Sô nhưng không biết Túc Lăng viết lại một bức thư thú tội với nàng? Nếu nàng biết Văn Bình không ngần ngại dùng bất cứ phương pháp nào để nhử mồi Kinh Kong, dẫu đó là phương pháp mà nàng không ưa thích?

Văn Bình tợp một hơi huýt-ky, đoạn đội mũ lên đầu, ra ngoài sân tìm "xốp-phơ" Lê Diệp.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:44 pm

Phần Tám. Lưỡi dao dấy máu

Phạm Đồng trả tiền tắc xi, đoạn bước vội xuống lề đường. Trận mưa hồi trưa còn để lại những vũng lớn nên bước chân của y làm bắn nước tung toé lên bộ áo đắt tiền. Y chặc lưỡi ra vẻ không cần. Số tiền R.U. vừa trả cho y tha hồ mà may những bộ y phục sang trọng hơn nữa. Phạm Đồng huýt sáo miệng nghênh ngang đi vào đường Đinh Công Tráng. Đến một biệt thự to lớn, y dừng lại. Đây là một biệt thự chia ra từng phòng nhỏ, cho công tư chức thuê. Hoàng Lương, một đảng viên hành động của cộng sản thành bộ Sàigòn, ngụ trong đó. Ra vào biệt thự nhiều lần nên Phạm Đồng tìm phòng của Hoàng Lương rất dễ. Hoàng Lương đã nhận được lệnh của Thành bộ, ở nhà đợi Phạm Đồng.

Cửa phòng hé mở sau bốn tiếng gõ nhè nhẹ, cái trước dài, ba cái sau cộc lốc. Một thanh niên trên ba mươi, nét mặt hung tợn, hai lông mày nhíu vào nhau, một mắt to, một mắt nhỏ, miệng nhỏ xíu, hàm răng thưa, nướu như chuyển sang màu tím, đợi Phạm Đồng sau cánh cửa mỏng sơn xanh với mật hiệu:

- Xin lỗi ông, ông đến sang lại căn phòng này phải không?

Phạm Đồng nhoẻn miệng cười:

- Không. Tôi chỉ muốn thuê thôi. Thuê một căn vừa vặn cho một gia đình ở lục tỉnh lên.

Hoàng Lương bắt bàn tay gân guốc, cứng cáp của Phạm Đồng, miệng nói:

- Rất hân hạnh đưọc gặp đồng chí.

Phạm Đồng gật đầu. Y rút thuốc lá thơm ra mời Hoàng Lương. Từ ngày hoạt động cho mật vụ Nga, y không thích được gọi là đồng chí vì thật ra y có biết đảng cộng sản là cái quái gì. Y chỉ là kẻ chuyên nghề giết thuê. Thế thôi. Tại sao lần này Trường Thanh lại dặn y tới tiếp xúc cho bằng đưọc Hoàng Lương? Thấy chai cỏ-nhát vừa mở nút để trên bàn. Phạm Đồng vớ lấy, cho lên miệng tu ừng ực. Tu xong y lấy trong túi ra một mảnh giấy nhỏ, đánh máy, trao cho Hoàng Lương, với lời dặn:

- Anh đọc kỹ cho thuộc rồi hủy đi.

Hoàng Lương mang mảnh giấy lại bàn viết, bật đèn lên đọc một cách chăm chú, trong khi Phạm Đồng ngồi xuống ghế, rút trong túi ra chiếc rũa móng tay, rũa từ tốn, trịnh trọng như một thiếu nữ làm đỏm. Đọc xong bản mật lệnh, Hoàng Lương xé vụn ra, bỏ vào miệng nhai nuốt. Phạm Đồng đưa chai rượu cho bạn:

- Chiêu một ngụm cho tiêu đi.

Hoàng Lương cười hềnh hệch, cho cổ chai vào miệng nốc một hơi hết góc chai rượu mạnh. Là đảng viên hành động của Thành bộ, Hoàng Lương được triệu tới mỗi khi cần bắt cóc, tống tiền hay ám sát. Lệ thường, y được thưởng khá nhiều tiền. Dạo này, công việc làm ăn quẫn bách, Đảng gọi y đi là một cái hay. Phạm Đồng đứng dậy, chào:

- Thôi, tôi đi trước. Chốc nữa nhá?

Hoàng Lương gật đầu. Cánh cửa đóng đánh sầm. Phạm Đồng vẫy tắc xi xuống Sàigòn uống rượu. Còn sớm chán. Mười phút sau, Hoàng Lương khóa trái cửa, ra đường. Y bận sơ-mi bỏ ra ngoài quần màu xám trông như một tiểu chức, không có gì đặc biệt. Y trèo lên xích lô máy, dặn chạy về đường Yên Đổ.

Trời bắt đầu tối, Như Luyến đi đi lại lại trong phòng, vẻ mặt lo nghĩ. Nàng đã lấy được đoạn đầu của bộ tài liệu. Dĩ nhiên nàng không vấp phải trở ngại nào vì có sự đồng ý của Sở Mật Vụ. Tuy nhiên nàng vẫn sờ sợ.

Còn năm phút nữa tới bảy giờ tối. Như Luyến xuống ga-ra, mở cửa xe định bước lên. Đột nhiên linh tính báo nàng biết một chuyện ghê gớm. Nàng quay ngoắt lại. Phía sau, trong bóng tối của góc ga-ra là một mũi súng đen ngòm, một cái mũ phớt vành to, một người lạ mặt, không phải Kinh Kong. Nàng run sợ, tay bấu lấy cửa xe, miệng la lên một tiếng nhỏ:

- Ông là ai?

Người lạ mặt mỉm cười một cách bí mật:

- Tôi là bạn của Kinh Kong.

Nàng buột miệng:

- À ra ông là người của Kinh Kong?

Người lạ mặt nói:

- Tài liệu đâu, bà đưa cho tôi?

Như Luyến lắc đầu:

- Không thể đưa cho ông được. Kinh Kong hẹn tôi ở một chỗ khác.

- Bây giờ Kinh Kong lại chọn chỗ này. Chúng tôi có phải là con nít đâu… mà hẹn mấy ngày trước? Hẹn như vậy để bà báo với chúng nó ấy à?

Nàng chợt hiểu. Kinh Kong khôn ngoan thật. Thì ra y vẫn nghi ngờ nàng, y sợ nàng trình cho công an biết. Người lạ mặt lại giục:

- Đâu, bà đưa cho tôi?

Như Luyến đáp:

- Ông bảo Kinh Kong đến đây, tôi đưa cho. Tài liệu tôi không mang theo trong mình.

Mắt người lạ mặt quắc lên một cách dữ tợn. Như Luyến chưa kịp nói tiếp thì một quả đấm bay vèo vào cầm nàng. Nàng ngã vật ra phía sau, bất tỉnh nhân sự, cái xắc cầm tay văng xuống sàn xi-măng. Người lạ mặt tất tưởi mở xắc ra tìm kiếm. Một phút sau, y đóng ví lại, miệng trút ra một tiếng rủa tục tằn. Không có tài liệu. Y quỳ bên Như Luyến, lần từng gấu áo, gấu quần của nàng. Cũng không có gì sất. Y liền rút trong túi ra một lọ thuốc nhỏ, mở nút, đưa tận mũi cho nàng ngửi. Chỉ trong khoảnh khắc, nàng tỉnh dậy. Nhìn tận mắt người vừa đánh nàng, Như Luyến mắng:

- Đồ vũ phu!

Nhưng y nhe răng cười. Có lẽ vũ phu không xong, y phải giở ngón ngoại giao! Đứng dậy, Như Luyến khen thầm sự tiên đoán tài tình của viên trung tá Mật Vụ. Văn Bình dặn nàng không nên mang tài liệu trong mình, đề phòng mọi bất trắc. Hồi trưa, nàng đã lấy keo dán vào dưới táp-lô xe hơi. Theo lời Kinh Kong, nàng chụp thành một cuộn phim nhỏ xíu.

Nàng xoa cái cầm, miệng nói một cách giận dổi:

- Tôi đã bảo mà! Tôi có để tài liệu ở đây đâu?

Người lạ mặt rút trong mình ra một cái walkie-talkie, loại máy vô tuyến tí hon có thể nói và nghe trong đường kính ba cây số, và ấn vào một cái nút màu đỏ. Có tiếng dè dè. Người lạ mặt nói:

- X02 gọi X9, X02 gọi X9…

Trong máy có tiếng trả lời liền:

- X9 nghe đây. Nói đi?

- Thưa, bà ta muốn gặp đồng chí mới chịu đưa. Bà ta không mang trong người.

Qua máy vô tuyến, nà nghe tiếng nghiến răng ken két. Kô-băng tức giận đến cực độ. Hắn buông thỏng:

- Được. Thi hành kế hoạch AMK.

Máy vô tuyến tắt. Người lạ mặt nói với nàng:

- Bây giờ, bà cho biết tài liệu ở đâu để đi lấy?

Nàng đáp thản nhiên:

- Tôi có mang sẵn đây. Nhưng mới có phần đầu mà thôi. Phần sau, xin hẹn tới hai ngày nữa. Tôi chỉ trao tài liệu với điều kiện: ông trả cho tôi tấm hình có bức thư của chồng tôi.

Người lạ mặt đưa cho nàng một cái phong bì nhỏ. Đỡ lấy, nàng mở ra xem thấy bên trong đã để sẵn một tấm ảnh. Người lạ mặt nói:

- Còn cái phim, lần sau sẽ trả nốt. Bà đồng ý chứ?

Nàng đáp:

- Đồng ý.

Người lạ mặt nói:

- Bây giờ bà lái xe theo lộ trình bữa trước Kinh Kong dặn bà. Dọc đường sẽ có người tiếp xúc với bà và trao lệnh mới. Người đó mặc sơ-mi bỏ ngoài quần màu xám, trên túi áo có chiếc mù-xoa màu đỏ để lòi ra ngoài.

Nàng hỏi:

- Còn tài liệu?

- Tài liệu, bà trao cho tôi ở đây.

- Như vậy thì cần gì gặp người kia nữa?

- Bà hỏi lôi thôi lắm. Nếu không gặp người đó, bà biết lần sau trao tài liệu ở đâu?

Bỏ cuốn phim vào túi áo, người lạ mặt cười nửa miệng với Như Luyến:

- Bà cũng thông minh đấy chứ! Nhưng thông minh vừa vừa thôi nghe, thông minh quá rồi mất mạng đấy!

Nàng không thèm đáp. Người lạ mặt lùi vào góc ga-ra. Như Luyến vặn khóa công tác, cho máy rú lên một lúc, đoạn gài số cho xe lùi ra sân. Con Ziếc-cô ngủ vùi gần cây phượng vĩ. Hai con bẹt-giê khác chưa đến giờ thả còn bị nhốt trong cái chuồng ở sau nhà, cách ga-ra một quãng khá xa. Như Luyến tặc lưỡi lái xe ra ngoài đường. Chờ nàng đi được ba phút, người lạ mặt mới lặng lẽ từ góc ga-ra đi ra, khẽ mở cửa biến vào bóng tối trong vườn. Chỉ một thoáng sau, hắn đã nhảy qua bức tường thấp bên cạnh, băng qua con đường hẻm. Một chiếc xe hơi cũ kỹ đã đợi người lạ mặt ở đó. Người lạ mặt vừa nhảy qua tường thì ở trong ga-ra một người đàn ông khác hiện ra.

Người này núp sau một chiếc xe hơi nhỏ, kiểu đua mà Như Luyến chỉ dùng trong những cuộc đi xa. Người này là Văn Bình, tức Z.28. Văn Bình tấm tắc khen thầm tổ chức của địch. Nếu không là chàng thì có lẽ bọn chúng tha hồ tung hoành. Chàng rút trong túi ra một cái máy vô tuyến, cũng nhỏ như cái lúc nãy mà người lạ mặt dùng để thông tin với Kô-băng. Văn Bình ra lệnh:

- Z.28 đây. Z.40 có nghe không? Cẩn thận, một tên khả nghi vừa từ trong ga-ra lẻn ra vườn, và có lẽ chạy ra bên hông hoặc phía sau biệt thự. Cẩn thận. Hắn cũng có máy walkie-talkie. Thông báo với ban chỉ huy, tìm ra luồng điện walkie-talkie của địch. Z.40 chỉ huy cuộc theo dõi tên khả nghi này. Chỉ theo dõi thôi, không được can thiệp trong bất cứ trường hợp nào. Hết.

Đến lượt Văn Bình băng ra vườn. Chàng nhảy lên một chiếc xe díp cực mạnh, máy nổ sẳn, sang số chạy như bay theo vết Như Luyến. Chàng đã dặn nàng phải để xe hỏng dọc đường từ năm đến mười phút. Nếu nàng không quên lời dặn thì chàng còn hy vọng gặp lại. Nhược bằng…. Đến gần ngã tư Yên Đổ, Văn Bình gặp xe Như Luyến. Tin rằng đối phương lợi dụng lúc đèn xanh đèn đỏ, hoặc chỗ dừng xe bắt buộc để tiếp xúc nên Văn Bình cứ chạy thẳng, rồi đến ngã tư Yên Đổ, Công Lý, rẽ sang bên trái, độ 15 thước, cho xe chạy vào bên lề. Quả Văn Bình đoán không sai! Đến nghã tư Yên Đổ, Công Lý, Như Luyến gặp đèn đỏ. Nàng dừng lại, cho cần tốc độ vào tử điểm. Ngay khi đó, một cái xe hòm sơn đen đi sau, đậu sát bên xe Mo-rít của Như Luyến. Một người mặc áo xám bỏ ngoài quần, trên mép túi lòi ra một mảnh mù-xoa đỏ, thản nhiên mở cửa xe Như Luyến, ngồi lên cạnh nàng.

Hú vía! Nếu Văn Bình không vượt qua trước, thế nào cũng chạm trán với xe của địch! Đèn ngã tư chuyển sang màu xanh. Từ nãy đến giờ, Như Luyến không hé răng một tiếng. Nàng vặn cái đèn hiệu sang bên trái, tỏ ý muốn quẹo trái, nhưng người mặc áo xám đã ra lệnh

- Không, rẽ sang tay phải.

Như Luyến cho xe chạy qua cầu, thẳng đường lên sân bay Tân Sơn Nhất. Qua khỏi trạm xăng, người áo xám mới nhếch mép:

- Hân hạnh được chào bà. Kinh Kong ra lệnh cho bà đúng bảy giờ tối ngày thứ sáu, bà phải trao nốt phần còn lại. Nếu không ….

Như Luyến cướp lời, giọng căm tức:

- Các ông chả phải dọa nữa. Đừng tưởng dọa nhiều mà tôi sợ đâu!

Người mặc áo xám cười:

- Xin lỗi bà.

Đến gần sân bay, người áo xám dặn nàng dừng xe lại rồi trở lui. Sân bay thiết quân luật từ bảy giờ tối nên Hoàng Lương không muốn nàng đi xa thêm nữa. Hoàng Lương ngạc nhiên không hiểu vì sao chỉ cần nói với Như Luyến một vài câu mà Thành bộ lại triệu y gấp rút như vậy. Y không biết nội dung vụ này. Và y không biết Kô-băng là ai nữa. Y chỉ biết tuân lệnh. Chiếc Mo-rít từ từ quay về Sàigòn. Văn Bình đợi bốn, năm cái xe đi sau Như Luyến qua mặt mới ấn ga xăng.

Đến ngã tư Công Lý-Phan Thanh Giản, Như Luyến đậu xe bên lề cho Hoàng Lương xuống. Trông trước trông sau không có ai, Hoàng Lương tiến lại chiếc vét-pa dựng lúc nãy cạnh bụi dâm bụt. Y rồ máy, chạy một mạch về đường Đinh Công Tráng. Phía sau, Văn Bình theo sát như bóng với hình. Đến khi nhận ra nhà ở của Hoàng Lương, Văn Bình gọi vô tuyến về cho Sở Mật Vụ:

- Alô, Z.28 đây. Z.28 đã theo người khả nghi đến tận nhà. Alô, hãy phái nhân viên tới số nhà 188 đường Đinh Công Tráng. Một cái biệt thự rộng. Đương sự ở phòng nhìn ra đường, có một cửa sổ che riềm màu cá vàng. Đương sự cao độ 1th65….

Tiếp theo, Văn Bình kể tướng mạo của Hoàng Lương. Xong xuôi, chàng lái xe xuống Sàigòn, đến chỗ hẹn với Lê Diệp. Nơi hẹn là một quán rượu xinh xắn, đông khách, có gắn máy lạnh, ở cuối đường Lê Lợi. Những ngày về Sàigòn nghỉ ngơi, Văn Bình thường tới quán rượu này, chọn một cái bàn trông thẳng ra đường. Tất cả Sàigòn hoa lệ đều phải dạo ngang qua. Vừa nhắp huýt-ky, Văn Bình vừa tinh nghịch đếm các màu áo trăm vẻ. Dạo này, phụ nữ Sàigòn sính bận màu tím Huế, mỏng, để lộ áo cánh đen bên trong, và màu vàng như pẹc-nô. Cái thời áo hàng bôm-bay đã qua cùng với mốt viền tà áo bằng hàng màu đậm. Trong cuộc đời sóng gió, những sắc đẹp đã qua với chàng như thời áo bôm-bay và mốt viền tà áo. Văn Bình bất giác thở dài.

Chàng ngồi hơn nửa giờ mà không thấy tăm hơi Lê Diệp. Cô bồi xinh xắn, mặc chiếc bờ-lu trắng, cổ trái tim, đã mang cốc huýt-ky thứ năm cho chàng. Đôi trai gái, chàng mặc quần ống chẽn, sơ mi hở cổ, nàng tóc đuôi gà, mặt cặm lông nheo, lông mày nhổ tuột, vẻ bằng bút chì xanh, phải le lưỡi khi chàng cạn ly thứ năm, khoanh tay trên bàn đợi ly thứ sáu. Lệ thường tửu lượng của chàng rất cao. Cái nghề gián điệp cần uống rượu thật nhiều, không phải uống nhiều cho đỡ sợ, nhưng đôi khi để đánh lừa đối thủ. Chàng còn nhớ một đêm kia, theo dõi một cuộc tiếp xúc của R.U. ở thủ đô Ba-Tư, chàng phải đóng vai một gã say rượu bí tỉ. Hết ly này đến chén khác, chàng nốc như vòi hút nước. Uống đến khuya chàng giả vờ say kềnh, chân nam đá chân xiêu trong quán rượu, kẻ địch vẫn chưa tin, còn ép chàng thêm nửa chai rượu mạnh nữa. Chàng cứ uống. Nhưng chàng vẫn tỉnh khô, tuy ngã lăn trên nền gạch và ngáy o o. Nhờ tài Lưu Linh, đêm đó, Văn Bình bắt được cọp giữa hang hùm và làm tròn một công tác thập phần nguy hiểm, chưa nhân viên hành động nào thành công trong bao nhiêu tháng.

Một cô gái tóc ngắn, bận áo chẽn, bằng hàng mỏng như giấy bóng, ưỡn ẹo bước qua quán rượu. Thoạt trông, Văn Bình đã bực mình. Giả tạo quá, trơ trẽn quá! Đừng tưởng khoa học và kỹ nghệ có thể biến con cá mắm thành đường cong nguyên tử! Đừng tưởng đàn ông không có mắt tinh đời! Văn Bình đương mãi luận về triết lý sắc đẹp cân đối thì Lê Diệp lùi lũi đi vào. Trông vẻ mặt bơ phờ của Lê Diệp, chàng đoán ngay có chuyện không hay. Lê Diệp kéo ghế ngồi, Văn Bình hỏi:

- Thế nào, hỏng rồi phải không?

Lê Diệp giật mình:

- Vâng, hỏng rồi, sao anh biết?

Văn Bình mỉm cười:

- Trông bộ dạng thiểu não của anh, ai chả biết? Thế nào, chúng nó lừa anh rồi chuồn mất phải không?

Lê Diệp đáp, giọng còn đượm căm tức:

- Tôi không ngờ lại ngu dại như vậy. Nếu tôi biết trước….

Văn Bình gạt đi:

- Cần gì anh. Thua keo này ta bày keo khác.

Tuy nói để an ủi bạn, Văn Bình cảm thấy băn khoăng trong dạ. Lê Diệp là tinh hoa của Sở Mật Vụ. Biết đối thủ là tay cừ khôi, Văn Bình đã cử Lê Diệp theo hút người lạ mặt vừa lấy tài liệu trong ga-ra của Như Luyến và trèo tường trốn ra. Thế mà đối phương đã cho Lê Diệp ăn bụi.

Lê Diệp đánh diêm châm điếu xì-gà kếch xù, hít một hơi dài, đoạn thuật lại công cuộc theo dõi. Lúc nảy, sau khi nhận được lệnh của Văn Bình, chàng đã theo sát nút tên lạ mặt. Đó là một người đàn ông cao lớn, lực lưỡng, dáng đi nhanh nhẹn, có vẻ giỏi võ và quen nghề đi khuya về tắt. Người này đội mũ phớt Mốt săng màu xám, bận một bộ âu phục kiểu mới, xẻ sau lưng và quần ống chật. Vừa nhảy tường ra, người lạ mặt mở cửa một chiếc xe hiệu Gô-li-át cũ kỹ trèo lên. Phía sau, cách hơn trăm thước, Lê Diệp đã nổ máy đợi sẵn. Qua cửa kính sau, Lê Diệp thoáng thấy xe Gô-li-át có tài xế lái. Chiếc Gô-li-át sơn đen, tuy có bốn mã lực, mà chạy nhanh lạ thường, nhanh đến nỗi chàng tưởng chừng mê ngủ. Tài xế không lái trên đường đông đúc mà chỉ phóng trên đường vắng tanh, phần vì muốn giữ tốc lực nhanh, phần khác vì muốn kiểm soát phía sau xem có bị theo hay không. Đoán được ý của họ, Lê Diệp đi sau thật xa. Chạy vòng quanh một hồi, chiếc Gô-li-át lái về Sàigòn trước rạp chiếu bóng Kinh Đô, đường Lê Văn Duyệt. Người lạ mặt xuống xe, vào phòng bán vé, còn tài xế rồ ga phóng đi một mạch. Lê Diệp ghi số xe vào sổ tay, đoạn theo tên lạ mặt vào rạp xi nê. Người lạ mặt mua vé từ trước, thản nhiên bước vào rạp.

Văn Bình ngắt lời Lê Diệp:

- Tôi chắc anh không mua vé.

Lê Diệp sửng sốt:

- Vâng, tôi không mua vé. À, tại sao cái gì anh cũng biết?

- Giản dị lắm. Anh có trong mình tấm "các" tự do xuất nhập trà thất và nơi du lịch, không lẽ trong trường hợp cấp bách lại mất thời giờ mua vé.

Sực nghĩ ra, Lê Diệp gật đầu:

- Ừ nhỉ, thế mà tôi quên mất.

Văn Bình hỏi tiếp:

- Tại sao anh không mua vé, không đến chậm, mà lại mất hút người đó được?

Lê Diệp thở dài:

- Thế mới bực mình! Tôi gặp chuyện bất ngờ anh ạ. Tôi vừa rút ví, lấy tấm thẻ thường trực thì bị một thằng bé bán kẹo đến ám. Nó cứ dúi vào tay tôi một gói kẹo cao-su cho kỳ được. Tôi không mua, nó cứ bám lấy gấu áo lạy lục, xin xỏ hết lời. Nghĩ thương thằng bé rách rưới, tôi móc ví lần nữa, lấy tiền trả cho nó. Nó chậm rải trả tiền lẻ cho tôi. Như thế mất ba phút đồng hồ, ba phút đủ cho người lạ mặt tìm được chỗ lẩn trốn trong rạp xi-nê. Tôi tin rằng trong rạp còn có một đồng lõa khác, đợi sẵn để lấy tài liệu. Nếu tên lạ mặt bị tóm cũng chả khai thác đưọc gì. Kẻ nhận tài liệu thường không biết môn khoai gì hết. Y được lệnh trên, đi tới một nơi nào đó, nhận một tài liệu nào đó, về trao lại cho một người khác, thế thôi. Thành ra có bắt được cũng vô ích, lại còn làm đối phương đề phòng nữa là khác.

Văn Bình không đáp. Chàng chống tay lên cằm nghĩ ngợi. Đột nhiên, mắt chàng sáng quắc lên một cách dị thường. Chàng nhớ tới bản phúc trình của cơ quan an ninh về sự đi đứng của Như Luyến trong mấy ngày qua. Cách đây mấy hôm, nàng chỉ lái xe đến cầu Bình Lợi rồi quay về Sàigòn. Tại sao vậy? Cũng hôm đó, một đứa trẻ bán nem trên cầu bị chết một cách bí mật. Có thể là hai chuyện dính líu với nhau, hoặc hoàn toàn không có tương quan với nhau. Chiếc xe hộ vệ đi sau nhìn thấy một đứa bé bưng thúng nem lại cạnh xe Như Luyến và thò cổ vào trong xe mời nàng mua. Nhân viên hộ vệ dùng ống nhòm theo dõi không thấy khả nghi nên bỏ qua. So với tấm ảnh thằng Vĩnh bị thiệt mạng, nhân viên hộ vệ cả quyết đứa bé bán nem cho Như Luyến với thằng Vĩnh chỉ là một. Như vậy nghĩa là địch chỉ lẩn quẩn đâu đây, mượn tay người khác hành sự chờ công việc xong xuôi thì hạ thủ. Văn Bình bàng hoàng liên tưởng tới đứa bé bán kẹo cao-su trước rạp chiếu bóng. Chàng vội hỏi Lê Diệp:

- Rạp chiếu từng xuất hay chiếu thường trực?

Lê Diệp đáp:

- Hôm nay là phim đặc biệt nên chiếu từng xuất. À, điều đó quan trọng không mà anh hỏi?

Văn Bình gật đầu:

- Quan trọng lắm. Nếu tôi đoán không sai, anh đến rạp sau khi vào phim đã lâu.

Lê Diệp đáp:

- Đúng lắm. Lúc tôi bước chân vào, người chà bán vé nói còn bốn mươi phút nữa thì vãn.

Văn Bình lẩm bẩm:

- Hay là? Hay là?

Lê Diệp hỏi dồn:

- Hay là… thế nào hử anh?

Văn Bình nói như máy:

- Anh còn nhớ vụ thằng Vĩnh trên cầu Bình Lợi mà chúng mình đọc hôm qua trong bản báo cáo của công an không?

Lê Diệp đứng phắt dậy:

- Thôi tôi hiểu rồi. Không khéo…?

Văn Bình kéo Lê Diệp ngồi xuống, nói nhanh:

- Tôi hiểu anh định nói gì rồi. Mấy phút trước, tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng theo tôi, chưa nên anh ạ.

Lê Diệp tỏ dấu kinh ngạc:

- Nếu anh gọi dây nói vô tuyến ngay cho công an cảnh sát may ra còn cứu kịp một mạng người. Tại sao anh lại ngăn tôi?

Văn Bình nói, giọng ôn tồn:

- Không phải ngăn anh, nhưng tôi cảm thấy việc đó vô ích. Từ lúc anh rời rạp chiếu bóng đến giờ ít nhất là một giờ. Giờ này nếu quả số phận thằng bé bán kẹo kia cũng như thằng Vĩnh thì nó đã ra người thiên cổ rồi. Vả lại, dầu nó chưa mệnh hệ gì, bổn phận chung vẫn không cho phép ta can thiệp.

- Tại sao?

- Nếu ta can thiệp, địch sẽ biết Như Luyến đã tiếp xúc với cơ quan an ninh, hoặc chúng ta đã nhúng tay vào nội vụ. Tấm lưới mà ông Hoàng giăng ra đợi bọn R.U. trở nên vô ích. Mặt khác, Như Luyến sẽ bị trả thù ghê gớm. Địch khôn ngoan lắm anh ạ. Việc xảy ra trước rạp xi-nê tối nay chỉ là bài toán giúp chúng thử lại đáp số. Chúng đợi ta can thiệp để thử lại mối hoài nghi của chúng. Đúng không anh Diệp?

Lê Diệp giật bắn mình. Văn Bình tiên đoán như thần. Văn Bình đọc được tâm can đối phương như trong mảnh giấy. Lê Diệp nói:

- Nghĩa là chúng ta nên tảng lờ như không biết?

Văn Bình gật đầu. Lê Diệp lại hỏi:

- Nhưng, theo tôi, họ đã biết chúng ta theo dõi rồi còn gì. Có biết ta theo dõi nên họ mới bố trí trước rạp chiếu bóng.

Văn Bình cười nụ:

- Có thể có mà cũng có thể không. Họ chưa tin chắc nên cần thử lại bài toán, trước khi có thái độ rõ rệt. Lệ thường, gián điệp nào cũng thận trọng. Có bao giờ anh đi nhận tài liệu bí mật mà không đề phòng theo dõi tuy anh chưa biết có bị theo dõi hay không? Mua vé trước cũng là một trong những chi tiết của chương trình. Nếu tôi chỉ huy việc lấy tài liệu này thì cũng phải làm như họ mà thôi.

Sực nhớ ra, Văn Bình hỏi:

- Trước cửa rạp lúc nãy có đông người không?

- Không. Tôi đã nói đi nói lại mà anh quên sao? Còn bốn mươi phút nữa mới hết phim nên trước cửa rạp chỉ có vài ba người mà thôi.

Nhìn vào tận mắt Lê Diệp, Văn Bình hỏi gặng:

- Anh nhớ hết ba người đó không?

Lê Diệp uống một ngụm xá xị, tròng mắt không động đậy ra vẻ nghĩ ngợi. Một phút sau chàng đáp:

- Trong ba người có một thiếu phụ dáng điệu quê mùa. Còn hai người đàn ông….

Đột nhiên Lê Diệp ngừng lại. Chàng sực nhớ đến bộ mặt quen thuộc của người khách cao cao, thân hình nở nang mà chàng gặp trong tiệm cắt tóc Bell, trong khi chàng gây sự với gã thủy thủ ngoại quốc. Người khách này ít nói nhưng chàng không thể nào quên được. Tiếng nói lơ lớ như người phương Tây học tiếngViệt. Hơn nữa, khuôn mặt và mầu con ngươi lại không có chút nào Việt-Nam. Người nảy, Lê Diệp đã gặp lại trước rạp chiếu bóng Kinh Đô. Chàng bèn thuật lại cho Văn Bình nghe.

Văn Bình nói:

- Tóm lại, lúc nãy trước rạp xi-nê có hai người đàn ông cả thảy. Không cần nhìn mặt, tôi đã biết người nói tiếng lơ lớ ấy là gián điệp R.U. tối nguy hiểm vừa tới Sàigòn.

Lê Diệp hỏi lại:

- Sao anh biết?

Văn Bình vừa móc túi lấy tiền ra trả, vừa đáp giọng bình thản:

- Như Luyến cho biết người tiếp xúc với nàng hôm đầu tại Tân Định là một thanh niên giọng nói lơ lớ và có khuôn mặt, tròng mắt không có chút nào Việt-Nam.

Hai người chậm rãi bước ra cửa. Trước khi lái xe về phòng riêng, Văn Bình còn dặn Lê Diệp:

- Bây giờ anh về ngay văn phòng thường trực của sở, gặp họa sĩ chuyên môn, kể cho họ vẽ lại bộ mặt của người nói tiếng lơ lớ ấy. Chừng nào vẽ xong, anh cho tôi biết, tôi sẽ đưa Như Luyến xem và chữa lại.

Văn Bình vừa rẽ sang đường Nguyễn Huệ thì ngọn đèn của máy vô tuyến trên xe bật cháy. Chàng ấn nút, tiếng dè dè nổi lên:

- Alô, alô, báo cáo với Z.28, báo cáo với Z.28…

Văn Bình ra lệnh:

- Đây Z.28, nói đi.

Tiếng trong điện đài vẳng ra, nghe rõ mồn một:

- Đây là toán Hành Động A. Cảnh sát Quận III vừa khám phá ra một vụ sát nhân ở đường Đinh Công Tráng. Nạn nhân là Hoàng Lương ở biệt thự số 188, kẻ mà chúng tôi được lệnh theo dõi. Hoàng Lương vừa bị giết xong. Bên mình còn lại một lưỡi dao vấy máu…

Văn Bình bàng hoàng. Chàng hỏi gấp:

- Bây giờ anh ở đâu? Lại ngay chỗ ngã tư đèn đỏ Hai Bà Trưng - Hiền Vương. Năm phút nữa tôi tới.

Lưỡi dao vấy máu, Hoàng Lương, cái khâu gắn liền Văn Bình với tổ chức của địch đã bị giết. Ai giết Hoàng Lương? Tại sao Hoàng Lương bị giết?

Văn Bình phóng xe như bay về miệt Tân Định.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:44 pm

Phần Chín. Một vụ bắt cóc táo bạo

Văn Bình gặp nhân viên toán Hành Động A ở chỗ hẹn. Đó là một người đứng tuổi, bộ điệu nhanh nhẹn, nét mặt hiền lành. Thấy Văn Bình, người này kính cẩn nhấc mũ chào. Văn Bình rút thuốc lá mời hút. Người kia thở một hơi khói bạc hà, đoạn báo cáo:

- Thưa, vâng lệnh ông, tôi chỉ huy toán A vây căn nhà số 188 khả nghi bắt đầu từ 7g32'. Sau khi về phòng, Hoàng Lương vặn đèn, thay quần áo và ra bàn đọc sách. Năm phút sau, y đóng cửa sổ nên tôi không biết rõ y làm gì ở trong, tuy nhiên ở mỗi đầu đường tôi đều cắt người gác. Để gác cẩn thận hơn, một người của tôi giả làm hành khất, ngồi phục trước cửa biệt thự.

Vào lúc 7g44' phút, có tiếng vật lộn và tiếng la từ phòng Hoàng Lương vẳng ra. Tuân lệnh ông, tôi không vào can thiệp.

Văn Bình sốt ruột, ngắt lời:

- Hoàng Lương bị giết ra sao?

Người kia vẫn một giọng báo cáo lễ độ:

- Thưa, tôi đợi năm phút ở ngoài, không thấy ai ở trong chạy ra nên sinh nghi và gọi điện thoại cho cảnh sát cấp cứu. Năm phút sau, cảnh sát quận III tới và khám phá ra áng mạng.

- Thi thể Hoàng Lương mang về đâu?

- Thưa, về nhà xác Chợ Rẫy.

- Được, anh đi với tôi.

Một lát sau, hai người đến bệnh viện Chợ Rẫy, nhà xác có công an viên bận thưòng phục đứng gác. Sau khi nhân viên hành động trình giấy, Văn Bình vào trong phòng lạnh.

Xác Hoàng Lương chưa kịp giải phẩu còn để trên một cái bàn sắt, phủ vải trắng.

Xét ba vết đâm, Văn Bình nhận thấy nhân viên Hành Động báo cáo đúng. Hung thủ khó thể là tay chuyên nghiệp. Kẻ được huấn luyện bao giờ cũng đâm móc từ dưới lên, chứ không đâm bổ từ trên xuống, vừa khó trúng tim, vừa bị xương sườn cản lại. Nhờ may mắn, nhát thứ ba kết liễu tính mạng Hoàng Lương, còn hai nhát kia ăn không sâu, tuy có thể thấu phổi.

Đậy vuông vải lên người Hoàng Lương, Văn Bình bậm môi nghĩ ngợi. Đến phút này, chàng chắc chắn hung thủ không phải là gã gián điệp R.U. mà Như Luyến gọi là Kinh Kong. Vì lẽ giản dị Hoàng Lương bị đâm trong khoảng thời gian từ 7g32' đến 7g44', thời gian mà Kinh Kong còn túc trực trước rạp chiếu bóng Kinh Đô. Kẻ giết người cũng không phải là một gián điệp trong nghề. Chàng nói với người nhân viên Hành Động:

- Tôi muốn hỏi cảnh sát một vài chi tiết về vụ ám sát này. Anh có thể dàn xếp với ông cảnh sát trưởng không?

Người kia nhoẻn miệng cười, đáp:

- Việc ấy không khó. Ông Hoàng thường cho tôi liên lạc với cảnh sát trong những vụ mật.

Ra đến phòng thường trực, người nhân viên Hành Động quay số điện thoại cho ông cảnh sát trưởng. Anh ta nói nhỏ một hồi, xong xuôi mới trao ống nói cho Văn Bình. Văn Bình nói trong máy điện thoại:

- Chào ông cảnh sát trưởng.

Đầu giây có tiếng trả lời nhã nhặn:

- Không dám, chào ông.

Văn Bình hỏi:

- Ông có thẻ cho biết trong mình nạn nhân có dấu tích gì không?

- Không có gì hết. Hình như y đã bị lục kỹ trước rồi. Đến một mẫu giấy vụn cũng không có nữa.

- Hung thủ đeo găng, phải không ông?

- Vâng, đeo găng. Chúng tôi không tìm được dấu tay nào cả. À, tại sao ông biết?

- Tôi đoán phỏng thế. À, thưa ông, cuộc khám xét có mang lại một kết quả nào không?

- Nạn nhân không để lại vết tích. Thư từ, giấy tờ riêng đã bị đốt sạch từ trước. Ảnh gái đẹp, kỷ niệm của nhân tình cũng không có. Tôi thấy vụ này bí mật quá, tỏ ra được chuẩn bị chu đáo.

- Tôi cũng tin vậy.

Văn Bình gác giây nói. Chàng không cần hỏi thêm nữa. Ngần ấy chi tiết đủ giúp chàng tìm ra con đường phải đi.

Văn Bình trèo lên xe, lái từ từ trên đường phố vắng. Ngọn gió mát từ sông Sàigòn quạt vào mặt, vào tóc chàng. Chàng định lái về Chi Lăng, đến tìm Như Luyến. Nhưng chàng lại đổi ý kiến. Thời dụng biểu mấy hôm nay nhiều việc quá. Chàng cần một đêm nghỉ ngơi cho thoải mái. Văn Bình chặc lưỡi tắt máy trước một bin-đinh 9 tầng ở đường Võ Tánh. Mỗi khi buồn phiền về thể xác, hoặc cần tỉnh dưỡng sau những tuần lễ vật lộn với con dao, khẩu súng, Văn Bình thường đến căn phòng quét màu hồ thủy ở lầu ba của bin-đinh này. Nàng là gái nhẩy của tiệm Thiên Đường. Nàng có một thân hình mà tượng nữ thần Hy-Lạp cũng phải chảy nước miếng. Nàng đương đợi chàng bên cạnh chai xâm-banh dầm trong đá vụn, và con gà hấp béo ngậy.

Đêm nay, Văn Bình sẽ ở lại với Mộng Kiều.

Mặc kệ câu chuyện đánh cắp tài liệu nguyên tử. Chàng cần ngủ một giấc đến sáng bên cạnh người đẹp.

Cười thầm trong bụng, Văn Bình ấn nút thang máy.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Lúc Văn Bình tỉnh dậy trời đã xế trưa. Chàng nhìn bên cạnh: Mộng Kiều đã đi đâu mất. Chỗ trũng trên nệm còn thơm mùi da thịt nàng. Chàng chống tay, ngồi lên. Sự mệt mỏi hồi đêm đã biến mất, tuy nhiên, khớp chân chàng bị rời ra như đòi được đóng đinh lại, và lưỡi chàng khô rang vì uống rượu nhiều quá. Trông thái độ khệnh khạng của Văn Bình, ai cũng tưởng chàng là gã ăn chơi liều lĩnh. Nhưng không, chàng vẫn có thói quen ngược đời như vậy. Lúc cần suy nghĩ thật nhiều, chàng lại đi tìm sự thơ thới, nhẹ nhõm về xác thịt. Mộng Kiều bận bộ áo ngủ màu vàng nhạt, mỏng tanh, đang pha cà-phê cho chàng. Chàng hỏi:

- Mấy giờ rồi, cưng của anh?

Mộng Kiều thỏ thẻ:

- Còn sớm anh ạ. Mới 11 giờ thôi.

Văn Bình che tay lên miệng ngáp. Đối với vũ nữ lấy đêm làm ngày thì 11 giờ trưa vẫn còn sớm, nhưng đối với nhân viên do thám? Tối nay Như Luyến phải trao bản tài liệu còn lại cho Kinh Kong. Trao ở đâu? Trao như thế nào? Chàng chưa biết. Chàng với lấy tê-lê-phôn ở đầu giường. Chỉ ba mươi giây sau, chàng đã nói chuyện với Lê Diệp. Giọng của Lê Diệp pha vẻ kinh ngạc khác thường:

- Anh bị nạn ở đâu mà suốt đêm qua tìm không thấy? Có hề gì không? Bây giờ anh ở đâu?

Văn Bình liếc nhìn Mộng Kiều. Nàng có thói quen không quan tâm tới đến công việc của chàng. Nàng chỉ biết một điều: yêu là yêu, thế thôi. Văn Bình làm gì, lấy tiền ở đâu, nàng không muốn biết và không đòi biết. Vì vậy Văn Bình thích tới Mộng Kiều hơn những nơi hò hẹn khác. Mộng Kiều đang múc đường khuấy vào tách cà-phê thơm phức cho chàng. Chàng đáp giọng buồn buồn:

- Ừ, hôm qua tôi lâm nạn, anh ạ. May không hề gì.

Lê Diệp tỏ ra sốt ruột hơn:

- Không hề gì chứ? Anh bị bắt hụt hay ám sát hụt?

Văn Bình cười:

- Bị ám sát và đổ máu.

- Thế à? Bị thương nặng không?

- Bị nặng lắm. Bị đổ máu mà lại?

Lê Diệp ngừng một phút, đoạn hỏi:

- Bây giờ anh ở đâu? Tôi cần gặp anh ngay. Liệu anh tiếp tục công việc được không?

Văn Bình phì cười:

- Ở đường Võ Tánh.

Đầu giây vẳng lên hồi cười ròn rã:

- Khiếp! Mình cứ tưởng cậu bị chúng "thịt" mất rồi. Làm suốt đêm qua người ta không chợp được mắt!

Văn Bình cười to hơn:

- Phải, ông không ngủ được phút nào cả, nhưng sáng mai phải lấy dao tách mí mắt ra cho khỏi dính đấy thôi!

Hòa cả làng! Lê Diệp chịu thua:

- Thôi, chịu thầy. Bây giờ tôi lại Võ Tánh nhé?

Văn Bình đặt ống nói xuống giá. Làm việc nhiều lần với Lê Diệp, chàng đã hiểu rõ tính tình của người bạn nhỏ. Lê Diệp không hay phí trọn đêm trên nệm cao-su trắng muốt như chàng, nhưng lại thích đi dưới mưa, nhìn lên một khung cửa còn mở, le lói ánh đèn, bên trong có một người đẹp mà Lê Diệp yêu một cách thầm kín và lố bịch. Mười phút sau, Lê Diệp bước vào. Gặp Mộng Kiều, chàng trách:

- Gớm, chị cứ giữ riệt anh ấy, làm người ta hết hồn!

Mộng Kiều nhăn răng cười:

- Còn anh thì không?

Thấy Lê Diệp tới, biết ý, Mộng Kiều sang phòng bên trang điểm.

Lê Diệp lừ mắt, nhìn Văn Bình:

- Hung thủ có lẽ là Đoàn Trung, anh ạ.

Văn Bình ngồi sững. Chàng hỏi Lê Diệp:

- Đoàn Trung giết Hoàng Lương à?

- Vâng. Ở chuôi dao có dấu tay của bác sĩ Đoàn Trung. Dấu tay mới lắm, theo Sở Giảo Nghiệm, chỉ độ mấy tiếng đồng hồ mà thôi.

- Bí mật thật! Nếu Đoàn Trung giết người thì mọi dự đoán của ta cần phải đặt lại. À, nếu Đoàn Trung là hung thủ sao không ai thấy Đoàn Trung đi ra?

- Có vết giầy cao-su, đế Út-Min cỡ chân Đoàn Trung dẫm nước in lên nền gạch hoa, dẫn ra phía sau nhà. Đoàn Trung giết Hoàng Lương xong rồi chạy vội ra sau, trèo tường xuống cái ngõ hẹp, đi ra đường Lý Trần Quán.

Văn Bình im lặng. Lê Diệp nói:

- Theo tôi, có lẽ Đoàn Trung là một nhân viên R.U. ở đây. Đoàn Trung chỉ giữ đoạn sau của tài liệu nên cần bố trí lôi Như Luyến vào tròng. Anh thử nghĩ: ngoài Như Luyến chỉ có Đoàn Trung được vào văn phòng đặt máy chữ Olympia và chép bản tài liệu.

Văn Bình lắc đầu:

- Không, nàng thú nhận với tôi là chính nàng chép lại trao cho Kinh Kong.

Lê Diệp cãi:

- Đó là phần đầu. Còn phần hai cất trong tủ Đoàn Trung. Đoàn Trung có thể trao cho R.U. được nhưng chẳng chóng thì chầy ông Hoàng phăng ra manh mối. Mượn tay Như Luyến, nếu bị bại lộ Đoàn Trung vẫn là người vô tội.

- Theo anh, Như Luyến chỉ là tấm bình phong, còn bản tài liệu thì đã lọt vào tay họ rồi phải không?

- Phải.

- Điểm này, tối nay, nếu họ cố tình phá vỡ cuộc trao tài liệu, ta sẽ biết được Đoàn Trung có tội hay không. Vả lại….

Định nói một ý kiến táo bạo, chàng im bặt. Văn Bình cảm thấy đưa ý kiến ấy ra còn sớm quá.

Lê Diệp đề nghị:

- Anh có thỏa thuận cho bắt Đoàn Trung không?

Văn Bình xua tay:

- Chưa nên bắt.

- Cho toán Hành Động A theo dõi được không?

Văn Bình vẫn xua tay:

- Vấn đề theo dõi Đoàn Trung, anh để cho tôi. Nào bây giờ sang vấn đề khác. Kinh Kong đã tiếp xúc với Như Luyến chưa?

Lê Diệp chưa chịu đồng ý:

- Càng sang vấn đề này tôi càng thấy bắt Đoàn Trung là cần thiết. Kinh Kong đã tiếp xúc với Như Luyến sáng nay. Tiếp xúc bằng cách sai một nhân viên R.U. hoạt động trong Trung Tâm gọi giây nói cho nàng tại văn phòng.

- Họ dùng giây nói riêng của Trung Tâm ư?

- Phải. Đến anh cũng ngạc nhiên, huống hồ là tôi. Trừ phi Đoàn Trung, còn ai ở Trung Tâm vâng lệnh Kinh Kong gọi giây nói cho Như Luyến nữa?

Văn Bình thừ người nghĩ ngợi. Lê Diệp dồn thêm:

- Bây giờ anh đã thỏa thuận cho tôi xử trí với Đoàn Trung chưa?

Văn Bình đáp, giọng cương quyết:

- Tôi muốn anh bình tĩnh hơn nữa. Ví phỏng Đoàn Trung có tội, bắt hoạc theo dõi trong lúc này vẫn là bất lợi, vì mục đích của ta là phá vỡ tổ chức của địch và tóm cổ tên cầm đầu, chứ không quan tâm đến một vài nhân viên trực thuộc. Vả lại, mất Đoàn Trung địch sẽ thận trọng hơn, gây thêm khó khăn cho ta. Giả thuyết thứ hai, nếu Đoàn Trung là nhân viên R.U., sự bắt bớ sẽ dẫn tới hậu quả tai hại. Đoàn Trung là nhà bác học tên tuổi không những trong nước, mà ngoài nước đều biết. Việc bắt Đoàn Trung không thể giấu kín được. Bắt oan, khi thả ra, các nhà bác học khác, nhìn gương Đoàn Trung sẽ đâm nản, không muốn cộng tác nữa. Sự lầm lộn này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới công cuộc nghiên cứu, phát minh bí mật nguyên tử. Bây giờ, sau khi đã phân tích hai giả thuyết, anh còn giữ ý kiến bắt giữ và theo dõi Đoàn Trung nữa không?

Lê Diệp nín thinh. Văn Bình hỏi:

- Lệnh của Kinh Kong ra sao?

- Hồi chín giờ rưỡi sáng, Như Luyến đương ở văn phòng thì một tiếng nói, mà nàng không nhận ra được của ai, gọi tới, dặn nàng đúng bốn giờ chiều, lái xe đi.

- Đi đâu?

- Họ không nói đi đâu. Họ chỉ dặn Như Luyến đúng bốn giờ chiều xuống ga-ra, đánh xe đi, dọc đường sẽ nhận được lệnh, đồng thời nàng phải mang theo bản tài liệu chót.

Văn Bình uống cạn cốc cà-phê Mô-ka. Vừa khi đó Mộng Kiều uyển chuyển từ phòng bên bước ra. Nàng ôm Văn Bình hôn lên tóc, lên trán, nũng nịu:

- Anh về đấy à? Em không cho đâu.

Văn Bình đáp:

- Không, anh còn ở lại với em đến chiều mới về.

Lê Diệp xen vào:

- Về bây giờ chứ. Đợi đến chiều sao kịp?

Không để ý tới sự phản đối của bạn, Văn Bình quay lại phía Mộng Kiều:

- Này em, bộ mạt chược của em còn ở đây không?

Nàng đáp:

- Còn anh ạ. Anh muốn chơi à? Mới có ba người, chơi sao đủ?

Văn Bình nói:

- Em mời chị Thu Ngọc sang chơi một thể cho vui.

Mộng Kiều sực nhớ ra:

- Ừ nhỉ, em quên khuấy đi mất.

Lê Diệp đứng dậy, vẻ mặt băng khoăn. Hiểu ý chàng, Văn Bình cười:

- Nóng nẩy thế? Ngồi xoa một quánh đã sao?

Rồi không cần Lê Diệp ưng thuận, Văn Bình đổ những con mạt chược bằng ngà tinh xảo, trắng xóa lên cái bàn lót dạ xanh và sắp lại thành đôi. Thu Ngọc là một vũ nữ nhảy giỏi của tiệm Thiên Đường. Nàng ở khít phòng với Mộng Kiều. Nàng không đẹp bằng Mộng Kiều song thân hình nảy nở hơn, gợi cảm hơn. Văn Bình hút hết điếu này qua điếu khác. Tâm trí chàng tập trung vào quân bài khiến không ai ngờ được chàng là một tay gián điệp lợi hại, một nhà trinh thám tuyệt luân. Chàng đánh vùi đến ba giờ chiều. Lê Diệp lo lắng tâm thần bất định nên thua hoài. Chai rượu buốc-bông đầy ắp để bên. Văn Bình đã uống gần hết mà da mặt vẫn không thay đổi. Lê Diệp lừ mắt nhìn Văn Bình:

- Gần đến 4 giờ rồi, anh ạ!

Văn Bình đáp:

- Ừ, gần đến 4 giờ rồi. Nào, chúng mình đi về.

Mộng Kiều hỏi:

- Các tướng đi đâu đấy? Đi ăn mảnh hẳn?

Lê Diệp gắt:

- Bận không phút nào thở mà còn bảo là ăn mảnh? Đàn bà có khác!

Văn Bình xen vào:

- Chà, phê bình cái anh ghét đàn bà này làm gì? Thôi, anh đi nhá!

Văn Bình lôi Lê Diệp xuống cầu thang. Ra tới đường, chàng vẫn thản nhiên như người rỗi việc, đi tản bộ. Mấy cái tắc xi chạy ngang mà chàng không buồn vẫy. Lê Diệp hỏi:

- Anh không ra lệnh cho anh em Hành Động bố trí à?

Văn Bình khoác tay, vẻ mặt bí mật:

- Tôi với anh không đủ hay sao?

Đến góc đường, Văn Bình trèo lên chiếc xe Đức cũ kỹ đậu chơ vơ bên lề. Tuy bên ngoài cũ kỹ mà mới đề-ma-rơ, chong chóng đã quay ngay. Văn Bình vào số, từ từ lái lên đường Chi Lăng. Ngồi bên cạnh, Lê Diệp tỏ vẻ sốt ruột, chốc chốc vén tay áo lên xem giờ. Văn Bình quay hỏi Lê Diệp:

- Còn mấy phút nữa đến bốn giờ?

Lê Diệp đáp:

- Còn đúng mười sáu phút rưỡi nữa.

Văn Bình dừng xe bên vệ đường, bảo Lê Diệp xuống. Lê Diệp ngạc nhiên:

- Anh đi đâu? Sao tôi lại xuống đây?

Văn Bình lắc đầu:

- Tôi giao cho anh chỉ huy. Anh đứng dưới gốc cây me kia kìa. Nửa phút nữa người ta sẽ đến tiếp xúc với anh báo cáo tình hình.

Lê Diệp sửng sốt thêm:

- Anh đã chuẩn bị xong rồi à?

Văn Bình mỉm cười:

- Xong rồi. Từ hôm qua. Tôi cử Nguyễn Phổ điều khiển toán Hành Động A, bao vây nhà Như Luyến. Anh sẽ nói chuyện với Phổ, nên nhớ, chỉ theo dõi thôi, không được hành động nghe chưa?

Lê Diệp nhảy thót xuống mặt cỏ. Văn Bình sang số hai, cho xe chạy mất dạng về phía Lăng Ông. Y như Văn Bình dặn trước, Lê Diệp thoáng thấy bóng Nguyễn Phổ từ một góc đường đi tới. Phổ đóng vai chú ba Tàu bán thịt bò khô, vừa đi, vừa cầm cái kéo cắt vào khoảng không kêu lách sách. Lê Diệp chép miệng, chịu Văn Bình là tài. Lúc nào hắn cũng ra vẻ ăn chơi vung mạng thế mà công việc đều đâu vào đấy. Lê Diệp vẫy hàng thịt bò khô lại ăn. Nguyễn Phổ trông không khác chú buôn thịt bò khô thực thụ. Cả tay cắt thịt bò và rắc mước mắm chua cũng in hệt như người bán thịt chính cống. Phổ hỏi Lê Diệp:

- Cậu sơi bao nhiêu?

Lê Diệp nheo mắt:

- Một đồng. À này, anh đóng khéo quá! Anh Văn Bình dặn tôi đến gặp anh tại đây. Có gì mới không?

Vừa xắt thịt bò khô, Nguyễn Phổ vừa đáp:

- Trước biệt thự và bên hông, đều có người núp gác rất kín đáo. Chỗ nào tôi cũng đặt máy ảnh cực mạnh cả. Ai ra vào đều bị chụp hình, rồi họ báo cáo cho tôi. Đây này, ông thử nghe xem.

Nguyễn Phổ ấn vào một cái nút giấu dưới thùng đựng thịt bò khô và đu đủ bào. Thùng này có hai lớp, lớp dưới là một cái máy thu phát thanh chỉ huy. Trong máy có tiếng phát ra dè dè. Đường Chi Lăng lúc đó người vẫn qua lại đông đảo, nhưng không ai chú ý tới một chú ba Tàu đứng sát vào vệ cỏ, bán thịt bò dấm cho một thanh niên. Lê Diệp nghe rõ tiếng báo cáo mồn một:

- …. Alô, xin báo cáo. Từ sáng đến giờ không có ai ra vào hết, ngoại trừ người thân như u già và Đoàn Trung….

Nguyễn Phổ tắt điện đài. Đoạn chàng nói với Lê Diệp:

- Trung tá Văn Bình phái tôi đến đây giúp ông theo dõi người tới nhận tài liệu. Cách đây 20 bước có một chiếc Pờ-Dô sơn màu xanh, đậu ngoài ngõ hẻm. Mời ông đi ngay. Trong xe có máy vô tuyến, tôi sẽ liên lạc thường trực với ông trên làn sóng điện 7.5.

Như Luyến đi đường nào, tôi sẽ báo ông biết để theo.

Nói xong, Nguyễn Phổ ngửa tay nhận đồng bạc 2 đồng mới tinh của Lê Diệp, đoạn đẩy cái xe thịt bò khô sang bên kia đường. Lê Diệp thản nhiên, thọc tay túi quần, hút một hơi xì-gà, đi nhanh về phía chiếc Pờ-Dô. Trong khi đó, Văn Bình dừng xe trước một tòa nhà hai tầng ở phía Lăng Ông. Đó là ký túc xá, nơi Như Luyến gửi thằng Lập ăn học, từ sáng đến chiều mới tới nhận về.

Như chàng tính trước, chàng đến ký tíc xá vào lúc học sinh được nghỉ 15 phút. Văn Bình bước vào phòng khách chìa danh thiếp ra với người tùy phái gác cổng, ngỏ ý muốn gặp thằng Lập. Thằng Lập đương nô đùa ở góc sân với bầy trẻ cùng tuổi. Nó bận sơ-mi cụt chim cò, quần soọc màu trắng và đội mũ vàng mà Như Luyến mua ở một tiệm khách trú bên hông chợ Vũng Tàu. Thấy Văn Bình tiến tới phía mình, thằng Lập lộ vẻ ngạc nhiên. Văn Bình chìa tay ra trước, miệng nói:

- Cháu Lập đấy à? Bác Văn Thái đây. Nghe nói cháu học ngoan nên bác đi qua đây có gói kẹo xu-ing-gơm mang vào biếu cháu.

Chàng cho thằng Lập một gói kẹo bạc hà cao-su. Thằng Lập vốn thích nhai kẹo cao-su. Nó bóc vội, bóc vàng, ném vào miệng, nhá ngấu nghiến, đoạn cho mỗi đứa bạn một cái. Trong khi đó, Văn Bình châm thuốc hút. Chàng cầm gọn cái bật lửa trong tay, mắt không rời thằng Lập. Đó là một cái bật lửa bằng thép không rỉ, đốt bằng hơi, kiểu tối tân. Trước khi đến ký túc xá, Văn Bình đã nghiên cứu kỹ tính tình, thú chơi của thằng Lập. Thằng Lập vốn thích đồ chơi bằng cơ khí như máy ra-đi-ô, xe hơi. Bật lửa là một trong những món nó mê nhất. Văn Bình biết thóp thằng bé, cứ loay hoay với cái bật lửa, chưa chịu tắt. Chợt hồi chuông mãn giờ chơi kêu lên reng reng, Văn Bình cúi xuống, hôn lên má thằng Lập, miệng nói:

- Thôi, bác về nhá.

Thằng Lập chưa chịu vào lớp, tần ngần:

- Thưa bác….

Văn Bình cười xòa:

- Cháu thích cái này phải không? Ừ, cháu muốn, bác cũng cho. Giữ lấy mà chơi, đừng bỏ lạc đâu nghe? Đây này, cất kỹ vào trong túi như thế này….

Chàng ấn cái bật lửa xinh xắn vào túi quần soọc của thằng Lập. Bọn học sinh líu tíu kéo nhau vào lớp. Thằng Lập riu ríu chạy sau, mặt mày hớn hờ. Văn Bình thản nhiên ra khỏi trường. Đồng hồ tay chỉ đúng 4 giờ kém một phút.

Ở biệt thự trên đường Chi Lăng. Như Luyến cầm lấy dúm chìa khóa xe, đoạn khép cửa lại, bước xuống ga-ra. Rút kinh nghiệm trước, lần này nàng mở khóa ga-ra, bật đèn lên rồi mới vào. Kỳ trước nàng không khóa ga-ra nên nhân viên của Kinh Kong mới lọt vào được dễ dàng. U già đi chợ từ nảy. Trước khi u đi, nàng dặn u già thả bầy chó ra để gác biệt thự. Giờ đây, Như Luyến tin chắc Kinh Kong không dám vào trong nhà nàng được nữa. Nàng đẩy cánh cửa ga-ra sang một bên, nhìn vào trong. Hai chiếc xe của nàng vẫn y nguyên. Bóng tối trong ga-ra bị ngọn đèn trăm nến sáng quắc mà nàng vừa lắp hồi trưa đuổi ra ngoài. Như Luyến cảm thấy yên dạ đôi chút. Nàng trèo lên xe, vặn máy. Kinh ngạc xiết bao, một phong thư nhỏ, thứ phong bì mà Kinh Kong dùng để gửi bức thư đe dọa bữa nọ cho nàng, đã được đặt ngay ngắn trên nệm xe. Như Luyến bàng hoàng. Nàng không thể ngờ Kinh Kong lại ghê gớm nhường ấy Trừ phi y có phép tàng hình, hoặc độn thổ, chứ hôm nay nàng đã đề phòng cẩn mật… Viên trung tá trẻ tuổi của Sở Mật Vụ đã cam kết long trọng với nàng bất cứ giờ nào cũng có nhiều cặp mắt vô hình vây quanh biệt thự. Nếu đúng, sao Kinh Kong còn lọt vào được trong này, đặt lá thơ trên nệm xe Mo-rít?

Bức thư cũng gồm toàn chữ cắt trong báo dán lại, như sau:

… Yêu cầu bà lái xe tới nhà hàng Ma-giét-tích ở đường Tự Do, ngồi xuống giải khát ở cái bàn kế bên ngoài cùng. Tới sáu giờ rưỡi, bà sẽ bách bộ về phía Hải Quân và ngồi xuống một cái ghế xi-măng đặt trước thông báo hạm Chương Dương.

Nếu bà gặp trở ngại nào, hoặc bị theo, hoặc chưa có tài liệu thì khi ngồi ở nhà hàng Ma-giét-tích hãy rút khăn mù-soa để chận cái xắc trên bàn.

Dọc đường, nếu bị theo, bà hãy đeo cái xắc lên vai.

Như Luyến buột miệng thở dài. Kinh Kong lo chu đáo, không bỏ quên chi tiết vụn vặt nào. Như Luyến đánh diêm đốt cháy bức thư, vùi tàn vào cái đựng tàn thuốc lá trong xe. Nàng chậm chạp cho xe lùi ra khỏi ga-ra. Con Ziếc-cô đứng sững hai chân, miệng sủa gâu gâu một cách quyến luyến. Nó là bạn thân và là vệ sĩ trung thành của nàng. Đáng tiếc là Kinh Kong không chịu cho con Ziếc-cô cùng đi.

Con chó thông minh dí cái mõm vào giầy nàng, đánh hơi ngoe nguẩy đuôi. Nàng xuống xe, đóng cửa ga-ra thì con Ziếc-cô ngậm lấy gấu quần nàng, tỏ vẻ phản đối. Như Luyến ứa nước mắt. Con chó không biết nói nhưng dã đoán biết công việc thập phần bạc bẽo và nguy hiểm mà nàng lao đầu vào. Nó không muốn nàng đi, sợ chuyện chẳng lành. Như Luyến cúi đầu xuống, lấy tay xoa xoa vào mũi con Ziếc-cô, miệng mắng yêu:

- Ziếc-cô, Ziếc-cô coi nhà giỏi nhá?

Con chó gật gật hai cái, đoạn nằm phục xuống một bên, thái độ buồn rầu vô hạn. Chưa bao giờ nó buồn như thế! Nó linh tính một việc bất hạnh sắp xảy tới cho nàng chăng? Như Luyến chắt lưỡi, đoạn phóng xe ra khỏi cổng. Vừa khi đó, u già lể mể di chợ về. U mang một cái giỏ mây nặng chĩu hoa quả và tôm cá. Thấy Như Luyến lái xe ra, u già đứng nép sang bên, nhưng không quên cặn dặn một cách âu yếm:

- Cô đi đâu sớm thế? Cô có đón em Lập một thể không?

Nàng lắc đầu đáp:

- Không, tôi bận việc gấp. Nhờ u chốc nữa đón em.

U già tỏ dấu vâng lời. Như Luyến ấn còi xả ga chạy một mạch về Sàigòn. Lòng nàng thanh thản. Nàng cảm thấy đỡ cô đơn mỗi khi được u già săn sóc. Ước ao sau vụ này Kinh Kong sẽ để mẹ con nàng sống yên ổn với cuộc đời góa bụa như trước nhỉ?

Chiếc Mo-rít của nàng ra đến đầu đường là cuộc săn bắt của ban Hành Động bắt đầu. Người nhân viên túc trực sau hàng cửa sổ của một bin-đinh đối diện, đợi Như Luyến lái xe ra khỏi biệt thự mới ấn nút vô tuyến liên lạc với Nguyễn Phổ. Nguyễn Phổ đương cầm cái kéo cắt lách sách ở ngã ba Chi Lăng, Gia Định. Như Luyến không lái xe về phía Lăng Ông để xuống Sàigòn cho gần như Phổ dự tính mà chạy thẳng về Phú Nuận. Nàng rời cổng biệt thự được bốn phút. Mấy ống kính nhiếp ảnh tối tân của Sở Mật Vụ chĩa vào quãng đường từ cổng nhà Như Luyến, tiến về phía Phú Nhuận. Như Luyến bon bon đến gần bệnh viện Cơ Đốc. Người cảnh sát giao thông chưa cho nàng vượt qua. Y là một trong những cộng tác viên của Sở Mật Vụ. Từ nãy Nguyễn Phổ đã ra chỉ thị cho y tìm cách giữ chiếc Mo-rít lại một hai phút, đủ thời giờ cho Lê Diệp từ phía sau vọt lên. Đến khi Như Luyến rẽ về ben trái, thẳngđường Võ Di Nguy lên Sàigòn thì chiếc Pờ-Dô cũ kỹ của Lê Diệp đã bám gần sát. Trời xế chiều, xe cộ qua lại như mắt cửi. Chiếc Pờ-Dô bề ngoài tồi tàn của Sở Mật Vụ chính là một kỳ công của khoa học rượt bắt. Vỏ xe là vỏ Pờ-Dô của Pháp, trầy sơn và méo mó nhiều chỗ, nhưng máy lại là máy mới, với một thứ cạc-buy-ra-tơ đặc biệt. Khi hữu sự, chỉ cần rồ máy là chiếc Pờ-Dô sọc sạch gầm lên với tốc độ 150 cây số một giờ, còn chạy nhanh hơn xe hơi Hoa Kỳ nữa. Ở cửa bên trái, phía trước, ngay trước tay lái, có một cái đèn hình tròn, thứ đèn mà người đi bắn đêm thường gắn vào xe để chiếu cho sáng. Trông hình thù ai cũng tưởng là đèn bắn đêm, thật ra đó là máy ảnh, và quay phim tự động cực kỳ tối tân. Bấm một cái nút trong xe, máy này chỉ chụp từng tấm một, bấm một nút khác thì biến thành máy quay phim liên tục. Cái đèn hình tròn thay cho bóng đèn chụp của máy ảnh. Thứ máy ảnh quay phim này, công an F.B.I. của Mỹ dùng để theo dõi kẻ khả nghi.

Đi sau xe Như Luyến, cây đèn của Lê Diệp từ từ quay phim. Chốc nữa, rửa phim xong, Văn Bình có thể nằm nhà vẫn theo dõi được cuộc rượt bắt kín đáo. Qua khách sạn Ma-giét-tích, Như Luyến đậu xe sát lề, đoạn bước vào nhà hàng lộ thiên. Khách khứa đã ngồi đông đảo, hóng gió chiều hè từ cửa sông Sàigòn quạt lên. Lê Diệp vào sau, chọn một cái ghế tận trong cùng. Chàng gọi một chai côca côla. Nhìn về phía Như Luyến, chàng thấy mặt nàng băn khoăn, tuy bề ngoài cố che đậy. Nàng luôn thay đổi kiểu ngồi, tỏ vẻ sốt ruột. Lê Diệp để ý nàng uống rượu mạnh rất khá. Chỉ loáng một cái, nàng đã uống cạn ba ly cỏ-nhác không pha sô-đa. Lê Diệp ngồi uống nước ngọt như vậy cho đến sáu giờ rưỡi. Trên bàn, chai không bày la liệt. Đĩa đựng tàn thuốc trước mặt đã đầy ắp mẩu xì-gà.

Trời tối sớm. Mảnh chân trời ở thương khẩu đã đen kịt. Đèn phố bật sáng từ bao giờ. Khách hóng mát đi lại nườm nượp trên bờ sông. Như Luyến coi đồng hồ, đoạn trả tiền đứng dậy, lững thững đi về phía Hải Quân Công Xưởng. Lê Diệp không rời bàn uống vội. Kinh nghiệm cho biết địch thường gài người lại canh chừng. Vả lại, trong lúc này, ngoài chàng ra còn bao nhân viên khác của Sở Mật Vụ lẩn trong bóng tối theo từng dấu chân của Như Luyến. Có lẽ Văn Bình và Nguyễn Phổ đã có mặt ở bờ sông. Như Luyến đi lên bờ, bước nhanh hơn. Chung quanh nàng đều là những mặt không quen. Nàng không thấy rõ nhưng đoán theo dáng đi và giọng nói đủ biết họ tràn trề vui sướng. Cách một quãng ngắn lại có một cặp vợ chồng trẻ bước qua. Nàng bỏ tay dưới nách chàng, hai người đi sát vào nhau tuy trời không lạnh như ở Pháp. Sát mặt nước, đâu cũng có những đôi trai gái chụm đầu tình tự. Bọn trẻ con chạy thình thịch mời khách mua mía và bắp rang ơi ới. Nếu không có Kinh Kong, nàng còn sung sướng hơn những cặp trai gái kia chục lần. Bên cạnh nàng có thằng Lập, có u già, lại có cả bác sĩ Đoàn Trung nữa.

Như Luyến qua trụ sở Hải Quân. Đường bắt đầu hơi tối. Cách nàng hai chục bước là gót chân đều đặn của Lê Diệp chăm chú bước theo Như Luyến. Chợt chàng giật mình. Một tiếng la xé nhĩ tai vừa ngân lên. Chàng đứng dừng lại. Nhưng không, Như Luyến vẫn không hề gì. Đó là tiếng kêu của ả tố nữ đứng với tình lang mê mãi yêu đương bị tuột chân xuống nước. Như Luyến vén áo ngồi xuống cái ghế xi-măng. Tuy đứng xa, nhưng Lê Diệp vẫn thấy rõ. Chàng thoáng thấy một đứa trẻ bán bắp rang lại gần, tần ngần, rồi dúi vào tay nàng một cái gì. Lê Diệp chợt hiểu. Địch bao giờ cũng dùng chiến thuật gặp gỡ trung gian. Hẹn một chỗ nào đó nhưng khi tới nơi lại dùng một người lạ hẹn tới chỗ khác. Địch quỷ quyệt thật! Chàng thấy Như Luyến cúi đầu xuống đọc. Đúng rồi, một mảnh giấy. Đọc xong, Như Luyến vo tròn, ném vào xắc, đoạn bước xuống đường, đi ngược về phía đại lộ Thống Nhứt.

Con đường này có cây lớn hai bên nên tối om. Người đi lại thưa thớt. Lê Diệp nghe tiếng giầy cao gót của Như Luyến rền vang trên đường nhựa. Đến một khoảng tối, Như Luyến rẽ sang bên phải, về phía Sở Thú. Đây là khu tối nhất. Nàng đi đâu đây? Lê Diệp nhìn ra sau. Không có một ai. Như Luyến khuất vào lùm cây tối om. Lê Diệp đứng hẳn lại, giác quan thứ sáu đánh hơi thấy nguy hiểm. Đột nhiên, chàng nghe tiếng còi cành sát ré lên. Lê Diệp nhoài mình trên hè đường nhựa. Một chiếc Trắc-xông sơn đen, giàn thấp lè tè, chạy như tên bắn, lái sát sạt vào chàng, cửa sau khạc ra một vòng lửa đỏ ối: súng mi-tray-dết. Tacata, tacata, tacatacata…. Ít nhất là một băng tiểu liên xả vào người chàng. Tập luyện thành thạo, lại quen với những trường hợp vào sanh ra tử nên Lê Diệp không bị sây sát. Chàng lồm cồm bò dậy, chiếc Trắc-xông dừng đánh két cách chàng mấy thước, nã một tràng tiểu liên nữa vào chỗ chàng phóng mình lúc nãy. Lê Diệp phải cuộn mình như khúc giò, lăn vào trong lề. Tiếng súng im, Lê Diệp cũng nằm im, giả chết. Bốn bề im lặng như cảnh chết. Trên xe bưóc xuống hai người lực lưỡng. Tên đi trước, cao thước bẩy, mặc bà ba đen cầm tiểu liên. Tên đi sau, thấp hơn, nhỏ hơn, không mang khí giới. Định thần nhìn kỹ, Lê Diệp thấy một sợi thắt lưng. À, ra chúng nó định ném chàng xuống sông cho mất xác. Chàng vẫn nằm cứng đờ. Tên cao lớn đến bên chàng, chĩa mũi súng còn sực nức mùi thuốc, định bắn thêm loạt nữa, nhưng tên đi sau ra hiệu bảo thôi:

- Thôi, vừa vừa chứ, khu này lắm lính đấy! Bắn hai "băng" rồi thế nào cũng nghe. Để tôi xem hắn chết chưa đã.

Hán khom lưng xuống, đặt tay lên tim Lê Diệp. Lê Diệp chỉ chờ có cơ hội đó. Nhanh như cắt, bàn chân của chàng khua một cái cực mạnh, đụng xương bánh chè của tên cầm tiểu liên. Y bị tấn công bất ngờ, lại nhằm chỗ phạm nên bổ chúi về phía trước, tuy nhiên, ngón tay của hắn vẫn nhấn vào cò. Những viên đạn chín ly bắn ra tua tủa, nhưng không trúng vào người chàng. Trong khi chàng dùng chân đánh ngã tên cao lớn, bàn tay của chàng vút lên một cái nhẹ, trúng gáy tên nhỏ thó. Phật! Sống tay chắc như thép tôi chặt đúng yết hầu. Tên nhỏ thó ngã quay chết không kịp trối.

Lê Diệp vùng dậy. Tên cao lớn còn cầm súng trong tay. Chàng không cho y cơ hội lấy lại sức và chĩa súng vào người chàng. Chỉ một tích tắc đồng hồ, Lê Diệp đã tiến cạnh khẩu súng và đá mạnh vào báng. Khẩu tiểu liên rời tay y bay xuống đường.

Tất cả việc đó xảy ra trong vòng ba chục giây đồng hồ. Chàng phản công chớp nhoáng đến nỗi đồng lõa của chúng ngồi trên xe không kịp trở tay. Lê Diệp rút lưõi dao sắc như nước trong túi ra, chờ phóng. Nhưng chàng chỉ nghe tiếng máy rú dữ dội rồi chiếc Trắc-xông bí mật biến vào đêm tối.

Tứ phía chàng nghe tiếng síp-lê cảnh sát và tiếng còi xe hơi. Chàng chạy băng về phía Như Luyến.

Cuối đường, Lê Diệp bắt gặp một người đàn ông hấp hối trong vũng máu đỏ lòm. Người đó là Nguyễn Phổ. Phổ nằm sấp, mặt dính xuống đất. Lưng thấm máu một vũng to tướng. Lê Diệp lật ngửa Nguyễn Phổ ra. Cặp mắt nạn nhân đã mất tinh. Trước khi thở hắt ra, Phổ cựa mình như con cá quẫy trên thớt sau khi cụt đầu, đoạn nằm thẳng đờ, vĩnh biệt cõi thế. Mắt Lê Diệp vấp phải một vật cách đó một quãng ngắn. Chàng chạy vội lại, chiếc mù-soa màu vàng có thêu hai chữ N.L., mù-soa của Như Luyến, mùi nước hoa đắt tiền mà nàng quen dùng còn phảng phất.

Tiếng còi cảnh sát mỗi lúc một gần thêm. Chàng định ở lại, trình giấy tờ với cảnh sát, yêu cầu họ giúp điều tra, nhưng khi nghĩ tới lời dặn của ông Hoàng, và của Văn Bình, chàng lại bỏ ý định. Khi đèn pha của cảnh sát cấp cứu quét hai vệt vàng ở đầu đường, Lê Diệp ba chân bốn cẳng chạy biến về đường Nguyễn Bĩnh Khiêm.

Gặp một chiếc tắc xi đi rong, chàng ngoắt lại, dặn lái tới trụ sở riêng của ban Hành Động. Văn Bình ngồi đợi Lê Diệp không biết tự bao giờ. Nét mặt Văn Bình đanh lại, như được đẽo trong một khối thép. Câu nói đầu tiên của Lê Diệp là:

- Phổ bị rồi….

Văn Bình gật đầu. Chàng đã biết tin Phổ bị hạ sát. Lúc đó Văn Bình đương ngồi trên xe díp chỉ huy gần bờ sông. Chàng liên lạc với Phổ bằng máy vô tuyến cầm tay. Một loạt đạn nổ qua ống cao-su hãm thanh kèm theo tiếng kêu dẫy chết của Phổ đã báo cho chàng biết. Chàng định bay lại cứu nhưng lại cách nơi Phổ bị hạ sát đến nửa cây số. Lê Diệp ngồi thừ trong ghế bành, nhìn Văn Bình hút hết điếu Salem này đến điếu Salem khác, cạnh cốc cà-phê đặc sịt. Lệ thường, mỗi khi suy nghĩ lung, Văn Bình uống hàng lít cà-phê đặc không đường.

Lê Diệp há miệng toan nói, Văn Bình khoát tay bảo im. Người nhân viên ngồi trước một cái bàn bằng sắt, có hàng chục chiếc đồng hồ khác nhau, đủ cỡ, ngẫng đầu lên, ra hiệu cho Văn Bình, vẻ mặt mừng rỡ:

- Thưa, có lẽ nhận được.

Nhân viên này chụp mũ nghe vào tai, chăm chú theo dõi một tiếng động từ xa lại. Bên cạnh là một nhân viên khác, cúi trên bản đồ thành phố Sàigòn, lớn bằng cái bàn, trên có những cây kim cắm la liệt. Đó là bộ phận đo-góc của Sở Mật Vụ[11]. Chỉ hai nhân viên, Lê Diệp hỏi Văn Bình:

- Anh cho đo-góc đấy à? Họ có điện đài hả anh?

Văn Bình lắc đầu:

- Không, điện đài của ta. Như Luyến mất tích, người của ta theo không kịp. Tôi đương nhờ họ tìm ra chỗ nàng tới.

Lê Diệp chợt hiểu:

- Anh đưa Magwave[12] cho nàng phải không?

Văn Bình nhún vai:

- Không, tôi giấu trong ví da của nàng.

- Như Luyến không gặp Kinh Kong à?

- Không.

- Thế thì kế hoạch của mình tong rồi.

- Có thể.

- Còn giả thuyết gì nữa? Nguyễn Phổ bị giết, tôi suýt bỏ mạng, nếu không nhanh tay. Địch đã biết rõ chúng mình theo họ. Đời nào họ ló mặt ra nữa?

- Sao lại không?

- Tài liệu nhận được rồi. Họ ló mặt làm gì?

- Như Luyến chưa kịp trao tài liệu cho họ. Lúc anh rời nhà hàng Ma-giét-tích tôi đương ở bờ sông với Nguyễn Phổ. Phổ lên xe đi trước, tôi dừng lại, ra lệnh cho Phổ bằng vô tuyến. Như Luyến trở về đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Phổ đi cách nàng độ ba chục bước. Tôi không biết Phổ bị giết như thế nào, nhưng tôi cả quyết rằng Phổ bị núp bắn bất ngờ và bắn bằng súng có lắp ống cao-su chặn tiếng. Khi ngã xuống, Phổ cho còi lên miệng thổi nên Như Luyến hoảng sợ bỏ chạy.

- Thảo nào. Tôi không nghe tiếng súng mà chỉ nghe còi huýt.

- Nếu Phổ không thổi còi báo nguy có lẽ cả anh lẫn Như Luyến, sau khi địch đoạt được tài liệu, đều bị giết.

Văn Bình ngừng bặt, nhân viên đeo ống nghe trước bàn đo-góc dơ tay lên vẫy chàng:

- Đúng rồi, đúng tiếng Magwave của Như Luyến!

- Biết rõ ở đâu chưa?

Hai nhân viên tính toán một hồi. Một người cắm một cây kim vào bản đồ, miệng nói:

- Thưa, ở đầu đường Tự Do.

Văn Bình bặm môi nghĩ ngợi. Thì ra Như Luyến quay về đường Tự Do lấy xe hơi đậu lúc nãy, khi đi gặp Kinh Kong.

Văn Bình quay ra phía Lê Diệp:

- Anh đến ngay đường Tự Do đưa Như Luyến về đây.

Đột nhiên người nhân viên đeo mũ nghe reo lên một tiếng. Anh ta nói lớn:

- Tiếng Magware thứ hai cũng nghe đưọc ông ạ!

Văn Bình giật mình. Chàng không ngờ sự trù liệu lại đúng đến thế. Chàng ra lệnh:

- Phải theo dõi hết sức cẩn thận và báo cáo cho tôi. Khi nào dừng ở đâu lâu, hãy cho tôi biết ngay.

Bây giờ chàng đã hiểu tại sao Như Luyến phải về đường Tự Do lấy xe hơi riêng. Địch đã bắt cóc thằng Lập. Địch đã bắt cóc của báu nhất đời của Như Luyến.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:45 pm

Phần Mười. Văn Bình từ chức

Lê Diệp ra đến cửa, Văn Bình gọi giật lại:

- Anh đưa nàng về phòng tôi đường Võ Tánh ấy. Rồi anh ngồi đợi tôi. Tôi tin nàng sẽ lăng mạ anh và tôi thậm tệ.

- Sao anh biết? Bọn mình ngăn cản không cho nàng trao tài liệu chứ gì?

- Không trao lần này thì trao lần khác. Nguy nhất là thằng Lập bị bắt cóc.

Lê Diệp cau mày, kinh ngạc:

- Bắt cóc? Bắt cóc à? Địch bắt cóc con tin phải không?

Văn Bình chép miệng, chua chát:

- Vẫn cái điệp khúc cổ điển ấy. Bọn họ tưởng Như Luyến chơi nước đôi nên làm già.

- Nguy lắm. Vẫn biết tính mệnh đứa trẻ không đáng kể bằng tài liệu tối mật. Tôi lo lắm anh ạ. Anh đã nghĩ ra kế nào chưa?

Văn Bình cười xòa:

- Ồ, làm cái nghề chúng mình, đến đâu hay đến đó, lo gì cho ốm xác?

Lê Diệp tần ngần:

- Đến lúc này anh còn mỉa mai cay cú được nữa, thú thật tôi chưa hiểu anh chút nào cả. Tại sao anh lại biết thằng Lập bị bắt cóc?

Văn Bình đáp thản nhiên qua hơi khói Salem:

- À, cũng nhờ Magwave.

Lê Diệp trợn mắt:

- Anh đã giấu Magwave trong người thằng Lập?

Văn Bình vẫn thản nhiên:

- Không, tôi cho nó một cái bật lửa rõ đẹp. Bật lửa này là một cái Magwave tối tân.

- Thế nghĩa là anh đoán trước thằng Lập sẽ bị bắt cóc?

- Cũng gần thế.

- Tôi không hẳn đồng ý với anh. Nhỡ địch hy sinh thằng bé, anh biết ăn nói làm sao?

- Khỏi lo. Họ chỉ giết thằng Lập một khi đã nắm tài liệu hẳn hoi trong tay. Giờ đây họ chưa đoạt được. Thế tất họ cần thằng Lập sống làm mồi nhử mẹ nó. Bởi vậy tôi mới nhờ anh mang Như Luyến về đây, giải thích ngọn ngành cho nàng hiểu.

- Ôi chao, nàng sẽ giết tôi chứ chẳng không?

- Vì thế, mới nhờ đến anh. Vì thế tôi mới đoán trước nàng sẽ lăng mạ, sỉ vã anh thật nhiều. Nhưng thôi, còn hơn ăn một băng tiểu liên vào bụng. Anh đi đi. Bây giờ tôi lên biệt thự của Như Luyến ở Chi Lăng. Chốc nữa, anh gọi điện thoại cho tôi trên đó. À quên, còn cái này nữa. Trước khi tới đường Tự Do, anh gọi giây nói cho Công An đến nhà thàng bé bán kẹo trước rạp Kinh Đô, mang nó đi ngay.

- Anh sợ…

- Chính thế. Ván bài đã đến hồi chiếu tướng, địch sẽ hy sinh thằng bé vô tội này. Nhanh thì kịp, nếu không đành chịu vậy, biết sao?

Lê Diệp chạy như bay ra xe hơi có gắn máy vô tuyến, liên lạc với Công An trung ương. Còn Văn Bình chậm rãi, ấn mũ phớt lên dầu, xốc lại áo vét-tông bằng hàng mô-he màu xám nhạt, để pô-sét màu đỏ ngay ngắn trên mép túi, liếc nhìn đôi giầy bốc-can vừa đánh, đoạn lững thững ra sân. Z.28 không khi nào vội vàng. Ngay cả những khi vật lộn với cái Chết. Dọc đường lên Gia Định, Văn Bình xếp lại thứ tự tư tưởng. Theo sự tính toán của chuyên viên, cái Magwave chàng đưa cho thằng Lập không vạch con đường từ ký túc xá về biệt thự của Như Luyến mà đi sâu vào phía Chợ Lớn. Như vậy tức là giả thuyết bắt cóc không còn sai nữa. À, mà chàng quên! Con đường do Magwave báo lại bắt đầu từ biệt thự trên đường Chi Lăng, chứ không phải từ ký túc xá. Giờ đó thằng Lập đã về rồi. Thằng Lập được u già tới đón về từ sáu giờ rưỡi. Năm phút sau xảy ra cuộc bắn giết gần Bờ Sông, bảy giờ thì luồng sóng điện do Magwave phát ra từ biệt thự đường Chi Lăng dẫn vào Chợ Lớn. Văn Bình vượt qua biệt thự độ một trăm thước và đậu lại. Chàng đút tay vào túi quần, thong thả bước lại cổng biệt thự. Ngạc nhiên xiết bao, chàng không nghe tiếng chó sủa. Như Luyến có ba con chó rất dữ, nhất là con Ziếc-cô. Trong vườn vắng tanh… Mấy cây me, cành lá um tùm đứng yên trong bóng tối. Chỉ có ngọn đèn nhỏ ở nhà bếp là bật sáng, còn toàn biệt thự đều chìm trong màn đen. Vật chàng gặp trước tiên là xác con chó to lớn nằm vật ngoài cửa phòng khách. Bật đèn ngoài hành lang lên, Văn Bình quỳ một chân xuống cạnh thi thể con chó. Con chó bị giết bằng súng. Văn Bình cầm cái lập lắc bằng nhôm đeo trên cổ con chó lên xem. Tấm lắc có chữ Ziếc-cô khắc chìm, nhòe nhẹt máu đỏ. À, ra đây là con chó khôn nhất, con chó đã được huấn luyện phương pháp giữ nhà khoa học của Công An Anh-cát-lợi.

Chàng vặn hết đèn trong biệt thự lên. Phòng khách còn nguyên đồ đạc bầy biện ngay ngắn tỏ ra không có một cuộc xung đột nào. Chàng lặng lẽ xuống bếp. Hai con chó khác nằm chết trong cũi sắt. Tiếng chuông điện thoại reo vang. Văn Bình nhắc ống lên nghe. Đó là Lê Diệp. Giọng Lê Diệp không giấu được xúc cảm:

- Văn Bình đấy ư? Thằng bé tong rồi.

Văn Bình đáp lại như máy:

- Trong rồi, tong rồi à?

Đã quen với khí hậu chết chóc, chàng vẫn thấy ngùi ngùi. Địch giết không cần suy nghĩ, không đếm xĩa tới nhân đạo. Bất cứ ai dính dấp tới nội vụ, dầu gần hay xa, đều bị trừ khử lần lượt. Chàng biết trước mà vẫn không tránh khỏi. Văn Bình lẩm bẩm:

- Hừ, chúng nó lẹ thật!

Ở đầu giây bên kia, Lê Diệp nói thêm:

- Nó đương bán kẹo như thường lệ trước rạp xi-nê thì một người đàn ông đến gọi nó đi. Nó theo người đó ra đường vui vẻ chứ không có gì là cưỡng bách. Mười lăm phút sau, người ta gặp xác nó gần Bờ Sông.

- Gần Bờ Sông?

- Vâng, gần chỗ xảy ra án mạng khi nãy.

À ra thế! Quả là Địch muốn gây sự! Địch có thể mang thằng bé ra ngoại ô hạ sát rồi đeo đá quăng xuống sông cho biệt tích. Đằng này giết xong, mang lại gần chỗ giết Nguyễn Phổ để thách thức những người trong cuộc.

Văn Bình hỏi:

- Anh đã ra chỉ thị cho họ mang thằng bé đi chưa? Nhớ nhá! Đừng lộ cho nhà báo biết! Chỉ ra thông cáo nói là thanh toán ái tình nghe! Nguyễn Phổ bị côn đồ hạ sát về chuyện nhăng nhít.

Văn Bình gác ống nói. Chàng ra đường đi vào khu bin-đinh đồ sộ đối diện. Chàng không vào thang máy, nhảy ba bước một lên cầu thang đánh ga-ni-tô màu vàng đậm. Đến lầu hai, chàng dừng trước cánh cửa số 19. Đó là căn phòng mà hai nhân viên nhiếp ảnh cửa Sở túc trực để theo dõi biệt thự. Chàng không gõ cửa vì biết bên trong ra sao rồi. Quả chàng đoán đúng: tay chàng khẽ ẩy một cái, hai cánh cửa mở tung. Bên trong, hai xác chết lực lưỡng nằm sóng soài trên tấm thảm cói, nhuộm phẩm xanh. Máu đỏ nhuộm hồng một góc thảm, cả hai đều bị giết bằng súng lục. Chàng mở máy ảnh ra xem. Những cuộn phim chụp được đã mất biến. Địch đã lấy những cái cần lấy. Chàng lắc đầu thở dài. Lần này Văn Bình hết bào chữa với ông Hoàng. Thật là cay chua cho chàng. Văn Bình bị thua ngay trên đất nhà. Văn Bình bị đánh tan không còn manh giáp. Toàn bộ kế hoạch chàng đặt ra đã bị Kinh Kong phá tan ra bụi. Gần một tá án mạng xảy ra mà Văn Bình không tìm ra đầu mối. Phen này… Bỗng chàng giật mình. Chàng để ý đến một cái kim cà-vạt bằng kền nhỏ xíu nằm lỏng chỏng dưới chân ghế mây, bên thi thể nạn nhân. Chàng cầm lên xem. Đó là một thứ kim cà-vạt đắt tiền, chế tạo bên Mỹ. Cây kim trang sức này sẽ giúp chàng tìm ra hung thủ dễ dàng. Nhưng biết đâu chỉ là ảo tưởng? Văn Bình lặng lẽ xuống thang gác. Chàng ra xe, vặn máy chạy một mạch về đường Võ Tánh. Đến căn buồng dành riêng cho chàng. Văn Bình rút túi lấy chìa khỏa mở. Bên trong, Lê Diệp ngồi như pho tượng bên chai rượu buốc-bông còn có một nửa. Chàng ngạc nhiên, Lê Diệp mới tập nghiện rượu à?

Không, chàng lầm rồi. Người uớng rượu là Như Luyến. Nàng không còn vẻ đẹp mê hồn nữa. Tóc nàng rối beng, cặp môi không đánh sáp đã tái nhợt, nước mắt chảy ràn rụa làm hoen ố lớp kem phấn trên má. Như Luyến ngồi trên ghế sa-lông kê sát cửa có che rèm kín mít.

Văn Bình chưa kịp cất tiếng chài, Như Luyến dã đứng bật dậy, với câu nói xé ruột:

- Các ông giết tôi rồi….

Văn Bình giả vờ ngạc nhiên:

- Bà bảo sao? Có phải chúng tôi phá cuộc trao tài liệu tối nay đâu?

Nàng quắc mắt, dằn từng tiếng:

- Phải, ông không phá! Không phá tại sao Kinh Kong không đến nhận tài liệu nữa và bắt cóc con tôi?

Văn Bình vẫn không đổi sắc mặt:

- Tôi vừa ở biệt thự của bà về đây. Tôi hiểu lòng một người mẹ đối với con lắm. Tôi khuyên bà cũng thừa vì tôi không tin bà còn đủ sáng suốt để nghe tôi nữa. Tuy nhiên, tôi có thể lấy danh dự xác nhận với bà một điều: tôi không chủ trương phá cuộc trao tài liệu tối nay.

Như Luyến đáp một cách chua chát:

- Thú thật với các ông, tôi cũng có học thức, tôi từng đọc nhiều nên không lạ gì lời hứa của người làm cái nghề như các ông. Tôi không tin các ông nữa. Tôi chỉ cần nói với ông một điều, từ nay, lời cam kết của tôi trước mặt ông trở thành vô giá trị. Tôi phải làm theo lệnh của họ để cứu con tôi.

- Bà sẽ mang tội phản quốc. Tòa án có thể bắt bà bất cứ lúc nào.

Lời đe dọa của Văn Bình không làm Như Luyến nao núng. Nàng đáp cương quyết:

- Cám ơn ông đã nhắc nhủ tôi, song tòa án hay bất cứ cái gì nữa cũng không lay chuyển được quyết định của tôi. Các ông cứ việc lôi tôi ra tòa. Tôi sẽ nói trước rằng tôi không mướn trạng sư. Tôi sẽ không thèm khiếu oan. Tôi sẽ không bao giờ chống án. Đó, ông mãn nguyện rồi chứ? Tòa án sẽ kêu tôi tội tử hình. Tôi sẽ lên máy chém không chút sợ hãi vì tôi đã cứu được con tôi.

Văn Bình giật mình. Chàng không ngờ nàng lại lý luận mạnh mẽ đến thế, không như phần đông phụ nữ, nàng đau khổ, nàng khóc nức nở, nhưng đầu óc còn tỉnh, không lăn lộn, tru tréo như mọi bà mẹ thương con khác. Lối thương con trầm tĩnh này làm chàng lo ngại. Chàngbiết Như Luyến sẽ làm như lời nàng nói, dẫu phải gánh chịu kết quả nào đi nữa. Văn Bình liền chuyển qua chiến thuật khác. Chàng đổi sang giọng trầm trầm, quyến rũ:

Tôi hiểu tâm trạng bà lắm. Đứa con bà thương yêu nhất đời bị bắt cóc, bà không tức giận chúng tôi sao được vì bà có hợp tác với chúng tôi mới xảy ra chuyện này. Tuy nhiên, bà nên nhớ chúng tọi không dại gì phá cuộc trao đổi tài liệu. Nếu chúng tôi phá tại sao một nhân viên trọng yếu của chúng tôi bị giết và một nhân viên khác (Văn Bình chỉ Lê Diệp) suýt thiệt mạng?

Thấy lý bị đuối, nàng ngồi im. Văn Bình nói tiếp:

- Tôi không cãi rằng trong nghề chúng tôi, lời hứa ít khi được giữ, nhưng thưa bà, có những trường hợp mà lời hứa phải giữ cho đến chết, dẫu phải hy sinh. Đó là trường hợp đối với bà. Bản tâm chúng tôi là lừa cho họ nhận tài liệu rồi theo dõi họ, phăng ra đầu mối. Họa là điên chúng tôi mới làm địch sợ hãi, không dám ra mặt nữa?

Nàng cảm thấy lập luận của Văn Bình mỗi lúc một vững nên nét mặt dịu lại, tuy hai mắt vẫn đỏ hoe. Văn Bình rót cho nàng một ly rượu mạnh, mời uống. Nàng nốc một hơi hết sạch. Văn Bình nói:

- Bà đừng ngại. Tính mệnh cháu Lập không hề gì đâu! Hiện địch chỉ cần tài liệu. Họ bắt cháu Lập để bà phải trao tài liệu cho họ vì vậy sớm muộn họ sẽ tiếp xúc với bà.

Văn Bình đã nói dối. Kinh nghiệm hoạt động quốc tế cho biết đối với những vụ quan trọng không lẽ Kinh Kong lại tha một con tin bảy tuổi - cái tuổi hiểu biết - trong khi những phần tử ngoại cuộc như thằng Vĩnh bán nem, thằng bé bán kẹo cao-su lại bị thủ tiêu tàn nhẫn. Hiện nay Kinh Kong chưa giết thằng Lập vì còn cần thằng bé thu hút Như Luyến. Đến khi nắm được tài liệu trong tay thì thằng bé nhất định phải chết, và không khéo Như Luyến cũng bị địch hạ thủ nữa. Thế mà Như Luyến không biết! Nàng đinh ninh địch cũng giàu tình cảm, biết giữ lời hứa như nàng! Như Luyến gạt mái tóc sang bên má, miệng nói:

- Không, tôi không được quyền tin ông nữa. Họ tiếp xúc với tôi hay không, điều đó xin ông đừng can dự tới. Lúc nãy, sỡ dĩ tôi chịu về đây không phải vì tôi sợ bị bỏ tù, sợ bắn về tội gián điệp phản quốc mà vì tôi muốn đòi hỏi ông một điều. Vì tính mạng con tôi, xin ông đừng cho người theo dõi tôi nữa.

Nàng mở "xắc" rút ra một khẩu súng cỡ 7,65 cán bằng ngà sáng bóng. Hườm khẩu súng, nàng dằng từng tiếng:

- Từ nay, hễ thấy người của ông bén mảng gần tôi, tôi sẽ bắn bỏ. Các ông đừng tránh. Yêu cầu ông cắt đứt giao thiệp với tôi. Riêng tôi, tôi không còn đủ can đảm gặp lại những người vô tài như ông.

Bị Như Luyến mắng như tát nước vào mặt, Văn Bình nín thinh. Biết sao được? Chàng đâu dám nói sự thật với Như Luyến. Chốc nữa hay sáng mai, địch sẽ tiếp xúc với nàng, nếu họ biết chàng giấu máy Magwave trong túi thằng Lập, biết đâu họ chả thủ tiêu thằng bé và cả Như Luyến? Cốt yếu là làm cách nào cho Như Luyến giận chàng và trốn đi, trao tài liệu cho địch. Như Luyến không chào hai người, dậm gót giầy cồm cộp ra cửa. Trước khi vặn nắm, sực nhớ ra, nàng quay lại dặn với:

- À, tôi cần nói thêm nữa. Nếu các ông cho người theo tôi, bắt đầu từ giờ phút này, tôi sẽ lên gặp ngay ông bộ trưởng. Tôi sẽ nói thẳng với ông Hoàng, người chỉ huy cao cấp của ông. Tôi sẽ hỏi xem cái nghề của các ông là nghề cứu dân hay là nghề vô nhân đạo. Và ông sẽ mất cái chức trung tá của ông. Ông nhớ chua?

Văn Bình cười tủm tỉm:

- Nhớ rồi, xin cám ơn bà…

Thái độ thản nhiên của Văn Bình càng làm nàng căm giận thêm. Nàng chỉ tay vào mặt Văn Bình, nói:

- Ông còn chế riễu nữa ư? Ông tưởng ông Hoàng và ông bộ trưỏng sẽ giữ ông lại nữa sao? Rồi ông sẽ biết. Tôi sẽ nói cho các nhà báo. Tôi sẽ tuyên bố cho ngoại quốc biết. Ông coi chừng.

Dọa xong, nàng đập cửa đánh xầm một tiếng. Cuốn sách dầy cộm để trên cái xích đóng gần cửa bị ngọn gió do cánh cửa sập mạnh phát ra, rơi xuống đất. Đĩa đựng tàn thuốc lá đổ vung vãi trên nền gạch hoa màu vàng nhạt. Lê Diệp nhìn Văn Bình. Văn Bình nhún vai:

- Đấy, anh đã sợ chưa? Đừng tưởng cô ta chỉ nói chơi mà thôi!

Lê Diệp hỏi:

- Bây giờ, anh định thế nào?

Văn Bình đáp:

- Chả lo. Đến đâu hay đến đó. Bây giờ ta hỏi tin tức về cái Magwave đã. À, còn cái Magwave tôi cất trong cái "xắc" Như Luyến, anh đã lấy lại được chưa?

Lê Diệp đưa cho chàng xem một cái bật lửa màu vàng, miệng cười vui vẻ:

- Lúc cô ta nói huyên thuyên với anh, tôi dở ngón bỉ vỏ này ra. Cũng may người đẹp không biết, nếu bắt được quả tang ăn cắp thì chết!

Văn Bình vỗ vai Lê Diệp:

- Giỏi lắm, giỏi lắm. Có ra làm trùm móc túi chợ Sàigòn được đấy!

Quên cả tình trạng khó khăn và bi đát, hai điệp viên cười vang. Văn Bình quay số điện thoại nói chuyện với Ban Đo-Góc. Nhân viên phụ trách báo cáo với chàng hiện cái Magwave đã dừng ở một địa điểm gần Phú Lâm, trên đường di Mỹ Tho. Sau khi dặn Ban Đo-Góc thông báo rõ địa điểm đích xác. Chàng bảo Lê Diệp lấy một xe díp Lăng-Rô-vơ có máy thu phát thanh, và đo-góc đi với chàng.

Hai người phóng như bay về miệt Phú Lâm. Trận mưa mùa hạ đổ rào rào trên máng kẽm đường Trần Hưng Đạo đã thưa hột. Đến khi hai người tới ngã tư đèn xanh đèn đỏ đường Tổng Đốc Phương trời bỗng tạnh ráo. Tài xế lái sang phải rồi đi vào đường Phú Lâm. Chạy một quảng xa, đến gần cầu, Văn Bình ra hiệu cho xe dừng lại, gọi vô tuyến về cho Ban Đo-Góc trung ương. Chàng nói chuyện một hồi với người chuyên viên trắc giác ngồi trên xe. Luồng điện Mmagwave phát mỗi lúc một mạnh. Cái "bin" trong Magwave chỉ đủ sức phát điện trong ba tiếng đồng hồ. Thời gian này đủ cho Ban Đo-Góc tìm ra địa điểm. Chuyên viên tính toán giây lâu. Một lát sau, người đó dặn tài xế chạy thêm một quãng trên trăm thước nữa rồi dừng trước một biệt thự kiểu xưa, rộng mênh mông. Văn Bình phái Lê Diệp canh chừng phía Mỹ Tho, sợ địch tháo thân ra nẻo ấy, còn chàng túc trực gần cầu Phú Lâm, cách tòa biệt thự độ 20 thước. Tứ phía tối mù. Ngọn đèn gần cầu không đủ xua đẩy những khối đen kịt bao phủ lấy thân cầu và những căn nhà kế cận. Tòa biệt thự khả nghi có một hàng rào cao hút đầu người và một cổng gỗ nhỏ hẹp. Bên trong toàn là cây cối um tùm. Những cửa sổ trên lầu đều đóng chặt. Không một ánh sáng. Ai đi qua đều cho đó là biệt thự bỏ hoang vì cỏ mọc rêu phong hoặc ít ra chủ nhân là nhà ẩn sĩ.

Mười lăm phút sau, cổng tòa nhà cổ mở hé, một người đàn ông cao lớn, đội mũ xùm xụp đi ra. Người này ra giữa đường, nhìn trước, nhìn sau không có ai bèn trở vào lại, mở hai cánh cổng rộng hoét rồi lái một chiếc xe lớn chạy ra. Đó là một chiếc xe Ford kiểu mới, mảu xanh trắng, mui vải kéo lên. Văn Bình hạ lệnh cho Lê Diệp lái xe đi theo. Chiếc xe phóng qua chỗ chàng núp, nhanh như tên. Bánh xe dẫm vào vũng nước trên đường, bắn tung tóe cả vào mặt, vào quần áo chàng.

Văn Bình phải quay về Sàigòn. Chàng vừa nhận đuợc báo cáo quan trọng: u già Ngọc bị trói còng queo, bất tỉnh nhân sự ở Cầu Kho. Công An đã mang u già tới bót lấy cung nhưng vì trong người có thương tích nên phải chở tới bệnh viện dưỡng sức. Chàng ra lệnh cho toán Hành Động bao vây tòa biệt thự một cách kín đáo. Văn Bình phóng một nước về nhà thương Đồn Đất. U già được đưa tới dẫy buồng sang trọng, dành cho bệnh nhân khá giả ở phía tay trái, trên lầu. Văn Bình đậu xe ngoài cửa, trình giấy với người gác bệnh viện, đoạn rảo bước vào trong. Quang cảnh nhà thương Đồn Đất ban đêm buồn teo. Mấy cây ngô đồng trồng hai bên đường thỉnh thoảng lại rùng mình, đổ những giọt nước còn sót lại của trận mưa hồi tối vào người chàng. Ánh điện đỏ quạch chiếu xuống nệm cỏ ướt, và những vũng nước đục ngầu, càng làm quang cảnh buồn thêm.

Ở đầu đường rẽ vào khu giải phẩu, Văn Bình đụng phải một người mặc bờ-lu trắng, đeo kính cận thị, trên cổ lòng thòng ống mạch. Đó là bác sĩ thường trực ban đêm. Đi sau là một nữ khán hộ bưng khay sắt to tướng đựng đồ mổ xẻ. Gặp Văn Bình, người bác sĩ dừng lại. Văn Bình nẩy ra ý muốn gợi chuyện với bác sĩ, nhưng không hiểu sao lại thôi. Màu áo trắng toát ban đêm trong một bệnh viện đìu hiu gợi trong lòng chàng những cảm giác không hay. Chàng đi đến dẫy phòng u già Ngọc nằm. Chàng trèo lên cầu thang sắt gầy guộc, cao lêu nghêu, sau cùng lên đến trên lầu.

Trước cửa phòng u già, một người lính, đeo súng lục đứng gác. Đầu hành lang, một người gác khác cầm súng tiểu liên.

Gian phòng bệnh nhân rộng rãi nhưng đơn sơ, gồm hai giường sắt, một cái để trống, ở góc có một cái bàn sơn trắng trên để một túi vải và một tủ nhỏ đựng quần áo, dụng cụ cần thiết.

U già nằm yên trên giường, mền trùm kín chỉ còn chừa mặt, tuy trời bên ngoài nóng bức. Có lẽ u già mất nhiều máu nên cảm thấy lạnh.

Người nữ điều dưỡng đang ngồi trên ghế thấy chàng vào đứng lên mở cửa phòng ra ngoài. Trong phòng bệnh còn u già với chàng. Chàng kéo ghế sát giường, đặt bàn tay lên trán u già. U không bị thương tích, ngoài một trái đấm móc vào cầm khiến bị mê man. U già kêu đau như rần khắp mình và óc nhức nhối như búa bổ nhưng bệnh viện đã khám cẩn thận, không có khớp xương, bộ phận nào bị thương tật. Tay Văn Bình đặt lên trán, u già vùng mở mắt, thức dậy. U già trạc năm mươi, diện mạo tầm thường, răn reo nhưng cặp mắt còn sáng và có tinh thần. Nét mặt của u còn vương lại chút hốt hoảng. Văn Bình nói nhỏ:

- Tôi là nhà chức trách tới đây gặp bà, bà có thể giúp tôi tìm ra hung thủ không?

U già đáp thều thào:

- Được.

- U còn mệt lắm phải không?

- Vâng, mệt thì còn mệt, nhưng nếu ông hỏi ít thì tôi có thể trả lời được. Đầu và xương sống tôi nhức lắm ông ạ. Không khéo tôi bị vỡ sọ mất. Có lẽ thầy thuốc giấu tôi, phải không, thưa ông?

- Không, họ không dối bà đâu. Thật đấy, bà chỉ bị sây sát thường thôi. Bà nằm dưỡng bệnh một vài hôm rồi có thể về nhà được. Tôi muốn hỏi bà một vài điểm mà bà biết. Bà có thể cho biết hung thủ đến bắt bà như thế nào không?

- Vâng. Tôi xin kể. Lệ thường cô Luyến vẫn đi đón chú Lập ở ký túc xá về, nhưng hôm nay cô bận nên sai tôi đi. Hàng tuần, tôi phải đi đón chú Lập hai, ba lần như vậy…. Tôi đi xích lô đạp đến ký túc xá, chú Lập về nhà thì trời đã tối.

- Bà nhớ lúc đó mấy giờ không?

- Tôi không nhớ rõ.

- Lúc hung thủ vào, bà ở đâu?

- Tôi đang làm cơm dưới bếp.

- Còn cậu Lập?

- Chú Lập chơi trên phóng khách.

- Họ có mấy người cả thảy?

- Tôi không biết rõ. Tôi đang xắc thịt làm món la-gu, nghe tiếng động sau lưng, tôi quay lại thì người đó đấm tôi một cái vào cằm, tôi ngã xuống và không biết gì nữa.

- Đến khi về bệnh viện bà mới biết em Lập bị bắt cóc, phải không?

- Phải.

- Cậu Lập có bị đánh không?

- Tôi có biết họ bắt chú Lập đâu? Khi đó tôi đã bất tỉnh nhân sự.

- À, tôi quên, xin lỗi bà.

Ngừng một phút, chàng hỏi tiếp:

- Người đó ra sao?

- Tôi không nhớ rõ mặt.

- À, bà vừa vào lửa xong phải không? Mới vào lửa, mắt còn quáng khó nhìn được người ở ngoài vào! Khi đó đèn ngoài hành lang lại bật nữa.

- Vâng, ông nói đúng. Tôi chỉ biết người đó cao và to ngang trông từa tựa như ông. À, thưa ông quí danh là gì? Ông giữ chức vụ gì? Từ nãy đến giờ, tôi bị hỏi nhiều quá nên không muốn trả lời nữa. Tôi chỉ trả lời cho người có thẩm quyền mà thôi. Xin ông hiểu cho.

- Bà thận trọng như vậy là đúng. Tôi tên là Đặng, giám đốc Ty Điều Tra của Nha Công An Trung Ương.

- Hân hạnh cho tôi lắm. Tôi cầu nguyện cho ông chóng tìm ra chỗ họ giấu chú Lập.

Văn Bình đứng dậy:

- Cám ơn bà.

Chàng mở cửa ra ngoài hành lang. Bên ngoài trời lại đổ mưa. Ban đêm ở Sàigòn thường có những trận mưa bất tử. Có lẽ ông trời muốn chơi khăm những anh chàng mê đi nhảy và đi uống rượu lu bù với em út.

Chàng trèo lên xe hơi lái về Sở. Chàng cảm thấy đến lúc cần giải thích với ông Hoàng. Vừa đặt chân lên ngưỡng cửa phòng cô nữ thư ký trẻ đẹp Nguyên Hương, chàng gặp ngay một vệ sĩ quen tên của ông Hoàng. Người này mừng quýnh:

- Trời ơi, ông chủ tìm anh mãi. Gọi vô tuyến hơn một tiếng đồng hồ rồi chẳng thấy hồn vía anh đâu.Thậm chí, ông Hoàng phải gọi giây nói tới đường Võ Tánh, gọi ra Cấp cho cô Ngọc Lan cũng không gặp. Chả biết anh mò đi đâu nữa.

Văn Bình cau mặt, tỏ vẻ không bằng lòng:

- Việc ngập đến mặt thế này, ba đầu sáu tay còn làm chưa xuể, nghĩ đâu đến chơi.

Người kia cười xòa, dấu dịu:

- Tại anh thường xen lẫn chơi với làm nên ông chủ mới cáu, vả lại có phải tôi tâu với ông ấy đâu mà anh trách? Nguyên Hương đấy! Cô ả cay anh nên tố cáo địa chỉ và số điện thoại căn phòng ở đường Võ Tánh cho cụ via.

Văn Bình hết hồn:

- Sao Nguyên Hương biết?

- Đàn bà có cái gì không biết?

- Thôi, đừng già mồm nữa. Này, ông cụ có trong văn phòng đấy chứ?

- Có, để tôi báo trước.

Người kia mở một tấm cửa sắt bí mật, vào trước. Ba phút sau, y ra bằng cánh cửa khác rồi đưa chàng vào văn phòng của ông tổng giám đốc mật vụ.

Ông Hoàng ngồi yên sau chồng hồ sơ và một dãy điện thoại. Ông hất hàm, ra dấu cho người vệ sĩ đi ra. Nhung Văn Bình đã giơ tay ra nói:

- Chào anh. Cám ơn anh nhá.

Người kia vô tình đưa tay ra bắt. Nét mặt y bỗng cau lại, tỏ vẻ đau đớn vô cùng. Sức nội công hê gớm bao nhiêu nam rèn luyện của đê tam đẳng đai huyền đen, của chức quán quân quyền Anh của Văn Bình đã biến nắm tay thành cây kềm thép. Người kia cho tay vào, không rút ra được nữa, trong khi Văn Bình xiết mạnh thêm. Người kia kêu "ái, ái". Văn Bình xiết thêm nữa. Người kia la ầm lên:

- Đau quá, đau quá, thôi thì biết rồi, tôi xin anh.

Văn Bình cười trừ:

- Biết rồi hả? Lần sau còn mau miệng sẽ gẫy vụn xương tay hết nghề rút súng làm vệ sĩ nữa đấy!

Người vệ sĩ cao lớn suýt soa:

- Vâng, tôi biết rồi.

Văn Bình cười ha hả, thả tay ra nhưng không quên ẩy gã khổng lồ bắn vào tường. Trông một cây thịt to lớn bị Văn Bình đẩy dạt ra, ai chả lắc đầu le lưỡi. Biết tài Văn Bình, gã vệ sĩ đành lóp ngóp mở cửa, biến ra phòng ngoài, tuy cặp mắt long lên sòng sọc, hầu như muốn ăn tươi nuốt sống.

Văn Bình chép miệng:

- Ngữ ấy làm vệ sĩ chỉ tốn cơm!

Từ nãy giờ chứng kiến cảnh trừng trị trào lộng trong phòng mình, ông Hoàng không nhích mép. Văn Bình là con cưng của Sở Mật Vụ. Con cưng có nhiều khi mất dậy. Văn Bình thường có tính ngang tàng như vậy. Chàng chưa hề thất bại nên ông Hoàng vẫn chín bỏ làm mười, không bao giờ răn la chàng. Đêm nay, ông không chịu được nữa. Văn Bình dám múa may võ nghệ trong văn phòng ông, nơi bàn chân tầm thường không bao giờ được đặt tới. Hơn nữa, Văn Bình vừa làm cho Sở mất mặt. Văn Bình cần được sữa trị. Văn Bình sửa lại nếp áo vét-tông mới toanh, vén ống quần, ngồi nghênh ngang trong chiếc ghế bành to tướng, đặt trước bàn giấy ông tổng giám đốc. Cử chỉ đầu tiên của chàng là đốt một điếu Salem chắc nịch. Chàng ngửa cổ thở phào hơi khói thơm tho lên trần nhà sơn màu đọt chuối. Ông Hoàng lau kính cận thị xong, chậm chạp nói:

- Tôi tìm anh hơn một giờ rồi mà không gặp.

- Tôi phải chạy theo một đầu mối khác.

- Anh bao giờ cũng vậy cả. Anh dư biết chỉ khi nào tối cần tôi mới triệu anh tới. Tôi báo anh biết tôi rút cái lệnh trao cho anh toàn quyền hành động về vụ Như Luyến, để chuyển cho người khác có tài, có đức tính hơn.

- Cái đó tùy ông. Nhưng tôi xin phép hỏi ông: tại sao ông không tin tôi nữa?

Ông Hoàng không đáp, đẩy ra phía Văn Bình một tờ giấy đánh máy. Đó là bản ghi cuộc đàm thoại giữa ông với ông bộ trưởng. Ông bộ trưởng khiển trách Sở Mật Vụ không biết hành động để nhiều chuyện đáng tiếc xảy ra. Ông bộ trưởng muốn Sở trao hồ sơ Như Luyến cho nhân viên khác.

Đợi Văn Bình đọc xong, ông Hoàng hỏi:

- Anh có nhìn nhận vì anh mà cuộc bố trí thất bại không?

Văn Bình cười thản nhiên:

- Nếu chỉ có thế tôi không cần biện hộ nữa. Ông bộ trưởng tìm được ai tài giỏi hơn, tôi xin nhường.

- Vẫn biết ông bộ trưởng muốn nhưng quyền là ở tôi. Tôi chỉ có thể bênh vực anh nếu anh bào chữa hợp lý. Anh đừng quên tôi là người thương anh nhất, hiểu anh nhất. Ngựa hay tất đá bậy. Tôi cố gắng chịu đựng cái tính bê tha của anh, và tôi còn cho đó là tính tốt của anh nữa kia. Nhưng uy danh của Sở, của tôi, vừa bị va chạm. Tôi muốn anh bào chữa trước khi Bộ có quyết định trừng phạt…

- Tôi xin hỏi, căn cứ vào đâu mà Bộ cho tôi thất bại?

- Lần trao tài liệu thứ nhất, anh kềnh càng nên Hoàng Lương bị giết, tên giữ tài liệu mất tung tích. Anh bắt chúng ngay thì đâu đến nỗi như ngày nay.

- Cần bắt thì lúc nào chả được. Sở không có sẵn những danh sách những kẻ làm do thám cho cộng sản hay sao? Ông đã biết tên họ sao chưa bắt? Vì ông còn đợi, đợi họ tiếp xúc mở rộng với nhau, tới khi đủ bộ mới bố ráp một loạt. Bắt một vài người có nghĩa gì đối với một bộ máy, một truyền thống do thám?

- Được. Lần đó anh còn có thể bào chữa được. Nhưng còn lần này? Anh bố trí ra sao đến nỗi địch biết Nguyễn Phổ đi theo và cả Lê Diệp nữa?

- Vì thế tôi mới kiên nhẫn. Tôi biết kẻ cầm đầu rất quyền biến nên cố hy sinh để bắt y. Ta không phá cuộc trao tài liệu. Địch không lẽ lại phá? Vậy còn bàn tay thứ ba nữa. Vụ này không giản đơn như mọi người tưởng đâu. Nhưng tôi, tôi tin đã gần tới đích.

- Gần tới đích? Phải, gần tới đích? Tôi chỉ mong có thế. Mong mà không được vì họ đã bắt thằng Lập. Lúc nãy, bà Như Luyến đã gọi giây nói cho ông bộ trưởng và cho tôi, yêu cầu chấm dứt cuộc theo dõi. Bà ta quen nhiều lắm, thế mạnh lắm, chúng ta không làm liều được đâu. Căn cứ vào lời anh nói thì khó thể tìm lại thằng Lập. Thế nào họ cũng hạ thủ thằng bé.

- Họ chỉ hạ thủ sau khi nắm được tài liệu….

- Dĩ nhiên. Nhưng tài liệu, ta đã trao cho bà Như Luyến rồi. Chết một nỗi là nghe theo lời anh, tôi không làm tài liệu giả, mà chụp lại trên phim thật. Ngăn Như Luyến lại thì thằng Lập chết, câu chuyện đổ bể, uy tín của Sở sau bao năm xây dựng sẽ bị sứt mẻ, lung lay, còn để Như Luyến trao tài liệu thì chúng ta dâng cho địch một món quà vô giá. Đó, tôi để anh tự xử lấy. Trước hết, tôi muốn anh tìm ra chỗ giam thằng Lập trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ, nếu không ông bộ trưởng phải đưa anh ra tòa án.

- Tôi xin hỏi: việc này trước kia ông trao toàn quyền cho tôi hay ông bắt tôi báo cáo hàng ngày như một nhân viên thường?

- Cho anh toàn quyền. Từ trước đến nay, việc nào tôi cũng cho anh toàn quyền cả. Nhưng lần này, Bộ can thiệp vào, tôi phải đích thân điều khiển, 48 tiếng đồng hồ đấy, anh hiểu chưa?

- Nếu ông cho tôi toàn quyền thì xin đừng ra hạn vì tôi đã bảo đảm thành công. Tôi xin mang đầu tôi ra để bảo đảm.

- Tôi đã bảo đảm như vậy nhưng họ không chịu. Trong 48 tiếng nữa, anh hẵng trở lại. Nhược bằng thất bại anh nên đi đâu mất tích, đừng bắt tôi phải trông thấy mặt anh nữa.

Chưa bao giờ ông Hoàng gắt gỏng như hôm nay. Ông đứng lên, lau lại đôi mắt kính rồi châm điếu xì-gà Ha-van khác. Nét mặt ông đã sâu lại sâu thêm. Ông Hoàng già quá rồi. Ngần ấy năm tháng trên vai mà chỉ huy một cơ quan cảm tử, luôn luôn cọ sát với Thần Chết! Văn Bình không nhẫn tâm được mãi. Chàng liền nói:

- 48 tiếng quá nhiều. Tôi chỉ xin ông một giây thôi.

Ông Hoàng rút điếu xì-gà ra khỏi miệng:

- Đã tìm ra chỗ giam thằng Lập rồi ư?

- Tìm ra thì không đúng, vì từ sáng nay, tôi đã đoán trước nó sẽ bị bắt làm con tin. Tôi đã gặp nó và lừa cho nó một cái Magwave. Bây giờ tôi đã cho vây chung quanh chỗ giam nó.

Ông Hoàng trút ra một tiếng thở dài:

- Ồ, còn gì bằng. Trên Bộ, họ cũng chỉ mong có thế. Câu chuyện lúc nãy tôi nói với anh, xin anh coi như không có.

Văn Bình nhún vai đáp:

- Tôi xin được ông cho từ chức.

Ông Hoàng ngạc nhiên:

- Anh từ chức ư? Công việc thắng lợi sao anh lại từ chức? Anh từ chức, Sở còn ai làm nữa?

- Để ông tìm người đặc tài, có đức tính hơn.

Ông Hoàng mỉm cười:

- Anh này nhớ dai thật! Thôi, đừng để bụng nữa. Khi nào muốn thôi cứ nhớ cái đêm ở Thượng Hải ấy.

Kỷ niệm mà ông gợi lại có ma lực khiến Văn Bình thương mến ông Hoàng vô tận. Đêm đó, Văn Bình có nhiệm vụ lên lục địa, tiếp xúc với bộ phận du kích kháng chiến. Ông Hoàng đợi chàng trong chiếc tàu ngầm xì-gà ngoài khơi. Đúng hẹn, Văn Bình bị sa bẫy của địch. Ông Hoàng sốt ruột. Lệ thường, một điệp viên sa bẫy, vô phương cứu thoát thì sẽ bỏ đấy, mong sao cứu được cơ sở là đủ. Nhưng ông không nỡ bỏ chàng. Tuy đã yếu, ông vẫn rời tàu ngầm, bơi vào bờ giữa sự canh phòng nghiêm mật của Trung cộng, và lần đến nơi Văn Bình bị giam. Ông Hoàng cứu chàng ra khỏi ngục, nhưng bị trúng đạn. Máu chảy thành vệt dài trên đường dễ làm đích cho quân địch đuổi theo. Vì thế, ông yêu cầu Văn Bình trốn đi trước, để ông ở lại trong bụi rậm, đợi hôm sau, nếu quân Trung cộng không tìm ra sẽ tới cứu. Bản tâm ông Hoàng đợi Văn Bình đi rồi là tự sát. Văn Bình đoán được tư tưởng của ông Hoàng nên nhất định không chịu đi. Hai người trốn trong đầm sen, chỉ dám thò lỗ mũi lên dưới lá, suốt một ngày, một đêm. Ông Hoàng gần như chết cóng.

Ban đêm, Văn Bình liều mạng, phá vòng vây và nhờ giỏi võ, nhờ quyền biến, chàng thoát được xuống Hàng Châu, do đường biển trốn về căn cứ. Sau chuyến đi đẫm máu ấy, ông Hoàng và chàng thương nhau như ruột thịt. Ông Hoàng nói:

- Anh còn muốn bỏ tôi nữa không? Không lẽ ở Thượng Hải có địch tứ bề, cái chết gần sát mà anh ở lại, bây giờ trong hoàn cảnh dễ dãi, thành công, anh lại bỏ sao?

- Vâng, ông đã nhắc đến câu chuyện Thượng Hải ngày trước, tôi xin rút ý kiến lúc nãy lại. Ở biển Thượng Hải, ông không bỏ tôi, lý nào tôi bỏ ông được hôm nay?


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:46 pm

Phần Mười Một. Văn Bình thua đậm

Mắt ông Hoàng sáng lên, long lanh như đêm nào ông khoa khẩu súng Pạc-hoọc bá phát bá trúng ở bến tàu Thượng Hải, cứu Văn Bình khỏi chết. Ông đứng lên bắt tay Văn Bình. Lâu ngày không hoạt động, tay ông mềm mềm như tay con gái. Bỗng ông hỏi Văn Bình:

- Còn vấn đề bác sĩ Đoàn Trung, anh nghĩ sao?

Văn Bình nhìn vào tận mắt ông Hoàng:

- Tôi cũng nghĩ như ông.

Ông Hoàng nheo mắt, ra vẻ đồng ý. Văn Bình nhìn tấm cửa sắt đóng lại bằng điện sau lưng, trong lòng thơ thới, nhẹ nhõm. Văn Bình lái xe về căn phòng riêng ở đường Võ Tánh. Lúc chàng bước chân vào phòng, chiếc đồng hồ điện treo trên tường chỉ đúng mười một giờ rưỡi đêm. Chàng vào nhà tắm, và theo thói quen, tắm cả nước nóng lẫn nước lạnh. Chàng kỳ cọ cho da nóng lên, đoạn uống một hơi ba cốc huýt-ky không pha đá. Chuông điện thoại trong phòng reo lên. Chưa nghe chàng đã biết Lê Diệp. Tiếng Lê Diệp có vẻ gấp rút:

- Tôi ở tiệm Thiên Đường. Anh có thể đến được không?

- Đợi mươi phút nữa.

Chàng mặc vào người một cái áo gi-lê đạn bắn không thủng. Thứ gi-lê này, quân đội Mỹ từng dùng ở mặt trận Cao-Ly. Đó là một thứ áo lưới, gồm sáu lớp chỉ ni-lông thật bền, kết lại với và chồng chất lên nhau. Cách xa năm thước, đạn bắn không thấu người được.

Chàng thủ vào tay áo bên phải một cái roi cao-su đầy chì bọc da cứng. Cái ma-trắc này thu gọn trong cánh tay vét-tông, khi hữu sự chỉ xốc tay áo, cán roi sẽ nhảy gọn vào lòng bàn tay. Một phát roi đánh trúng chỗ sẽ làm đối phương bất tỉnh hoặc chết tức khắc. Chàng định mang theo lưõi dao nhỏ giấu dưới tất chân, nhưng sực nhớ đến tài ném dao tuyệt luân và sáu con dao thần của Lê Diệp thì chàng lại thôi.

Lê Diệp đợi chàng ở chiếc bàn vuông thấp lè tè, ngay cửa ra vào của tiệm khiêu vũ Thiên Đường. Thiên Đường là nơi hò hẹn của khách chơi tứ chiếng. Đèn bên trong bao giờ cũng tối tối, kín đáo, pha lẫn màu đỏ. Vũ nữ đều bận hàng mỏng dính như tuyn, và đi giầy đế cao tấc hai. Văn Bình ngồi xuống ghế để sẵn bên cạnh Lê Diệp. Bồi tới, chàng gọi một chai huýt-ky thượng hạng. Trước mặt Lê Diệp, đã có bốn vỏ chai côca-côla. Lê Diệp nói:

- Anh bố trí tài đấy. Thằng cha đi chiếc Ford xanh trắng, mui vải là một gã ăn chơi khét tiếng, tên là Đồng Tăng-Gô. Tên cúng cơm là Phạm Đồng. Tôi đã điện thoại số xe và tướng mạo của y cho Ban Căn Cước. Y chẳng làm gì cả mà vẫn có tiền bao gái.

- Nhân tình của y ở đây là ai?

- Thu Thủy. Cái cô bé người trông như trái dâu chín, mẵc áo dài mỡ gà, ngồi ở góc kia với một kép người Mỹ!

- Thấy rồi. Mộng Kiều hôm nay có đi làm không?

- Không, tôi hỏi bồi thì họ nói cô ta bận việc.

- Chết tôi rồi. Tôi hẹn Mộng Kiều đợi tôi ở nhà. Thôi cũng chẳng sao, chúng mình càng hoạt động được dễ dàng, khỏi vướng víu. Đồng Tăng-Gô đi đâu rồi?

- Y đến đây, ra quầy rượu nói nhỏ với lão quản lý rồi được đưa vào phòng riêng của chủ. Cái phòng sau tấm rèm rượu chát ở cuối "bít", bên trái ấy, anh thấy chưa?

- Thấy.

- Y vào đó gần một tiếng đồng hồ mà chưa ló mặt ra. Xe của y vẫn còn nguyên ngoài cửa. Vì vậy tôi mới điện thoại hỏi anh.

- Khiêu vũ trường có lối sau không?

- Không. Tôi nhảy ở đây luôn nên biết rõ.

- Đồng Tăng-Gô có thể chuồn ra một lối khác mà anh không thấy không?

- Tôi không tin. Y có biết tôi đi theo đâu. Tôi thận trọng lắm. Lúc tới đây cũng thế.

Văn Bình không hỏi nữa. Tấm riềm màu rượu chát vừa được vén lên. Phạm Đồng bận một bộ âu phục chéo, cắt thật ôm lấy thân cân đối. Y tiến ra bàn Thu Thủy, vuốt má nàng một cách âu yếm trước con mắt bực bội của người khách chơi ngoại quốc, đoạn thản nhiên bước ra ngoài đường, nhảy lên chiéc Ford xả máy chạy mất hút.

Lê Diệp định chạy theo nhưng Văn Bình lừ mắt, ra hiệu ngồi lại. Chàng không cần theo dõi Phạm Đồng nữa. Chàng đã biết Phạm Đồng đi đâu rồi. Năm phút sau, Văn Bình ôm lưng một cô gái mỹ miều nhảy một bản tăng-gô chầm chậm. Nhảy xong, chàng về bàn uống thêm hai cốc huýt-ky đầy ắp nữa rồi mới chịu tính tiền ra về. Dùng điện thoại vô tuyến của xe Lê Diệp, Văn Bình liên lạc với Trung Ương và Ban Vây Bắt ở quanh biệt thự khả nghi ở Phú Lâm. Ban này báo cáo Phạm Đồng chưa quay về, mà biệt thự vẫn im lìm như không có người ở.

Chàng lại biết một tin quan trọng khác. Cái kim cà-vạt lượm được gần thi thể của Nguyễn Phổ hồi tối là của bác sĩ Đoàn Trung. Những viên đạn gắp được trong ngực Nguyễn Phổ thuộc loại chín ly, thứ đạn Đoàn Trung dùng với khẩu Luger mà ông được phép xử dụng.

Không còn hồ đồ nữa. Đoàn Trung đã dính dấp tới hai vụ ám sát. Văn Bình dặn Lê Diệp lái xe đến biệt thự của Đoàn Trung.

Đoàn Trung ở một biệt thự lầu mới cất, kiểu tối tân ở khi Trần Nhật Duật. Biệt thự này, ngày cũng như đêm đều có một nhân viên an ninh gác. Lê Diệp lái vòng biệt thự và tìm chỗ tối đậu xe. Văn Bình xuống trước, đi men dưới lùm cây đen sì. Đến bức tường biệt thự, nhìn ra đầm rau muống rộng bát ngát, chàng thót một cái lên đỉnh, gỡ giây thép gai và mảnh chai vỡ, nhảy vào trong, nhẹ nhàng như chiếc lá rụng. Lê Diệp nhảy vào sau.

Bên trong tối như hũ nút. Chàng được biết người gác thường trực không ở nhà dưới mà ở trên lầu vì bác sĩ Đoàn Trung ăn, ngủ trên lầu. Đoàn Trung lại không nuôi chó nên tòa biệt thự đã rộng, đã vắng, càng rộng, càng vắng thêm. Đến cửa chính dưới nhà, Văn Bình rút chùm chìa khóa trong túi ra lựa và mở. Cánh cửa được lau dầu kỹ càng nên bản lề không kêu một tiếng. Văn Bình rón rén bước vào. Chàng nín hơi nhìn bốn bên. Lê Diệp đứng ở ngoài, đợi tiếp ứng. Một phút sau, quen với bóng tối, chàng bắt đầu nhận được đồ vật bày biện trong phòng.

Hai bộ sa-lông đồ sộ choáng cả phòng khách. Cửa sổ đều treo riềm kín mít. Chàng lần đường lên cầu thang. Đếm đúng bốn mươi lăm bậc, hết cầu thang, chàng bước vào sàn gạch tầng trên. Đúng lý ra chàng phải gặp ánh đèn của người gác, nhưng không, tầng trên cũng tối om như nhà dưới. Chàng mở một cánh cửa: phòng ngủ. Một cánh cửa khác: phòng làm việc của Đoàn Trung. Quái, chiếc lanh-côn mui vải của Đoàn Trung để trong ga-ra, không lẽ Đoàn Trung đi bộ? Điều này không thể có vì Đoàn Trung rất thích lái xe hơi.

Văn Bình tiến lại cửa sổ, kéo riềm lại kín, rồi bật đèn ngủ lên. Một cảnh tượng hỗn độn hiện ra trước mắt. Trên giường, áo quần bừa bãi. Nào áo ngủ, quần tây, giầy tất, đồ vật tùy thân như bật lửa, khăn mù-soa.... Nhìn chỗ trũng hình chữ nhật trên nệm bông, chàng biết Đoàn Trung vừa đóng va-ly. Mà mới đóng xong thì phải vì chỗ trũng còn sâu. Tủ đựng quần áo đã trống hốc. Vào phòng tắm, thuốc, bót đánh răng, khăn mặt cũng biến mất. Đoàn Trung đã xa chạy cao bay rồi. Không cần tìm thêm nữa, chàng tắt đèn, đi xuống tầng dưới.

Khi tới bậc thang cuối cùng, đột nhiên một cảm giác khó hiểu chận cuống họng thở của chàng. Cảm giác này, chàng có mỗi khi giác quan thứ sáu đánh hơi thấy chuyện nguy hiểm. Chàng liền ngồi thụp xuống. Vút! một làn gió cực mạnh vèo ngang cổ chàng. Nếu chàng không nhanh trí thụp xuống thì đã mạng vong. Ngọn roi lại kêu vút cái nữa. Chàng biết ngay là roi ma-trắc. Tuy chưa biết địch thủ đứng ở phía nào, chàng lựa theo chiều gió nên đoán phỏng được. Không lỡ một giây, toàn thân chàng phóng mạnh vào phía phát ra gió.

Chàng đụng phải một cây thịt nặng nề. Cây thịt ngã chúi vào tường. Cuộc tranh hùng duiễn ra trong bóng tối, cả hai đều không thấy mặt nhau, nhưng đều là tay võ siêu quần. Văn Bình chỉ kịp đứng lên thì một ngọn roi khác quật vào lưng. Chàng đau nhói xương sống. Chắc đối thủ phải có sức khỏe đấm chết con bò mộng. Chàng vặn người lại, thu sức mạnh vào tay phải, rũ roi chì ra rồi vung lên. Hình như địch đã quen với bóng tối nên dò trước được ngọn đánh của chàng. Ngọn ma-trắc của chàng vừa phóng ra, một bàn tay cứng như gọng kìm chụp lấy cườm tay. Gọng kìm của địch khép chặt lại, nếu chàng không dầy công tập luyện thì xương bàn tay đã bị bóp vụn ra từng mảnh.

Chàng nghiếng răng giật ra nhưng gọng kìm cứ xiết chặt lại. Biết trước địch sẽ bồi một cú nốc ao, chàng vụt quay người, dùng một thế võ Nhật-Bản độc kéo địch thủ về phía trước và gánh lên lưng chàng. Địch không phải tay vừa. Văn Bình đành chuyển qua thế khác. Sau cùng, chàng tung một ngọn cước vào mặt địch. Bàn tay sắt rời cườm tay chàng ra. Chàng chưa kịp rút khẩu súng trong cái túi đeo dưới vai thì ánh đèn điện bật sáng, và án ngữ ngay cửa ra vào là một người dong dõng cao, mặt trắng trẻo có râu mép: Trường Thanh, cầm lăm lăm khẩu súng máy. Trường Thanh quát:

- Dơ tay lên, không chết mất xác!

Văn Bình lặng lẽ đưa tay lên. Địch thủ của chàng lúc nãy là một người cao lớn, đeo mặt nạ: Nicôlai Kô-băng. Kô-băng quay ra phía Trường Thanh, gắt bằng giọng lơ lớ:

- Sao chậm thế?

Trường Thanh cung kính đáp:

- Dạ, còn mang thằng lúc nãy đi đã.

Thì ra Lê Diệp đã bị bắt như một đứa trẻ. Điều này làm Văn Bình ngạc nhiên. Lê Diệp là một trong những điệp viên trí vũ song toàn. Đánh ngã Lê Diệp đâu phải dễ. Nhưng chàng chợt nhớ đến nắm tay sắt của người cao cao. Nếu chàng không giỏi thì đã bó tay quy hàng rồi. Lê Diệp tuy giỏi nhưng chưa thể là đối thủ của bàn tay sắt ấy. Kô-băng dặn Trường Thanh:

- Coi lấy nó. Chút nữa tôi về rồi liệu.

Kô-băng đi ra vườn. Văn Bình dư biết y đi đâu. Y đoán trước chàng sẽ đến bắt Đoàn Trung về tội sát nhân nên bố trí cho Đoàn Trung trốn trước và mai phục đón chàng bằng ma-trắc và súng máy. Sở dĩ lúc chàng vào chúng chưa ra tay vì sợ đánh cả hai khó thắng. Chúng áp dụng chiến thuật đánh tỉa người một. Gớm thật! Chàng nhìn kỹ Trường Thanh. Trông bàn tay và cách thủ thế, Văn Bình biết địch thủ không phải là võ sĩ lành nghề. Bụng chàng đỡ lo hơn lúc nãy. Nếu có cơ hội làm địch đãng trí độ mấy tích-tắc đồng hồ, chàng sẽ thoát hiểm như bỡn. Trường Thanh đã đọc được mưu kế của Văn Bình. Y lia lia đầu súng máy vào bụng chàng, miệng nói:

- Không được cựa quậy. Hơn hai chục viên đạn này, dầu bắn không trúng cũng không thoát chết được đâu! Khôn hồn cứ để nguyên hai tay lên đầu.

Văn Bình phản đối:

- Mỏi tay lắm, không chịu nổi.

Trường Thanh buông thỏng:

- Thì mày quay lại, mặt nhìn vào tường. Rồi tao cho bỏ tay xuống.

Văn Bình tuân lệnh. Nếu Trường Thanh cầm súng lục thì trong khi quay 180 độ, chàng có thể lòn tay vào trong, rút súng ra, bắn chết y mà y không kkịp nhả đạn, nhưng khốn nỗi Trường Thanh lại dùng súng máy. Kinh nghiệm nhiều năm trong nghề dậy chàng đừng khinh thường súng máy. Bất đắc dĩ chàng đành quay mặt vào tường. Trường Thanh bắt chàng đứng xa trong ba mươi phân, hai tay chắp sau đít. Chàng nghe tiếng kéo ghế. Trường Thanh bắt đầu mỏi chân. Chàng liền nghiêng mình sang một bên. Lập tức có tiếng quát:

- Đứng im. Đứng im không tao bắn què chân!

Văn Bình ngoan ngoãn đứng im. Nghĩ mưu khác, chàng dấu dịu:

- Tôi hút thuốc lá được không?

Trường Thanh gắt ngậu xị:

- Không được. Cứ để hai tay ra sau lưng như lúc nãy.

Chuông điện thoại trên bàn reo lên. Văn Bình nín hơi nghe đối thủ phản ứng, Trường Thanh cứ ngồi trên ghế, không nhúc nhích. Chuông cứ reo hoài, mỗi lúc một to, một dài. Trường Thanh cau có, liếc nhìn Văn Bình đứng sát tường, đoạn cắp khẩu tiểu liên vào nách, tay trái nhấc ống nghe lên vai. Nghe chuông im và phật một cái, tiếng ống nghe nhấc khỏi giá. Văn Bình biết dịp may đã tới. Nhưng chàng nán thêm ba chục giây nữa xem người ở đầu giây bên kia là ai.

Tiếng trong điện thoại nhỏ quá, chàng nghe không rõ. Chàng quyết định phản công. Thu toàn lực, chàng quay ngoắt người lại, thân chàng quay tròn như chong chóng luôn hai vòng, và đến vòng thứ hai, bàn chân phải của chàng đá hất cái bàn đặt máy điện thoại. Chiếc bàn bằng gõ lim, khá nặng, khổ lớn làm chân chàng tê hẳn. Nhưng dưới sức mạnh của chàng, chiếc bàn bị lật ngược, sách vỡ đổ lỏng chỏng. Đối phương nhanh mắt buông máy điện thoại ra nhảy chệch sang bên, tay phải đỡ nòng súng, ngón tay trỏ bên phải lảy cò. Từ lúc Trường Thanh chuẩn bị bắn đến khi viên đạn đầu tiên bay ra, Văn Bình đã lấy lại thăng bằng và phóng được ngọn cước thứ hai bằng chân trái. Văn Bình thường đá xa rất tài tình. Nhiều địch thủ đã mất mạng về cái đá tài tử nhưng ghê gớm ấy.

Ngọn cước của chàng bay vèo trong không khí, đạp đúng đầu súng tiểu liên. Tacata… Loạt đạn đầu bắn ra vọt lên trên. Trường Thanh không bắn tiếp được nữa. Đà của ngọn cước mạnh làm Trường Thanh toác cả kẽ tay, khiến khẩu tiểu liên nặng nề rơi đánh "binh" xuống sçn gạch hoa. Văn Bình nhảy tới sát Trường Thanh. Một quả thôi sơn vút vào mặt Trường Thanh. Trường Thanh dùng một thế tuồng Tàu để đỡ.

Tuy nhiên, trái đấm của Văn Bình như quả tạ trăm cân, bàn tay đỡ đòn của Trường Thanh bị dại hẳn đi. Tay trái Văn Bình xòe rộng như cánh quạt, đập mạnh vào vai Trường Thanh. Y bị đánh bất thình lình, đau điếng người, miệng la lên. Liền khi ấy, tay phải của Văn Bình thu lại, nhoài ra, phạt vào cổ Trường Thanh. Ngón đòn này giáng xuống hai hòn gạch xếp chồng lên nhau còn vỡ tan, huống hồ cái cỏ bằng xương và thịt của người chưa khổ công tập luyện. Rắc một cái. Trường Thanh ngã khuỵu xuống, chết tức khắc. Miếng võ Nhật của Văn Bình đã bẻ gẫy xương cổ và dập bét hai mạch máu gần yết hầu. Văn Bình quỳ xuống, lục áo quần Trường Thanh. Không một mảnh giấy. Chàng liền đứng dậy, ngoái tay ra phía sau tắt công-tơ điện, ngọn đèn duy nhất trong phòng khách tắt ngúm. Chàng không thể đợi Kô-băng được nữa, tuy chàng biết Kô-băng là nhân vật quan trọng, là người đã đón Lê Diệp trước rạp chiếu bóng và "săng-ta" Như Luyến. Kô-băng chỉ về đây một khi công việc hoàn hảo. Bây giờ chàng phải đi tìm Kô-băng.

Văn Bình lái xe xuống Phú Lâm. Dọc đường, chàng gọi điện thoại vô tuyến cho nhân viên Sở, ra chỉ thị bố trí bao vây các bến tàu, trường bay, bến xe hơi. Chàng tin Đoàn Trung đương tìm cách trốn khỏi Sàigòn. Gần tới cầu Phú Lâm, rẽ vào một hẻm tối, Văn Bình gặp lại mấy nhân viên của Ban Đo-Góc chúi mũi trên bản đồ lân tinh và ống nghe. Văn Bình hỏi:

- Có gì khác không?

Một nhân viên đáp:

- Thưa không.

Văn Bình hỏi thêm:

- Cái Magwave vẫn ở địa điểm cũ đấy chứ?

- Thưa vâng.

- Từ lúc tôi đi đến giờ có ai ra vào nữa không?

- Thưa không.

Văn Bình bặm môi suy nghĩ. Không lẽ Phạm Đồng lại không về đây? Tên cao cao, nói giọng lơ lớ đi đâu? Phạm Đồng đi đâu? Hay là….? Chàng hỏi người nhân viên chỉ huy:

- Ở đây, ta có mấy người cả thảy?

Người kia đáp:

- Thưa, kể thì nhiều, nhưng tuân lệnh ông, tôi chỉ để một xe đo-góc và bốn người mai phục xung quanh, đón người ra vào mà thôi.

Văn Bình nói:

- Không, không tôi không cần nhiều người. Chỉ cần hai người bắn khá cùng đi với tôi. Tôi vào trước họ đứng ngoài bắn bảo vệ cho tôi.

Người kia đưa cái vi âm vô tuyến lên miệng:

- Alô, gấu trắng đây, gấu trắng đây. Yêu cầu hổ đen, beo vằn, yêu cầu hổ đen, beo vằn về địa điểm ngay.

Tuy trong hoàn cảnh nghiêm trọng, Văn Bình không nhịn được cười. Tủm tỉm, chàng pha trò:

- Dạo này, Sở sính dùng những tiếng gấu, hổ với beo nhỉ? Chắc hẳn cái anh coi về mật hiệu sợ vợ lắm! Sợ sư tử Hà Đông mà lại!

Dưới ánh lân tinh của bản đồ, chàng thấy mấy nhân viên cười một cách kín đáo nhưng thích chí. Năm phút sau, hai nhân viên "hổ đen", "beo vằn" về tới xe đo-góc. Văn Bình rút khẩu Luger, bỏ cò an ninh xuống, đi trước mở đường, hai người kia đi sau ba thước, phòng vệ. Chàng chạy một mạch đến trước cổng. Đến nơi, chàng phục một bên, lắng nghe động tĩnh. Bên trong vẫn vắng như tờ. Chàng nhặt một hòn sỏi ném vào trong. Đợi mấy phút không nghe tiếng động nào khác, chàng lấy chân se sẽ ẩy cánh cổng, cánh cổng mở ra từ từ. Chàng lẻn vào trước. Hai nhân viên kia vào sau nhưng chàng không cho họ vào. Chàng dặn họ hườm súng sẵn, gặp bóng đen nào khả nghi cứ nã đạn không cần lên tiếng.

Văn Bình khom lưng chạy qua mấy cây cam nặng chĩu quả. Chàng vòng bên trái nhà lẻn vào lối sau. Cửa sau cũng mở. Chàng đứng yên một hồi nữa. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ biệt thự có người. Chàng đi sâu vào phòng dưới. Đi quen trong bóng tối nên chàng không đụng bàn ghế. Một lúc sau, chàng đã tới cầu thang. Lên gần hết cầu thang, chàng nghe tiếng rên rỉ. Văn Bình đứng nép vào tay vịn thang gác, lắng tai nghe. Tiếng rên xen lẫn tiếng ú ớ, hình như người rên bị nhét giẻ vào miệng. Tiếng rên lại có vẻ yếu ớt, có lẽ của người đã mất sức.

Chàng có vành tai rất thính. Đó không phải là tiếng rên của trẻ con. Tất không phải của thằng Lập. Cũng không thể là tiếng rên của Lê Diệp vì hắn ta có tính gan lì, đau mấy cũng không thèm rên. Vậy tiếng rên đó là của ai? Văn Bình tiến thêm bước nữa. Tiếng rên từ phía trái vọng lại. Chàng đưa tay ra quơ phía trước. Đụng phải một cánh cửa đóng, chàng định thần một giây. Tiếng rên từ sau cánh cửa phát ra. Hườm sẵn khẩu súng trong tay, chàng lách sang bên, chân phải hất tung cánh cửa. Bình một cái, tấm cửa khép hờ bật vào trong.

Tiếng rên đột nhiên im bặt. Văn Bình có cảm giác như đang sống trong bầu không khí Bắc Cực. Trái tim chàng đập chậm lại. Đôi mắt chàng mở rộng, như muốn chọc thủng màn tối. Ngón tay của chàng đặt sẵn lên cò. Tứ phía vẫn im lìm. Chàng tiến vào khung cửa, đưa tay tìm nút mở đèn. Đó là một căn phòng ngủ chật hẹp. Hai người, một đàn ông, một đàn bà, bị trói dính vào nhau, còng queo, ở chân chiếc giường Hồng-Kông, lấp loáng ánh đồng.

Văn Bình gỡ miếng vải đen trên mặt họ ra. Chàng suýt kêu lên một tiếng ngạc nhiên. Người đàn ông không phải là Lê Diệp như chàng ức đoán. Thiếu phụ là một người trên bốn mươi, nét mặt kinh sợ, cặp mắt sâu hoắm, mà chàng chưa gặp bao giờ. Chàng rút dao cắt hết dây trói cho hai người và rút giẻ khỏi miệng. Người đàn ông đứng dậy, ngồi bệt lên đệm giường, miệng hỏi, giọng lễ phép:

- Thưa ông, ông là ai?

Văn Bình không đáp. Chàng hỏi:

- Ông là ai? Tại sao lại bị trói như thế này?

Thiếu phụ mếu máo đáp:

- Thưa, chúng tôi mới ở Huế vào được một tuần. Nhà tôi là công chức. Vì mới thuyên chuyển vào nên chưa kịp mang các cháu và thuê người giúp việc. Hồi chập tối, chúng tôi ăn cơm thì bị họ xô vào bắt trói. Chúng tôi không hiểu tại sao nữa.

Không cần căn vặn, chàng đã biết thiếu phụ nói sự thật. Kinh nghiệm bao năm lăn lộn giúp chàng xét người rất nhanh chóng. Chàng cố bặm môi để khỏi thoát ra một tiếng thở dài. Ngưởi chồng nắn tay cho vợ, miệng hỏi:

- Thưa, ông là công an phải không?

Văn Bình gật đầu. Thiếu phụ òa lên khóc:

- May quá, không có các ông tới cứu tôi chắc chết mất.

Văn Bình mỉm cười:

- Không hề gì đâu thưa bà.

Đoạn ngoảnh sang phía người chồng, chàng hỏi:

- Bọn cướp cả thảy mấy đứa?

- Thưa, hai đứa.

- Có một đứa trẻ trạc mười tuổi bị bắt với ông bà phải không?

- Thưa không.

Văn Bình tỏ vẻ thất vọng. Chàng nhìn thẳng vào mắt người chồng,hỏi vặn lần chót:

- Ông thử nhớ xem. Nhớ xem có nghe tiếng kêu nào của một đứa trẻ không? Vì tôi cả quyết họ đã mang thằng bé tới đây.

Người chồng thở một hơi thuốc lá, thừ mặt ra nghĩ ngợi. Đột nhiên, người vợ nói to lên:

- A, tôi nhớ ra rồi.

Người đàn ông quay lại phía vợ, hỏi dồn:

- Nhớ thế nào hả mình?

Người đàn bà chỉ tay vào khung cửa sổ trông ra sau, đáp:

- Anh quên rồi sao? Lúc thằng bộ hạ trói chúng mình lại ấy mà! Em nghe tên chánh đảng ra lệnh cho một tên khác, đoạn y kéo riềm che cửa sanh bên. Lúc đó, em bị khăn đen che cả hai mắt, không trông thấy gì, nhưng cũng nghe rõ các tiếng động.

Văn Bình nhìn đồng hồ tay, hỏi giọng sốt ruột:

- Tiếng động như thế nào, thưa bà?

Thiếu phụ đáp:

- Tôi nghe tiếng người quát ở phòng bên. Và có tiếng người khóc, chắc chắc không phải là người lớn.

Không đợi thiếu phụ dứt lời, Văn Bình mở toang cửa ăn thông với phòng bên. Đó là một gian phòng lớn, bầy biện sang trọng, dùng làm nơi đãi tiệc và tiếp khách trên gác. Dười ánh đèn nê-ông sáng như ban ngày, Văn Bình thấy cái bật lửa chàng cho thằng Lập hồi chiều nằm lỏng chỏng trên sàn gạch hoa. Văn Bình cảm thấy một mũi tên nhọn đâm nhói vào tim. Chàng lại bị lừa. Địch điệu hổ ly sơn chàng tới đây để mang thằng Lập đi nơi khác.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:47 pm

Phần Mười Hai. Cuộc chạy đua với thời gian

Giữa sự ngạc nhiên của cặp vợ chồng vừa thoát hiểm, Văn Bình nhảy ba bậc xuống dưới nhà, chạy như bay ra xe, phóng về Sàigòn.

Một tia sáng vừa lóe lên trong đêm tối. Địch chẳng phải tay vừa! Địch đã biết chàng giấu cái Magwave trong mình thằng Lập. Sau khi bắt thằng Lập, địch biết trước bị theo nên thản nhiên cho xe chạy về đây. Trước đó, cặp vợ chồng công chức lạ lẫm và cô đơn này đã bị trói còng queo trong phòng. Địch mang thằng Lập lên lầu có lẽ để tra khảo nó.

Một lát sau, Văn Bình phanh xe kêu đánh kít trước tiệm nhảy Thiên Đường. Trời đã khuya nhưng vũ trường còn đông khách. Bắt đầu từ phút này, chàng không thể dùng quả đấm sắt bọc nhung được nữa. Nếu chàng không tìm ra nơi giấu thằng Lập nội đêm nay, sáng mai thằng bé tất thành người thiên cổ.

Đèn trong "bít" vẫn giữ cái màu đo đỏ khiêu dâm và huyền ảo như hồi tối chàng đến với Lê Diệp. Chàng chọn một cái bàn nhỏ, ở khuất sau một chậu cây cao ngất, lá xanh rờn. Một tên phổ ky bận vét-tông hồ bột cứng nhắc thắt nơ đen, đầu chải bóng lật, cung kính đến nghiêng mình chào chàng:

- Thưa, quý ngài cần gì?

Văn Bình ngoắt tay:

- Một huýt-ky sếch.

Gã bồi lại quầy rót rượu, đặt trên khay bạc, bưng lại cho chàng, để phiếu trả tiền xuống dưới cái dĩa. Văn Bình cầm phiếu trả tiền, nói với anh phổ ky:

- Đợi một chút để tôi trả tiền.

Gã bồi đứng bên chàng. Nhìn trước ngó sau không thấy ai, chàng móc ví lấy ra một tờ năm trăm, gập tư lại, bỏ vào lòng bàn tay gã bồi:

- Tôi chỉ hỏi anh một điều tầm thường.

- Vâng, xin ngài cứ hỏi.

- Địa chỉ cô Thu Thủy ở đâu?

Gã bồi lắc đầu:

- Cháu chịu thôi. Ông quản lý biết thì rừ đòn.

Văn Bình rút thêm một tờ năm trăm nữa:

- Bằng lòng chưa? Nói đi.

Cặp mắt gã bồi bắt đầu sáng lên một cách dị thường. Y xòe tay ra, cầm lấy hai tờ giấy bạc, miệng nói nhanh:

- Thưa, phòng số 219, bin-đinh Lô-Ti, đường Nguyễn Huệ.

Văn Bình moi thêm một tờ năm trăm nữa, miệng tiếp:

- Còn đây là câu hỏi khác. Ông quản lý có đây không?

- Thưa có, nhưng người lạ không được vào. Muốn vào phải cho anh Ba Tình, vệ sĩ, ngồi ở quầy rượu hay trước.

- Đâu? Ba Tình đâu?

Gã bồi không nhúc nhích, mắt nhìn Văn Bình, đáp:

- Chết, ông đừng thay đổi nét mặt, và đừng hỏi dồn cháu như thế, họ biết thì chết mất xác. Ba Tình là anh chàng cao lêu nghêu, đứng với cô vũ nữ mặc đồ đầm bằng ni-lông mỏng dính kia.

Chàng ngoảnh nhìn về phía quầy rượu. Một tên vặm vỡ, cao một thước bảy lăm, mặc áo rằn ri, bỏ ngoài quần đang tán gẫu với một cô gái mặc xiêm và áo sơ-mi cộc tay, kiểu đầm, bằng thứ hàng màu vàng, mỏng như tờ giấy bóng kính, khiến cận thị đến mấy cũng đọc được gió… phía trong. Văn Bình uống cạn ly huýt-ky đầy ắp, đoạn lững thững lại chỗ Ba Tình. Ở vũ trường mà Ba Tình có cử chỉ xuồng xả như ở trong phòng kín. Y bá vai lôi cổ cô gái hun chùn chụt, trong khi anh bồi cung kính bưng cái khay đứng bên, trên khay để một chai sâm-banh và hai cốc xủi bọt. Thấy anh bồi đứng không nhúc nhích, Ba Tình thuận tay hất cái khay đổ đánh choang xuống đất, cau có:

- Mày ngu hay sao mà không biết mời tao một tiếng?

Anh bồi sợ hãi, vội cúi xuống lượm mảnh cốc vỡ. Ba Tình co giò đạp một cái, anh bồi ngã lộn hai vòng, đâm đầu vào một cái chậu xi-măng, nằm lịm đi. Ba Tình lừ mắt nhìn một người mặc áo sơ-mi cụt đen, lưng cồm cộm, hình như đeo súng sáu, đứng gần đấy. Tên này, như nhận được lệnh ngầm, chạy vội lại phía tên bồi bất tỉnh, xốc nách, lôi vào bên trong. Cuộc ẩu đả diễn ra trong vòng một phút. Quang cảnh lại yên tĩnh như không có gì xảy ra. Mọi người thản nhiên, không biết vì sợ Ba Tình, hay vì đã quen với những cuộc trừng trị thường xuyên ở vũ trường.

Ba Tình vít đầu cô gái xuống hôn môi một chập nữa. Văn Bình chầm chậm đi tới một bên. Đợi Ba Tình quay tay lấy cốc rượu mạnh trên quầy bằng đồng bóng loáng, Văn Bình chặn lại, miệng nói nhỏ nhẹ, ngọt ngào nhưng chứa một sức mạnh giết người:

- Khoan đã, chú Ba.

Ba Tình rút tay lại, mặt đỏ bừng như người không quen uống rượu vừa nốc xong một góc chai cốt-nhát chính hiệu. Y quát lên:

- Ai cho phép anh gọi ta là chú Ba?

Văn Bình mỉm cười:

- Muốn gây sự hả? Mau đưa ta vào thăm anh quản lý.

Ba Tình tiến thêm một bước về phía Văn Bình, nắm tay khoa lên:

- Muốn vào viếng anh Tư hãy nếm thử quả thôi sơn này đã.

Trái đấm nặng như búa bổ bay vút vào mặt chàng. Văn Bình nhếch mép cười một cách ngạo mạn, se sẽ đưa tay lên gạt. Dáng điệu của chàng khoan thai, nhẹ nhõm mà trái đấm vũ bão của Ba Tình bị gạt bắn sang bên khiến y mất đà, lạng vào quầy rượu. Văn Bình thốt lên một tiếng phê bình rẻ rúng:

- Chú mi có cánh tay yếu như sên thế này, đọ với ta sao nổi?

Ba Tình nghiến răng ken két:

- Mi coi chừng.

Văn Bình làm như không quan tâm tới lời hăm dọa đầy sát khí của Ba Tình, thản nhiên quay mặt về chỗ người giữ quầy rượu gọi một ly huýt-ky. Ba Tình thuận dịp giáng một ngón đòn cực kỳ nguy hiểm vào cổ họng chàng. Nếu là người bình thường thì hai giây máu ở cổ họng sẽ bị đánh dập tức khắc, nhưng Văn Bình đã quen với ngón tấn công sơ đẳng ấy nên đợi bàn tay Ba Tình phóng tới gần sát mới đưa khuỷu tay lên đỡ. Cái khuỷu của Văn Bình là một kỳ công tập luyện. Có lần chàng dùng khuỷu tay đở gẫy được thanh củi tạ to tướng. Chạm phải ống xương như sắt tôi của chàng, bàn tay của Ba Tình bị đau nhói. Ba Tình kêu lên một tiếng. Văn Bình giả bộ giật mình:

- Chú bị đau à?

Ba Tình quật tay trái vào mặt chàng. Văn Bình vẫn dùng khuỷu tay để đỡ. Ba Tình đau buốt thấu xương. Văn Bình không muốn kéo dài cuộc đùa nghịch thêm nữa. Chàng hoành cánh tay phải ra phía trước, một ngọn đòn mạnh phóng ra như bắn. Ba Tình bị đánh trúng vai tả, ngã vật về phía sau. Văn Bình quay ra, đỡ chai rượu mạnh trên tay một phổ ky, nét mặt xanh tái vì sợ hãi. Chàng đợi. Chàng biết sẽ có việc khác thường xảy ra.

Hai phút sau, Ba Tình lồm cồm bò dậy, phủi đất bụi dính vào quần áo, đoạn lủi thủi bước về phía có tấm riềm màu rượu chát: cửa vào phòng riêng của viên quản lý mà y gọi là anh Tư. Uống rượu xong, Văn Bình không để ý đến thái độ kính phục của khách nhảy và gái đẹp chung quanh, từ từ đi tới cánh cửa sổ có tấm riềm. Vén riềm lên, Văn Bình thấy một nắm cửa bằng đồng. Chàng vặn cái nắm, cửa mở, đĩnh đạc bước vào. Bên trong là một căn phòng nhỏ, bầy ghế sa-lông, lót đệm màu hường, sát tường. Phòng đợi. Chàng vặn quả nắm khác. Cửa vẫn mở. Chàng bước vào phòng làm việc của gã quản lý tiệm khiêu vũ Thiên Đường.

Văn Bình đưa mắt nhìn phía trước. Căn phòng bầy biện giản đơn, nhưng gồm toàn đồ đạc tối tân, đắt tiền. Chiếc bàn bằng gỗ quý nổi vân, hình bán nguyệt, đặt chễm chệ giữa phòng. Tư Hàn, quản lý khiêu vũ trường Thiên Đường, nơi hò hẹn của khách ăn chơi hòn ngọc Viễn Đông, ung dung ngồi trong chiếc ghế bành êm ái hút thuốc xì-gà. Trước mặt, trên bàn bề bộn giấy bạc mới tinh, còn một chai sâm-banh "Mum" có quai đỏ, dầm trong thùng nước đá vụn với hai cái cốc bằng pha-lê. Tư Hàn nhe hàm răng bịt vàng óng ánh ra cười với Văn Bình:

- Chào bạn đồng nghiệp.

Văn Bình giật mình:

- Không dám, chào ông.

Tư Hàn chỉ cái ghế phía trước bàn:

- Xin mời quý khách ngồi.

Văn Bình ngồi xuống ghế. Tư Hàn đẩy cốc pha-lê tới trước mặt chàng, mở nút sâm-banh kêu "bụp" một tiếng, đoạn rót cho chàng, miệng đon đả:

- Xin mời ông.

Văn Bình nhìn thẳng vào mặt Tư Hàn:

- Tôi đến đây để nói với ông một câu chuyện, không phải để uống rượu.

Tư Hàn nâng ly ngang mày, cười ngất:

- Chuyện quan trọng à? Ông bạn yên tâm, Tư Hàn cái gì cũng biết. Ông gây sự đánh nhau với thằng Ba Tình trước khi vào đây để đánh lừa tôi chứ gì? Nếu ông bạn còn thắc mắc, tôi xin giải thích thêm: Bạn tới đây chưa rõ tôi có đáng nghi hay không, nên mới đánh thằng Ba Tình, nếu tôi không phải là người trong cuộc thì không sinh sự, không phản ứng lại, nhược bằng tôi là kẻ mà ông muốn tìm thì sẽ đợi ông vào đây dí súng ra bắt, phải không ông?

Văn Bình choáng váng cả người. Chàng không ngờ Tư Hàn lại đọc thấu tâm can chàng. Quả chàng đã nghĩ như Tư Hàn nói! Chàng muốn tạo ra một dịp để thăm dò phản ứng của viên quản lý tiệm khiêu vũ Thiên Đường. Hồi nãy, Đồng Tăng-Gô nói chuyện khá lâu với y trong phòng riêng, nếu y cùng một phía với Phạm Đồng thì việc Văn Bình đánh Ba Tình sẽ làm y chột dạ. Nhưng Tư Hàn không chột dạ. Trái lại, y còn phản công nữa. Văn Bình chôn mình trong ghế bành. Tư Hàn nâng ly, giục:

- Ơ kìa, ông bạn đồng nghiệp, chúng ta cùng cạn ly sâm-banh này chứ? Để chút nữa, chua mất!

Y nói thêm một cách thân mật:

- Mum này là thứ thượng hảo hạng, không phải thứ Mum ông uống ngoài đó đâu.

Tư Hàn cụng ly của Văn Bình:

- Vạn tuế ông Tống Văn Bình!

Văn Bình hết sức kinh ngạc. Tuy vậy, chàng không để lộ ra ngoài mặt. Tư Hàn gật gù:

- Quả là danh bất hư truyền. Nghe danh ông bạn đã lâu, giờ mới được đối diện, thật là vạn hạnh.

Uống một hớp sâm-banh, Văn Bình đáp, giọng bình thản:

- Riêng tôi, cũng thật vạn hạnh.

Tư Hàn mở hộp xì-gà Ha-Van đắt tiền, mời chàng hút. Văn Bình xua tay từ chối:

- Cám ơn, tôi không quen dùng xì-gà.

Chàng đánh diêm, châm một điếu Salem thân mến. Tư Hàn thở khói xì-gà trên trần nhà, nói:

- Nào, bây giờ chúng ta nói tới công việc. Quý ông đến thăm tôi có việc gì?

Văn Bình nói:

- Chuyện gì ông đã biết. Tôi đến đây vì chuyện thằng Lập.

Tư Hàn cười một cách tự tin:

- Ông táo gan thật. Dám vào tận hang hùm. Tuy nhiên, tôi khen ông ở chỗ ông có tài xét đoán. Trước khi trả lời, tôi muốn hỏi ông một câu: tại sao ông biết tôi dính líu tới vụ bắt cóc thằng Lập?

- Bí mật nhà nghề.

- Ông cho theo dõi Đồng Tăng-Gô phải không?

- Phải.

- Ông thua to rồi. Đừng tìm y nữa, mất công toi, ông ạ.

- Tôi biết, tôi biết. Ông không nói, tôi cũng biết. Đồng Tăng-Gô không còn trên cõi đất này nữa đâu mà tìm, phải không ông?

Đến lượt Tư Hàn giật bắn người. Giọng hắn đột nhiên đổi khác:

- Tại sao ông dám quyết rằng Đồng Tăng-Gô đã chết?

- Giản dị lắm. Các ông thừa biết biệt thự ở Phú Lâm bị vây tứ phía mà vẫn cho Phạm Đồng lái xe về Sàigòn. Như vậy không dùng hắn làm mồi còn là gì nữa? Cái bật lửa phát tin, tôi trao cho thằng Lập, các ông vứt lại trong biệt thự để đánh lừa ban Trắc Giác rằng thằng Lập ở luôn ở trong biệt thự trong khi nó đã bị Phạm Đồng cho vào trong xe chở ngang nhiên về Sàigòn.

Tư Hàn cười khẩy:

- Vâng, Đồng Tăng-Gô đã thản nhiên lái qua chỗ ông núp mà ông không biết.

Văn Bình đứng dậy, nghiêng mình chào:

- Các ông thông minh lắm, tôi xin thán phục.

Tư Hàn đáp, giọng nhũn nhặn:

- Ông đừng vội hạ mình. Thú thật với ông, chúng tôi không biết trong mình thằng Lập có giấu máy phát điện. Khi về tới biệt thự Phú Lâm mới biết.

Văn Bình hỏi:

- Thằng Lập bây giờ ở đâu?

Tư Hàn mỉm cười, ngạo mạn:

- Ông nóng nảy quá!

Văn Bình cười gằn:

- Hừ, các anh có giấu mãi được không?

Tư Hàn vẫn tỉnh khô:

- Sao lại không? Đắc lực như Phạm Đồng mà khi lâm sự vẫn hy sinh thì có xá gì những kẻ như ông, phương chi ông là Tống Văn Bình của Sở Mật Vụ nữa.

Văn Bình giả bộ cho tay vào túi áo trong lấy thuốc lá. Một tiếng quát nổi lên sau lưng:

- Bỏ tay ra ngoài áo!

Văn Bình quay lại. Người ra lệnh là Ba Tình. Y chĩa vào giữa bụng chàng một khẩu súng Côn chín ly, nòng cưa ngắn. Tư Hàn phá lên cười:

- Ông Văn Bình lại có thể dở đến mực ấy được ư?

Văn Bình đáp, giọng tức bực:

- Đừng vội tự đắc. Còn nhiều người đợi tôi bên ngoài. Sau mười phút không thấy tôi ra, họ sẽ tấn công vũ trường. Chừng đó rồi hối bất cập.

Tư Hàn hỏi:

- Chà, dọa hay quá ta! Nhưng thôi, bây giờ ông muốn gì?

- Muốn các anh trả thằng Lập cho mẹ nó.

- Thằng Lập ấy à? Ông tưởng chúng tôi cần thằng bé ấy lắm à?

- Sao lại chả cần? Có mồi mới câu được cá chứ? Giờ đây các anh đã đoạt được bản tài liệu bí mật, còn giữ con tin làm gì nữa?

Đó là một câu hỏi cạm bẫy. Quả Tư Hàn mắc lừa dễ dàng. Y đáp:

- Đêm nay, Như Luyến trao tài liệu xong, chúng tôi sẽ trả thằng Lập cho.

Văn Bình khấp khởi mừng thầm. Thế có nghĩa là thằng Lập còn sống. Chàng vẫn có hy vọng cứu nó ra khỏi miệng hùm. Dầu ở hoàn cảnh khó khăn, chàng vẫn dọa già:

- Tôi xin nhắc lại lần nữa, trong mười phút nếu tôi không ra khỏi nơi này sẽ có người ập vào. Thiết tưởng các anh vẫn còn cách cứu vãn nếu chịu nghe điều kiện của tôi.

Tư Hàn cười khà khà:

- Giỏi, đóng kịch giỏi lắm. Quả là danh bất hư truyền, song không ai mắc lừa đâu. Nhưng thôi, anh định đưa ra điều kiện nào?

- Các anh phóng thích thằng Lập và Như Luyến.

- Như Luyến có hề gì đâu?

- Hiện nay chưa hề gì, nhưng chút nữa các anh sẽ bắt nàng.

- Chà, Văn Bình tiên đoán tài lắm! Đáng tiếc anh lại không cùng một tổ chức với bọn tôi.

- Cám ơn lời khen tụng của anh. Thế nào, anh có chấp nhận đề nghị của tôi hay không?

Tư Hàn lắc đầu:

- Chấp thuận sao được vì nếu chúng tôi thả con tin thì các anh vẫn tiếp tục cuộc đuổi bắt

Văn Bình đứng lên, cười ngoại giao:

- Không bằng lòng thì thôi! Chào anh Tư nhé!

Vừa nói chàng vừa khoan thai bước ra cửa. Trong một phút đồng hồ, thái độ thân mật và tự nhiên của chàng làm cho tên cầm súng lơi lỏng. Ra đến gần cửa, Văn Bình tiến nhanh thêm một bước, hoành tay ra phía trước. Bàn tay cầm súng của tên vệ sĩ bị một ngón đòn hiểm ác của Văn Bình đánh lạng sang bên. Văn Bình thò tay vào trong túi định rút súng lần nữa thì có tiếng ôn tồn của Tư Hàn:

- Ồ, ông bạn đồng nghiệp nóng nảy quá! Bỏ tay ra ngoài áo coi nào?

Văn Bình phải tuân theo lệnh Tư Hàn. Y cầm không biết từ bao giờ một khẩu tiểu liên tối tân, họng chĩa về phía chàng. Ra hiệu cho tên vệ sĩ đi ra ngoài. Tư Hàn đổi giọng:

- Một lần nữa anh còn mưu trốn tôi sẽ bắn nát óc.

Văn Bình nhếch mép cười ngạo nghễ:

- Chủ bắn sao anh còn nói tới điều đình?

Tư Hàn hạ khẩu súng tiểu liên xuống bàn, miệng nói:

- Anh thừa rõ chúng tôi không sợ anh chút nào cả. Ở trong nghề này cái chết xảy ra hàng ngày. Hôm nay anh sa vào tay chúng tôi, dĩ nhiên anh phải chết. Tuy nhiên, nếu giết một anh mà không phá vỡ được cơ sở của ông Hoàng chỉ là công cốc vì mất một anh, hàng chục, hàng trăm nhân viên khác sẽ được đào tạo ra thay thế cho anh. Mục đích của chúng tôi ở đây là lấy cho kỳ được bản tài liệu về công thức prô-péc-gôn, nay sắp lấy đưọc rồi. Tuy mục đích đã đạt nhưng một số người bị lộ, trong số đó có tôi. Tôi sẽ tha Như Luyến và thằng Lập nếu anh thỏa thuận cấp giấy thông hành đặc biệt cho hai người trong chúng tôi rời Sàigòn bằng máy bay. Và xin anh nhớ rằng tài liệu đi bằng đường khác chứ không phải tôi mang theo người đâu.

- Anh đã chắc đâu tôi chấp thuận đề nghị ấy mà rào sau đón trước?

- Tôi biết anh sẽ thỏa thuận. Anh không sợ chết, nhưng anh sợ Như Luyến và thằng Lập bỏ mạng vì anh quá khinh thường. Hối hận này, dầu anh chết nữa cũng theo anh xuống tận suối vàng.

- Tôi sẽ can thiệp với ông Hoàng cho người của anh được rời Sàigòn tự do. Nhưng còn Như Luyến và thằng Lập?

- Tôi sẽ tha trước khi máy bay chở nhân viên của tôi rời Sàigòn.

- Đồng ý. Tôi liên lạc ngay với ông Hoàng để lấy thỏa thuận.

Tư Hàn cười nhạt:

- Cám ơn anh, chúng tôi chưa cần tới bây giờ. Anh sẽ là tù nhân của tôi trong đêm nay.

Văn Bình chưa kịp phản ứng, Ba Tình đã hiện ra sau một cánh cửa bí mật vừa mở. Trong tay Ba Tình lăm lăm một lưỡi dao mỏng dính, sáng loáng. Ba Tình ngoắc tay dao nhủ chàng:

- Đi về phía này.

Không nói một lời, Văn Bình lùi lũi đi theo Ba Tình. Ba Tình nép sang một bên nhường cho chàng đi trước. Tuy tình hình bất lợi, chàng vẫn quyết định cướp lại ưu thế. Tư Hàn xoay cái ghế về phía Văn Bình, nét mặt không dấu được hả hê, Ba Tình là một tay dao tuyệt luân của làng anh chị Bến Nghé từ bao năm nay. Ba Tình dùng dao vừa nhanh vừa ngọt hơn súng sáu nhiều.

Văn Bình bước ra khỏi cửa. Ba Tình đi sau chàng một bước. Chàng chỉ đợi cơ hội vàng ngọc ấy. Mũi dao còn ấn vào lưng, chàng xoay mình lại như trôn ốc và vừa xoay chàng vừa hất lưỡi dao sắc bén sang bên. Khẩu súng trong túi vải đeo dưới nách bay vụt ra nằm gọn trong lòng bàn tay. Trong khi Ba Tình còn mất thăng bằng, phát súng đầu tiên đã nổ chát chúa. Trong trường hợp khác, ngọn súng bá phát bá trúng của chàng đã đưa Ba Tình và Tư Hàn sang bên kia thế giới, nhưng lần này chàng chưa dám coi thường khẩu tiểu liên tối tân của Tư Hàn và ngọn đèn nê-ông sáng xanh, nên phát thứ nhứt, chàng đã trở đầu súng lên ngọn đèn quái ác. Đoàng… Bộp… Phát súng nổ trúng cây đèn vỡ nát làm căn phòng tối om như hũ nút. Chàng chỉ kịp phi thân sang một bên. Tràng tiểu liên nổ ròn rã từ phía ghế bành Tư Hàn ngồi bắn lửa lại phía chàng. Tuy tràng đạn nổ điếc tai, khách nhảy ngoài "bít" nghe thấu vì lẽ gian phòng được lót ni-lông ngăn tiếng động. Văn Bình nằm mọp xuống sàn gạch, nín hơi. Mười giây đồng hồ nặng nề trôi qua. Chàng nghe Ba Tình thở nhè nhẹ bên cạnh. Hơi thở hình như gần lắm vì đây đây thoáng ngửi thấy mùi sâm-banh. Từ phòng Tư Hàn vẳng lại tiếng xô ghế. Chắc Tư Hàn đứng dậy. Không lẽ Tư Hàn ngu đến nỗi xô ghế ầm ỹ, khiến chàng có thể bắn hướng vào.

Một loạt tiểu liên nữa lại nổ và nhắm vào phía trái của chàng, cách nơi chàng nằm độ một thước. Nhờ tia lửa bắn ra, chàng thoáng thấy hình thù đen sì của Ba Tình bò cách chàng một sải tay, lưỡi dao sắc bén còn nguyên trong tay. Trong giây đồng hồ nghiêm trọng ấy, Ba Tình cũng thấy chàng. Văn Bình nhìn rõ cánh tay y giơ lên. Lưỡi dao sắp phóng ra. Mấy giây nữa đây, Tư Hàn sẽ bắn thêm loạt nữa và lần này một thể lại không trúng. Lưỡi dao vèo bay ra. Văn Bình ưỡn người ra phía sau và cùng khi ấy khẩu súng chàng giữ chặt trong tay nhả ra viên đạn đồng. Ba Tình la lớn một tiếng rồi ngã vật ra. Lưỡi dao không trúng Văn Bình cắm phập vào tủ áo phía sau. Tiếp đến loạt đạn thứ ba. Văn Bình đã lăn mình sang chỗ khác. Ở phòng bên, Tư Hàn lẩm bẩm chửi rủa. Cách Văn Bình hai thước. Ba Tình thở hắt ra.

Bốn bề đột nhiên im lặng. Một bầu im lặng báo hiệu cho sự chết. Ba Tình nằm lịm không trối được một câu. Tiếng Tư Hàn vẳng sang:

- Quăng súng hàng đi, không bể óc bây giờ.

Chàng móc túi lấy gói Salem đầy ắp ném sang bên tả. Liền khi đó, Tư Hàn chõ súng máy vào bắn. Văn Bình chỉ cần một viên đạn đặt trúng chỗ để triệt hạ Tư Hàn. Đoàng! Viên đạn bắn trúng yết hầu. Tư Hàn đau nhói như bị kim châm rồi ngã gục dưới chân bàn. Văn Bình bồi thêm phát nữa, đoạn nằm yên nghe lắng. Tiếng rên của Tư Hàn mỗi lúc một nhỏ dần.

Đợi giây lâu không thấy Tư Hàn phản công, Văn Bình nhỏm dậy, lần sang phòng bên. Chàng bật ngọn đèn vách lên. Tư Hàn ngã sấp, ngực đè lên khẩu tiểu liên trong vũng máu đỏ lòm. Văn Bình không cần lục lọi trong phòng Tư Hàn nữa. Chàng thừa biết đây là một trạm của tổ chức R.U.. Định vặn quá nắm cửa trở ra "bít", Văn Bình đột nhiên dừng lại. Chàng sực nhớ đến gã vệ sĩ mặc đồ đen Tư Hàn ra lệnh đứng gác ngoài cửa.

Cánh cửa mở ra, Văn Bình lách sang bên. Tên bận đồ đen bước vào trong tay vẫn còn khẩu súng. Y vào nhanh quá chàng không kịp né. Phát đạn đầu tiên được bắn ra, vèo ngang tai chàng. Phát thứ hai chưa kịp nổ, bàn tay sắt của chàng đả khép lên cườm tay hắn. Chàng vặn một cái mạnh. Xương tay nghe gẫy đánh rắc một tiếng. Y méo miệng, ném súng xuống đất. Bàn tay kia của Văn Bình giáng xuống đầu. Toàn thân run bắn lên như kẻ bị chém đầu, rẫy đành đạch. Đoạn y ngã sóng soài trên mặt đất.

Văn Bình thản nhiên mở cửa bước ra ngoài. Ánh sáng ngoài bít vẫn một màu đỏ quyến rũ và say sưa. Khách chơi đêm vẫn còn đông. Quang cảnh có phần tự nhiên và dâm đãng hơn hồi nãy. Trên mặt bít, số người nhảy thưa thớt. Vũ nữ tụm năm tụm ba với khách chơi bên một núi chai cốc, mặt đỏ gay, cặp môi đầy thèm muốn. Không ai thèm quan tâm tới Văn Bình. Cả lão rót rượu sau quầy cũng vậy. Lão bận nốc một ly sâm-banh đầy ắp. Tên phổ ky lúc nãy ném cho chàng một cái nhìn đầy ý nghĩa. Chắc y tưởng chàng chỉ là kẻ thèm ái tình, chuyên tung giấy bạc mới tinh lên tấm nệm trắng muốt.

Chàng trèo lên xe, vặn máy, lái thẳng về đại lộ Nguyễn Huệ. Binh-đinh Lô Ti là một tòa nhà mới cất cao tám tầng gần thương khẩu. Phía dưới không có chà gác cửa như trong mọi bin-đinh khác. Lên lầu hai, chàng nhìn số phòng rồi rẽ sang bên phải. Tay phải là phòng số lẻ. Thu Thủy ở phòng 219. Hành lang vắng tanh. Chân chàng dẫm trên thảm cao-su nên không nghe tiếng động. Tới buồng Thu Thủy, chàng đứng lại, nghe ngóng. Phòng của nàng vẫn còn ánh đèn. Vào giờ này, Thu Thủy còn làm việc tại vũ trường. Tất ánh đèn này không phải nàng bật lên. Văn Bình đặt chân sát cửa, ẩy nhẹ một cái. Cánh cửa mở ra êm ru.

Phòng của Thu Thủy rất sang trọng. Bàn ghế toàn là đồ gỗ tối tân, thấp lè tè. Ở một góc có cái máy hát âm thanh nổi, thứ đắt tiền nhất. Riềm cửa sổ đều làm bằng tuyn trắng. Văn Bình mở cửa sang phòng bên. Một cái giường ngủ kiểu lớn cho hai người nằm, choáng gần hết nửa diện tích. Đồng Tăng-Gô thường đến nhà Thu Thủy ngủ lại. Chiếc cà-vạt màu cá vàng của y còn vứt lỏng chỏng ở một góc. Góc kia là một cái áo vét-tông. Văn Bình vào buồng tắm. Không thấy gì hết. Đến khi mở tủ đựng quần áo, chàng khám phá ra thi thể Phạm Đồng. Đồng bị dựng đứng trong tủ. Khi chàng mở cửa, xác y đâm bổ ra phía trước.

Y bị giết bằng ngón điểm huyệt tối hiểm nên chết ngay, cổ bầm tím, mặt hơi bạnh ra. Đồng là tay giỏi võ, giết được y bằng võ Nhật chắc phải là tay cao thủ: Kinh Kong hay Nicôlai Kô-băng. Trở ra phòng khách, Văn Bình thấy một cái máy điện thoại màu hồng đặt trên ghế xích-đu. Chàng định gọi về Sở nhưng đột nhiên có tiếng chuông rung. Văn Bình đưa lên tai nghe. Tiếng người đối thoại có vẻ cứng rắn, như người có thói quen ra lệnh:

- Alô, có ai trong phòng số 219 không?

Văn Bình đáp:

- Có tôi.

Người kia hỏi:

- Ông là ai?

Văn Bình cũng hỏi:

- Thế còn ông, ông là ai?

- Tôi là cảnh sát trưởng Quận Nhì. Còn ông?

Văn Bình đáp liều:

- Tôi là anh của cô Thu Thủy.

- May quá! Tôi cứ tưởng cô Thu Thủy không có thân nhân, cô ấy vừa bị tai nạn xe hơi xong. Ở đầu đường Lê Lợi - chợ Bến Thành, mời ông tới ngay.

Đầu kia, máy nói được đặt xuống giá. Văn Bình dở cuốn niên giám điện thoại, tìm số của cảnh sát cuộc Quận Nhì. Một phút sau đã có ông cảnh sát trưởng ở đầu giây. Văn Bình nói:

- Chào ông, tôi là anh của cô Thu Thủy, ông vừa gọi giây nói cho tôi phải không?

Viên cảnh sát trưởng gắt:

- Ông còn đợi đến bao giờ mới tới nữa?

Văn Bình nói:

- Tôi cứ tưởng ai nghịch tinh gọi giây nói.

Viên cảnh sát trưởng vẫn gắt:

- Ai hơi đâu tinh nghịch như thế. Cô Thu Thủy nguy lắm, không khéo vỡ sọ.

- Liệu hề gì không thưa ông?

- Sao ông không tới ngay cứ hỏi mãi. Theo tôi, cô ấy không thể cứu được đâu. Tốt hơn xin ông tới ngay cho.

Viên cảnh sát trưởng buông ống nói xuống. Văn Bình mở toang cửa, chạy ba bước một xuống cầu thang. Chàng lái đến gần chợ Bến Thành, đậu xe cách đám đông chừng trăm thước rồi rảo bước tới. Tuy phố xá đã vắng, tai nạn xe cộ này cũng tập trung được trên chục người đứng bàn tán xung quanh. Dưới ánh đèn vàng quạch, Thu Thủy nằm duỗi dài trên đường nhựa. Máu và chất óc bắn tung tóe khắp nơi. Tiếng xe hơi phanh đánh kít một tiếng. Viên cảnh sát trưởng từ trên xe nhảy xuống:

- Người nhà nạn nhân tới chưa?

Một cảnh sát viên đáp:

- Thưa chưa.

Chiếc xe cấp cứu đã đậu sát Thu Thủy. Một người bận áo choàng trắng, ngực đeo ống nghe, quỳ xuống một bên. Một phút sau, người đó đứng dậy, đưa tay lên trời:

- Xong rồi.

Viên cảnh sát trưởng hỏi:

- Chết rồi, thưa bác sĩ?

Viên bác sĩ trả lời:

- Vâng, chết rồi.

Văn Bình đi lảng ra xa. Hy vọng cuối cùng của chàng đã tan ra mây khói. Chàng không còn đầu mói nào để tìm thằng Lập và bản tài liệu nguyên tử nữa. Chàng lái xe hơi chạy ngược về đường Tự Do, tuy nhiên trong trí chưa quyết định di đâu. Nếu chàng đến sớm chút nữa biết đâu chẳng được nghe một lời trối trăng quan trọng của Thu Thủy. U già bị thương phải vào bệnh viện, Lê Diệp, cộng tác viên số một của chàng bị bắt trong khi sơ ý cùng với thằng Lập, rồi mai kia Như Luyến, Phạm Đồng, Thu Thủy bị giết, một giây không may kéo dài ra trước mắt chàng. Đêm nay không tìm ra manh mối, chàng không còn hy vọng nào nữa. Sực nghĩ tới u già, chàng liền lái xe tới bệnh viện Đồn Đất. Giờ này bệnh viện đã khóa cửa. Chàng dự định đậu xe ở một quãng vắng rồi leo tường vào. Chàng cần hỏi thêm u già một vài chi tiết quan trọng. Kinh ngạc xiết bao khi chàng thấy cổng bệnh viện mở rộng, có xe cảnh sát án ngữ. Thấy chàng tới, một cảnh sát viên đeo súng sáu bước ra hỏi:

- Ông đi đâu? Đã khuya rồi, ông còn đến bệnh viện có việc gì?

Để khỏi mất thời giờ, chàng xuất trình thẻ chức vụ, yêu cầu gặp viên chỉ huy. Người cảnh sát đứng nghiêm chào chàng và nói:

- Xin trung tá tha lỗi. Sở dĩ có chuyện hỏi giấy tờ vì mới xảy ra một vụ ám sát trong bệnh viện.

Văn Bình giật mình, hỏi dồn:

- Đâu, ám sát ra sao?

Vừa lúc đó, viên chỉ huy tới. Biết chức vụ Văn Bình, người đó lễ phép mời chàng vào trong phòng gác, rồi nói:

- Một vụ ám sát táo bạo vừa xảy ra. Nạn nhân là bà Ngọc, người mà quý Sở dặn phải chăm nom chu đáo.

Văn Bình không đáp, lặng lẽ theo người này tới buồng u già Ngọc. Trong phòng, nhân viên nhà hình, nhà đo và ban điều tra tư pháp của Công An tề tựu đông đủ. Văn Bình thầm phục sự nhậm lẹ của công an. Gặp một nhân viên quen, Văn Bình bắt tay chào. Người ấy chỉ vũng máu ở giữa phòng, nói với chàng:

- Nửa giờ trước, bà Ngọc còn nằm trong phòng này. Theo lệnh trung ương, chúng tôi đã canh phòng cẩn mật, tuy hết sức tế nhị, không cho địch biết. Lính gác ngoài hành lang nghe tiếng động trong phòng nên chạy ngay vào. À, tôi tưởng cần nói rõ có ba người gác cả thảy. Một người gác ở cửa sổ nhìn ra sân, người thứ hai ở hành lang, còn người thứ ba đi lưu động. Người gác bên ngoài đợi quá năm phút không thấy bạn liền mở cửa vào thì bị đánh vào gáy bất tỉnh nhân sự. Bà Ngọc tuy còn yếu đã chống cự kịch liệt. Cái đèn đêm bị kéo xuống đất, chén đựng thuốc vỡ tan. Ngoài vũng máu do vết thương của người lính, còn vài vũng con nữa, chắc bà cũng bị kẻ gian dùng dao đâm vào người.

- Bọn gian đông không?

- Thưa, không biết, nhưng chắc từ ba người trở lên.

- Chúng ra vào bằng cách nào?

- Chúng hành động xong, ra bằng cửa sau, lên xe Hồng Thập Tự của bệnh viện, đường hoàng lái xe ra cổng trước.

- Xác người lính bị giết còn ở đây không?

- Thưa, còn, để ngoài hành lang. Ông muốn xem lại các vết thương không?

Văn Bình gạt đi:

- Thôi, không cần. Còn người lính bị đánh ngất?

- Thưa, đã chở về bót trung ương lấy khẩu cung.

Người lính này là cái móc còn lại duy nhất đối với chàng. Xe chạy khỏi ngã tư đèn đỏ Hai Bà Trưng. Bỗng như có tiếng chuông điện reo lên trong óc, chàng bồi hồi giật mình. Chàng sực nhớ tới việc Lê Diệp bị bắt. Một điều nhỏ mọn nhưng thập phần quan trọng là Lê Diệp bị bắt trong mình còn cái Magwave mà chàng lấy lại trong ví da Như Luyến.

Một hy vọng cỏn con nhóm lên trong lòng Văn Bình, chàng vội lái xe về phòng thường trực của Ban Đo-Góc. Sau mấy phút tìm tòi, quả chàng đoán không sai: chiếc Magwave của Lê Diệp đang chạy. Nghĩa là chàng có thể tìm ra nơi Lê Diệp bị giam. Nghĩa là Lê Diệp không phải sơ ý bị bắt. Lê Diệp đã tự mang mình ra làm con chuột bạch hy sinh cho Văn Bình khám phá sào huyệt chính của địch.

Bên cạnh chàng, Ban Đo-Góc đương hối hả làm việc. Việc tìm tòi được tập trung vào một khu hình tam giác cách Sàigòn 20 cây số quá Trung Tâm Nguyên Tử Thủ Đức. Văn Bình trèo lên xe díp của Ban Đo-Góc lái về cầu Bình Lợi. Sương muối phủ kín con đường rải nhựa. Chàng tắt đèn pha, lấy trong thùng xe ra một cái ống kính kỳ lạ đeo lên mắt. Đó là cái máy sni-péc-cốp[13]. Máy này phát ra tia hồng ngoại chọc thủng màn tối.

Qua Thủ Đức, chàng dừng xe lại. Tia điện do máy Magwave của Lê Diệp phát ra đã dừng lại ở khu này. Ban Đo-Góc tính toán một lát nữa. Sau cùng, chàng tìm ra địa điểm: một cái trại khá rộng bên trái. Đậu xe ngoài đường, chàng men ruộng đi thẳng tới trại. Bốn bề vắng teo. Bỗng chàng nhận ra một tiếng động khác lạ. Tai chàng rất thính, nên chàng ít khi lầm lẫn. Chàng đứng sững, nín thở, lắng tai nghe. Đó là tiếng giầy dẫm lên lá khô nghe lào xào. Đúng là có người đi tới. Chàng không phải đợi mất thời giờ. Một tia đèn bấm lóe xuống đất: người lạ mặt chiếu đèn xuống ruộng tìm đường. Cách một quãng ngắn lại có tia đèn bấm. Người lạ mặt tiến ra đường cái. Bỏ ý định vào trại, chàng rảo bước theo người lạ mặt, tuy nhiên đi rất nhẹ nhàng, cốt không tạo ra tiếng động khả nghi.

Người lạ mặt đi tới một cây cổ thụ cành lá xum xuê, cách mặt đường độ ba chục thước. Dưới ánh đèn bấm của người lạ mặt, Văn Bình giật mình. Dưới cây cổ thụ một chiếc xe hơi đen xì nằm lù lù. Văn Bình định thần nhìn kỹ. Người lạ mặt mở cửa xe. Đèn trong xe bật sáng mấy giây đồng hồ. Y rập mình làm đôi chui vào trong, ngồi trước tay lái. Mấy giây đồng hồ quý báu này đủ giúp Văn Bình nhận diện được người lạ mặt. Đó là một người đàn ông cao lớn. Dáng đi này, chàng không tài nào quên được. Hồi nãy trong biệt thự của nhà bàc học Đoàn Trung, y đeo mặt nạ: Kinh Kong.

Cửa xe đóng sầm. Tiếng đề-ma-rơ ngọt sớt, động cơ chạy êm ru. Đợi Kô-băng ra tới đường nhựa chạy về Sàigòn, chàng mới tiến lại xe díp, vặn lái rượt theo. Chàng không còn lo cho số phận Lê Diệp và thằng Lập nữa. Đeo cặp kính sni-péc-cốp lên mắt, chàng sả ga xăng chạy một mạch về Sàigòn.

Xe Kô-băng chỉ vặn đèn nhỏ nên chạy không nhanh. Xe Văn Bình điềm nhiên chạy sau một quãng ngắn. Qua cầu Bình Lợi. Qua khu rừng cao-su đen um gần trạm xăng ngã tư Xóm Gà, Gia Định. Kô-băng chạy thẳng qua rạp chiếu bóng Gia Định nhưng không rẽ sang trái xuống Sàigòn. Chạy được một quãng, vượt qua biệt thự buồn thiu của Như Luyến, Kô-băng tắt máy gần nghĩa địa bên đường Chi Lăng. Văn Bình nhanh tay lái xe vào lề, tắt máy, cất đôi kính sni-péc-cốp xuống nệm xe. Chàng thấy Kô-băng trèo tường vào nghĩa địa. Chàng liền chọn một khu tối om thót lên, nhảy nhẹ nhàng vào trong. Văn Bình thoáng thấy Kô-băng rảo bước về góc nghĩa trang. Ánh điện ngoài đường không đủ xua đuổi bóng tối dầy đặc trong nghĩa trang nên tuy cách Văn Bình không bao xa, nhưng Kô-băng không thể thấy chàng. Những ngôi mộ xây cao biến thành bức tường kiên cố che khuất Văn Bình.

Nhiều lần vào nghĩa địa này thăm cô bạn gái ngoại quốc đã bỏ chàng sang thế giới bên kia giữa lúc cảm tình nồng nàn, Văn Bình đã quen với lối đi trong bóng tối. Chàng không dẫm lên đường trải đá dăm sợ gây ra tiếng kêu lạo xạo. Nhẹ nhàng, chàng đặt chân lên nệm cỏ xanh. Kô-băng dừng chân trước một ngôi mộ mới xây, cao ngất, quét vôi trắng xóa. Cách Kô-băng ba thước, Văn Bình ngồi thụp xuống. Chàng thấy Kô-băng bấm đèn bin, hình như để tìm một dấu hiệu. Một tiếng động từ phía cổng nghĩa trang vọng lại làm chàng nín hơi nghe. Một tiếng động đặc biệt mà chàng không thể nào lầm lẫn được. Đó là tiếng giầy nện trên đường trải đá.

Lờ mờ trong bóng tối xen lẫn màu trắng của người ngôi mộ mới xây, chàng bắt gặp hình dáng quen thuộc của Như Luyến. Nàng đi có vẻ vội vàng. Đến góc nghĩa trang, nàng dừng lại, rút đèn bấm trong xắc tay ra quét một vệt sáng dài phía trước. Một tiếng chim cú nổi lên. Bầu không khí đột nhiên đượm mùi ghê rợn. Văn Bình có cảm giác như tiếng cú từ dưới mồ phát ra để dọa Như Luyến. Một tiếng chim cú nữa. Tiếng chim cú của Kô-băng. Nhận ra chỗ Kô-băng, Như Luyến vội vã tiến tới. Văn Bình bò sát nền cỏ ướt đẫm sương đêm, lại gần sát ngôi mộ mà hai người nói chuyện. Chàng nghe Kô-băng nói:

- Chào bà, bà đến đúng hẹn quá.

Như Luyến đáp, giọng còn vương hằn học:

- Vâng, chào ông. Ông muốn gì, nói đi?

Tiếng Kô-băng:

- Tài liệu đâu? Bà đưa cho tôi.

Như Luyến cười lớn cái cười ghê rợn làm Văn Bình dựng tóc gáy. Chàng không biết nàng cười để che giấu sợ hãi hay để tỏ khinh mạn. Nàng nói:

- Ông cho tôi là trẻ con đấy phỏng?

Kô-băng có vẻ ngạc nhiên:

- Bà lầm đấy chứ?

Như Luyến dằn từng tiếng một:

- Ông dặn tôi đến đây để điều đình, có phải để ra điều kiện cho tôi đâu?

Câu sau nàng nói quá to. Văn Bình có cảm tưởng như tiếng nói lanh lảnh của nàng dội vào nấm mộ cẩm thạch, vang rân trong nghĩa trang vắng vẻ. Biết giây phút quyết liệt sắp tới, Văn Bình bò lại gần thêm nữa. Kô-băng đáp:

- Chết, bà nói sẽ chứ. Người ta nghe được thì hỏng cả.

- Đêm hôm thế này, ai mò ra đây làm gì mà ông sợ.

- Cẩn thận vẫn hơn, thưa bà. Tôi xin hỏi lại bà, bà có mang tài liệu trong mình đấy không?

Văn Bình rướn người về phía trước. Đây là giờ phút quan trọng nhất. Nếu Như Luyến mang tài liệu theo tất số nàng đã tận. Dầu muốn dầu không, Kô-băng sẽ giết nàng cho phi tang. Văn Bình coi lại lưỡi dao sắc lẻm giấu trong cái tất ở cổ chân. Cách xa mấy thước, chàng có thể phóng dao cứu Như Luyến bất cứ lúc nào. Như Luyến trả lời, giọng ráo hoảnh:

- Lúc nãy tôi đã nói rồi, ông quên sao? Tôi không phải là trẻ con để ông đánh lừa lúc nào cũng được. Tôi chỉ bàng lòng trao tài liệu cho ông một khi tôi biết đích xác con tôi không mệnh hệ gì. Ngược lại….

- Thằng Lập không việc gì cả, thưa bà.

- Ông hứa là một chuyện, tôi tin lại là chuyện khác.

- Bà không được quyền nói như vậy. Tính mạng của bà từ phút này ở trong tay tôi. Tôi muốn giết bà phỏng khó gì?

- Nếu ông muốn, mời ông ra tay.

Giọng Kô-băng có vẻ gay gắt:

- Bà báo cho bọn Mật Vụ biết rồi phải không?

Như Luyến thản nhiên:

- Không, không bao giờ.

Kô-băng cưòi nham hiểm:

- Vả lại, bà có báo cho chúng nữa cũng không đáng ngại. Vào giờ này, bọn chúng đã nằm yên dưới sông Sàigòn rồi. Chắc bà không biết tên trùm Mật Vụ Tống Văn Bình đã cho người bao vây chỗ tôi giữ con bà… Thằng ấy đã sa lưới của tôi. Bà làm nội ứng cho chúng hay không tôi không cần biết, tuy nhiên, bà hãy coi chừng, tôi không dung tha những kẻ một dạ hai lòng đâu.

Như Luyến cười gằn:

- Tôi cũng vậy. Chính các ông mới một dạ hai lòng. Ông đã hẹn không đụng tới gia đình tôi thế mà sau đó chính ông đã bắt cóc thằng Lập.

- Nghĩa là bà đã báo cho Mật Vụ biết?

- Phải, trước kia, tôi đã báo cho họ.

Kô-băng nghiến răng ken két:

- Thảo nào. Được rồi, mi sẽ chết.

Như Luyến cười một cách thách thức:

- Tôi cấm ông không được ăn nói thô bỉ. Trước kia, tôi cho Mật Vụ biết, nhưng từ ngày họ dùng con tôi làm mồi nhử các ông, tôi đã bỏ họ. Tôi đã ghét các ông, tôi đã hận họ. Bây giờ tôi chỉ muốn các ông trả con tôi lại, thế thôi. Ông có chịu trả không?

- Bà phải đưa tài liệu làm bằng trước.

- Đến chết tôi cũng không chịu.

- Tôi sẽ giết bà ngay bây giờ.

- Đấy, ông giết đi.

Một phút im lặng. Văn Bình có cảm giác như nghe rõ tiếng trống ngực của Kô-băng và Như Luyến. Nàng đã tới lúc liều mạng.

Như Luyến giục:

- Ơ kìa, ông còn trù trừ gì nữa?

Kô-băng nói, giọng chán nản:

- Thật ra tôi đâu muốn giết bà và bắt con bà. Vì bà báo cho Mật Vụ biết, tôi phải đề phòng đấy thôi. Thằng Lập con bà, tôi giữ cách đây hai chục cây số.

- Nó có được ăn uống tử tế không? Nó khóc nhiều không?

- Bà khỏi lo. Nó ngủ như khúc gỗ và ăn khỏe lắm.

- Ông đừng nói dối tôi. Từ thuở nó sinh ra tới giờ, nó chưa xa tôi phút nào. Không có tôi, nó không ăn, không ngủ được đâu.

Kô-băng nín thinh. Như Luyến tiếp:

- Tôi muốn giáp mặt thằng Lập trước khi trao tài liệu.

- Không thể được. Tôi chỉ có thể cho bà nói chuyện bằng điện thoại.

Như Luyến chối phắt:

- Tôi nhất định không chịu. Tôi chỉ bằng lòng trao tài liệu cho ông, nếu ông đưa tôi tới chỗ giam nó.

Lại một phút im lặng nữa. Trước sự cương quyết của Như Luyến, Kô-băng đành nhượng bộ. Y nói:

- Được, tôi sẽ đưa bà tới chỗ giữ thằng Lập. Tới đó, bà sẽ cho tôi biết chỗ cất tài liệu, tôi sẽ thân chinh đi lấy. Nếu bà nói đúng, tôi sẽ trở lại thả bà ra, nhược bằng….

- Nếu ông lại lừa tôi như lần trước thì sao? Tôi buộc ông khi đi lấy tài liệu không được giam mẹ con tôi lại. Có thế tôi mới chịu. Tôi chỉ bằng lòng cho ông để một người ở lại với chúng tôi đợi ông về mà thôi. Trong túi tôi có một khẩu súng. Tôi sẽ dùng súng này để bảo vệ con tôi. Nếu ông chịu điều kiện ấy, rôi sẽ đi với ông, bằng không, xin ông cứ việc giết, tôi không thiết.

Rốt cuộc Kô-băng bằng lòng. Vả lại, không bằng lòng không được vì Như Luyến nhất định không nhượng bộ. Kô-băng ra hiệu cho nàng ra trước và dặn nàng trèo lên chiếc Pờ-Dô đậu bên lề. Nhanh như chớp, Văn Bình nhỏm dậy, mò qua con đường đá dăm, đứng lên, đi vòng qua giẫy mộ mới, tiến tới bức tường hông của nghĩa địa.

Chiếc xe của chàng chạy êm ru. Chàng đeo kính sni-péc-cốp vào mắt, rồi sang số, chạy một mạch tới cầu Rạch Lăng. Chàng mắm môi nhận ga xăng vì phía sau chiếc Pờ-Dô của Kô-băng phóng mạnh như gió. Đồng hồ tay của chàng chỉ đúng 3 giờ 55 phút. Vào mùa này, bình minh rất sớm. Chàng lái xe vào đường hẻm, giấu dưới bụi găng um tùm, đoạn hối hả băng đồng về phía cái trại giữa đồng không mông quạnh. Vừa đi, chàng vừa soát lại những dụng cụ trong mình. Dưới bắp chân, lưỡi dao vẫn nằm nguyên. Mấy ngày nay, chàng chưa có dịp dùng dao. Khẩu súng quen thuộc mới thay bì đạn chín ly tòn ten trong túi vải dưới nách. Cái ma trắc, bạn đồng hành của chàng trong nhiều phen vào sanh ra tử cũng được giấu gọn trong ống vét-tông. Chàng vẫn còn cái gi-lê đạn bắn không thủng trong mình. Đủ lắm rồi. Giờ đây, Văn Bình chỉ còn thiếu một cái. Đó là thiếu sự đe dọa của thần Chết. Thì đây, thần Chết đã tới. Tới bằng một bóng đen câm lì từ phía sau nhảy vụt vào cổ Văn Bình.



Phần Mười Ba. Những cái không ngờ

Lúc ấy, Văn Bình còn cách khu trại độ trăm thước. Bóng đen này núp trong đống rơm dựng giữa đồng. Thoáng nghe tiếng gió thổi mạnh phía sau, Văn Bình quay vụt lại và phản ứng tự nhiên của chàng là ngồi thụp xuống. Hú vía! Lưõi kiếm sắc chém đá cũng vỡ veo qua cổ chàng! Nếu không tránh né giỏi Văn Bình đã hồn du địa ngục.

Chàng không đợi nhát kiếm thứ hai bay tới, đã phi thân nhảy lên phía trưóc. Một cái đạp cực mạnh vào ức đối phương. Một cây thịt nặng chình chịch ngã vật trên bờ ruộng Văn Bình tiến tới bịt miệng lại.

Một cái khóa nhu đạo ấn vào yết hầu địch thủ. Toàn thân y mềm nhũn trong giây phút. Văn Bình lục túi xác chết. Không có gì. Chàng đá cái xác xuống ruộng, đoạn tiến nhanh về phía cổng trại. Cách cổng chừng mười thước, chàng rẽ sang bên trái, đi lần tới một bức tường khá cao. Nhẹ như chiếc lá, chàng phi thân lên đỉnh tường rồi nhảy xuống sân. Nhảy tường là một trong những môn thể thao chàng thạo nhất. Chân chấm xuống sân, chàng ngồi bẹp xuống, nhìn quanh quất tứ phía. Đó là một cái sân rộng, cây trái đen um. Văn Bình ngửi thấy mùi xoài thơm phưng phức. Giá cái trại này không phải là nơi nhốt thằng Lập và Lê Diệp nhỉ? Giá chàng đến đây với một người đẹp như nặn và cả hai cùng đứng bá vai nhau dưói gốc xoài thơm tho và ngọt lịm này nhỉ? Chàng bất giác nuốt nước bọt.

Chàng hơi ngạc nhiên vì khác với tiên đoán của chàng, chung quanh không thấy một ai. Chàng chạy thật nhanh qua hai cây xoài nặng trĩu quả, và một hành lang dài, ăn thông với nhà trên. Không có một tiếng động nào khả nghi. Chàng để ý tới một cửa sổ mở hé ở dẫy nhà phụ thuộc. Trại này kiến trúc theo lối mới nên gồm hai phần riêng biệt, phần nhà trên và nhà phụ thuộc. Phía sau dẫy nhà phụ thuộc là chuồng nuôi heo, bò và là nơi vắt sửa.

Một tiếng kẹt cửa làm chàng giựt mình. Tiếng kẹt này từ nhà trên dội xuống. Chàng nghe tiếng chân người dận giầy đế kếp, tuy đi nhẹ nhưng không lọt ra ngoài vành tai thành thạo của chàng. Một người cao lớn, bận sơ-mi màu, bỏ ngoài quần, đi xuống. Sở dỉ chàng nhận được màu áo và dáng người vì y đánh diêm châm thuốc lá.

Văn Bình lách sang bên nhìn y đi đâu. Qua chỗ chàng núp, y rút trong túi ra một chùm chìa khóa và lúi húi mở cửa. Cửa mở. Y bước vào. Văn Bình tiến lại gần. Cũng may, y chỉ khép hờ không đóng. Một phút sau, chàng lọt vào trong nhà. Tiếng chuột kêu chít chít trên trần. Mùi ẩm thấp, mốc meo xông vào mũi chàng. Phòng này chắc bị đóng cửa từ lâu.

Y lại mở thêm một cách cửa khóa nữa và lần này bước vào một căn phòng ăn thông với nhà kho. Ở ngoài, Văn Bình ngửi thấy mùi rơm khô và cỏ ướt. Chàng nghe tiếng "cách" của một lưỡi dao đi biển nhảy ra khỏi cán. Thứ dao này lưởi dài hai mươi phân, nằm khuất trong cán, khi động dụng chỉ ấn nút là lưõi bung ra, sẵn sàng phóng vào kẻ thù. Thằng Lập sắp bị nguy chăng? Hay là Lê Diệp? Chàng định nhảy cửa sổ vào cứu nhưng cảm thấy đã muộn. Chàng nghiến răng cho một giọt nước mắt trào xuống má vì vừa nghe tiéng dao ngọt sớt cắm sâu vào thịt và một tiếng keu se sẽ. Tiếng kêu này là của người lớn, chắc là của Lê Diệp.

Chàng phải xuất hiện để cứu thằng Lập. Chàng cúi xuống rút lưỡi dao giấu trong tất chân ra, cầm vào tay, chân phải đạp tung cánh cửa sang bên. Cánh tay chàng rướn lên trước, chờ mục phiêu để xung kích.

Kinh ngạc xiết bao. Người đứng trước mặt chàng không phải là tên hồi nãy mà là Lê Diệp. Lê Diệp bằng xương bằng thịt. Lê Diệp thản nhiên lau lưỡi dao vào vạt áo người chết. Nghe tiếng động, Lê Diệp ngả người ra phía sau, trong một thế võ tránh né, tay phải giang ra, chực phóng dao. Và cả Văn Bình cũng vậy. Nhưng cả hai đã ngừng tay kịp thời. Dưới ánh đèn Hoa Kỳ nhỏ xíu, lông mày Lê Diệp quắc lên một cách dữ tợn. Văn Bình phá lên cười. Lê Diệp nhếch mép cười theo. Song hai người không dám cười to. Họ vừa nghe tiếng động cơ xe hơi rú lên trước cổng. Văn Bình chỉ Lê Diệp:

- Anh tài quá!

Lê Diệp cười:

- Tôi biết thế nào anh cũng tìm ra chỗ này. Không lẽ một người như tôi, có khí giới trong mình lại chịu bó tay cho chúng nó bắt, phải không anh?

- Bọn nó mang anh thẳng về đây à?

- Vâng.

- Còn thằng Lập?

- Nó ở nhà trên.

- Sao anh biết?

- Lúc nãy chúng nó xuống bàn chuyện, tôi nghe lõm được.

- Có mấy đứa cả thảy?

- Năm sáu đứa là ít.

- Tại sao anh không bị trói?

- Có chứ, nhưng anh còn lạ gì, chúng quá khinh thường nên mắc mưu tôi. Đợi mãi sợ anh gặp chuyện gì nên tôi quyết định ra tay một mình. Gặp anh, may quá.

Văn Bình cầm dao đi trước. Lê Diệp lùi lũi đi sau, sau khi đã cẩn thận tắt ngọn đèn tù mù ở góc phòng. Ra tới hành lang, Văn Bình đẩy cửa bước lên nhà trên. Có Lê Diệp phụ tá, chàng cảm thấy trong dạ hơi yên. Qua gian phòng đầu, ý hẳn là phòng ăn vì chàng thấy bát đĩa ngổn ngang và mùi đồ hộp nức lên mũi, hai người tới một cánh cửa đóng kín, qua kẽ ánh sáng leo lét lọt ra, Văn Bình áp tai vào lỗ khóa. Bên trong có tiếng mở nút chai, chắc là chai rượu. Có tiếng người nói:

- Lâu quá, sao bây giờ Kô-băng chưa về?

Văn Bình quay lại nhìn Lê Diệp trong bóng tối. Tròng mắt Văn Bình sáng lên một cách dị thường. Chàng vừa tìm ra một đầu mối thập phần quan trọng. Người vừa nhắc tới tên Kô-băng không phải là người Việt tuy nói tiếng Việt. Lăn lộn nhiều năm trong trường gián điệp quốc tế, chàng đã quen tiếng lơ lớ của một số người ngoại quốc.

Cửa mở. Kô-băng quàng tay Như Luyến bước vào phòng. Sau cánh cửa, Văn Bình nghe rõ mồn một tiếng giầy quen thuộc của Như Luyến. Chàng ghé mắt qua lỗ khóa. Nhờ lỗ khóa khá to, chàng có thể nhìn thấy một góc phòng. Chàng thấy thằng Lập ngồi trong chiếc ghế bành to lớn kê sát tường, bên cạnh một thanh niên có khuôn mặt lai Tây phương, cao lêu nghêu. Thanh niên này nói chuyện bằng tiếng Việt-Nam lơ lớ với thằng Lập, trong khi một người khác đứng tuổi, ném khẩu súng "Côn" lên không rồi bắt lấy như trong rạp xiếc. Nicôlai Kô-băng có thái độ khoan thai và lễ độ đối với Như Luyến như ở trong vũ trường, mời một thiếu phụ tuyệt sắc nhảy một bài. Y chỉ cái ghế phía trước mời nàng ngồi, nhưng vừa thấy thằng Lập, nàng đã nhảy xô lại, ôm con khóc nức nở. Thằng Lập cũng bám lấy mẹ khóc vùi.

Lê Diệp bấm Văn Bình, và chỉ ra ngoài. Chàng chợt hiểu kế hoạch của Lê Diệp. Hai người sẽ chia ra làm hai cánh, vây Kô-băng trong gọng kềm. Lê Diệp bước ra. Bỗng một ý kiến thoáng qua óc, Văn Bình nắm vạt áo bạn giật lại. Trong thâm tâm, chàng chưa muốn hạ thủ Kô-băng, vì như vậy cái khâu cuối cùng, khâu cuối cùng quan trọng của tổ chức gián điệp địch vẫn chưa bị khám phá.

Văn Bình lôi Lê Diệp ra ngoài. Nửa phút sau, Lê Diệp hiểu ý định của bạn. Lê Diệp cho lưỡi dao lá liễu vào túi áo trong, chào Văn Bình đoạn đi khuất vào bóng tối. Chàng ra chỗ Văn Bình để xe bên ngoài, chuẩn bị theo Kô-băng. Ở lại một mình trong phòng ăn, Văn Bình lại quỳ xuống nhòm qua lỗ khóa. Chàng thấy Kô-băng tiến tới chỗ Như Luyến và thằng Lập ngồi, bế thằng Lập trên tay, trao cho người thanh niên có bộ mặt lai, nói bằng tiếng Nga:

- Mang nó sang phòng bên.

Như Luyến đứng vụt lên, nắm vạt áo thằng Lập:

- Không, không, các ông không được mang nó đi đâu cả. Nó phải ở đây với tôi.

Kô-băng cười nhạt:

- Tôi cho nó sang phòng bên để ta dễ nói chuyện chứ đâu để đàn áp nó. Hay bà muốn nó nghe cả những điều tôi sẽ nói với bà?

Kô-băng nói đúng nên Như Luyến lặng thinh. Kô-băng vuốt má thằng Lập:

- Cháu chóng ngoan, chốc nữa bác đưa cháu về nhà.

Thằng bé không đáp, thin thít đi theo người thanh niên lai sang phòng bên. Cửa đóng đánh sầm. Trong phòng chỉ còn có Kô-băng. Như Luyến và người đứng tuổi với khẩu súng Côn khi nãy. Kô-băng quay về phía người đó, giọng đàn anh:

- Đồng chí Thưởng ra gác ngoài hành lang, để tôi nói chuyện với bà một lát.

Người gọi là đồng chí Thưởng đứng dậy, vuôn vai kêu đánh rắc, đoạn rút khẩu Côn bạc bóng loáng ra tung tung lên trời như lúc nãy. Kô-băng giục:

- Anh này lúc nào cũng tung súng nghịch cả! Chơi thì mềm mại như vậy, không biết lâm sự có rút kịp hay không?

Thưởng đóng cửa hành lang. Kô-băng mở buýp-phê lấy một chai rượu mạnh chưa mở nút, rót mời Như Luyến, vẫn bằng cái giọng mật ngọt chết ruồi:

- Mời bà sơi một hớp cho lại sức.

Như Luyến khoát tay:

- Cám ơn ông. Bao giờ ông chịu trả con tôi cho tôi?

Kô-băng mỉm cười:

- Sau khi bà trao tôi cái tài liệu đã hứa. Bà cất cái ấy ở đâu?

Như Luyến đáp:

- Tôi bỏ vào thùng thư trước biệt thự của tôi. Chìa khóa đây, ông cho người tới lấy.

Kô-băng cầm chiếc chìa khóa dẹt của Như Luyến, đon đả:

- Xin cám ơn bà.

Như Luyến không nhếch mép trước lời cám ơn của trùm gián điệp Sô Viết. Kô-băng nhún vai uống cạn một ly rượu mạnh nữa. Nhìn mọi người một giây, dáng điệu kẻ cả. Kô-băng đứng dậy, mở cửa:

- Tôi đi bây giờ. Lấy xong tài liệu, tôi sẽ điện thoại cho Nô-vốt-ky. Y sẽ cho phép bà tự do mang cháu về.

Như Luyến chưa kịp đáp, Kô-băng đã lớn tiếng gọi:

- Nô-vốt-ky?

Cửa sang phòng bên mở tung. Nô-vốt-ky cầm khẩu súng lục to tướng sồng sộc bước ra. Kô-băng mỉm cười trách móc:

- Có chuyện gì đâu mà phải mang súng? Em ở lại trông nom Bà nghe?

Nô-vốt-ky gật đầu. Kô-băng đánh diêm châm thuốc hút. Bỗng Nô-vốt-ky kéo tay Kô-băng, miệng nói:

- Hình như có ai đứng đâu đây thì phải?

Sau cánh cửa, Văn Bình chột dạ. Kô-băng gạt đi:

- Ai vào đây được? Em cứ hay báo hoảng!

Nô-vốt-ky đánh hơi xung quanh như chó bẹt-giê:

- Không có lý nào em sai được? Anh thử đi tìm với em một chút xem sao?

Kô-băng cười ngất:

- Thôi, để em tìm một mình. Cây súng của em không đủ tiêu diệt một đại đội của địch hay sao? Thôi, anh đi đây.

Văn Bình ngạc nhiên vì tiếng xưng hô anh anh em em ngọt lịm giữa Kô-băng và Nô-vốt-ky. Điều này chứng tỏ Kô-băng là một viên chức R.U. cao cấp. Chàng còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy Nô-vốt-ky khẹc khẹc cái mũi quanh phòng. Đến phía cánh cửa có Văn Bình núp, Nô-vốt-ky dừng lại, nét mặt đột nhiên biến sắc. Văn Bình nín hơi thở. Lăn lộn nhiều, chàng đã gặp những gián điệp luyện được phép đánh hơi rất tài. Họ chỉ đảo cái mũi tứ phía là có thể đánh hơi thấy người lạ, hệt như con thú trong rừng đánh hơi thấy người núp bắn.

Qua lỗ khóa, Văn Bình thấy Nô-vốt-ky tiến tới, trong tay lăm lăm khẩu súng. Văn Bình né sang bên, lặng lẽ đi sâu vào bóng tối. Chàng nghe rõ tiếng chân giày đế cao-su nặng chình chịch của Nô-vốt-ky dẫn trên nền gạch hoa cũ. Một phút nặng nề trôi qua. Nô-vốt-ky la lớn:

- Ai đó?

Văn Bình không trả lời. Nô-vốt-ky mờ cửa nhìn ra ngoài. Văn Bình ẩn sau một cái tủ khá cao, lọt ra ngoài tầm mắt của Nô-vốt-ky. Nô-vốt-ky giắt khẩu Côn vào thắt lưng, miệng lẩm bẩm:

- Quái, không lẽ mình lại lầm đưọc?

Y đóng cửa, đứng im nghe ngóng một lát. Không nghe tiếng động nào khả nghi, Nô-vốt-ky tiến lại ghế bành, buông mình phịch xuống trong khi Như Luyến ngồi ôm thằng Lập trong chiếc ghế đối diện.

Nhìn Như Luyến dưới ánh đèn tù mù, bỗng Nô-vốt-ky nhô lên một cảm giác khó tả, toàn thân y nóng bỏng lên như vừa đứng cạnh lò sưởi một ngày nóng bức. Máu chạy nhanh hai bên thái dương. Hoài của! Kô-băng ra lệnh cho y sau khi nghe điện thoại sẽ thủ tiêu nàng. Người đẹp như trong thanh vẽ thế này mà Kô-băng nỡ sát hại! Giá y được thưởng thức cái tác phẩm thần tiên này trước khi lảy cò nhỉ? Y chìa thuốc lá mời Như Luyến. Như Luyến cố lấy lại vẻ bình tĩnh thường nhật, nhưng nàng vẫn không chế ngự được tâm trạng bối rối. Nàng vẫn e ngại Kô-băng không trả thằng Lập cho nàng sau khi nhận được tài liệu. Nhưng nàng đã liều. Có khẩu súng trong ví, nàng sẽ xử dụng nếu bị dồn vào ngõ bí. Nàng cũng biết bắn súng và khi lâm sự, không phải nàng không biết tự vệ.

Trong khi ấy, Nô-vốt-ky thấy lửa thèm muốn bừng cháy trong lòng. Y không còn nhớ lời căn dặn thiết cốt của đồng chí cao cấp Nicôlai Kô-băng nữa. Y loạng choạng tiến về chỗ Như Luyến. Tiếng nói của gã đứng tuổi cầm súng Côn vang lên:

- Nô-vốt-ky! Không được làm thế!

Nô-vốt-ky ném cho Thưởng một cái nhìn tóe lửa:

- Ai cho anh vào trong này?

Thưởng cười, giọng như dao chém đá:

- Đồng chí Kô-băng bảo tôi vào trong này giữ nhà với chú. Chú không được phép quên lệnh trên.

Nô-vốt-ky cười hềnh hệch:

- Thế này đâu phải là trái lệnh trên? Đồng chí không cho phép tôi thưởng thức một chút được sao?

Thưởng chưa kịp đáp, Như Luyến vụt đứng dậy quát to:

- Cút đi ngay, đồ khốn!

Nô-vốt-ky nói giọng lơ lớ:

- Bảo ai đồ khốn?

Thưởng gạt Nô-vốt-ky sang một bên:

- Chú bao giờ cũng chết vì gái. Muốn gì thì chốc nữa, đợi lệnh anh Kô-băng hẵng hay.

Nô-vốt-ky ngồi phịch xuống ghế, hai tay ôm đầu. Gã đứng tuổi rút trong túi ra một thẻ kẹo cao-su bạc hà, ném vào miệng nhai ngấu nghiến. Như Luyến cầm tay thằng Lập, nước mắt trào ra gò má. Những lúc độc thân bênh vực lấy mình, nàng mới nhớ tới Túc Lăng, năm nào còn là một thanh niên bác học đầy sức mạnh và can đảm che chở. Ngày nay Túc Lăng đã nằm yên dưới ba thước đất. Bác sĩ Đoàn Trung sắp chính thức đi vào đời nàng thì biến cố xảy ra.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


Được sửa bởi Admin ngày Sun Jun 11, 2017 9:51 pm; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:48 pm

Đợi Kô-băng trèo lên xe, rồ máy về Sàigòn, Lê Diệp mới rời chỗ núp, tiến lại xe hơi của Văn Bình. Đeo kính sni-péc-cốp lên mắt, chàng chăm chú nhìn theo vết đèn sau đỏ hoét của chiếc Pờ-Dô chạy nhanh như lướt gió. Kô-băng phóng nhanh hơn trăm cây số một giờ. Lê Diệp nghe tiếng phanh nghiến đường nhựa tắc tỏm khen thầm tài lái xe của Kô-băng. Chắc Kô-băng phải là tay lái xe đua có biệt tài. Xe Kô-băng đến trạm gác gần rạp chiếu bóng Gia Định, nơi y tiếp xúc Như Luyến lần đầu. Y không thắng xe, cứ nhả thêm ga phóng sang bên tay phải, tiến về phía biệt thự của Như Luyến trên đường Chi Lăng. Đến nơi, y hãm xe lại. Y không cần giữ gìn nữa. Liếc nhanh về phía sau thấy tứ bề không bóng người khả nghi, y bước nhanh lại phía cổng. Y lấy chiếc chìa khóa Như Luyến trao cho hồi nãy, bỏ vào ổ khóa.

Bên trong có một phong bì nhỏ. Kô-băng thản nhiên xé phong bì, mở ra xem. Cuộn phim chụp tài liệu prô-péc-gôn đưọc gói trong một mảnh giấy bạc. Kô-băng vứt phong bì xuống đất, bỏ phim vào túi. Bây giờ y phải quay về gian hàng của Trường Thanh. Lê Diệp vẫn lùi lũi đi sau. Đến đầu đường Nguyễn văn Sâm, Kô-băng dừng xe bên lề, đi nhanh về phía tiệm bán máy vô tuyến. Trường Thanh đã thiệt mạng. Nhưng Kô-băng cần tới gian hàng này để làm một vài việc trước khi từ giả Sàigòn.

Cách một cái, cửa mở. Kô-băng bước vào, thái độ chững chạc như chủ nhà. Y kéo riềm che cửa sổ, vặn đèn điện treo vách lên.

Y lấy trong tủ ra một cái kính để coi phim ảnh. Y soi vào cuốn phim, nghiên cứu giây lâu. Và y reo lên một tiếng vui mừng. Đó là bản tài liệu thật mà R.U. mất bao công lao, tiền của, sinh mạng để đoạt đưọc. Xong xuôi, Nicôlai Kô-băng cho cuộn phim vào một cái hộp các-tông mỏng, hình chữ nhật. Y rút trên giá sách xuống một cuốn tiểu thuyết khá dầy, bìa đóng da tuyệt đẹp. Đó là cuốn Phong Thần, truyện tàu mà nhiều gia đình ham đọc. Y móc trong túi ra một con dao cực sắc, ấn mạnh vào bên trong cuốn sách. Hai phút sau, trong cuốn sách đã có một cái lỗ vừa bỏ lọt hộp phim tài liệu. Kô-băng bỏ cái hộp vào, lấy giấy nhựa dán lên trên.

Gấp cuốn sách lại, không ai có thể ngờ trong đó giấu tài liệu. Y đặt cuốn Phong Thần lên bàn viết đoạn lục tủ lấy rượu huýt-ky và thuốc lá. Kô-băng uống một hơi hết một góc chai rượu mạnh. Bên ngoài, trời bắt đầu hửng sáng. Kô-băng nhấc ống nói gọi cho Nô-vốt-ky.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Nghe điện thoại reo, Nô-vốt-ky cau mày nhìn Thưởng. Thưởng cầm ống nghe áp vào tai. Tuy ở ngoài cửa, Văn Bình vẫn loáng thoáng nghe được cuộc nói chuyện giữa Kô-băng và bộ hạ. Kô-băng nói bằng tiếng Nga. Văn Bình giật bắn người. Không nghe rõ nhưng Văn Bình không thể lầm được. Nicôlai Kô-băng ra lệnh cho bộ hạ thủ tiêu Như Luyến và thằng Lập. Thưởng quay lại phía Nô-vốt-ky, dõng dạc:

- Anh Kô-băng dặn chú thi hành đi.

Nô-vốt-ky vuôn vai:

- Được, anh để đấy cho tôi.

Nô-vốt-ky và Thưởng không biết Như Luyến nói tiếng Nga rất thạo. Nghe Thưởng cầm ống nói, nàng đã sinh nghi. Đến khi nghe Thưởng ra lệnh cho Nô-vốt-ky, Như Luyến cho tay vào ví, rút khẩu súng lục đã nạp đạn sẵn. Nàng đứng vụt dậy, nhắm lưng Thưởng nhả đạn. Nhưng Nô-vốt-ky đã thấy kịp. Y nhảy vội lại, viên đạn đầu tiên của Như Luyến chưa kịp khạc ra khỏi nòng, Nô-vốt-ky đã giáng một đòn hiểm ác vào tay nàng. Thằng Lập thét lên một tiếng cầu cứu dữ dội:

- Trời ơi! Trời ơi!

Thưởng quay lại, đạp một cái vào người thằng bé. Thằng Lập ngã lộn người ra phía sau, mặt tái mét, một giòng máu ri rỉ trên mép. Khẩu súng trong tay Như Luyến bị đánh văng xuống đất. Nàng ôm cách tay bị đau, ngồi thừ người trong ghế bành.

- Làm ngay tại đây chứ anh?

Thưởng gật đầu. Như Luyến nhắm mắt lại. Thằng Lập thét lên một tiếng thất thanh. Một phát súng nổ. Đoàng. Như Luyến nấc lên một tiếng.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Nói chuyện với Thưởng xong, Kô-băng gọi một số điện thoại khác. Giọng nói của y có vẻ thân mật hơn, mến trọng hơn. Nói xong, y chễm chệ ngồi trong ghế bành uống rượu, Lê Diệp đợi bên ngoài đã lâu.

Vừng đông hửng lên dần dần.

Lê Diệp mở cửa đi vào. Kô-băng xây lưng ra cửa, trong tay còn cầm chai rượu gần cạn. Lê Diệp thọc tay vào túi quần, thong thả chào:

- Chào bạn Nicôlai Kô-băng.

Kô-băng quay ngoắt lại như bị điện giật. Nhưng sự kinh ngạc chỉ hiện ra trên mặt trong một giây đồng hồ. Lê Diệp phải thấm phục sự bình tĩnh và sự gan dạ phi thường của địch. Không kịp rút súng ra, y đành mỉm cười:

- Tôi không ngờ lại là anh?

Lê Diệp nhếch mép:

- Không ngờ tôi đã bị trói hẳn hoi mà còn thoát được về đây đối phó với anh, phải không?

Kô-băng làm thinh. Lê Diệp rút lưỡi dao trong túi ra, bảo Kô-băng:

- Chắc anh cũng nghe trong Sở chúng tôi có một tay ném dao bá phát bá trúng tên là Lê Diệp. Lê Diệp là tôi đây, nói thế để anh liệu đề phòng.

Lần này thì Kô-băng ngạc nhiên hẳn hoi:

- Lê Diệp đấy ư? Quả là danh bất hư truyền!

Thấy Kô-băng cho tay xuống, Lê Diệp ra lệnh:

- Yêu cầu anh cho hai tay lên khỏi đầu.

- Mỏi lắm. Chắc trong đời anh đã bị nhiều lần như thế này rồi. Giữa đồng nghiệp với nhau, anh không châm chước một chút được sao?

Lê Diệp đáp:

- Được, cho anh bỏ tay xuống, nhưng hãy coi chừng lưỡi dao của tôi. Từ khi cầm dao, tôi chưa bao giờ phải dùng đến ngọn thứ hai. Mũi đầu tiên của tôi bao giờ cũng trúng tim.

Kô-băng nuốt nước bọt:

- Tôi biết, tôi biết!

Lê Diệp ra lệnh:

- Nếu anh muốn ngồi xuống cho đỡ mỏi chân và nói chuyện phải chăng với tôi thì hãy quay lưng lại một phút.

Kô-băng cười:

- Để tước súng của tôi chứ gì? Cái đó thì sẵn sàng lắm. Kô-băng này có hay dùng súng đâu?

Kô-băng quay lưng lại. Lê Diệp nhìn kỹ thế đứng của Kô-băng rồi mới tiến lại cho tay vào trong áo vét-tông Kô-băng rút ra khẩu súng sáu còn nguyên bì đạn. Lê Diệp lấy bì đạn ra ngoài và ném cả súng lẫn bì đạn vào sọt đựng giấy ở góc phòng. Chàng vẫn có thói quen ghét dùng súng ồn ào. Con dao đối với chàng đắc lực, và nhanh chóng hơn tiếng súng. Đã quen với thế quay lưng đánh đối phương tước súng nên mặc dủ Kô-băng dùng một thế lừa rất tinh vi, Lê Diệp đã biết. Chàng vỗ vào lưng Kô-băng nói to:

- Thôi mà, phản công làm gì? Bọn mình cả đây mà! Bọn mới vào nghề mới mắc mưu chứ lão luyện như Lê Diệp và Nicôlai Kô-băng thì giở ngón đánh ấy ra làm gì vô ích!

- Lê Diệp giỏi lắm. Không biết anh cỏn giỏi đến khi nào nữa?

Lê Diệp nghiêm nét mặt:

-Đến khi đó hẵng hay. Bây giờ tôi chỉ hỏi anh một điều. Trả lại tài liệu mà Như Luyến trao cho anh lúc nãy và theo tôi về Sở.

Kô-băng ngạo nghễ:

- Sở nào? Sở ông Hoàng ấy à? Anh hãy về nói với ông ta rằng chỉ có thể mang xác Kô-băng về chứ Kô-băng còn sống sẽ không bao giờ chịu thua.

Lê Diệp trả lời thản nhiên:

- Phải, các anh giỏi lắm. Nếu anh đã muốn thì tự xử lấy.

Kô-băng mỉm cười đanh ác:

- Anh cho phép chứ?

Lê Diệp gật đầu. Chàng đã lầm. Kô-băng đưa ngón tay lên miệng cắn. Lê Diệp cứ dinh ninh đối phương cắn vỡ chất độc dược xy-a-nuya để tự vẫn, nhưng có ngờ đâu chỉ là một trong những kế mọn mà Kô-băng áp dụng trong trường hợp nguy kịch. Bàn tay trái của Kô-băng vừa đưa lên sát miệng thì toàn thân tung lên phía trước. Lê Diệp nhanh mắt tránh kịp ngọn cước cực kỳ hiểm độc của Kô-băng và lưỡi dao của chàng đã bắn vào ngực hắn, nhưng Kô-băng cũng là tay võ nghệ tuyệt luân nên Lê Diệp đâm hụt. Lê Diệp đổi thế võ đâm một nhát dao vào họng Kô-băng. Nhanh như chim cắt, Kô-băng né khỏi ngọn dao giết người này và trong khi Lê Diệp đâm nhát thứ hai, Kô-băng rút được một lưỡi dao to bản giấu dưới nệm ghế. Lê Diệp rít lên:

- À, cũng là dân chơi dao?

Kô-băng quát:

- Tưởng chỉ có mày biết dùng dao thôi hẳn? Này, coi này!

Lưỡi dao to lớn nhằm cổ Lê Diệp phạt ngang. Lê Diệp không tránh, đưa lưỡi dao nhỏ bé lên đỡ. Khí giới của chàng được tạo theo phương pháp luyện kim bí truyền của võ sĩ đạo Nhật-Bản, nên vừa chạm dao đã tóe lửa. Kô-băng kêu một tiếng kinh hồn. Lê Diệp là tay chơi dao thành thạo, từng khuất phục biết bao kiện tướng năm châu mà khi đụng phải độc thủ của Kô-băng đã thấy tê tê ở hổ khẩu.

Chàng biết Kô-băng không phải là tên gián điệp tầm thường. Nghĩ vậy, chàng liền biến đổi thế đánh. Chàng nhảy lên một bước cho sát với Kô-băng để dễ sáp lá cà và để Kô-băng khó xử dụng lưỡi dao to bản được nhanh nhẹn. Nhưng Kô-băng đánh dao xa không kém đánh gần. Thấy Lê Diệp phóc tới, y vẫn đứng yên, quay lưỡi dao ép vào gần người, chuyển qua thế đánh ngắn. Lần thứ nhì, hai lưỡi dao lại gặp nhau. Kô-băng vận toàn lực bào cánh tay, vừa chém vừa ẩy Lê Diệp ngã chúi về phía sau. Tuy gầy nhom, Lê Diệp lại có sức chống trả mãnh liệt. Hai người khoa dao hơn một phút không phân thắng bại. Kô-băng đẩy được một phân thì Lê Diệp giành lại. Cứ như thế mãi.

Bỗng Kô-băng thét lên một tiếng, tiếng thét của các võ sĩ nhu đạo Nhật-Bản một khi muốn đối thủ khiếp đảm. Tuy đã quen với tiếng thét xung trận của võ sĩ nhu đạo, Lê Diệp vẫn chột dạ. Bàn tay chàng rơi run, Kô-băng tiến đến đâm mũi dao tàn ác vào giữa yết hầu Lê Diệp. Thấy nguy, Lê Diệp vận dụng toàn lực đưa ngọn dao lá liễu lên đỡ. Lần này, Lê Diệp bị thua Kô-băng. Ngọn dao của Kô-băng đè dao của Lê Diệp nghiêng hẳn sang bên. Lê Diệp hoành thân, đâm một nhát ghê gớm vào họng Kô-băng, và khi Kô-băng chưa kịp đỡ, chàng đã thu lại, nhảy vụt về phía cánh cửa ra đường. Kô-băng rượt theo như tên bắn. Lê Diệp đưa lưỡi dao lên khỏi đầu, nhắm tim Kô-băng phóng tới. Lê Diệp dừng lại, khoa dao đỡ ngọn dao của Lê Diệp. Lê Diệp đạp tung cánh cửa, nhảy vội ra đường. Trời sắp sáng. Vừa chạy khỏi cửa, Lê Diệp gặp một chiếc cam-nhông chở hàng vùn vụt qua. Chàng rướn mình bám lấy cửa sau đu lên.

Nửa phút sau, Kô-băng chạy ra tới bực tam cấp. Y chỉ kịp nhìn Lê Diệp ngồi lẫn trong đống hàng hóa cao ngất. Kô-băng thốt ra một tiếng nguyền rủa. Y cảm thấy không thể trì hoãn được nữa. Bây giờ phải tính nước bài liều. Kô-băng ra xe, vặn về phía trại Thủ Đức.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đoàng, Như Luyến nấc lên một tiếng. Nàng ngã khuỵu về phía sau, chận lên người thằng Lập. Nhưng nàng không bị thương. Đó không phải là phát súng Nô-vốt-ky kết liễu đời nàng mà là phát súng cứu nguy của Văn Bình. Thấy biến, Văn Bình nhả viên đạn đầu tiên qua lỗ khóa. Đạn bắn trúng khẩu súng Nô-vốt-ky cầm tay làm bắn xuống sàn nhà. Văn Bình đạp tung cánh cửa, hùng dũng buớc vào.

Thưởng đã cầm một khẩu súng khác chĩa vào bụng chàng. Mũi súng của chàng khạc lửa trước tiên, khiến y trúng đạn giữa ngực, nằm vật xuống.

Trong khi ấy, Nô-vốt-ky đã lấy lại thần hồn. Y nhảy bừa lại phía Văn Bình, húc đầu vào bụng chàng. Chàng suýt bị lạng người. Vừa húc, Nô-vốt-ky vừa nắm lấy cườm tay chàng, bẻ lấy súng.

Nô-vốt-ky chưa thể được coi là chướng ngại vật của chàng. Văn Bình hạ sống tay trái vào gáy Nô-vốt-ky. Y có cảm giác như một con dao phay chém mạng xuống cổ. Những đường giây thần kinh bị cú độc thủ này chém đứt. Nô-vốt-ky dẫy đành đạch và mềm nhũn người, buông toàn thân xuống đất, tắt thở.

Như Luyến không biết đứng bên Văn Bình từ lúc nào. Khuôn mặt xanh tái của nàng dưới ánh nắng rạng đông nhuộm một vẻ đẹp quyến rũ khác thường. Cặp môi của nàng không tô son mà Văn Bình lại thấy đỏ mọng hơn, khiêu khích hơn. Văn Bình trân trân nhìn nàng. Không biết trong cái nhìn này có một ma lực nào mà Như Luyến bủn rủn tay chân rồi như cái máy, bổ chầm vào hai cánh tay khỏe mạnh của Văn Bình. Trong phút bối rối, cặp môi của Như Luyến bỗng nhiên tìm Văn Bình. Chàng vít đầu nàng xuống, đặt một cái hôn đắm đuối đúng chỗ. Toàn thân nàng run run như bị cảm. Sực nhớ ra, chàng buông Như Luyến:

- Xin lỗi bà.

Như Luyến cũng chợt tỉnh ngộ:

- Thưa, không hề gì. Ông tha lỗi cho tôi.

Văn Bình chưa kịp trả lời thì một câu trả lời hộ vẳng lên:

- Hừ, không thể được.

Văn Bình giựt mình quay lại. Kô-băng chĩa khẩu súng chín ly to tướng vào ngực chàng. Y quắc mắt nhìn hai người. Như Luyến rú lên:

- Trời ơi!

Kô-băng cười:

- Sợ chết ư? Được, tao sẽ ra ơn cho hai đứa mày được chết một lúc với nhau.

Như Luyến nổi giận:

- Ông không được hỗn!

Kô-băng cười khẩy:

- Không phải hai anh chị vửa ôm nhau hôn hít trước mặt thằng bé hay sao?

Vừa nói, Kô-băng vừa chỉ thằng Lập đứng thu hình trong góc phòng. Nghe Kô-băng nói, Văn Bình sực nhớ ra đã âu yếm với Như Luyến trước mặt thằng Lập. Không biết rồi đây bác sĩ Đoàn Trung nói sao?

Như Luyến nói:

- Xin ông đừng tự kiêu. Ông đừng tưởng khẩu súng của ông làm chúng tôi kinh sợ.

Kô-băng bĩu môi:

- Không sợ à? Được.

Y ngoảnh ra phía cửa, gọi to:

- Sa-bô-nin đâu?

Sa-bô-nin, một người Nga trăm phần trăm, mở cửa tiến vào, trên tay còn nguyên khẩu tiểu liên đen ngòm. Kô-băng ra lệnh:

- Trói mấy đứa này lại.

Văn Bình nhìn Sa-bô-nin. Y người cao đến một thước chín mươi, cánh tay mặc sơ-mi ngắn đầy bắp thịt cuồn cuộn của của một võ sĩ có sức mạnh ghê gớm, cái bụng thon và cái mũi mềm nhũn của người đã quen với cuộc sống trên võ đài. Sa-bô-nin khuỳnh khuỳnh hai tay, tiến tới phía chàng đứng. Văn Bình không thể chậm chạp được nữa. Thân hình to lớn của Sa-bô-nin vừa vặn che lấp Kô-băng, chàng liền nhảy thót lên phía trước. Kô-băng bắn ngay một phát. Nhưng làm sao trúng chàng được vì lúc đó chàng đã ôm kín Sa-bô-nin, khóa tay y như gọng kềm.

Kô-băng thét lên một tiếng căm hờn. Y chạy vội về phía chàng để bắn. Thằng Lập can đảm lạ thường, từ trong góc phòng nhoài ra nắm vạt áo của y. Chàng vận toàn lực vào hai cánh tay, đẩy Sa-bô-nin sang bên, đá phóc vào bụng Kô-băng. Kô-băng tránh không kịp, ngã ngồi xuống ghế. Một ngọn cước thứ hai của Văn Bình giáng trúng người Sa-bô-nin.

Trong lúc đó, Kô-băng chồm dậy. Y chưa kịp lấy súng, Văn Bình đã xô tới, đánh mạnh vào cườm tay. Kô-băng đã giỏi nhưng Văn Bình còn giỏi hơn. Ngón đòn của Văn Bình làm Kô-băng mất khí giới.

Y đứng vụt lên, tống một quả đấm thật mạnh vào mặt Văn Bình. Chàng nghiêng mình tránh, nhưng mới thoát được sự tấn công của Kô-băng thì Sa-bô-nin nhảy bổ vào. Chàng khóa tay, gạt Sa-bô-nin bị ngã chúi xuống. Tiện đà, y với lấy khẩu tiểu liên, đưa lên, định bóp cò. Nhưng Như Luyến đã nhặt khẩu súng của nàng lúc nãy. Sa-bô-nin chưa kịp thi hành ý định thì một viên đạn đã bay vèo vào ngực y. Y thở dốc ra, vật xuống chân ghế. Như Luyến quay ngọn súng về phía Kô-băng. Y đã tiến sát người nàng, đánh văng khẩu Mô-De vào tường. Vừa khi đó, ngọn quyền hiểm ác của Văn Bình từ phía hữu đánh mạnh vào mặt Kô-băng. Ít nhất Kô-băng phải là võ sĩ nhu đạo đệ tam đẳng đai huyền đen mới đỡ được miếng đòn tuyệt luân này. Văn Bình suýt thét lên một tiếng kinh ngạc vì thấy Kô-băng đỡ một cách thản nhiên, không mảy may lúng túng.

Tuy mới đệ tam, Văn Bình đã tới một tài nghệ cao hơn cấp này nhiều. Cách đây mấy năm, chàng sang Nhật, thụ giáo một đạo võ sư thậl đẳng ở tỉnh Kyô-tô, và được dạy nhiều môn võ bí truyền, đánh trúng ai là người ấy chết. Văn Bình càng ngạc nhiên hơn khi thấy Kô-băng đánh trả lại cũng bằng độc thủ nhu đạo. Hai người dồn nhau đến góc tường trong khi Như Luyến ôm ghì lấy thằng Lập, cặp mắt mở rộng trong sự kinh ngạc và sợ hãi.

Cuộc đọ sức giữa hai người diễn tới đoạn quyết liệt. Kô-băng nắm được lưng áo Văn Bình. Nhanh như chớp, Kô-băng cõng Văn Bình lên vai, ném tung chàng vào tường đối diện.

Nếu là kẻ khác thì gẫy xương, chết không kịp trối, nhưng Văn Bình đã nhanh nhẹn uốn mình nhảy xuống đất, khi chân chàng vừa chấm sàn, hai người lại quấn với nhau, và lần này thì Văn Bình nắm được tay Kô-băng bẻ quặt lại, hất y xuống đất. Kô-băng bị đẩy mạnh, ngã sóng soài trên sàn gạch. Trong một giây đồng hồ, y chồm dậy, không lộ vẻ đau đớn và mỏi mệt.

Vừa đánh, Văn Bình vừa nghỉ ngợi như máy tính điện tử. Nếu cứ vờn nhau như thế này, không biết đến bao giờ mới định được hơn thua, vì Văn Bình giỏi nhu đạo, Kô-băng cũng không kém là bao. Chàng bèn xoay ra quyền Anh. Nhưng không lẽ Kô-băng lại không biết môn quyền Hồng Mao thông dụng trên toàn thế giới này? Văn Bình phải tìm một thế tuyệt kỹ để lừa con hùm Kô-băng. Chàng liền đổi thế, đá một ngọn cước bằng chân trái vào ngực Kô-băng đoạn dùng một thế hiểm du-đô, đáng tay mặt vào yết hầu của địch. Thế này khá độc, Kô-băng phải một tay cản, tay đánh trả. Văn Bình chỉ chờ có thế.

Toàn lực của Văn Bình được vận lên cánh tay trái. Chàng vốn là một trong những nhà quyền Anh nổi tiếng. Cú móc này, càng đánh bất thần bao nhiêu, đối phương càng dễ nốc ao bấy nhiêu. Cú móc trái của Văn Bình phóng tới cằm của Kô-băng như cái búa tạ. Từ dưới lộn ngược lên, Văn Bình đã đập đúng chỗ. Kô-băng bị trúng huyệt điểm bất ngờ, rụng rời tay chân và bổ chửng về phía sau.

Nhưng Kô-băng không bị nốc ao. Đủ biết y có sức mạnh chừng nào.

Văn Bình không dể lỡ dịp may hãn hữu. Kô-băng đương lồm cồm bò dậy, chàng nện thêm một rái thôi sơn vào giữa mặt. Lần này, đệ nhất anh hào R.U. chịu trận, nằm quay lơ trên sàn nhà.

Văn Bình quay ra chỗ để rượu, rót một ly, san làm hai cho Như Luyến uống. Nàng cầm ly rượu, nhìn chàng đầy trìu mến, miệng nói:

- Tôi không ngờ ông giỏi võ đến thế?

Văn Bình cười xòa:

- Ồ, đã lấy gì làm giỏi, thưa bà?

Kô-băng bò dậy, biết thua, lẳng lặng ngồi lên ghế. Văn Bình kéo ghế tới đối diện với y. Kô-băng nói giọng tức tối:

- Mày giỏi lắm nhưng rồi chả thoát chết được đâu.

Văn Bình bĩu môi:

- Sau này không biết nhưng hiện nay cứ biết là mày sắp chết.

Kô-băng cười ngất:

- Kô-băng này chết thì còn Kô-băng khác, thân tao cần gì?

Văn Bình vẫn đáp bằng nụ cười:

- Dĩ nhiên, đã ở trong nghề ai chả biết cái khoản sơ đẳng đó, nhưng thân con người chỉ không đáng kể khi công việc thành công. Đằng này, các anh đã thất bại hoàn toàn.

Văn Bình châm thuốc Salem, nét mặt vui vẻ, cặp mắt vẫn không rời Kô-băng. Kô-băng cười khẩy:

- Phải, chúng tôi thất bại… Thất bại mà chúng tôi đã mang bác sĩ Đoàn Trung đi, cướp được bản công thức về prô-péc-gôn. Nước anh mất cả chìlẫn chài, mà còn chối leo lẻo là không thất bại?

Như Luyến ngồi ở phía sau, xen vào:

- Trời ơi, Đoàn Trung bị họ bắt rồi sao?

Kô-băng lạnh lùng đáp:

- Bây giờ bà mới hay tự sự ư? Té ra nhân viên thân tín của ông Hoàng quên không cho bà biết. Tôi xin thưa bà hay rằng ông Đoàn Trung đã bị đưa đi rồi. Vì vậy tôi mới đề nghị một sự thỏa thuận. Thế nào, ông Văn Bình bằng lòng không?

Văn Bình hỏi:

- Bằng lòng như thế nào?

Kô-băng đáp:

- Chúng tôi trả Đoàn Trung cho các anh, ngược lại, các anh cho tôi được tự do rời Sàigòn.

Văn Bình khoác tay:

- Dễ quá nhỉ?

- Sao lại không? Anh quên rằng Kô-băng dễ kiếm còn thên thế gian khó có hai Đoàn Trung hay sao?

Văn Bình cười đáp:

- Không phải thế. Sở dĩ tôi nói "dễ quá nhỉ" vì anh làm tôi suýt bật cười. Các anh bắt Đoàn Trung khi nào?

- Khi nào, anh tự biết lấy.

- Vâng, nếu anh muốn giải thích, tôi xin chiều ý. Anh không còn bịp nổi ai đâu. Đoàn Trung không bị các anh bắt mang đi, mà là tự ý bỏ trốn, sau khi bị các anh bầy mưu đánh lừa. Vả lại, các anh có phải trẻ con đâu mà không biết rằng mang Đoàn Trung ra khỏi Việt-Nam là chuyện rất khó, hơn nữa, bản công thức prô-péc-gôn đâu phải một mình Đoàn Trung làm ra? Còn một vài nhà bác học cộng tác với Đoàn Trung nữa.

Kô-băng giựt mình. Y rít lên:

- Thế ra chuyện đó, mày cũng biết?

Có cái gì mà Tống Văn Bình không biết?

- Mày biết sao không đưa Đoàn Trung về?

Văn Bình vẫn thản nhiên đáp:

- Muốn đưa Đoàn Trung về lúc nào chả được? Tuy nhiên, anh đã muốn tôi nói rõ, tôi cũng xin làm anh toại nguyện.

Như Luyến xen vào:

- Đoàn Trung không việc gì à, thưa ông?

Văn Bình đáp:

- Không hề gì, thưa bà. Sau khi đổ bể, tôi đã biết Đoàn Trung vô tội. Kô-băng giỏi lắm, nhưng càng giỏi, càng khôn, càng dễ vấp phải lỗi khinh thường, tự mãn. Y quên rằng nhà trinh thám có tài ít bao giờ chịu nghi người có nhiều bằng chứng phạm pháp, nhất là có tội. Xét những vụ đã xảy ra, ai cũng thấy Đoàn Trung là người đáng nghi nhất. Đến nỗi nếu không có tôi, người ta đã tống giam Đoàn Trung từ lâu rồi. Kô-băng tính nước cờ cao, nhưng quên trong số người đánh cờ còn có Văn Bình nữa.

Kô-băng ném ra một câu hằn học:

- Có giỏi cứ giải thích cho hết. Nếu đúng, Kô-băng không thèm chối nữa.

Văn Bình tiếp:

- Được, mời anh cứ nghe tôi nói. Tôi xin nhắc lại một sự kiện giản dị. Hễ bao giờ có Kô-băng là có Đoàn Trung, chẳng hạn như ở Vũng Tàu. Kô-băng đặt kế hoạch từ trước, cố tình dụ cho Đoàn Trung có mặt vào lúc đáng nghi nhất để dồn mọi tội lên đầu Đoàn Trung. Bên cạnh xác nhân viên của tôi có nhiệm vụ gác biệt thự của bà Như Luyến, đã có một cây kim găm cà-vạt mua bên Mỹ của bác sĩ Đoàn Trung. Tôi tự hỏi, dầu cử động mạnh đến mấy cũng không đánh rơi được cây kim cà-vạt. Nếu bạn Kô-băng hiểu rằng việc thử kim cà-vạt có thể rơi được không, tôi đã sai nhân viên thí nghiệm mấy tiếng đồng hồ liền thì mới rõ được công việc trừ gian khoa học của chúng tôi ở đây. Cây kim cà-vạt này chính là của Đoàn Trung nhưng không phải do ông đánh rơi. Khẩu súng Luger có mấy viên đạn bắn chết Nguyễn Phổ, nhân viên của Sở Mật Vụ, cũng là của Đoàn Trung. Song không phải Đoàn Trung bắn vì ông bạn Kô-băng đừng quên Đoàn Trung bắn súng lục không thể nào tài giỏi bằng Nguyễn Phổ. Phổ có tài bách bộ xuyên dương, ban đêm chỉ nghe tiếng động là đủ bắn trúng và có tài bắn không cần nhắm. Phổ bị giết, tất sát nhân không thể nào kém Phổ. Trong số nhân viên R.U. ở đây, bắn súng giỏi chỉ có anh. Phải không, thưa bạn Nicôlai Kô-băng?

Kô-băng nín thinh, đáp. Nét mặt y đanh hẳn lên, hầu như y không còn là người nữa mà là pho tượng cẩm thạch. Nụ cười xách mé, ngạo nghễ thường nhật cùa kẻ bách chiến bách thắng đã biến đâu mất. Ngoảnh về phía Như Luyến, Văn Bình nói luôn:

- Thưa bà, nhờ Kô-băng quá cẩn thận, nghĩ cách đổ tội cho Đoàn Trung, tôi mới tìm ra manh mối. Ông Đoàn Trung là người nhút nhát, phải không, thưa bà?

Như Luyến đáp:

- Vâng, anh ấy nhút nhát lắm, ngay đến việc hôn nhân với tôi, anh ấy cũng đắn đo mãi mới nói thành lời được.

Văn Bình gật đầu ra vẻ bằng lòng:

- Tôi đã biết chuyện ấy. Lệ thường, người nào nhút nhát về lời nói lại hay thổ lộ tâm tình trên giấy.

Kô-băng xen vào:

- Tưởng anh có tài khám phá phi thường, chứ đọc trong nhật ký của Đoàn Trung thì còn khoe khoang nổi gì?

Văn Bình nhoẻn miệng cười:

- Ngần ấy chứng cớ, anh chưa bằng lòng nữa sao? Thì đây, xin phép anh cho tôi kể tiếp. Tôi xin kể tới vụ Hoàng Lương bị ám sát tại nhà riêng đường Đinh Công Tráng.

Kô-băng hỏi, giọng thách thức:

- Chắc anh sẽ cả quyết là tôi giết Hoàng Lương?

Văn Bình đáp, giọng không đổi khác:

- Không đâu, anh đừng lo xa, Hoàng Lương bị bác sĩ Đoàn Trung giết.

Như Luyến buột miệng kêu lên:

- Trời ơi, anh Đoàn Trung phạm tội sát nhân rồi sao?

Văn Bình an ủi:

- Tuy vậy, bà đừng lo. Nếu Hoàng Lương không bị bác sĩ Đoàn Trung giết cũng bị lên máy chém về tội tư thông với địch làm gián điệp. Nhưng tôi có thể chứng minh không phải Đoàn Trung giết. Có ba nhát dao. Đoàn Trung đâm hai nhát từ trên xuống và nhát thứ ba, nhát kết liễu, từ dưới móc lên. Đoàn Trung là nhà bác học, không biết đâm. Hoàng Lương bị thương nhẹ, phải đợi một nhân viên cao cấp R.U. xuất hiện mới thanh toán xong được. Thưa, đúng hay sai, ông bạn đồng nghiệp Kô-băng?

Kô-băng mím miệng một cách chua chát:

- Đúng!

Như Luyến ngước cặp mắt đen láy, nhìn Văn Bình:

- Thưa ông, nếu anh ấy không liên lạc với họ thì việc gì phải trốn?

Văn Bình điềm nhiên lấy tay chỉ Như Luyến, miệng nói, giọng ngọt ngào:

- Vì bà đấy.

Như Luyến vụt đứng dậy:

- Tại sao ông cho là vì tôi, thưa ông?

Văn Bình chưa kịp đáp thì cửa phòng mở toang, gió bên ngoài thổi ào ào. Chàng giật mình, đưa tay nắm chuôi súng. May thay, người lạ là Lê Diệp.

Thấy Kô-băng ngồi thừ trong ghế sa-lông, Lê Diệp nhếch mép chào một cách khiêu khích:

- Kính chào anh bạn Nicôlai Kô-băng của Sở R.U. vĩ đại.

Kô-băng một đáp. Lê Diệp quắc mắt nhìn Kô-băng trừng trừng. Con mắt của Kô-băng nhìn vào khoảng không, đã không còn hồn nữa. Văn Bình hoảng hồn đứng dậy. Chàng tiến tới sát mình Kô-băng. Người gián điệp lẫy lừng của R.U. ở Viễn-Đông đã chết không biết từ lúc nào. Văn Bình vừa đặt tay lên ngực Kô-băng, thì đầu ngoẹo xuống cổ, gập đôi trên vai. Da mặt của y đen sạm lại. Thì ra Kô-băng đã cắn vỡ độc dược chứa trong răng, thừa dịp Văn Bình nhìn ra cửa đợi Lê Diệp. Đó là một thứ thuốc độc vô cùng linh nghiệm, dùng một phần rất nhỏ cũng tê liệt thần kinh, ngừng hơi thở tức khắc, người chết không cảm thấy đau đớn, không phải vật vả, nhăn nhó như các độc dược thường. Lê Diệp lắc đầu:

- Thôi cũng xong, đỡ phải xử án lôi thôi.

Văn Bình có vẻ tiếc nuối:

- Giá anh đến chậm chút nữa, y sẽ không dám tự tử đâu.

Lê Diệp hơi ngạc nhiên:

- Tại sao?

- Giản dị lắm. Y tự tử vì tin rằng mang được bí mật nghề nghiệp xuống đáy mồ. Y đinh ninh tôi không biết y trao tài liệu nguyên tử cho ai. Kể ra y cũng gan dạ và thông minh lắm. Hắn hy sinh mình để bảo vệ cái khâu cuối cùng của tổ chức.

Lê Diệp hỏi:

- Nghĩa là theo anh, đang còn cái khâu cuối cùng nữa?

Văn Bình vỗ vai bạn:

- Anh ngốc lắm. anh tưởng vụ này dừng ở đây hay sao? Nếu không có khâu cuối cùng thì tài liệu kia về Mạc-tư-khoa bằng cách nào?

Chợt nghĩ ra, Lê Diệp thở dài:

- Ừ nhỉ! Say đòn, tôi quên phứt cả những điều tầm thường nhất. Nhưng Kô-băng đã chết, anh làm cách nào tìm ra khâu cuối cùng được?

Văn Bình cười vang:

- Thôi, để tôi tiết lộ bí mật cho anh đỡ ấm ức trong dạ. Tìm ra cái khâu cuối cùng là nhờ anh đó. Từ lúc khám phá ra trại bí mật của R.U., tôi đã điện riêng cho ông Hoàng, phái một bộ phận theo dõi đặc biệt đi sau tôi, đề phòng bất trắc. Lúc tôi vào trong này và gặp anh thì họ mai phục ngoài đường. Kô-băng và anh đi ra, tất họ phải theo sau.

- Thế mà tôi không biết.

- Anh biết thế quái nào được. Anh dùng ống kính sni-péc-cốp thì họ cũng dùng sni-péc-cốp. Với cái máy tối tân này, theo nhau dưới sương mù họa là thánh cũng không tìm ra. Tôi chắc có chuyện xảy ra nên anh mới tới sau Kô-băng.

Lê Diệp thuật lại cuộc xung đột với Kô-băng tại Sàigòn. Trốn thoát khỏi đường Nguyễn Văn Sâm chừng hai phút, chàng cảm thấy hớ hênh nên vội quay lại. Nhưng con chim hồng đã cao chạy xa bay… Biết chắc Kô-băng quay về trại Thủ Đức, chàng mới tìm xuống. Văn Bình gật gù:

- Tôi tính không sai mà. Tôi dặn anh theo chứ có dặn anh hạ thủ đâu? Nhưng thôi, đoàn người của tôi đã biết Kô-băng đi đâu trước khi tới đây rồi, bây giờ chúng ta hãy đi gặp con người cuối cùng của vụ đánh cắp tài liệu nguyên tử.

Như Luyến đứng yên từ nãy nói xen vào:

- Thưa các ông, tôi có được tự do không?

Văn Bình nghiêm sắc mặt:

- Bà có nhớ lời tôi dặn bà ở đường Võ Tánh không?

Nànglắc đầu:

- Tôi chỉ nghĩ đến con tôi nên thú thật không nhớ gì nữa hết.

- Bà không nhớ cũng phải, vì nếu còn nhớ tất bà sẽ bị đưa ra tòa. Tôi cảnh cáo bà không nên gặp địch và trao tài liệu cho họ, không ngờ bà cứ tự ý đến nghĩa trang đường Chi Lăng diện kiến với Kô-băng.

Như Luyến buột miệng kêu lên:

- Trời ơi, lúc đó đã khuya mà ông còn biết!

- Không những biết, tôi còn ở sát bên bà để bảo vệ tính mạng cho bà nữa.

Như Luyến cúi gầm mặt, trên môi hình như còn đượm cái hôn lúc nãy của chàng điệp viên xinh trai.

- Tôi xin cám ơn ông.

Văn Bình tỏ dấu thương hại:

- Bà yên tâm. Tất cả mọi việc xảy ra tôi sẽ làm thinh hết. Kể cả việc Đoàn Trung giết người ở đường Đinh Công Tráng.

Lê Diệp hỏi:

- Đoàn Trung là nhân viên của họ, sao anh lại tha?

Văn Bình đáp:

- Không phải, 100% Đoàn Trung là người của mình. Chút nữa gặp Đoàn Trung, ông ta sẽ kể lại tự sự cho anh nghe.

Như Luyến giật bắn mình:

- Đoàn Trung ở Sàigòn à, thưa ông?

Văn Bình nói, giọng vui vẻ:

- Vâng, ông ta sống yên ổn ở Sàigòn, trong một khách sạn lớn ở đường Tự Do. Như tôi vừa nói với bà lúc nãy, vụ này vừa xảy ra, tôi đã biết Đoàn Trung vô tội. Lúc tới phòng Đoàn Trung, tôi thấy đồ đạc bừa bộn trên giường. Sự bừa bộn này không thể là bừa bộn ép buộc vì nếu Kô-băng đến bắt mang đi, tất ông ta làm gì còn thời giờ mang mọi món đồ kỷ niệm trong đời ra để thành hàng dài trên nệm, ngồi ngắm và chọn cái định mang theo. Tôi thấy nhiều vật kỷ niệm khá ngộ nghĩnh, chẳng hạn một cái vỏ sò trên bãi Miami, nơi ông ta nghỉ mát với bà dạo nào ở Mỹ, và một cái khăn mặt có khắc chữ Nữu Ước, kỷ niệm ngày đưa bà tới thương cảng.

Nghe tới đó, Như Luyến thút thít khóc. Văn Bình nói:

- Xin lỗi bà. Tôi vô tình chạm tới đời tư tình cảm của bà. Sở dĩ tôi phải nói hết là để chứng minh Đoàn Trung đã dành nhiều thời giờ cho việc lựa chọn kỷ niệm mang đi. Trong lúc còn trù trừ, ông nghe tiếng động dưới nhà, biết có biến, ông vội đi ra lối sau nên không kịp lái chiếc Lanh-Côn. Ông Trung vốn mê xe hơi lắm phải không, thưa bà.

- Thưa vâng.

Lê Diệp hỏi:

- Tại sao Đoàn Trung lại dính vào nhiều vụ án mạng như vậy?

Văn Bình đáp:

- Có dính vào, nhưng ông ta không phải là thủ phạm. Biết tính ông ta nhút nhát nên hay viết nhật ký, việc đầu tiên của tôi là tìm ra những mảnh giấy vụn. Một đống giấy vụn cháy dở ở góc phòng đủ giúp tôi khám phá ra mọi điều u ẩn. Đó là mẩu một bức thư mà Đoàn Trung nhận đưọc. Trong có đoạn nói bà Như Luyến hẹn hò với một thanh niên vào ngày ấy, giờ ấy, chỗ ấy.

Nghe chàng nói, Như Luyến mặt xanh mét, không còn giọt máu. Nàng biết nguyên động lực đã khiến Đoàn Trung yêu nàng, yêu một cách mù quáng. Đột nhiên, nàng lạnh nhạt. Đoàn Trung biết đâu nàng bị Kô-băng "săng-ta", cứ tưởng nàng vừa có một hình bóng khác. Kô-băng đã đánh trúng nhược điểm tâm lý của con người, và Đoàn Trung đã vô tình sa bẫy: lần nào Kô-băng có hẹn, y cũng gửi thư báo trước với Đoàn Trung, để y định giết ai, Đoàn Trung phải đứng mũi chịu sào. Kô-băng khôn lắm. Y biết Đoàn Trung là nhà bác học đại tài, vạn nhất gây ra chuyện ghen tuông chết người, nhà cầm quyền, vì quyền lợi chung, cũng phải làm ngơ.

Lê Diệp nói:

- Thảo nào, hễ tôi đề nghị bắt Đoàn Trung, anh cứ chối đây đẩy!

- Thôi, không hề gì. Nào bây gờ ta đi đón Đoàn Trung.

Thằng Lập hỏi to:

- Bác ấy ở đâu, thưa ông?

Văn Bình xoa đầu thằng bé:

- Bác ấy ngồi uống cà-phê đợi con và mẹ con đấy.

Như Luyến hỏi:

- Ông đưa ông ấy đến khách sạn à?

Văn Bình lắc đầu:

- Thưa bà không. Ông ấy viết một bức thư để trong két sắt của Trung Tâm Nguyên Tử, nói vì lẽ riêng gia đình, phải vắng mặt một thời gian, xin nhà chức trách đừng tìm kiếm, tuy nhiên, trong một bức thư gửi ông giám đốc Sở Mật Vụ, ông ta thuật lại một vài chi tiết gần giống như tôi nói lúc nãy. Nhưng ông giấu không cho biết ông trốn ở đâu. Tuy ông giấu, tôi cũng biết. Từ khi nội vụ xảy ra, bác sĩ Đoàn Trung đã bị người của tôi theo dỏi suốt ngày đêm.

Như Luyến thốt lên:

- À ra thế!

Văn Bình cầm ống điện thoại, nói chuyện một hồi. Năm phút sau, có tiếng xe díp phanh đánh két ngoài cửa. Xe của Sở Mật Vụ. Văn Bình đưa Như Luyến và thằng Lập tới đưòng Tự Do gặp bác sĩ Đoàn Trung. Trời đã sáng không biết tự bao giờ. Về phía đông, một vùng da cam lồ lộ. Những đỉnh cây cao in rõ lên nền trời sáng quắc. Tiếng chim muông ríu rít buổi sáng có vẻ yêu đời lạ thường. Vừa lái xe, Văn Bình vừa huýt sáo miệng một bài hát hướng đạo mà chàng còn nhớ từ nhỏ. Ngồi bên chàng, ôm thằng Lập vào lòng, thỉnh thoảng Như Luyến lại nhìn Văn Bình, nét mặt đắm đuối. Chàng nuốt nước bọt vào ruột. Chàng không có quyền tiến thêm bước nữa. Như Luyến phải là vợ tương lai của bác sĩ Đoàn Trung.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   Sun Jun 11, 2017 9:52 pm

Phần Mười Bốn. Chuyến máy bay lịch sử

Một buổi chiều nóng bức, trời cũng tối sầm lại cũng như buổi chiều đầu tiên Nicôlai Kô-băng rời tàu Hokan Maru lên thương khẩu Sàigòn. Ngồi trong phòng ăn, ở tầng năm khách sạn Ma-giét-tích, Văn Bình hút thuốc lá, dáng điệu mơ màng. Trông bề ngoài ai cũng tưởng chàng là khách nhàn du, chiều chiều tới nhắp chén rượu mạnh với một bông hoa biết nói ở ven sông Sàigòn. Cái dĩa đựng tàn trước mặt chàng đã đầy ắp mẩu thuốc lá Salem. Ba hôm trước, Như Luyến gặp lại Đoàn Trung. Hai người đã làm lễ thành hôn tại Nhà Thờ Đức Bà vào buổi sáng. Chốc nữa, hai người sẽ đáp máy bay ra ngoại quốc đi vòng quanh thế giới hưởng tuần trăng mật.

Trong khi đó, vụ đánh cắp tài liệu nguyên tử vẫn chưa kết thúc. Đến khâu chót của nội vụ, đột nhiên Văn Bình sa lầy. Nhân viên của chàng hôm đó theo Kô-băng tới một địa chỉ ở trung tâm đô thành và Kô-băng đã trao tài liệu cho một thiếu phụ chuyên nghề uốn tóc. Từ lúc đó, nhân viên Mật Vụ ngày đêm không rời tiệm uốn tóc Hoàn Hảo ở đường Gia Long. Mọi khách ra vào đều bị theo dõi. Toán nhân viên này được trang bị một thứ máy trông từa tựa như máy ảnh, nhưng thật ra là máy do sức phóng xạ Geiger. Nhờ máy này, nhân viên Mật vụ có thể theo dõi sự xê dịch của tài liệu mà đối phương không biết. Rút kinh nghiệm nhiều cuộc trao tài liệu trong làng gián điệp quốc tế, Văn Bình đã đưa bản tài liệu bí mật chạy dưới tia phóng xạ. Tài liệu được mang tới đâu, chỉ dùng máy đo Geiger là khám phá ra ngay.

Văn Bình bất giác mỉm cười khi nhớ tới cái mưu nhỏ. Hồi nào còn là thám tử của công ty khai thác kim cương De Beers tại mỏ Sierra Leone, chàng đã dùng phương pháp phóng xạ hộn xoàn để ngăn những vụ trộm thường xảy ra. Hồi đó, một bọn ăn trộm kim cương chuyên nghiệp có đồng lõa quốc tế, hoạt động tại khu vực Sierra Leone là mỏ kim cương quan trọng. Bọn gian đánh cắp những hột kim cương lớn mang lén sang Châu Âu, cắt thành hột nhỏ phi tang.

Một công ty bảo hiểm cho hãng De Beers vời Văn Bình tới, sau khi chàng nghỉ dài hạn quân báo O.S.S. Hoa Kỳ. Chàng liền phóng xạ vào các hột kim cương và mặc cho ăn cắp. Chàng thản nhiên sang Âu Châu tìm tới những nơi tiêu thụ và cứ hột kim cương nào có tia phóng xạ là chàng phanh ra manh mối. Trong vòng nửa năm, Văn Bình phá tan tổ chức ăn cắp ghê gớm ở mỏ Sierra Leone.

Suốt ba ngày liền, nhân viên Mật Vụ dùng máy Geiger, túc trực trên đường Gia Long. Mãi tới tối qua, thiếu phụ làm nghề uốn tóc liên lạc với Kô-băng mới rời tiệm Hoàn Hảo. Sau khi thay ba tắc-xi, tới những địa chỉ giả tạo, thiếu phụ đi bộ tới khách sạn Ma-giét-tích. Tại đó, thiếu phụ trao cho nhân viên tiếp tân dưới nhà một cái gói dặn đưa cho một du khách ở lầu tư.

Theo mật tin, Văn Bình được biết du khách này vừa từ Vọng-Các tới hai giờ trước, làm nghề mại bản kỷ nghệ cho một công ty lớn ở Viễn-Đông. Sáu giờ chiều nay, du khách lạ mặt sẽ đáp chuyến phi cơ thường xuyên của công ty hàng không Air Việt-Nam đi Hương-Cảng.

Màn chót của cuộc vật lộn hi hữu sẽ hạ vào buổi tối. Văn Bình cần một vài phút nghỉ ngơi. Đôi mắt trầm tư của chàng phóng qua làn kính phòng ăn xuống đường. Dưới hoa viên, sát bờ sông, mấy thiếu nữ xinh tươi chơi dã cầu với nhau. Tuy trên cao nhìn xuống, Văn Bình vẫn có cảm tưởng nghe rõ tiếng cười nói khúc khích của họ. Chàng nhìn đồng hồ tay. Còn năm phút nữa. Chàng liếc nhìn về phía góc phòng. Người du khách từ Vọng-Các tới, đẩy ghế, móc túi lấy tiền thưởng cho bồi.

Hai phút sau, người đó xuống thang máy và bước lên một chiếc xe Hoa Kỳ mui trần mới tinh mà khách sạn thuê riêng đưa ra phi trường.

Văn Bình khấp khởi mừng thầm. Theo báo cáo của nhân viên đứng dưới khách sạn, trong mình du khách có tia phóng xạ: nói cách khác, y đã mang tài liệu prô-péc-gôn theo người ra máy bay.

Lúc chàng tới Tân Sơn Nhất, phi trường đã đông nghịt. Nhân viên Mật Vụ tề tựu đông đủ. Lại nơi giải khát, Văn Bình không ngăn đưọc vui sướng khi thấy đôi vợ chồng mới cưới Đoàn Trung, Như Luyến ngồi uống nước ngọt với nhau một cách âu yếm.

Như Luyến mặc đồ đầm, trông nàng mảnh hơn và thon hơn. Đoàn Trung đã lấy lại cái phong nhã thường nhật. Bên cạnh hai người, thằng Lập đùa nghịch với chiếc máy phát thanh tí hon. Chàng định lẩn đi nơi khác nhưng Đoàn Trung tinh mắt gọi với:

- Ông Văn Bình?

Cực chẳng đã, Văn Bình dừng lại. Như Luyến nhìn chàng bằng cặp mắt trách móc. Nàng nói:

- Tạo sao thấy chúng tôi, ông lại bỏ trốn như vậy? Ông là ân nhân của chúng tôi, ông có biết làm thế khổ tâm chúng tôi lắm không?

Văn Bình gượng cười đáp:

- Xin lỗi ông bà, tôi không thấy.

Như Luyến dư biết chàng nói dối. Nàng hiểu chàng không muốn vì sợ mềm lòng. Như Luyến là bông hoa có chủ, không còn như dạo nào phô hương sắc ngoài công viên nữa. Đoàn Trung đon đả:

- Ông có biết hai chúng tôi đi Pháp tối nay không?

Văn Bình lại nói dối:

- Không.

Như Luyến hỏi:

- Ông lên đây có việc gì?

Văn Bình chưa kịp đáp thì ở góc nhà ga, Lê Diệp đưa một cánh tay lên ra hiệu cho chàng. Chàng đứng vội lên, đáp nhanh:

- Tìm thủ phạm.

Như Luyến hỏi dồn:

- À, tìm cái người mang tài liệu ra nước ngoài phải không, thưa ông?

Văn Bình gật đầu. Lê Diệp đợi chàng cạnh một chai xá xị đã cạn. Lê Diệp cho biết du khách khả nghi ăn cơm trong phòng ăn bên trong. Chừng năm phút nữa, y phải ra vì chuyến tàu Hương Cảng còn mười phút nữa cất cánh.

Thoáng thấy người lạ mặt từ phòng ăn đi ra, Văn Bình trà trộn với Lê Diệp vào trong đám đông nhưng mắt vẫn không rời. Năm phút qua. Máy phóng thanh rền lên, bằng ba thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp.

- Alô, alô, kính mời quý vị hành khách đáp phi cơ của hàng không Việt-Nam đi Nhật-Bản ra ngay sân… Alô, alô….

Người lạ mặt thản nhiên đứng dậy ra cửa trình vé. Quả Văn Bình đoán không sai. Trên ghế du khách khả nghi hồi nãy, còn để lại một cái túi vải nhỏ. Du khách vừa ra sân bay xong thì một thiếu phụ trông có vẻ đứng tuổi, từ một góc phòng tiến tới, ngồi ngay trên cái ghế trống.

Tiếng phi cơ sáu máy ngoài sân vang lên. Còn một phút nữa máy bay cất cánh. Lê Diệp cùng đáp chuyế, phi cơ này với du khách lạ mặt. Tới Hương-Cảng và Nhật-Bản, tùy cơ ứng biến, Lê Diệp sẽ tổ chức theo dõi, khám phá lần ra các tổ chức khác của gián điệp R.U.. Máy phóng thanh trong phi cảng rền lên lần nữa. Nhưng lần này là tiếng gọi hành khách đi Pháp. Văn Bình thấy thiếu phụ đứng dậy và không quên cầm luôn trong tay cái xắc vải. Đợi thiếu phụ đến gần nơi soát vé, Văn Bình mới rời chỗ ngồi, chàng hơi nhíu lông mày khi gặp Như Luyến dắt thằng Lập cùng Đoàn Trung đi ra cửa. Bô xiêm y Tây phương may bó lấy người làm nổi bật cái mông tròn trĩnh và bộ ngực nở nang của nàng. Nàng đẹp như tiên. Tuy nhiên, chàng thoáng gặp trong ta mắt ươn ướt của nàng một nỗi buồn man mác. Như Luyến nắm tay chàng:

- Ông đã tìm ra chưa, thưa ông?

Văn Bình đáp:

- Rồi.

- Đâu, thưa ông?

Văn Bình đưa tay chỉ thiếu phụ trình vé ngoài cửa sân. Thiếu phụ người gầy gầy, đầu quấn khăn kín, tuy trời nóng bức, mắt đeo kính dâm dầy cộm. Giữa sự kinh ngạc của Như Luyến và Đoàn Trung, Văn Bình cất tiếng gọi rõ to:

- Bà Ngọc? Bà Ngọc?

Như bị điện giật, thiếu phụ quay mình lại phía Văn Bình. Thấy chàng, thiếu phụ run bắn lên, rồi vứt cái va-li cầm tay ra, rồi lẩn vào đám đông định tẩu thoát. Nhưng một bàn tay như sát đã kềm thiếu phụ lại. Hai người đàn ông vạm vỡ hiện ra không biết từ lúc nào. Bà Ngọc mà Văn Bình gọi không phải ai xa lạ. Chính là u già Ngọc, người nữ lão bộc trung thành, có cặp mắt buồn, có hàm răng đen hạt huyền chất phác, đã giúp việc cho vợ chồng Như Luyến từ hồi hai người mới thành thân với nhau ở Ba-lê. Trông thấy u già Ngọc bằng xương bằng thịt bị hai nhân viên công lực bận thường phục còng tay, Như Luyến đi bên Văn Bình như bị mủi dao nhọn đâm suốt ngực. Nàng đứng sững lại, trong sự kinh ngạc vô biên, rồi giây phút kinh ngạc qua, nàng phải vịn vào vai Đoàn Trung mới khỏi ngã xuống đất. Đoàn Trung há miệng ra hình như muốn nói rồi lại thôi. Văn Bình không bỏ một phản ứng nhỏ nào của đôi vợ chồng mới cưới.

Hành khách vẫn kéo ra sân bay như mắc cửi. Tiếng loa vi âm không ngừng giục du khách trình vé để lên kịp chuyến bay đi Pháp. Như Luyến níu Đoàn Trung lại. Nàng nói, giọng nhọc mệt:

- Đi về thôi anh, em không có can đảm đi xa được nữa.

Đoàn Trung ngước mắt nhìn Văn Bình hỏi ý kiến, trong khi bà Ngọc được hộ tống ra chiếc xe đen bít bùng đậu bên ngoài. Văn Bình gật đầu. Chàng thấy thương hại cho Như Luyến. Vì nàng không thể ngờ được u già Ngọc, người nàng tin là trung thành nhất, người nàng đặt bao tin tưởng qua nhiều năm nay lại chính là đồng lõa của địch. Ra đến cửa ga, Như Luyến hỏi Văn Bình:

- Trước kia ông có biết bà Ngọc là nhân viên của địch không?

Văn Bình mỉm cười gật đầu. Như Luyến ngạc nhiên:

- Tại sao ông không bảo cho tôi đề phòng?

Văn Bình chậm rải đáp:

- Thưa bà, trong nghề gián điệp này, đôi khi người ta biết ba năm rõ mười mà vẫn chưa được phép nói, xin bà thể tình cho.

Như Luyến khẩn khoản:

- Ông có thể cho chúng tôi cùng đi xe với ông về Sở được không? Tôi không thể đi xe du lịch được nữa.

Văn Bình đáp lịch sự:

- Sợ bà đi xe công bị sóc không chịu được thôi. Còn tôi, tôi rất sẵn lòng. Riêng cháu Lập, tôi đề nghị nên cho cháu đi xe riêng về trước thì hơn.

Đoàn Trung đưa thằng Lập lên chiếc Lanh-Côn mui trần. Chiếc xe Hoa Kỳ tối tân chạy êm không một tiếng động. Xe Đoàn Trung khuất rồi, Văn Bình lững thững dắt Như Luyến lại xe cam-nhông-nét bít bùng. Bà Ngọc ngồi sau xe, bên cạnh hai công an viên. Tài xế sang số, chạy về Sàigòn. Gặp bà Ngọc, Văn Bình nghieng đầu chào:

- Hân hạnh chào bà.

U già Ngọc không còn dáng điệu quê mùa, thuần thục của người gia nhân nữa. Nét mặt của bà đanh lại, đôi mắt tóe ra tia lửa dữ tợn. Đúng là khuôn mặt người nữ gián điệp tàn nhẫn. Bà Ngọc ngoảnh lại phía Văn Bình, đáp như không trông thấy ai:

- Không dám.

Như Luyến nói:

- Tôi không ngờ bà lại có thể như vậy.

Bà Ngọc cười một cách khinh mạn:

- Bà không ngờ là đúng. Nếu để bà ngờ thì còn làm gì được nữa.

Như Luyến cau mày tức tối:

- Nghĩa là bà phản chúng tôi từ lâu rồi phải không?

Bà Ngọc cười chua chát:

- Bà dùng chữ phản không đúng nghĩa. Chúng tôi hoạt động cho một lý tưởng. Vả chăng tôi có phải là người Việt đâu, thưa bà. Bà cứ hỏi ông Văn Bình khắc biết.

Hướng về phía Văn Bình, thiếu phụ cám ơn:

- Tôi xin thán phục tài năng xuất chúng của ông. Chắc quá khứ của tôi, ông chẳng lạ gì. Ông hãy thuật lại cho bà Như Luyến đỡ băn khoăn. Diệt được Nicôlai Kô-băng, ông quả là tay xứng đáng. Tôi bị thua nhưng không quên được tài ông và xin hẹn tới một lần khác.

Văn Bình tủm tỉm:

- Cám ơn bà quá khen, nhưng tôi e không còn dịp chạm trán với bà.

Thiếu phụ nhún vai:

- Nếu thế thì thôi. Tôi cũng mệt lắm rồi. Có như thế này mới được nghỉ ngơi đôi chút, dẫu là nghỉ ngơi trong nhà tù hoặc dưới nấm mộ.

Văn Bình nói:

- Bà bi quan quá.

Thiếu phụ đáp:

- Ông riễu đấy chứ? Số phận tôi, tôi đã biết. Chết hay sống trong cái nghề gián điệp cũng tầm thường như ăn với ngủ, thiết tưởng chúng ta không cần quan tâm tới. Song le tôi còn thắc mắc một điều, ông trả lời được không? Ông biết tôi từ khi nào?

Văn Bình nhả một hơi thuốc Salem ra ngoài cửa xe hơi, đoạn nói:

- Bà đã hỏi, tôi không dám chối. Từ lúc giáp mặt bà trong biệt thự đường Chi Lăng, tuy bà không lưu lại vết tích khả nghi, tôi vẫn thấy khó hiểu thế nào ấy. Bà cải trang khéo, đóng vai người lão bộc hoàn toàn như thật, nhưng thưa bà, trong đời có những cái mà nghề chúng ta, tài năng chúng ta không thể che giấu được. Đó là những phản ứng bất ngờ.

Một vài cử chỉ bất ngờ của bà đã cho tôi biết bà khó thể là một u già ít học. Hơn nữa, chính bà đã bện sợi giây thòng lọng tự tố cáo ngay buổi tối mà thằng Lập bị bắt. Chắc bà còn nhớ những câu hỏi của tôi trong khi bà còn nằm bệnh viện. Bà không bị thương tích, mặc dầu bác sĩ đã khám cẩn thận, bà vẫn kêu đau, và từ chối tiếp tôi. Sinh nghi, tôi liền trương ra một cái bẫy. Tôi hỏi lúc thằng Lập bị bắt, bà ở đâu thì bà nói: bà ở trong bếp hầm la-gu, bà nói bà không nhận diện được kẻ đón bắt bà vì bà ở trong lửa ra, hơn nữa, đèn trong bếp lại sáng hơn đèn hành lang. Bà còn nhớ hay không, thưa bà?

Bà Ngọc khoanh tay trên đùi, không đáp. Chiếc xe của Sở Mật Vụ chạy lắc lư trên con đường gồ ghề. Văn Bình nói tiếp:

- Tôi biết ngay bà nói dối, hoàn toàn nói dối. Lúc đó, đèn trong biệt thự tắt hết. Bà tắt đèn cho đồng lõa của bà vào biệt thự, không sợ người của tôi để ý. Bà thấy chưa? Chỉ một chi tiết cỏn con cũng đủ giúp tôi tìm ra ánh sáng. Bắt đầu nghi ngờ bà có dính líu với địch, tôi chỉ cần huy động bộ óc khoa học của các cơ quan do thám đồng minh là tìm ra dễ dàng. Bà không phải người Việt-Nam mà là Trung Hoa. Bà là nữ điệp viên của Trung cộng hoạt động tạm thời dưới quyền R.U.. Bà thuộc một hệ thống gián điệp nằm lì. Từ lâu, sở gián điệp Sô Viết tổ chức một số khá đông điệp viên vào làm gia nhân cho các nhà bác học quốc tế rồi nằm lì, không hoạt động, đợi cơ hội thuận tiện. Mấy năm trước, bên Mỹ, bà đã giúp R.U. "săng-ta" Túc Lăng.

Từ nãy đến giờ, Như Luyến ngồi im trong một góc. Bà Ngọc hỏi thêm:

- Sở ông đã có quyết định nào về số phận tôi chưa?

Văn Bình gật gù:

- Kể ra thì không, nhưng muốn coi là có cũng đúng. Với lại thưa bà, bà đã sống trong nghề lâu năm chắc dư biết số phận của một gián điệp cao cấp khi sa vào lưới kẻ thù.

Bà Ngọc nuốt nước bọt:

- Vâng, tôi biết.

Văn Bình nói:

- Lệ thường, bà chỉ có ba con đường. Thứ nhất, tự tử trong khi bất thần hoặc tự tử với sự đồng ý của đối phương. Thứ hai, bị mang ra tòa để lãnh án tử hình, chung thân, hoặc bị đem đi giết kín ở một nơi vắng vẻ nào đó, rồi bố trí thành tai nạn. Thứ ba là điều đình, vì thưa bà, mỗi gián điệp là một tài liệu quý. Điều đình có thể dẫn tới phóng thích rồi tùy theo trường hợp sẽ làm gián điệp đôi hoặc bỏ nghề… Phải không, thưa bà?

Bà Ngọc nhìn tận mắt Văn Bình:

- Tôi xin đề nghị con đường thứ ba, ông bằng lòng không?

Văn Bình cười một cách vui vẻ:

- Thưa bà, được thế còn gì bằng.

Chàng ra lệnh cho hai công an viên mở còng cho bà Ngọc. Chiếc xe bít bùng dừng ở ngã tư đèn đỏ Công Lý - Yên Đổ. Chàng mở cửa xe cho bà Ngọc xuống trước, đoạn quay lại nói với Như Luyến:

- Xin lỗi bà, tôi phải đi đằng này có việc với bà Ngọc. Bà yên tâm, bà Ngọc sẽ không việc gì đâu. Tôi sẽ can thiệp với cấp trên trả tự do tức khắc cho bà ấy.

Như Luyến run run nắm tay chàng:

- Chúng tôi… mẹ con tôi hàm ân ông rất nhiều, chưa có dịp nào báo đáp.

Văn Bình xiết bàn tay trắng nõn nàng của Như Luyến. Nếu không có người trong xe, chàng đã vít đầu Như Luyến xuống và có lẽ nàng cũng đợi có thế.

Bà Ngọc vẫn đứng trên lề đường. Văn Bình đưa bà Ngọc về đường Yên Đổ. Chàng hỏi:

- Tôi muốn biết danh sách những hoạt động viên và cảm tình viên R.U. ở đây. Nếu bà thuận trao cho tôi bản danh sách ấy, tôi sẽ cho bà tự do rời Việt-Nam không cần điều kiện nào cả.

Bà Ngọc đáp:

- Tôi có mang theo trong mình, ông cần tôi xin đưa.

Văn Bình dừng chân trước một cái xe hơi mới tinh kiểu Đức Mét-xê-đét. Chàng lúi húi mở cửa. Bà Ngọc ngạc nhiên:

- Ông biết trước tôi bằng lòng hay sao mà để xe đợi sẵn ở đây?

Văn Bình cười:

- Bà giỏi quá, cái gì cũng không lọt qua sự suy xét của bà được. Đáng tiếc bà lại ở một chiến tuyến thù nghịch với chúng tôi.

Văn Bình mở cửa cho bà Ngọc ngồi cùng ở trên đệm xe phía trước. Bà Ngọc trao cho chàng một cuốn sổ tay bìa đỏ, trong đó được ghi bằng mật mã nhưng địa chỉ và tên cần thiết. Bà Ngọc nói:

- Cái khóa mật mã, tôi giấu trong bìa sách. Thôi, ông đã biết cái ông muốn biết, giờ đến lượt tôi.

- Tôi đã bố trí xong xuôi cho bà. Tôi lái cho bà trở lại Tân Sơn Nhất đây. Xin bà cho tay vào cái túi xe trước mặt, trong đó có một ngàn mỹ kim bạc mười và cái giấy thông hành đặc biệt cho bà. Cái giấy bà hiện có trong xắc, không qua khỏi con mắt thành thạo của công an phi trường được đâu. Tôi khuyên bà lần sau làm giấy thông hành giả nên thận trọng thêm nữa.

- Còn bàn tài liệu prô-péc-gôn?

- Tôi xin giữ lời hứa, nghĩa là bằng lòng cho bà mang khỏivn. Bà sẽ không bị cấp trên khiển trách. Thôi chào bà, và chúc bà may mắn.

Bà Ngọc xuống xe. Chuyến máy bay đi Vọng-Các còn thừa mấy chỗ. Thiếu phụ lấy vé hạng nhất. Nửa giờ sau, bà Ngọc từ giả thủ đô Sàigòn.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Trưa hôm sau, Văn Bình còn ngủ mê mệt trong căn buồng "bí mật" ở đường Võ Tánh thì Lê Diệp vào. Mộng Kiều đang bỏ cà-phê trong hộp vào "phin" cho Văn Bình, thấy Lê Diệp tới liền ngửa cổ lên cười. Lê Diệp cười lại:

- Có gì thú lắm mà cười thế? Ông quỷ sứ dậy chưa?

Mộng Kiều lắc đầu:

- Chưa, đêm qua ông ấy xoa mạt chược suốt sáng.

Đoạn chỉ đống chai không ở góc phòng, nàng bảo:

- Anh có biết anh ấy thủ tiêu mấy chai huýt-ky thượng hạng không? Ba chai riêng một mình anh ấy đấy. Và mấy gói Salem? Cũng ba gói.

Lê Diệp nhái giọng Mộng Kiều:

- Và làm thịt mấy cô gái đẹp? Ba cô ả.

Mộng Kiều phát một cái vào lưng Lê Diệp:

- Đồ nỡm.

Đột nhiên, Văn Bình mở choàng hai mắt. Lê Diệp dơ tay chào. Văn Bình vớ lấy chai huýt-ky còn để trên bàn đêm, tu một hơi dài. Điểm tâm bằng rượu mạnh xong, chàng mới tắm rửa, thay quần áo, xuống đường với Lê Diệp. Hôn Văn Bình một cái thật dài trên môi. Mộng Kiều nói:

- Nhớ trưa về ăn cơm đấy nhé? Rồi tối bọn mình đi nhảy với chúng nó đến sáng.

Văn Bình gật đầu. Chàng trông ra vẻ cậu công tử nhà giàu, tiêu tiền không đếm hoặc một gã buôn lậu quốc tế có số vốn triệu phú. Xuống đến lề đường, Lê Diệp nói với bạn:

- Xong rồi. Thằng du khách ấy bị theo rồi.

Văn Bình hỏi:

- Có gì lạ không?

- Không. Tôi đã liên lạc với nhân viên của ta ở Hương Cảng và trao việc này lại cho họ. Chẳng sớm thì muộn, ta sẽ có báo cáo và nắm thêm một ổ quan trọng nữa. À này, vừa về tới đây, tôi nghe anh em họ báo cáo lại một việc khó hiểu, tôi muốn hỏi anh tiện hơn. Tại sao anh tha cho bà Ngọc không mang ra tòa? Mà nếu quả anh muốn tha sao lại hớ hênh cho nhiều người trong xe biết?

Văn Bình mỉm cười:

- Thế mà tôi đinh ninh Lê Diệp là thằng khôn. Anh có biết vì sao tôi cố ý điều đình trên xe hơi với mụ Ngọc không? Là muốn thực hiện một mục đích. À, mụ ta có trao cho tôi bản danh sách các cảm tình viên và hoạt động viên của sở R.U. Sô Viết tại đây.

Lê Diệp khoát tay rủa:

- Cóc khô! Họa là điên mụ ấy mới trao cái thật cho anh. Không khéo anh đã bị cho vào xiếc.

Văn Bình cười mũi:

- Cám ơn anh đã mất thời giờ lo giùm. Anh tưởng tôi tin con mụ ấy lắm sao? Anh tưởng cái danh sách tôi nắm trong tay là danh sách thật hay sao? Từ lúc nhận, tôi đã dư biết là giả, song tôi vẫn coi là thật. Bà Ngọc hí hửng trở về với bản tài liệu. Tài liệu đó cũng là thật 100%. Tài liệu prô-péc-gôn này không còn giá trị nữa vì trong khi ấy các nhà bác học Mỹ vừa tìm ra một thứ prô-péc-gôn mới, mạnh gấp rưỡi thứ Đoàn Trung phát minh. Công thức khoa học, như anh đã biết, chỉ có giá trị giai đoạn. Bây giờ công thức prô-péc-gôn của Đoàn Trung đã hết giai đoạn của nó. Anh muốn đem công thức ấy in thành truyền đơn phát cho mọi người, tôi cũng không ngăn nữa là… Tôi cố tình cho nhiều người chứng kiến, tuy nhiên không cho biết rõ tôi đã đặt với bà Ngọc những điều kiện gì. Tôi bố trí như vậy vì tôi biết chắc trong số hai công an viên có mặt trên xe hôm qua với tôi, một là đảng viên dự bị của đảng Cộng Sản.

Y báo cáo với ban gián điệp chi bộ, chi bộ sẽ chuyển lên cho trung ương R.U.. Thành ra tôi mượn tay R.U. để đối phó với bà Ngọc.

Anh thừa hiểu nếu ta giết bà Ngọc, R.U. sẽ đào tạo nhiều bà Ngọc khác. Tốt hơn là dùng bà Ngọc để ly gián địch. R.U. sẽ xử tử bà Ngọc về tội phản bội. Tuy nhiên, R.U. không thể biết được bà Ngọc phản bội những gì. Gián điệp địch sẽ sống trong tình trạng báo động. R.U. sẽ phải thay đổi guồng máy hoạt động ở đây. Nhờ thế, chúng ta còn được thảnh thơi uống rượu với nhau trong ít lâu nữa.

Lê Diệp nhìn Văn Bình có vẻ khâm phục:

- Anh tài thật. Ngay cả đế, phút chót của màn kịch mà còn nghĩ thêm mưu kế nữa. Thế còn anh công an viên làm việc cho R.U. kia, anh vẫn để yên như cũ chứ?

- Lẽ cố nhiên. Bắt hắn đi, chúng mình thất nghiệp rồi còn gì?

Hai người cười vang.

Thủ đô Sàigòn, một mùa mưa.

NGƯỜI THỨ TÁM



[1] R.U. là Sở Tình Báo của Nga.

[2] Hiện trường này còn mở và dạy gần 10.000 nhân viên tình báo.

[3] Tức là Mạc-tư-khoa.

[4] Slotin.

[5] Roentgen là một đơn vị đo sức phóng xạ nguyên tử. Lệ thường, cứ bị vào khoảng ba, bốn trăm roentgen thì còn cứu được. Hiện nay bị phóng xạ nặng có thể cứu được, như trường hợp của nhà bác học nguyên tử Nam-Tư Maksic, Hodukovic, Grucle và cô Dougachich, bị một điện trì phóng xạ và được đưa sang Ba-lê cứu khỏi chết, bằng cách tiếp tủy. Nhà bác học chỉ huy Vranick bị đến 1.000 roentgen nên chết. Tai nạn xảy ra vào ngày 15-10-58 tại trung tâm nguyên tử Vinicha, cách Belgrade 15 cây số.

[6] Propergol.

[7] élium.

[8] Hydrate de bore.

[9] 4

[10] Zirconium.

[11] Phép đo-góc hay phép trắc-giác, tiếng Pháp là gonic tức là phép căn cứ vào luồng sóng điện của một điện đài mà có thể tìm ra được địa điểm của điện đài ấy. Người ta thường dùng phép này để khám phá những đài phát thanh bí mật.

[12] Magwave là một cái máy phát ra luồng sóng điện. Các sở do thám thường giấu cái máy này trong người mà họ muốn theo dõi kín đáo, rồi dùng phép đo-góc tìm ra dễ dàng. Mỗi xứ có một thứ máy khác, tuy nguyên tác giống nhau: magwave là máy do Mỹ chế tạo.

[13] Tức là máy sniperscope.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám   

Về Đầu Trang Go down
 
Một Vụ Đánh Cấp Tài Liệu - Người Thứ Tám
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Nhanbkvn 2017 :: THƯ VIỆN SÁCH TRUYỆN :: Truyện Trinh Thám-
Chuyển đến