Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:01 pm



Tiểu thuyết gián điệp

- Nambum-Ga là vùng rừng rậm bí mật trong tiểu bang tự trị Kachin loạn lạc ở phía bắc Diến-Điện. Với 26 triệu dân trên một giải đất ma thiêng nước độc, bị kẹt giữa Trung cộng, Lào quốc, Thái-Lan, Ấn-Độ và Đông Hồi, cộng hòa Diến-Điện là một trong các quốc gia bí mật nhất Viễn-Đông. Gần Vân-Nam và Phongsaly, Nambum-Ga là chiến trường du kích bí mật giữa đồng minh và Nhật-Bản trong thế chiến thứ hai, giữa Quốc quân và Trung cộng sau 1950, và hiện là ngã tư tình báo giữa hai phe tự do và cộng sản. Lần này Văn Bình Z.28 hoạt động tại Nambum-Ga, và Người Thứ Tám hy vọng chuyến phiêu lưu này của Z.28 sẽ không làm bạn đọc chán ngấy và mỏi mệt.

° ° °

I

Kế hoạch Naga

Văn Bình choàng dậy.

Quang cảnh trên máy bay vẫn không khác lúc chàng từ giã phi trường Téhéran, từ giã thiên đường Ba-Tư ngàn lẻ một đêm để về Calcutta.

Bên chàng, bà cụ già người Trung Hoa da mồi tóc bạc ngồi thu hình trong cái ghế rộng thênh thang, tay tiếp tục lần tràng hạt, miệng lâm râm cầu kinh. Phía trước, gã đàn ông Tây phương béo mập, trán hói, mắt cận thị nặng, vẫn dán vào cuốn sách hình phô bày cặp giò thuôn dài và bờ mông tròn trịa của một cô gái kiểu mẫu lẳng lơ.

Văn Bình thở dài nhè nhẹ. Đáp phi cơ thường là thú vui rí rỏm và thi vị của chàng. Vì trên thượng tầng không gian, chàng đã gặp đàn bà đẹp nhiều lần, và dường như ở cách mặt đất 12 cây số, trái tim con người bị rét lạnh nên nhiều lần chàng đã chiến thắng dễ dàng sau vài câu chào hỏi, đưa đẩy bâng quơ. Lên chuyến Boeing 107-320 liên lục địa, chàng đinh ninh sẽ được làm quen một giai nhân mới, nếu không phải là nữ hành khách du lịch vòng quanh thế giới một mình thì ít ra cũng là chiêu đãi viên nổi tiếng kiều diễm, nảy nở và ngọt ngào của công ty hàng không đàn anh PAA.

Nhưng chàng đã thất vọng. Cô chiêu đãi PAA trong bộ đồng phục gợi cảm lại chẳng gợi cảm chút nào mặc dầu đã nhoẻn miệng cười với chàng, âu yếm yêu cầu chàng dụi tắt điếu Salem bất hủ, áp má vào người chàng trong khi buộc dùm giây lưng, và lui tới như đèn cù mang huýt-ky cho chàng uống. Nhìn khuôn mặt, nàng không đến nỗi xấu, song Văn Bình không thể nào quyến luyến được bộ ngực phẳng lì, lạnh lùng như ghế đá công viên và nhất là cái eo hơi lớn, chứa toàn mỡ thừa, kết quả của bệnh ghiền súc-cù-là và bệnh thèm cao lương mỹ vị.

Chàng cố tìm trong đám hành khách một vào đường cong tóe lửa, tuy nhiên, mắt chàng lại tóe đom đóm đen sì. Dường như con gái đẹp kỵ phi cơ nên chàng chỉ thấy rặt đàn bà già và đàn ông già. Bà cụ ngồi bên ngẩng đầu nhìn chàng một cách thản nhiên rồi lại cúi xuống. Gã đàn ông béo mập không dám rời tấm hình mầu như sợ nàng lọt vào tay người khác.

Vì vậy, phi cơ vừa cất cánh là Văn Bình lim dim ngủ. Chàng có biệt tài ngủ dễ dàng, hễ đặt mình là ngáy. Thế mà chàng chỉ chợp mắt được mấy phút là vùng dậy. Lần này, chàng giật mình không biết là lần thứ mấy chục nữa.

Thấy cô chiêu đãi quen mặt tạt qua, chàng khoát tay :

- Sắp đến chưa cô ?

Nàng tặng Văn Bình một nụ cười mời mọc :

- Thưa, độ 20 phút nữa. Ông dùng ly huýt-ky nữa nhé ?

Dĩ nhiên là chàng gật đầu. Để tỏ ra lịch sự, chàng đon đả :

- Cô xuống Calcutta không ? Nếu có, tối nay xin mời cô ăn cơm.

Chàng chỉ mời lấy lệ. Vì phi cơ chỉ ngừng lại nửa giờ ở Calcutta. Vả lại, trong thâm tâm chàng không muốn phải cặp kè với cô bé chiêu đãi kém hấp dẫn.

Không may cho chàng…. Nàng vồ lấy đề nghị của chàng như kẻ chết đuối trên biển rộng vớ được cái xuồng cao-su đựng đủ thức ăn và nước ngọt.

- Vâng, em cám ơn ông. Đêm nay, em lưu lại Calcutta. Em có phòng ở Spencer's, đường Waterloo ấy mà… Phòng số 105.

Văn Bình sợ toát mồ hôi. Ngồi ăn với của nợ ấy, chàng sẽ phải chịu cực hình đêm nay. Có lẽ Trời cũng còn nhân đạo với chàng nên cô gái chiêu đãi vô duyên đã nhí nhảnh nói tiếp :

- À, nhưng em chưa dám hứa trước. Tối nay 7 giờ, ông gọi điện thoại cho em nhé ?

Hú vía ! Chàng cúi xuống ly rượu để khỏi phải phát biểu ý kiến. Cặp vợ chồng Phi-luật-tân đen sì như củ súng ở hàng ghế đầu cất tiếng gọi, nên người đẹp phải tạm biệt.

Chưa bao giờ rượu huýt-ky đối với Văn Bình lại thơm ngon cho bằng bây giờ, sau khi "chết hụt". Chàng bùi ngùi nhớ lại dĩ vãng vàng son, toàn là mỹ nhân trên phi cơ thương mãi PAA, có lần chàng tán khô nước bọt mà người đẹp mới đoái hoài tới.

Chàng đã học đưọc nghệ thuật chinh phục độc đáo đối với12.000 nữ chiêu đãi viên hàng không trên thế giới. Thứ nhất là thủ đoạn "chim xanh". Chàng viết sẵn một số thư, đề địa chỉ bậy bạ ở ngoại quốc. Tại phòng ăn phi trường, chàng làm quen với nữ chiêu đãi viên, rồi nhờ đưa thư giùm. Dĩ nhiên là bức thư không thể nào tới tay người bạn tưởng tượng. Văn Bình tạ lỗi bằng cách mời con chim xanh đi ăn tại một hộp đêm tối om.

Thủ đoạn thứ hai nhằm chinh phục những trái tim kiên cố nhất. Văn Bình đã áp dụng nhiều lần ở Ba-lê và lần nào cũng thành công. Chàng đậu xe tại phi cảng Orly, và nhẩn nha đi tìm những nữ chiêu đãi viên hàng không Đức hoặc Thụy-Sĩ. Giai nhân từ khắp nơi trên trái đất hay về Ba-lê, chặn cuối cùng trước khi về Đức hoặc Thụy-Sĩ. Buổi tối, họ sẽ có mặt ở Dusseldorf hoặc Giơ-neo. Chàng cố gắng bắt bồ và mời đi ăn. Chiêu đãi viên phi hành vốn lịch sự - vì lịch sự là khuôn vàng thước ngọc của nghề chiêu đãi viên phi hành - nên phần đông đều trả lời, giọng luyến tiếc :

- Thành thật cám ơn ông. Nhưng đêm nay tôi phải rời Ba-lê đi Giơ-neo.

- Không sao. Tôi xin đậu xe chờ cô ngoài phi trường Giơ-neo.

Từ Ba-lê đi Giơ-neo bằng đường bộ chỉ mất 6 giờ (đi Dusseldorf mất 5 giờ), phì cơ thường lưu lại một thời gian tương tự ở Ba-lê nên chàng đến Giơ-neo bằng đường bộ thì phi cơ cũng vừa đến. Cảm kích trước thái độ si tình kiên nhẫn này, người đẹp thường ngã vào vòng tay Văn Bình trong đêm giáp mặt đầu tiên.

Đêm nay, Văn Bình không cần hẹn hò với các cô chiêu đãi PAA vì một giai nhân tuyệt vời đang đợi chàng ở Calcutta.

Hơn một trăm tấn kim khí, hành khách và hàng hóa của chiếc phản lực cơ thương mãi khổng lồ lướt nhẹ trong không gian, êm ái như trượt tuyết. Ngồi trong phi cơ, 150 hành khách có cảm tưởng là chiếc Boeing 707-320 đứng lì một chỗ, mặc dầu vận tốc gần ngàn cây số giờ.

Phi cơ bắt đầu ra khỏi vùng mây trắng xóa hạ thấp xuống, bay qua sông Gange của Ấn-Độ và những đồng ruộng mênh mông.

Một bên giải Hy-mã-lạp-sơn cao ngất, với những khu rừng nhiệt đới cây cối um tùm, chạy thành vệt dài tới chân trời vô tận. Núi Hy-mã uy nghi làm Văn Bình lâng lâng. Trong quá khứ có lần chàng đã tới Népal để trèo núi, những đỉnh núi vòi vọi như dính liền với thượng giới, tuyết phủ quanh năm ngày tháng. Trèo núi là môn thể thao khó khăn, đòi hỏi sức khỏe đầy đủ và nhiều kinh nghiệm, và nhất là sự kiên nhẫn ghê gớm. Văn Bình ham trèo núi, một phần vì chàng là đệ tử của nếp sống tự do, phóng khoáng, thù ghét sự ràng buộc.

Nhưng phần nào cũng vì thú trèo núi gần giống với thú chiến thắng phái đẹp. Muốn chiến thắng những người đàn bà khó khăn, phải kiên nhẫn, phải có nhiều kinh nghiệm, và phải có sức khỏe đầy đủ. Văn Bình được nghe thuật lại thiên tình sử lý thú giữa một cô gái đang xuân và ba chàng thanh niên sung sức và triệu phú. Giờ đây nhớ lại, chàng cười thầm.

Ba chàng đều yêu một cô. Cả ba đều hội đủ điều kiện để làm nàng sung sướng. Vì vậy, nàng băn khoăn chưa biết chọn ai. Vả lại nàng thuộc loại "văm" nên đức ông chồng tương lai của nàng phải có một số tài năng đặc biệt. Điều khổ tâm là nàng không thể yêu cầu ba chàng thi thố tài năng. Nàng đành nghĩ cách khảo thí là mời cả ba đến chân núi Hy-mã-lạp-sơn hùng vĩ.

Giai nhân chọn một ngày rét kinh khủng để phát động cuộc đua. Nàng trèo lên trước với một huấn luyện viên leo núi người Népal, rồi cắm liều chờ trên một đỉnh phẳng. Đúng giờ ấn định, cả ba lao đầu vào tuyết lạnh. Giai nhân thật ác, vì lên núi chỉ có hai đường, đường thoai thoải thì trèo dễ ợt song nàng lại cấm, còn đường thẳng, dựng đứng như bức tường thành thì nàng bắt ba thanh niên gieo cầu leo trèo.

Họ đổ mồ hôi và nước mắt từ sáng tinh sương đến tối mịt mới được hai phần ba đường. Rốt cuộc họ cũng tới đỉnh, nhưng chàng trai vô địch lại mệt nhoài, sau khi nhổ được cây cờ chiến thắng thì nằm lăn ra bất tỉnh.

Người kể lại mẫu chuyện rí rỏm này là Lê Diệp. Nghe tới đó, Văn Bình cười rộ :

- Nhà vô địch trèo núi bị giai nhân bỏ rơi phải không ?

Lê Diệp gật đầu :

- Đúng. Nằm mê man như khúc gỗ thì còn làm ăn gì nữa ? Nhưng, tôi xin hỏi anh, giai nhân chọn ai ?

Văn Bình đáp ngay :

- Dĩ nhiên là chọn anh khỏe nhất trong số hai anh bị thua.

Lê Diệp cười hề hề :

- Anh kém thông minh quá.. Cậu thứ nhất đã phờ râu thì hai cậu kia khó thể còn lành lặn. Đêm khuya trên đỉnh núi cô quạnh, gió thổi lạnh lùng, giai nhân nhận thấy huấn luyện viên Népal có đủ điều kiện hơn nhiều. Gần sáng, thằng cha Népal kéo người đẹp xuống núi bằng một lối riêng.

Văn Bình vỗ tay reo :

- Ồ, thằng cha Népal gặp may thật !

Lê Diệp nhìn bạn bằng cặp mắt ý nhị :

- Đây không phải là vấn đề may rủi. Mà là một sự tính toán khôn ngoan. Gã Népal đã cho cả bọn vào xiếc ngon ơ. Giai nhân dại dột cho gã biết mục đích của cuộc trèo núi, gã bèn chọn một đỉnh hóc búa, một trong những đỉnh hóc búa nhất mà từ trước đến nay nhiều tay trèo lỗi lạc đã phải bó tay. Nhờ hơi đàn bà, ba chàng thanh niên rắp ranh bắn sẻ đã lập thành tích phi thường, nhưng sức lực của họ hoàn toàn bị kiệt. Thành ra gã huấn luyện Népal ngồi không được hưởng trái đào tiên… đúng với kế thuật "bất chiến tự nhiên thành"….

Văn Bình lẩm bẩm :

- Thằng điểu !

Bà cụ răn reo ngồi bên ngẩng đầu lần nữa :

- Ông gọi tôi ?

Văn Bình lắc đầu lia lịa :

- Thưa cụ, không.

Chàng vội vàng quay mặt nhìn sang bên hữu. Đối diện với pháo đài Hy-mã-lạp-sơn vĩ đại là trung châu Ấn-Độ trải dài phía dưới, lấp loáng chấm vàng của những làng mạc, màn sáng óng ánh của ruộng nước và của hằng hà sa số sông lạch mầu nâu phù sa lềnh bềnh….

Màu sắc của lục địa Ấn-Độ từ trên phi cơ nhìn xuống dịu dàng và hòa hợp, khiến người khách mới đến lần đầu có thể lầm lẫn. Vì, trên thực tế, quê hương của thánh Cam-Địa là một lục địa đầy tương phản gồm 500 triệu dân chia thành ba ngàn đẳng cấp khác nhau, nói 14 ngôn ngữ chính thức và đúng 8322 thổ ngữ, một phần tư dân số mắc bệnh đau mắt hột, 65 triệu dân bị gạt ra ngoài lề xã hội phải bốc rác rưởi bằng tay bên cạnh những lâu đài tráng lệ, với hàng triệu con bò thánh nghênh ngang, và 2 tỷ rưỡi chuột, hàng năm tiêu thụ 14 triệu tấn mễ cốc….

Mỗi lần đến một thủ đô ngoại quốc, việc đầu tiên của Văn Bình là tìm nơi du hí. Song lần nào đến Ấn-Độ chàng cũng nằm khoèo trong khách sạn, chờ chuyến máy bay sớm nhất để lên đường. Phụ nữ Ấn không đến nỗi xấu - bằng chứng là một sinh viên đã đoạt vương miện hoa hậu thế giới - nhưng Văn Bình lại thấy vô duyên, và nhất là… Người đẹp của bộ lạc Juang có nước da vàng như phụ nữ Việt - và trội hơn phụ nữ Việt ở chỗ họ che thân bằng lá cây sơ sài - chỉ phiền một nỗi là họ quá mập. Phụ nữ Deccan thì đen sì như cục than, ngó qua phát tởm. Duy người Sikh được coi là sạch nước cản, với làn da trắng, mũi cao, và thân hình lêu nghêu… Cách đây không lâu, Văn Bình bắt tình với một cô gái Sikh. Sau cuộc hẹn hò ngắn ngủi ấy, chàng thề không quay lại nữa.

Nhưng hôm nay, chàng lại hối hả về Calcutta.

Vì Như Hồng đang đỏ mắt chờ chàng. [1]

Như Hồng là cô gái kỳ lạ mà Văn Bình gặp tại Đà-Nẵng, trên đường tới pháo đài nổi ZZ ngoài khơi Thái-bình-dương. Nàng yêu chàng ngay trong đêm đầu tiên, nhưng éo le thay, người đẹp măng tơ này lại là cháu ruột của Như Luyến. Vì mối tình ngang trái mà Như Luyến và Văn Bình xa nhau. Đã lâu chàng không nghe nhắc tới Như Hồng nữa. Lần ở Nga Sô về, chàng tạt qua Ba-lê, và được tin Như Hồng thất tình, kết hôn với một sĩ quan ngoại quốc, và đã xuất ngoại theo chồng.

Cho đến ngày chàng ghé Téhéran thăm Triệu Dung. Theo chỉ thị của ông Hoàng, Triệu Dung đi vùng Trung và Cận Đông để tổ chức lại bộ máy tình báo của Sở. Tình cờ Triệu Dung gặp Như Hồng ở ngoại ô Calcutta, trên đường di Chandernagor. Chồng nàng vắng nhà, nàng mời Triệu Dung về tòa biệt thự tráng lệ và nhờ chàng trao lại cho Văn Bình một bức thư dài.

Thư viết như sau :

"Anh Văn Bình yêu thương ngàn kiếp của em.

Sự thật đã rõ rồi, anh đã biết em là Như Hồng và em đã biết anh là Văn Bình, tức đại tá Z.28 xuất quỷ nhập thần của làng điệp báo quốc tế. Đêm ấy - một đêm Đà-Nẵng phập phồng trong ánh sáng muôn màu của hỏa châu từ phi cơ thả xuống, như đêm em gặp anh - em đang nằm trằn trọc trên giường rộng thênh thang và lạnh như Bắc-Cực thì cô em đến thăm.

Định mạng ác nghiệt đã khiến em yêu lầm người yêu của cô Như Luyến. Lâu lắm không gặp nên cô Như Luyến đã mang lại bầu không khí vui vẻ trong gia đình. Hồi nhỏ em coi cô như nữ thần vì cô học giỏi khác thường, lại có nhiều đức tính khác thường. Mẹ em thường răn dạy em :

- Mày hãy bắt chước cô Luyến. Học đâu đỗ đấy, có đâu dốt nát như mày…

Vâng lời mẹ, em cố gắng theo gương cô Như Luyến. Nhưng thú thật với anh là em học cjóng quên, rốt cuộc năm nào cũng bét lớp. Cô thương em lắm, anh biết không ? Cô bảo em là đứa ngoan nhất nhà. Cô lại thương em vì em giống cô như đúc. Có lần cô ngây người ngắm em rồi thở dài :

- Trông cháu, cô bỗng nhớ lại thời cô còn trẻ. Cô nổi tiếng đẹp, song còn thua cháu bây giờ nhiều. Người ta bảo rằng sắc đẹp quá lộ liễu làm cuộc đời lận đận. Cô có bằng cấp, có nhan sắc, có địa vị xã hội, có nhiều tiền mà lúc nào cũng lận đận. Cô cảm thấy lo sợ cho cháu….

Rồi cô em khóc nức nở.

Đêm ấy, vừa thấy mặt em, cô Luyến cũng ôm chầm và khóc nức nở. Em đang bối rối thì cô nói :

- Tội nghiệp cho hai cô cháu mình quá !

Em hỏi tại sao thì cô lại lắc đầu :

- Không, không.

Mẹ em căn vặn, cô cũng không thố lộ. Đêm ấy như thường lệ, cô ngủ chung với em. Em không tài nào ngủ được, vì không hiểu sao em chỉ nghĩ đến anh thôi. Tuy vậy, em cố nhắm nghiền mắt, và nằm thẳng đơ như khúc gỗ để lừa cô. Đến gần sáng, cô cựa mình rồi nói :

- Cô biết là đêm qua cháu không ngủ. Và cháu cũng biết là đêm qua cô không ngủ. Cháu ơi, tai họa sắp xảy ra cho nhà ta rồi, vì… vì… cái vòng gia bảo….

Em chồm dậy, tay bịt miệng như để ngăn tiếng thét thất thanh từ cuống họng bật ra. Nghĩa là cô đã biết mối tình giữa anh và em. Cô vặn đèn đêm rồi sùi sụt khóc. Linh tính có chuyện chẳng lành, em ngồi yên bên cô. Giây lâu, cô hỏi em :

- Cháu yêu người ấy lắm không ?

Em dại quá, em ngu quá ! Lẽ ra em nên hỏi "thưa cô, người ấy là ai ?" thì em lại nhanh nhẩu :

- Vâng, cháu yêu lắm. Yêu có thể chết đi được….

Nghe em tâm sự như vậy cô đột nhiên thôi khóc. Mắt cô khô hẳn, cô lấy thuốc lá Salem ra hút. Em hỏi :

- Lạ nhỉ, cháu có thấy cô hút thuốc, và là hút thuốc Salem bao giờ đâu ?

Thì cô cười :

- Cô mới tập hút.

Em lại hỏi :

- Thưa cô, tại sao cô biết chuyện cháu tặng người ấy cái vòng gia bảo ?

Cô bâng khuâng, không để ý đến tàn thuốc cháy đỏ khoét thủng cái áo ni-lông, rồi đáp :

- Người ấy nói với cô.

Em mừng quá, nhảy cỡn lên :

- Thế hả ? Người ấy biết cô hả ? Sung sướng quá ! Cô biết rõ gia thế của chàng không ?

- Biết rất rõ. Chàng là đại tá Văn Bình của Sở Mật Vụ. Chàng là người rất xứng đáng.

- Tại sao hồi mới đến cô lại khóc ?

- Dạo này, tính cô đổi khác. Cô khóc vì mừng cho cháu. Phần khác vì cô nhớ đến chồng cô. Chồng thứ nhất của cô. Sắp đến ngày giỗ của cậu Túc Lăng nên cô tủi thân.

- Vậy hả ? Cháu xin lỗi nhé ! Mãi vui, cháu quên bẵng. À, thưa cô, có phải ông Văn Bình có nhiều người yêu lắm phải không ?

- Phải, nhưng cũng chẳng sao. Để cô nói lại với chàng. Cháu muốn làm vợ chàng không ?

- Muốn. Trăm sự cháu trông cậy vào cô. Hiện thời Văn Bình ở đâu, thưa cô ?

- Dường như ở Phi-Luật-Tân. Cháu yên tâm, cô sẽ bố trí cho cháu.

Sáng hôm sau, cô Như Luyến lên mái bay vào Sàigòn. Một tuần sau, em nhận được thư của cô. Khi ấy, em mới biết. Nhưng biết thì đã muộn. Trong gia đình, phải có một người chịu hy sinh vì cái vòng gia bảo độc địa. Em tuốt vào Sàigòn tìm cô song cô đã lên đường sang Âu Châu. Dường như cô xuống tóc vào một nhà tu kín. Cô đã hy sinh, nhường anh lại cho em. Trong thư, cô chúc em hoàn toàn hạnh phúc, và dặn em nếu sinh con với anh thì đặt đứa đầu lòng là Hoàng Sa [2] Hoàng Sa là gì, em không biết. Có lẽ chỉ có anh và cô em là biết.

Em nhận thấy em là đứa con gái khốn nạn, cướp người yêu của cô ruột. Chỉ còn cách tạ lỗi với cô, và giảm sự linh nghiệm của cái vòng bạch kim là em lấy chồng, lấy một người chồng nào mà em không yêu. Vì vậy, em kết hôn cấp tốc với một đại tá người Anh, tùy viên sứ quán, với điều kiện phải đưa em rời khỏi Sàigòn. Hai ngày sau đám cưới vội vả, em cùng chồng đi Luân-Đôn. Rồi Calcutta….

Em đinh ninh quên được anh, nhưng đến khi ra khỏi nước em mới biết là lầm. Tình yêu là tình yêu, là cái gì không thể hiểu nổi, không để đoán trước, không thể đo lường được. Đêm ấy ở Đà-Nẵng, em là gái mới lớn, em đã trao hồn gởi xác cho anh rồi, em không thể quên anh được nữa. Em đã lấy chồng nên chiếc vòng không còn linh ứng. Dầu còn, em cũng không cần…

Trong gần 12 tháng trời, em sống như người điên. Chồng em cưng em hơn trứng mỏng, sẵn sàng thỏa mãn mọi yêu sách quá đáng của em, song càng ngày em càng thấy cô đơn. Nhiều đêm em ra vườn ngồi một mình dưới trăng và sương lạnh, đến rạng đông thì ngủ gục trên ghế đá. Chồng em cũng theo em ra vườn. Có lần em nổi giận, đuổi vào nhà thì chồng em thở dài :

- Dầu là người khác chủng tộc, tôi cũng biết mình đang có điều đau khổ trong lòng. Tôi luôn luôn kính trọng tâm sự riêng của mình. Nếu mình tin tôi, mình cứ thổ lộ với tôi, biết đâu tôi chẳng giúp được phần nào.

Em cáu tiết nói lớn :

- Phải, tôi có chuyện buồn. Tôi buồn vì nhớ người yêu. Tôi hối hận đã nhận lời làm vợ anh.

Chồng em đứng lặng một phút rồi nói :

- Cám ơn mình đã nói thật. Mình có quyền nhớ người yêu cũ, vì dầu sao tôi là kẻ đến sau. Vả lại, ái tình cũng như bãi chiến trường, bên nào mạnh thì thắng, nếu mình không yêu tôi nữa thì đó là lỗi của tôi, tôi không dám phiền trách. Còn về việc mình hối hận thì tôi xin nói rõ là tôi rất yêu mình, cho đến chết cũng còn yêu, và xin nguyện làm bất cứ việc gì để mình được hạnh phúc. Nếu mình cảm thấy lạnh lẽo, muốn trở về với người yêu cũ, tôi cũng sẵn lòng. Chừng nào mình nhớ đến tôi, xin gửi điện tín cho tôi biết, tôi sẽ lên chuyến bay sớm nhất về đón mình xum họp.

Một tuần sau, chồng em đổi qua Ngưỡng Quang. Em ở lại Calcutta một mình vì em có linh tính là phải ở Calcutta thì mới có hy vọng gặp lại anh.

Và em đã gặp anh Triệu Dung.

Anh Văn Bình ơi ! Em chỉ xin anh một ân huệ : đó là tới Calcutta ở với em một đêm. Em được tin anh vừa từ phía sau bức màn sắt trở về, và anh sẽ gặp anh Triệu Dung. Anh đừng sợ, em chỉ giữ anh đúng một đêm rồi trả anh về với cuộc đời gió bụi. Nửa năm sau ngày bức thư này được gửi đi, nếu anh biền biệt không tới, em sẽ mượn giòng nước bạc để trốn nợ đời…

Em nói là làm, hẳn anh đã rõ.

Kính chúc anh của em thuận bườm xuôi gió.

Người tình bé bỏng ngang trái của anh.

Như Hồng.

Bức thư viết bằng mực nguyên tử đỏ của nàng còn nằm nguyên trong túi áo Văn Bình. Chàng chỉ đọc một lần rồi cất đi. Nhiều lần chàng toan lấy ra đọc lại, song lại rụt rè, vì sợ tâm hồn xúc động. Chàng không thể phụ bạc Như Luyến. Dầu Như Luyến ở trên cung trăng chàng cũng quyết đạp mây cưỡi gió lên rước nàng về. Nhưng chàng không thể lãng quên Như Hồng. Phương chi nàng lại dọa tự tử…

Cô chiêu đãi PAA đa tình lại bước qua. Có lẽ nàng cố tình bước qua để chàng chiêm ngưỡng cặp giò thanh thanh và mắt cá chân đỏ hồng.

Nhưng Văn Bình đã quay mặt đi. Phi cơ đã xà xuống thấp.

Thành phố Calcutta trải rộng bên dưới một màu trắng xóa. Với 6 triệu dân, Calcutta là một trong các thủ phủ náo nhiệt nhất thế giới. Trước mắt là sông Hagli rộng mênh mông. Xa xa là biển chạy dài đến tận chân trời, mầu xanh ngọc thạch của nước biển tương phản với màu trắng nạm bạc của bãi cát.

Giọng nói nhạt phèo của cô gái chiêu đãi vừa từ máy khuếch âm vọng ra. Bầu không khí trong phi cơ đang trầm lặng trở thành ồn ào, như đàn ong vỡ tổ. Lão hói trán ở băng trước vội vàng dụi điếu xì-gà, và gập luôn cuốn sách hình gợi tình lại. Bà già người Tàu lóng ngóng gài thắt lưng ghế. Mặt ai cũng đượm vẻ nghiêm trọng khác thường.

Đột nhiên, Văn Bình cảm thấy cần phải đăm chiêu như họ. Tuy phương tiện vận chuyển hàng không ngày nay đã đạt tới mực độ an toàn - có lẽ còn an toàn hơn cả xê dịch bằng đường bộ nữa - hành khách vẫn lo sợ, và lo sợ nhất là khi phi cơ sửa soạn hạ cánh.

Trong thời gian làm hoa tiêu thương mãi, chàng đã chứng kiến nhiều cảnh lý thú. Có một nhà doanh nghiệp từng là chủ tịch công ty hàng không song lại sợ đáp máy bay, mỗi lần đến phi trường, ông đều đeo cặp mắt kính đen sì che kín hai mắt, và nút kín lỗ tai bằng nút ni-lông. Một cô gái kiểu mẫu mà nghề nghiệp bắt phải cưỡi mây quanh năm luôn luôn chải tóc thật đẹp, mặc quần áo thật mới - nhất là đồ lót - và tắm thật kỹ trong bồn nước pha đắt tiền trước khi lên phi cơ. Chàng hỏi tại sao thì nàng cười mà không đáp. Mãi sau này chàng mới biết là nàng muốn thân thể thơm tho nếu chẳng may lâm nạn. Đáng tiếc là trong một chuyến bay trên Đại-tây-dương, phi cơ chở cô gái kiểu mẫu bị rớt xuống biển nên đàn ông không có cơ hội thưởng thức mùi thơm của da thịt nàng.

Văn Bình se sẽ rùng mình.

Đối với chàng thì đáp máy bay là một cách giết thời giờ vô hại, cũng như ngồi xoa một canh mạt chược. Chập tối ngồi vào bàn, quanh quẩn một vài hội thì, đọc lại vào ba lá thư âu yếm trời đã sáng quắc. Trèo lên phi cơ, chỉ cần uống nửa chai huýt-ky là phi cơ hạ cánh. Chữ "sợ" không hề có trong ngữ vựng của chàng.

Vậy mà hôm nay chàng sợ. Lần đầu tiên trên máy bay chàng sợ. Chàng quên bẵng rằng mọi bộ phận trên phi cơ đều đã được bảo đảm an toàn tối đa. Thậm chí các kỹ sư còn nghĩ đến những tai nạn bất thường như một đàn chim đâm sầm vào kính chắn gió nữa. Tại xưởng chế tạo, người ta đã dùng một khẩu súng đặc biệt bắn gà chết vào kính với tốc độ 500 cây số-giờ. 2.500 phát, với 2.500 con gà bắn giữa mục phiêu mà tấm kính vẫn không suy suyển….

Ở Téhéran, chàng đã gặp phi hành đoàn. Họ đều là nhân viên đứng tuổi, đầy kinh nghiệm. Không hiểu sao giờ đây chàng lại lẩm bẩm :

- Biết đâu đấy… !

Biết đâu họ bỏ sót một điểm quan trọng nào đó… 7 tấn dầu xăng chạm phải tia lửa thì tất cả sẽ cháy ra than… 64 cây số giây điện trong phi cơ bị hở một đoạn thì tai nạn chết người sẽ xảy ra…

Trong trí Văn Bình, một cuốn phim mở ra chầm chậm…. cuốn phim diễn đi diễn lại hàng vạn lần từ ngày phản lực cơ thương mãi xuất hiện, cuốn phim bất dịch mà mọi nhân viên phi hành - trong số có chàng - đều phải răm rắp tuân theo từng chi tiết.

Trước khi sửa soạn cất cánh, phụ tá hoa tiêu phải tiếp nhận cái cặp da đựng một cuốn vỡ dày cộm bọc ni-lông, rồi lần lượt giở từng trang, đặt ra những câu hỏi kiểm soát an toàn. Nhân viên phi hành trả lời đều đặn như người máy.

- Kiểm soát hệ thống dưỡng khi chưa ?

- Rồi.

- Máy sưởi kính chắn gió ?

- Chạy tốt.

- Bơm đâu ? Số 1 ?

- Rồi.

- Số 2 ?

- Rồi.

- Số 3 ?

- Rồi.

- Bơm phụ ?

- Cũng rồi.

- Machtrim? [3]

- Ôkê.

- Radar ?

- Hoàn hảo.

- Vòi xăng ?

- Đã mở.

- Bơm xăng ?

- Rồi.

Trong khi ấy, ở phía sau, nữ chiêu đãi viên đã đóng cửa, giòng chữ Fasten Your Belt - buộc chặc giây lưng ghế - chiếu sáng trên ghế - chiếu sáng trên cửa. Phụ tá hoa tiêu cất tiếng

- Hành khách buộc dây lưng xong chưa ?

Trưởng chiêu đãi viên đáp :

- Rồi.

- Cửa đóng hết chưa ?

- Rồi.

Viên chỉ huy chuyến bay bắt đầu liên lạc với đài kiểm soát :

- Phi đạo đã trống chưa ?

- Trống rồi.

Động cơ phản lực bắt đầu nổ. Trong khoảnh khắc phi cơ sẽ chạy với vận tốc V-I trên phi đạo rộng 45 mét, dài 3.640 mét.

- Động cơ số 3 sửa soạn xong chưa ?

- Máy số 3 đủ áp lực chưa ?

- Máy số 4, số 2, số 1 ?

Trước mặt phi công là một rừng đồng hồ tròn với những cây kim chuyển động rần rần. Người lạ có thể quáng mắt phát điên, nhưng hoa tiêu coi đó là những dụng cụ cơ khí thông thường và cần thiết. Hoa tiêu để tay lên một trong bốn cái cần điều khiển bốn động cơ phản lực, đặt giữa hai ghế ngồi. Cũng trong khoảng này còn có máy điều khiển tự động và máy machtrim.

Hoa tiêu lại cất tiếng :

- Alô, đài kiểm soát… Động cơ đã nổ.

Đài kiểm soát đáp :

- Roger [4]

Trên phi đạo, một người mặc đồ trắng giơ ngón tay trái lên trời, báo hiệu an toàn, máy bay có thể cất cánh. Hoa tiêu lái bon bon trên thảm bê tông, tay ấn cần ga xăng theo những chỉ thị rõ rệt. Có 3 tốc độ. V-1, VR và V-2. Ở tốc độ V-1, tốc độ khởi đầu, nếu chẳng may một động cơ bị hư, hoa tiêu phải thắng lại cấp tốc. Nhưng một khi đã lên tốc độ V-2 thì một động cơ bị hư vẫn phải cất cánh, vì không thắng nổi. Tuy nhiên, phi cơ chỉ được phép bay lên rồi đáp xuống ngay. VR là tốc độ chuẩn bị cất cánh, giả sử bị trục trặc, hoa tiêu sẽ bắt buộc phải cho tháo chảy hết nhiên liệu, khoảng 40.000 lít, trong vòng 22 phút….

Chiếc Boeing đã rời sân bay Téhéran an toàn, và đang sửa soạn hạ xuống Calcutta.

Nhắm mắt lại, Văn Bình vẫn có thể nhìn thấy quang cảnh diễn ra giữa phòng phi hành và đài kiểm soát bên dưới. Nếu thời tiết tốt, 100 tấn của chiếc Boeing khổng lồ sẽ hạ xuống êm ái. Nhưng nếu sương mù bao phủ….

Có lẽ đài kiểm soát sẽ ra lệnh cho hoa tiêu đáp xuống một phi đạo riêng, dài 2.292 mét, dành cho những vụ hạ cánh theo chỉ thị vô tuyến. Phi đạo này bằng bê-tông ép dày 18 phân, có thể chịu được sức nặng 200 tấn, và được trang bị một hệ thống ánh sáng với 12 giãy đèn gắn trong bê-tông trên khoảng dài 900 mét đầu tiên.

Phi đạo này, cũng như các phi đạo khác, đã được quét dọn sạch sẽ bằng cái máy hút bụi khổng lồ, giống như xe hơi bọc thép. Sự lau chùi này rất cần thiết vì một hòn sỏi nhỏ trên phi đạo có thể làm hỏng máy phản lực của phi cơ Boeing. Máy hút khổng lồ này có thể nuốt gọn mọi vật nhỏ trong vòng 3 thước, biến sàn bê-tông thành sàn khiêu vũ bóng loáng… Văn Bình lại rùng mình lần nữa.

Chàng rùng mình vì vừa nghĩ đến nếp sống nghề nghiệp. Hoạt động điệp báo giống như cái máy hút bụi khổng lồ ở phi trường, sớm muộn sẽ hút gọn đời chàng vào trong… Chàng sẽ tan thành bụi… Chàng sẽ không gặp được Như Hồng… Chàng sẽ không được ôm vào lòng những báu vật tuyệt vời của Tạo Hóa nữa…

Một giọng nói cất lên :

- Mời ông !

Trời ơi ! Phi cơ Boeing đã hạ cánh và tắt máy rồi mà chàng vẫn đắm chìm trong ký ức mơ hồ.

Cô chiêu đãi - lại cô chiêu đãi vô duyên nhưng tấn công sát sạt của hãng hàng không PAA - đã đứng một bên, giọng thân mật :

- Ông nhớ nhé ! Lữ quán Spencer's.

Văn Bình đành gật đầu. Dầu nàng là mỹ nhân, chàng cũng không thể giữ lời hứa vì đã hức với Như Hồng, phương chi nhan sắc của nàng chỉ vào mức trung bình. Tuy nhiên, từ nay trở đi, chàng phải đoạn tuyệt với đường bay PAA. Chàng không muốn tái ngộ cô chiêu đãi đói tình này lần nữa để lãnh cái nguýt dài bằng chuyến bay vòng quanh trái đất, và hai tiếng Sở Khanh lạnh như thùng nước đá.

Ánh nắng xế chiều của trường bay làm Văn Bình rạo rực. Với cái va-li nhỏ lủng lẳng nơi tay, chàng rẽ đám đông tiến tới ghi-sê quan thuế.

15 phút sau - 15 phút dài dằng dặc - mọi thủ tục đã hoàn tất. Văn Bình khấp khởi nhìn tứ phía. Chắc chắn Như Hồng đã chờ chàng đâu đây. Nàng còn trẻ, lại cuồng nhiệt, chắc chắn sẽ òa khóc trong sung sướng và nhảy vào lòng chàng, hôn lấy hôn để cho thỏa tình mong nhớ.

Từ chuyến bay Đà-Nẵng, chàng chưa có dịp gặp lại nàng. Hồi ấy, nàng còn là nữ sinh trong trắng, chưa vướng bụi đời. Giờ đây, nàng đã có chồng. Như Hồng thuộc loại đàn bà có chồng đẹp trội hơn hồi con gái. Chàng còn nhớ rõ : cái đêm đầu đáng nhớ ấy, nàng ngây thơ một cách lạ lùng, ngây thơ đến nỗi chẳng biết gì hết. Chàng đã dạy cho nàng phương pháp vào đời. Và sau đó chàng hối hận….

Hôm nay, Văn Bình định gặp nàng là nói ngay :

- Anh thành thật xin lỗi em.

Nhưng Như Hồng đang ở đâu ? Văn Bình nhìn mãi mà chẳng thấy. Ruột gan chàng nóng như lửa đốt. Hay là nàng kín đáo đợi chàng ngoài xe hơi ?

Đến khi bách bộ mỏi chân ngoài phi cảng chàng mới vỡ mộng. Như Hồng vẫn biệt tăm.

Chàng thở dài, vẫy tắc-xi. Nhưng một chiếc Sunbean sơn đen đã đậu xịch một bên, cửa trước mở ra. Chàng định cất tiếng trách thì một cái đầu đàn ông tóc ngắn ló ra. Trái tim chàng bỗng đau nhói. Vì tài xế không phải là Như Hồng thùy mị, Như Hồng da diết, Như Hồng tràn đầy mong ước….

Mà là gã sếu vườn đáng đòn của Sở Mật Vụ, hộ vệ keo sơn của ông tổng giám đốc xuất quỷ nhập thần…

Hắn là Lê Diệp.

Lê Diệp nhe răng cười, nụ cười cầu tài quen thuộc :

- Chào anh.

Tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, Văn Bình lẳng lặng trèo lên xe, Lê Diệp phóng ra đường lớn. Thấy bạn ngậm miệng, Văn Bình đành phải mở miệng :

- Ai cho phép anh đến đây ?

Lê Diệp nhún vai :

- Như Hồng.

- Hừm, anh đừng nói láo nữa. Trẻ con cũng không tin nổi, huống hồ là tôi. Này, tôi bảo anh biết, con giun xéo mãi cũng quằn, giờ đây con giun Z.28 không chịu lép vế nữa đâu. Một ông Hoàng chứ một trăm ông Hoàng tôi cũng chẳng cần. Ông tổng giám đốc của anh muốn gì thì đợi đến mai. Đợi đến sáng mai, nhớ chưa ? Trời đánh cũng tránh bữa ăn… đêm nay tôi bận việc quan trọng… việc riêng….

- Vâng, tôi xin đợi đến mai.

- Vậy nàng ở đâu ? Như Hồng đâu ?

- Ở nhà.

- Anh chặn đường, không cho nàng đến đón tôi hả ? Nếu vậy, tôi quyết phản đối. Tôi sẽ không tuân lệnh ông Hoàng nữa.

- Không. Tôi không hề ngăn cản nàng. Chính nàng nhờ tôi ra trường bay đón anh.

- Nghĩa là anh quen nàng từ trước ?

- Mới đây thôi.

- Đúng rồi. Ông Hoàng lợi dụng mối tình của nàng đối với tôi để kết nạp nàng vào Tổ Chức.

- Anh đừng nghi ông Hoàng tội nghiệp. Thủ phạm trong vụ này là Triệu Dung.

- Triệu Dung bố trí cho tôi đến Calcutta gặp lại Như Hồng kia mà !

- Phải. Triệu Dung đưa thư của nàng cho anh. Trước khi nhận lời làm con chim xanh, Triệu Dung giải thích cho nàng hiểu rằng theo một thông tư mật của Sở, mọi liên lạc giữa nhân viên cao cấp và phụ nữ sinh sống ở hải ngoại phải được Sở cho phép. Thông tư này được đề ra để tránh tình trạng đối phương dùng kế mỹ nhân. Triệu Dung nói là ông Hoàng chấp thuận mới dám nhận thư, Như Hồng bèn yêu cầu Triệu Dung giới thiệu nàng vào Tổ Chức. Nàng đã trở thành mật báo viên của Sở ở Calcutta. Trước khi mời anh về đây, nàng đã xin chỉ thị của ông Hoàng, và ông cụ đã chấp thuận….

- Vậy anh còn dẫn xác tới đây làm gì ?

- Ấy chết, anh quá nặng lời… Tôi đang bắt tổ yến ở gần Nha Trang thì ông cụ cho trực thăng ra tận đảo, triệu về. Đến Tân Sơn Nhất, tôi chưa kịp xuống máy bay thì ông cụ đã chờ sẵn trong phi cảng. Và 15 phút sau là tôi phải trèo lên phi cơ đi Calcutta. Gần trưa đến nơi, tôi thuê xe đến biệt thự NDTT của nàng cách đây 10 cây số.

- NDTT ?

- Phải, đó là chữ đầu của "nhất dạ thiên thu", ý nói là nàng gặp anh một đêm mà ngàn thu vẫn nhớ.

- Trời ơi ! Chồng nàng không biết ghen à ?

- Không. Thứ nhất, vì hắn không hiểu nghĩa bốn chữ "nhất dạ thiên thu". Hắn là người Anh lịch sự, nghiêm nghị, nên không hề hỏi nàng. Thứ hai vì hắn không thể ghen được.

- Nghĩa là hắn điên ?

- Chẳng điên chút nào… Hắn còn sáng suốt như anh và tôi vậy. Hắn không thể nổi cơn tam bành vì trước khi về với hắn, Như Hồng đã giao hẹn dứt khoát, mặt khác, hắn thuộc loại đàn ông… hơi khác thường.

- Tôi hiểu rồi… Té ra vợ chồng chay, không phải vợ chồng mặn !

Lê Diệp phá lên cười :

- Đúng thế, chay hoàn toàn… Như Hồng đang chờ anh để … ăn mặn đấy !

Cơn giận của Văn Bình đã nguôi. Chàng ôn tồn hỏi bạn :

- Công tác sắp tới của tôi như thế nào ?

Lê Diệp đáp :

- Ông Hoàng đã dặn tôi cẩn thận. Anh sẽ lưu lại biệt thự "nhất dạ thiên thu" với Như Hồng đêm nay.

- Còn đêm mai ?

- Nếu anh chưa chịu lên đường thì tôi vẫn phải chờ.

- Anh có thể chờ đến bao giờ ?

- Thời gian lâu hay mau là tùy anh, hoàn toàn tùy anh, tôi không được phép góp bàn. Ông Hoàng nói là từ trước đến nay, anh thường có thành kiến với Sở, cho rằng Sở chuyên môn rình rập để phá đám anh vào những lúc anh cần thảnh thơi nhất, lần này Sở quyết tôn trọng sở thích riêng tư của anh.

- Thành thật cám ơn. Chỉ thị công tác ở đâu, sao anh chưa đưa cho tôi ?

- Cất trong hộc táp-lô. Đó là một cuộn băng nhỏ. Nghe xong một phút sau thì băng sẽ cháy hết.

- Anh được biết nội dung không ?

- Biết đại khái anh sẽ qua Diến-Điện trong khuôn khổ một kế hoạch khẩn cấp mệnh danh là kế hoạch Naga. Naga là tên một vùng, hoặc một con sông ở Diến-Điện. Anh được lệnh hợp tác với MI-6 của Anh quốc để tìm một yếu nhân bị mất tích trong miền rừng núi hiểm trở ở phía Bắc, giáp giới Trung Hoa cộng sản.

- Naga là kế hoạch khẩn cấp. Cứu người bị mất tích cũng khẩn cấp như cứu hỏa, vậy tôi rềnh rang ở Calcutta sao được ?

- Vì thế ông Hoàng mới dặn là tùy anh.

- Tôi chịu đầu hàng rồi… bảo tùy tôi, nhưng thật ra là tùy Sở. Nhưng thôi, tôi chỉ cần ở lại một đêm. Sáng mai tôi sẽ lên đường.

Xe hơi chạy qua những khu đông đúc tới phía Bắc thành phố, trên đường đi Chandergor. Lê Diệp mở khóa hộc xe, lấy ra một hộp dẹt, nhỏ bằng hộp bích-quy Jacob. Văn Bình ấn nút, mặt hộp bật lên, phía dưới là máy ghi âm tối tân, băng nhựa thuộc loại cát-xét, nằm gọn trong một hộp lát-tích lớn bằng hai hộp diêm. Chàng bỏ nút nghe vào tai và cho máy chạy. Băng nhựa phát âm chỉ riêng chàng nghe được.

Văn Bình bàng hoàng trong giây phút.

Tiếng nói từ băng nhựa phát ra không phải của ông Hoàng tổng giám đốc.

Mà là Nguyên Hương, nữ bí thư trưởng nổi tiếng ghen bóng, ghen gió nhất nhì thế giới.

--------------------------------
1. Xin đọc tình tiết trong Phi tuần vĩnh biệt, đã xuất bản. Tân Quang, 54 Lê Văn, Duyệt, Chợ Đủi, tổng phát hành.
2. Xin đọc Phi tuần vĩnh biệt đã xuất bản.
3. Machtrim là bộ óc điện tử có nhiệm vụ giữ cho phi cơ bay đúng đường.
4. Roger, danh từ hàng không quốc tế, có nghĩa là hiểu rồi, đồng ý. Tác giả đã giải thích một số chi tiết kỹ thuật hàng không trong bộ truyện Phi tuần vĩnh biệt, đã phát hành.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:02 pm

II
Diến-Điện huyền bí


"Yêu cầu Z.28 chú ý…"

Giọng nói của Nguyên Hương khô khan và nghiêm nghị như giọng thày giáo già dạy toán kêu học trò lên bảng. Nàng không xưng em ngọt ngào như thường lệ.

"Yêu cầu Z.28 chú ý. Sau đây là những chỉ thị của ông tổng giám đốc về Kế Hoạch Naga. Băng nhựa này chỉ phát âm một lần nên Z.28 cần nghe kỹ và học thuộc.

"Z.28 được lệnh khám phá tung tích Seng Ho, một người Trung Hoa, cựu điệp viên Viễn-Đông của MI-6. Cách đây hai tuần, Seng rời Ngưỡng Quang lên tỉnh Nambum-Ga, thuộc tiểu bang Kachin, Bắc bộ Diến-Điện, rồi biệt tích.

"Trên phương diện chính thức, Seng tới Nambum để thu thập một số tài liệu và chứng tích lịch sử để soạn một cuốn sách nói về cuộc hành quân du kích vĩ đại của Anh quốc trong thế chiến thứ hai, từ Ấn-Độ xuyên rừng Diến-Điện tới Vân-Nam.

"Cuộc hành quân này do tướng Orde Wingate chỉ huy gồm 3.000 binh sĩ thiện chiến, mang tên là đạo quân Chindits. Wingate có nhiệm vụ quấy phá hậu tuyến của quân đội Nhật-Bản khi ấy đang tiến nhanh như chẻ tre trên toàn cõi Đông-Nam-Á.

"Cuối tháng 12-1942, đạo quân Chindits bắt đầu cuộc du kích trường chinh. Seng là nhân viên OSS biệt phái qua MI-6, ở trong bộ phận tham mưu của tướng Wingate.

"Hệ thống quân vận Nhật-Bản ở Bắc Diến bị quân Chindits phá hoại tan tành. Nhật-Bản phải tung 3 sư đoàn ưu tú để lùng bắt tướng Wingate. Sau 100 ngày trèo non vượt suối, qua 2.000 cây số xuyên rừng, đạo quân Chindits thoát khỏi vòng vây Nhật-Bản và tới Vân-Nam do đồng minh kiểm soát.

"Trong cuộc trường chinh này, Seng Ho đã đặt được một hệ thống tình báo đắc lực cho đồng minh. Sau ngày vãn hồi hòa bình, một số cộng tác viên của Seng tiếp tục hoạt động hữu hiệu ở Bắc Diến.

"Gần đây, tình hình Bắc Diến trở nên nghiêm trọng. Trên thực tế, vùng này vẫn mất an ninh từ ngày Diến-Điện độc lập nhưng chưa bao giờ du kích cộng sản lại hoạt động mạnh mẽ như bây giờ. Đồng minh có tín tức đích xác là Quốc Tế Tình Báo Sở của Bắc Kinh vừa thành lập cách đây không lâu một bộ đội du kích đặc biệt, bí số là F-22 gồm chuyên viên quân sự và chính trị, Diến-Điện, Thái-Lan, Cao-Miên, Ấn-Độ, Mã-lai, Phi-Luật-Tân và Úc châu với nhiệm vụ bành trướng chiến tranh "giải phóng" theo kiểu Việt-Nam trên toàn cỏi Đông-Nam-Á.

"Tổng Hành doanh của F-22 hiện đóng tại Nambum-Ga. Một số đơn vị tiền sát của F-22 đã từ Vân-Nam thâm nhập vào Bắc bộ Diến, sửa soạn dùng con đường xuyên rừng bí mật của tướng Wingate để xuống Ấn-Độ.

"Seng Ho được MI-6 phái tới NamBum để chận đứng kế hoạch Nam tiến của F-22. Trong công tác này, MI-6 cộng tác mật thiết với trung ương Tình Báo Mỹ C.I.A.. Sở dĩ chúng ta dính vào là vì hành động của F-22 ảnh hưởng lớn lao tới tình hình Nam-Việt.

"Ngoài ra còn hai lý do khác. Thứ nhất, Diến là quốc gia trung lập có thái độ kỉnh cung chi đểu vì ở sát nách khổng lồ Trung cộng. Bởi vậy, Tây phương chỉ có rất ít nhân viên trên đất Diến. Con số này đã bị thu hẹp tối thiểu từ sau khi chính phủ Diến đóng cửa mọi phòng thông tin ngoại quốc. Điệp viên Tây phương thường núp sau chiêu bài văn hóa báo chí như Alliance Française (Pháp văn đồng minh ). Phòng thông tin Anh-Mỹ đã phải từ giả Ngưỡng-Quang. MI-6 cũng như C.I.A. còn một vài điệp viên bản xứ song không dám xử dụng sợ bại lộ, vả lại, các điệp viên bản xứ thiếu kinh nghiệm này khó thể làm tròn một công tác khó khăn như đối với F-22 của Tình Báo Sở. Lý do thứ hai, Z.28 là bạn ngày xưa của đại tá Karati, chỉ huy trưởng Phản Gián Diến-Điện.

"Theo lệnh MI-6, Seng Ho đã liên lạc với đại tá Karati trước khi lên đường đi NamBum. Karati yêu cầu Seng lợi dụng cơ hội để hạ sát một lãnh tụ bí mật của F-22 tên là U-Ban, dường như thượng tá của Tình Báo Sở.

"Trên nguyên tắc nghề nghiệp, sự mất tích của Seng Ho phải được giữ kín và cuộc điều tra cần tiến hành một cách kiên nhẫn. Chúng ta bắt buộc phải đốt cháy giai đoạn, đưa hẳn nội vụ ra thanh thiên bạch nhật là vì vợ của Seng, tên là Vêra, đã dại dột mở một phong trào vận động ầm ỹ. Chúng ta kịp thời ngăn chặn báo chí, nhưng chắc hẳn là đối phương đã biết.

"Tưởng cần nói rõ thêm Vêra là người Tàu, quốc tịch Mã-lai, sinh sống ở Tân-gia-ba. Nàng là ái nữ duy nhứt của ông vua mỏ kẽm Mã-lai. Nhà tỷ phú này từ trần 2 năm trước, để lại một tài sản khổng lồ, ước lượng trên dưới 250 triệu đô-la Mỹ. Người ta không hiểu tại sao Vêra lại chọn Seng làm chồng. Có lẽ vì Seng đẹp trai. Cũng có thể vì Seng là bạn thân của anh ruột Vêra, tên là Paul. Cả Paul lẫn Seng đều ở trong bộ tham mưu của đoàn quân Chindits.

"Theo tin tức đích xác, người ta biết là Vêra ỷ giàu có nên khinh miệt Seng. Tuy mới lấy nhau, cặp vợ chồng son này không được hòa hợp cho lắm.

"Seng được lệnh bảo mật công tác, không tiết lộ cho vợ biết. Trên thực tế, không rõ Vêra có biết hay không.

"Tới Ngưỡng Quang, ngoài việc tiếp xúc với đại tá Karati, Z.28 còn phải gặp hai người khác : thứ nhất là Roy, đại diện của MI-6, phụ trách địa khu Diến Điện, hiện là tùy viên thương mãi trong sứ quán Anh quốc. Thứ hai là Abê, một kiều dân Anh quốc chính cống. Abê hiện là đặc phái viên C.I.A., Z.28 có thể gặp Abê mà không sợ bị địch nghi ngờ vì Abê là giám đốc một hãng du lịch lớn. Vả lại, Abê sắp mãn thời hạn phục vụ tại Diến Điện.

"Như thường lệ, Z.28 được toàn quyền hành động. Trong thời gian hoạt động tại Ngưỡng Quang cho Kế Hoạch Naga, Z.28 không nên liên lạc với tòa lãnh sự Việt-Nam.

"Yêu cầu Z.28 chú ý… Băng nhựa đến đây là hết. Thành thật chúc Z.28 thành công…."

Văn Bình thừ người dựa lưng vào đệm xe Sunbeam, xe hơi của Anh quốc nổi tiếng trên thế giới về ống nhúng cứng đét làm vỏ lớp nhảy cỡn trên đường nhựa, đệm ngồi lại mỏng lét dễ tạo ra bệnh đau lưng cho hành khách. Sunbeam lại không phải là loại xe đặc biệt, nên Lê Diệp vừa lái vào ổ gà là toàn xe rung chuyển mạnh mẽ. Văn Bình bị hất vào táp-lô. Giữa lúc ấy, tiếng xèo xèo nổi lên : cuộn băng ghi âm nhỏ xíu độc đáo đã cháy đen và thu nhỏ lại bằng sợi chỉ.

Văn Bình hỏi bạn :

- Nguyên Hương có dặn gì tôi không ?

Lê Diệp lắc đầu :

- Không.

- Thái độ của nàng làm tôi ngạc nhiên. Thường lệ, mỗi khi vâng lệnh ông Hoàng, ra chỉ thị cho tôi, nàng đều lợi dụng cơ hội dành một vài câu âu yếm. Lần này, nàng không hỏi thăm tôi một tiếng. Thậm chí, nàng lại gọi tôi một cách trống không là Z.28, chứ không dùng tiếng "anh" thân mật như xưa nữa. Tại sao nàng thay đổi như vậy, hả anh ?

- Tôi không phải là Trạng Trình đọc được gan ruột thiên hạ. Tuy nhiên, theo chỗ tôi biết thì Nguyên Hương tỏ vẽ lãnh đạm với anh vì không được phép mặn mà như trước nữa.

- Dĩ nhiên, tình yêu là tình yêu, mà công việc là công việc. Nguyên Hương là phụ nữ mềm yếu, song lại biết đặt công việc lên trên hết.

- Đó mới là một nguyên nhân. Nguyên nhân kỹ thuật. Ý tôi muốn nói đến nguyên nhân khác. Nguyên nhân tình cảm.

- Nói một cách trắng trợn, Nguyên Hương hờ hững vì không còn yêu tôi tha thiết nữa.

- Nàng không thể yêu anh tha thiết thì đúng hơn. Có lẽ anh sống xa Sàigòn đã lâu nên không biết là một sĩ quan cao cấp muốn cưới nàng làm vợ.

- Hừ, chắc lại bọn sĩ quan mũi lõ, da trắng đa tình và lố bịch thường vào căn phòng của Nguyên Hương với tư cách liên lạc viên C.I.A. và MI-6 !

- Không phải. Hắn là sĩ quan mũi tẹt, da vàng, sinh ra đã quen ăn rau muống và giá sống như anh và tôi. Đúng ra, hắn không đến nỗi tẹt mũi và da vàng củ nghệ đâu. Hắn có bộ mã đẹp trai kinh khủng, đàn bà con gái gặp hắn là tay chân rụng rời. Kể ra, hắn không thua anh. Một số người đẹp lại thích hắn hơn anh vì tướng mạo của hắn hiền lành, chứ không oai vệ và nhiều khi dữ tợn như anh. Vừa đẹp trai, hắn lại vừa có địa vị trong xã hội nữa. Chuẩn tướng, cử nhân luật, khôi ngô, võ nghệ giỏi, con nhà giàu ruộng cò bay thẳng cánh, lịch thiệp với mọi người, với một trong 6 điều kiện ấy, thanh niên ngày nay đã có thể lấy vợ dễ dàng, huống hồ anh chàng lại có cả 6.

Văn Bình thở dài :

- Nguyên Hương bằng lòng rồi hả anh ?

Lê Diệp, giọng trầm ngâm :

- Chuyện mới xảy ra cách đây hai tuần nên tôi chưa biết rõ. Anh chàng gặp Nguyên Hương trong một cuộc tiếp tân, rồi bỏ ăn bỏ ngủ, thân thể võ vàng vì ốm tương tư. Nhờ một người bạn quen, anh chàng ngỏ lời với ông Hoàng.

- Hừ, ông Hoàng là tổng giám đốc, không phải là cha ruột của nàng. Dẫu là cha ruột nữa, cũng không được quyền định đoạt. Thời đại cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy đã qua từ lâu rồi.

- Dĩ nhiên, ông Hoàng đã trả lời với người mối là nên hỏi thẳng Nguyên Hương. Trước ngày tôi đi, tôi được tin là Nguyên Hương có vẻ chấp thuận.

- Nguyên Hương tệ thật !

- Tiên trách kỷ, hậu tránh nhân mới là thái độ quân tử. Nguyên Hương yêu anh từ nhiều năm nay. Anh chị em trong Sở đều mong muốn hai người thành vợ, thành chồng. Chính nàng cũng nhiều lần thú nhận với anh. Vậy mà anh vẫn tảng lờ, viện cớ công việc này nọ. Trong khi ấy, anh tằng tịu với hàng chục cô gái khác, và tệ hơn nữa là có con với Quỳnh Loan. Anh mới là kẻ tệ bạc. Còn Nguyên Hương chỉ là nạn nhân.

Văn Bình bâng khuâng nhìn qua kính chắn gió xe hơi :

- Anh nói đúng. Tôi mới là kẻ tệ bạc. Tuy nhiên, chỉ đúng một phần mà thôi. Vì tôi vẫn yêu nàng hơn ai hết. Dầu sao nàng cũng đã lớn tuổi. Mấy tháng nữa, nàng đã 30. Con gái Việt 30 không thể chờ đợi được mãi. Chừng nào về Sàigòn, anh nói giùm với Nguyên Hương là tôi cầu chúc cho nàng hạnh phúc.

- Vâng, tôi sẽ nói.

Xe hơi bắt đầu leo giốc. Lê Diệp chỉ hàng rào gỗ sơn trắng chạy dài phía trước :

- Đó là biệt thự của Như Hồng. Nàng đang đợi anh. Sáng mai, tôi sẽ trở lại đón anh.

Tòa biệt thự hai tầng quét vôi trắng xóa nằm ngoan ngoãn giữa một vườn cây xanh rì, xum xuê. Kiểu nhà đồ sộ này được người Anh xây cất dưới thời đô hộ cho viên chức cao cấp thuộc địa, bên trong đầy đủ tiện nghi. Đêm nay, chàng sẽ được hưởng hạnh phúc thần tiên bên cạnh Như Hồng trong tòa nhà đầy thơ và mộng….

Đột nhiên, Văn Bình đặt bàn tay lên vô-lăng :

- Phiền anh lái vào bên đường. Tôi có chuyện cần nói….

Lê Diệp nhún vai :

- Chuyện gì ?

- Nguyên Hương. Nàng đã nhận lời chưa anh ?

- Anh chóng quên quá. Tôi đã nói hai lần rồi và lần thứ hai cách đây một phút. Tôi chưa giáp mặt nàng để hỏi đầu đuôi, nhưng theo lời Thu Thu thì dường như Nguyên Hương đã ưng thuận.

- Thu Thu nói với anh ?

- Phải, Thu Thu. Tôi gặp nàng trong thương xá Tax, hỏi nàng đi đâu, nàng đáp là đi mua đồ mừng. Tôi đề nghị nên mua cái máy vô tuyến truyền hình xách tay, chạy pin, Thu Thu bằng lòng ngay.

- Thu Thu đã mua máy chưa ?

- Tôi không biết. Có lẽ là chưa. À, anh bâng khuâng về những chi tiết vụn vặt này làm gì nhỉ ?

- Vì tôi sợ Thu Thu tốn tiền vô ích. Tôi không tin là Nguyên Hương nhận lời. Còn anh, anh tin hay không tin ?

- Khổ quá ! Anh đặt những câu hỏi lẩm cẩm thì thánh cũng không trả lời nổi, huống hồ là tôi.

Văn Bình ném điếu Salem cháy dở qua cửa xe, giọng mơ màng :

- Tôi tin chắc là Nguyên Hương từ chối. Nàng đã thề thốt với tôi là không lấy ai.

- Nghĩa là nàng chỉ lấy anh ?

- Phải.

- Anh là người tốt số. Nhưng bây giờ đã đến giờ rồi. Như Hồng đang chờ trong biệt thự.

- Tôi van anh, anh đừng nhắc đến Như Hồng nữa.

- Vậy anh muốn tôi nhắc đến ai ?

- Anh đừng nhắc đến ai hết. Phút này, tôi chỉ muốn được bình yên. Như Hồng đã có chồng. Là người đàn ông tự trọng, tôi không thể phá rối hạnh phúc của nàng. Nàng hứa sum vầy một đêm với tôi nhưng sợ đến mai nàng sẽ giữ riết không cho tôi đi nữa. Rồi nàng sẽ ly hôn. Hoặc nàng nổi liều, bỏ chồng mà theo tôi. Vả lại đang còn Như Luyến đang thất tình trong nhà tu kín… Thôi thôi, tôi đã phạm quá nhiều tội ác. Nếu anh thương tôi, xin anh quay lại phi trường.

- Anh không gặp Như Hồng nữa ?

- Không.

- Anh không sợ nàng tự tử ư ?

- Nàng viết trong thư là trong vòng nửa năm nếu tôi không lên tiếng thì mới quyên sinh. Tới Ngưỡng Quang, tôi sẽ viết thư khuyên giải nàng, và chắc nàng sẽ nghe lời tôi.

Lê Diệp cười tủm tỉm quay đầu xe về Calcutta. Văn Bình hỏi bạn :

- Có chuyến bay nào đi Ngưỡng Quang nội ngày nay không ?

Lê Diệp gài số 2 phóng xuống dốc :

- Có. Chuyến cuối cùng cất cánh trong vòng nửa giờ nữa. Từ đây về phi trường chỉ mất 20 đến 25 phút, tôi hy vọng là kịp.

Văn Bình thúc giục :

- Mau lên anh. Tôi không muốn lưu lại Calcutta một phút nào nữa. Anh đã hiểu rõ tại sao.

Lê Diệp không đáp, cúi rạp xuống vô-lăng. Chiếc Sunbeam nhỏ bé nuốt đường thần tốc không kém xe đua hữu hạng. Hai người tới trường bay thì chuyến phi cơ đi Ngưỡng Quang của công ty Hồi quốc sửa soạn đóng cửa. Văn Bình chỉ kịp trình giấy, lấy vé, băng ra phi đạo bê-tông là con chim sắt đã dứt khỏi thảm xi-măng mầu xám. Suýt nữa chàng đã ngã vào vòng cô chiêu tiếp viên Hồi mũi cao, da ngăm ngăm, mắt xanh biếc, bộ ngực khiêu khích nguyên tử.

Đến khi yên vị trong phi cơ, và thành phố Calcutta đã chìm trong sương chiều, Văn Bình mới thở phào ra, sung sướng :

- Thật may !

May cho ai ? Chắc là may cho chàng. Vì nhờ Lê Diệp kể chuyện Nguyên Hương rục rịch hứa hôn, Văn Bình mới khám pha mối tình sâu xa giữa chàng và cô bí thư trung thành của ông tổng giám đốc, và nhận thấy chàng đã bắt cá quá nhiều tay trên tình trường. Đêm nay Như Hồng sẽ trằn trọc trong phòng vắng, bên cái gối trơn ướt sũng nước mắt. Nhưng rồi nàng sẽ hiểu chàng hơn. Nàng sẽ hiểu là chàng không thể bỏ quên Như Luyến, cô ruột của nàng một cách tàn nhẫn. Nàng là hoa có chủ, Văn Bình cũng là hoa có chủ….

Nghĩ đến đó, Văn Bình phì cười. Chàng lẩm bẩm một mình :

- Hoa có chủ là từ ngữ dành cho đàn bà… Đực rựa phải dùng tiếng khác mới đúng. Nhưng thôi, mình không phải là nhà văn, hơi đâu mệt óc vô ích… Mình sẽ ráng tìm khuây trong những ngày ở Diến-Điện…

Khi ấy Lê Diệp đang ngồi thoải mái trước ly nước ngọt - vì anh chàng sếu vườn là tử thù của rượu huýt-ky - trong đại khách sạn Grand Hotel ở đường Choringhee.

Chàng áp ông điện thoại vào tai. Cuối đường dây là tiếng nói của Như Hồng, nửa hốt hoảng, nửa hờn trách :

- Tại sao Văn Bình chưa đến ?

Lê Diệp đặt ly coca cola đã cạn xuống bàn :

- Tôi không hiểu nguyên nhân.

- Anh có ra phi trường đón không ?

- Có. Tôi vừa về khách sạn xong. Định tới gặp cô nhưng trong người bị mệt, có lẽ vì say nắng. Nắng Ấn-Độ thật kinh khủng… nể cô lắm, nếu không tôi ở lì trong phòng.

- Vâng, cám ơn anh. Văn Bình không có mặt trên chuyến phi cơ Téhéran ư ?

- Có mà không.

- Trời ơi, tim tôi sắp đứng rồi. Đã có thì còn không sao được.

- Tôi không đùa đâu cô ạ. Sự hò hẹn giữa hai người yêu nhau, nhớ nhau, không phải là chuyện đùa, tôi không phải là người thích đùa….

- Phiền anh đi thẳng vào vấn đề, tôi không còn đủ bình tĩnh và can đảm để….

- Vâng, tôi xin nói vắn tắt… Tính tôi vốn ưa dài dòng, xin cô tha lỗi. Tôi nói "không" vì tôi chờ mỏi chân mà không thấy Văn Bình xuất hiện. Tôi nói "có" vì sau khi phi cơ cất cánh đi Vọng-các, tôi hỏi văn phòng công ty hàng không thì được biết là Văn Bình có mặt trong số hành khách rờu Téhéran.

- Trời ơi ! Anh Văn Bình đã bỏ tôi. Vậy tôi còn sống làm gì nữa.

- Hừ, đàn bà nhẹ dạ quá ! Văn Bình không thể là hạng đàn ông vô tình. Đối với hắn thì về Calcutta với cô còn hơn là chết đi được sống lại nữa kia. Theo tôi, có lẽ hắn phải đi thẳng vì công vụ.

- Công vụ ?

- Vâng, nghề chúng tôi bỏ ngủ, bỏ hẹn là thường. Có một nhân viên cưới vợ hồi chiều, đang chuẩn bị động phòng hoa chúc thì ông cụ cho người đến gọi, và hắn phải trèo lên chuyến máy bay đầu tiên. Báo hại, lễ tơ hồng phải hoãn một năm.

- Ông cụ là người tàn nhẫn, không tim. Tôi không thích hợp tác với đàn ông không tim. Phiền anh về trình lại là tôi rút tên ra khỏi Tổ Chức. Tôi rút tên, anh nghe rõ chưa ?

- Chết, chết, rút tên sao được, hả cô ? Thiết tưởng cô nên bắt chước Văn Bình. Hắn nóng như Trương Phi mà nhiều khi phải lỡ hẹn với người đẹp cũng chỉ dám cười trừ, huống hồ….

- Văn Bình hư đến thế ư ?

- Ồ, cô nặng lời quá ! Hắn vốn là con bướm đệ nhất lãng mạn của Sở.

- Nhưng từ ngày gặp tôi, Văn Bình đã thay đổi tính tình.

- Tôi không tin. Đến chết, hắn vẫn chưa hết bệnh nhăng nhít. Có lẽ xuống đến âm phủ hắn sẽ bị Diêm Vương đuổi lên trần về tội gạ gẫm người đẹp dưới ấy.

- Trong vòng nửa năm nay, anh đã nghe vụ nào liên quan đến Văn Bình không ?

- Ôi chào, viết thành cuốn tự điển cũng chưa hết. Một tháng trước, hắn tằng tịu với một cô gái thuộc giòng tôn thất ở Ba Tư, ông cụ phải cử Triệu Dung tới.

- Việc riêng của người ta, ông cụ can thiệp sao được ?

- Hừ, việc riêng ! Nàng là em họ của bà hoàng. Văn Bình có nhiệm vụ gặp nàng để thảo luận về kế hoạch bảo vệ kho tàng của vua Ba Tư, nổi tiếng là quý báu nhất thế giới. Nàng đã có chồng làm tổng giám đốc công an. Rớ vào nàng thì mất xác. Không những thế, mối liên hệ giữa Sở và công an Ba Tư còn bị thương tổn trầm trọng nữa.

- Nàng đẹp không anh ?

- Đẹp.

- Hừ, anh ấy long trọng cam kết với tôi là không tơ tưởng đến ai, ngoài tôi. Ngờ đâu, anh ấy lại đa mang người khác. Như vậy càng dễ cho tôi. Nhờ anh, tôi đã trút bỏ được mặc cảm. Mai kia, nếu anh gặp Văn Bình, phiền anh nói lại là tôi đã tới một quyết định dứt khoát : trở về với chồng tôi.

- Vâng, vâng….

Lê Diệp nghe cụp một tiếng nhẹ trong điện thoại. Như Hồng đã cắt.

Chàng rút trong ngăn kéo bàn ra một xấp giấy trắng, rồi hí hoáy viết. Đó là bản thảo bức điện mật mã gửi về Sàigòn qua hệ thống bưu điện. Bức điện gồm toàn danh từ thương mãi, nhằm mục đích hỏi giá và sửa soạn đặt hàng.

Sự thật, nó có nghĩa như sau :

"Gửi Nguyên Hương,

"Yêu cầu cô trình lên ông tổng giám đốc là kế hoạch ly gián đã thành tựu tốt đẹp ngoài ý muốn. Văn Bình đã đáp máy bay đi thẳngNgưỡng Quang, không lưu lại Calcutta thăm Như Hồng như đã hẹn trước. Về phần Như Hồng, nàng đã dứt khoát với Văn Bình."

Lê Diệp bấm chuông gọi bồi. Trong vòng 15 phút, bức điện sẽ được chuyển tới sở giây thép. Trong vòng một giờ đồng hồ, nó sẽ đến công ty Điện Tử tại đại lộ Nguyễn Huệ.

Công tác của chàng tại Calcutta đã hoàn tất. Từ nhiều năm nay, ông Hoàng chỉ sai chàng làm những việc bạc bẽo. Trong quá khứ, mỗi lần phá đám cuộc vui của Văn Bình, chàng đều hối hận. Nhưng lần này, chàng lại hân hoan. Vì ít ra chàng đã có thể cứu được hai người đàn bà đau khổ là cô và cháu ruột. Như Luyến và Như Hồng cùng yêu một người đàn ông trong mối tình ngang trái. Và đặc biệt là giúp Văn Bình thoát khỏi tội lỗi.

Lê Diệp vui vẻ huýt sáo miệng. Tuy bản tính nghiêm nghị, chàng lại huýt sáo một bài ca bít-tơn ồn ào.

Nội đêm nay, chàng sẽ có mặt ở Sàigòn.

oOo

Xế chiều, Văn Bình tới Ngưỡng Quang. Đây không phải lần đầu sau đại chiến chàng ghé thủ đô Diến, nhưng là lần đầu chàng đáp phi cơ từ Calcutta tới. Những lần trước chàng đều dùng phi cơ PAA bay từ Vọng-các lên phía Tây-Bắc. Sau gần 2 giờ bay, qua những núi đồi xanh rì, những hẻm núi đầy sương mù là đến bình nguyên Diến rộng mênh mông.

Trời chiều ẩm ướt và nóng bức làm Văn Bình mệt mỏi. Phi cảng vẫn không thay đổi bao nhiêu, với phòng ăn thưa thớt, với thủ tục quan thuế và cảnh sát quá chặt chẽ, chặt chẽ đến nỗi chàng đã quen thuộc mà vẫn bực mình. Diến-Điện vốn là một xứ huyền bí. Dầu cù-là nổi tiếng nhất thế giới đã phát xuất từ Diến. Người ta kể lại rằng thầy pháp và thầy ngãi Diến luyện được bùa yêu linh nghiệm độc nhất vô nhị. Dưới chế độ mới, Diến đã huyền bí lại huyền bí thêm lên vì số ngoại kiều nhập cảnh bị hạn chế tới mức tối đa, ký giả không được cấp chiếu khán đã đành, cả đến du khách cũng bị từ chối thẳng tay nữa.

Quang cảnh thành phố vẫn như xưa, ngoại trừ những tàn phá do bom đạn Nhật gây ra trong thế chiến được tái thiết. Văn Bình nhún vai khi thấy cái tháp vàng chóe của chùa Shwedagon cao hơn cả những tòa nhà cao nhất thành phố, trên đỉnh là cái tán tròn bằng vàng khối lóng lánh dưới ánh hoàng hôn.

Nhân viên quan thuế quan sát chàng từ đầu xuống chân, và hỏi bằng tiếng Anh :

- Ông là người Nam Việt ?

Dĩ nhiên. Vì tên tuổi, quốc tịch của chàng được ghi rõ trong thông hành. Nếu không đúng, thì chỉ có tên chàng là không đúng. Chàng gật đầu, giọng hiền lành :

- Phải.

- Ông đã đến Diến lần nào chưa ?

- Chưa.

- Vậy ông phải tới đăng ký tại sở Di Trú Ngoại Kiều, số 53 đường Barr, và nộp 3 tấm hình căn cước.

Chàng đáp lại bằng nụ cười biết ơn. Có lần chàng đến Vạn Tượng, chàng đã phải nộp 6 tấm ảnh. Té ra quan thuế và công an Diến không quá nghiệt ngã như chàng tưởng !

Chàng cúi xuống xách va-li lên. Nhân viên Diến gọi giật lại :

- À, còn vấn đề ngoại tệ… Yêu cầu ông mang đô-la ra ngân hàng đổi lấy tiền kyatt.

Chàng đáp :

- Vâng. Cám ơn ông.

Ra đến ngoài, chàng vẫy một chiếc díp tắc-xi. Chàng đã đánh điện giữ phòng tại lữ quán Stran-Hotel, tuy vậy trên đường từ phi trường vào trung tâm thành phố, chàng dặn tài xế chạy vòng để ngoạn cảnh. Công viên Dalhousie, hồ Quốc Vương, vườn bách thảo và khu dân cư quây quần quanh hồ Victoria, đối với Văn Bình đã nhuộm vẻ thân mật dường như đón tiếp một đứa con quê hương.

Thật ra, suýt chút nữa chàng đã chọn Diến-Điện làm quê ngoại.

Ký ức xa xưa trở lại rồn rập trong trí chàng. Hồi ấy, chàng tới Ngưỡng Quang để điều tra một vụ đặc biệt trong tòa Tổng lãnh sự. Như thường lệ, buổi chiều chàng thả bộ một mình trên bờ sông giữa những xưởng cưa máy khổng lồ và những đống gỗ tếch chạy ngang chạy dài như không bao giờ hết. Diến là xứ gỗ tếch. Mùi mạt cưa gỗ tếch không làm người ngửi lộn mửa mà lại tạo ra cảm giác say say.

Đến một quãng đường vắng, chàng giật mình đứng lại. Một tiếng kêu cứu vừa được cất lên.

Sau đống gỗ lớn, ba gã đàn ông lực lưỡng mặt mày dữ tợn, cánh tay xâm hình rắn xanh lè, đang áp đảo một thiếu nữ. Một tên bịt miệng nàng song nàng vùng ra được và kêu cứu. Tên thứ hai tát nàng ngã chúi.

Nàng được cứu thoát vì tiếng kêu cứu của nàng lọt vào tai Văn Bình. Nếu không có tiếng kêu duy nhất ấy, và nếu Văn Bình không lang thang trên bờ sông Hliang hôm ấy, nàng đã bị bọn cướp làm nhục. Nàng là con gái rượu của một triệu phú chủ nhiều hãng cưa. Bọn cướp lừa bắt cóc nàng để bắt phụ thân nàng chuộc tiền. Trước đó, một thiếu nữ đã bị bọn cướp này bắt cóc. Sau khi nhận đủ tiền chuộc, chúng thả nàng về, nhưng không quên cưỡng hiếp tàn bạo. Kết quả là nàng mất trí.

Văn Bình chỉ cần trổ tài tả xung, hữu đột trong vòng một phút là ba tên cướp Diến. Cả ba đều tấn công chàng bằng dao quắm - loại dao quắm nhọn hoắt, bản sắc như nước của vùng rừng rậm Đông Bắc - nhưng mỗi tên chỉ đâm được một nhát vào không khí rồi bị Văn Bình tước dao và quật ngã dễ dàng.

Từ cuộc gặp gỡ tình cờ, hai người trở thành bạn thân. Thân đến nỗi nàng chia môi mời chàng hôn mặc dầu gái Diến bảo cựu không kém gái Việt-Nam. Nàng đưa chàng về thăm quê ở Mandalay ở miền Nam, một thành phố thuần túy Đông phương, với tàn tích hoàng cung cổ kính, với những hồ nước trầm mặc mọc đầy hoa huệ trắng tinh, cũng trắng tinh như mối tình đầu của giai nhân đất Diến.

Hai người chiêm bái chùa Arakan, một ngôi chùa nổi tiếng, với bốn cửa ra vào đồ sộ, và tượng Phật khổng lồ sơn son thếp vàng, từ vai trở xuống là một khối vàng diệp chồng chận lên nhau do thấp phương cúng dường qua nhiều thế kỷ. Trong bầu không khí khó thở vì hương trầm và đèn cầy, rì rầm tiếng cầu kinh, Văn Bình quên bẵng cuộc sống bụi bậm trên trái đất, và tưởng như đang cùng nàng bay lên thượng giới, kết ngãi ngàn năm.

Nàng nắm tay chàng, trèo bực thang dài lên đỉnh đồi Mandalay, trên chóp chễm chệ một ngôi chùa. Chùa, chùa, đâu cũng thấy chùa. Trên đỉnh nhìn xuống là thị trấn Mandalay huyền ảo, rải rác hàng trăm, hằng ngàn ngôi chùa, màu vàng và màu trắng nổi bật trên thung lũng nhuộm màu xanh mát mắt. Về phía Đông là cao nguyên Shan vòi vọi trong sương mù lóe nắng. Về hướng Tây là giòng sông Irrawaddy rộng mênh mông, nước cuốn sôi như biển.

Đêm ấy, hai người ngủ thiếp trong căn nhà cheo leo bên bờ suối trắng. Sáng hôm sau, nàng dựa đầu vào vai chàng trên xe về Sagaing, cách thị trấn 30 cây số về phía Đông-Nam.

Văn Bình đã đi nhiều, song chưa thấy nơi nào làm chàng gần gủi thiên nhiên, xa vời tục lụy, và tận hưởng tình yêu nam nữ bằng Sagaing. Xe chở hai người không phải là xe hơi mà là xe trâu kéo, từ từ giữa hai hàng cây cao ngất, tỏa bóng xum xuê, trên con đường đất đỏ ngoẳn ngoèo. Trời xanh, không một gợn mây. Tứ phía yên tĩnh lạ lùng. Ngoài tiếng lóc cóc của bánh xe bằng gỗ nện xuống đường, Văn Bình chẳng nghe thấy âm thanh nào nữa. Chàng có cảm tưởng kỳ diệu là nghe thấy tiếng tim đập nhịp nhàng trong ngực nàng, bộ ngực ngà ngọc, và cứng nhọn mà nàng dâng hiến trọn vẹn cho chàng đêm trước, giữa rừng kè đồng lõa.

Xe trâu tiến vào rừng kè thấp lè tè. Quang cảnh trước mặt hoàn toàn đổi khác, như một đoạn phim xi-nê bất ngờ. Hàng chục nóc chùa tròn trịa vàng trắng nhô lên dưới nắng hiền dịu. Và chính giữa là nóc chùa cao nhất trắng phau như tuyết. Văn Bình đứng sững như bị điện giật. Chàng nảy ra ham muốn lạ lùng có thể chạy nhanh đến nơi, và trèo lên nóc, tự tay mân mê những đường tròn gợi cảm. Song dường như một mãnh lực huyền bí giữ chân chàng lại.

Cô gái Diến mỉm cười :

- Nóc chùa cân đối và xinh đẹp lắm phải không anh ?

"Cân đối" và "xinh đẹp" là tỉnh từ thường dùng đối với đàn bà. Nhưng Văn Bình không kịp nhận ra chi tiết tế nhị ấy. Cô gái chỉ nóc chùa và cắt nghĩa :

- Đây là chùa Kaungmudaw phaya được xây cất trong thế kỷ 17. Kiến trúc của chùa là một huyền sử. Em nghe nhiều người kể lại, thoạt đầu không tin, nhưng bây giờ... sau khi nhận thấy tia sáng rực rỡ trong mắt anh, em bắt đầu tin.

- Lạ thật. Mắt anh có tia sáng ư ? Có lẽ vì anh thấy ngôi đền quá đẹp….

- Tùy theo tính tình, mỗi người có một phản ứng khác nhau trước sắc đẹp. Có người trầm trồ khen ngợi. Có người đứng lặng, và thưởng thức bằng mắt. Qua luồn mắt, em biết nội tâm anh đang xao xuyến mạnh mẽ. Đàn ông xao xuyến mạnh mẽ trước đàn bà đẹp, phải không anh ?

- Phải. Nhưng nóc chùa này có liên hệ gì với đàn bà đẹp chứ ?

- Có chứ ! Theo truyền thuyết, vua xứ Sagaing ra lệnh cất cảnh cùa này, công việc đào móng, đắp nền vừa hoàn tất thì nhà vua băng hà đột ngột. Trước khi nhắm mắt, nhà vua trối lại là các quan nên tiếp tục công cuộc xây cất. Tuy nhiên, triều đình rất bối rối vì nhà vua không phán rõ nên xây cất theo kiểu nào, họa đồ kiến trúc lại không có. Một ngày kia, quần thần đang họp để bàn bạc thì một thôn nữ trẻ đẹp đi qua, trên đầu để lu nước.

Nàng vừa từ giếng trở về, và sau khi tắm mát, nàng quấn phía trên cơ thể bằng cái tamein dài lòng thòng qua vai. Gót sen thoăn thoắt bước qua, quần thần đều tắc tỏm khen đẹp. Trước nhỡn tuyến soi mói của triều đình, nàng đỏ mặt xấu hổ và vội vàng sửa lại tamein cho ngay ngắn. Lu nước trên đầu quá nặng, nàng lại bước rảo nên chiếc tamein mỏng mảnh bất ngờ tuột khỏi vai, để lộ trái lê mơn mởn như đượm sương sớm. Không ai bảo ai, quần thần đều lặng lẽ nhìn nhau. Tình cờ họ tìm ra một lối kiến trúc thiên nhiên vô cùng cân đối và xinh đẹp. Và toàn thể đã đồng ý. Đồng ý xây nóc chùa hình tròn và quét vôi trắng…

Nói đoạn, cô gái ngồi im, bứt đóa hoa trắng, đưa lên miệng cắn. Say sưa, Văn Bình nhìn vào ngực nàng. Có lẽ nàng là hâu thân của cô thôn nữ đội lu nước bị rơi tamein trong thế kỷ 17.

Trong giây phút thần tiên ấy, nàng nhắm mắt ngã vào lòng chàng, miệng thì thào :

- Anh ơi, em yêu anh nhất đời. Anh ở lại đừng đi đâu nữa nhé.

Văn Bình đã ở lại.

Nhưng định mạng thê thảm không cho hai người đoàn tụ bên nhau. Một tuần sau, nàng ra sông tắm và bị chết chìm. Xác nàng bị nước cuốn về phía Nam, đến khu rừng kề gần chùa mái tròn trắng xóa thì tấp vào bờ.

Như người điên, Văn Bình ngồi từ sáng đến tối trước chùa Kaungmudaw phaya để ngắm nóc chùa kỳ lạ. Rồi chàng ra đi…

Hôm nay, sau bao nhiêu năm tháng hải hồ, Văn Bình đã quay lại Diến-Điện huyền bí.

- Thưa ông, về đâu.

Văn Bình choàng tỉnh mộng. Ánh nắng gay gắt ban ngày sắp tắt nên đường xá bắt đầu đông đúc. Trên những đại lộ trồng cây cao vút hai bên với những công thự nguy nga, xe cộ đủ kiểu, đủ màu nối đuôi nhau, xích-lô, xe buýt và xe nhà nhỏ xíu do Pháp chế tạo.

Chàng ra lệnh cho tài xế :

- Khách sạn Strand.

Tuy là lữ quán thượng lưu, Strand Hotel còn phải ganh đua mỏi chân mới theo kịp kỹ nghệ khách sạn ở Sàigòn. Phòng của chàng thuộc hạng đắt tiền mà không có máy điều hòa khí hậu. Chàng lấy làm an ủi vì bên cạnh có buồng tắm hoa sen riêng. Tuy nhiên, chàng hơi nhăn mặt vì cái quạt trần cánh gỗ không chịu chuyển động mặc dầu chàng đã vặn lên, vặn xuống nhiều lần.

Bên ngoài, sức nóng đã giảm bớt. Làn nước mát chảy đầm đìa da thịt làm chàng dễ chịu. Chàng mở va-li chọn một bộ đồ nhẹ.

Việc đầu tiên của chàng sau khi tắm rửa, và thay áo là xem xét mọi ngõ ngách trong phòng. Mỗi khi trú ngụ tại khách sạn lạ, nhất là ở ngoại quốc trong thời gian công tác, chàng đều cẩn thận xem xét giường nệm, bàn tủ để tìm dụng cụ ghi âm. Kỷ thuật nghe trộm quốc tế đã lên tới mức tinh vi nên chàng phải mất 30 phút mới khám phá ra ba cái loa tròn bằng đồng xu, dày nửa ngón tay, giấu dưới giường, trong ô kéo bàn viết, và sau tủ treo quần áo. Đó là loại khuếch âm điện tử, không giây nói, có khả năng truyền mọi tiếng động trong phòng ra ngoài, và được thâu vào băng nhựa trong đường kính tối đa là 50 thước.

Như vậy nghĩa là thiên hạ đã biết chàng đến Ngưỡng Quang. Và thiên hạ ở đây phải là người có một tổ chức điệp báo khoa học, đầy đủ phương tiện điện tử tối tân.

Chàng nhún vai tự thưởng một ly huýt-ky xếch. Ngay khi ấy, điện thoại trên bàn reo vang. Chàng cầm lên nghe.

- Môhan ?

Môhan là tên giả của Văn Bình. Lần này chàng đội lốt một nhà doanh nghiệp Hồi giáo. Chàng đáp :

- Phải, chính tôi.

- Hân hạnh được nghe tiếng anh. Tôi là Roy, ở tòa đại sứ Anh. Được tin anh tới, tôi sửa soạn đi đón nhưng phút chót phải ở lại vì công vụ. Hẳn anh đã biết về phương diện chính thức tôi là tùy viên thương mãi. Còn công việc… kia, tôi phải giữ kín. Ở đây, trừ một số rất ít, không ai biết tôi là đại diện MI-6.

- Trời đất, thành phố Ngưỡng Quang không phải là Luân-Đôn, xin anh nhớ cho. Ngay ở Luân-Đôn mà nhiều khi chúng ta cũng phải kín miệng nữa là….

- Xin anh tha lỗi….

- Hừ, tôi báo anh biết là trong phòng tôi có máy ghi âm lén lút.

- Ô, anh đừng ngại. Diến-Điện là ngã tư điệp báo Viễn Đông, nhưng gián điệp ngoại quốc chưa có đủ bản lãnh và dụng cụ để gài máy bí mật trong khách sạn Strand. Hầu hết nhân viên khách sạn đều có liên lạc xa gần với Phản Gián. Chắc anh đã biết giám đốc Phản Gián là Karati, đại tá Karati. Karati là bồ bịch của chúng mình.

- Khi nào gặp Karati, phiền anh nói thẳng với hắn là tôi không thích cái trò chơi con nít ấy. Hắn phải cho đàn em đến phòng tôi gỡ hết của nợ ấy đi, nếu không….

Chàng phàn nàn với Roy, nhưng kỳ thật là cho đại tá Karati nghe. Trong vài phút nữa, tên nhân viên Phản Gián túc trực ở phòng bên chắc phải cuống cuồng gọi điện thoại về cho xếp.

Giọng tùy viên thương mãi Roy vẫn tiếp tục đều đều, mỗi lúc một hớ hênh :

- Anh đến giúp một tay làm tôi mừng rơn. Tình hình đen tối lắm, anh ạ. Bọn F-22 bành trướng hoạt động một cách kinh khủng. Tổng hành doanh của họ ở phía Bắc, tuy là tiểu bang tự trị nhưng gần như tách khỏi chính phủ trung ương. Họ tiếp tế binh sĩ, súng đạn dễ dàng từ Vân-Nam xuống. Bên cạnh họ lại là mấy tỉnh Bắc Lào hoàn toàn do cộng quân trấn giữ….

- Tôi đã bảo mà anh không nghe. Gặp tôi, anh nói không được hay sao ? Nếu anh không tốp bớt, tôi sợ cả anh và tôi sẽ bị mất xác. Riêng tôi, tôi chưa muốn chết.

- Xin lỗi anh lần nữa. Vì từ lâu tôi sống trong tình trạng căng thẳng, không dám thổ lộ với ai nên nay gặp anh tôi quên cả giữ gìn. Vả lại, đại tá Karati nghe được cũng chẳng sao. Còn có lợi cho mình nữa là khác. Bây giờ tôi xin bố trí cho anh giáp mặt cô vợ của Seng Ho.

- Vêra ?

- Vâng. Vêra. Nàng yêu cầu được tiếp xúc với anh càng sớm càng tốt.

- Nàng biết tôi đến ?

- Vâng.

- Anh phải là nhà quán quân về nghệ thuật quảng cáo.

- Anh đừng nặng lời với tôi, tội nghiệp. Trung ương MI-6 ra lệnh cho tôi thông báo cho nàng. Với gia tài khổng lồ của cha để lại, nàng có thể mua được cả nước Diến-Điện này nên MI-6 không thể làm nàng phật ý.

- Tôi không phải là nhân viên MI-6.

- Vâng, tôi biết anh là đặc phái viên C.I.A. MI-6 ra lệnh cho tôi hoạt động với anh, hợp tác chặt chẽ với anh.

Văn Bình giận xanh mặt. Gã tùy viên Anh vẫn không chừa được cái bệnh ba hoa nguy hại. Chắc chẳng bao lâu nữa, toàn thể Ngưỡng Quang sẽ biết chàng là đặc phái viên C.I.A.. Chàng bèn dằn giọng :

- Theo chỉ thị, không những anh phải hợp tác chặt chẽ với tôi, mà anh còn phải tuân theo mệnh lệnh của tôi nữa. Anh nhớ chưa ? Từ nay trở đi, tôi là người chỉ huy, nhất cử nhất động của anh phải được báo cáo tường tận. Nếu anh phản đối, anh nên đáp chuyến phi cơ sớm nhất về Luân-Đôn.

- Không, tôi đâu dám phản đối. Trong vòng một giờ, tôi sẽ có mặt tại khách sạn, cùng Vêra.

Văn Bình đặt máy xuống giá. Chàng tiến ra cửa sổ nhìn xuống giòng sông đối diện, ở góc đường Strand và Lewis, lẩm bẩm :

- Vêra !

Cũng vào phút ấy, một người đàn ông khác đã gọi tên Vêra, ở cách thủ đô Ngưỡng Quang mấy trăm cây số về phía Bắc, trong rừng rậm Nambum-Ga.

Người đàn ông này là Seng Ho.

Seng không bị thiệt mạng. Hắn vẫn còn sống. Nhưng bị bắt. Đêm tối bắt đầu buông xuống khu rừng rậm rạp. Hắn cảm thấy nhớ Vêra đầu gối, tay ấp của hắn hơn bao giờ hết.

Rừng núi đối với hắn không phải là thế giới xa lạ. Thuở hoa niên, hắn đã đi xuyên rừng từ Ấn-Độ qua Diến-Điện đến Vân-Nam, trongbộ tham mưu đoàn quân ma Chindits dưới quyền tướng Wingate. Hắn nói được thổ ngữ miền Bắc. Hắn đã tổ chức được một màng lưới tình báo đắc lực cho đồng minh trong vùng. Hắn lên đường với hy vọng tràn trề. Hắn không ngờ bị bắt và giam giữ trong cái cũi lớn giữa rừng gỗ tếch âm u đầy mãnh thú.

Seng Ho nín thở lắng tai nghe.

Những âm thanh quen thuộc của sơn lâm trở nên xa lạ đối với hắn. Bồ hôi lạnh chảy đầm đìa khắp người. Seng rùng mình trước tiếng kêu the thé của bầy khỉ vắt vẻo trên cành cây cao ngất. Hơn ai hết, Seng đã biết bọn khỉ này ghét hoa quả và thích thịt người. Đầu trọc, đuôi cụt, lông dài màu hung đỏ, giống khỉ độc giáp biên giới chuyên môn lẻn vào làng xóm để bắt con nít. Lại có bọn khỉ mầy mò đàn bà con gái sau khi ăn uống no nê.

Hồi còn trẻ, Seng không hề biết sợ. Rừng rậm Nambum chứa nhiều bí mật và chết chóc kinh khủng không kém rừng rậm Trung-Mỹ với giống chuột hoang lớn bằng con heo, và con heo lớn bằng con ngựa, với mạng nhện kiên cố như lưới ni-lông đánh cá thu và những bụi cây hổ-ngươi lá xòe rộng như cái tán, chạm vào da thịt người là chụp cứng lại, nạn nhân bị bó chặt như khúc gỗ, sau mấy giờ đồng hồ là tan thành nước, nước ngấm vào thân cây, biến ra hoa. Dân mọi Chavantes, một trong các bộ lạ hung dữ nhất, dùng tên bắn rụng hoa - những bông hoa màu đỏ, đẹp tuyệt vời, na ná như lê dơn Đà Lạt - mang về phơi khô, ngâm vào nước suối thành một thứ thuốc độc lạ lùng. Mùi thơm như rượu dâu, kẻ nào uống lầm sẽ tắt thở trong khoảnh khắc, xương thịt từ từ tan thành nước….

Seng Ho ơn ớn ở sau gáy.

Lần đầu trong đời, hắn sợ. Hắn sợ, có lẽ vì đã quá tứ tuần. Dưới vòm trời Tây, bốn mươi là tuổi bước vào hạnh phúc chín muồi, tuổi sung mãn của tâm hồn và thể xác, tuổi được đàn bà ưa chuộng nhất. Nhưng ở châu Á, tứ tuần là hai phần ba cuộc sống, một chân đã đặt vào cõi chết.

Hắn sợ, vì biết sớm muộn sẽ chết. Không ai rơi vào tay bộ lạc Nambum mà còn sống.

Bàn tay Seng Ho chạm cái gáo dừa đựng nước. Suốt ngày chưa được giọt nước nào và miệng, lẽ ra Seng phải khát. Song nghĩ đến hoa hổ-ngươi ăn thịt người, Seng quên cả khát.

Hắn loạng choạng đứng dậy. Bỗng hắn choáng váng như vừa bị đánh atémi. Hắn sực nhớ ra cái cũi nhốt hắn chỉ lớn gấp hai cái cũi chó, chỉ ngồi hoặc nằm co chân chứ không đứng được, Sang đau điếng vì húc vào thanh tre.

Cái cũi được đóng bằng một loại tre riêng, to bằng ngón chân cái, ruột rỗng rất ít, và có rất nhiều đốt gần nhau. Loại tre này cứng như sắt, dao sắc mà không biết cách chặt thì nó vẫn trơ trơ. Muốn đốn tre, người ta phải đứng xoạc chân, cầm dao khít khao trong tay, nhằm vào khoảng giữa hai đốt, rồi chém vạt xuống. Chém ngang thì dao sẽ dội lại, không đứt. Chém vào đốt thì cũng như chém đá rắn. Dân mọi biên giới dùng loại tre kiên cố này để làm bẫy mãnh thú. Khỏe như beo mà cũi tre vẫn biến thành ngoan ngoãn. Sau một ngày một đêm phá phách vô ích, beo vằn lử cò bợ, nằm co quắp trên sàn cũi, ruồi muỗi đậu trong mắt cũng không còn sức xua đuổi nữa.

Seng Ho bàng hoàng trong giây phút. Hắn sực nhớ chung quanh hắn là rừng tre. Từ Nambum đến biên cảnh Trung Hoa, chỉ thất rặt rừng tre là rừng tre. Seng bị giam ở khu rừng tre nào ? Seng suy nghĩ mà không tìm ra. Hắn cũng không còn nhớ là bị giam ở đây bao lâu nữa.

Vì ở thâm sơn cùng cốc, ý niệm thời gian không còn nữa. Ban ngày cũng như đêm, tất cả đều tối om, ánh nắng mặt trời chỉ đến đỉnh cây cao thì dừng lại. Cây lá dày đặc, nhằng nhịt đến nỗi nhiều khi mưa đổ ào ào mà chỉ rớt xuống lơ thơ. Nền rừng phủ đầy lá chết, lâu ngày mục thối biến thành một lớp bùn đặc biệt. Nhiều chỗ bãi sình sâu lút đầu người, tiều phu bước hụt chân là lọt thỏm xuống mộ phần lầy lụa, không thể nào thoát chết vì càng cựa quậy càng bị chìm sâu, cất tiếng kêu cứu thì thanh âm bị bùn chặn nghẹt, hoặc không ai nghe thấy vì khu rừng tử thần ở xa thôn ấp cả chục cây số ngàn.

Hàng trăm, hàng ngàn lần Seng đã cúi xuống cổ tay trái, theo thói quen của người văn minh. Cái đồng hồ Seiko bằng vàng khối, kim lân tinh, kèm la bàn để định phương hướng, ngâm xuống nước không hư, không còn lóe sáng ở vị trí thân thuộc nữa. Họ đã đoạt mất rồi. Đích thân Vêra đã sắm chiếc Seiko này cho hắn. Hắn đi rừng nên cần kim lân tinh, càn la bàn, và cần loại chịu được nước. Hắn mường tượng lại lúc nàng đeo đồng hồ vào cườm tay hắn, giọng thánh thót :

- Em tin chắc anh sẽ thành công.

Thành công ! Thành công ! Trời ơi, nàng không thể nào ngờ được hắn đã bị bắt, bị nhốt trong cũi tre, trong rừng thẳm, chờ thần Chết mang đi.

Sự sợ hãi đột ngột làm châu thân Seng Ho lạnh toát như cởi trần dưới trời Bắc Cực. Bầy khỉ ma quái lại kêu the thé. Một tiếng gầm làm khu rừng chuyển động. Rồi vạn vật trở lại yên tĩnh, hoàn toàn yên tĩnh, như thể tiếng khỉ kêu the thé, tiếng thú gầm đói ăn kia chỉ là sản phẩm của tưởng tượng.

Seng lẩm bẩm :

- Mình điên chăng ?

Hắn lại lải nhải :

- Có lẽ mình đã chết. Đây là âm phủ, nhà giam dưới âm phủ, không phải là rừng tre biên giới.

Seng choàng dậy lần nữa. Sức lực suy tàn của gã đàn ông cường tráng, gan dạ, bỗng nổi lên ngùn ngụt như một trận lửa siêu phàm đang tới cao độ. Trận lửa nội tại đã mang lại cho Seng một dũng lược mới. Hắn đâm bổ vào vách cũi, vồ lấy thanh tre, cố gắng lay chuyển. Trong giây đồng hồ đầu tiên, hắn tưởng có thể bẻ gãy được cột tre thép.

Nhưng sự thật phũ phàng đã trở lại… Cột tre thép vẫn thẳng băng như được trồng trong khối bê-tông nhồi tọng bằng máy trộn tối tân.

Một lần nữa, Seng phải chịu thua. Thế cùng, lực tận, Seng chỉ còn trông cậy vào tình thương của thượng đế. Và hắn nhớ đến vợ ở Ngưỡng Quang, đang đỏ mắt chờ đợi. Đỏ mắt chờ đợi, mặc dầu nàng không yêu hắn. Trong đêm tối đang buông xuống dần dần, Seng Ho thốt lên tiếng kêu lanh lảnh :

- Vêra, Vêra !
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:02 pm

III
Trái bom sơ kiến


- Vêra !

Văn Bình nhắc đi nhắc lại tên Vêra nhiều lần như thể Vêra là nàng tiên thượng giới ngọc ngà còn chàng là gã Trương Chi thất tình cầu người đẹp ban ơn. Thật ra, chàng mới nghe nói đến cô gái triệu phú này lần đầu. Nàng đẹp hay xấu, chàng cũng không biết. Tuy nhiên, giác quan thứ sáu bảo ngầm chàng rằng Vêra thuộc vào hàng giai nhân. Dầu nàng chưa đến trình độ sắc nước, hương trời thì gia tài 250 triệu đô-la của nàng cũng đáng cho vương tôn công tử thế giới nổ tròng con mắt.

Văn Bình chắt lưỡi :

- 250 triệu đô-la !

Trời đã tối sẫm. Văn Bình nhìn cái quạt máy bất động, và con thạch sùng xanh sám cũng nằm bất động trên trần nhà. Tiếng kèn xe hơi và chuông xích-lô dưới đường vọng lên, buồn tênh. Ngưỡng Quang buổi tối không có thú hấp dẫn du khách như Sàigòn. Chàng nhún vai mở cửa xuống nhà.

Nhưng chàng chỉ bước được một quãng rồi dừng lại. Nhanh nhẹn, chàng vặn quả nắm phòng bên. Dưới ánh đèn vàng ệch, chàng thấy một gã đàn ông da ngăm ngăm, chắc trăm phần trăm là người Diến, đang chúi mũi vào cái máy ghi âm Akai xách tay đặt trên bàn đêm. Hắn ngồi nghiêng nên không nhìn thấy chàng. Điếu xì-gà quấn rối ngất ngưởng trên miệng hắn đã cháy quá nửa, mùi thuốc lá Virginia trồng trong xứ trộn với nhựa a phiến Xieng khouang tỏa ra ngào ngạt.

Văn Bình lại gần, đập vào vai hắn :

- Chào anh bạn.

Gã đàn ông Diến giật bắn người như bị bỏng nước sôi. Hắn nhảy cỡn lên, điếu xì-gà tẩm thuốc phiện suýt nữa rớt xuống cuộn băng nhựa mầu nâu đang quay tròn đều đặn trên cái máy xinh xắn, chỉ nhỏ bằng cuốn tự điển Larousse.

Miệng hắn há rộng như muốn kêu cứu, nhưng đến khi nhận ra chàng, hắn vội nín khe. Văn Bình ung dung đốt thuốc lá Salem, ngửa cổ thở một hơi, rồi hỏi :

- Anh thu được nhiều chuyện thú vị không ?

Mặt tái mét, gã đàn ông Diến lẳng lặng đóng nắp máy ghi âm lại. Văn Bình cúi xuống, gỡ cuộn băng nhựa ra khỏi trục máy. Gã đàn ông lạ giơ tay ra cản. Văn Bình ẩy nhẹ, hắn bị bắn vào tường. Lần này thì điếu xì-gà đắt tiền bị văng xuống đất. Hắn định chụp lấy thì Văn Bình đã dí gót giầy xuống, giọng ngạo nghễ :

- Về bảo chủ cho anh tiền mua điếu khác.

Gã đàn ông Diến ngẩng đầu lên, miệng méo sệch :

- Những 5 kyatt một điếu…. tội nghiệp tôi quá ! [1]

Văn Bình cả cười :

- Anh hút mấy điếu một ngày ?

Mắt hắn sáng quắc như đúa trẻ được cho quà :

- 15 điếu.

- Hừ, một đô-la 3 điếu, 15 điếu là 5 đô-la. Đây, cho anh 100 đô-la tha hồ hút xì-gà tẩm thuốc phiện trong 20 ngày.

- Thưa, tôi không dám nhận.

- Sợ đại tá Karati hả ? Vậy thì thôi. Lát nữa tôi sẽ gọi dây nói phản đối với đại tá Karati. Nếu tôi không lầm, Karati sẽ đổ tội cho anh, và tống cổ anh ra khỏi sở Phản Gián. Anh sẽ thất nghiệp, không đào đâu ra tiền mua thuốc. Số lương nhân viên còm của anh chưa đủ để mua thuốc, anh nhớ chưa ? Chẳng qua anh dựa hơi công vụ để ăn mảnh. Mất việc, anh sẽ chết…

- Vâng, tôi hiểu rồi… Tôi không muốn vụ này lọt vào tai đại tá.

- Đại tá đích thân ra lệnh anh đặt máy ghi âm trong phòng tôi phải không ?

- Phải.

- Thôi được. Tôi cho phép anh tiếp tục. Đồng thời, tôi thưởng tiền cho anh nữa. Miễn hồ anh phải tuân theo lệnh tôi.

- Thưa ông, lệnh gì ?

- Ồ, tôi cũng chưa định sẽ ra lệnh gì nữa. Dầu sao tôi cũng cố gắng giúp đỡ anh… Chỉ thỉnh thoảng tôi mới ra lệnh thôi.

- Tôi nghiện từ nhiều năm nay. Xin ông thương sót tôi.

- Nếu không thương xót tôi đã ném cây thịt lỏng lẽo của anh qua cửa xuống đường Strand Road. Tuy nhiên, trước khi cho tiền và tạm biệt anh, tôi cần nhắc anh một điều quan trọng.

- Thưa, điều gì ạ ?

- Giản dị lắm. Tôi cần nhắc anh là nếu không giữ đúng lời hứa anh sẽ ăn đòn. Một trận đòn đau gấp trăm lần…?

- Thưa, ông định đánh tôi ư ? Tôi xin cam đoan….

- Anh phải nếm thử thì mới nhớ dai được. Không sao đâu, chỉ là đòn tượng trưng giết rồi muỗi…

Văn Bình vung bàn tay trái ra. Gã đàn ông Diến bay lùi về phía cửa sổ. Hắn lồm cồm bò dậy, ôm mặt nhăn nhó, nước mắt, nước mũi chảy dòng dòng.

Văn Bình khoan thai xuống cầu thang. Chàng đinh ninh tầng dưới vắng ngắt như chùa Bà Đanh. Khí hậu oi bức, ẩm ướt thất thường, chính sách kiểm soát nghiệt ngã đối với ngoại kiều đã làm cho du khách ngần ngại trước khi tới Diến-Điện. Cho nên Văn Bình đã ngạc nhiên trước quang cảnh đông đúc và náo nhiệt. Phần đông đều là du khách Tây phương. Như thường lệ, người Anh, cựu chủ nhân ông của thời đô hộ, ngồi trầm ngâm trước ly Scotch hoặc trà sửa, mặt lạnh như tiền. Một cặp vợ chồng Pháp đang trò chuyện âu yếm ở góc. Một thiếu phụ Mỹ tuyệt đẹp dựa tay vào quầy rượu, cặp giò cân đối và khêu gợi được phô bày toàn diện dưới váy mini jupe sặc sỡ.

Văn Bình cảm thấy đói. Chàng định gọi xe tới nhà hàng Nam Sin song lại đổi ý kiến. Chàng vừa thoáng thấy một cô gái trạc 22, 23 mặc áo dài đen Trung Hoa từ ngoài bước vào và bồi khách sạn tíu tít chạy tới. Sự săn sóc đặc biệt này chứng tỏ nàng là khách quen, và thuộc hàng sang trọng.

Chàng ngoắc tay, gọi huýt-ky.

Trước mặt chàng, một dãy áp-phích rực rỡ nhiều mầu được dán vào tường. Chàng nhận ra áp-phích quảng cáo phim chiếu bóng. Chàng suýt bật cười khi thấy tạp xi-nê ở đường Bogyoke quảng cáo một cuốn phim thần thoại Ấn-Độ, với tài tử đực rựa đeo bông tròn lòng thòng, nữ minh tinh có nốt ruồi to tướng trên trán. Chàng sực nhớ đến rạp Long Phụng chuyên chiếu phim Ấn-Độ ở Sàigòn. Mỗi lần qua đường Gia Long, liếc nhìn áp-phích phim thần thoại bình dân, Văn Bình lại ngửi thấy mùi cà-ri độc đáo mặc dầu quanh đó không có tiệm cà-ri nào cả.

Nhưng hôm nay mùi cà-ri tưởng tượng vừa sực nức đã biến đâu mất.

Văn Bình đã tìm ra lý do. Hương thơm da thịt tươi mát của cô gái mặc sườn sám gợi cảm đã đánh bạt mùi phim Ấn-Độ.

Với khuôn mặt hơi tròn, cặp mắt hơi sếch, và cái miệng hơi nhỏ, nàng chưa có một nhan sắc toàn bích, mặc dầu kẻ khó tính nhất cũng phải chấm nàng 4 hoặc 8 điểm trên 10. Tuy nhiên, thân thể nhỏ nhắn, đều đặn và rắn chắc của nàng như có đá nam châm, mắt đàn ông đã nhìn vào là không tài nào rút ra nổi.

Quên cả uống huýt-ky, thứ giải sầu đệ nhất trên thế gian, Văn Bình chỉ giương mắt ngắm nàng. Nàng ngước đầu lên, ngó lại và cười tủm tỉm.

Đánh bạo, Văn Bình xô ghế, tiến lại bàn cô gái. Từ thuở thành người đến nay, chàng vẫn có lối tán tỉnh tốc chiến tốc thắng như vậy. Thiếu nữ không tỏ vẻ khó chịu hoặc phản đối khi thấy Văn Bình ngang nhiên ngồi xuống đối diện sau khi nghiêng mình chào lịch sự.

Lệ thường, đàn ông phải đánh tiếng trước. Nhưng chàng chưa nghĩ ra câu mào đầu hoa mỹ thì nàng đã ỏn ẻn bằng tiếng Anh thượng lưu :

- Ông là Môhan ?

Văn Bình giật mình. Té ra người đẹp đã biết tên giả của chàng. Nàng cười với chàng, chẳng phải vì có cảm tình sau "tiếng sét". Mà chính vì nàng muốn nói chuyện. Chàng đành gật đầu :

- Vâng. Tôi là Môhan.

- Doanh gia Hồi giáo ?

- Vâng. Tôi là doanh gia Hồi giáo.

- Mang thông hành Nam Việt ?

- Vâng. Tôi mang thông hành Nam Việt.

Nàng tuôn ra một tràng 3 câu hỏi ngắn ngủi khô khan, giống hệt như nhân viên quan thuế hãm tài ở phi trường. Hồi nãy, nghe hỏi như vậy chàng đã nhăn mặt bực bội. Chàng vốn ghét thủ tục cật vấn sống sượng của quan thuế phi trường mặc dầu sau khi cật vấn, nhân viên nhà đoan thường nhe răng cười duyên (đôi khi là nhe răng cải mả, hoặc răng sún mẻ) "cám ơn ông, chúc ông những ngày thoải mái trên đất nước chúng tôi". Nhưng những câu hỏi ngắn ngủi và khô khan của cô gái lại không làm Văn Bình bực bội. Chờ nàng cúi xuống ly rượu, chàng tấn công :

- Cô còn hỏi gì nữa không ?

Nàng cầm ly rượu bằng hai ngón tay (trời, hai ngón tay trắng muốt, thuôn thuôn, móng gọt rũa tươm tất, bôi vẹt-ni hồng pha chất bạc óng ánh, trông ngon như trái dâu chín), nhưng chỉ đưa lên gần miệng chứ không uống.

- Không, không. Em hỏi thế đủ rồi.

- Cô là ai ? Tại sao cô biết tên tôi ?

- Abê dặn em tới đây đón ông.

Abê ! Thì ra người đẹp là cộng sự viên của Abê, anh chàng phải gió đại diện tình báo Mỹ C.I.A.. Theo chỉ thị, Abê chưa hề bị địch nghi ngờ, chàng có thể tiếp xúc khỏi cần giữ gìn. Tại sao Abê không đích thân tới ? Chàng bèn hỏi :

- Hân hạnh được gặp cô.

- Hân hạnh được gặp ông.

- Abê hiện ở đâu ?

- Ở nhà. Abê không đến là vì hoàn cảnh. Hoàn cảnh ra sao, hẳn ông đã biết. Xe em đang đậu sẵn ở ngoài, mời ông ra.

Mùi son môi Baiser và mùi keo xức tóc Roja tạt vào mũi Văn Bình. Nàng đã biết chọn phép mầu để chinh phục đàn ông.

Phương tiện di chuyển cơ khí của người đẹp là một chiếc 15800S-MK-IV, hai chỗ ngồi, vỏ xe bằng nhựa ép. Loại xe đua Anh quốc, động cơ MGB này có thể chạy tới 195 cây số một giờ. Nàng đeo găng trắng vào tay, rềnh ràng chìa điếu thuốc cắm sẳn trên môi cho Văn Bình châm lửa rồi nổ máy. Văn Bình có cảm tưởng là xe hơi của nàng cũng giống như sắc đẹp lạ lùng của nàng. Vì MK-IV là xe đắt tiền mà hộp số lại không hoàn toàn ăn khớp với nhau như hộp số của mọi xe đắt tiền khác.

Văn Bình buột miệng :

- Lạ thật !

Thiếu nữ cười :

- Ông bảo cái gì lạ ?

Văn Bình nhếch mép :

- Hộp số.

Thiếu nữ vùng cười sằng sặc :

- Đàn ông các anh giống nhau một cách ngoài sức tưởng tượng. Abê và nhiều bạn trai khác cũng đặt ra câu hỏi như anh. các anh muốn hộp số trơn tru, không vấp váp, số 1 phải ăn khớp với số 2, số 3 và số 4, chẳng phải vì muốn tối tân hóa, mà chỉ vì ích kỷ.

- Ích kỷ ?

- Phải, ích kỷ, tham lam đối với đàn bà. Hộp số ăn khớp dễ lái xe hơn đàn ông sẽ có nhiều thời giờ chinh phục đàn bà trên đường trường.

- Cô không nên vơ đũa cả nắm thì hơn. Đàn ông cũng như đàn bà đều….

- Anh nghe em nói nốt. Em đâu dám vơ đũa cả nắm, chẳng hạn, em rất có thiện cảm với đàn ông nước Anh.

Văn Bình ngó nàng trân trân :

- Tại sao ?

Thiếu nữ vẫn cười ròn rã :

- Tại vì đàn ông nước Anh có thái độ đúng đắn, ngay cả trong khi gạ gẩm đàn bà. Anh nghĩ coi, hầu hết loại xe chế tạo tại Anh quốc đều mang hộp số khó lái. Nhỏ như Austin, Healey, Riley, lớn như Vanden Plas, rẻ tiền cũng như đắt tiền, theo kiểu cổ cũng như theo kiểu mới, hộp số đều có số 1 biệt lập.

- Chắc chắn chồng cô hoặc người yêu của cô phải là đàn ông Anh quốc.

- Hừ, anh nóng nảy như ông Cút-sếp rút giày ra đập xuống bàn tại Liên-hiệp-quốc ! Thong thả đã nào… em chưa nói hết thì anh đã kết luận.

- Cô định nói gì thêm nữa ?

- Thưa quan tòa, em định nói rằng ông Môhan là người đàn ông đúng đắn, còn đúng đắn hơn đàn ông Anh quốc, và không đáng sợ, đáng ghét chút nào cả…

Đến lượt Văn Bình cười rộ. Cô gái không phải hạng non nớt mặc dầu tuổi đời còn non nớt.

Hai người đã tiến vào khu Hoa kiều. Quang cảnh hỗn độn và ồn ào mở rộng tứ phía. Cho dẫu chàng mới đến đây lần đầu, chàng cũng biết đây là giang sơn quen thuộc của người Tàu. Ở Chợ Lớn cũng như Cựu Kim Sơn, ở Tân-gia-ba cũng như Ngưỡng Quang. Hoa kiều đều có lối sống bất di bất dịch, với mùi mỡ rán bánh, quay vịt béo ngậy, với những âm thanh hồn nhiên điếc tai như ong vỡ tổ từ rạng đông cho đến quá nửa đêm.

Mùi mạt cưa gỗ tếch đè nặng bầu không khí oi ả buổi tối. Văn Bình vụt nhớ cô gái Diến ngày xưa, ái nữ của ông triệu phú hãng cưa, đã thành người thiên cổ. Đèn táp-lô lờ mờ nên thiếu nữ mặc sườn sám ngồi trước vô-lăng không nhìn thấy vẻ mặt Văn Bình đột ngột đổi khác. Đột ngột, Văn Bình cảm thấy cõi lòng quanh quẽ và rét lạnh như chưa bao giờ được yêu đương sưởi ấm.

Theo luật luân hồi, có lẽ người đẹp ngày xưa đã đầu thai lên dương thế. Hồi còn sống, nàng ao ước được trở thành cây tếch đứng sừng sững trên đường tới ngôi chùa thơ mộng. Sự việc xảy ra từ lâu mà Văn Bình tưởng như mới kết thúc hồi hôm.

Chàng gặp nàng vào khoảng tháng tư dương lịch. Trung tuần tháng tư, khi mùa nóng bức và khô ráo chấm dứt, là dịp lễ tết lớn nhất trong năm của dân tộc Diến. Người Diến bản tính dịu dàng đã trở thành cuồng nhiệt, suốt gần một tuần lễ, trai gái già trẻ đều say sưa ăn mừng Hội Nước. Đường phố Ngưỡng Quang tưng bừng, khải hoàn môn được dựng lên khắp nơi, nhà cửa và đền chùa đều chăng đèn, kết hoa, thiên hạ ùa ra đường ca hát, nhảy múa trong những bộ quần áo sặc sỡ, và trong bầu không khí hoan lạc vô cùng.

Những đoàn thanh thiếu niên lái xe như điên trong thành phố, chở đầy nước, gặp ai cũng té nước và reo hò. Có những toán tinh nghịch trộn nước đá vào cho lạnh. Hoặc nghịch tinh hơn nữa là pha với nước vo gạo.

Hội Nước năm ấy, nàng rủ chàng về Prome, cố đô Diến-Điện, hiện là một thị trấn thầm lặng và bình dị cách Ngưỡng Quang 300 cây số. Chiếc xe lên đường từ rạng đông trên con đường ngoằn ngoèo, lên xuống những sườn đồi thoai thoải. Chàng vốn căm thù đường ổ gà, con đường về cố đô lại đầy ổ gà mà chàng lại ưa thích. Vì mỗi lần bánh xe nhảy chồm như muốn lăn xuống ruộng sâu, người đẹp lại ngồi gọn vào lòng chàng, và chìa môi đòi an ủi.

Hàng trăm ngôi chùa trắng ẩn hiện phía sau những thân cây xanh cao vòi vọi, những ruộng lúa trải rộng tận chân trời, những khu rừng rạo rực âm thanh và hương thơm huyền bí, những làng xóm e lệ như con gái bản xứ.

Gần chiều, xe tới Prome. Khi hoàng hôn xuống, nàng dẫn chàng ra bờ sông, nước trong veo có thể soi gương được dưới chân ngọn đồi thấp, ẩn hiện nhiều ngôi chùa (toàn chùa là chùa). Những cô gái lũ lượt kéo qua bãi cát xuống sông, nước lên đến đâu thì vén xiêm cao đến đấy. Nước cao đến ngực thì họ dừng lại, té nước vào nhau cười như nắc nẻ. Bọn thanh niên ngồi quây quần trên bãi, chung quanh cây đàn, hát những bản dân ca tình tự đưa tình với lũ con gái nghịch ngợm dưới sông. Những con thuyền chở nặng trôi từ từ, mảnh buồm tam giác sặc sỡ căng phồng trước gió, giống như làn xiêm trinh nguyên bị thần gió trêu chọc bay phần phật.

Đêm đến, người đẹp sáng vai Văn Bình về thị trấn chan hòa ánh đèn, nhất là ánh đèn của chùa Tóc Tiên Vàng - Shwesandaw phaya - rực rỡ trên đỉnh đồi tròn trịa. Hai người trèo những bậc cấp cẩm thạch, một tay cầm giày, một tay cầm bó hoa. Tới tam quan, nàng kéo chàng đứng lại, rồi kính cẩn quỳ trước tượng Phật trầm mặc cầu nguyện. Chàng hỏi nàng cầu nguyện gì thì nàng đặt ngón tay trên miệng, ra hiệu cho chàng im.

Mãi đến khi trở về, bóng đêm bao trùm cảnh vật, nàng mới ghé vào tai chàng, giọng thì thào :

- Em cầu nguyện cho đôi ta được sống bên nhau mãi mãi.

Đột nhiên, nàng thở dài :

- Em lại cầu nguyện cho anh đừng bỏ em…. Nếu mai kia em vắn số, anh cũng đừng quên em. Hồn em sẽ luôn luôn ở gần anh, chung sống với anh….

Nàng đã chết. Sống khôn, chết thiêng, nàng đã theo bên chàng từ lúc phi cơ hạ cánh xuống phi trường Ngưỡng Quang.

- Khu Hoa kiều lộn xộn quá, phải không anh ?

Cô gái mặc sườn sám, cộng sự viên của Abê, nhắc lại hai lần Văn Bình mới nghe tiếng. Chàng không để ý tới thái độ thân mật khác thường của nàng vì trong khoảnh khắc, nàng đã gọi chàng bằng anh, tiếng anh gần gủi, gần như pha vẻ lả lơi tính toán.

Chàng choàng dậy, đáp :

- Phải.

Khu Hoa kiều lộn xộn hoàn toàn trái ngược với khu người Anh gồm những đại lộ rộng rãi, hai bên trồng cây ươm mát, cân đối, tỉa xén đúng kích thước, xe cộ lưu thông trật tự. Khu ngoại kiều có nhiều biệt thự sang trọng thì khu người Tàu - tuy là ngoại kiều, nhưng là một thứ ngoại kiều đồng hóa - lại có nhiều ngôi nhà tre, lợp tranh rạ, mái hơi cong theo kiến trúc Mã-lai cổ xưa. Khách ăn ngồi la liệt trước những hàng quán chật chội, người Tàu ăn trong bát, bằng đũa, còn người Diến thì dùng đĩa rộng bằng đồng, và lấy ngón tay rón thức ăn, giống như nông dân Phi-Luật-Tân.

Cô gái điều khiển chiếc MK-IV một cách dễ dàng và khéo léo, tuy chạy số 3 khá nhanh. Qua xóm nhà lụp sụp, nàng lái trái sang một khu đất trống. Giữa khu là một tòa nhà lớn một tầng, quét vôi trắng. Nàng mở đèn pha, chiếu sáng cánh cổng sắt sơn đen.

Văn Bình hỏi :

- Abê ở đây ?

Nàng gật đầu :

- Vâng.

- Tại sao Abê không ở trên phố ?

- Bất tiện. Văn phòng của Abê tọa lạc ở trung tâm, đường Barr, trong cùng binh-đinh với công ty bảo hiểm Ấn-Độ và thư viện cũ của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ. Còn nhà riêng thì phải ở xa thành phố. Vì công việc đòi hỏi, hẳn anh đã rõ. Nhưng phần nào cũng về vấn đề tình cảm.

- Vấn đề tình cảm ?

- Phải, vấn đề tình cảm. Abê là một anh chàng hảo ngọt. Về bệnh hảo ngọt đối với phái yếu thì Abê có thể chiếm giải quán quân. Abê có rất nhiều bạn gái.

- Độ bao nhiêu ?

- Hàng tá. Đổ xuống sông cả chục chuyến cam-nhông cũng chưa hết.

Văn Bình đánh bạo :

- Còn cô… cô là….

Thiếunữ ngửa cổ cười hồn nhiên :

- Biết mà… Em đoán trước anh sẽ phải hỏi em câu ấy.

- Xin lỗi cô. Lẽ ra tôi không nên quá tò mò, nhất là tò mò về đời tư của bạn bè.

- Khgông sao. Tính em lại ưa đàn ông tò mò. Vì tò mò là một hình thức tìm hiểu trước khi lấy quyết định. Vả lại, anh hỏi như vậy đâu phải là tò mò. Em với Abê chẳng có gì hết, em là em, mà Abê là Abê, mỗi người một vũ trụ tình cảm riêng.

- Cô đẹp như vậy mà….

- Anh gớm thật ! Anh đang áp dụng công an khoa học để thẩm vấn em, nhưng thôi em cũng ráng làm anh thỏa mãn. Abê có tán tỉnh em, hứa hẹn trên trời dưới biển, song em từ chối thẳng tay. Trong vòng hai tháng đầu tiên, em và Abê sống căng thẳng như thể tổng thống Eisenhower và thủ tướng Cút-sếp tại hội nghị thượng đỉnh Ba-lê sau ngày phi cơ thám thính U 2 bị hỏa tiễn bắn hạ trên vùng trời Sô Viết. Nhưng rốt cuộc em toàn thắng. Em nói thẳng với Abê rằng em có nhiều cảm tình, Abê rất lịch sự, Abê hội đủ điều kiện mang lại cho em một đời sống vật chất sung mãn, nhưng không thích hợp với em. Em thích đàn ông khỏe, bầu bạn với thể thao, với khí trời quang đãng. Tóm lại, người đàn ông hùng. Abê yếu như sên, gió thổi là ngã. Cuộc sống lấy đêm làm ngày đã làm Abê bệnh hoạn rề rề. Em ghét cà-phê, Abê lại mê cà-phê. Uống cà-phê tối ngày, hơn là uống nước lạnh nữa. Sau khi nghe em giảng giải, Abê không theo sát em nữa. Giờ đây, em và Abê là bạn thân.

- Cô là cộng sự viên của Abê trong hãng du lịch, hay là….

- Cả hai. Hãng du lịch chỉ là bình phong. Cũng như anh vậy. Cái tên Môhan Hồi giáo cùa anh chỉ là nước sơn bề ngoài.

Cửa cổng mở rộng.

Cô gái lái tuột vào trong vườn.

Văn Bình xuống trước, đi vòng, mở cửa xe cho nàng. Dưới ánh đèn ga-ra, nàng quyến rũ lạ lùng.

Chàng mỉm cười :

- Tôi ngắm cô mãi không chán.

Nàng cười lại :

- Cám ơn anh.

Hai người tiến vào xa-lông. Phòng khách rộng mênh mông, nền nhà bằng đá rửa màu đen, tương phản với bốn bức tường trắng, và đồ gỗ lót nhung màu sám. Văn Bình le lưỡi vì bàn ghế toàn bằng gỗ bạch đàn, loại gỗ quý nhất trong những loại gỗ quý nhất.

Nàng mời Văn Bình ngồi, rồi đẩy cái bàn cò bánh xe, đựng đầy rượu lại :

- Anh dùng huýt-ky nhá ?

Chàng hỏi lại :

- Tại sao cô biết tôi uống guýt-ky ?

- Giản dị lắm. vì em thấy anh uống trong 5 phút hết một phần chai Black Label ở khách sạn. À quên, mãi phiếm luận, em chưa tự giới phiệu. Ba em người Mỹ, mẹ em người Diến, em sinh ở Mã-lai nên lấy quốc tịch Tàu. Người ta gọi em là Sophie.

- Sophie, cái tên ngọt ngào như mật ong… Thảo nào, cô đẹp mà hiền….

- Anh đừng tưởng bở. Con gái lai thường dữ như cọp.

- Cọp dữ tùy nơi và tùy người. Trong rừng sâu, cọp là chúa nên rất dữ, nhưng đến khi về nhà thì lại hiền khô. Cọp dữ thật đấy, nhưng đối với người dạy thú thì cũng như mèo.

- Ví von hay lắm ! Em là cọp còn anh là thầy dạy cọp. Vâng, em xin chờ anh.

Có tiếng xe hơi chạy vào vườn. Sophie nhìn qua cửa sổ :

- Abê đã về. Em chưa thấy ai đúng hẹn bằng Abê. Không bao giờ sớm cũng không bao giờ chậm.

- Đó là nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp.

- Nhưng theo em, trong hoàn cảnh hiện nay rất bất lợi. Biết Abê đi về đúng giờ giấc, người ta chỉ cần đặt một cây súng ngoài hẻm, đầu gắn ống hãm thanh. Bụp một tiếng nhỏ là xong hết.

- Abê chưa bị lộ kia mà….

- À, đó là chuyện tuần trước. Tuần này, tình hình đã đổi khác. Đổi khác từ khi Seng Ho đáp phi cơ lên Nambum-Ga.

- Seng còn sống hay đã chết ?

- Thú thật, em không biết. Abê mềm yếu trên mọi phương diện, nhưng trên phương diện bảo vệ bí mật thì kiên cố hơn pháo đài bê-tông nữa. Abê vẫn làm một mình. Em chỉ có nhiệm vụ giao liên. Nôm na, em là tùy phái.

Abê đứng trên ngưỡng cửa từ nãy. Nghe Sophie than thở, hắn nhe răng cười :

- Gớm thật, Sophie đang phản tuyên truyền. Có đi, có lại, phải không cô ? Cô làm tùy phái trong công việc, thì tôi làm tùy phái, mua son môi, sà bông, nước hoa cho cô….

Văn Bình quay lai.

Abê cao như con cò hương. Lê Diệp đã nổi tiếng gầy và nhẳng, Abê còn gầy và nhẳng hơn nhiều. Tuy vẻ mặt hắn tươi tỉnh, Văn Bình vẫn có cảm tưởng hắn giống cây phướng đám ma lều bều trước gió. Nhưng không kể bề cao ốm nhách, Abê vẫn có duyên thầm. Cặp mắt sáng quắc dưới vầng trán cáo, bóng, vầng trán thông minh của nhà bác học. Hắn có hàm răng đều đặn, song môi lại quá dầy. Riêng cặp môi này đã tố cáo hắn là kẻ đa mang sắc đẹp nữ giới.

Hắn mặc bộ com-lê trắng, may lộn, ba khuy, theo kiểu mới nên chật vai và ngắn cũn cỡn, tưởng như quần áo cũ từ nhiều năm trước. Cái cà-vạt màu hạt dẻ ăn nhịp dịu dàng với com-lê và sơ-mi đồng màu. Đôi giầy bằng da Thụy-Sĩ trắng láng của hắn chìa ra cái mũi nhọn hoắt. Cách phục sức này chứng tỏ Abê là tay chịu ăn diện.

Kể ra hắn cũng xứng đôi vừa lứa với Sophie. Nàng lạnh nhạt với hắn chắc phải có một hay nhiểu lý do bí mật nào đó.

Sophie mang chai huýt-ky mới khui lên ánh đèn, hỏi Abê :

- Một ly nữa nhé ?

Abê xua tay :

- Cám ơn Sophie. Từ chiều đến giờ tôi đã đốn ngã nửa chai rồi. Uống nữa thì thủng bao tử.

Sophie đứng dậy :

- Công việc của em xong rồi. Nếu anh không cần gì nữa thì em đi làm tóc.

Văn Bình ngạc nhiên :

- Đêm nay cô dự tiệc ở đâu mà làm tóc ?

Abê đỡ lời Sophie :

- Chẳng có tiêc tùng nào hết. Cô em tôi thường lẩn thẩn như vậy. Bao giờ cũng làm tóc ban đêm.

Sophie ngoắc tay chào rồi ưỡn ẹo ra ngoài. Vừa đi, nàng vừa huýt sáo miệng một bản nhạc thời trang ồn ào. Nàng vui vẻ như con chim sơn ca được sổ lồng.

Abê nhìn theo lắc đầu :

- Anh nghĩ sao về Sophie ?

Văn Bình nhún vai :

- Tôi có cảm tưởng nàng là người con gái nguy hiểm.

- Đúng. Thoạt gặp, ai cũng lầm nàng đa sầu, đa cảm, dễ ngã vào lòng đàn ông. Nhưng dần dà mới khám phá ra bề sâu tâm tư của nàng. Lòng nàng cứng như cây gỗ tếch.

- Nàng kể lại là anh đã tán tỉnh nàng suốt hai tháng.

- Đúng. Chắc nàng đã nói với anh rằng tôi chơi bời như quỷ sứ nhà trời ?

Văn Bình gật đầu. Abê khoan thai cắt đầu điếu xì-gà :

- Tơi không tin là anh bị lầm. Trung ưong đã triệu hồi từ lâu nếu tôi biếng lười và trác táng. Theo lệnh trên, tôi phải làm bộ bê tha. Vì như anh đã biết, Diến-Điện đang biến thành vị trí bản lề của gián điệp cộng sản. Chính phủ không nghiêng về phía bên nào, nhưng đó chỉ là lý thuyết, vì biên giới chung với Trung cộng nên Diến không thể tỏ thiện cảm với chúng ta. Vả lại, điệp viên Tình Báo Sở đã len lỏi vào mọi cơ quan. Bọn GRU và KGB Sô Viết cũng hoạt động không kém đắc lực, có lẽ đắc lực hơn Tình Báo Sở nữa.

Văn Bình ngẫm nghĩ một phút rồi hỏi :

- Sophie nói là địch bắt đầu để ý đến anh. Lời nói của nàng sai hay đúng ?

Cặp mắt của Abê đang sáng rực bỗng trở nên mơ màng, một vẻ mơ màng khó hiểu :

- Điều này làm tôi hoàn toàn sửng sốt. Tôi là nhân viên nằm lì, hoạt động rất thận trọng. Mật báo viên không ai biết mặt tôi. Mọi tin tức, tài liệu đều qua nhân viên giao liên, hoặc hộp thư chết. Trung ương MI-6 bắt được hồi đầu năm, nghĩa là cách đây bốn tháng, một tài liệu tối mật của Vụ 10 trong bộ ngoại Giao Sô Viết [2]. Tài liệu này là bản tóm lược các báo cáo của 5 cơ quan gián điệp Sô Viết tại Diến-Điện như Quân Báo [3], Phái Bộ Kinh Tế [4], Đặc Vụ Ngoại Giao, Chính Báo [5] và Phái Bộ Văn Hóa [6]. Những phần tử tình nghi hoạt động cho tình báo Tây phương đều được ghi tên. Nhưng trong danh sách không có tên tôi.

- Biết đâu Tình Báo Sở đã phăng ra anh.

- Không. Tôi có thể đoan chắc. Vì bản đúc kết tối mật này đã được hoàn thành với sự tham khảo rộng rải của Tình Báo Sở. Do thám Nga Hoa kèn cựa nhau kịch liệt, song trên một vài lãnh vực vẫn còn hợp tác với nhau. Tôi có linh tính là họ chờ cơ hội giết tôi. Vì tôi còn sống thì vụ Seng Ho sẽ bị bại lộ toàn diện.

- Nghĩa là gián điệp địch đã dúng tay vào vụ Seng Ho ?

- Tôi chưa dám quả quyết. Hiện tôi đã nắm được một số chứng cớ. Đêm nay, tôi sẽ đóng cửa trong phòng, nghiên cứu. Sáng mai, ta sẽ gặp nhau.

- Căn cứ vào đâu anh cho là địch đang rình rập anh ?

- Sáng nay tôi suýt bị xe cán trên đường Barr, khi tôi ở văn phòng ra. Đây không phải là tình cờ mà là cố ý. Tài xế đậu xe sẵn, chờ tôi ra rồi phóng xe nhanh tới, nếu tôi chậm chân một sao đồng hồ thì đã tan xương nát thịt.

- Anh còn nhớ số xe không ?

- Còn. Sau tai nạn, tôi gọi giây nói cho công an, truy nguyên chủ nhân chiếc xe. Té ra mang số giả. Vì vậy tôi không đích thân tới lữ quán gặp anh.

- Đêm nay, anh cần thay đổi nơi ngủ không ?

- Không cần. Tôi bắn không đến nỗi xoàng. Vả lại, tôi có hai con bẹt-giê khôn kinh khủng. Triệt hạ được cặp chó săn này không phải dễ dàng.

Abê định nói thêm bỗng ngừng lại, nhớn nhác nhìn lên bàn. Rồi suýt soa :

- Xin anh tha lỗi. Tôi phải ra sau pha cà-phê. Từ ngày hoạt động ở Viễn Đông, tôi mắc bệnh nghiện cà-phê đen không đường. Anh thưởng thức một tách nhé ?

Không đợi Văn Bình đồng ý, Abê đẩy cửa sang phòng bên. Văn Bình nhẩn nha tiến lại gần tường để ngắm bức hình thiếu phụ khỏa thân tuyệt đẹp. Người mẫu nằm nghiêng nhìn xuống xa-lông, mắt lim dim, cánh mũi phập phồng trong sự chờ đợi.

Đột nhiên, Văn Bình khựng người.

Chàng có linh tính là tai biến sắp xảy ra. Chàng đảo mắt nhìn tứ phía để tìm dấu vết khả nghi. Cửa xa-lông đã đóng chặt. Hai cửa sổ nhìn ra vườn được mở rộng nhưng lại được che kín bằng lưới thép. Loại lưới ngăn ruồi muỗi này làm cho bên ngoài không thấy được bên trong. Phương chi đèn ngoài vườn lại sáng trưng.

Ầm ầm….

Toàn ngôi nhà rung chuyển dữ dội như động đất. Trần nhà rớt xuống nhiều tảng vôi lớn. Bức hình thiếu phụ khỏa thân đứt dây lăn lông lốc xuống ghế sô-pha. Cái độc bình bằng sứ cổ Trung Hoa, kê trên cái đôn gỗ bạch đàn bóng loáng như được lắp bánh xe chạy đâm sầm vào tủ buýp-phê, bộ đồ ăn cất bên trong chạm nhau loảng xoảng. Bàn đựng rượu bị hất ngã, rượu và mảnh chai bắn tung tóe vào người Văn Bình.

Nhanh nhẹn, chàng nhoài người trên thảm. Cánh cửa nặng nề mà Abê vừa mở để sang phòng bên đốt lò ga pha cà-phê tuột khỏi bản lề, xập mạnh xuống người Văn Bình. Chàng lăn luôn vào trong góc.

Song chàng vùng dậy ngay. Như hai chân chắp cánh, chàng phi thân xuống bếp. Phòng bên là phòng ngủ. Giường nệm hỗn độn. Sát phòng ngủ là nhà bếp tí hon, dành riêng cho Abê, vì không những mê cà-phê nóng, Abê lại còn thích đun nước pha lấy.

Tiếng nổ dữ dội kèm theo sức công phá lan rộng trong nhà chứng tỏ cho Văn Bình biết không phải chỉ một mình bình hơi nổ. Đồ đạc trong căn phòng xép bị tan tác như sau một trận địa chấn dữ dội. Các ống dẫn nước vỡ tung, nước tuôn ra lênh láng, nhuộm màu nâu đỏ lầy lụa, không biết vì chất cà-phê hay máu nữa.

Việc đầu tiên của Văn Bình là tìm Abê. Chàng không hy vọng Abê thoát hiểm. Chàng chỉ mong hắn chưa chết hẳn.

Nhưng hy vọng của chàng đã thành ảo vọng. Abê nằm dài trong góc dưới một tảng gạch lớn và hai cánh cửa sổ méo mó. Chàng lật hắn nằm nghiêng. Nạn nhân mở mắt trừng trừng, miệng mím chặt, một tia máu đỏ rỉ ra ngoài mép. Văn Bình nắm cườm tay. Mạch đã chết hẳn.

Chàng nghe tiếng kêu cứu thất thanh ngoài vườn. Có lẽ đó là tiếng kêu cứu của gia nhân hoặc hàng xóm.

Không thể chần chờ nữa, Văn Bình lục túi nạn nhân, lấy hết giấy tờ, đoạn băng ra ngoài. Vụ nổ quá mạnh đã làm ngọn đèn hành lang tắt phụt.

Chàng không chạy ra cổng trước mà vòng ra phía sau, trèo tường vọt xuống một bãi trống.

5 phút sau, chàng đã len lỏi vào đám đông ồn ào của khu Hoa kiều.

Chàng gọi tắc-xi đến nhà Sophie.

Mới 8 giờ tối, phố xá còn đông đúc. Sophie ngụ trong một binh-đinh mới cất gần đường Barr ở trung tâm thành phố. Lão chà gác cửa đang chúi mũi vào dĩa cà-ri khói bốc nghi ngút, không để ý đến chàng. Chàng trèo cầu thang xi-măng lên lầu tư.

Bất giác chàng nghĩ đến Sophie. Mỗi ngày phải lên xuống hàng chục lần thế này, nàng phải có cặp giò đặc biệt. Trong đời tình ái, Văn Bình sẵn có thiện cảm - và đôi khi là khâm phục - đối với loại mỹ nhân chân dài, Sophie lại thuộc vào loại chân dài kỷ lục, dài mà vẫn cân đối, dài đến nỗi đàn ông lọc lõi run gân như bị động kinh. Chàng bắt đầu khám phá ra tại sao nàng hững hờ với Abê. Khối thịt bị thần Lưu Linh làm nhão nhoẹt ấy chưa thể léo hánh tới, chứ đừng nói là đồng cân, đồng lạng với Sophie, với tuổi thanh xuân sôi nổi và bất tận, cũng sôi nổi và bất tận như giòng sông Irrawaddy vĩ đại của Diến-Điện huyền bí.

Quang cảnh bên trên binh-đinh không khác mọi binh-đinh tân tạo khác trên thế giới. Nếu khác, thì chỉ khác ở điểm nghèo nàn, gần như cẩu thả và bẩn thỉu. Hành lang không trải thảm, dầu thảm cói không lấy gì làm đắt tiền. Đèn điện chỉ lơ thơ mấy ngọn, không có chao, giây lòng thòng ám bụi sám sịt, trông trần truồng và trơ trẽn như cô gái giang hồ về chiều biểu diễn nghề nghiệp trong nhà chứa.

Văn Bình nảy ra lòng thương đối với Sophie. Nàng trở nên chai đá là vì hàng ngày phải cọ sát với những bóng đèn điện sống sượng, những bức tường cáu bẩn đất nhăn nhó, và những cánh cửa ẩm mốc vì ánh nắng không bao giờ chiếu tới.

Phòng Sophie ở trong cùng, cách xa ánh đèn nhợt nhạt, hầu như bị bóng tối bao phủ. Đến nơi, Văn Bình đứng lại, nín thở áp vào cửa gỗ. Mùi thuốc lá hang hắc và khét lẹt từ bên trong thoảng ra. Đó là mùi thuốc lá sợi đen.

Văn Bình đã châm thuốc cho Sophie. Nàng hút thuốc Craven 2 sợi vàng do Anh quốc chế tạo. Giờ này, nàng còn la cà trong tiệm uốn tóc chưa về. Vả lại, nếu đã về, nàng phải mở đèn trong phòng và nhất là đèn buồng tắm để rửa son phấn trên mặt, và tắm sạch sẽ trước khi lên giường.

Như vậy có nghĩa là người lạ đang có mặt trong phòng nàng. Người lạ phải là nhân viên kém kinh nghiệm. Vì kém kinh nghiệm thì mới khờ dại hút thuốc trong khi chờ đợi con mồi. Hoặc giả là kẻ tự tin….

Văn Bình rút trong bót-phơi ra sợi thép cứng quen thuộc. Với dụng cụ thô sơ này, chàng đã mở tung nhiều ổ khóa kiên cố, kể cả loại Yale và Vachette khét tiếng trên thế giới là bất khả xâm phạm.

Cửa từ từ mở ra, bản lề nghiến kèn kẹt.

Tách một tiếng nhẹ, đèn phòng bật sáng. Sau khi vặn đèn Văn Bình mới bước vào.

Người lạ đang hút thuốc trước bàn viết. Đinh ninh Sophie mở cửa, hắn chưa thèm quay lại ngay. Đến khi nhận ra người mở cửa không phải là cô gái chân yếu tay mềm, hắn luồn tay dưới nách lấy súng thì Văn Bình đã tấn công trước.

Khẩu súng tí hon nhảy vào bàn tay hắn nhanh như được điều khiển bằng điện. Văn Bình nghe bụp một tiếng. Phát đạn nổ êm, còn êm hơn là đạn bắn bằng ống hãm thanh đặc biệt của Smerch Sô Viết, chế tạo tại Tiệp-Khắc nữa.

Nhưng ngọn quỷ cước của Văn Bình đã phóng ra trước lúc viên đạn bay ra khỏi nòng súng. Một làn khói xanh nhỏ như tia laser bay ngang, cách Văn Bình một sải tay. Chàng tiếp ngọn cước thứ hai. Khẩu súng bị rơi xuống nền phòng, đối phương vẹo người sang bên để tránh đòn rồi đâm bổ vào Văn Bình.

Nhìn ngón tay địch xòe ra tua tủ a, Văn Bình biết hắn đang phản công bằng võ Diến-Điện. Tục truyền trong thời võ lâm tàn sát lẫn nhau ở Trung quốc, một hệ phái Thiếu Lâm bị đánh bạt về phía Nam và lưu lạc từ Tế Xuyên qua rặng núi Thang Lha cao ngất, tiến vào nước Bhutan, vượt sông Brahmaputra tới miền Bắc Diến-Điện. Tàn phái này lập cơ sở trong miền rừng núi hiểm trở Putao, mưu đồ phục hận. Trưởng môn tu luyện luôn 20 năm trên đỉnh đồi, thu hết quyền năng của vũ trụ và tinh tú, trở thành một võ sư thượng thặng chuyên dùng ngón tay để phá tan tạng phủ kẻ thù trong vòng 5, 10 thước. Dân bộ lạc Putao thuật lại là vị trưởng môn Thiếu Lâm có thể dùng 10 ngón tay đâm thủng cây gỗ tếch.

30 năm sau ngày tha hương, vị trưởng môn vượt biên giới về hướng Đông tới Vân-Nam để báo thù. Trong một cuộc tử chiến kéo dài đúng một tuần trăng, vị trưởng môn đã giết được toàn bộ kẻ thù. Nhưng đứng trước hàng trăm xác chết chất đống, vị trưởng môn cảm thấy vô cùng hối hận. Vụ tàn sát đã làm võ công và tuổi thọ suy giảm nghiêm trọng, vị trưởng môn bèn kéo bọn đệ tử về Putao. Tuần trăng sau, ông từ trần vì kiệt lực.

Đám đệ tử kết hôn với người địa phương, sinh con đẻ cái và không trở về đất Tàu nữa. Họ tiếp tục công cuộc tu luyện của trưởng môn, nhưng phép thuật "thần chỉ công" đã bị thất truyền. Lâu dần, từ đời này qua đời nọ, phép thập chỉ thần công phối hợp với quyền thuật của bộ lạc trở thành căn bản cho nền võ nghệ Diến-Điện.

Văn Bình đã nghe nói nhiều tới phép thập chỉ thần công nên không dám khinh thường. Chàng vận vụng một thế sambo - võ cổ truyền Nga-la-tư chuyên tát bằng hai tay - tuyệt kỹ để gạt đòn đối phương. Đồng thời, chàng bồi thêm cú đá ngang bên dưới.

Võ Diến-Điện rất lợi hại, song tài chế biến quyền thuật quốc tế của điệp viên Z.28 lại lợi hại hơn nên trong phút sơ đấu, Văn Bình đã khuất phục được đối phương. Bị trúng luôn hai đòn liên tiếp, hắn ngã lăn kềnh trên thảm cói. Chàng đá theo cái nữa, nạn nhân gục đầu vào tường, bất tỉnh.

Thấy khẩu súng văng trên sàn có hình thù khác lạ, Văn Bình lượm lên. Chàng giật mình. Điều ông Hoàng dặn chàng tháng trước đã thành sự thật.

Hôm ấy,ông tổng giám đốc đưa cho chàng đọc một phúc trình từ sau bức màn sắt gửi về rồi nói, giọng nghiêm trọng :

- Lâu nay, ta chỉ mới nghe đồn đãi, nhưng bây giờ đã nắm được bằng chứng cụ thể, Tình Báo Sở Bắc Kinh bắt đầu trang bị súng bắn hơi độc cho một số nhân viên thuộc địa khu Đông-Nam-Á.

Như anh đã biết, việc dùng hơi độc trong chiến tranh đã được Công Ước Giơ-neo 1925 cấm đoán nghiệt ngã. Trên thực tế, quốc gia nào cũng có cơ quan bí mật để nghiên cứu hơi độc và vi trùng. Thậm chí năm 1936, Ý đã dùng hơi độc trong chiến tranh với Abyssinie, từ 1937 đến 1943, Nhật dùng hơi độc trên đất Tàu và gần đây, Ai-cập đã dùng hơi độc trên lãnh thổ Yemen.

Anh đã sang Hoa Kỳ và có dịp tới thăm 6 trung tâm CBW [7] tất không lạ gì hơi độc G [8], giết người dễ như trò đùa, cách đây mấy năm, họ phát minh và hoàn thiện hơi độc BZ [9], một thứ hơi có thể gây ra tê liệt trong chớp mắt. Hoa Kỳ phát minh ra mà không xử dụng, nhưng Tình Báo Sở đã đánh cắp công thức mang về chế tạo thành đạn. Với đạn hơi BZ, nhân viên Tình Báo Sở có thể triệt hạ địch thủ dễ dàng, dầu giỏi võ đến đâu cũng vô ích. Tình Báo Sở lại có cái lợi là không cần huấn luyện nhân viên một thời gian dài về quyến thuật.

Vì vậy, mỗi khi đương đầu với nhân viên Bắc Kinh, anh nên thận trọng. Mặt khác, anh cần thu thập thêm chứng cớ để chúng ta đưa ra tố cáo trước dư luận quốc tế.

Khẩu súng đang nằm trong tay chàng được dùng để bắn đạn hơi BZ. May mà chàng nhanh mắt nếu không đã ngã gục, rồi bị chở về trụ sở của địch như vật vô tri. Thẩm vấn xong, địch sẽ tặng chàng một viên đạn thuốc độc trước khi quăng xác xuống sông Irrawaddy.

Chàng bỏ khẩu súng vào túi rồi cúi xuống, dùng thuật kuatsu để hồi sinh cho địch. Chàng ngậm chặt miệng, cằm đưa vào, vận chân khí lên đầy đan điền, đoạn điểm ngón tay vào huyệt Mieng-menn ở đốt xương hông thứ ba.

Nạn nhân từ từ mở mắt.

Nhận ra Văn Bình, hắn quay mặt vào tường. Văn Bình nắm vai hắn, lắc mạnh :

- Ai sai anh đến đây ?

Hắn thở phào ra :

- Việc không liên quan tới anh. Anh đừng hỏi tôi vô ích.

- Nghĩa là chỉ muốn bắt Sophie.

- Phải. Vì anh xía vào nên bắt buộc tôi phải hành động.

- Nhưng anh đã bị tôi đánh bại. Anh khai đi, tôi sẽ trả tự do cho anh.

Nạn nhân cười nhạt :

- Ha, ha, trả tự do ! Còn lâu anh mới phỉnh gạt được tôi.

Văn Bình lôi hắn dậy, song thân thể hắn đã mềm nhũn. Hắn đã bình thản cắn vỡ cái răng giả ở hàm trên. Độc dược tan vào nước miếng, kết thúc tính mạng hắn trong vòng một phút đồng hồ ngắn ngủi.

Văn Bình kéo thi thể nạn nhân còn nóng hổi vào góc phòng, đoạn ra cửa sổ quan sát dưới đường. Chàng thấy một cái xe hơi nhỏ đậu khuất dưới lùm cây. Vì ánh đèn lờ mờ nên chàng không thể nhìn rõ trong xe có ai. Tuy nhiên, chàng biết rõ đó là xe hơi của địch, và bên trong chắc chắn có tài xế ngồi chờ.

Văn Bình dự định uống một ly huýt-ky cho ấm bao tử rồi xuống đường thanh toán nốt.

Một tiếng sột soạt làm chàng quay mặt lại.

Người vừa vào là Sophie.

Sophie với khẩu súng trên tay.

--------------------------------
1. Kyatt là tiền Diến-Điện. Hối xuất chính thức một mỹ kim ăn 4,76 kyatt, nhưng trên thị trường đen là 13,60 kyatt.
2. Tức là Đặc Vụ Ngoại Giao, tiếng Nga là Osobiy Otdal, trung tướng Zherebt sov làm vụ trưởng, cho đến năm 1959.
3. Cơ quan này được thành lập giữa năm 1957 tại Ngưỡng Quang, gồm 5 nhân viên đứng đầu là tùy viên quân sự sứ quán, cấp bậc đại tá.
4. Viết tắt tiếng Nga là GKES
5. Tức Politicheskaya Razvedka, Tình Báo Chính Trị, do đại tá Vozny điều khiển.
6. Tức ZKKSZ. Ngoài ra còn có bộ phận công ty điện ảnh Sô Viết Sovfilmexport, Phái Bộ Thông Tin (SIB) và trụ sở thông tấn TASS.
7. CBW là Chemical anh Biological Warfare, Chiến Tranh Hóa Học và Vi Trùng. Sáu trung tâm này là Fort Detrick, phụ trách sưu tầm vi trùng. Edgewood Arsenal; sưu tầm hóa chất, và các nhà máy chế tạo tại Newport (Indiana). Rocky mountain (Colorado), Pine Bluff rsenal (Arkansas), và trung tâm Dugway để thí nghiệm các võ khí được sản xuất. Chương trình CBW của Hoa Kỳ có 7.000 khoa học gia, năm 1963 tiêu phí chừng 300 triệu đô-la.
8. Hơi độc G được một kho học gia Đức phát giác năm 1936. Hơi G gồm các chất độc tabun, sarin và soman (Hoa Kỳ gọi là GA, GB và GD). Sau 1950, người ta tìm ra loại hơi VE và VX tại trung tâm Portin (Anh quốc), tục gọi là hơi "thàn kinh" làm nạn nhân co quắp, ngạt thở rồi chết.
9. BZ gồm những hơi làm nạn nhân mất hết cảm quan rồi bất tỉnh.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:03 pm

IV
Phòng đợi của tử thần


Seng vùng dậy trong bóng tối.

Vạn vật dường như đang sửa soạn một biến cố trọng đại trong rừng sâu. Mọi âm thanh quen thuộc và xa lạ của sơn lâm bỗng rủ nhau nín lặng.

Rồi, ào ào, ào ào….

Khu rừng tre dầy đặc và kiên cố rung chuyển ào ào, ào ào, như thể hàng vạn, hàng triệu quỷ binh ôm thân tre lay động dữ dội rồi nhổ gốc cùng một loạt.

Một lằn chớp xẹt ngang. Seng Ho thấy rõ cây đa cổ thụ trước mặt. Cây đa này cao đến nỗi cái ngọn khuất trong mây mù, tưởng như trèo lên cành lá là có thể lên được thượng giới. Gần mặt đất, thân cây có một cái hố rộng hoác, bằng hai cái thạp đựng gạo. Seng bị nhốt trong cũi tre, đối diện với hốc cây mà không để ý.

Giờ đây, dưới làn chớp sáng quắc, Seng mới nhìn thấy. Tay chân hắn run lẩy bẩy. Hắn muốn kêu lên song lưỡi hắn đã ríu lại.

Vì cái hốc cây trong đêm tối rùng rợn vừa đánh thức trong lòng hắn một kỷ niệm rùng rợn. Kỷ niệm này là Paul, anh ruột của Vêra. 20 năm trước, Paul và Seng đều là sĩ quan trẻ trong bộ tham mưu của đoàn quân ma Chindits.

Trong một trận giao phong ác liệt với quân đội Nhật, Seng thoát chết, còn Paul bị biệt tích. Có lẽ là chết. Nội vụ xảy ra gần một cây đa lớn, cây đa lớn nhất, xưa nhất Nambum-Ga. Thân đa chỉ có một cái hốc, đường kính gần một mét, bên trong đen ngòm như đường xuống địa ngục.

Seng còn nhớ rõ mồn một. Đêm ấy, trời đang yên lặng bỗng nổi gió dữ dội. Paul và Seng phục vụ trong tiểu đoàn thám báo. Cả hai đều trẻ, cường tráng, hăng say. Cả hai đều nhìn đời bằng cặp mắt pha hồng. Và cả hai đều là bạn thân của nhau.

Hành doanh của tiểu đoàn thám báo đóng tại làng Nambum-Ga, trong nhà xã trưởng. Hồi ấy, Nambum chỉ là một buôn sóc thưa thớt, nằm lọt giữa rừng rậm, gồm mấy chục căn nhà sàn xiêu vẹo, chứ chưa trở thành vị trí bản lề của dân giang hồ buôn súng lậu, hoặc của bộ đội du kích như hiện nay.

Xã trưởng Nambum là Tin Aung. Tin quen thuộc vùng Bắc Diến như cái mù-soa trong túi áo. Quân đội Thiên Hoàng đến địa phương, Tin là người đi đón đầu tiên. Tin cũng là người hợp tác chặt chẽ nhất với quân đội Anh đánh đuổi Nhật, tóm lại, Tin chỉ theo phe thắng. Hồi ấy, Seng Ho đã trách Tin Aung :

- Ông đã điềm chỉ cho Nhật bắt giết một số nhân viên người Anh. Thái độ thiếu trung thành của ông đã làm đồng minh tức giận. May mà chúng tôi chưa đến, ông đã tổ chức tiếp rước, nếu không, tướng Wingate đã tặng ông một viên đạn vào gáy. Bây giờ ông tính sao ? Ông chịu hợp tác mật thiết với đồng minh hay vẫn theo chủ trương hàng hai ?

Thì Tin mỉm cười :

- Trung thành hay phản bội chỉ là vấn đề quan điểm giữa chủ và tớ. Các ông muốn tôi trung thành như kẻ gia nhân mà quên rằng tôi là người Diến, từ bao năm khao khát độc lập cũng như những người Diến yêu nước khác. Tôi có bổn phận tranh đấu dành lại chủ quyền nên tôi đã bắt tay người Nhật.

- Tại sao người Nhật thua, ông không theo họ vào rừng ?

- Vì người Nhật cũng như người Anh, họ đều là người ngoại quốc. Nếu họ đại thắng, Diến-Điện sẽ trở thành thuộc địa….

- Lý luận của ông không đứng vững. Tôi sẽ trình lên tướng Wingate về trường hợp của ông. Tôi sẽ yêu cầu đồng minh xóa bỏ dĩ vãng, tuy nhiên việc này chỉ có thể thành tựu nếu ông….

- Tôi hiểu rồi. Trong đời, tôi đã nghe nhiều lần như vậy. Vâng, tôi sẵn sàng giúp các ông thiết lập hệ thống tình báo ở miền Bắc. Nhưng, xin các ông hiểu rõ rằng tôi nhận lời không phải vì sợ chết. Vì tôi biết các ông không thể giết tôi. Trước kia, người Nhật muốn băm vằm tôi ra nhưng rốt cuộc phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Vì thưa ông, ngoài Tin Aung, không còn ai am tường tình hình và địa thế miền Bắc. Tin Aung bị giết, các bộ lạc sẽ rút vào rừng, lên núi, dùng tên độc chống lại….

- Ông làm tôi ghê tởm…

- Chẳng sao. Tôi quen một đại tá Anh, giữ gìn vệ sinh một cách kinh khủng. Đi hành quân trong rừng, ông ta bắt lính đun nước sôi, và khi sôi phải báo cáo để ông ta đến nhìn tận mắt mới được pha vào ấm. Đồ hộp cũng được ông ta nấu kỹ. Ông ta nói với tôi là ghê tởm thức ăn sống sít, và nếu trong tương lại bị ăn như vậy, ông ta chết mất. Đơn vị của ông đại tá bị đánh tan, một mình với khẩu súng lục hết đạn, ông ta chỉ uống nước khe và ăn thịt rùa sống. Thoạt đầu, ông ta ghê tởm, đến sau thấy ngon lành. Ông cũng vậy, bây giờ ông ghê tởm tôi, mai kia ông sẽ quen.

- Nói cách khác, mai kia nếu đồng minh thất trận, có thể ông sẽ bắt tôi nộp cho chủ mới.

- Hà, hà, đó là chuyện tương lai, mà tương lai là những điều rất khó tiên đoán… từ nhiều trăm năm nay, miền Bắc vẫn sống xa rời chính phủ trung ương. Trong tương lai, miền Bắc không thể theo con đường nào khác nữa.

- Yêu cầu ông trả lời câu hỏi của tôi. Mai kia, nếu….

Tin Aung lại ngắt :

- Sau đại chiến, tình hình rồi sẽ thay đổi nhiều. Khi ấy, tôi sẽ trả lời. Bây giờ tôi hợp tác với các ông…

Tin Aung nói đúng.

Tình hình đã thay đổi hoàn toàn sau đại chiến. Diến-Điện thu hồi chủ quyền, song các tỉnh miền Bắc vẫn sống xa rời chính phủ trung ương. Trung Hoa trở thành cộng sản, với tham vọng tiến về phía Nam.

Nambum-Ga cũng thay đổi. Trong xã đã có một cái máy điện lớn. Tin Aung ở trong tòa nhà xây bằng gạch và đá ong kiên cố trên sườn đồi thoai thoải. Tin có tủ lạnh để trữ thức ăn tươi, có hầm rượu ngon nhập cảng từ Anh-Pháp. Trước đây, Tin di chuyển bằng voi hoặc ngựa, bây giờ thì dùng xe díp gắn vô tuyến điện. Gần Nambum là một bãi máy bay quang đãng, phi cơ trung bình có thể hạ cánh an toàn.

Thời thế thay đổi, cuộc sống thay đổi, song Tin vẫn cường tráng như hồi 30, cách dây 20 năm. Seng Ho giật mình khi gặp lại Tin. Trên vầng trán hói, người ta không thấy một sợi tóc bạc nào. Cánh tay dài như tay vượn vẫn còn dư sức bẻ gãy xương sống của một thanh niên lực lưỡng.

Điều làm Seng Ho sửng sốt nhiều nhất là sự sung mãn và bền bỉ phi thường của Tin Aung về đường tình ái. 20 năm trước, Tin có 5 cô vợ trẻ măng, giờ đây, con số tăng lên gấp đôi trong khi số tuổi trung bình lại giảm xuống rõ rệt. Người già nhất chưa quá 22, còn người trẻ nhất là 14 tuổi. Đó là chưa kể một "hậu cung" đông đảo, gồm hàng chục thiếu nữ nhan sắc mặn mà, sẵn sàng thay Tin chiều đãi khách quý.

Seng vụt hiểu tại sao Tin xoay như chong chóng mà không hề bị hề hấn. Vì mổi lần chính trường rối loạn, Tin lại mang một số mỹ nhân đi triều cống. Miền Bắc Diến không phải là thành phố Ba-lê để có thể tìm kiếm thú vui và người đẹp để dành, gái Diến cũng không phải là tiên nga, cho nên thủ đoạn của Tin đã làm những trái tim sắt thép nhất phải đổ mồ hôi. Phương chi kho tàng tình ái của Tin lại cất giữ nhiều của ngon, vật lạ, phần lớn từ Assam và Hoa-Nam đưa tới.

Seng gặp lại Tin Aung bên mâm đèn thuốc phiện. Thấy bạn, Tin ngẩng đầu lên, mắt hấp háy :

- Chào ông bạn cố tri. Nhận điện tín của ông, tôi đã sửa soạn đầy đủ. Ông định lưu lại bao lâu ?

Seng đáp :

- Độ hai, ba tuần. Nhưng cũng có thể nhiều hơn nữa. Khi nào xong việc, tôi mới có thể về được. Tôi lên đây vì việc riêng.

- Tổ chức lại guồng máy tình báo của MI-6 ?

- Không. Tôi bỏ MI-6 đã lâu.

- Ồn vậy thì C.I.A. ?

- Cũng không đúng. Như tôi đã nói, tôi lên đây vì việc riêng.

- Ừ, thì tạm nhận là ông bạn không còn liên hệ với tình báo Anh-Mỹ nữa đi…. Vậy việc riêng của ông là gì ?

- Tìm lại Paul.

- Paul, trong bộ tham mưu cũ Chindits ấy à ?

- Phải. Hồi ấy, ông đã biệt đãi Paul và tôi. Chúnh ông đã cho chúng tôi mượn một cô gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và ngoan ngoãn.

- Tôi nhớ rồi. Sau khi Paul mất tích, ông đã tỏ ra buồn bã, và tôi đã phải tìm cách khuyên giải ông.

- Theo ông, Paul bị thiệt mạng ở đâu ?

- Tôi không biết, rừng rậm ở đây rộng cả ngàn cây số vuông, lạc bước là mất xác… À, ông nhắc đến Paul để làm gì ?

- Để tìm lại.

- Sau 20 năm, Paul đã biến thành đất.

- Tôi sẽ mang một nắm đất về… Ông là bạn cố tri nên việc đầu tiên sau khi tôi đến Nambum-Ga là tại qua thăm ông, và nhờ ông giúp một tay. Tôi muốn tìm ra mộ phần của Paul.

Lão Tin Aung rít một tẩu thuốc phiện rồi nằm ngửa trên chiếu, tay chân duỗi ra, hai mắt lim dim trong cơn khoan khoái cực độ. Giây lâu, hắn mới mở mắt, nhìn Seng Ho, giọng nhỏ nhẹ :

- Chỗ thân tình tôi xin giúp, ông đừng nghĩ đến ân huệ gì cả. Đêm nay, mời ông nghỉ lại với tôi. Lát nữa, tôi sẽ gọi bọn con gái ra chào ông, ông tha hồ lựa chọn.

- Xin ông tha lỗi. Tôi đã có gia đình…

- Dĩ nhiên, trên tứ tuần mà ông còn độc thân sao được. Ông cưới vợ bao giờ ?

- Mới.

- Ồ, chắc ông đang còn trung thành. Tôi cũng không dám ép ông. Phong tục của chúng tôi là đãi khách thật thà, cung hiến cho khách không những thức ăn, thức uống, mà còn cả ái tình tiêu khiển nữa. Ban đêm ở đây lạnh buốt đến xương, ông nằm một mình một giường không nổi đâu.

- Bao giờ ông có thể….

- Đưa ông vào rừng tìm mộ phần Paul ấy à ?

- Phải.

- Ngày rộng tháng dài, mai hoặc mốt cũng chưa muộn. Ông đã chờ được hai chục năm thì có chờ thêm hai chục ngày nữa cũng chẳng sao. Vả lại, tôi còn phải chờ bọn gia nhân.

Tin Aung ngừng nói một phút, vẻ mặt suy tư, rồi hắn vỗ đùi đánh đét :

- Thôi được… thôi được… May ra tôi có thể tìm thấy. Paul mất tích sau trận đánh gần cây đa đại thụ. Cây đa này ai cũng biết, vì đó là cây đa xưa nhất và lớn nhất trong vùng.

Lời nói của xã trưởng Tin Aung giục Seng nhớ lại quá khứ. Đêm ấy, trời mưa như đại họa hồng thủy sắp tới. Mưa không rơi từng giọt, hoặc từng dây là mà từng cột nước một, những cột nước khổng lồ làm cành cây gỗ tếch rắn chắc gẫy răng rắc, và nền đất soi lúc như bị ăn bom.

Paul và Seng được lệnh phục kích một tiểu đoàn Nhật. Chính xã trưởng Tin đã cung cấp tin tức cho bộ tham mưu về việc tiểu đoàn này kéo qua rừng Nambum để đánh bọc hậu đại quân Chindits.

Không ngờ toán phục kích lại bị phục kích. Hai đại đội thiện chiến bị đánh tan hoang, tàn quân chạy bán sống bán chết về đến cây đa thì lọt vào ổ phục kích thứ hai. Rốt cuộc chỉ còn lại nửa tiểu đội và trung úy Paul.

Seng vừa kịp đặt súng xuống để thở hồng hộc thì tiếng trung liên nổ vang, át cả tiếng mưa tuôn xối xả. Tàn quân Chindits chống trả mãnh liệt bằng mọi thứ vũ khí.

Nửa giờ sau, khẩu đại liên cuối cùng của đồng minh bị hóc đạn. Hộp đạn cuối cùng cũng hết nhẵn. Trong khi ấy, súng lớn của đối phương vẫn bắn như mưa bấc.

Đến gần nửa đêm, mưa bắt đầu ngớt hột thì đạn dược của đồng minh cũng khô cạn. Hai bên chỉ còn cách phòng tuyến của nhau bằn tầm đạn súng lục. Binh sĩ Nhật ào lên xung phong lưỡi lê lóe sáng trong đêm tối rùng rợn.

Seng đã bị thương, Paul cũng bị thương. Trong cơn hỗn loạn, mỗi người chạy mỗi ngã. Seng thoát chết vì lê lết được tới gốc đa lớn, rồi bò vào trong hốc cây. Seng nằm thiếp đến khi mặt trời lên tới đỉnh đầu mới tỉnh dậy. Tứ phía trở lại hoàn toàn vắng lặng. Tàn quân đồng minh đã chết hết, xác nằm ngổn ngang.

Seng tìm kiếm khắp vùng nhưng không thấy xác Paul. Seng quay lại Nambum-Ga, rồi được hồi hương.

20 năm đã qua.

Đêm nay, trời lại mưa lớn, Seng Ho bị giam trong cái cũi kiên cố gần hốc cây đa mà hắn núp trốn trong dĩ vãng.

Một lằn chớp lại xẹt qua.

Hốc cây sáng vụt rồi tối sầm. Dường như hắn vừa nhìn thấy một bóng người.

Một bóng người quen thuộc… Seng Ho trợn mắt, cố chọc thủng màn đêm dày đặc. Tuy bị bỏ đói, bỏ khát trong cũi tre, hắn vẫn còn minh mẫn. Hắn không thể nào trông gà hóa cáo được.

Qua bóng tối, Seng thoáng thấy một người mặc đồ sáng. Người ấy đứng cạnh gốc đa, đối diện cũi tre. Seng đã nhận ra người ấy. Thời gian tàn nhẫn vẫn không thay đổi được những nét quen thuộc trong hình dáng.

Hoảng hốt, Seng đưa tay lên giật đầu tóc. Hắn cảm thấy đau đớn.

Như vậy nghĩa là hắn đang còn cảm giác, nghĩa là hắn đang ở trên dương gian, chưa bị lôi xuống âm phủ. Nghĩa là hắn đang còn sống, với đầy đủ xương thịt.

Vậy bóng trắng trước mặt không phải là mộng. Mà là sự thật. Sự thật vô cùng quái đản….

Như sợ sự thật có chất phóng xạ giết người, Seng Ho vội vàng lấy bàn tay bưng kín mặt. Vẫn chưa đủ, hắn còn co tròn lại trong cũi, rồi quay mặt ra hướng khác.

Nhưng bóng trắng kỳ quặc vẫn lởn vởn trước mặt, mỗi lúc một đận mét hơn. Seng Ho nhắm mắt lại, rên rỉ :

- Chết tôi mất !

oOo

Khi ấy, Thần Chết cũng đang hăm dọa tại Ngưỡng Quang. Sophie xô cửa vào phòng với khẩu súng trong tay.

Văn Bình trân trân ngó nàng. Dưới đèn, mặt nàng trắng bệch. Sự thất thần này tương phản rõ rệt với làn tóc mới được chải bới tươm tất đúng thời trang. Nhận ra Văn Bình, nàng thẫn thờ trong một phút. Rồi thở dài não nuột :

- Tưởng ai, té ra anh.

Sophie ném khẩu súng xuống bàn rồi ngồi phịch, khóc nức nở. Vẻ gan lì cố hữu của nàng đã tan biến đâu mất, giờ đây chỉ còn đôi vai rung rung và khuôn mặt ướt nhèm nước mắt.

Văn Bình nâng mặt nàng lên, giọng ôn tồn :

- Tại sao cô khóc ?

Nàng lại thở dài :

- Em tưởng các anh thiệt mạng cả rồi.

- Ai nói với cô ?

- Đại tá Karati. Hắn gọi điện thoại lại mỹ viện báo tin cho em. Hắn nói là lựu đạn nổ, cả Abê lẫn anh điều chết.

- Tội nghiệp Abê… Chẳng qua vì nghiện cà-phê. Địch phải là người biết rõ lối sống Abê, khi nào về nhà cũng uống cà-phê và tự tay đun nước trên bếp.

- Abê chết, thế nào em cũng chết. Dầu sao em cũng biết một vài bí mật. Họ sẽ không tha em.

- Ai đưa cô về ?

- Karati cho xe tới mỹ viện song em không chịu. Em lái xe riêng về. Đoán là địch cho nhân viên núp trong phòng nên em rút súng trước.

- Cô lên lầu bằng cửa trước.

- Không. Cửa sau. Binh-đinh có nhiều lối ra vào. Vì điều kiện an ninh, em thay đổi luôn. Hồi nãy, em vào bằng cửa hông.

- Tôi đề nghị cô rời khỏi căn nhà này ngay.

- Anh muốn em đi đâu ?

- Một nơi ẩn trú an toàn. Trong khi đó, tôi sẽ lo liệu giấy tờ và thủ tục cho cô giả từ Diến-Điện.

- Còn anh ?

- Có lẽ mai sớm tôi lên miền Bắc.

- Tìm Seng Ho ?

- Như cô đã biết, đó là nhiệm vụ của tôi. Với sự đồng ý của Karati.

- Chẳng qua họ muốn lợi dụng mà thôi. Karati không bồ bịch gì với tình báo Tây phương. Hắn làm ngơ cho Seng lên miền Bắc, móc nối các cơ sở gián điệp chống Cộng với điều kiện Seng phải hạ sát kỳ được thượng tá U-Ban của F-22. Vì vậy, Karati không thể công khai giúp đỡ. Abê đã nói với em như vậy.

- Như vậy là thế nào ?

- Là trên phương diện chính thức, nhà cầm quyền Diến không biết gì đến hoạt động của Seng Ho. Nếu Seng hớ hênh, họ sẽ phản đối, hoặc có thể bắt giữ. Việc giết U-Ban cũng phải được tiến hành trong bí mật tuyệt đối.

- Seng làm cách nào để giết được U-Ban ?

- U-Ban đang có mặt tại Nambum. Seng hy vọng thành công với sự trợ lực kín đáo và đắc lực của xã trưởng Tin Aung, một tù trưởng xoay chiều như chong chóng.

- Seng lên miền Bắc bằng phi cơ của ai ?

- Phi cơ riêng của công ty du lịch do Abê điều khiển. Công ty có hai phi cơ Đakota, dùng để chuyên chở du khách về miền Nam và miền Bắc. Một chiếc bị hỏng đang được sửa chữa. Chiếc thứ hai đậu lại phi trường Pegu. Ở đó, việc kiểm soát chỉ có tính cách tượng trưng.

- Abê nói là đã nắm được đầu mối quan trọng. Cô có biết rõ không ?

- Em đã giải thích một lần rồi. Abê là người kín miệng. Về công việc, chỉ cho em biết một số chi tiết hạn chế. Hồi chiều, Abê cũng nói với em như thế. Dường như Abê nghi ngờ ?

- Nghi ngờ ? Abê nghi ngờ ai ?

Sophie chau mày, nghĩ ngợi. Văn Bình nhìn qua cửa sổ xuống đường. Chiếc xe đen sì vẫn nằm ở chỗ cũ… Bàn tay run run cầm điếu thuốc Craven A vừa đốt, Sophie nói :

- Nếu biết thì anh và em đã không ngồi đây và Abê đã không thiệt mạng. Tuy nhiên, em có thể tin là… Abê có một cái két sắt nhỏ, cất giấu tài liệu.

Nói đoạn, Sophie mở tủ áo, lấy ra cái va-li tròn. Văn Bình ngạc nhiên :

- Cô đã sữa soạn từ trước rồi sao ?

Nàng gật đầu :

- Vâng. Abê dặn em luôn luôn phải sẵn sàng, em chế riễu Abê lẩm cẩm thì Abê cười đáp "gián điệp giỏi đều là những người lẩm cẩm"; bây giờ em mới hiểu là Abê chẳng lẩm cẩm chút nào….

Văn Bình tranh xách giùm nàng. Nàng khóa cửa phòng lại rồi dẫn chàng về phía cầu thang nhỏ, sau hành lang. Chỉ những bậc thang xoắn ốc, nàng cắt nghĩa :

- Đây là lối sau, giành riêng cho nhân viên. Để em xuống trước vì có những khúc quẹo tối.

Tuy trời tối, Văn Bình vẫn thấy rõ như ban ngày cặp đùi thon dài của nàng. Nhờ đôi chân "trường túc", nàng bước xuống thoăn thoắt, hơi thở luôn điều đặn và nồng nàn. Hết cầu thang, nàng rẽ vào một hành lang nhỏ. Nàng đẩy một cách cửa gỗ kêu kèn kẹt rồi ra đường.

Chiếc MK-IV nép mình ngoan ngoãn bên lề. Văn Bình có ấn tượng Sophie cũng nép mình ngoan ngoãn vào ngực chàng. Nàng thấp đến miệng chàng, nếu muốn ôm hôn, chàng phải cúi xuống, giang rộng cánh tay, quơ nàng lại, riết lấy cái eo vừa vặn và bộ ngực căng cứng.

Nàng nhường vô-lăng cho Văn Bình. Nhưng chỉ một phút sau khi xe hơi ra khỏi lề nàng vội nhắc nhở :

- Anh quên rồi.

Văn Bình nhún vai :

- Tôi đã quen đường phố Ngưỡng Quang.

- Hừ, quen mà lái bên phải !

Văn Bình giật mình. Luật lệ giao thông ở Diến rập theo Anh quốc mà chàng quên khuấy. Vì vậy, suýt nữa chàng đâm vào chiếc cam-nhông ngược chiều phóng nhanh như đang dự đua trên vòng chảo.

Gió thổi phơ phất. Sophie hỏi :

- Anh đưa em về đâu ?

- Lữ quán Strand.

Chàng tiên liệu nàng sẽ nhăn mặt, trề môi nói "không, em không thích tới Strand vì…" Nàng không ưa lữ quán Strand vì chàng có phòng ở đó, chàng có thể lợi dụng tình trạng tâm lý xúc động để chinh phục nàng.

Nhưng Văn Bình đã trật lất. Nàng đã áp dụng một lối nói bóng bẩy và khôn khéo :

- Strand ít khi có phòng trống, anh ạ.

Câu nói của Sophie có ý nghĩa thầm kín như sau "em không về Strand vì không lẽ về ở chung phòng với anh". Văn Bình đáp ngay. "Cô đừng lo. Tôi có hai phòng ở sát vách nhau. Nội ngày mai, cô có thể lên phi cơ. Đề nghị cô đi Vọng-các. Bạn tôi sẽ đón cô tại phi trường".

Sophie có vẻ như không quan tâm tới lời giải thích săn đón kín đáo của chàng. Nàng bắt sang đề tài khác :

- Anh nói được tiếng Diến không ?

Vô tình, chàng trả lời ngay :

- Không. Tôi chỉ biết dăm ba câu xã giao nhì nhằng. Chẳng hạn chào ông, chào bà, cái này bao nhiêu tiền, đi tới khách sạn Strand bằng đường nào, không dám, cám ơn….

- Tại miền Bác, dân chúng còn dùng thổ ngữ. Tiếng Diến đã khó, thổ ngữ còn khó hơn nhiều.

- Chắc cô thành thạo lắm.

- Nếu không thì làm sở du lịch sao được. Em sinh trưởng ở đây, lại học chương trình sơ đẳng tại đây. Mẹ em lại là người thuộc bộ lạc Kachin ở miền Bắc.

- Hoài của ! Giá tính mạng cô không bị đe dọa, tôi sẽ….

- Chẳng sao cả. Ông bạn Môhan không yêu cầu, con bé Sophie này cũng sẵn sàng.

Mắt Văn Bình rực sáng :

- Cô nhận lời làm hướng đạo cho tôi nhé !

Sophie gật đầu :

- Em xin ký cả hai tay. Vả lại, nếu em từ chối, thì không ai đưa anh tới Pegu để lấy máy bay. Tuy nhiên, em chỉ giúp anh với một điều kiện.

- Cô bắt tôi làm mọi tôi cũng không dám phản đối.

- Em đâu dám. Em chỉ yêu cầu anh… hiểu em một chút. Em vốn ghét đàn ông nịnh đầm, và tán gái sát sàn sạt như đánh giặc.

- Phải rồi. Cô thuộc loại mỹ nhân du kích.

- Em không khó khăn như ông tưởng đâu. Nhưng em….

Sophie nói chưa dứt lời, Văn Bình đã nhanh như cắt xô nàng ngã chúi đầu xuống táp-lô. Đồng thời Văn Bình cũng rạp xuống vô-lăng và lái tràn sang bên phải.

Một chiếc xe đen phóng hết tốc độ vừa lao tới, chạy kèm bên xe PK-IV.

Và một tràng đạn tiểu liên réo vang, tacata, tacata….

Bắn xong, chiếc xe bí mật biến mất vào bóng đêm đầy sương mù.

Văn Bình đảo vô-lăng, giữ cho bánh xe khỏi loạng choạng rồi từ từ thắng lại. Ngồi bên, Sophie giương cặp mắt đen láy nhìn chàng. Chàng hỏi, giọng thân mật :

- Cô hề gì không ?

Nàng đáp, giọng hơi run :

- Không. Còn anh ?

- Cũng không bị sứt mẻ.

- Em lại mang ơn anh lần nữa. Nếu anh không có mặt trong phòng, em đã bị địch bắt đem giết. Nếu em lái xe đêm nay, chắc chắn tai nạn đã xảy ra, không trúng đạn thì cũng đâm xe vào gốc cây. Không biết làm cách nào trả ơn anh đưọc.

Văn Bình nín thinh.

Lữ quán Strand hiện ra trước mặt. Đến nơi, chàng xuống xe trước, quan sát tứ phía thấy an toàn mới mở cửa cho Sophie. Nàng ngoan ngoãn theo chàng vào khách sạn. Hành lang rộng đã bắt đầu vắng vẻ. Nhân viên tiếp tân vồn vã khi thấy Văn Bình rút tờ năm đô-la màu xanh đút dưới cái đĩa đựng tàn thuốc :

- Chào ông, ông cần điều gì không ?

Văn Bình mỉm cười :

- Tôi muốn lấy thêm một phòng nữa.

Gã nhân viên liếc bằng đuôi mắt :

- Thưa, cho cô Sophie ?

- Phải.

- Thưa, không còn phòng nào nữa.

Văn Bình chuồi thêm 10 đô-la. Chiến thuật ngoại giao bằng đô-la này đã tỏ ra hữu hiệu trong mọi lữ quán trên thế giới. Không cần nhìn xuống, gã nhân viên đã biết bao nhiêu tiền. Gã giả bộ nhăn nhó :

- Vâng, còn một căn phòng, ở gần phòng ông. Nhưng đối với ông….

Văn Bình chía bàn tay để nhận chìa khóa. Sophie theo chàng lên lầu, không nói nửa lời. Chàng đưa nàng vào phòng, xem xét nước, điện và ổ khóa chu tất rồi mới cáo từ. Song Sophie đã nắm vai chàng lại, giọng trách móc :

- Anh nói dối.

Văn Bình đáp :

- Cô đừng tưởng lầm. Tôi mời cô về lữ quán không phải vì có ý định đen tối đâu. Chẳng qua tôi muốn bảo vệ an ninh cho cô.

- Em không phải là con nít.

- Vậy tùy cô.

- Tùy cô, cô sợ tôi ăn thịt thì cứ ra về tự nhiên. Cô không phải là con nít nên đã biết đường xuống cầu thang và ra khỏi khách sạn.

Đang ngồi trên giường, Sophie vùng đứng dậy, mắt đỏ hoe. Văn Bình đang lúng túng thì nàng tát luôn một cái. Tội nghiệp cho điệp viên hào hoa Z.28 ! Chàng nổi tiếng nhanh nhẹn, đỡ đòn của những võ sư thượng thặng một cách dễ dàng như trò đùa, vậy mà cái tát của giai nhân lại làm chàng chưng hửng. Xưa nay phụ nữ chỉ tát đàn ông hảo ngọt. Văn Bình cố giữ vẻ đứng đắn mà lại bị đánh.

Chàng lấy tay xoa má :

- Tại sao cô tát tôi ?

Sophie òa lên khóc. Văn Bình chắc lưỡi mở cửa phòng. Nàng gọi giật lại :

- Anh.

Chàng ưỡn ngực :

- Có mặt.

- Em không đùa đâu.

- Đúng thế. Nếu đùa, tại sao cô lại tát tôi đau điếng.

- Em đánh anh, tại sao anh không đánh lại ?

- Trời ơi, tôi không quen đánh đàn bà. Nhất là đàn bà khả ái như cô.

- Nhưng em đã hỗn với anh. Anh đánh em đi.

- Không.

- Vậy anh phải nói cái gi chứ !

- Nói hả ? Tôi xin chào cô, và thân ái chúc cô ngủ ngon đến sáng mai.

- Em không buồn ngủ.

- Tôi sẽ dặn bồi mang thuốc lên cho cô.

Chàng đóng cửa đánh sầm. Tiếng cửa kêu không át được tiếng khóc thút thít của Sophie.

Mỉm cười, Văn Bình rảo bước về phòng. Gã nhân viên tiếp tân đã đứng sẵn bên ngoài chờ chàng. Gã gãi tai trịnh trọng :

- Thưa, có ông Roy hỏi ông.

Roy, tùy viên thương mãi sứ quán Anh quốc, đại diện MI-6, điệp viên thích hót như khướu.

Chỉ thoáng nhìn, Văn Bình đã có thể kết luận là tình báo Tây phương chọn lầm nhân viên trung cấp hải ngoại. Nhưng cũng cố tình chọn lầm. Hoặc Roy cố tình đóng kịch. Vì từ cách phục sức đến cử chỉ và ngôn ngữ, Roy là hiện thân của nếp sống trác táng và bừa bãi, không phù hợp với hoạt động gián điệp.

Roy mặc áo vét-tông trắng tinh, ve áo bằng sa-tanh bóng loáng. Trên sơ-mi trắng cổ cồn cứng ngắc, nổi bật chiếc nơ xanh nhạt chấm tròn trắng. Bên dưới là chiếc quần màu sám, phủ trên đôi giầy da cá sấu đen sám mũi nhọn hoắt, tưởng như có thể dùng làm cái dùi được. Thân hình hắn không lấy gì làm cao đối với người Tây phương. Song cũng vì tầm thước nên hắn thích hợp với phụ nữ Viễn-Đông. Hắn có mớ tóc quăn dợn sóng, chải bi-ăn-tin bóng nhẫy, cặp mắt sáng và đĩ, cái miệng nhỏ luôn luôn cười khêu gợi.

Hắn chìa tay bắt :

- Hân hạnh được gặp anh. Tôi là Roy, hồi nãy, tôi đã gọi điện thoại cho anh. Trời Diến-Điện….

Văn Bình gạt ngang :

- Mời anh ngồi.

Rồi quay ra gã nhân viên khách sạn :

- Cám ơn anh.

Chờ gã nhân viên đi khuất, Văn Bình mới trở vào. Roy đang lúi húi bên chai cỏ-nhát mới khui. Hắn ngẩng đầu lên, nheo một bên mắt :

- Loại cỏ-nhát này ngon kinh khủng. Tôi gửi mua tận bên Pháp. Anh dùng thử sẽ thấy.

Văn Bình xua tay :

- Tôi không uống.

- Anh ghét rượu ?

- Ghét.

- Thật đáng tiếc.

- Tại sao bà Seng Ho không đến ?

- Vêra ấy à ? Nàng bị mệt nên không đến khách sạn gặp anh được. Nàng nhờ tôi mời anh lại nhà.

- Còn đại tá Karati ?

- Sẽ tiếp xúc sau với anh ?

- Mình có thể lờ hắn được không ?

- Không. Chỉ thị của trung ương rất minh bạch : Trong thời gian hoạt động phải hợp tác chặt chẽ với Phản Gián, đúng hơn, với đại tá Karati.

- Tại sao hắn lại đặt máy nghe trộm trong phòng khách sạn ?

- Trên nguyên tắc, ngoại kiều bị theo dõi ngày cũng như đêm. Nhân viên của Karati có mặt trong hầu hết các đại lữ quán. Theo tôi, chuyện này không quan hệ. Một khi mình đã chung lưng đấu cật với Karati thì chẳng có gì cần giấu diếm cả.

- Nghĩa là mọi việc anh đều bàn với Karati ?

- Vâng.

- Việc Seng Ho ?

- Trước ngày lên miền Bắc, Seng đã họp riêng với Karati và tôi.

- Anh có biết tại sao Seng dám cam kết với Karati là sẽ hạ sát được thượng tá U-Ban của F-22 không ?

- Vì U-Ban dự định tiếp xúc với xã trưởng Tin Aung tại Nambum-Ga. Seng là bạn cũ của Tin Aung. Gặp cơ hội, Seng có thể giết U-Ban dễ như trở bàn tay.

- Nhưng địch đã làm kế hoạch của Seng thất bại dễ như trở bàn tay.

- Điều đó khiến tôi rất đỗi ngạc nhiên.

- Anh có ngạc nhiên khi nghe tin Abê bị lựu đạn chết không ?

- À, vụ này lại không làm tôi ngạc nhiên. Tôi chỉ ngậm ngùi mà thôi. Abê và tôi là bạn. Bạn du hí thân thiết ở một thành phố buồn như trấu cắn không phải tìm đâu cũng có. Phương chi, chúng tôi còn là bạn hoạt động nữa.

- Vì lẽ gì anh không ngạc nhiên ?

- Lý do rất giản dị. Tính mạng của chúng tôi bị địch hăm dọa nặng nề. Riêng một tuần nay, tôi bị ám sát hụt hai lần.

- Lựu đạn ?

- Không. Lần thứ nhất, tôi suýt bị quân xa cán xế cổng tòa đại sứ. Lần thứ hai, vô-lăng bị gẫy, bánh trước văng khỏi xe trong khi tôi đang phóng nhanh.

- Anh muốn về hay ở lại ?

- Sự thật là tôi không muốn ở lại. Trung ương ra lệnh cho tôi chờ anh. May sau anh đến kịp, nếu không….

- Khi nào anh định rời Ngưỡng Quang ?

- Càng sớm càng tốt. Dầu sao anh cũng là đại diện có thẩm quyền. Nếu anh không phản đối, tôi chỉ xin ở lại một tuần lễ nữa là lâu nhất để thu xếp công việc.

- Công hay tư ?

- Cả hai.

Văn Bình hơi khó chịu khi nghe điện thoại reo. Suốt ngày ngồi trên phi cơ, đến Ngưỡng Quang lại bị mưu sát hai lần trong bầu không khí khẩn trương, chàng cảm thấy mệt nhoài. Chàng chỉ muốn được lim dim cặp mắt dưới hoa sen phòng tắm để hưởng khoái cảm của những tia nước nóng và nước lạnh tiếp nhau, rồi khui chai huýt-ky mới nguyên như cô gái đôi tám chập chững vào đời tình ái - trước khi duỗi dài trên nệm trắng tinh, thơm mùi bột giặt, kéo một giấc ngủ say sưa cho đến trưa hôm sau.

Chàng bèn ra dấu cho Roy. Đặt ống nghe vào tai, Roy đang nghiêm mặt bỗng cười vui vẻ. Hắn gật đầu lia lịa :

- Vâng, vâng, tôi đây. Môhan hả ? Vâng, chúng tôi đang trò chuyện với nhau. Vâng, tôi xin đưa dây nói cho Môhan.

Hắn vâng răm rắp hàng chục tiếng ròn tan. Chưa cần nghe rõ nội dung, Văn Bình đã biết người kêu điện thoại là Vêra, bà vợ tỷ phú trẻ măng của Seng Ho.

Văn Bình nhăn mặt vì tiếng nói của Vêra chua như dấm. Nàng ong ỏng vào tai chàng :

- Ông Môhan phải không ? Hân hạnh chào ông. Tôi là Vêra, vợ ông Seng Ho.

- Vô cùng hân hạnh. Tôi là Môhan. Rất tiếc là bà hơi khó ở nên không đến được.

- Ai bảo với ông là tôi khó ở ? Nàng phá lên cười, giọng cười của nàng reo lanh lảnh như thủy tinh. Tôi vẫn khỏe như thường. Tôi không đến gặp ông được vì bận chút việc.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:03 pm

Văn Bình muốn thở dài sườn sượt trong ống nói "thưa bà, tôi hiểu rồi, bà cậy nhiều tiền nên khinh người như mẻ… chồng bà bị mất tích, không biết sống chết ra sao, tôi là cứu tinh của bà, lẽ ra nghe tin tôi đến, bà phải ra tận phi trường chầu chực, không ngờ bà lại thản nhiên... bà lỡ hẹn với tôi vì bận chút việc…."

Nhưng Vêra đã nói tiếp, thao thao như nước lũ :

- Khổ quá, con chó của tôi húng hắng ho nên tôi phải đích thân mang nó đi khám bệnh. Khổ quá, tôi đi khắp thành phố mới tìm ra bác sĩ thú y. Ông đừng giận tôi nhé ! Tôi rất yêu giống vật. Yêu đến nỗi nhiều khi bỏ ăn, bỏ ngủ.

Lần này thi Văn Bình không hảm nổi tiếng thở dài. Giọng Vêra vẫn rỏn rẻng :

- Ông giận tôi hả ?

Văn Bình vội đáp :

- Đâu dám, thưa bà… Chẳng qua tôi hơi mệt.

- Ồ, tưởng gì, ông đến đây, tôi có sẵn người đấm bóp cho ông. Nếu ông không chấp nê, tôi xin mời ông tới nhà.

- Thưa bà….

Văn Bình định nói là chàng buồn ngủ ríu mắt, chân tay rời rã, không đến nổi, và xin khất đến sáng mai. Song Vêra đã chặn ngang :

- Không sao…. Tôi đã cho tài xế đến khách sạn rước ông. Nó vừa đi cách đây 15 phút, chắc sắp tới. Sợ dọc đường gặp chuyện bất trắc, tôi đã dặn bọn vệ sĩ…

- Vệ sĩ ?

- Vâng, bọn vệ sĩ này rất giỏi võ. Ông biết không, gỗ tếch cứng như sắt mà họ có thể dùng bàn tay chặt đứt như chơi… Đại tá Karati đã có nhã ý cho bọn họ đảm bảo an ninh cho tôi. Chào ông nhé, tôi phải dỗ dành con chó một lát… Ai đời từ chiều đến giờ nó không chịu ăn gì cả.

Văn Bình nhẹ nhỏm cả người khi gác ống nói vào giá. Gia tài khổng lồ 250 triệu mỹ kim đã biến đổi tâm tính nữ giới của Vêra.

Chàng bỗng nhớ tới dạ dày lép kẹp. Từ trưa đến giờ, chàng mới được uống mà chưa ăn. Và chàng uống toàn huýt-ky nên ruột gan cồn cào. Khi Vêra nhắc con chó chưa ăn từ chiều, chàng mới cảm thấy đói. Chàng bèn lẩm bẩm :

- Hừ, số mình đen thật !

Đang uống cỏ-nhát, Roy quay lại, cười ha hả :

- Vêra vừa nói tới chuyện con chó của nàng bị đau hoặc bị đói, phải không ?

- Phải. Chắc nàng thương nó lắm.

- Thương một cách kinh khủng. Tên con chó là Love. Có lẽ vì bà chủ đang thiếu thốn tình yêu. Nàng săn sóc con chó gấp trăm lần đàn bà chăm sóc con mọn nữa. Đi đâu nàng cũng đem nó theo, lên giường ngủ nó cũng kè kè bên mình như hình với bóng… Nàng thường khoe là chỉ nó hiểu được nàng.

- Còn đức ông chồng ?

- Seng Ho ấy à ? Nàng lấy hắn cho đỡ buồn hơn là để tính chuyện trăm năm. Dầu sao hắn cũng đẹp trai, đủ tài chinh phục trái tim và xác thịt của đàn bà khó tính. Nhưng phần khác cũng vì nàng nhớ anh ruột. Lúc hàn vi hai anh em sống bên nhau. Đến khi nàng trở thành tỷ phú thì anh ruột đã chết mất xác trong rừng rậm. Seng Ho là bạn đồng ngũ thân thiết của Paul, anh ruột nàng. Nàng lạ lắm, anh ạ. Gặp nàng, anh sẽ thấy.

- Lạ ra sao ?

- Khó nói lắm.

Văn Bình định hỏi thêm song Roy khoát tay bảo im. Hắn khum bàn tay như ống loa quanh tai, vẻ mặt nghiêm trọng :

- Anh nghe gi không ?

Văn Bình giật mình :

- Có. Tiếng tích-tắc.

Chàng nhìn dáo dác quanh phòng. Trên tường hoặc bàn đêm không có cái đồng hồ nào. Tiếng tích-tắc mỗi lúc một rõ và từ cửa phòng vẳng vào.

Văn Bình từ từ xoay nắm cửa. Chàng đoán không sai : một cái hộp vuông được đặt sát chân không biết từ khi nào. Địch gớm thật ! Họ định giết chàng và Roy bằng bom gắn đồng hồ. Nhìn sơ qua, chàng biết đây là bom định hướng đặc biệt do Smerch Sô Viết chế tạo cho nhân viên hoạt động ở Âu châu. Cách gắn và tháo ngòi nổ rất giản dị, trẻ con cũng có thể làm đưọc. Ba vụ mưu sát xảy ra trong vòng nửa ngày trời, mỗi vụ một khác, quả địch không phải là tổ chức tầm thường…. Từ nay, Văn Bình phải thận trọng hơn nữa.

Chàng quỳ xuống, một tay giữ cho cái hộp nằm nguyên một chỗ, tay kia lẹ làng rút ngòi nổ và gỡ giây thiều đồng hồ. Roy đứng sững nhìn chàng như bị thôi miên.

Một lát sau hắn mới hoàn hồn. Hắn thở phào :

- Suýt nữa….

Phớt tỉnh như không có chuyện nghiêm trọng xảy ra, Văn Bình kéo Roy xuống lầu. Tài xế của nữ tỷ phú Vêra đã chờ sẵn, trang trọng trong bộ đồng phục trắng tinh, giầy trắng tinh, cát-kết cũng trắng tinh, và đều viền chỉ vàng. Roy chỉ gã tài xế cao lớn vừa nhấc kết chào, giải thích :

- Anh có để ý tới viền vàng không ? Toàn bằng vàng thật, 18 ca-ra.

Đứng sau tài xế là hai vệ sĩ da đen như đồng hun, mặc đồ cụt sám, để lộ cánh tay lớn như bắp chân Văn Bình. Bộ ba rạp mình chào một cách cung kính.

Văn Bình hỏi Roy :

- Anh cùng đi cho vui nhé ?

Roy lắc đầu :

- Thú thật với anh, tâm thần tôi đang bị bấn loạn. Vả lại, tôi không còn chi tiết nào để nói với anh nữa. Mỗi ngày tôi sẽ liên lạc với anh hai lần bằng điện thoại. Nếu anh cần phúc trình về trung ương, xin đưa mật điện cho tôi, tôi có điện đài riêng. Tiền bạc, võ khí, giấy tờ, tất cả những gì anh cần tôi đều lo liệu đủ. Tôi đã dặn ban giám đốc khách sạn Strand gửi hóa đơn cho tôi. Bắt đầu từ sáng mai, tài xế của tôi sẽ đậu trước khách sạn suốt ngày, xin anh tự do xử dụng xe hơi.

- Cám ơn anh.

Văn Bình chờ Roy lên chiếc Rolls bóng loáng, cao lêu nghêu, rồi mới quay đi. Ít khi chàng thấy tùy viên thương mãi sứ quán dùng xe Roll kiểu mới. Và ít khi chàng thấy đại diện MI-6 xài xe sang trọng, vốn dành cho triệu phú hoặc nhân viên ngoại giao quan hệ. Chàng có cảm tưởng là MI-6 đang giết hắn, hoặc hắn dại dột lao đầu vào cái chết.

Tài xế mặc dồng phục trắng dẫn Văn Bình lại chiếc Cadillac sơn trắng nắm ngạo nghễ trước lữ quán. Là kẻ sành điệu xe hơi, Văn Bình đã lái nhiều chiếc đắt tiền và phóng nhanh nhất thế giới. Nhưng đây là lần đầu chàng được ngự trong chiếc Fleetwood 75 dài 6th20, loại đắt nhất trong đại gia đình Cadillac.

Cửa xe đóng lại, Văn Bình cảm thấy ngây ngất. Bọn vệ sĩ ngồi băng trên với tài xế, cách chàng một tấm kính dầy. Máy điều hòa khí hậu chạy êm không nghe tiếng động, một mùi thơm quyến rũ tỏa ra. Chàng lọt thỏm vào cái ghế khổng lồ, nệm vô cùng êm ái. Vải nệm bằng lông trắng, không phải thứ lông nhân tạo, hoặc lông thú thông thường. Mà là bằng loại lông ngự hàn đắt tiền có một không hai trong thế giới ăn mặc.

Đó là lông báo nước [1], chỉ có nhân tình vua dầu lửa hoặc đại minh tinh điện ảnh mới đủ tiền sắm nổi. Báo nước có nhiều loại, loại của đệm xe Cadillac này rất hiếm, mỗi bộ lông trị giá trên hai ngàn đô-la, vị chị cả bộ nệm lên tới ba, bốc chục ngàn đô-la. Nghĩa là vào khoảng 6, 7 triệu bạc Việt-Nam.

Nhìn sang bên hữu, Văn Bình thấy hai máy điện thoại, một cái dùng để liên lạc với tài xế, cái còn lại chắc là siêu tầng số. Bên tả là máy thu thanh, truyền hình, máy hát dĩa, máy ghi âm, máy cát-sét, và đặc biệt là tủ lạnh.

Văn Bình ấn nút tủ lạnh. Bên trong được chia làm 4 ngăn, các ngăn trên đựng rượu, còn ngăn cuối cùng đựng ly cốc. Toàn ly cốc pha-lê, đáy và quai cầm bằng vàng khối. Rượu được chứa trong những cái ve nhỏ, cũng bằng pha-lê, tên rượu được in chữ nổi bên trên.

Chàng lấy ve huýt-ky mở nút ngửi, rồi dốc sạch vào liệng. Hơi rượu quen thuộc làm tinh thần chàng sảng khoái.

Xe hơi chạy êm đến nỗi người không quen phải tưởng lầm là đứng một chỗ. Tuy nhiên, Văn Bình biết là tài xế lái với tốc độ thật cao.

Ra đến ngoại ô, chiếc Cadillac leo lên một ngọn đồi thoai thoải, hai bên đèn sáng trưng, mặt đường óng ánh như có lân tinh. Giới tỷ phú ở Hoa Kỳ thường cho trộn lân tinh vào nhựa bê-tông để trải đường, ban đêm không cần mở đèn pha, tài xế vẫn thấy rõ phía trước.

Biệt thự của Vêra ở trên đỉnh đồi, tứ phía là tường cao bao bọc, hai người đứng lên vai nhau cũng không nhìn được vào trong. Từ cổng vào đến mặt tiền tòa nhà hơn 300 thước.

Bọn vệ sĩ nhảy xuống trước, khúm núm mở cửa. Văn Bình đặt chân trên một tấm thảm ni-lông đỏ. Một quản gia người Trung Hoa mặc dạ phục trắng, nơ đen, khom lưng chào chàng và dẫn chàng vào xa-lông.

Văn Bình choáng mắt trước vẻ sang trọng khác thường của phòng khách. Bàn ghế hai mầu đen và trắng, lợp bằng lông chinchilla, một loại lông ngự hàn chỉ thua lông báo nước về giá tiền.

Chàng định ngồi xuống thì gã quản gia vòng tay, cúi đầu :

- Thưa, bà Vêra mời quý khách lên phòng ngủ.

Tai Văn Bình bị ù hẳn. Không lẽ chàng nghe lầm. Gã quản gia nói từng tiếng một rõ rệt và sang sảng "thưa, bà Vêra mời quý khách lên phòng ngủ". Nàng mời chàng lên phòng làm gì ? Chàng đến đây vì công việc. Vì chồng nàng bị mất tích. Không phải đến với mục đích thăm viếng khoe của, hoặc du hí.

Trừ phi nàng mắc bệnh đa tình.

Văn Bình rùng mình. Kỷ niệm cô gái Diến yểu mạng ngày xưa luôn luôn vương vấn trong trí chàng, và biến thành thùng nước đá dội lạnh những tình cảm nóng bỏng đang dâng lên cuồn cuộn từ khi chàng bước chân vào động đào kỳ diệu.

Cầu thang lót đá trắng rộng thênh thang, tưởng như có thể làm sân gôn trên mổi bậc được. Hành lang trên lầu được lót thảm ni-lông đỏ, như dưới nhà. Loại thảm dát kim tuyến này được dệt tay tại Vọng-các, giá tiền hơn trăm đô-la một mét vuông.

Văn Bình đi xuyên qua hai căn phòng lớn không có đồ đạc, nhưng bốn bức tường đều bằng gương, đèn sáng lờ mờ, huyền ảo. Gã quản gia đưa chàng đến một cánh cửa nhỏ thì đứng lại. Trong loáng mắt, gã biến đâu mất.

Nhưng cửa phòng đã mở ra như người ở phía sau chờ sẳn, và có biệt tài nghe được hơi thở rồn rập của chàng qua lớp cửa gỗ tếch bất khả xâm phạm. Văn Bình có cảm giác lạc vào khu "nhất dạ đế vương" của thiên đường dạ lạc Hồng Kông. Trong phòng tối om. Ngoại trừ một ngọn đèn ở góc.

Ngọn đèn dầu lạc cố hữu của xã hội phù dung tiên tử….

Nhưng trước hết, chàng phải để ý tới một cô gái nhỏ nhắn khá đẹp. Theo tiêu chuẩn nhan sắc địa phương thì nàng đáng được liệt vào hàng á hậu, mặc dầu người sành điệu quốc tế như Văn Bình chỉ có thể hạ phê "khá đẹp" mà thôi. Tuy nhiên, làn da bánh mật thiếu gợi cảm và khuôn mặt kém nhanh nhẹn của nàng đã được đền bù lại bằng một thân hình tượng nặn.

Văn Bình nhận ra sự tương phản này rất dễ dàng vì lẽ giản dị, nàng chỉ mặc một cái áo ngủ bằng voan mỏng duy nhất. Loại áo này được may gần khít người nên mọi báu vật trên người nàng được triển lãm đầy đủ, còn rõ ràng hơn là bầy trong tủ kính dưới ánh đèn sáng quắc nữa.

Nàng nghiêng đầu chào Văn Bình rồi quỳ xuống ra hiệu cho chàng kê chân lên một cái bục thấp, để nàng cởi giầy. Văn Bình lắc đầu, đáp lại cái nghiêng đầu mời mọc của nàng. Chàng đến đây để gặp Vêra, bàn công việc hệ trọng. Văn Bình nhắc lại trong đầu câu nói thốt ra dưới nhà "… không phải đến đây để thưởng thức tấn trò nhất dạ đế vương…"

Nhưng cô gái không quan tâm tới sự phản đối của chàng. Nàng ngoan ngoãn tháo giầy cho chàng, và ngoan ngoãn dắt tay chàng lại góc phòng.

Mâm đèn á phiện được đặt ngay ngắn trên tấm nệm mút dầy 2 tấc. Nàng nằm xuống, nghiêng người đối diện chàng. Chàng có thể chiêm ngưỡng tha hồ những cái cần chiêm ngưỡng. Ngực nàng nhỏ nhưng tròn trịa và sung sức. Bụng nàng rất nhỏ và không một nếp răn, dầu là nếp răn li ti. Nghĩa là cô gắi mới bước vào đời… Vả lại mặt nàng còn non, có lẽ nàng độ 15, 16 tuổi.

Nàng nướng thuốc lèo sèo trên ngọn lửa vê thật tròn, nhồi gọn vào tẩu - một cái tẩu bằng ngà, bịt vàng ở đầu chạm hình lưỡng long triều nguyệt - rồi âu yếm (phải, âu yếm hơn vợ chồng trong tuần trăng mật nữa) nâng tận miệng cho chàng. Từng hoạt động trong các quốc gia Tây-Bắc Đông Dương, giáp giới Hoa Nam, Văn Bình đã quen với truyền thống tiếp khách bằng á-phiện. Những lần lưu lạc tới đất Vân Nam, Thái-Mèo, Đông-Lào, Bắc-Thái, chàng đã hút no nê, và hút nhiều loại á-phiện khác nhau. Cũng như rượu huýt-ky, chàng hút không bao giờ say, nhiều đêm hút từ chập tối đến sáng mà vẫn tỉnh khô. Tuy nhiên, chàng không khắng khít với ả phù dung, lắm khi chàng còn ghét cay ghét đắng nữa.

Văn Bình khoát tay từ chối.

Cô gái mỉm cười rồi cầm ống tẩu kéo một hơi dài ròn tan. Nàng phà khói lên trần nhà, đoạn ngồi dậy bưng khay rượu lại cho Văn Bình. Nàng rót vào ly pha-lê cho chàng một thứ rượu màu vàng nhạt. Tưởng huýt-ky, chàng bưng uống. Vị ngọt làm chàng rợn người. Chàng chỉ chiêu một hớp nhỏ rồi hạ ly xuống :

- Rượu gì thế ?

Cô gái không đáp, rút dưới khay ra tấm danh thiếp in chữ vàng "Vêra trân trọng mời khách" và giòng chữ viết tay bay bướm "cốc-tay bằng rượu vang Madeira, trộn với hai viên đường trắng và bốn giọt rượu curaçao".

Văn Bình vụt hiểu. Cách đây không lâu, lạc vào một hộp đêm bí mật ở Nữu-ước, chàng đã được uống loại cốc-tay đặc biệt này. Đó là cốc-tay dọn đường cho khách mở khóa động đào.

Chàng đang bối rối thì cô gái lấy ra một tờ giấy đánh máy gấp đôi, và đưa cho chàng.

Bên trên có giòng chữ "Vêra trân trọng mời khách". Phía dưới chàng đọc thấy như sau :

"Nếu quý khách muốn dùng rượu đặc biệt, Vêra xin giới thiệu một số cốc-tay quốc tế rất được hâm mộ. Quý khách chỉ cần vỗ tay lên một tiếng là có gia nhân bưng tới.

"Thiên Thai tửu : rượu vang Ý-đại-lợi pha với gừng, quế chi, vỏ cây đại hoàng [2] và bột va-ni.

"Kava vô tình : rượu chế bằng ruột cây kava ở Nam-Dương quần đảo [3] tán nhỏ và rót trong gáo dừa

"Pháp quốc tình tửu : rượu Bénédictine và Chartreuse [4]

"Trong trường hợp quý khách là môn đệ trung thành của chủ nghĩa tiết chế, Vêra cũng hân hạnh được giới thiệu một số rượu thuốc bột và thuốc cao bí truyền được dùng trong các tu viện và trong các môn phái luyện công ở Trung Hoa và Ấn-Độ như sau :

"Rượu lá liễu, rượu hoa màu gà, rượu hoa củ súng, rượu độc cần, rượu long não [5]

Văn Bình lấy tay dụi mắt. Những hàng chữ đánh máy màu đen vẫn rành rành trên mảnh giấy, không phải là mộng mị. Roy cho biếtr là Vêra là người đàn bà lạ lùng, song Văn Bình, không ngờ nàng lại có thể lạ lùng như vậy.

Chàng bèn trả tờ giấy cho cô gái mặc áo voan mỏng dính, kèm theo cái lắc đầu tỉnh khô:

- Cám ơn. Tôi chẳng muốn uống gì cả. Tôi chỉ muốn gặp Vêra.

Cô gái mỉm cười, cúi xuống mâm đèn thuốc phiện. Mùi dầu lạc cháy, mùi nha phiến, mùi tóc xức hương hoa rừng của cô gái Diến tạo cho nàng một sức quyến rũ kỳ ảo. Tuy nhiên, Văn Bình vẫn tiếp tục giữ vẻ mặt bình thản. Chàng nắm vai nàng kéo dậy :

- Vêra, tôi cần gặp Vêra ngay !

Nàng gỡ tay chàng ra rồi đứng lên, cặp mắt ngơ ngác.

Đèn trong phòng bỗng sáng rực. Một chuỗi cười lanh lảnh cất lên sau lưng Văn Bình.

Tiếng cười tự tin của tỷ phú Vêra.

Văn Bình cảm thấy choáng váng. Về nhan sắc, Vêra không thuộc loại siêu quần bạt tụy, nhưng về nghệ thuật biểu diễn đường cong núi lửa thì trên địa cầu rất ít phụ nữ bén gót nàng.

Nàng phục sức giản dị, từ đầu đến chân toàn mặc đồ trắng. Y phục của nàng không theo thời trang lõa lồ, hoặc hở ngực sống sượng, hoặc áo chữ V quá sâu gần tới bụng, hoặc vải voan giấy bóng dâm đảng. Bộ quần áo trắng của nàng dài đến bàn tay và bàn chân, phủ kín cơ thể, chỉ để chừa cái cổ cao và trắng.

Song sự kín đáo này chỉ có tính chất giả tạo. Vì y phục của nàng là đồ chẽn, chẽn hơn blue-jean Tạy phương, chẽn hơn quần áo thun chẽn của vũ sư trên sân khấu ca nhạc nữa. Quần áo nàng dán chặt vàà người, nhu thể được làm bằng cao-su, một loại cao-su riêng, tôn giá trị của bộ ngực nở nang, của bờ vai thuôn tròn trịa, của cái eo nhỏ xíu, của làn mông tròn trịa, và của cặp giò dài, cân đối như vừa ra khỏi xưởng nặn của đệ nhất điêu khắc gia hoàn vũ.

Vêra cười lộ hàm răng ngà ngọc, thoang thoảng mùi thơm của hơi thở dịu dàng :

- Chào anh.

Chết rồi, nàng đã xuồng xã gọi chàng bằng anh…. Chàng chỉ cần nghiêng đầu, mỉm cười đáp "chào Vêra" rồi cầm bàn tay nàng hôn đúng kiểu cách là nàng sẽ lim dim cặp mắt, sẵn sàng đợi chàng tấn công chớp nhoáng để ngả vào lòng chàng. Song chàng chỉ phản ứng lại một cách nghiêm trang :

- Không dám. Tôi là Môhan.

Lẽ ra chàng nói "không dám, chào bà, tôi là Môhan" nhưng cái nhìn soi mói của nàng đã bắt chàng nghẹn lời, mặc dầu chàng ít khi chịu nghẹn lời trước đàn bà xa lạ.

Vêra ngồi xuống đi-văng, rồi chỉ ghế xa-lông đối diện mời chàng :

- Anh đừng chấp gia nhân của tôi. Cô gái này không thể tiếp chuyện anh vì bị câm. Vâng, bị câm từ hồi lọt lòng mẹ.

Văn Bình há miệng chưa kịp phát biểu ý kiến thì nàng đã chặn ngang :

- Tôi biết rồi, anh sắp sửa phản đối. Nếu vậy thì anh lầm to. Anh là thượng khách nên tôi mới sai cô gái câm nghênh tiếp. Hẳn anh không lạ gì cách đãi đằng của dân chúng Vân-Nam, Ai-Lao hoặc ở đây. Thường thường là bên mâm đèn… Tôi lại là người Mã-lai… sinh trưởng ở Trung Hoa, những nước có truyền thống trọng khách… Không giấu gì anh, gia đình tôi sống dọc biên giới Mông-Cổ, quen với núi cao, leo trèo quanh năm như người chạy dưới đất bằng, nên có sức khỏe bền bỉ… (Vêra liếc Văn Bình và cười mỉm). Người dân tỉnh tôi lại có một tục lệ đãi khách đặc biệt, gần giống bộ lạc Ét-ki-mô ở Bắc-Cực. Anh đã có dịp làm quen với đàn bà con gái Ét-ki-mô chưa ?

Văn Bình đã lê gót tới hang cùng ngõ hẻm của trái đất nên không thể không biết vùng Bắc-Cực. Chàng phiêu bạt tới xứ băng lạnh này nhiều lần, hoặc vì hoạt động nghề nghiệp điệp báo, hoặc để tham dự cuộc đua xe chó trượt băng.

Nhân một cuộc đua kỳ lạ này, Văn Bình làm quen với phong tục đãi khách địa phương. Truyện xảy ra từ lâu mà chàng vẫn tưởng như mới một vài tuần qua. Chàng cứu thoát một thanh niên suýt bị chó sói ăn thịt nên dân làng mời chàng tới thăm. Lần đầu được bộ lạc Ét-ki-mô coi là thượng khách, Văn Bình có cảm tưởng như lạc vào động tiên, mặc dầu động tiên của họ chỉ là những ngôi nhà bằng đất phủ cỏ tròn trạnh như cái niêu đất úp ngược, bên ngoài là những tảng tuyết và băng.

Sau khi chui qua một lối đi thấp và hẹp, Văn Bình bước vào một gian phòng khá rộng, thắp đèn dầu. Toàn thể gia đình đều ở chung với nhau trong căn phòng duy nhất này. Như thường lệ, chàng được mời ăn bữa cơm thịnh soạn gồm cá hồi phơi khô, mỡ cá voi, thịt nai biển, và uống trà nóng đặc sịt. Bầy con gái trong nhà sà đến bên chàng, nhưng sau cùng, cô lớn nhất ở lại.

Chàng chưa kịp cởi giầy, thì nàng đã cầm lấy rũ chải sạch sẽ và treo lên mắc. Khi chàng rút thuốc lá ra cuốn thì nàng lấy một cái đĩa nhỏ đặt trước mặt cho chàng đựng tàn. Rồi nàng ngồi luôn dưới chân chàng. Trò chuyện đến đêm, mọi người lục tục đi ngủ, ngọn đèn duy nhất tắt phụt. Văn Bình ngã lưng xuống giường và chạm phải da thịt cô gái. Chàng giật mình hoảng sợ. Mang danh thượng khách mà dám tò tí với con gái chủ nhân, ngay trong nhà - dầu đó không phải là lỗi tại chàng - chàng có thể bị dân Ét-ki-mô làm thịt, lấy mỡ thắp đèn, lột da làm áo như họ đã lấy mỡ và lột da hải cẩu.

Chàng bèn lên tiếng :

- Ai đấy ?

Cô gái rúc vào nách chàng :

- Em đây.

- Cô không có giường ngủ ư ?

- Có chứ.

- Tại sao cô lại nằm đây ?

- Vì đây là giường em.

- Xin lỗi… Tôi bị lầm giường. Phiền cô thắp đèn để tôi tìm giường khác.

- Nhà hết giường rồi. Vả lại, đêm nay em nằm chung với anh.

- Nằm chung ?

- Vâng.

- Cô còn nhỏ quá, nên….

- Anh đừng khinh em. Con gái 10 tuổi trở xuống thường nằm chung với bố mẹ. Năm nay em đã 18. Con gái 18 chỉ có thể nằm chung với con gái, hoặc với đàn ông cùng tuổi, anh hiểu chưa ?

- Hiểu rồi.

- Hiểu rồi thì nằm xích lại đây, em lạnh sắp chết cóng.

- Tôi sợ lắm…

- Sợ gì ? Thôi em biết nguyên nhân. Mấy cô em của em trẻ hơn nhiều. Họ lại xinh đẹp hơn nữa.

- Không, không, em rất trẻ, rất xinh đẹp. Tôi sợ… là sợ gia đình biết chuyện.

- Ồ, đây là phong tục Ét-ki-mô… Chủ nhà phải dâng hiến cho khách những cái gì mình quý nhất.

Văn Bình bèn nói dối :

- Nhưng tôi đã có vợ rồi.

Thì nàng nắm tay chàng :

- Nhưng vợ anh lại ở quê nhà, xa hàng ngàn, hàng vạn dặm đường. Còn em… em đang ở bên anh. Đêm nay trời lạnh kinh khủng. Nào, anh chấp thuận chưa ? Mời anh nằm xuống và đắp chun gmền với em. Trong thời gian anh ở đây, em là của anh, hoàn toàn thuộc về anh, không người con gái nào dám léo hánh tới anh cả.

Nhờ định mạng, Văn Bình đã nếm mùi ái tình Bắc-Cực. Suốt đời chàng nhớ mãi. Nghe Vêra hỏi, chàng ngập ngừng một giây định trả lời "chưa". Vêra đã đọc rõ tư tưởng của chàng :

- Tôi không tin rằng tình báo C.I.A. và LI-6 phái tới Ngưỡng Quang một nhân viên trung cấp, quanh năm ru rú trong văn phòng với đống hồ sơ bám bụi và mạng nhện. Vả lại, chỉ nhìn anh tôi cũng biết anh là kẻ đi nhiều. Chắc anh đã biết phong tục đãi khách của bộ lạc Ét-ki-mô. Đồng bào tôi còn đãi khách nồng nàn hơn bộ lạc Ét-ki-mô nữa.

Văn Bình cười nửa miệng, ra vẻ chế nhạo :

- Chỉ tiếc cô gái cấm khẩu….

Mặt Vêra trở nên nghiêm nghị, như thể cô giáo răn dạy học sinh rắn mắc :

- Hừ, không ngờ anh lại hời hợt đến thế. Theo luật thừa trừ của Tạo Hóa, những người tật nguyền, nhất là đàn bà, thường sung mãn hơn trên tình trường. Cũng vì vậy mà một số vua chúa ở Ba-Tư và Ấn-Độ đã tuyển nạp cung nữ tật nguyền như câm, điếc, mù, què, cụt. Ngày nay người ta cho rằng Tây phương tiến xa hơn Đông phương trong kỹ thuật yêu đương. Nhưng sự thật khác hẳn. Có lẽ anh cần tham khảo một số sách vở : tôi sẵn sàng biếu anh một cuốn Kama-sutra [6] hoặc Kitab [7].

Sự thản nhiên của Vêra làm Văn Bình rợn gáy. Là điệp viên lọc lõi, nhiều năm lăn lộn trong bóng tối, chàng không lạ gì Kama-sutra và Kitab, hai cẩm nang ái ân nổi tiếng từ thượng cổ trên thế giới. Tuy nhiên, chàng phải lấy làm lạ khi nghe tận miệng một thiếu phụ quý phái và kiều diễm như Vêra nhắc tới những bộ sách cấm ấy. Vêra là ai ? Là nữ quỷ Sa-tăng, là con Hồ ly tinh chuyên rút gan ruột đàn ông dại gái trong Liêu Trai Chí Dị ư ? Hay Vêra không còn là đàn bà nữa ? Hay Vêra là nhà khoa học thuần túy ?

Chàng bèn cao giọng :

- Thưa bà….

Vêra cướp lời :

- Yêu cầu anh ngừng một phút. Tôi không thích được gọi bằng bà. Xin anh kêu tôi là Vêra. Cũng như tôi đã gọi anh thân mật bằng anh.

Văn Bình hơi khó chịu :

- Vâng, thì… Vêra vậy. Tôi từ xa đến không phải để uống tình tửu hoặc đọc Kama-sutra dầu tôi có thiện cảm sâu xa với nghệ thuật ái tình. Tôi đến đây vì vụ Seng Ho.

- Đồng ý. Tôi nhờ anh tìm lại chồng tôi. Anh muốn hoạt động cách nào tùy ý. Phí tổn bao nhiêu cũng được.

- Nghĩa là bà thuê tôi ?

- Lần thứ hai, tôi cảnh cáo anh. Tôi là Vêra. Tôi đâu dám nghĩ tới vấn đề thuê anh. Chẳng qua người ta quen tôi…. Trong xã hội hoàng kim này, không ai có thể uống nước lã mà sống.

- Vậy tôi cam đoan tìm ra Seng Ho, với giá 250 triệu đô-la.

- Anh nói đùa đấy chứ ?

- Bà vừa nói là bao nhiêu cũng được, thế mà tôi ra giá 250 triệu mỹ kim lại kêu đắt.

- Trời ơi, anh tưởng 250 triệu đô-la chỉ là đống giấy lộn ư ?Tài sản của tôi là 250 triệu đô-la, bán cả xứ Diến-Điện này may ra mới đủ số tiền ấy. Tôi biết là anh nói đùa, hoặc anh bắt đầu điên.

- Tôi không đùa cũng không điên.

- Vậy anh phải biết 250 triệu đô-la là tài sản lớn nhất thế giới.

- Và Vêra lầm to. Hàng năm quốc vương Koweit đã có lợi tức trên 378 triệu đô-la. Tài sản của ông Paul Getty lên tới 1.695 triệu [8]. Riêng tại Hoa Kỳ đã có 5700 người giàu như bà.

- Dầu sao tôi cũng là phụ nữ giàu nhất thế giới.

- Còn lâu. Cựu hoàng hậu Hòa Lan [9] đã có hơn 560 triệu.

Vêra thở dài :

- Tôi chịu thua anh rồi. Nếu anh không phải là ân nhân tương lai của tôi, và nếu anh không phải là… đàn ông khôi ngô, khả ái thì tôi mời anh ra ngay khỏi cửa.

Văn Bình trả đũa tàn nhẫn :

- Còn tôi, nếu tôi không nghĩ đến lời giới thiệu của C.I.A. và MI-6 thì tôi đã bỏ về từ nãy. Bà giàu hay nghèo tôi không cần biết. Bình sinh tôi rất ghét tiền. Tôi rất ghét đàn bà ỷ tiền.

- Xin lỗi ông.

- Bà muốn tôi giúp đỡ, xin bà thẳng thắn trả lời những câu hỏi của tôi. Và từ nay trở đi, bà hãy cất cái gia tài kếch xù của bà lại.

Nghe chàng đặt điều kiện, nàng không tỏ vẻ giận dữ. Trái lại, nàng ngửa cổ cười khanh khách. Văn Bình dằn giọng :

- Tại sao bà cười .

Vêra lại cười to thêm. Cử chỉ ngạo mạn của người đàn bà tỷ phú đa tình làm Văn Bình tím mặt. Chàng đập tay xuống tủ buýp-phê khiến ly rượu vừa rót đổ ụp xuống, giọng hăm dọa

- Lần chót, tôi nói cho bà biết. Nếu bà tiếp tục giữ thái độ kênh kiệu ấy, tôi sẽ cắt đứt công tác. Và tôi sẽ lên chuyến phi cơ sớm nhất rời khỏi Diến-Điện.

Vêra vỗ tay :

- Ha ha… Té ra tôi lầm. Thiên hạ đồn đãi anh là người đàn ông hào hoa phong nhã nhất châu Á, bây giờ tôi mới mục kích sự thật… một sự thật quá phũ phàng…

Văn Bình bàng hoàng :

- Ai bảo bà tôi là….

Vêra vẫn cười :

- Anh hỏi chi tiết làm gì… Tôi biết tên thật của anh là đủ. Thật tôi không ngờ đại tá Văn Bình Z.28 lại dễ mất bình tĩnh, và dễ nặng lời với phái yếu đến thế.

Trong thế chiến thứ hai, lái phi cơ trên không phận Âu châu, Văn Bình từng một lần bị đạn đại bác của địch bắn xối xả vào phòng phi hành chỉ cách thân thể chàng trong gang tấc. Tiếng đạn nổ bên tai, phụ họa với tiếng súng cao xạ từ mặt đất bắn lên như mưa bấc làm thính giác bị tê dại. Chàng có xảm giác như nhiều quả tạc đạn đang nổ tung trong lục phủ ngũ tạng. trong phút giây chàng cứng hẳn người, thần kinh hệ hoàn toàn bất động mặc dầu vẫn nghe thấy, nhìn thấy âm thanh và sự vật chung quanh.

Lời nói của Vêra vừa tạo ra trong óc Văn Bình cảm giác tương tự. Sự sửng sốt hiện ra rõ rệt trong cặp mắt tóe lửa của chàng. Chàng nhìn nàng trân trân, tay chân bại liệt như thể bị trời trồng.

Vêra đã biết chàng là Z.28. Tại sao nàng biết ? Ai nói cho nàng biết ?

Quả Vêra là một thiếu phụ đáng sợ. Nàng đã giàn kịch để thử chàng.

Tiếng cười ngạo nghễ của Vêra bỗng ngưng bặt. Mặt nàng trở nên dịu dàng và thân ái hơn bao giờ hết. Nàng nắm bàn tay của Văn Bình, giọng tha thiết :

- Vêra xin lỗi anh. Lần này là xin lỗi thật tình… Vêra rất hân hạnh được một nhân vật giỏi giang như anh giúp đỡ. Thú thật với anh, Vêra sống quen trong bầu không khí hưởng lạc, lại theo truyền thống của gia đình nên đã bố trí tiếp rước anh hơi xuồng xã. Bây giờ Vêra xin ngoan ngoãn trả lời. Anh đặt câu hỏi đi.

Nhờ giàu kinh nghiệm, Văn Bình đã phục hồi được vẻ bình tĩnh cố hữu. Chàng phá lên cưòi (tuy chàng thừa biết là cười gượng) :

- Đúng ra tôi mới là người có lỗi.

- Thôi chúng mình xí xóa. Anh gặp đại tá Karati chưa ?

- Chưa.

- Karati vừa gọi giây nói cho tôi. Dường như khi xưa, anh và Karati là bạn.

- Phải. Chúng tôi quen nhau trong công việc.

Văn Bình ngồi xuống ghế. Chàng cảm thấy trong cử chỉ cũng như lời nói Vêra có một cái gì khó hiểu. Chàng bèn đi thẳng vào vấn đề :

- Tôi cần Vêra nói thật. Vì tôi tin rằng còn một vài điều Vêra muốn giấu.

- Anh không tin cả tôi nữa ư ?

- Tôi đâu dám như vậy. Nhưng tôi cũng không thể tin rằng Seng Ho lên miền Bắc để tìm dấu vết của Paul.

- Đó là sự thật.

- Hừ, trước khi tới đây, tôi đã nghiên cứu tường tận. Nói ra thì có thể mất lòng, nhưng tôi vẫn phải nói rằng Seng không phải là một người chồng lý tưởng của cô. Hắn lấy cô vì ham cái mỏ vàng khổng lồ. Cô lấy hắn vì….

- Trời, anh tàn nhẫn quá !

- Cô không yêu Seng tất không thể nói hết sự thật. Vậy sự thật ra sao cô cho tôi biết ?

Vêra thở dài :

- Vâng, tôi cũng không dấu anh làm gì nữa. Tôi nhờ Seng lên Nambum-Ga tìm dấu vết của Paul vì tôi biết anh tôi còn sống.

- Paul hiện ở đâu ?

- Không biết. 6 tháng trước, tôi đang ở Tân-gia-ba thì được bức thư của Paul. Đó là bức thư đầu tiên của anh tôi sau hai chục năm biệt tích. Bức thư mang dấu bưu điện Ngưỡng Quang yêu cầu tôi đền Diến-Điện lập tức. Và khi đến nơi thì tôi phải bố trí cho Seng lên Nambum-Ga. Paul dặn tôi phải giữ kín không được cho ai biết. Kể cả Seng và đại tá Karati.

- Seng lên Nambum-Ga rồi sao nữa ?

- Paul chỉ viết vỏn vẹn có thế. Tôi chỉ có hai anh em…. tôi thương anh tôi hơn mọi vật trên đời vì ngày xưa Paul đã hy sinh tất cả cho tôi nên người.

- Vì vậy, nhận được thư của Paul, cô thu xếp hành trang đi Ngưỡng Quang ngay.

- Vâng.

- Tại sao đại tá Karati lại dính vào vụ nảy ?

- Miền Bắc ở trong tình trạng bất an nghiệm trọng nên sự đi lại bị hạn chế triệt để. Đối với người ngoại quốc, sự kiểm soát còn gắt gao hơn nữa. Seng phải gặp đại tá Karati để xin giấy thông hành đặc biệt.

Văn Bình giả vờ lại bàn rót rượu uống. Đang đi chàng đột ngột quay lại, nhìn giữa mắt Vêra :

- Ngoài việc tìm kiếm anh ruột cô, Seng còn có công tác đặc biệt nào nữa không ?

Vêra nghĩ ngợi một phút rồi đáp :

- Seng không hề nói với tôi, nhưng tôi tin là có, vì trước kia Seng là nhân viên MI-6.

- Tại sao cô làm rùm beng sau khi Seng mất tích ? Cô có biết rằng sự khuấy động tùm lum của cô đã ngăn cản hoạt động tìm kiếm của tình báo Tây phương không ?

Vêra nhún vai :

- Vì tôi có cảm tưởng người ta đã lợi dụng tôi. Hoặc nói đúng hơn, người ta lường gạt tôi.

- Người ta là ai ?

- Là những nhân vật hữu quyền. Trước khi Seng lên đường thì họ săn đón vồn vã, nhưng họ lại án binh bất động sau ngày Seng mất tích. Bắt đầu là đại tá Karati. Tôi đòi lên Nambum thì hắn viện ra hàng chục lý do, nhất là lý do an ninh, lý do thiếu phương tiện giao thông, để giữ tôi lại.

- Vêra yên tâm, tôi sẽ thuyết phục Karati.

- Anh đừng hy vọng hão huyền. Karati cho tôi biết không tán thành việc anh lên Nambum.

- Chính Karati đã thỏa thuận cho tôi nhập nội.

- Tôi chỉ thuật lại những điều Karati đã nói. Tuy nhiên, tôi cũng cần minh định rằng Karati đồng ý hay không đồng ý không làm tôi thay đổi ý kiến. Tôi là người ngoại quốc, không phải công dân Diến-Điện. Sáng mai, tôi sẽ đáp máy bay lên miền Bắc. Abê đã bằng lòng cho tôi mượn phi cơ.

- Nhưng Abê đã chết.

- Thì còn anh, còn cô Sophie. Các phi công trong công ty du lịch của Abê đều quen mặt tôi. Vả lại, nếu họ ngần ngại, tôi sẽ có cách lôi kéo họ.

- Bằng tiền ?

- Vâng. Sự sống ở đây rất chật vật nên tôi không tin là họ chê tiền. Ngoài tiền ra, tôi còn một đạo binh đàn bà xinh đẹp nữa.

Vêra im bặt vì tiếng gâu nho nhỏ vừa từ cửa phòng phát ra. Nàng mỉm cười, quay lại gọi :

- Love ?

Love là một con chó Poméranie thấp nhỏ, lông trắng như tuyết. Nó nhảy vọt tới, nằm gọn vào lòng nàng. Nàng ôm con chó, nựng yêu.

- Khổ quá ! Bây giờ mà con chưa ngủ ư ?

Rồi ngước đầu lên, nàng phân bua :

- Nó bị ho anh ạ. Thú y sĩ phải tiêm trụ sinh mới bớt. Anh cho nó theo tôi lên Nambum nhé ?

Văn Bình cười :

- Điều đó dĩ nhiên. Vì tôi cũng thương giống vật kinh khủng. Dầu sao đàn ông chúng tôi thấy cô quyến luyến con Love không thể không trạnh lòng.

- Anh ghen ư ?

- Không. Tôi chỉ phàn nàn cho số phận của Seng Ho.

Mặt Vêra sa sầm. Nàng bắt sang chuyện khác, bằng giọng hơi run, chứng tỏ một sự thay đổi sâu xa về tình cảm :

- Ồ, anh chưa chịu uống gì cả… Anh chê rượu ngâm thuốc thì tôi lấy rượu Tây. Vốtka, rhum, cỏ-nhác, hay huýt-ky. Chắc anh ưa huýt-ky hơn. Tôi có một hầm huýt-ky đặc biệt, không phải thứ của Gia-nã-đại hoặc Hoa Kỳ mà là sì-cốt chánh hiệu.

Vêra quả là phụ nữ thượng lưu sành sỏi. Ngay cả đàn ông nổi tiếng ăn chơi cũng ít người biết phân biệt giữa các loại huýt-ky khác nhau.

Trên thế giới, có ba loại huýt-ky : sì-cốt của Tô-cách-lan, buốc-bông của Mỹ và huýt-ky Gia-nạ-đại. Huýt-ky Gia-nã-đại là thứ tồi nhất, cũng như huýt-ky Ái-nhĩ-lan, Nhật-Bản và Úc cũng chế huýt-ky, song đó chỉ là rượu đế tần thường. Văn Bình thà chịu khát chứ không bao giờ thèm uống.

Hoa Kỳ có 29 loại huýt-ky, đứng đầu là buốc-bông. Nhưng tuyệt nhất phải là sì-cốt. Gần hai ngàn loại sì-cốt được bán trên thị trường, trong số có một trăm loại ngon như Black-and-White, Vat 96, Johnny Walker và Haig, những đặc tửu thường được Văn Bình chiếu cố.

Như đọc được ý nghĩ thầm kín của chàng, Vêra nói :

- Dân sành điệu thường uống nguyên chất. Tôi biết anh không thích pha trộn với rượu khác, sợ mất tinh túy thần diệu của nó. Nhưng đêm nay, tôi mời anh dùng cốc-tay với tôi. Bảo đảm với anh là rất thú vị, mặc dầu tôi dùng buốc-bông thay cho sì-cốt. Anh chịu được Cointreau chứ ?

Nghe Vêra đề nghị, Văn Bình hiểu liền. Trong danh sách các cốc-tay huýt-ky, chỉ có một hay hai cốc-tay pha trộn với rượu ngọt Cointreau. Đó là cốc-tay triệu phú, Millionnaire [10].

Chàng gạt tàn thuốc vào đĩa, giọng bâng khuâng :

- Vâng, tôi rất hân hạnh được thưởng thức cốc-tay Triệu phú do Vêra pha.

Vêra thở dài nhè nhẹ :

- Thiên hạ vẫn bảo giàu có là sung sướng, triệu phú còn sướng hơn nữa. Em còn hơn triệu phú một bậc. Rốt cuộc em vẫn khổ. Đêm nay, em mời anh ly rượu Millionnaire để đánh dấu một cuộc gặp gỡ lạ lùng….

Văn Bình nín lặng. Vêra vừa xưng em với chàng. Nếu còn đứng lại một vài giây nữa, nàng sẽ ngã vào lòng chàng. Chàng bèn đánh trống lảng :

- Chà, nghe nói đến cốc-tay Triệu phú, tôi cảm thấy cuống họng khô đét.

Vêra cười vui vẻ :

- Phiền anh chờ em một lát. Tự tay em pha cho anh. Như vậy mới ngon.

Nàng đặt bàn tay lên nắm cửa.

Nhưng nàng chưa kịp mở thì cánh cửa đã từ phía ngoài mở thật mạnh vào trong phòng.

Một họng súng đen ngòm nhô ra.

Rồi tiếng tacata rùng rợn nổi lên. Kèm theo tiếng thét "chết tôi rồi" và tiếng xác người ngã xuống.

--------------------------------
1. Loại báo nước vô giá này là Enhydra lutris, khoảng 2.500 một bộ lông nhỏ như bộ lông mèo. Loại lông hạng nhì (lutreola lutra) khoảng 350 một bộ. Loại hạng ba, ở Tây-bá-lợi-á (Mustela Zibellina) khoảng 140 một bộ. Trên thế giới, chỉ có rất ít người dám dùng bộ lông enhydra lutris làm áo ngự hàn.
2. Cây đại hoàng, tiếng Anh gọi là rhubarb.
3. Dân bộ lạc Polynésie ở Nam-Dương và vùng biển phía Nam thường uống rượu ngọt kava trong lễ hợp cẩn. Kava là một loại cây thấp, giống như cây hồ tiêu, vị cũng cay như cây hồ tiêu.
4. Bénédictine và chartreuse là hai trong nhiều thứ rượu ngọt do Pháp quốc chế tạo được giới ăn chơi quốc tế dùng để khích lạc.
5. Những thức uống tiết chế này đã được giới khoa học công nhận là có giá trị và công hiệu y học. Lá liễu thường được nghiền nát rồi ngâm rượu, hoặc pha như nước trà. Hoa mào gà (phù dung) thường được nghiền nhỏ, trộn với hoa củ súng (water-lily) pha như trà, rồi uống liên tiếp trong 12 ngày. Rượu độc cân (nemlock) thì nấu thành cao, hoặc tán ra bột. Còn long não được nói ở đây không phải là long não thông thường mà là long não đặc biệt (monobromated camphor).
6. Kama-sutra là cẩm nang ái ân của Ấn-Độ, do Vatsyayana viết bằng chữ Phạn (sancrit), và được sir Richard Burton dịch sang Anh ngữ. Cẩm nang Kama (theo tiếng Phạn thì Kama là khoái lạc đôi lứa) gồm 1.200 câu thơ, mô tác các chi tiết bí quyết ái tình.
7. Kitab Al-Isah Fi'ilm Al-Nikah, cẩm nang ái tình của người Á-rập, tác giả là sử gia Á-rập Jalai al-D n al-siyuti. Bản dịch Anh ngữ được ấn nhành vào đầu thế kỷ 20 tại Ba-lê (Pháp quốc).
8. Quốc vương Kuweit tên Abdullahal Subah, sinh năm 1895. Hoa lợi khổng lồ này do các mỏ dầu mà ra. Tỷ phú Paul Getty, người Mỹ, sống tại Anh, cũng trở nên giàu có nhờ mỏ dầu. Nếu cộng thêm số dầu chưa khai thác trong mỏ của ông thì gia tài của ông có thể lên tới 8.500 triệu đô-la.
9. Đó là hoàng hậu Wilhenmina Helena Pauline Maria, thuộc giòng dõi Orange-Nassau (1880-1962). Ngoài bà ra, thì bà Henrietta Howland Green (1835-1916) được coi là phụ nữ để lại gia sản lớn nhất. Sinh thời ai cũng tưởng bà nghèo. Chết đi, bà để lại 95 triệu đô-la. Chúc thư của bà được giấu trong một cái hộp kẽm, bên cạnh 4 miếng sà-bông.
10. Cốc -tay Millionnaire gồm ¾ huýt-ky buốc-bông, ¼ rượu ngọt Cointreau, mấy giọt grenadine, một lòng trắng trứng gà, cho vào máy trộn cho kỹ rồi đổ ra ly lớn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:04 pm

V
Người chết hiện về


Tuy Seng Ho nhắm nghiền mắt, sự thật trong rừng khuya rùng rợn vẫn hiện ra rõ rệt. Một lằn chớp sáng quắc nữa lại xẹt qua, như lưỡi dao điện khổng lồ tiện cụt những cây tre thẳng tắp.

Bóng trắng quen thuộc đung đưa, đung đưa trước mặt, 20 năm trôi qua, Seng không còn là viên sĩ quan tham mưu trẻ tuổi của đoàn quân Chindits chiến đấu tại miền Bắc Diến-Điện nữa, song thời gian không làm loãng nhạt được trí nhớ của hắn.

Bóng trắng từ từ tiến lại cũi tre.

Mưa đã tạnh hẳn. Bọn khị nghịch ngợm nép mình trên cành cao không dám hó hé, dường như bóng trắng là thần Rừng, có thể vật cổ chúng chết tươi. Tiếng mãnh thú kêu ngạo, tiếng côn trùng lải nhải, tạo thành âm thanh nhàm tai của mọi khu rừng rậm trên thế giới đột nhiên nín bặt.

Sợ hãi, Seng bám lấy vách cũi. Không biết lần thứ mấy, hắnrên rỉ :

- Chết tôi mất.

Bóng trắng vẩn từ từ tiến lại gần cũi tre.

Cách Seng ba thước, bóng trắng dừng lại, chăm chú nhìn Seng như đứa trẻ nhìn con hổ trong chuồng. Rồi phá lên cười.

Trời ơi, vẫn tiếng cười ngạo nghễ. Vẫn tiếng cười the thé như….

Như tiếng cười của Vêra mỗi khi nàng lên cơn khoái trá. Lắm lúc nàng cười như điên. Đêm ấy, Seng đang ngồi uống rượu một mình trong phòng ngủ thì Vêra bước vào. Tuy là vợ chồng mới cưới, hai người ngủ riêng, phòng Vêra bao giờ cũng gắn hai ổ khóa và Seng chỉ được giữ một chìa.

Năm thì mười họa, nàng mới sang phòng hắn. Thấy nàng, Seng mừng rú :

- Em chưa đi ngủ ư ?

Nàng lắc đầu :

- Chưa.

- Chắc em muốn hỏi ý kiến anh vè chuyện Paul ?

- Phải.

- Theo anh thì Paul đã chết. Chết thật rồi. Không ai có thể sống sót trong rừng Nambum-Ga. Hai chục năm đã qua… Paul đã thành đất mủn…

- Không, em không nhờ anh tìm thầy phù thủy để hóa phép cho anh ruột em chết đi sống lại. Em chỉ nhờ anh tìm lại nắm xương tàn của Paul.

- Em nghĩ coi… đường xá nhiêu khê, nguy hiểm lại nhiều, anh đề nghị với em…

- Vậy thôi để em yêu cầu người khác.

- Đừng giận anh nữa. Anh xin chiều theo ý em.

"Chiều theo ý em", câu nói này đã được Seng Ho lặp lại ngàn lần trong thời gian chung sống với người vợ tỷ phú. Một công hai việc, hắn bèn liên lạc với MI-6. Và gặp Roy tại sứ quán Anh quốc. Trước khi gặp đại tá Phản Gián Karati. Để rồi hắn bị nhốt trong cũi tre, nhịn đói, nhịn khát, chờ chết.

Bóng trắng đứng trước mặt hắn trong rừng Nambum có vẻ mặt phảng phất như Vêra. Dường như bóng trắng với Vêra là một.

Hơi lạnh rung chuyển xương sống Seng Ho. Hắn bắt đầu khám phá ra sự thật. Hắn luồn tay ra goài cũi tre, gọi lớn :

- Paul, Paul.

Song bóng trắng vẫn tiếp tục cười the thé. Seng thét lên :

- Paul, có phải anh là Paul không ?

Đang cười, bóng trắng bỗng lặng thinh. Seng lại hỏi :

- Paul, anh là ma hay người ?

Một tiếng sét nổ vang. Rừng tre lay động dữ dội. Bóng trắng vụt biến vào đêm tối. Seng kêu to trong sự hoảng hốt :

- Paul, cứu tôi với ! Paul, tôi là Seng Ho đây mà ! Vêra còn sống, anh biết không ? Tôi là chồng của Vêra, nghĩa là tôi là em rể của anh….

Sau lưng Seng, có tiếng trả lời. Cũng là một giọng nói quen thuộc. Nhưng không phải là giọng nói của Paul ngày xưa.

Mà là giọng nói của Tin Aung, xã trưởng Nambum.

Seng quay lưng lại. Tin đứng tựa vào cũi tre, trong tay xách cây đèn bão. Tin đến từ bao giờ Seng không hay biết. Lẽ ra Seng phải nhìn thấy ánh sáng nhảy múa của cây đèn bão. Vậy mà hắn chẳng nhìn thấy gì hết. Nghĩa là bóng trắng hồi nãy không phải người thật bằng xương bằng thịt như hắn, và như xã trưởng Tin Aung.

Tin lắc lư cây đèn :

- Chào ông.

Trên môi héo hắt của Seng, nở một nụ cười :

- Trời ơi, tôi trông ông mãi… May quá, ông đã đến cứu tôi kịp thời. Vì chỉ chậm đến mai là tôi phải chết. Suốt đời tôi không bao giờ quên được đêm nay.

- Dĩ nhiên. Những việc xảy ra đêm nay sẽ còn đọng trong trí ông mãi mãi.

- Thành thật đa tạ ông. Đêm hôm mưa gió thế này mà ông chẳng quản thân già lặn lội vào rừng tìm tôi. Mà kìa, ông chỉ có cây đèn.

- Ông muốn bọn con gái của tôi hả ? Chúng nó đi ngủ hết rồi. Vả lại….

- Tôi đâu còn bụng dạ mà nghĩ đến ân ái nữa. Sở dĩ tôi thắc mắc là vì không thấy ông mang dao và búa lại.

- Để làm gì ?

- Ô kìa, để cắt vách cũi cho tôi ra chứ còn để làm gì nữa, thưa ông ?

- Ông lầm rồi.

- Nghĩa là ông đến đây không phải để cứu tôi ?

- Đúng.

- Ông là bạn thân của tôi từ 20 năm nay, ông nỡ nào bỏ tôi chết rục xương trong cái cũi tre này được ? Nếu ông cần tiền, tôi xin lo liệu. Dầu sao vợ tôi cũng là nhà tỷ phú.

- Tôi không cần tiền ông ạ. Đúng ra, tôi không đến đây gặp ông nữa. Nhưng vì sợ ông còn băng khoăng…

- Té ra ông đã lừa tôi ngủ rồi bắt.

- Bảo là lừa thì không đúng lắm. Chẳng qua ông đòi uống rượu nên tôi phải mang rượu vang hảo hạng cất trong hầm ra thết ông. Và sợ ông ngủ không yên giấc nên tôi phải bỏ thuốc mê vào. Ông có thấy là thuốc mê của bộ lạc tôi hiệu nghiệm hơn thuốc mê Tây phương không

- Ông là kẻ phản bội.

- Danh từ phản bội rất xa lạ đối với bộ lạc Nambum. Chúng tôi không trung thành với ai, ngoại trừ với chúng tôi, nên vấn đề phản bội chưa bao giờ được đặt ra. Vả lại, 20 năm trước, tôi đã có dịp bàn luận với ông về sự trung thành và phản bội, và nếu tôi không sai thì hồi ấy ông đã hoàn toàn thông cảm.

Seng thở dài :

- Lần này ông định bán tôi cho ai ?

Tin Aung suýt soa :

- Ông dùng chữ quá bạo. Chúng tôi không phải bọn người bắt cóc để lấy tiền chuộc, hoặc đem bán. Mà chỉ là những người đấu tranh để sống. Nếu không, bộ lạc chúng tôi đã bị diệt trừ từ lâu. Như tôi đã nói với ông 20 năm trước, tình hình thế giới thay đổi bắt buộc chúng tôi phải thay đổi lập trường. 20 năm trước, họ Mao chưa nắm quyền sinh sát ở Hoa Lục… Giờ đây….

- À, ông mang tôi nộp cho Trung cộng ?

- Chính thế. Tôi lừa bắt ông theo sự yêu cầu của F-22. Quốc Tế Tình Báo Sở không thể nhắm mắt làm ngơ cho nhân viên tình báo Tây phương hoành hành ở miền Bắc Diến-Điện, giáp giới Hoa Lục.

- Tôi không còn làm việc cho MI-6 nữa.

- Điều ấy ông sẽ cung khai với F-22. Nhiệm vụ của tôi đã hết.

- Hừ, ông coi chừng ! Một ngày kia, MI-6 và C.I.A. lên đây, họ sẽ ăn gỏi cả gia đình ông.

- Khi ấy, tôi sẽ trông chừng tình hình, nếu Tình Báo Sở xuống nước, tôi sẽ phục vụ tình báo Tây phương.

Seng lại thở dài :

- Người ta xử trí với tôi ra sao, ông có biết không ?

Tin Aung lắc đầu :

- Không. Tôi vốn có tính tôn trọng sự riêng tây của khách hàng. Xin lỗi ông nhé, đã tới giờ chúng ta phải xa nhau.

Seng rít giọng :

- Ông tàn nhẫn thật. Tại sao ông không giao tôi cho họ mà lại nhốt như con vật trong cũi tre ?

- Tôi muốn giải quyết nhanh chóng nhưng người ta lại lừng khừng. Họ đòi bỏ trong cũi tre để dễ nhận diện.

Đễ nhận diện ! Té ra Tình Báo Sở chờ Seng ở Nambum-Ga. Ngoài tình báo Tây phương, Phản Gián Diến và vợ hắn ra, không ai biết hắn lên miền Bắc. Ai đã bí mật thông báo cho Tình Báo Sở ? Vả lại, Tình Báo Sở bắt hắn để làm gì ? Đành rằng hắn am tường màng lưới tình báo của MI-6 tại miền Bắc, nhưng hắn không còn là nhân viên thường trực nữa.

Hắn đinh mang thắc mắc này ra hỏi Tin Aung, song lão xã trưởng tinh quái và lật lọng đã biến đâu mất. Cây đèn bão được treo vắt vẻo trên cành cao, chiếu xuống một lùm sáng vàng ảm đạm. Mưa đã tạnh hoàn toàn.

Seng trợn mắt nhìn sâu vào phía trước.

Bóng trắng hồi nãy lại hiện ra. Giờ đây, Seng có thể nhìn rõ chi tiết. Bóng trắng cao lêu nghêu, thân hình khẳng khiu. Bóng trắng là người hẳn hòi, không phải là ma, lẳn mình trong bộ quân phục cổ đứng, bốn túi màu trắng, khẩu súng lục đeo trễ dưới nách, theo kiểu cao-bồi Viễn-Tây Mỹ.

Bóng trắng có khuôn mặt dài, xương xẩu, cằm bạnh, lưỡng quyền nhô lên, yết hầu nhọn hoắt. Bình thường, khuôn mặt như vậy đã đủ làm Seng lo ngại. Trong phút nguy hiểm này, hắn càng phải lo ngại gấp chục lần nữa.

Tuy nhiên, Seng lại tỏ vẻ mừng rỡ. Hắn còn mừng rỡ hơn cả đêm tân hôn với người đàn bà khêu gợi, chủ nhân kho tiền 250 triệu đô-la. Hắn còn mừng rỡ hơn cả cách đây 20 năm, khi hắn được Paul cứu khỏi chết trong rừng Nambum…

20 năm trước.

Tiểu đội tiền sát Chindits trú đóng trong một ngôi chùa cổ, tường mái đổ nát, tượng Phật loang lổ, xiêu vẹo, ngồi hứng mưa nắng. Mọi người dự định lưu lại một đêm để nghỉ khỏe rồi tiếp tục hành quân, vì sau một tuần lễ dài dằng dặc, họ bị quân đội Nhật theo đuổi sát nút đêm ngày, không hề được chợp mắt, và ăn một bữa xứng đáng.

Nhưng Seng mới kịp ngã lưng xuống bệ thờ rêu mốc, chưa rít dến điếu thuốc lá Bessen thơm ngon thì súng đã nổ. Và nổ nhiều, nổ gần hơn thường lệ.

Tiểu đội đã dại dột rơi vào ổ phục kích của binh sĩ Thiên Hoàng.

Đến khi Seng biết được là bị địch tấn công thì tiểu đội đã ngã như sung rụng trước hai họng súng đại liên quạt tréo vào nhau. Toàn thể đều bị thương. Trừ Paul và Seng Ho. Cả hai phải liều chết dùng lựu đạn mở con đường máu vào rừng. Dọc đường địch đuổi theo gần đến nỗi nhiều lúc phải đánh nhau bằng lưỡi lê, dao quắm và hai bàn tay. Seng bị đạn vào cánh tay, máu tuôn xối xả. Nếu không có Paul một bên, tả xung hữu đột với những pha bắn tỉa và vật lộn nhu đạo tuyệt luân như trên màn bạc thì đêm ấy Seng đã thành người thiên cổ. Gần sáng, đôi bạn mới về đến bản doanh tiểu đoàn và cả hai đều trọng thương. Nhưng thoát chết, Seng mừng rỡ, uống một hơi nửa vò rượu nếp, loại rượu cần miền thượng Lào quốc, chỉ một ngụm là say bí tỉ.

Tình bạn của hắn đối với Paul đã trở nên vô cùng thắm thiết. Có lẽ phần nào vì vậy mà em gái Paul trở thành vợ hắn. Vêra nhờ hắn lên miền Bắc tìm mộ Paul.

Nhưng….

Seng nhoẻn miệng cười. Hắn muốn la lên một tiếng để bộc lộ sự mừng rỡ đột ngột. Song bóng trắng vừa làm Seng vỡ mộng. Bóng trắng không thèm cười với hắn. Seng sững sờ như người vừa bị thôi miên. Hắn lí nhí trong miệng :

- Paul.

Bóng trắng bí mật cười nhạt :

- Chào ông Seng Ho.

Seng nhăn nhó :

- Paul, Paul, tại sao anh gọi tôi là ông ? Trời ơi, anh còn sống, anh còn sống, vậy mà Vêra và tôi đinh ninh anh đã chết.

Bóng trắng đập bàn tay vào cũi tre :

- Im miệng.

Seng định nắm bàn tay của bóng trắng :

- Paul, anh thay đổi nhiều quá… Tôi có cảm tưỏng….

Bóng trắng sẵng giọng :

- Ông Seng Ho, yêu cầu ông mở rộng hai tai mà nghe. Tôi là U-Ban.

Seng Ho bàng hoàng :

- Thưọng tá U-Ban ?

Giọng nói của bóng trắng vẫn đều đều, khô khan :

- Phải, thượng tá U-Ban của quân đội Giải Phóng Diến-Điện, mà ông thường mệnh danh là F-22.

Seng há hốc miệng nhìn bóng trắng. Rồi như đứa trẻ, hắn hu hu khóc.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Khi ấy một tai nạn ghê gớm đang xẩy ra tại Ngưỡng Quang cho vợ của Seng là Vêra.

Họng súng đen ngòm chĩa vào phòng lia theo hình cánh cung. Lệ thường, trong nghề đặc biệt, người ta chỉ nổ súng trong trường hợp bất đắc dĩ. Nhưng ở đây lại là ám sát, một vụ ám sát tàn nhẫn. Dường như mật lệnh của địch là gặp Văn Bình ở đâu là phải hạ thủ ở đấy. Và bất cứ ai dính dấp đến chàng đều bị hạ thủ.

Vêra đứng ngây người như bị họng tiểu liên thôi miên. Nàng sợ đến nỗi không xoay người được để tránh đạn, cũng như không thét nổi một tiếng.

Tuy nhiên, Văn Bình đã nắm vững được tình thế sau một loáng mắt quan sát. nhanh như cắt, chàng nhảy bổ vào Vêra. Nàng bị chàng xô ngã chúi vào tường. Tiếng tiểu liên nổ tacata. Rồi một bóng người mặc đồ đen thò đầu qua khe cửa mở hé.

Trong khi ngã xuống, Văn Bình rút lưỡi dao mỏng giấu trong mình. Con dao cán ngà nhỏ xíu lao vút vào không khí. Bóng đen lãnh mũi dao nhọn hoắc vào giữa bả vai. Hắn hét lên tiếng "chết tôi rồi" rồi phủ phục xuống nền nhà.

Từ nhiều năm nay, ít khi Văn Bình phóng dao sai mục phiêu. Phương chi đây là loại dao nhà nghề do công ty Soligen, Tây Đức, chế tạo cho giới chơi dao trên hoàn vũ. Công ty Soligen rèn năm loại dao đặc biệt, song Văn Bình thích nhất loại dao Anh quốc và Mã-lai, mặc dầu chàng biết cách phóng cả 5 loại, cũng như các loại dao khác. Dao của Anh đặc biệt ở điểm có hai lưỡi, nhưng lại xẻ rãnh ở giữa để hứng máu.

Lưởi dao Văn Bình vừa ném thuộc loại Mã-lai khá thông dụng ở Diến-Điện. Nó được rèn bằng một loại thép riêng trộn với cạc-bon nên rất cứng, có thể chém được kim khí.

Thấy bóng đen ngã xuống, Văn Bình chồm dậy. Chỉ trong gang tấc, Vêra và chàng đã có thể mất mạng. Loạt đạn tiểu liên đầu tiên vèo qua đầu hai người, rồi cắm vào tủ gỗ. Nếu chàng không xô Vêra và không cúi đầu xuống thì cả hai đã trúng đạn vào mặt.

Khẩu tiểu liên Thom-son văng vào chân tường. Bóng đen nằm sóng soài trên đất, kêu đau không ngớt miệng. Phàm bị thương bằng dao đau đớn hơn là bị thương bằng súng đạn. Văn Bình đã đạt tới tột đỉnh của nghệ thuật phóng dao, nên lưỡi dao của chàng xoáy sâu vào da thịt đối phương, đâm thấu tới xương, làm cho đối phương vô cùng đau đớn. Kẻ gan lì nhất cũng phải kêu đau khi bị Văn Bình tặng một lưỡi dao ngọt xớt vào chỗ gần khớp xương, nhất là vào bắp thịt gần xương bả vai.

Nạn nhân lồm cồm bò dậy. Song Văn Bình không quan tâm đến hắn. Chàng còn bận dìu Vêra đứng lên. Mặt nàng xanh mét như tàu lá. Trong cơn sợ hãi tột độ chưa hồi phục, nàng đẹp dội hẳn lên. Khi ấy, Văn Bình cảm thấy cỏi lòng rào rạt, muốn ôm gọn nàng vào lòng và hôn lung tung vào mặt vào cổ. Vêra ngước nhìn chàng bằng cặp mắt to và đen láy. Dường như nàng bị trẹo chân trong khi ngã xuống.

Văn Bình hỏi, giọng thân mật :

- Vêra đau lắm không ?

Nàng vịn vào vai chàng :

- Em chỉ hơi ê ẩm thôi. May mà có anh. Nếu không….

Vêra chìa đôi môi đỏ mọng. Một hơi lạnh chuyển động trong xương sống. Văn Bình đành quay đi. Vả lại, chàng có lý do chính đáng để chối từ nụ hôn sơ kiến của Vêra vì bóng đen đã tiến đến sau lưng chàng sửa soạn tấn công bằng ngọn đòn ác liệt.

Văn Bình khẽ nghiêng người sang bên. Bị hụt đòn, đối phương ngã chúi vào cánh cửa, lưỡi dao còn kẹt trong vai đâm lút ra sau lưng. Hắn rú lên một tiếng thảm thiết rồi nằm lịm. Vêra nhìn xác chết, giọng run run :

- Anh ơi, em sợ lắm !

Văn Bình vỗ về :

- Vêra yên tâm. Tôi sẽ bảo vệ chu đáo.

- Anh biết ai mưu sát chúng mình không ?

- Không. Nhưng rồi sẽ biết. Bây giờ Vêra chuẩn bị hành trang đi.

- Chúng mình đi đâu ?

- Nambum.

- Đại tá Karati không cho phép.

- À, đó là quyền của Karati, còn tôi, tôi có quyền của tôi, Vêra nên đi với tôi. Tôi tin chắc sẽ khám phá được bí mật ngay sau khi tới Nambum.

Văn Bình hơi khựng người. Chuông điện thoại reo vang trên bàn. Vêra định cầm lấy ống nghe, song Văn Bình chặn lại. Nàng hỏi chàng bằng mắt. Chàng giải thích :

- Chắc là Karati. Đề nghị với Vêra tới lữ quán Strand đợi tôi, chúng mình sẽ lái xe lên Pegu nội đêm nay. Dọc đường, địch không dám đụng tới Vêra đâu, vì có bọn vệ sĩ của Karati, vả lại, xe Cadillac của Vêra được gắn thép dầy và kính phòng đạn.

- Nhưng bọn vệ sĩ sẽ biết em đi với anh ?

- Ồ, Vêra đừng ngại, tôi đã có cách giải quyết.

Văn Bình nheo một bên mắt và áp ống nghe vào tai. Chàng đoán không sai : người gọi điện thoại là Karati. Giọng Karati ồm ồm như la hét :

- Chào anh. Tôi muốn gặp anh ngay.

Văn Bình đáp :

- Đến sáng mai được không, đại tá ?

- Hừ, chỗ anh với tôi mà còn khách sáo nữa ư ? Tôi ở trong tòa nhà đối diện với biệt thự của Vêra. Trong 3 phút nữa tôi sẽ tới. Yêu cầu anh đừng đi đâu hết.

- Tôi có cảm tưởng anh đang chỉ huy một cuộc hành quân mà tôi là sĩ quan thuộc cấp. Không, không… tôi không muốn gặp anh đêm nay. Mai sớm, tôi sẽ tiếp anh tại khách sạn.

Đại tá Karati không đáp lại. Vì hắn đã tự ý cắt điện đàm. Văn Bình đặt ống nói vào giá, thái độ bực bội. Karati không lạ gì chàng. Duy chàng hơi lạ là hắn đã biết chàng là Z.28 bằng xương bằng thịt trong khi các cơ quan tình báo Tây phương giấu diếm căn cước thật của chàng theo lời chàng yêu cầu, vì chàng muốn dành cho người bạn cũ một vài phút ngạc nhiên.

Chàng mở cửa bước ra hành lang. Mưu kế lánh mặt của chàng thất bại vì Karati đã hiện ra lù lù trên ngưỡng cửa.

Mặc dầu nhiều năm tháng đã trôi qua, Karati vẫn không khác xưa. Hắn là người Diến lai Ấn nên nước da đen, khuôn mặt hơi choắt, cặp mắt tròn và đen, mủi cao, thân hình vạm vỡ. Cái vai dày cộm, cái cổ tròn to lớn, cánh tay dài, nhanh nhẹn, đôi chân thoăn thoắt của hắn vẫn như ngày xưa. Không ai ngờ được một khối thịt nặng gần một tạ ấy lại xê dịch nhẹ nhàng và nhanh nhẹn như người ba, bốn chục ký. Văn Bình đã biết sự nhẹ nhàng và nhanh nhẹn khác thường này là kết quả của nhiều năm luyện tập khinh công và nhu thuật.

Thấy chàng, Karati đứng lại, bàn tay kếch sù chìa ra, đon đả :

- Gớm thật, anh định qua mặt tôi !

Văn Bình hơi ngạc nhiên :

- Anh lầm rồi. Tôi đến đây là để hợp tác chặt chẽ với anh. Chỉ thị của thượng cấp tôi đã nói rõ là tôi phải chịu sự phối hợp và điều động của anh. Và anh cũng đã nhận lời.

Karati ngồi xuống ghế, điếu xì-gà tắt ngúm vắt vẻo trên đôi môi dầy :

- Vâng, tôi đã nhận lời. Nhưng khi ấy tôi chưa biết anh là đại tá Văn Bình.

- Người ta chưa nói rõ với anh ư ?

- Chưa.

- Ờ, đó là một sự sơ suất đáng tiếc.

- Anh đừng ngụy biện nữa. Người ta đã cố tình không cho tôi biết anh là Z.28. C.I.A. và MI-6 không thể nào sơ suất như thế. Vì họ thừa rõ tôi không bao giờ chấp nhận sự hiện diện của anh trên lãnh thổ Diến-Điện.

- Lạ thật ! Từ trước chúng ta đã là bạn. Cho đến bây giờ cũng là bạn. Tôi chưa hề có hành động nào chống lại xứ sở anh. Và ngược lại….

- Nhưng anh quên rằng Diến là quốc gia trung lập. Sự có mặt của anh sẽ làm rung chuyển tổ chức của Bắc Việt ở đây.

- Anh quên thì đúng hơn. Vì tôi lên đây với một mục đích duy nhất, cộng tác với anh để chặn đứng hoạt động của F-22 và giúp anh một tay trong việc loại trừ thượng tá U-Ban của Quốc Tế Tình Báo Sở.

- Hừ, đối phó với F-22 và thượng tá U-Ban mà dùng anh thì khác nào tránh vỏ dưa để gặp vỏ dừa. Chỗ anh em thân, tôi đành mất lòng trước hơn được lòng sau. Tôi đích thân đến gặp anh để khuyên anh trở về.

- Nghĩa là anh muốn cắt đứt sự liên lạc hữu ích với tình báo Tây phương ?

- Anh đừng phóng đại sự thật. Tôi vẫn muốn tiếp tục sự liên lạc thường lệ. Nhưng người liên lạc không phải là anh.

- Trời ơi, anh coi tôi là kẻ thù ư ?

- Không, anh là bạn của tôi. Và là bạn thân. Song công việc là công việc, không thể pha trộn tình bằng hữu với quyền lợi quốc gia. Có anh, tất cả đều hỏng bét. Xin anh hiểu cho.

- Tôi yêu cầu anh nghĩ lại.

- Đã suy nghĩ kỹ rồi, anh ạ. Anh không thuyết phục nổi tôi đâu. Sáng mai sẽ có chuyến phi cơ thường lệ về Calcutta, tôi đã lấy sẵn vé cho anh. Đúng 6 giờ, nhân viên của tôi sẽ đến khách sạn đưa anh ra phi trường.

- Tôi cần bàn lại với Roy.

- Tôi đã lo liệu xong xuôi. Cách đây nửa giờ, tôi đã gọi điện thoại cho hắn, nhờ hắn phúc trình về là kế hoạch dự định được đình hoãn, chờ một nhân viên khác.

Văn Bình lặng thinh châm thuốc Salem. Đại tá Karati nhìn xác chết nằm còng queo dưới đất rồi than thở :

- Anh làm phiền tôi quá !

Văn Bình nhún vai :

- Phiên ư ? Nếu tôi không lầm thì anh muốn nói là vì sự có mặt của tôi mà một loạt vụ mưu sát xảy ra.

- Anh chẳng lầm chút nào. Chính vì anh mà có nhiều người chết. Tính mạng của Vêra bị đe dọa vì anh.

- Tôi vừa cứu nàng khỏi chết.

- Anh không thể cứu nàng được mãi. Tôi có bổn phận bảo vệ thể chế trung lập của Diến-Điện.

- Vậy thì thôi, tôi xin đầu hàng.

- Hừ, tôi biết rõ anh không phải hạng người chịu đầu hàng dễ dàng. Tôi có quyền nghi ngờ là anh chỉ đầu hàng ngoài miệng, đầu hàng để hoãn binh mà thôi. Nhưng tôi là Karati, không phải là tay mơ trong nghề, anh đưa ra phép lạ nào tôi cũng biết và ngăn chận. Giữa đồng minh với nhau, chúng ta không nên dùng phương pháp mạnh. Nhưng nếu anh cố tình không nghe tôi….

- Tôi đã bằng lòng từ giã Ngưỡng Quang rồi, anh còn muốn gì nữa ?

- Đó là tôi nói phòng xa… Phòng anh lén lút ở lại. Tôi xin nói thẳng là nếu anh lén lút ở lại, tôi sẽ không chịu trách nhiệm về tính mạng của anh nữa.

- Tôi đã quá tuổi vị thành niên từ lâu.

- Anh không nên nói đùa, và tôi cũng không thích nghe nói đùa. Nếu anh lén lút ở lại, miễn cưỡng tôi phải cạn tàu ráo máng.

- Anh sẽ sai người bắt tôi ?

- Dĩ nhiên… Tôi sẽ bắt anh về tội nhập nội bằngthông hành giả, và buôn lậu đô-la. Luật lệ Diến-Điện về các tội trạng này rất nặng, can nhân có thể bị kêu án tù 20 năm…. Và một khi anh đã bị án và bị giam, thì can thiệp cho anh được phóng thích rất khó khăn. Quan tòa Diến-Điện khắc nghiệt lắm, anh ạ….

- Hiểu rồi. anh còn muốn nói gì nữa không ?

- Không, anh vẫn ngạo nghễ như ngày xưa. Tôi rất mến tài anh, và hằng mong được dịp hoạt động với anh, nhưng lần này….

- Cám ơn anh. Nếu không có gì trở ngại, xin anh cho tôi về lữ quán Strand.

- Mời anh.

Văn Bình lặng lẽ trèo lên chiếc xe riêng đen ngòm của đại tá Karati. Dọc đường, chàng điềm nhiên hút thuốc lá. Karati lên tiếng :

- Anh thăng đại tá lâu chưa ?

Văn Bình đáp gọn lỏn :

- Lâu.

- Anh vẫn hút Salem. Gớm, mùi Salem thơm ngạt mũi. À, anh đã lập gia đình chưa ?

- Chưa.

- Còn tôi. Tôi đã có ba con.

- Mấy vợ ?

- Ồ, tôi chỉ có một.

- Dĩ nhiên. Một bà chính thức. Và hàng chục bà phụ tá. Tôi nghe nói cô vợ bé mới của anh đẹp kinh khủng.

- Sao anh biết ?

- Ông Hoàng nói.

Xe hơi chạy bon bon giữa hai hàng cây lớn. Không khí thành phố ban đêm mát rợi. Karati nhìn ra ngoài, dáng điệu bâng khuâng. Dường như Karati không muốn Văn Bình đào sâu hơn nữa vào đời tư của mình. Song Văn Bình đã mỉm cười, nụ cười ma quái trong cảnh tranh tối tranh sáng của xe hơi.

- Năm ngoái, cô vợ bé của anh đã ghé Sàigòn nhân chuyến du lịch vòng quanh thế giới. Ông Hoàng có cho người đi rước, và mời về khách sạn Caravelle.

Karati xua tay :

- Tôi không thích anh nhắc lại chuyện cũ. Nhất là chuyện dính dáng tới đời tư.

Văn Bình nhún vai :

- Anh không thích vì một lẽ rất dễ hiểu. Vì trong một tuần lễ cô vợ bé của anh lưu lại Sàigòn, sở Mật Vụ của chúng tôi đã tiêu hơn năm ngàn đô-la, riêng về khoảng quà tặng. Bức tranh sơn mài tĩnh vật gửi về cho anh trị giá hơn một ngàn rồi. Đó là tôi quên chưa nhắc tới cái đồng hồ Oméga vàng, nạm hạt soàn. Hóa đơn của công ty Oméga ở Thụy Sĩ ghi rõ 8 ngàn đô-la. Nếu tôi không lầm, cô vợ bé của anh rất yêu cái đồng hồ này và hiện vẫn còn đeo. Làm nghề điệp báo đã lâu hẳn anh dư biết rằng ông Hoàng không phải là người bỏ ra hai chục ngàn đô-la để tiếp nhận bụ cười của người đẹp.

- Trước giờ anh ra phi trường, tôi sẽ hoàn lại hai chục ngàn đô-la cho anh.

- Muộn rồi, anh ạ. Hồi nãy anh vừa nói là các quan tòa ở Diến-Điện rất khắc nghiệt. Chúng ta đã chụp lại cảnh cô vợ bé của anh nhận các kỷ vật ở Sàigòn. Nếu anh ức hiếp tôi, miễn cưỡng tôi phải….

- Thật tôi không ngờ… Các anh đã lập mưu hãm hại tôi. Lúc vợ tôi lên đường, tôi đã dặn nàng đừng ghé xuống Sàigòn mà nàng lại trái lời tôi.

- Anh đừng giận nàng tội nghiệp. Đúng ra nàng không hề trái lời anh. Chẳng qua, ông Hoàng đã cử một nữ nhân viên ăn nói hoát bát làm quen với nàng ở Hạ-uy-di, trên đường về Diến-Điện. Bùi tai, nàng tới thăm Sàigòn.

- Nhờ thủ đoạn phỉnh gạt, các anh đã nắm đằng cán. Giờ đây, anh muốn gì ?

- Muốn anh từ bỏ thái độ kỳ đà cản mũi vô lý.

- Nghĩa là anh muốn lên miền Bắc ?

- Phải.

- Trước sự hăm dọa, tôi không thể không bằng lòng. Nhưng dầu sao tôi cũng yêu cầu anh một vài điều : thứ nhất, hoạt động trong sự kín đáo tuyệt đối, vì các cơ quan tình báo khác của chính phủ biết được thì tôi mất lon đại tá; thứ hai, Vêra phải ở lại Ngưỡng Quang.

- Tại sao anh không cho phép Vêra cùng đi với tôi ?

- Xin anh miễn cho sự giải thích.

- Vậy thì….

- Văn Bình, anh đừng áp bức tôi thêm nữa. Tôi đã chịu đựng đến mức cùng cực rồi, nếu anh lấn thêm, buộc lòng tôi phải phản công thục mạng để dành lại sự sống.

- Anh yêu Vêra lắm phải không ?

- Quả là anh có tài đọc thấu gan ruột thiên hạ. Vâng, tôi rất yêu Vêra. Tôi nặng lòng vì nàng là chuyện dĩ nhiên, vì tôi là đứa đàn ông hảo ngọt. Vả lại, bất cứ người con trai bình thường nào cũng phải có cảm tình đặc biệt với nàng. Nhưng anh ơi, không hẳn vì tôi yêu nàng mà muốn nàng ở lại. Nàng được nhiều nhân vật cao cấp chính quyền săn đón. Một tai nạn nào đó xảy ra cho nàng sẽ làm nội vụ tan hoang.

Văn Bình nín thinh. Xe hơi đã tới đại lộ Strand, gần về tới khách sạn. Chàng đặt bàn tay lên đùi đại tá Karati, giọng thân mật :

- Hỏi thật anh, Vêra mặn nồng không ?

Karati giật mình :

- Anh tò mò quá !

Văn Bình cười rộ :

- Chỗ anh em với nhau, tôi cần nói hết sự thật. Dạo này anh gầy hẵn đi. Chắc đêm nào cũng uống tình tửu do Vêra thiết đãi ?

Karati nhỏ giọng :

- Tôi van anh…. Anh đi nội đêm nay cho khuất mắt tôi… Và cầu mong cho rắn độc và cọp dữ Nambum sẽ ăn thịt anh.

Văn Bình vỗ vai đối phương :

- Trân trọng đa tạ.

Xe đậu trước khách sạn. Karati thở dài khi thấy Văn Bình mở cửa buớc xuống đường. Đèn bêntrong vẫn sáng rực tuy trời bắt đầy khuya. Văn Bình phì phèo thuốc lá Salem tiến vào hành lang.

Không cần quay lại, chàng biết là viên đại tá Phản Gián Diến hét ra lửa đã ra lệnh cho tài xế lái về. Món tiền, hai chục ngàn đô-la của ông Hoàng đã có mãnh lực trám bịt miệng hắn, và trói chặt tay chân hắn. Ông tổng giám đốc thường áp dụng chính sách "mua lúa non" như vậy. Không riêng gì Karati, nhiều thủ lãnh điệp báo đồng minh đã bị ông già lẩm cẩm lặng lẽ cho vào xiếc, hoặc bằng tiền bạc, hoặc bằng gái đẹp.

Cách đây không lâu, nhân dịp được đọc bản danh sách tối mật những nhân vật ở trong và ngoài nước nhận tiền hoặc nhận tình của sở, Văn Bình suýt soa :

- Trời ơi, tôi không ngờ ông thành công đến thế ! Trước kia, tôi cứ tưởng….

Thì ông Hoàng cười :

- Anh biết tại sao tướng Gehlen của chế độ quốc xã Hitler đã được Hoa Kỳ tiếp tục trọng dụng sau thế chiến thứ hai không ?

- Biết. Vì Gehlen đã lập được một bản danh sách gồm những người đã hoặc có thể hoạt động gián điệp chống lại Nga Sô cộng sản.

- Thủ đoạn của tướng Gehlen đang được tôi áp dụng lại. Trong nhiều năm, Gehlen dùng tài chính và sắc đẹp mua chuộc hàng trăm, hàng ngàn người ở Âu châu. Nhờ bảng danh sách này, đồng minh đã có thể tổ chức và phát triển tổ chức tình báo ở sau bức màn sắt dễ dàng, sau ngày nước Đức bại trận và Nga Sô làm bá chủ Đông Âu. Nước ta rất nhỏ bé, song sớm muộn cũng sẽ giữ vai trò quan trọng bản lề trong thế trận chiến tranh giữa Đông và Tây. Muốn mạnh, nước ta phải kiện toàn hoạt động điệp báo. Ta phải đặt tai mắt ở mọi nơi, ít ra là ở Đông-Nam-Á. Cũng như nhà tư bản bỏ vốn đầu tư vậy. Trong 10, 20 năm mới có kết quả….

Ngậm nghĩ một lát, ông Hoàng tiếp :

- Tôi dùng mọi phương tiện, mọi thủ đoạn, vương đạo, bá đạo, tà đạo, đủ cả. Việc này ngoài anh ra, chỉ có Lê Diệp và Nguyên Hương, được biết. Sau khi tôi chết, hồ sơ sẽ do anh cất giữ.

Vì vậy Văn Bình đã biết rõ vụ dại gái của đại tá Karati.

Vào đến quầy tiếp tân, chàng gặp hai tên vệ sĩ khổng lồ, đen đủi, lì lợm của Karati. Vêra ngồi giữa xa-lông, nét mặt đăm chiêu. Thấy chàng, nàng vui rộn như bắt được của.

Chàng xách cái va-li nhỏ giùm nàng, giọng thân mật :

- Mời Vêra lên phòng dùng với tôi một ly rượu. Tuy tôi không có tình tửu đặc biệt nhưng có mang theo huýt-ky tuyệt ngon.

Hai tên vệ sĩ lẽo đẽo theo sau.

Đến phòng, Văn Bình khóa cửa lại cẩn thận rồi ra hiệu cho họ ngồi xuống ghế. Nhưng cả hai đều lắc đầu.

Văn Bình lừ mắt :

- Một lần nữa, tôi hạ lệnh cho hai anh ngồi xuống.

Chàng nhận thấy tên để râu mép có vẻ lanh lợi và cứng đầu hơn nên tiến lại dí ngón tay vào má, giọng kẻ cả :

- Thế nào, chú chịu nghe lời chưa ?

Tên râu mép chống nạnh, thái độ hầù hầm. Vêra can :

- Đừng anh. Họ rất giỏi võ. Nếu anh muốn, em sẽ bảo họ ra về. Em nói, chắc họ nghe.

Tên thứ hai, mũi và tai cà chua, bĩu môi :

- Bà lầm rồi. Chúng tôi là thuộc viên của đại tá Karati nên chỉ tuân lệnh đại tá Karati.

Mặt đỏ ửng, Vêra buông phịch xuống ghế. Tên râu mép tiến lên một bước :

- Thưa bà, chúng tôi có trách nhiệm bảo vệ an ninh cho bà, từng giây, từng phút. Chúng tôi sẽ không đi đâu cả.

Văn Bình cười nhạt :

- Tôi đã có cách mời anh ra khỏi phòng này.

Tên râu mép nhún vai :

- Sẵn sàng.

Vêra lại xen vào :

- Khổ quá, anh nên nghe lời em là hơn.

Văn Bình ném điếu Salem vào đĩa đựng tàn :

- Tôi nghe nói hai anh có tài dùng tay chém vỡ gạch ngói, và cả gỗ nữa. Phiền hai anh biểu diễn tôi coi.

Chẳng nói, chẳng rằng, tên râu mép phang bàn tay phải xuống thành ghế xa-lông bằng gỗ tếch, một loại gỗ nổi tiếng rắn chắc. Rắc một tiếng khô khan, thanh gỗ tròn gãy làm đôi, như bị tiện bằng lưỡi dao sắc. Biểu diễn xong, hắn ngẩng đầu cười ha hả :

- Xương sống của ông không thể nào cứng hơn gỗ tếch. Vậy tôi yêu cầu ông để cho chúng tôi yên.

Văn Bình quay lại tên mũi cà chua :

- Còn anh, anh còn ma thuật nào nữa ?

Tên mũi cà chua nhăn mặt tỏ dấu bất bình rồi bước lại giường, cầm cái mền len dầy xé toạc một miếng. Cái mền rách làm hai mảnh. Hắn chập hai mảnh vào nhai, xé lần nữa. Lần này cái mền bị xé làm bốn miếng vuông đều đặn, như thể được cắt bằng kéo.

Kể ra, tài nghệ của hai tên vệ sĩ đã lên tới trên mức trung bình. Nhưng đối với Văn Bình, họ vẫn chưa phải là đối thủ đồng cân, đồng lạng. Chàng bảo tên mũi cà chua :

- Ồ, cái trò xé mền của anh, con nít nước tôi cũng làm được.

Hắn quắc mắt :

- Anh xé thử coi.

- Trước đó, yêu cầu anh xé ra làm tám.

Hắn vung tay lên trời, ra vẻ ngạc nhiên :

- Anh điên hả ? Tại Ngưỡng Quang này chỉ một mình tôi là xé nổi mền len làm bốn miếng.

- Đồ ngu ! Võ sĩ thâm hậu về nội công có thể xé được cuốn tự vị dày hơn nửa tấc ra làm đôi, huống hồ cái mền mỏng lét này.

Nói đoạn, Văn Bình cúi xuống. Không khí trong phòng trở nên nghẹt thở. Vêra đứng dậy để nhìn cho kỹ. Văn Bình chặn một chân lên bốn mảnh mền len, rồi nhẹ nhàng xé ra làm tám. Chàng vận dụng nội công một cách êm ái, trên trán không thấy một giọt mồ hôi.

Hai tên vệ sĩ trố mắt trước tài nghệ tuyệt luân của Văn Bình. Tuy nhiên, tên râu mép còn ngoan cố :

- Anh chém gẫy được thành ghế rồi tôi mới chịu phục.

Văn Bình cười nhạt, kê hai ghế xa-lông lại sát nhau. Bàn tay của chàng vút xuống hai thanh gỗ tếch đều gãy luôn một lượt. Chàng đưa bàn tay cho hai tên vệ sĩ quan sát : không một giọt máu, không một vết da trầy sớt. Rồi chàng đổi giọng ôn tồn :

- Đại tá Karati giỏi võ hơn hai anh nhiều. Tôi coi chủ các anh như muỗi tép thì các anh đừng nên léo hánh đến tôi. Muốn thân xác còn nguyên vẹn thì cút khỏi phòng này đi. Bằng không tôi nổi giận thì đừng có trách.

Không thèm để ý tới hai tên vệ sĩ, chàng châm thuốc hút. Chàng quay lưng lại, cốt tạo cơ hội cho họ tấn công bọc hậu. Nghe tiếng gió thổi vù, chàng bước tréo sang bên. Tên râu mép hụt đòn, còn chới với thì Văn Bình đã tặng một ngọn cước vào giữa sương sống. Hắn ngã lộn xuống sàn nhà. Tên thứ hai rút súng ra, chưa kịp bắn thì ngọn cưóc chân trái của Văn Bình đã tống hắn vào chân tường. Khẩu súng rớt vào ghế xa-lông.

Vêra buột miệng :

- Anh giỏi quá !

Mát nàng chớp lia lịa, làn môi cong cong hơi hé mở. Chàng biết là Vêra sửa soạn bổ vào cánh tay lực lượng của chàng để tìm an ủi. Chàng bèn cất tiếng chặn trước :

- Nào, chúng mình lên đường.

Vêra sửng sốt :

- Đi đâu ?

- Vêra chóng quên thật. Chúng mình lên Pegu lấy phi cơ.

Vêra nắm bàn tay chàng :

- Anh Văn Bình ơi ?

Không đợi chàng cho phép, nàng đã ôm chặt lấy chàng. Và nàng hôn lia lịa vào mặt.

Được đàn bà đẹp, có gia tài 250 triệu đô-la hôn không phải là thành tích mà bất cứ ai cũng làm nổi. Văn Bình không phải là gỗ đá trước sắc đẹp thiên thần. Nhưng chàng không dám kéo dài giây phút tình tự. Vì chàng chợt nghĩ đến Sophie đang chờ ở phòng bên.

Tuy nhiên, Vêra đã sát vào người chàng. Sát thêm nữa. Sát thêm mãi. Giọng nàng đứt quãng như bị ngạt thở :

- Anh ơi, em muốn ở lại đêm nay với anh. Em không muốn lên Nambum nữa.

Mùi thơm da thịt của Vêra làm Văn Bình choáng váng. Chàng đang loay hoay chưa biết xử trí ra sao thì Vêra đã tắt đèn trong phòng.

Thôi thì "một liều ba bảy cũng liều…"

x x

x

Tiếng khóc hu hu của Seng Ho bị chìm trong cơn gió sặc mùi xú uế từ rừng sâu thổi lại.

Bóng trắng thản nhiên nhìn Seng, giọng nói tiếp tục đều đều, khô khan như ngày xưa :

- Hơn 40 tuổi rồi mà còn khóc như trẻ con hả Seng Ho ?

Seng bò trên nền cũi, nước mắt lã chã :

- Anh ơi, anh còn sống đấy ư ?

- Ai còn sống ?

- Anh chứ ai ? Thế mà tôi cứ đinh ninh anh đã chết. Nàng cũng tưởng anh đã chết. Nàng nhờ tôi lên đây để tìm mộ anh.

- Mộ ai ? Ai chết ?

- Khổ quá, anh là Paul phải không ? 20 năm trước, anh và tôi là sĩ quan tham mưu trong quân đoàn của tướng Wingate.

- Paul chết rồi.

- Vậy anh là ma ?

- Không, tôi là người. Người có đầy đủ, xương thịt và trí khôn như anh.

- Thì anh phải là Paul, anh ruột của Vêra. Anh ruột của vợ tôi. Tôi là chồng của Vêra. Anh là anh rể của tôi.

Người được gọi là Paul đăm đăm nhìn vào cũi tre :

- Tôi đã nói một lần rồi mà anh vẫn chưa chịu nghe. Paul ngày xưa đã chết. Tôi là thượng tá U-Ban của quân đội Giải Phóng Diến-Điện.

- Lạ thật, anh vẫn chẳng khác xưa là mấy. Vẫn bộ mặt cũ, dáng diệu cũ. Vẫn giọng nói cũ. Chỉ có cái tên và chức vụ là khác.

- Dĩ nhiên, trong 20 năm qua, thế giới đã thay đổi quá nhiều. 20 năm trước, anh là viên sĩ quan trẻ trong sạch, giờ đây anh là thằng đàn ông đào mỏ khốn nạn.

- Xin anh hiểu cho. Vêra yêu tôi. Nàng thật tình yêu tôi. Chính nàng ngỏ lời muốn làm vợ tôi. Tôi lấy nàng hoàn toàn vì tình yêu, không phải vì gia tài 250 triệu đô-la của nàng.

- Anh ngu nên chết đáng đời, Seng ạ. Sự thật là Vêra khinh anh như mẻ.

- Nghĩa là anh đã liên lạc với nàng ?

- Chứ còn gì nữa. Tôi không ngờ một nhân viên điệp báo chuyên nghiệp như anh lại có thể tối dạ đến thế…. Phải, chúng tôi đã liên lạc với nhau. Đúng ra, tôi đã viết thơ cho em tôi.

- Nghĩa là nàng biết anh còn sống ?

- Dĩ nhiên.

- Vậy nàng còn năn nỉ tôi lên Nambum làm gì ?

- Cái đó để anh tự tìm hiểu. Nhưng tôi sợ là anh không còn cơ hội khám phá sự thật nữa.

- Anh nói sao ? Tình bạn bè thắm thiết 20 năm trước, cộng với tình ruột thịt không còn trong lòng anh nữa ư ?

- Không.

- Anh mất trí rồi. Có lẽ đời sống trong rừng già cô độc đã làm tính tình anh hoàn toàn thay đổi. Ngày xưa, trong đơn vị, anh là sĩ quan có nhiều tình cảm nhất.

- Đừng nhắc tới quá khứ nữa. Vì quá khứ đã chết. Giờ đây, anh là tù nhân, là kẻ thù của Tình Báo Sở, và tôi là thượng tá U-Ban, hét ra lửa tại miền Bắc Diến-Điện.

- Lạ thật, người ta đã nhồi sọ anh khiến anh quên hẳn tổ quốc và lý tưởng của anh.

Thượng tá U-Ban cười ngất :

- Ồ, anh định tuyên truyền nữa ư ? Chậm lắm rồi, anh ạ. Không sức mạnh nào trên trái đất có thể lôi kéo tôi về phe của anh được nữa. Chẳng qua cũng tại các anh. Đêm ấy, các anh chỉ nghĩ đến mạng sống bản thân, bỏ tôi với hàng chục vết thương trong rừng rậm.

- Rồi ai đến cứu anh ?

- Một tiểu đội du kích Trung quốc. Sau khi vượt biên giới vào Vân-Nam tôi mới tỉnh dậy. Người ta đã băng bó cho tôi tử tế và đưa tôi về chiến khu. Sau đó, tôi gia nhập quân đoàn của tướng Chu Đức kéo lên Diên An. Tôi được chỉ huy một trung đội, đánh đâu được đấy. Rồi tôi được làm đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng. Đại chiến chấm dứt, quân Nhật đầu hàng vô điều kiện thì tôi được vinh thăng trung đoàn phó, cầm quân tiêu diệt phe nhóm Tưởng Giới Thạch. Chế độ Trung Hoa nhân dân được thành lập, tôi được gửi qua Liên Sô học tập, và như anh đã đoán biết tôi học tập về tình báo. Và tôi trở thành thượng tá U-Ban, tư lệnh F-22.

- Anh nên nghe lời tôi. Anh nên từ bỏ hàng ngũ cộng sản. Giai cấp của anh, trình độ kiến thức của anh, tư tưởng của anh không thể thích hợp với chủ nghĩa cộng sản. Tôi bảo đảm là sau khi trở về, anh sẽ được trọng dụng tương xứng với tài năng.

- Ha ha… chứ không phải anh lên đây để tìm cách hạ sát tôi à ?

- Người ta ra lệnh cho tôi hạ sát U-Ban, chứ không phải Paul, bạn tôi, anh rể tôi. Biết U-Ban là Paul, tôi không thể tuân lệnh nữa.

- Anh có thượng cấp của anh, tôi có thượng cấp của tôi. Mỗi người trong chúng ta đã ở trong một phòng tuyến đối nghịch, không thể nào hợp tác với nhau được. Seng Ho, ngoài mục đích giết tôi, anh còn có công tác nào nữa ?

- Đi tìm mộ phần…

- Đồ láo khoét. Nếu không thương tình anh bị nhịn đói, nhịn khát, tôi đã lôi anh ra khỏi cũi, đánh một trăm hèo. Anh giấu thiên hạ được, chứ không giấu nổi tôi đâu. Seng Ho, khai thật ra, MI-6 và C.I.A. sai anh lên miền Bắc làm gì nữa ?

- Tội nghiệp tôi lắm…

- Tôi muốn nhân nhượng với anh mà không được. Nếu anh tiếp tục ngoan cố, bắt buộc tôi phải nặng tay. Chúng tôi có trăm phương ngàn kế để cạy răng anh, khoan thủng óc anh, bắt anh phải nói…

Seng Ho ngồi yên.

Giọng thượng tá U-Ban rít lên :

- Anh quên hả ? Để tôi nhắc cho. Ngày 23 tháng trước, anh gặp ai ở Vọng-các ?

Seng giật mình, ớn lạnh. Ngày 23, Seng tới trình diện tại tổng hành doanh Viễn-Đông của MI-6. Đầu não của MI-6 cũng như C.I.A., phụ trách địa khu Đông-Nam-Á tọa lạc tại Vọng-các. Seng tới gặp một đại tá người Anh mà hắn không biết tên và chỉ mới thấy mặt lần đầu.

Trong tòa nhà lẻ loi ở ngoại ô Vọng-các chỉ có hắn với viên đại tá MI-6, tại sao U-Ban lại biết ?

U-Ban lại giục :

- Anh gặp ai tại hành doanh MI-6 Viễn-Đông ?

Seng thở dài :

- Thú thật với anh là tôi không được hân hạnh biết tên người ấy. Y mặc thường phục mặc dầu là đại tá.

- Đúng. Y là đại tá Redell. Y giao nhiệm vụ gì nữa cho anh ?

- Kiểm tra hệ thống tình báo của MI-6 tại miền Bắc. Tôi chưa kịp hoàn thành công tác thì bị anh lừa bắt.

- Yêu cầu anh cho tôi biết danh sách những nhân viên anh có bổn phận móc nối ?

- Sống để dạ, chết đem đi, tôi không thể nào tiết lộ….

- Ha, ha, tôi chỉ thử anh đấy thôi. Thử xem anh có thật tình hợp tác với tôi không. Té ra anh là thằng em rể đểu giả.

- Lúc nào tôi cũng là em rể anh. Nhưng đây lại là vấn đề khác. Vấn đề lương tâm nghề nghiệp. Tôi không thể phản bội.

- Nhưng để khỏi chết, để được sống với em gái tôi, anh sẽ phải cung khai sự thật.

- Tôi quý Vêra hơn mọi vật trên đời, song tôi không thể lãng quên sứ mạng của người sĩ quan tình báo MI-6.

- Giỏi lắm, can đảm lắm… Giờ đây, tôi đã hiểu anh rõ hơn. Nhưng anh Seng ngu xuẩn ơi, anh ngậm miệng không nói mà chúng tôi vẫn có trong tay bản danh sách nhân viên MI-6 ở miền Bắc.

- Vậy anh còn hỏi tôi làm gì nữa ?

- Vì tôi nghĩ đến em tôi. Vì tôi không muốn em tôi phải góa bụa. Vì tôi muốn cứu vớt mạng sống của anh, dầu anh làm tôi ghét bỏ và phỉ nhổ.

- Hồi nãy, tôi van nài anh thì anh cố tình gạt đi, giờ đây anh lại gợi tới liên hệ ruột thịt chẳng qua muốn đoạt bản danh sách bí mật. Tôi không phải là cậu bé khờ dại, anh đừng phỉnh gạt mất công.

- Ha, ha, tôi để anh suy nghĩ từ giờ đến sáng mai rồi trở lại vấn đề. Dầu sao tôi cũng muốn anh gặp em tôi lần cuối.

- Anh sẽ giết tôi ?

- Nếu anh bướng bỉnh thì tôi không còn cách nào khác nữa. Tôi hy vọng Vêra có thể làm anh thay đổi ý kiến.

- Vợ tôi lên đây ư ?

- Phải, nàng lên đây tìm anh.

- Ngụy biện. Nàng đã lợi dụng tôi. Tôi chỉ là thằng chồng hờ. Trong thời gian nàng là vợ chính thức của tôi, tôn vẫn gặp nàng tới ngủ đêm trong phòng người khác.

- Anh là đồ tồi. Tại sao anh không ghen ?

- Làm người, ai lại không ghen ? Nhưng nghĩ lại, tôi không dám. Vì nàng quá đẹp, tôi lại không đủ sức mang lại hạnh phúc cho nàng. Từ nay trở đi, nếu còn sống, tôi sẽ bắt đầu ghen.

- Hay lắm, anh nên sửa soạn thì vừa. Vì Vêra sẽ lên Nambum với một gã đàn ông đẹp trai, khỏe mạnh và….

- Hừ, thằng Roy chó chết ! Tôi cứ tưởng hắn là người đàng hoàng, vì dầu sao hắn cũng là tham vụ thương mãi của sứ quán Anh, ngờ đâu hắn thừa dịp tôi vắng nhà để quyến rũ vợ tôi.

- Lầm to, em gái tôi không thể yêu được một gã đàn ông cục mịch như thằng Roy.

- Anh cũng biết Roy ?

- Chuyện gì tôi lại không biết ! Anh nên nhớ rằng tôi liên lạc với Ngưỡng Quang bằng vô tuyến điện.

- Đúng rồi. Kẻ mưu toan cắm sừng lên đầu tôi là đại tá Phản Gián Karati. Hắn vốn là đứa hảo ngọt, chuyên tằng tịu với đàn bà có chồng, phương chi Vêra lại là cái mỏ 250 triệu đô-la.

- Lại càng lầm nữa. Karati chỉ chim chuột được bọn đàn bà hạ lưu. Hắn lớ sớ đến Vêra sẽ bị nàng tát vỡ mặt.

- Vậy tình địch của tôi là ai ?

- Anh biết làm gì thêm lụy vào thân. Thứ nhất, anh chưa đủ tài ba hạ được hắn. Thứ hai, anh đã tự giết chết hy vọng trở về Ngưỡng Quang xum họp với em gái tôi.

- Tôi lạy anh, anh nói đi cho tôi khỏi tấm tức.

- Ha, ha… thuận mua, vừa bán, anh phải cho tôi biết danh sách điệp viên MI-6 hoạt động ở miền Bắc.

- Điều kiện của anh quá nặng nề….

- Thì thôi… sáng mai chúng ta sẽ gặp nhau lại. Đêm nay, anh chịu khó ngủ trong cũi tre này nhé. Chào anh, tôi đi đây.

Thượng tá U-Ban quay gót.

Seng Ho chồm lên, gọi giật :

- Paul, anh Paul !

Thượng tá U-Ban nhăn mặt :

- Phiền anh gọi tôi là U-Ban.

- Vâng, anh U-Ban… anh đừng đi vội, tôi xin đưa ra một đề nghị…

- Trả tự do cho anh phải không ?

- Phải. Và tôi sẽ hoàn toàn tuân theo ý muốn của anh. Không những tôi cho anh biết danh sách nhân viên MI-6, tôi còn điềm chỉ những nơi MI-6 chôn sẵn vụ khí, điện đài vô tuyến, và chuẩn bị thả dù lương thực, đồ tiếp tế liệu gián điệp xuống tại miền Bắc nữa. Anh U-Ban ơi, thằng khốn nạn nào gạ gẫm vợ tôi là ai ?

- Là đồng nghiệp của anh do MI-6 và C.I.A. phối hợp gởi tới Diến-Điện cách đây một ngày, hắn là đại tá tình báo Nam Việt. Tên hắn là Văn Bình. Người ta thường gọi hắn là Z.28.

- Z.28 ! Đúng rồi, tôi đã nghe nhắc đến tên hắn nhiều lần. Phen này tôi sẽ tặng hắn một băng đạn vào mặt. Hắn sắp tới chưa anh ?

- Chậm lắm là ngày mai. Hắn sẽ tới Nambum-Ga bằng phi cơ. Vêra cùng đi với hắn.

- Tức chết đi mất ! Anh mở cũi cho tôi ra đi, tôi sẽ khai ngay bây giờ.

Thượng tá U-Ban mỉm cười, vỗ tay ba cái.

Đèn bấm lóe lên tứ phía. Nhiều bóng đen rầm rộ chạy tới. U-Ban dõng dạc ra lệnh :

- Tháo cũi, đưa ông Seng Ho về trụ sở. À, đừng bắt ông Seng đi chân vì ông còn yếu lắm. Chọn bốn cận vệ thay phiên nhau khiêng ông Seng bằng cáng. Tới nơi, pha sữa nóng cho ông uống, rồi kêu con gái lên đấm bóp. Nhớ chưa ?

Bóng đen đi đầu đứng nghiêm đáp :

- Thưa thượng tá, nhớ.

U-Ban nhìn chung quanh một vòng trước khi biến vào rừng tre dày đặc bóng tối.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:05 pm

VI
Rừng rậm Nambum


Quá nửa đêm, chiếc Dakota cà rịch cà tang do Văn Bình điều khiển cất cánh khỏi trường bay Pegu, nhằm hướng Bắc trực chỉ.

Văn Bình phải vận dụng mọi mưu kế mới thoát được vòng tay ôm ấp nồng nàn của Vêra. Nàng tắt đèn, kéo chàng ngã xuống. Thoạt tiên, máu đa tình sôi sục trong huyết quản, Văn Bình choáng váng. Mùi hương da thịt của Vêra có một ma lực lạ lùng. Chàng vòng tay ôm gọn lưng nàng.

Nhưng chỉ một phút sau, chàng bừng tỉnh.

Chàng nhớ đến hai khối thịt nằm sóng sượt trong phòng. Trong khoảnh khắc, bọn vệ sĩ của Karati sẽ tỉnh dậy, lợi dụng cơn mê man của chàng để chĩa súng để bắt chàng đầu hàng. Kế hoạch lên Pegu sẽ tan thành khói.

Chàng lại nhớ đến Sophie đang khóc thút thít ở phòng bên. Nàng sẽ ăn tươi nuốt sống chàng nếu chàng ham vui với Vêra. Sophie đã năn nỉ chàng ở lại với nàng mà chàng thẳng tay từ chối. Nàng là hạng giai nhân ghen tuông kinh khủng mặc dầu chàng chưa phải là người yêu của nàng. Vả lại, điều làm chàng lo ngại là tính mạng Sophie đang như sợi chỉ mành treo chuông. Nếu đối phương khám phá ra Sophie ở khách sạn Strand, họ sẽ không ngần ngại phá cửa phòng, lia một tràng đạn tiểu liên….

Cho dẫu tình hình không khẩn trương, Văn Bình cũng không thể hẹn hò chăn gối. Thật vậy, trong chuyến đi Diến-Điện lần này, chàng bỗng mất hết hứng cảm thường lệ. Có lẽ vì chàng chưa quên được Như Hồng đang đỏ mắt mong chàng trong tòa nhà cô đơn ở ngoại ô Calcutta. Nhưng phần lớn vì chàng chưa quên được cô gái Diến bạc mạng mà linh hồn đang vất vưởng trên dòng sông Irrawaddy…

Cực chẳng đã, Vêra đành ngồi dậy. Mắt đỏ ngầu, nàng hậm hực mặc áo. Văn Bình phải mất 5 phút mới vỗ về được nàng. Rồi chàng phải mất thêm 15 phút khác mới đưa được Sophie và Vêra xuống cầu thang. Đi giữa hai thiếu phụ đẹp, Văn Bình cảm thấy toàn thân ớn lạnh.

Tuy nhiên, mọi việc đều diễn ra êm xuôi. Chiếc Mark IV của Sophie ngốn đường nhanh như chớp nhoáng trong đêm vắng.

Sân bay Pegu có một bộ mặt thê lương của một nghĩa trang hoang phế. Văn Bình rùng mình khi thấy chiếc Dakota của Abê nằm trơ trọi ngoài phi đạo. Máy bay đã cũ lại chở nặng hàng hóa - vì công ty du lịch của Abê còn đảm nhiệm vận chuyển hàng hóa từ thủ đô lên miền cực Bắc - Hành khách phải ngồi trên ghế sắt tróc sơn, giống như trong phi cơ quân sự.

Máy bay sắp cất cánh thì có điện thoại từ Ngưỡng Quang gọi tới. Cầm ống nghe, Văn Bình nhận ra tiếng nói quen thuộc của đại tá Karati. Chàng liền tấn công :

- Anh buộc tôi quay lại Ngưỡng Quang phải không ? Tôi xin báo anh biết là quyết đi tới cùng.

Karati thở dài :

- Không, tôi gọi cho anh không phải để ra lệnh với tư cách đại tá chỉ huy Phản Gián. Mà là với tư cách con người có lương tâm, tư cách bè bạn. Anh nên lái xe về đi.

- Lý do ?

- Phi cơ quá cũ, dễ gây ra tai nạn. Du kích cộng sản hầu như kiểm soát vùng rừng núi phía Bắc. Họ bắn hạ phi cơ của anh rất dễ dàng. Anh nên nghe tôi….

- Cám ơn anh.

- Anh đã dứt khoát, vậy tôi không làm phiền anh nữa. Xin anh chuyển ống nói cho Vêra.

Vêra hơi nhăn mặt sau câu nói đầu tiên của Karati. Văn Bình nhận thấy mắt nàng không chớp, môi mím lại, chứng tỏ nàng đang bị xúc động cực độ.

Giọng nàng run run :

- Đại tá nói sao ? Nói rằng đường lên Nambum đầy rẫy nguy hiểm phải không ? Ồ, nguy hiểm đối với tôi là thường… Nếu vậy, sao đại tá không cho chúng tôi mượn phi cơ khác. Không được hả ? Vậy đại tá cho khu trục cơ hộ tống… Cũng không được… Thì thôi….

Nàng bỏ điện thoại xuống, nhún vai, giọng khinh bạc nói với Văn Bình :

- Karati yêu cầu chúng ta hủy bỏ chuyến bay này vì lý do an ninh. Nội ngày mai, hắn sẽ cho mượn phi cơ khác, tối tân và an toàn hơn. Hắn bảo hai chiếc Dakota của Abê là hai đống sắt vụn. Mọi lần Abê phaả đích thân lái. Abê là hoa tiêu trứ danh nên phi cơ mới không rớt xuống rừng. Abê chết rồi, bọn hoa tiêu bản xứ không đủ tài năng và kinh nghiệm để điều khiển đống sắt vụn này. Karati khuyên vậy, anh nghĩ sao ?

Văn Bình đáp :

- Tùy Vêra. Kể về kỹ thuật thì tôi không đến nỗi kém cỏi. Tôi có nhiều giờ bay gấp 5 Abê. Tôi lại điều khiển đủ kiểu phi cơ từ trước đến nay, và ít khi gây ra tai nạn. Tôi tin là chỉ huy được chiếc Dakota vận tải của Abê. Nhưng nếu Vêra lo sợ thì tốt hơn nên ở lại, hoặc chờ đến mai, Karati cho phi cơ an toàn đến rước.

Vêra dẩu mỏ như cô gái 16 làm nũng với cha mẹ :

- Anh khinh phụ nữ vừa vừa chứ ! Anh đi được thì chúng tôi sợ gì….

Văn Bình quay sang Sophie :

- Còn cô ? Cô đi hay về ?

Sophie sịu mặt :

- Nếu anh nhận thấy sự hiện diện của em là một sự trở ngại thì em xin về vậy.

Chiếc Dakota sọc sạch có thể gây ra tai nạn dọc đường, tuy nhiên, Văn Bình lại có ấn tượng là hai thiếu phụ đẹp, thừa sức sống, và thiếu tình yêu cháy bỏng dễ gây ra tai nạn hơn, và tai nạn này dễ làm nguy hại tính mạng của chàng hơn. Sophie đã bắt đầu khai hỏa trận giặc ghen tuông. Chàng đành lắc đầu lia lịa :

- Sophie về sao được. Vấn đề an ninh….

Nàng sịu mặt hơn nữa :

- Anh đừng lo. Chết thì thôi, em không cần.

Bắt buộc Văn Bình phải dứt khoát :

- Nhưng tôi lại cần Sophie. Thiếu Sophie, tôi không thể làm tròn công tác.

Nàng cười vui như đứa trẻ vừa được cho quà. Trong khi ấy, Vêra ngồi yên, mắt bắn tia lửa.

May thay phi cơ đã cất cánh an toàn. Ngồi sau cần lái, Văn Bình ướt sũng bồ hôi, tuy trời teng teng lạnh. Với bề ngoài siêu vẹo, con chim sắt của Abê đã có một động cơ ngon lành khiến Văn Bình không đến nổi phải thất vọng.

Traăg sáng bàng bạc trên cảnh vật hoang liêu. Văn Bình lái phi cơ ngược theo dòng sông Irrawaddy rộng mênh mang. Tuy chưa quen địa hình, chàng vẫn không sợ lạc đường, vì ngoài con sông độc đáo được dùng làm chuẩn đích, chàng đã có thể căn cứ vào đường xe lửa từ Ngưỡng Quang đi Mandalay ở phía Bắc.

Một lát sau, phòng phi hành vắt đầu ngấm lạnh. Phi cơ không có máy sưởi nên Vêra và Sophie ngồi co ro. Tội nghiệp Vêra, nàng đã quen với chiếc Cadillac trang bị tiện nghi tối tân, hoặc ghế ngồi êm ái hạng nhất trên phi cơ phản lực thương mãi… Nàng lại có hàng chục, hàng trăm thứ rượu đặc biệt, uống vào làm hơi lạnh tan biến trong chớp mắt.

Tuy không nhìn lại phía sau, Văn Bình biết là cả hai đang liếc trộm chàng. Và nếu chàng có tài đọc được tâm can người đời, chàng sẽ biết là cả hai đang nghĩ đến chàng với những cảm tình nồng hậu.

Chàng chép miệng lái lên cao hơn. Phong cảnh trung châu bằng phẳng và tẻ ngắt dần dần nhưởng chỗ cho những ngọn đồi thấp. Rồi đến những rặng núi đen sì chắn ngang chân trời lấp loáng trăng xuông, dường như chứa từ thạch có thể hút phi cơ xà xuống.

Hết núi bắt đầu đến rừng. Hết rừng lại đến núi. Hệ thống đường xá còn ở trong tình trạng thô sơ ở miền Bắc. Phong cảnh bên dưới khiến chàng hồi tưởng lại Hòa Bình, một trong những tỉnh giáp biên ở Bắc Việt lưu lại trong lòng chàng nhiều kỷ niệm nhất.

Nhiều đêm trăng sáng lờ mờ, chàng cũng lái máy bay trên không phận Hòa Bình. Có lần chàng đã nhảy xuống, liên lạc với biệt kích.

Chàng không thể nào quên được 3 giờ sáng đêm ấy - 3 giờ sáng vẫn là giờ tình yêu và là giờ hẹn hò gián điệp - chiếc Dakota đen chùi chũi há họng nhả chàng xuống thung lũng vòng chảo Hòa Bình.

Nhiệm vụ của Văn Bình là tiếp tế võ khí và dụng cụ điện tử cho biệt kích.

Hoạt động trong lòng địch là công tác vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều quyền biến và sức khỏe nên ông Hoàng thường chọn nam giới ở chức vụ chỉ huy. Văn Bình không ngờ người chàng có bổn phận tiếp xúc đêm ấy lại là đàn bà.

Đàn bà đẹp như trong tranh cổ Trung Hoa.

Thật vậy, viên chỉ huy đơn vị biệt kích ở ngoại ô Hòa Bình hồi ấy là một thiếu phụ trạc 25 tuổi, dong dỏng cao, ngực và mông lép kẹp, cánh tay, cặp giò dài lê thê, miệng nhỏ hình trái tim, lông mày lá liểu cong vút, đôi mắt rộng đen, sâu thẳm. Nàng có vẻ đẹp dịu dàng và nghiêm trang. Thân thể nàng không chứa những đường cong bốc lửa nhưng khuôn mặt rụt rè, bờ vai mỏng dính và cái mông nhỏ xíu ấy lại tiết ra một sức hấp dẫn thần bí, còn thần bì hơn cả sức hấp dẫn của hoa quỳnh nở 12 giờ khuya nữa.

Lúc lên đường, chàng chỉ được tổng hành doanh cho biết thể thức liên lạc, chứ không nói rõ chi tiết rằng viên chỉ huy là đàn ông hay đàn bà. Bởi vậy, Văn Bình hoàn toàn sửng sốt khi gặp nàng trong thạch động.

Đúng ra, ngay sau khi chạm đất, lồm cồm bò dậy, đào hố chôn dù, chàng đã sửng sốt. Vì toán nhân viên đến đón chàng và đồ tiếp liệu không phải là đực rựa như thường lệ, mà toàn là kỳ quan giống cái, mặc đồ chẽn đen, da trắng như trứng gà bóc, tóc kết bím chấm hai bên vai, giắt dao quắm, và đeo tiểu liên Trung cộng.

Bốn thiếu nữ khỏe mạnh, nở nang và xinh đẹp dẫn chàng từ khu vực nhảy dù vể trụ sở bí mật trong rặng núi trùng điệp, bao vây lòng chảo Hòa Bình.

Qua dăm ba câu nói đưa đẩy, Văn Bình được biết nhóm con gái xinh tươi này là người Mường, bộ lạc thiểu số có nếp sống gần người Kinh, tập trung ở miền núi Thanh Hóa và Hòa Bình. Gái Mường nổi tiếng là đẹp, không thua gái Thái trắng ở Tây Bắc Bắc Việt. Chuyên môn đi rừng và leo trèo nên họ có sức chịu đựng vô cùng bền bỉ, đàn ông đua tranh không lại. Họ rất hiền hậu nhưng cũng rất dữ dằn đối với đàn ông sàm sỡ và… Sở Khanh.

Đoàn người phải trèo ba ngọn núi mới về đến trụ sở bí mật. Bốn nữ biệt kích đeo đồ đoàn trên lưng, lại dắt ngựa chở đầy súng đạn do phi cơ thả xuống, mà vẫn bước thoăn thoắt, sườn núi chênh chếch mà Văn Bình cứ tưởng là họ đang rảo chạy trên đường phẳng. Văn Bình cũng không phải là tay mơ trong nghề trèo núi, ba ngọn chứ phải trèo chục ngọn núi chàng cũng không sờn.

Khốn nổi đêm ấy phong độ của chàng lại không được đầy đủ. Có lẽ vì quá gắn bó với Sàigòn hoa lệ trong nhiều đêm dài liên tiếp…. Nền trời mát rợi, trăng sáng thần tiên mà Văn Bình vã mồ hôi như tắm hơi nước, và tối mắt tối mũi, chẳng thấy vẻ đẹp của rừng núi nữa.

Chàng vấp ngã nhiều lần khiến bọn con gái khúch khích cười. Chàng thẹn đỏ mặt song không dám cất tiếng bào chữa. Về đến thạch động, chàng mệt đến ngất xỉu.

Nhưng trong vòng 30 giây đồng hồ, chàng đã tỉnh lại. Hoàn toàn tỉnh lại.

Và khỏe khoắn hơn bao giờ hết. Khỏe khoắn như thể được uống thần dược.

Mãnh lực đã làm chàng hoàn toàn tỉnh lại là Nàng. Tuy vậy, nàng không để ý tới chàng. Nàng sẵng giọng với bốn thiếu nữ biệt kích :

- Tại sao khu vực tuyệt đối an ninh mà các chị lại rẽ vào núi, không dùng lối đi thường lệ ?

Chết rồi, bốn cô gái cố tình trèo núi để lỡm Văn Bình. Cả bọn đều nín thinh.

Nàng lại nói :

- Lần sau, yêu cầu các em đừng làm thế nữa. Đi đường thẳng chỉ mất 20 phút là lâu nhất, còn đường núi mất hơn 2 giờ. Các em không nói chị cũng đã hiểu… Chỉ tội nghiệp cho ông khách của chị.

Rồi quay về phía Văn Bình, nàng ngọt ngào :

- Xin ông tha lỗi cho mấy cô em của tôi. Chúng nó nghịch như quỷ sứ, hễ thấy đàn ông là bám chặt như đỉa đói. Có lẽ tôi đến phải yêu cầu ông Hoàng cho chúng nó vào Sàigòn mất thôi….

Té ra mật khu này là của gia đình họ Hà, xuất thân từ miền thượng du Thanh Hóa. Họ Hà là gia đình lang đạo đông đảo gồm nhiều bậc khoa bảng dưới triều Nguyễn, từ đời này qua đời kia trấn giữ vùng rừng núi hiểm trở dọc biên giới Lào-Việt.

Trong những năm Pháp thuộc đầu tiên, họ Hà phát động phong trào Cần Vương, mộ binh lính đánh Pháp. Du kích quân của họ đã làm người Pháp thất điên bát đảo. Dùng binh mã cũng như địa vị, tiền bạc, địa vị, không lôi kéo được họ Hà, thực dân bèn dùng bọn tay sai bản xứ. Vì vậy, họ Hà bị thất trận liên tiếp. Sau cùng, họ Hà chia ra làm nhiều chi phái, một phái ở lại, một phái trốn xuống đồng bằng, cải lại là họ Dương để tránh sự lùng bắt và khủng bố của mật thám đế quốc.

Một phần của họ Dương kéo qua Hòa Bình lánh nạn. Cô gái chỉ huy mật khu biệt kích Hòa Bình dưới quyền của ông Hoàng là trưởng nữ của một gia đình có 10 chị em gái. Mặt nàng và thân hình nàng trạc 25, nhưng tuổi thật của nàng là 36. Ý trung nhân của nàng bị giết trong một trận giao phong với Việt Minh, và từ đó nàng sống một mình, không nghĩ đến chuyện lấy chồng nữa.

9 cô em nhí nhảnh của nàng đều theo nàng vào mật khu biệt kích, tổ chức tình báo, phá hoại trong tỉnh. Cả 10 chị em đều đẹp, nhưng nếu 9 cô em có vẻ đẹp cân đối Tây phương thì cô chị hoàn toàn có vẻ đẹp Đông phương, thân hình mảnh mai như liễu, tưởng như gió nhẹ thổi là ngã. Trên thực tế, nàng rất giỏi quyền thuật, hàng chục đàn ông lực lưỡng tấn công nàng vị tất làm nàng ngã nổi.

Trừ cô chị đứng đắn, xứng với phong độ "nữ tướng", 9 cô em đều nghịch như quỷ sứ. Mật khu gồm toàn phụ nữ nên sự hiện diện của Văn Bình đã tạo ra nhiều sự rắc rối. (Mãi sau này, Văn Bình mơi khám phá ra đó là mưu mô của Nguyên Hương, nàng tìm cách gửi chàng đến Hòa Bình để nếm mùi lắm mối, tối nằm không)

Theo mệnh lệnh, Văn Bình lưu lại mật khu hai tuần để dạy cho đội nữ binh kỹ thuật mới về truyền tinh bằng làn sóng lên thẳng, và cách xử dụng chất nổ tối tân. Nhưng chàng chỉ ở đúng một tuần rồi nằng nặc đòi về.

Nguyên do là chàng quá mệt mỏi. Các cô em đều xinh tươi như hoa hồng mới nở trong sương sớm, cô nào cũng đáng cho Văn Bình trao đổi tình yêu, thành ra Văn Bình băng khoăn không biết chọn ai. Mỗi đêm lên giường, chàng đều vắt tay lên trán suy nghĩ. Dầu tình yêu có thể được coi như món ăn, song món ăn đặc biệt này khó thể ăn luôn một lúc cả 9 dĩa. Nếu có điều kiện, Văn Bình cũng không ngần ngại "bội thực" cho dẫu khi về Sàigòn sẽ phải vào Viện Quốc Gia Chỉnh Hình nữa.

Nhưng vì có 9 hoa khôi một lúc, 9 hoa khôi luôn luôn ở một bên, không phút nào đi riêng, nên Văn Bình đành phải theo nếp sống nhà tu. Đúng ra, chàng chỉ được riêng tây với cô chị cả. Gặp nàng, chàng cố tạo nụ cười, khóe mắt và dáng điệu khả ái. Luồng điện hấp dẫn trong cơ thể chàng được rung tới tột độ.

Mắt nàng hơi chớp, hai bàn tay hơi lẩy bẩy, chứng tỏ nàng bị cảm xúc. Tuy nhiên, chỉ trong giây phút, nàng trở lại bình thường, và nàng nói với Văn Bình trong tiếng thở dài :

- Sống đến 36 tuổi đời, tôi mới được gặp một người đàn ông hội đủ điều kiện như anh. Hoạt động kề thần Chết như tôi, dĩ nhiên tôi không thích bị ràng buộc trong tình chồng vợ, nhưng từ lâu hằng mong muốn được chia bùi, xẻ ngọt với người tình. Anh Văn Bình ơi, anh đã hiểu lòng tôi rồi đó, tôi yêu anh lắm, trăng đêm đẹp như thế này, được sánh vai anh ra bờ suối ngắm trăng và tắm mát thì trên thế gian không còn hạnh phúc nào bằng….

Song tôi chỉ được quyền dệt mộng trong tưởng tượng mà thôi.

Văn Bình nói :

- Có ai cấm đoán chúng ta đâu ?

Nàng lại thở dài :

- Anh đừng dối tôi và tự dối anh nữa. Tôi biết anh có cảm tình đặc biệt với các em tôi và chúng cũng có cảm tình đặc biệt với anh. Là bậc chị, tôi không thể dành tình của các em. Các em tôi cũng không dám dành tình của chị. Thà như thế này còn hơn, phải không anh ?

- Như thế này, tất cả đều khổ !

- Còn hơn 2 người sướng còn 9 người khổ. Để tôi kể truyện cổ tích này cho anh nghe…. Đời xưa, một ông quan con cháu đầy đàn nhưng nghèo kiết, được người ta biếu cho một trái lê….

- Tôi biết rồi… Trái lê mà cắt chia ra không lẽ người ăn, người nhịn nên ông quan cho vào nồi đổ đầy nước, nấu rừ để toàn thể cùng húp… Nhưng đó là trái lê, tình yêu trai gái không thể so sánh với trái lê, nghĩa là không thể hưởng chung được….

Nàng lắc đầu :

- Sao lại không ?

Vì vậy, Văn Bình lạc vào Thiên Thai, mà trở thành cô đơn hơn là ở trong sa mạc. Chàng cầu mong cho phi cơ chóng tới. Ngày cuối cùng ở mật khu, Văn Bình dậy thật sớm, từ khi mặt trời chưa mọc, bách bộ ra giòng suối sau nhà sàn, nơi chàng cư ngụ. Đặc biệt đây là suối nước nóng, tắm rất dễ chịu, lại có chất lưu hoàng làm các chứng bệnh ngoài da, bệnh đau đầu và bệnh tê thấp chóng khỏi.

Văn Bình cũng định ngụp xuống suối một lát để rũ bỏ sầu muộn. Nhưng quang cảnh trước mắt làm chàng suýt đứt gân máu.

Dật dờ sau màn sương trắng, chàng thấy giòng suối bốc khói nghi ngút đã đông nghẹt người tắm. Người tắm đều là đàn bà.

Người tắm là 10 chị em nhà họ Dương.

Đứng trên bờ những hồ tắm văn minh, nhìn xuống giai nhân mặc mù-soa mỏng dính, nhiều lần Văn Bình đã tắt thở. Phương chi hồ tắm nhân tạo ở các thủ đô còn thua suối nước nóng trên núi Hòa Bình hàng trăm lần về vẻ đẹp… Phương chi giai nhân ở đây lại hoàn toàn khỏa thân. Phụ nữ sơn cước thường tắm khỏa thân….

Văn Bình lò dò đến sau bụi bồm bộp để chiêm ngưỡng cho rõ ràng. Lá bồm bộp lớn gần bằng cái nón, chàng tha hồ thưởng thức, không sợ bị phát giác.

Nhưng chàng đã đoán lầm. Tài ngụy trang tuyệt vời của chàng trở thành trò giấu đầu hở đuôi của trẻ con. Chàng đang lom khom thì một tiếng gọi cất lên dõng dạc :

- Đại tá ?

Chết rồi… Đó là tiếng kêu của cô em út, có má múm đồng tiền, miệng cười khêu gợi và làn da trắng như tuyết Bắc cực.

Chàng còn rụt rè thì nàng lại gọi tiếp :

- Đại tá Văn Bình ? Em thấy đại tá từ hồi nãy kia…. Xuống suối tắm với chúng em một thể….

Rồi một giọng nói khác, giọng nói của chị cả :

- Hừ, ông Văn Bình tệ thật. Ai lại núp trong bụi cây để nhìn đàn bà tắm.

Văn Bình phải vác mặt ra trình diện. May thay là không có gương, chứ nếu có chàng đã phải nhìn thấy một khuôn mặt sượng sùng, còn sượng sùng hơn cả bị bắt quả tang bỏ tay vào ví tiền của người lạ nữa.

Dưới suối, sương muối đã tan hết. Da thịt lồ lộ của 10 nàng tiên biệt kích nổi bật trên nền xanh của cây lá chung quanh và của bờ suối màu xám.

Nước suối trong veo, đứng trên có thể nhìn rõ hòn cuội dưới đáy, nên tuy người đẹp ngâm mình đến ngực, Văn Bình vẫn có cảm tưởng là họ đứng xếp hàng ngoan ngoãn trước mặt chàng.

Cô chị lên trước, ra lệnh cho Văn Bình :

- Nếu là người khác thì tôi không phạt. Nhưnh kẻ nhìn trộm là ông nên tôi không tha được. Yêu cầu ông lấy khăn tắm lau sạch nước cho chị em tôi.

Lau nước trên mình giai nhân là thú độc nhất vô nhị. Vì cặp mắt tha hồ được du hành. Vì bàn tay có thể cố ý lạc đường. Nhưng lau nước cho 10 chị em họ Dương đã trở thành cực hình đối với Văn Bình. Chàng đành thở dài làm tròn nhiệm vụ. Mỗi khi chàng đặt cái khăn bông lên lưng, người đẹp nào cũng run rẩy nhưng không dám quay lại, chàng cũng không dám biểu lộ cử chỉ thân mật. Con gái họ Dương nổi tiếng về quyền thuật khắp miền rừng núi, chỉ một giây đồng hồ hớ hênh có thể gây sóng gió. Con gái sơn cước lại mang bệnh ghen kinh khủng, chàng thân mật với cô này mà không thân mật với cô nọ thì khối thịt đồ sộ của điệp viên Z.28 sẽ biến thành mắm ruốc.

Đêm ấy, Văn Bình trèo lên phi cơ thật nhanh như bị ma đuổi. Đến khi hoa tiêu báo cho chàng biết là phi cơ đã ra khỏi không phận của địch, chàng mới hoàn hồn.

Đêm nay, trên không phận Bắc Diến, Văn Bình cũng bị mất tinh thấn như năm xưa ở mật khu biệt kích Hòa Bình. Vêra và Sophie không còn là trinh nữ nhí nhảnh như 10 chị em họ Dương, nhưng sự ghen tuông của họ lại già dặn hơn nhiều. Nhìn tia mắt bốc lửa của họ trên phi cơ, Văn Bình đoán biết là họ có thể xé xác được nhau.

Bởi vậy chàng đành ngồi yên.

Ngoài trời, mưa bắt đầu đổ xuống. Vầng trăng thân thiết đã biến sau rặng núi đen sì, quang cảnh trở nên âm u, huyền bí.

Phụ tá hoa tiêu ngồi bên bất động, mơ màng với điếu xì-gà tẩm á phiện. Từ lúc máy bay rời Pegu, hắn không thốt nửa lời. Tuy là người bản xứ, hắn được Abê tin cậy. Hầu như mọi chuyến bay vận tải lên miền Bắc của Abê đều do hắn điều khiển nên hắn thuộc đường như cháo.

Văn Bình hỏi :

- Sắp đến chưa ?

Hắn choàng dậy :

- Ông bay hơi nhanh. Chỉ độ một giờ nữa là tới.

- Anh thường bay chậm ư ?

- Vâng. Vì bay nhanh vô ích.

- Tại sao lại vô ích ?

- Vì không thể đáp xuống. Sân bay còn thô sơ hơn Pegu nhiều. Lắm lúc họ vứt thùng sắt nghênh ngang ngoài phi đạo, tôi phải bay lượn nhiều vòng trên đầu, và thét vào tai họ, họ mới cho nhân viên ra khiêng vào.

- Nambum có nhà trọ nào khang trang không ?

Văn Bình không dám dùng hai tiếng khách sạn. Vì chàng biết Nambum chỉ là một tiểu thị trấn ở nơi đèo heo hút gió. Phụ tá hoa tiêu rít một hơi xì-gà dài :

- Có. Nhưng chỉ ở tạm được mà thôi. Có một tòa nhà dành cho viên chức chính phủ tạm trú. Song du khách cũng có thể ở đưọc. Tuy nhiên, tôi cũng xin nói là tiện nghi không lấy gì đầy đủ.

Phụ tá hoa tiêu không nói, Văn Bình cũng đã biết trưóc. Nếu khách sạn lớn nhất thủ đô Ngưỡng Quang chỉ có quạt trần bằng gỗ xấu xí và khập khiễng thì xó rừng phía Bắc không thể nào có phòng ngủ gắn máy điều hòa khí hậu tối tân.

Chàng nhường cần lái cho phụ tá hoa tiêu :

- Nhờ anh. Tôi muốn ngủ một lát.

Văn Bình cảm thấy cần ngủ hơn bao giờ hết. Chàng dựa lưng vào ghế, nhắm nghiền mắt, tách rời khỏi thực tại. Nhờ phương pháp vận dụng tư tưởng này, chàng tìm giấc ngủ thường lệ rất dễ dàng. Nhưng không hiểu sao đêm nay chàng lại chập chờn mãi. Chàng có cảm giác như tim chàng đập thình thịch và gáy chàng đau điếng.

Rồi chàng vùng tỉnh.

Khi ấy, phụ tá hoa tiêu đang đập vào vai chàng :

- Ông ơi ?

Theo ngón tay chỉ của phụ tá hoa tiêu, Văn Bình nhìn ra ngoài. Có lẽ mưa đã tạnh nên bầu trời trở lại mầu sữa loãng, với đĩa trang vắt vẻo dưới nền mây phẳng lì.

Nhìn xuống dưới, chàng thấy một giải bạc ngoẳn ngoèo trắng xóa. Đó là sông Inkagaung. Một chiếc ca-nô sơn màu thẫm đang từ từ rẽ sóng. Văn Bình hỏi :

- Ca-nô của chính phủ phải không ?

Phụ tá hoa tiêu đáp :

- Không phải. Đó là tàu của một công ty tư nhân. Đúng hơn, của một người Anh. Y có ba, bốn chiếc ca-nô chở hàng hóa và hành khách tới Nambum. Theo chỗ tôi biết, y quen thân với cô Sophie.

- Quen thân là như thế nào ?

- Mỗi lần về Ngưỡng Quang, y đều chuyên cần tới thăm Abê, vì cùng trong giới chuyên chở với nhau. Nhưng kỳ thật, y tới thăm cô Sophie. Y mang theo đủ của ngon vật lạ của rừng núi miền Bắc, như mật ong chúa nguyên chất, sừng tê giác, da hổ… có chuyến còn biếu Sophie cặp ngà voi dài 2 thước rưỡi nữa, ông biết không ?

- Cô Sophie không nói lại với tôi.

- Xin lỗi, tôi không định diễn tả như thế. Ý tôi muốn nói là cặp ngà của gã đàn ông dại gái rất đắt tiền. Cặp ngà dài nhất thế giới cũng chưa đầy 2 thước [1].

- Chắc cô Sophie phải thương yêu hắn tha thiết.

- Nếu vậy thì còn nói gì nữa. Đàn bà ngày nay thật kỳ khôi. Tôi như Sophie thì mở rộng cánh tay đón lãochủ hãng ca-nô. Vì y cũng không đến nỗi xí trai. Theo sự nhận xét của riêng tôi thì y còn khôi ngô hơn đa số thanh niên Diến-Điện. Y giàu nứt đố đổ vách sau gần 10 năm độc quyền khai thác thủy lộ miền Bắc.

Văn Bình mỉm cười :

- Anh là người có tài giới thiệu. Thế nào tôi cũng phải gặp y. Y tên là gì nhỉ ?

- Tên thật là gi tôi không biết. Y lấy tên là Inka. Hãng vận tải đường thủy của y là Inka.

- Nghĩa là Inkagaung.

- Vâng, y muốn nói sức lực của y bất tận như giòng sông Inkagaung.

Đột nhiên Văn Bình hỏi :

- Ta ghé xuống thăm Inka, anh bằng lòng không ?

Phụ tá hoa tiêu giật mình :

- Nơi này không có bãi đáp. Năm ngoái, một chiếc Dakota thương mãi bị trục trặc máy móc đã thận trọng chọn bãi đất tốt nhất để hạ cánh mà cũng gặp tai nạn chết người. Vì đất ở đây thường có sình lầy.

Văn Bình lẩm bẩm :

- Tai nạn… tai nạn chết người….

Phụ tá hoa tiêu trố mắt :

- Ông nói sao ?

Văn Bình chưa kịp trả lời thì phi cơ rung chuyển dữ dội, cần lái hầu như muốn văng ra khỏi nền phòng phi hành. Chàng nghe một tiếng động lớn không khác tiếng sét. Rồi một trận cuồng phong kéo tới ào ào… Phụ tá hoa tiêu hoảng hốt :

- Nguy đến nơi rồi….

Văn Bình vẫn bình tĩnh như thường. Đức tính cố hữu quý báu này đã làm tăng giá trị điệp viên Z.28 trong cơn hiểm nghèo, phi cơ tròng trành, nghiêng sang hữu, sang tả, chúc mũi xuống, lộn đầu lên như người say rượu.

Nửa phút trước, linh tính đã báo cho Văn Bình biết. Chàng đánh hơi thấy tai nạn sắp sửa xảy ra. Và trên thực tế, một tai nạn ghê gớm sắp xảy ra trên không phận đìu hiu miền Bắc….

Qua lớp kính phòng phi hành, Văn Bình nhận thấy một chiếc phi cơ thon dài đang vút qua đầu chiếc Dakota. Phụ tá hoa tiêu hét lên :

- Phi cơ phản lực.

Dĩ nhiên… vì phi cơ không có cánh quạt. Một học sinh nhỏ tuổi cũng biết đó là phi cơ phản lực. Văn Bình hơi băn khoăn vì phi cơ không đeo ký hiệu ở đuôi và cánh như thường lệ. Dưới ánh trăng xuông, màu sơn đen của chiếc khu trục cơ hiện ra nổi bật. Đối diện loại chim sát khổng lồ và dữ tợn này, chiếc Dakota thương mãi chỉ là con muỗi ốm yếu tần thường….

Văn Bình muốn hỏi nữa, song lại nín lặng. Chắc phụ tá hoa tiêu cũng chẳng hơn gì chàng. Chàng muốn hỏi hắn là phi cơ phản lực đang bay trên đầu chiếc Dakota là của ai ? Chàng không tin đó là phi cơ của du kích quân cộng sản, dầu đơn vị F-22 đang hoạt động mạnh mẽ ở miền Bắc. Tất nhiên phải là của chính phủ.

Vậy thì đại tá Karati….

Phi cơ phản lực đã quay trở lại. Nhưng lần này lại bay sát bên hông chiếc Dakota. Luồng gió cực mạnh do phi cơ phản lực gây ra trên từng cao làm chiếc Dakota loạng choạng. Chỉ riêng lối bay kèm bên này đủ xô chiếc Dakota cổ xưa và chở nặng chĩu này xuống giòng sông rộng lớn bên dưới. Nếu họ dùng đại liên nữa thì hết….

Văn Bình ra lệnh cho phụ tá hoa tiêu :

- Trúc mũi phi cơ xuống. Xuống thấp nhanh lên… Xuống thật thấp….

Chiếc ca-nô hai tầng sáng rực ánh đèn của Inkagaung đã chạy biến vào sương mù, chỉ còn lại ánh đèn hậu đỏ rực. Văn Bình cảm thấy cô đơn và lạnh lẽo hơn bao giờ hết.

Chàng cất tiếng trong máy vi âm :

- Yêu cầu Vêra và Sophie chú ý… Buộc chặt giây lưng ghế lại… một phản lực cơ lạ đang áp đảo chúng ta… Nếu cần, tôi sẽ hạ cánh.

Chiếc Dakota vẫn rung chuyển dữ dội. Văn Bình nhận thấy bàn tay phụ tá hoa tiêu run lẩy bẩy. Với phản ứng mất bình tĩnh này, hắn khó thể điều khiển phi cơ hạ cánh an toàn. Hắn hỏi Văn Bình, giọng cắt quãng :

- Ông ơi…. mình bay đi hay về ?

Văn Bình đáp ngắn :

- Đi.

- Nhưng còn phản lực cơ ?

- Kệ nó.

- Nó bắn thì mình phải chết.

- Vậy anh nằm xuống sàn, trả cần lái cho tôi.

- Tôi van ông…. chúng mình nên về là hơn.

- Về hả ? Anh liên lạc vô tuyến với họ. Nếu họ chấp thuận thì ta quay về. Nhưng tôi không tin…

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:05 pm

Văn Bình đã có lý do xác đáng để không tin là phản lực cơ lạ chỉ chắn đường, bắt chàng lộn về. Nhưng dầu sao chàng cũng để cho phụ tá hoa tiêu có cơ hội tìm lối thoát….

Phụ tá hoa tiêu líu lưõi trong ống nói vô tuyến :

- Alô, alô…. đây là phi cơ vận tải thương mãi cất cánh ở sân bay Pegu có giấy phép của đài kiểm soát… Chúng tôi chở hàng hóa lên Nambum. Xin cho biết quý vị là ai ? Alô… xin cho biết quý vị là ai ?

Như Văn Bình tiên đoán, phi cơ phản lực giả điếc không trả lời. Phụ tá hoa tiêu Dakota nhắc lại :

- Alô, alô…. xin cho biết quý vị là ai ? Vì phi cơ của chúng tôi sắp sửa mất thăng bằng… có thể gặp tai nạn… alô, alô….

Sau cùng, phản lực cơ trả lời.

Nhưng không phải trả lời đúng như phụ tá hoa tiêu Dakota mong muốn. Mà là trả lời bằng sức mạnh tàn bạo.

Trong chớp mắt, phản lực cơ đã hùng hổ bay tới, tiếng gió xẻ không khí làm Văn Bình điếc tai. Kèm theo tiếng gió là tiếng nổ chát chúa của đại liên 20 ở mũi phi cơ.

Không biết tràng đạn đầu tiên này được bắn trúng hay sai mục phiêu, tuy nhiên, phi cơ Dakota đã nghiêng hẳn một bên, và đâm đầu xuống đất.

Qua ô cửa kính phi cơ, Văn Bình chỉ nhìn thấy thấp thoáng giòng sông phía dưới. ánh trăng đã không có, ánh đèn cũng không, chiếc Dakota rớt giữa rừng già, núi non lởm chởm thì mọi người cầm chắc cái chết. Chỉ còn lối thoát duy nhất, cố giữ cho phi cơ khỏi rơi để tùy cơ đápxuống một bão trống.

Tuy nhiên, chiếc Dakota chỉ có hy vọng giữ mức thăng bằng nếu phi cơ phản lực không tiếp tục xạ kích nữa. Trong một phút đồng hồ, tứ bề chìm vào yên lặng, âm thanh rầm rầm của phi cơ phản lực mỗi lúc một nhỏ dần. Tuy là một phút mà Văn Bình cảm thấy dài lê thê hàng giờ.

Những tiếng động xé nhĩ tai đã trở lại, xoắn sâu vào óc Văn Bình. Nghia là họ quyết tâm bắn hạ chiếc Dakota. Họ là ai ? Văn Bình chỉ phớt câu hỏi mà không trả lời. Dầu là ai nữa thì tính mạng của chàng và của hai người đàn bà đẹp chỉ như sợi chỉ mành treo chuông.

Tiếng đại liên lại rít lên.

Văn Bình nghe một tiếng kêu khác thường trong động cơ máy bay Dakota. Tiếng kêu này làm chàng rợn tóc gáy. Phụ tá hoa tiêu quay lại phía chàng, giọng đầy kinh hãi :

- Đạn trúng vào máy rồi….

Tức là phi cơ phải rơi. Trừ phi….

Lửa da cam bắt đầu phụt cháy một bên cánh. Văn Bình thét lớn :

- Tắt máy bên hữu.

Phụ tá hoa tiêu vội vàng cúp xăng. Phi cơ nghiêng hẳng về bên tả rồi chồng chành mạnh mẽ như chiếc thuyền nan dật dờ trên sóng dữ. Động cơ bên hữu ngưng chạy, động cơ bên tả không đủ sức kéo đỡ sức nặng của máy bay chỡ đầy hàng hóa.

Phụ tá hoa tiêu nghiếng răng :

- Chết đến nơi rồi….

Văn Bình quát vào tai hắn :

- Có nơi nào đáp xuống được không ?

- Bên kia sông có một cánh đồng lúa. Nhưng….

- Trời tối, không thấy gì phải không ?

- Không phải vì trời tối. Tôi lái đường này cả trăm lần, nhắm mắt tôi cũng không thể lạc. Sở dĩ tôi lo ngại vì cánh đồng lúa này lọt thỏm trong rừng… trong rừng gổ tếch. Chạm phải đỉnh cây thì mất mạng…

- Anh hạ cánh nổi không ?

- Không nổi cũng phải nổi… Vì ngồi trên phi cơ cũng chết. Thà xuống ở đây còn hơn vì phía trên độ 5 cây số nữa, toàn núi là nói.

- Cố gắng lên.

Phụ tá hoa tiêu nín thinh, mắt dán vào dãy đồng hồ điều khiển trướcmặt.

Trên đầu chiếc Dakota, con chim sắt hung dữ vẫn khạc lửa. Song Văn Bình không quan tâm tới những viên đạn đại liên reo rắc thần Chết nữa, vì lù lù trước mũi chiếc Dakota là một ngọn núi nhọn hoắt, Văn Bình la lên :

- Núi, núi, vọt nhanh kẻo đụng.

Phụ tá hoa tiêu phản ứng nhanh như điện xẹt. Có lẽ vì sống quen trong rừng rậm nên tay chân hắn thoăn thoắt như con beo. Văn Bình vừa nói dứt lời thì mũi chiếc Dakota đã nghếch lên, thoát khỏi vách núi đen sì trong gang tấc.

Văn Bình hỏi :

- Còn gặp núi nữa không ?

Phụ tá hoa tiêu đáp :

- Không.

- Sông Irrawaddy đâu ? Tôi chẳng thấy đâu cả.

- Vì chúng mình đã vượt qua sông, bay về hướng Đông. Bây giờ là rừng. Sắp đến ruộng lúa. Gần ruộng lúa là đồi thấp trồng nha phiến.

Văn Bình liếc nhìn hai người đàn bà ngồi đăm chiêu bên cạnh một kiện hàng lớn. Từ nãy đến giờ, họ không hề trò chuyện với nhau. Thậm chí sau khi biết phi cơ bị xạ kích, họ cũng lầm lì không thốt một lời. Văn Bình cảm thấy thương hại lạ lùng. Cho đến giờ phút cực kỳ nguy hiểm này mà đàn bà vẫn nghĩ đến ghen tuông. Có lẽ trong thâm tâm, người này đang cầu nguyện cho người kia chết để thảnh thơi tận hưởng ái tình.

Chiếc Dakota cứ xuống thấp thêm nữa.

Văn Bình vẫn còn nghe âm thanh của phản lực cơ đang lượn vòng trên cao. Nhưng một phút sau, nó đã bay mất dạng về hướng Nam. Văn Bình lại hỏi :

- Độ mấy phút nữa thì tới ?

Phụ tá hoa tiêu đáp :

- Tới rồi.

Ngó xuống, Văn Bình chỉ thấy phong cảnh lờ mờ. Mặt đất dường như đang vươn lên chạy về phía phi cơ. Tuy quen thuộc với đời sống phi hành, chàng cũng hơi chóng mặt. Kể ra chàng không phải là hoa tiêu tầm thường : chàng đã thu lượm khá nhiều huy chương quân sự trong những ngày lái khu trục cơ sống mái với địch trên không phận, hoặc điều khiển vận tải cơ vượt qua hàng rào thép đen cao xạ kinh khủng của địch, trở về đời sống dân sự, chàng từng làm hoa tiêu thương mãi và được liệt vào hạng xuất sắc.

Nhưng trăm hay không bằng tay quen, về kỹ thuật, chàng đáng bậc thầy của viên phụ tá hoa tiêu, song về kinh nghiệm bản xứ, chàng chưa đáng môn sinh của hắn. Hắn điều khiển con chim sắt bị thương nặng một cách thoải mái như người lái xe hơi dạo mát trên xa lộ vắng vẻ và thẳng tắp. Cử chỉ của hắn luôn luôn từ tốn, ăn khớp với nhau, không chi tiết nào thừa hoặc thiếu.

- Lạ thật, tôi chẳng thấy gì hết.

- Vâng, vì ông không quen. Ông có thấy vệt trắng dài ở trước mặt không ?

- Thấy, dường như là nhà lợp tôn.

- Đúng. Thường lệ, nhà sàn ở đây đều làm bằng gỗ vì gỗ vừa tốt lại vừa dễ kiếm. Nhưng để làm đích cho phi cơ, một số nhà sàn được lợp tôn. Có nơi còn dùng sơn lân tinh nữa.

Giọng nói của phụ tá hoa tiêu bỗng rắn rỏi hẳn lên :

- Yêu cầu hành khách chú ý… Yêu cầu hành khách chú ý… Tôi sửa soạn đáp xuống. Hy vọng là không gặp tai nạn… Yêu cầu buộc giây lưng ghế thật chặt… Yêu cầu lấy mền dầy độn say gáy, xương sống, hai bên hông, đề phòng bị xóc mạnh….

Ngoại trừ Vêra và Sophie, hành khách không có ai. Có lẽ vì thói quen nên phụ tá hoa tiêu loan báo bằng giọng trịnh trọng.

Một phút nằng nề trôi qua. Phụ tá hoa tiêu nghiêm nét mặt :

- Phi cơ đáp xuống.

Hắn kéo cho mũi máy bay ngóc lên để hãm bớt vận tốc còn lại. Trong khoảnh khắc, Văn Bình có cảm giác là chiếc Dakota thương mãi đứng dừng lại, treo lửng lơ giữa không gian bao la, máy bên tả câm lặng, cánh quạt ngưng quay, mọi người đều nín thở.

Rồi phi cơ đáp xuống bằng bụng.

Rầm rầm….

Nhiều âm thanh khác nhau cùng nổi lên, âm thanh của kim khí va chạm và gẫy nát. Phi cơ chạm đất, nhưng chưa chịu nằm ép xuống một cách ngoan ngoãn, theo lệnh hoa tiêu. Như để trả thù hoa tiêu đã thống trị nó bằng kỷ luật tuyệt đối sau nhiều năm tháng, chiếc Dakota rùng mình như muốn chồm dậy bay lên trời.

Song nó chỉ vươn vai đưọv nửa chừng rồi nằm vật xuống. Rầm rầm… rầm rầm…. Đuôi phi cơ bị đứt khỏi thân, văng ra xa. Một bên cánh cũng gãy làm đôi, mỗi mảnh bay một nơi, cách phi cơ gần trăm thước.

Tuy đã chuẩn bị trước, Văn Bình vẫn bị hất về phía trước, rồi giật về đằng sau. Toàn thân chàng đau điếng, xương sống như bị đứt rời ra từng khúc. Dường như chàng bị một loạt nhiều cú atémi vào xương sống vậy.

Song chàng vẫn tỉnh.

Chàng vẫn thấy rõ việc xảy ra chung quanh. Và nghe được tiếng kêu cứu thất thanh của hai người đàn bà cô quạnh và sợ hãi cùng độ.

Rồi tất cả chìm vào im lặng.

Một sự im lặng rùng rợn và lạnh ngắt….

Văn Bình mím môi tháo khóa giây lưng ghế. Chàng vận toàn lực mà cái khóa đồng ngày thường trơn tru vẫn dính cứng. Chàng chưa rút đượcc một chân ra khỏi đống hàng hóa và sắt nhọn đè lên. Đèn trong phi cơ tắt ngúm, tứ phía tối om.

Vì tứ phía tối om nên Văn Bình biết là hỏa hoạn không xảy ra. Lệ thường, phi cơ đáp xuống bằng bụng dễ bị cháy. Chắc vì gần cạn xăng. Và cũng vì bãi đáp toàn bùn là bùn.

Văn Bình thu hết chân khí vào bụng. Chàng phình bụng ra theo nội công Trung Hoa, đồng thời dứt giây lưng ghế. Xong xuôi, chàng xô cái thùng sắt nặng chĩu sang bên để rút chân.

Chàng cất tiếng :

- Không ai bị thương cả chứ ?

Choàng không dám kêu rõ tên Vêra hoặc Sophie. Vì nếu kêu rõ thì tên người đẹp nào sẽ đứng trước ? Tốt hơn chàng nói trống không.

Trong bóng tối, Sophie đáp nho nhỏ :

- Không.

Tiếp theo là tiếng "không" của Vêra. Văn Bình hơi ngạc nhiên vi không nghe tiếng cười tự tin gần như ngạo nghễ của phụ tá hoa tiêu. Kể ra, hắn ngạo nghễ cũng không quá đáng. Các công ty hàng không trên thế giới sẵn sàng ký cả chục ngàn đô-la mỗi tháng cho những phi công - con số phi công xuất sắc này rất ít - có thể hạ cánh cấp cứu trong rừng khuya mù mịt, không đèn báo hiệu, một động cơ tắt ngúm, động cơ còn lại hấp hối, mà vẫn êm như đáp xuống phi đạo bằng nhung.

Văn Bình không biết ten hắn nên chỉ gọi :

- Này, anh bạn !

"Anh bạn" vẫn không trả lời.

Văn Bình quờ quạng vào ghế ngồi của viên phụ tá hoa tiêu. Và chàng chợt hiểu sao hắn ngậm miệng.

Lẫn với bồ hôi ướt đầm trán và mặt là máu pha chất bầy nhầy. Thoáng chạm vào, Văn Bình biết là máu. Mùi máu tươi nong nóng, tanh tanh, xông vào mũi chàng. Không hiểu sao khi ấy mùi máu tươi lại át cả mùi hàng hóa đổ vỡ trong ca-bin phi cơ, mùi ẩm mốc của rừng già, và nhất là mùi ét xăng và dầu nhớt khét lẹt.

Chất bầy nhầy dính đầy ngón tay Văn Bình. Chàng lay đầu hắn. Hắn ngoẹo cổ và gục xuống cần lái.

Thì ra phụ tá hoa tiêu đã chết.

Văn Bình chưa hiểu rõ nguyên nhân. Lúc phi cơ đáp xuống, hắn còn nói chuyện ồm oàm. Có lẽ hắn bị trúng đạn, mất quá nhiều máu, song say sưa với việc hạ cánh nên quên bẵng. Sự rung chuyển dữ dội khi máy bay rơi trên đất có lẽ đã làm hắn ngất đi. Và hắn đã "đi" luôn, không thức dậy nữa.

Văn Bình loạng choạng đứng dậy. Chàng ghé sát mặt phụ tá hoa tiêu, hỏi lại lần nữa :

- Anh bị thương ở đâu ?

Hắn vẫn không đáp. Văn Bình ghé tai vào ngực hắn. Tim hắn không đập nữa. Thế là hết. Tuy đã quen với cảnh chết chóc đột ngột và tàn nhẫn, Văn Bình vẫn cảm thấy nội tâm tê tái.

Tiếng Vêra vọng lại :

- Em đang bị kẹt, anh ơi !

Nếu không nhớ tới tai nạn phi cơ vừa xảy ra làm phụ tá hoa tiêu thiệt mạng thì Văn Bình đã bật cười. Dĩ nhiên là Vêra đang bị kẹt…. Văn Bình cũng đang bị kẹt… Toàn thể đều đang bị kẹt….

Văn Bình phải vất vả lắm mới tháo được giây lưng ghế cho Vêra và dìu nàng ra cửa. Chàng không phải giúp đỡ Sophie, nàng đã tự lực thoát hiểm. Có lẽ vì nàng đã học được tính bình tĩnh trước nguy biến. Mặt khác, có lẽ nàng đã quen với tai nạn phi hành.

Văn Bình đỡ hai người đàn bà đẹp trèo ra ngoài. Cửa lớn đã bẹp dí. Phi cơ nằm nghiêng, đè lên một bên cánh gẫy nát, ngập lút dưới bùn. Gió mát bên ngoài làm Văn Bình dễ chịu. Vêra níu lấy tay chàng, trèo lên trước, rồi đến Sophie. Khi nhảy xuống đất, chàng phải mò đường trong bóng đêm tranh tối tranh sáng, tiến về phía mũi phi cơ, tương đối thấp hơn đuôi, rồi chuyền từng người một xuống cánh. Chàng lại phải đứng dưới đất, xoạc chân trên bùn và mủn lá, ngập đến nửa đầu gối, chìa vai ra làm ghế cho họ lần lượt ngồi lên và ngả vào tay chàng, nhẹ nhàng tuột xuống.

Chàng nhận thấy khi tuột xuống, Vêra cũng như Sophie - nhất là Sophie - đều tìm cách cọ mạnh vào ngực chàng. Sophie lầm lì không nói như Vêra, song đùi nàng, tay nàng và ngực nàng lại nói nhiều hơn. Văn Bình nhắm mắt, nín thở, không dám nhìn cũng như không dám hít sợ những đường cong kích thích và mùi da thịt hăng hắc làm đầu óc quay cuồng.

Không phải vì tai nạn khủng khiếp đã giết chết tình cảm sôi đọng trong lòng chàng vì thật ra trong những hoàn cảnh cô đơn và lạnh lẽo như thế này, chàng cảm thấy thèm yêu đương, thèm ôm ấp đàn bà đẹp hơn bao giờ hết. Nhưng sự ham muốn mãnh liệt của chàng đã vội vàng dịu xuống như hồi nào ở Hòa Bình, trong mật khu của 10 chị em họ Dương.

Bất giác Văn Bình lại nhớ tới cô em út, má lúm đồng tiền, chuyên môn cưỡi ngựa không cần yên cương, nhiều khi nổi hứng lại đứng một chân trên lưng ngựa hoặc nằm lòn dưới bụng giống như trong phim cao-bồi Viễn Tây.

Nếu cần người yêu để trò chuyện thì chàng chọn cô chị cả. Nhưng nếu cần người yêu để ôm ấp đêm đông lạnh lùng thì chàng phải chọn cô út. Vì nàng có thân hình cân đối nhất, kiều diễm nhất trong bọn. Chiều hôm ấy, định mạng (không biết là định mạng hữu duyên hay vô phước) run rủi cho chàng gặp nàng ngoài bìa rừng.

Đó là một khu rừng lim, thân cây cao ngất, hai ngôm không xuể. Xen vào giữa những cây lim bề thế, ngạo nghễ là nhiều bụi hoa mẫu đơn, hoa đỏ, lớn bằng cái bát chiết yêu . Khi ấy đang mùa mẫu đơn nở. Chàng đang mê mải với bụi mẫu đơn vừa nở tròn trạnh thì hai bàn tay xinh nhỏ từ sau lưng luồn tới bịt mắt chàng lại.

Lệ thường chàng rất thính tai. Không hiểu sao chàng lại không nghe tiếng chân của cô út. Có lẽ vì hoa mẫu đơn tuyệt đẹp đã thu hồn chàng. Nhưng phần nào có lẽ vì nàng quen đi trong rừng gót chân nhẹ nhàng như lá rụng.

Nàng thỏ thẻ hỏi chàng:

- Đố anh, em là ai ?

Nàng không đố, chàng cũng biết, vì chàng đã thuộc giọng nói của 10 chị em. Cô út giọng nói dễ nhận ra nhất. Giọng nói của nàng pha vẻ làm nũng đáng đánh đòn của con gái nhà giàu, giọng nói không hề có trong số các chị em còn lại.

Chàng bèn cười rộ lên :

- Chịu.

- Hừ, anh nói dối. Em cho anh một phút, đúng một phút, nếu anh còn tiếp tục giả vờ, em sẽ trừng phạt.

- Trừng phạt ?

- Phải. Em sẽ ra lệnh cho con ngựa bạch của em quần thảo với anh một hiệp.

Tuy nàng nói đùa, Văn Bình cũng sợ toát bồ hôi. Trong một khu có hàng chục con ngựa, con nào cũng được coi là ngựa quý. Song quý nhất là con ngựa bạch của cô út.

Nó là kỳ quan trong nòi ngựa rừng, cân nặng trên dưới một tấn. Văn Bình đã cao mà đứng chưa quá lưng nó, và bề dài từ đuôi tới mỗm gần bằng chiếc Peugeot 404. Theo lời cô út thuật lại thì nó thuộc một giống ngựa đặc biệt ở vùng rừng rậm trung bộ Mỹ châu [2]. Gia đình họ Dương rất mê ngựa, giống nào đắt tiền nhất cũng cầy cục mua về cho bằng được. Con ngựa của cô út là giống Percheron, giống ngựa lớn nhất thế giới.

Đặc điểm của nó là rất hiền và cũng rất dữ. Đối với nữ chủ nhân, nó hiền như con mèo, mỗi khi nàng muốn cưởi thì nó quỳ xuống cho nàng trèo lên. Nhưng đối với người lạ thì nó lại dữ như cọp gấm, riêng cái đuôi của nó cũng đủ quật ngã những võ sĩ nội ngoại công tuyệt vời. Nó nghe được tiếng người và hơn một lần đã dùng sức mạnh để bảo vệ chủ nhân. Một đêm kia, cô út chở võ khí từ đồng bằng về chiến khu, dọc đường lọt vào ổ phục kích của bộ đội chính quy cộng sản. Con ngựa bạch hí lên một tiếng kinh thiên động địa, làm lá cây rụng xuống ào ào, rồi nhảy vọt một cái, qua giòng suối lớn, nước chảy như thác đổ, bỏ lại tiểu đội phục kích, mặt mũi chưng hửng. Lại một đêm khác, nàng bị công an chặn bắt ở ngoài bìa rừng, con ngựa bạch tung chân sau, đá chết hai người, bọn sống sót vứt cả súng bỏ chạy tán loạn.

Cũng như gia đình họ Dương, Văn Bình rất mê ngựa. Chàng lại hơn gia đình họ Dương ở chỗ đã chu du khắp trái đất, tham dự nhiều cuộc đua quốc tế, và thăm viếng nhiều chuồng ngựa hữu danh. Chàng đã lưu lại đồng quê Thụy Điển, quốc gia chiếm nhiều giải đua ngựa, trong 6 tháng, chàng đã có lặt tại những trại nuôi ngựa đua Úc châu, xứ nổi tiếng năm châu về nghệ thuật cưỡi ngựa [3]. Văn Bình cũng không phải là kẻ tập sự kỵ mã. Cô út họ Dương cũng biết rõ điều ấy. Song nàng cũng biết rằng kinh nghiệm của Văn Bình không thể giúp chàng đọ sức với con ngựa bạch khổng lồ.

Nàng mỉm cười tiếp :

- Anh trả lời đi. Anh muốn làm lành với em hay muốn thi gan với con ngựa bạch ?

Văn Bình đáp :

- Tôi chịu thua rồi.

- Vậy em là ai ?

- Là cô gái đẹp nhất thế giới.

Nàng phá lên cười lanh lảnh. Tiếng cười của nàng có mãnh lực kỳ diệu đến nỗi chim muông trong rừng phải ngừng ca hót. Nàng nắm tay chàng :

- Anh đi chơi với em nhé !

Dĩ nhiên là Văn Bình nhận lời ngay. Chàng chọn một bụi mẫu đơn nở hoa đỏ ối làm nơi tình tự. Nằm dài trên nền lá, môi hé nở, mắt lim dim, sửa soạn đón nhận nụ hôn của chàng thì đột nhiên có tiếng vó ngựa. Nàng vội choàng dậy, giọng hốt hoảng :

- Chết rồi, em phải về đây !

Chàng cố giữ nàng lại :

- Tại sao em lại về ?

Nàng thở dài :

- Vì chúng em đã thỏa thuận với nhau là không ai được hẹn hò riêng với anh.

Lòng chàng đang nóng sôi hoan lạc vụt hạ nhiệt độ như gặp tảng băng Bắc Cực. Hôm ấy, chàng lủi thủi trên đường về, không dám nghĩ tới kho tàng vệ nữ họ Dương như trước nữa.

Cũng như đêm nay….

Trong rừng sâu, bên chiếc Dakota lâm nạn nát ngướu, với hai mỹ nhân Vêra và Sophie ….

Trời bắt đầu hửng sáng.

Bóng tối không còn dày đặc nữa. Văn Bình đã có thể lờ mờ nhìn thấy cảnh vật chung quanh. Cả bọn đang ở ven ruộng nha phiến. Mùi cây nha phiến trổ hoa thoang thoảng trong gió làm Văn Bình ngây ngất.

Đối với chàng, màu trắng, tía và hồng của hoa nha phiến là một trong nhiều hình ảnh quen thuộc. Trong thời gian chàng cộng tác với Cảnh Sát Quốc Tế Interpol, theo dõi bọn buôn lậu thuốc phiện trắng từ Viễn-Đông qua Tây phương, chàng đã lang thang trong vùng đồi núi Ấn-Độ và Thổ-nhĩ-kỳ, nơi trồng cây nha phiến nhiều nhất thế giới.

Dầu sao ánh sáng rạng đông còn vương trên đỉnh cây cao, sương đêm lại còn dày đặc, Văn Bình vẫn nhận thấy rõ một cánh đồng bát ngát, trồng toàn loại cây ẻo lả chỉ cao bằng đầu người : cây nha phiến. Mùa này đang là mùa lấy nhựa. Hơi nhựa từ thân cây toát ra có thể gây ra mê man. Công nhân lấy nhựa phải quay mặt ngược chiều gió hoặc đeo mặt nạ. Trên thực tế, nhiều người đã mê man và không tỉnh dậy nữa.

Công việc lấy nhựa nha phiến cũng tế nhị và khó khăn như cư xử với đàn bà. Khi cánh hoa bắt đầu rụng, ngày nào người ta cũng phải xem cái quả bên trong đã tới "nước" chưa. Còn non mà vội lấy nhựa - khác nào đối với tình yêu trai gái - thì giòng sữa trắng sẽ tháo đổ xuống đất. Nhưng để quá già thì nhựa cây lại mất đặc tính quý giá, chất mọt-phin trong nhựa trờ thành cô-đê-in, rẻ tiền hơn và ít say hơn.

Rạch trái lấy nhựa cũng là một công việc đòi hỏi sự khéo tay khác thường. Rạch hơi sâu thì chất nha phiến sẽ hòa trộn với các nhựa khác trong cây, làm mất vẻ tinh khiết, ngược lại, vạch hơi cạn thì nhựa lại không chịu chảy ra. Sau khi nhựa chảy ra và đông đặc lại ngoài vỏ, người ta còn phải thận trọng hơn nữa vì số nhựa mỗi cây chỉ bằng mẩu tàn thuốc lá là cùng. Người ta phải cạo chất nhựa bằng dao, và trong vòng 10 giờ đồng hồ sau khi rạch. Quá thời hạn này, nha phiến sẽ cứng lại.

Ba người đã đi xuyên qua ruộng nha phiến tới một khu rừng thưa trên sườn đồi thoai thoải. Gió mát ban mai trinh tiết từ xa thổi lại, mang theo mùi nước sông Irrawaddy.

Văn Bình buột miệng :

- A, gần tới sông rồi… Chúng mình không sợ lạc nữa.

Sophie chỉ sang bên trái :

- Sông ở về hướng này. Em đã tới ruộng nha phiến này vài ba lần nên rất thuộc đường. Chúng mình lên tới đỉnh đồi này là thấy sông.

- Còn bao xa nữa thì tới Nambum-Ga ?

- Nếu đi đường thẳng thì chỉ độ 10 cây số. Nhưng vì nơi đây không có đường sá nên phải mất nửa ngày trời mới vượt nổi 10 cây số băng rừng. Nghĩa là em hy vọng đến gần trưa thì đến nơi. Song đó là không đi lạc. Trong quá khứ, có lần em đi suốt đêm trong rừng mà không tài nào ra khỏi phạm vi một cây số.

- Cô biết đường băng rừng tới Nambum-Ga chứ ?

- Biết. Nhưng có lẽ chúng mình không phải đi bộ đâu. Khu rừng này có rất nhiều rắn rết. Mà toàn là rắn rết nguy hiểm, cắn phải là mất mạng.

- Chắc cô muốn nói đến ca-nô của Inka ?

- Phải. Anh thông minh ghê. Con sông Irrawaddy chạy vòng trên mấy chục cây số nên hàng ngày, trời sáng rõ ca-nô của Inka mới tới khúc quẹo sau đồi.

Văn Bình sực nhớ lại lời tâm sự của viên phụ tá hoa tiêu. Hắn cho chàng biết là Inka say mê Sophie như điếu đổ, song nàng vẫn phẳng lặng như nước hồ thu.

Thừa cơ Vêra còn rửa mặt bên suối, Văn Bình hỏi Sophie :

- Cô quen Inka không ?

Nàng nhìn chàng, vẻ mặt ngơ ngác :

- Quen. Hắn là bạn của Abê. Nói cho đúng, không phải bạn mà là hùn hạp buôn bán. Hẳn anh đã biết Abê dùng công ty du lịch để buôn nha phiến. Ồ, em vui miệng nên nói bậy… Dầu sao Abê cũng đã chết rồi… Lẽ ra em không nên nhắc tới đời tư của….

Văn Bình gạt phắt :

- Cô đừng ngại. Trước khi tới đây, tôi đã biết. Abê không tự ỳ buôn thuốc phiện lậu để kiếm lợi. Mà lợi dụng việc buôn bán để móc nối với các tổ chức miền Bắc. Inka quen Abê và cô lâu chưa ?

- Khi em đến Ngưỡng Quang thì đã thấy Inka.

- Abê tin hắn hay không ?

- Không. Abê nói rằng Inka là kẻ chỉ nghĩ đến tiền. Đồng tiền có thể làm hắn quáng mắt.

Văn Bình hơi ngập ngừng :

- Tôi muốn hỏi cô điều này nữa. Một điều riêng tư….

Sophie khựng người một giây rồi nói :

- Em hiểu… Anh muốn biết sự liên lạc giữa em và Inka phải không ?

- Phải. Xin cô tha lỗi. Tôi đã biết là cô không yêu hắn.

- Ai nói với anh như thế ?

- Abê.

- Hừ, anh nói dối… Abê không phải là người ngồi lê đôi mách. Vả lại, anh mới gặp Abê mỗi một lần, em có chứng kiến.

- Nghĩa là cô yêu hắn ?

- Cả hai nhận xét đều không đúng.

- Nói là không yêu cô cho là sai. Nói là yêu, cô cũng cho là sai. Trời ơi, tôi sắp điên mất…

- Anh điên là phải. Vì không người đàn ông nào biết rung động lại không điên trong sự lựa chọn giữa hai người đàn bà… Vêra khêu gợi lắm, phải không anh ?

- Xin cô nghĩ lại. Cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào, vì vậy đây không phải là lúc nói đến tình yêu. Hơn ai hết, hẳn cô đã hiểu….

- Vâng, em hiểu rồi, hiểu quá rồi…. Em hiểu rằng hoạt động tình báo như anh không có tình yêu đương lâu bền. Trong lớp huấn luyện nhập môn, người ta cũng dạy em như vậy. Chỉ nam tình báo đã nói rõ ràng đàn bà là trở ngại nghề nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế một số nam điệp viên đã lợi dụng cấm điều này để hất hủi phụ nữ… Em xin nói thẳng anh biết là trên đời, em không còn ai nữa. Em có giòng máu bộ lạc nên nhiều khi hung dữ kinh khủng. Em có thể giết anh.

Văn Bình thở dài :

- Tôi cũng chẳng thiết sống nữa. Cô hãy cho tôi một viên đạn vào tim.

Sophie cười nửa miệng :

- Bây giờ, em lại muốn anh sống.

Vêra vội vàng từ bờ suối chạy tới. Vừa chạy, nàng vừa kêu cứu :

- Rắn, rắn, trời ơi !

Trời đã sáng rõ. Con độc xà đang oằn oại rượt theo Vêra không phải là rắn mà là một loại trăn nhỏ, thân đen bóng như quần lãnh, đầu hình tam giác đỏ hỏn, cái lưỡi dài và nhọn thè lè, kêu rít vun vút trong không khí đẫm sương.

Mặt tái mét không còn hột máu, Vêra chạy lê đến gần Văn Bình thì vấp phải rễ cây, ngã chúi xuống. Nếu không vấp nàng cũng đã kiệt sức, không chạy thêm được nữa. Con trăn chỉ còn cách Vêra hai sải tay, cuộn tròn lại, sửa soạn bung ra trong thế tấn công sát nhân.

Văn Bình bối rối mặc dầu đã tiến lên một bộ, bàn chân sắp sửa phóng cước. Chàng bối rối vì biết loại trăn đen đỏ này rất lợi hại, toàn thân rắn cứng như được bọc trong một giáp trụ bằng kim khí, võ atémi phải giáng trúng yếu huyệt, nếu không chỉ như châu chấu đá xe.

Thì "đoàng" một tiếng ngắn.

Khẩu súng trong tay Sophie bốc khói nghi ngút. Văn Bình không ngờ nàng bắn giỏi đến thế. Nàng chỉ cần viên đạn độc nhất để phá nát đầu con trăn ác ôn. Con vật nổi tiếng hung hãn này chồm lên rồi ngã vật xuống nền cỏ ẩm ướt.

Văn Bình sửng sốt về tài thiện xạ của Sophie thì ít mà sửng sốt về phản ứng của nàng thì nhiều. Vì cách đó không đầy một phút, nàng còn là tình địch không đội trời chung của Vêra. Vậy mà nàng lại hạ con trăn, cứu cho Vêra khỏi chết. Phái yếu muôn thuở vẫn được coi là lạ lùng và bí mật. Sophie đã tỏ ra lạ lùng và bí mật hơn mọi người đàn bà khác.

Vêra lồm cồm bò dậy, giọng còn run run :

- Sophie đã cứu tôi. Cám ơn Sophie.

Nhưng Sophie đã ngoảnh đi chỗ khác. Sự im lặng nặng nề lại đè xuống đầu ba người.

Trong khoảnh khắc, cả ba đã lên tới đỉnh đồi. Đằng xa, về hướng Đông bị một rặng núi trùng die-đpchđịa phương khuất, một vùng đỏ da cam hiện lên, mỗi lúc một đậm nét. Núi đen từ từ nhuộm màu hồng, những giải sương lởn vởn trên đầu những cây nha phiến trổ bông đột nhiên biến thành mây ngũ sắc. Quang cảnh ban mai của núi rừng miền Bắc Diến-Điện chứa chất vẻ đẹp khác thường. Văn Bình cảm thấy tâm thần rung động, như hồi nào còn là cậu bé ngây thơ lần đầu theo phụ thân vác ná vào rừng săn thú. Có lẽ thuở hoa niên Văn Bình sống trên bìa rừng, lăn lóc trong rừng, nghe tiếng nói của rừng, nhìn cái đẹp của rừng, nên khi thành nhân, chàng yêu mến sự hoang dã, hoang dã trong tình yêu cũng như trong đời sống hoạt động.

Bỗng so reo to :

- Kìa, ca-nô của Inka !

Dưới chân đồi, bên tay trái, đối diện với vầng Đông đang rầm rộ ló dạng, giòng sông Irrawaddy hùng vĩ lượn ngoằn ngoèo với mặt nưóc xanh biếc, lăn tăn bọt vàng. Rừng cây hai bên đường như xanh hơn, vàng hơn thường ngày. Mùi nhựa nha phiến đang đông đặc trên cây hòa trộn vào không khí thuần khiết, khiến Văn Bình lâng lâng.

Chiếc ca-nô sơn xám, đèn thắp sáng trưng, từ từ ra khỏi khúc quanh ở chân đồi. Cửa ca-nô mấp mé làn nước, chắc vì chở nặng. Văn Bình thấy một người đàn ông mặc đồ cụt trắng, đứng trên boong.

Sophie rẽ đám lau sậy, chạy xuống trước. Dáng thoăn thoắt của nàng chứng tỏ nàng đã quen với rừng núi. Cặp giò cân đối của nàng không thua cặp giò của các chị em nhà họ Dương ở Hòa Bình, mệnh danh là cặp giò trường túc bất chi lao….

Vêra theo sau, cử chỉ mệt mỏi. Văn Bình không dám đưa vai cho nàng vịn mặc dầu đó là bổn phận của mọi người đàn ông lịch sự. Chàng đành rảo bước một quãng rồi đứng lại chờ. Gần nửa giờ sau, Vêra mới xuống được tới bờ sông.

Ca-nô của Inka huýt một hồi còi the thé trước khi tắt máy và đậu vào bờ.

Thấy Sophie, người đàn ông vạm vỡ mặt sọt trắng trên boong vẫy tay rối rít. Phụ tá hoa tiêu nói đúng : Inka cũng khá đẹp trai. Thân hình cân đối và cường tráng của hắn cũng có thể làm vừa lòng những người đàn bà khó tính. Tuy nhiên, Văn Bình nhận thấy hắn vô duyên do cặp mắt bằng phẳng và nụ cười gượng gạo.

Inka nhảy lên bờ, Sophie lạnh lùng bắt tay hắn, rồi giới thiệu :

- Đây là Inka… còn đây là Môhan…

Inka xoắn lấy Sophie :

- Cô không hề gì cả chứ ?

Nàng lắc đầu, đáp cộc lốc :

- Không. Cám ơn anh.

Inka nhìn Văn Bình, kể lể :

- Gớm, tôi cứ lo ngay ngáy. Tuy trời tối, tôi biết là phi cơ của Abê nên mở hết đèn trong ca-nô và giảm tốc độ để đợi.

Văn Bình ngắt lời :

- Anh biết phi cơ tấn công chúng tôi là của ai không ?

- Biết. Của quân lực Diến. Vả lại, tư nhân ở đây không thể có phi cơ phản lực. Điều làm tôi nhạc nhiên là phi cơ của Abê bị bắn. Abê vốn là người kinh doanh lương thiện.

- Abê đã bị giết.

- Vâng, tôi mới được tin. Nghe nói người ta chưa bắt được hung thủ và khám phá ra manh mối. Nhưng theo tôi, cuộc xạ kích vô lý này đã chứng tỏ nhà cầm quyền có nhúng tay vào.

Văn Bình nhún vai :

- Anh kết luận hơi sớm. May là gặp ca-nô của anh chứ không chúng tôi phải đi bộ xuyên rừng tới Nambum-Ga.

Inka đáp :

- Chắc anh chưa biết tôi là bạn của cô Sophie. Nếu nhảy vào lửa để cứu Sophie tôi cũng chẳng nệ hà, huống hồ là chỉ lái ca-nô vào bờ chờ đợi. Bà Vêra là tỉ phú quen tên ở Ngưỡng Quang, sự hiện diện của bà trên con tàu ọp ẹp này là một vinh dự lớn cho tôi… Tôi cho sự gặp gỡ này là do tiền định vì nếu tôi nhổ neo sớm hoặc chậm hơn thường lệ thì mọi việc đều hỏng và riêng tôi, tôi ân hận suốt đời.

- Ân hận suốt đời ?

- À. Vâng, tôi sẽ ân hận suốt đời vì hai người đàn bà và anh khó tránh khỏi cái chết thê thảm. Đường từ đây tới thị trấn Nambum-Ga không xa mấy, nhưng lại rất nguy hiểm, một phần vì thú dữ, phần khác vì bộ đội giải phóng bắn lén hoặc bắt chuộc tiền.

- Tại sao ca-nô của anh vẫn chạy ?

- Vì chúng tôi được võ trang đầy đủ. Mặt khác vì đã nộp thuế cho thượng tá U-Ban, tư lệnh du kích quân.

- Du kích quân có kiểm soát được Nambum-Ga không ?

- Có và không. Vùng rừng núi chung quanh đều do họ hoàn toàn nắm giữ. Tuy nhiên, họ không vào thị trấn. Tình hình miền Bắc trong mấy tháng nay mổi ngày một căng thẳng. Ca-nô của tôi chỉ chạy đến Nambum-Ga, chứ không tiến xa hơn nữa, như trước kia. Chuyến này có lẽ là chuyến chót của tôi. Mai mốt về miền Nam, tôi sẽ bán tàu bè, bỏ nghề vận tải và hồi hương.

Phải trở về Anh quốc sau gần 10 năm sinh sống ở miền Bắc Diến-Điện, coi mảnh đất rừng núi này như quê hương thứ hai, thật là một sự đau đớn cho tôi, nhưng tôi không còn cách nào khác.

- Thì anh cứ tiếp tục đóng thuế cho U-Ban và tiếp tục khai thác thủy lộ….

- Sự việc không giản dị như thế. Chính phủ sẽ lôi tôi ra tòa nếu biết tôi tư thông với du kích quân. Song nếu tôi không nộp thuế - cũng như nhiều nhà buôn và kỷ nghệ khác - thì du kích quân sẽ lôi tôi vào rừng, chém đầu, vứt xác xuống khe. Trong quá khứ, tôi có thể sống an toàn là vì du kích quân chưa bành trướng và chính phủ cũng chưa đàn áp quyết liệt. Thôi, tôi bép xép nhiều quá, không lợi. Cô Sophie vẫn thường chê tôi là đàn ông lắm lời. Chính vì tôi mắc bệnh đa ngôn nên cô Sophie mới không đoái hoài tới.

Văn Bình quay nhìn Sophie, chờ đợi phản ứng. Nàng hơi nghiêm mặt :

- Bây giờ không phải là lúc nói chuyện riêng. Vêra hơi mệt, lẽ ra anh nên mời bà ấy xuống cabin nghỉ ngơi. Nếu anh và tôi còn sống chúng ta còn nhiều thời giờ để tìm hiểu nhau.

Inka giật mình :

- Xin lổi Sophie, xin lỗi anh Môhan. Tôi đã cho dọn sẵn ca-bin. Nào, mời bà Vêra, mời cô Sophie….

Hai người đàn bà theo Inka xuống khoang dưới, Văn Bình đánh diêm hút Salem. Boong tàu chật ních hàng hóa, chỉ trừ khoảng nhỏ ở đuôi và mũi. Thượng vàng, hạ cám, hàng hóa gồm đủ thứ, từ chiếc xe díp còn mới tinh, thơm mùi sơn kaki, tới những chiếc xe hắn máy và xe đạp cũ mèm, từ những kiện chăn mền quần áo nhiều màu sặc sỡ tới những đoàn gà mái kêu cục-tác liên tiếp và cừu non kêu be be điếc tai…

Thủy thủ đoàn gồm toàn người bản xứ, da ngăm ngăm đen, cử chỉ chậm chạp, thái độ bình thản gần như lạnh lùng. Văn Bình đang bâng khuâng với điếu thuốc thơm mùi bạc hà thì sau lưng có tiếng nói :

- Thưa ông….

Chàng quay lại. Một thủy thủ mặc đồng phục xám nghiêng mình chào chàng :

- Thưa ông…. thiếu tá Inka mời ông xuống ca-bin.

À ra Inka là thiếu tá… Có lẽ trước khi sang Diến-Điện, làm nghề chủ tàu, hắn đã đeo lon thiếu tá hải quân. Cũng có lẽ… Văn Bình lắc đầu :

- Buổi sáng trời đẹp như thế này, xuống ca-bin thật uổng. Phiền anh trình với thiếu tá rằng tôi muốn ở trên boong.

- Thưa… sắp đến trạm thu thuế của du kích rồi, ông đứng trên boong bất tiện. Văn Bình khoát tay ném điếu thuốc xuống giòng sông chảy xiết, giọng bực bội :

- Ừ thì xuống.

Trông ngoài, ca-nô thuộc loại trung bình, nhưng vào trong mới thấy lớn. Bên dưới được dùng làm kho chứa hàng hóa một phần ba, còn hai phần ba là phòng máy móc, và ca-bin cho thủy thủ đoàn và "thuyền trưởng" Inka.

Cầu thang sắt sơn xanh nhạt dẫn xuống ca-bin trắng toát, như trong bệnh viện. Tuy hai bờ sông đầy cát đỏ, gió lại thổi rào rào, hắt bụi vào tàu, ca-bin bên dưới vẫn sạch bóng, nền phòng tưởng như có thể soi gương được. Inka tươi cười đón chàng bên cái giường sắt gắn vào thân ca-nô. Chàng chưa kịp hỏi thì hắn đã nhanh nhẫu :

- Hai người đẹp còn đang bận trang điểm ở phòng bên.

Rồi chỉ cái bình thủy trước mặt :

- Anh dùng cà-phê nhé ?

Văn Bình không phải là môn đệ chủ nghĩa uống cà-phê. Chàng có thói quen súc miệng sáng sớm bằng huýt-ky nguyên chất. Hồi ở Sàigòn, có lần chàng đã bị ông tổng giám đốc khiển trách về tật dùng huýt-ky thay cà-phê lót dạ. Nhưng chàng chỉ vâng dạ lấy lệ, rồi đả đảo cà-phê như trước. Bỗng dưng hôm nay chàng cảm thấy nhớ ông Hoàng, nhớ Sàigòn hơn bao giờ hết.

Chàng bèn gật đầu :

- Vâng, buổi sáng được uống cà-phê thì tuyệt.

Cà-phê bốc khói nghi ngút trong tách Nhật trong xanh như mắt mèo. Chàng uống một hơi cạn rồi ngửa cổ trên ghế, mắt lim dim.

Mỗi khi nhắp cà-phê chàng thường lim dim như vậy.

Nhưng hôm nay chàng muốn mở mắt mà không được. Hai mi mắt dường như bị dán lại với nhau bằng keo. Chàng thấy đăng đắng ở cuống họng và một luồng khí lạnh chạy rần rần trong tủy xương sống. Rồi toàn thân chàng mệt rũ. Trèo một mạch từ dưới chân đĩnh Hy-mã-lạp-sơn cũng chỉ mệt rũ đến thế là cùng.

Văn Bình thử duỗi chân.

Bàn chân chàng bị chôn chặt xuống nền ca-bin.

Chàng thử vung tay.

Cánh tay lực lưỡng của chàng như bị đè chặt dưới một tấn kim khí nặng nề.

Biết là bị lừa, Văn Bình trừng mắt nhìn Inka. Gã "thiếu tá", chủ ca-nô, vừa đứng dậy, án ngữ trước mặt chàng. Hắn mỉm cười :

- Anh buồn ngủ chưa ?

Giọng nói thân mật giả tạo của hắn làm Văn Bình tức lộn ruột. Chàng vận chân khí lên đan điền, cố dùng thuật Ninjiutsu Nhật-Bản để hóa giải chất thuốc mê đang xâm chiếm cơ thể. Lệ thường chàng có thể cưỡng lại tác dụng của thuốc mê. Song lần này chàng bất lực.

Vì Inka đã pha vào cà-phê một thứ thuốc mê cực mạnh. Nỗ lực chuyển bại thành thắng của Văn Bình trở nên vô ích.

Tuy nhiên, trước khi chịu ngất đi, Văn Bình đã thu tàn lực để hét lên một tiếng kiai.

Rồi chàng ngã gục xuống nền ca-bin.

Inka phá lên cười :

- Ha ha ha ha !

--------------------------------
1. Cặp ngà dài nhất là của một con voi ở Kenya, hiện được cất giữ trong viện Bảo Tàng Quốc Gia Mỹ. Ngà này dài 2th90, cả cặp cân nặng chừng 190 ký.
2. Giống ngựa lớn nhất thế giới là Percheron. Con "Bác sĩ Le Gear" nặng 1.400 kí, dài 4m70, cao 1m80, sinh năm 1902, chết năm 1919.
3. Úc châu là xứ của kỷ lục đua ngựa : như kỷ lục nhảy cao và kỷ lục nhảy xa.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:06 pm

VII
Ma tình Diến-Điện


Lúc chàng tỉnh dậy thì tứ bề vắng tanh.

Việc thứ nhất của chàng là nhìn đồng hồ tay. Đúng 9 giờ, 9 giờ sáng hay 9 giờ tối ? Văn Bình tin là 9 giờ sáng, vì ánh nắng gay gắt từ bên trên chiếu xuống. Chàng chỉ mê man trong 3 tiếng đồng hồ. Và phút này, chàng đang ở trên ca-nô, vì đối diện chàng là cái giường sắt quen thuộc, và nền phòng chồng chềnh nhẹ.

Văn Bình cựa mình.

Chàng cảm thấy vướng ở tay chân. Thì ra chàng bị trói vào một cọc sắt gần cầu thang. Chàng hít thở không khí đầy lồng ngực để xua đuổi những vi tử chất độc cuối cùng còn sót lại trong máu. Có lẽ vì thuốc mê bỏ vào cà-phê chưa đúng liều lượng nên Văn Bình đã tỉnh dậy quá sớm. Nhưng cũng có lẽ vì Inka muốn chàng ngất đi một thời gian ngắn.

Văn Bình lẩm bẩm :

- Inka… Inka… !

Trong óc chàng, hình bóng gã đàn ông lịch lãm người Anh hiện ra, nụ cười ngạo nghễ trên môi. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Inka đã mời chàng uống cà-phê pha thuốc mê. Tại sao Inka lại đánh thuốc mê chàng ? Nghĩa là hắn phải là kẻ thù của chàng… Việc chận bắn chiếc phi cơ vận tải trên không phận, và việc Inka đậu ca-nô bên dưới chờ đợi đã hoàn toàn ăn khớp với nhau.

Nhưng ai là người ra lệnh cho phản lực cơ xạ kích và cho Inka rình sẵn trên sông Irrawaddy ?

Văn Bình vội nín thở.

Chàng vừa nghe tiếng người nói. Tiếng trò chuyện giữa đàn ông và đàn bà. Giữa Inka và Sophie.

Giọng nói từ trên vọng xuống. Chắc hai người đang ở trong căn phòng trốn trơn, nhỏ xíu ở đầu cầu thang. Inka có vẻ lo lắng, van vỉ. Còn Sophie thì nhấn mạnh từng tiếng, có vẻ cương quyết.

Tiếng Inka :

- Yêu cầu cô tránh sang bên cho tôi xuống ca-bin.

Tiếng Sophie :

- Anh phải cam kết rồi tôi mới bằng lòng cho anh xuống đó. Nếu không, tôi quyết mang tính mạng ra để ngăn cản anh.

- Sophie không nên làm như vậy. Trên đời tôi chưa quý trọng ai bằng Sophie. Ngay cả đến thân thế tôi cũng còn thua xa. Vì Sophie, vì sợ mất Sophie nên tôi chỉ cho hắn uống thuốc ngủ. Lẽ ra, theo lệnh thượng cấp, phải đầu độc hắn….

- Tôi không tin.

- Về Ngưỡng Quang gặp thượng cấp cô mới tin tôi nói đúng.

- Hừ, thượng cấp của anh, không phải thượng cấp của tôi, anh hiểu chưa ? Họ muốn tôi phản Abê, tôi từ chối thì họ mang gia đình tôi ra hăm dọa. Họ bảo rằng mẹ tôi đang sinh sống ở miền Bắc trong một vùng không lấy gì làm an ninh, họ chỉ cần giơ ngón tay lên là có chuyện. Ngoài ra còn có thân nhân của tôi nữa. Thoạt đầu, tôi cũng mềm lòng. Nhưng từ khi Abê thiệt mạng, lòng tôi đã biến thành đá, anh đừng tìm cách lung lạc tôi nữa, vô ích.

- Cô đã hiểu lầm tôi. Thật ra, tôi đâu có ý định lung lạc cô. Không riêng gì cô, bản thân tôi cũng chẳng muốn cộng tác với họ. Song tôi không thể nào thoái thác. Vì trong 10 năm nay, tôi đã thu vén đưọc một tài sản khổng lồ. Nếu tôi lắc đầu, họ sẽ làm cho sự nghiệp tôi tiêu tan thành khói. Như cô đã biết, đây là chuyến lên miền Bắc cuối cùng của tôi. Xong xuôi, tôi sẽ đáp chuyến máy bay sớm nhất về Luân-Đôn. Tôi yêu cầu cô nghĩ lại…. tôi sẵn sàng làm tôi mọi cho cô trọn đời….

- Tôi muốn một người anh nghiêm khắc và quyền thế, tôi không thích cai trị người chồng tôi mọi.

- Phải rồi… tôi biết cô… cô yêu hắn… Trước kia, chưa khi nào tôi bị cô nhục mạ như vậy. Vì quá yêu hắn, cô đã chà đạp lên danh dự con người của tôi.

- Anh ghen ư ?

- Không phải ghen. Cô chưa là vị hôn thê hoặc tình nhân của tôi nên tôi chưa có quyền ghen. Vả lại, ghen không phải là tính tình của đàn ông…

- Anh đừng tự dối lòng thêm nữa. Nhìn cặp mắt của anh, tôi thấy rõ là anh đang ghen. Ghen một cách vô lý. Ghen một cách hung dữ.

- Vâng. Cô muốn gọi đó là ghen hay gì cũng được. Dầu sao cũng đã tới giờ rồi. Trong vòng 15 phút nữa, ca-nô sẽ đến Nambum-Ga. Theo lệnh tôi sẽ ghé bến dưới, thả Vêra xuống, rồi quay mũi về miền Nam.

- Còn Môhan ?

- Miễn cưỡng tôi phải tặng hắn một mũi dao rồi xô xác xuống sông.

- Trước khi giết Môhan, anh phải giết tôi đã.

- Cô Sophie, tôi van cô lần nữa.

- Về phần tôi, tôi cũng van xin anh. Tôi sẵn sàng chấp nhận mọi điều kiện do anh đưa ra

- Kể cả việc….

- Phải, kể cả việc lấy anh làm chồng rồi ngoan ngoãn theo anh như chó theo chủ sang Anh quốc.

- Cô nói thật chứ ?

- Không lẽ tôi đùa với anh. Tôi không còn là đứa con gái ngây thơ và ngu dại nữa. Trước khi làm, tôi đã suy tính kỹ càng. Tôi mang đời tôi ra đổi lấy tính mạng của Môhan.

Im lặng một phút.

Một sự im lặng nặng nề.

Rồi tiếng Inka :

- Tha giết Môhan, tôi có thể sẽ bị người ta giết. Nhưng thôi, chiếm được Sophie tôi cũng chẳng cẩn, chẳng sợ ai nữa.

Tiếng của Sophie :

- Anh biết một mà chưa biết hai. Người ta sai anh hạ sát Môhan rồi khi anh về Ngưỡng Quang báo cáo, người ta sẽ hạ sát cả anh để bảo toàn bí mật.

Inka thở dài :

- Hồi nãy, tôi cũng nghĩ như cô. Song tôi đành bó tay vì thân phận tôi khác nào kẻ chết đuối vớ được cọc. Bây giờ Sophie muốn tôi làm gì ?

- Cởi trói cho Môhan.

- Chờ đến khi ca-nô ghé bờ tiện hơn. Vì điều kiện an ninh, yêu cầu cô cho phép tôi giải hắn lên bộ. Cô nên hiểu hoàn cảnh tôi : nếu tôi không đề phòng, có thể hắn sẽ giết tôi sau khi tỉnh dậy.

- Hiện giờ chắc Môhan còn mê man ?

- Vâng. Thuốc mê chỉ rã trong vòng 30 phút nữa. Từ lâu, tôi hằng chờ dịp may ngàn năm một thuở nắm tay cô. Trước sau cô cũng là vợ tôi, vậy cô không nên giữ thái độ lãnh đạm với tôi nữa.

Một tiếng động khô khan nổi lên. Có lẽ Inka xấn tới, ôm Sophie vào lòng, sửa soạn hôn. Văn Bình nghe tiếng tát tai ròn rã, kèm theo tiếng quát của Sophie :

- Cấm anh không được làm ẩu.

Giọng Inka rít lên :

- À, mới đó mà cô đã bội ước.

- Tôi chỉ giữ lời hứa sau khi Môhan được cởi trói.

Thật ra, Văn Bình đã tự cởi trói trước đó một phút. Tuy bị trói giật cánh khuỷu bằng giây ni-lông bền chắc, chàng vẫn thoát hiểm dễ dàng. Inka đã ra lệnh cho thuộc viên trói nhiều vòng, và bện nút kiên cố, song không biết rằng Văn Bình là vỏ sĩ giỏi Ninjutsu - phép tàng hình Nhật-Bản - và thuật thần ảo công Trung quốc. Nhờ Ninjutsu và thần ảo công, Văn Bình có thể rũ bỏ giây trói không cần dao. Chàng chỉ cần tập trung nguyên khí vào khúc thừng căng nhất trên người rồi vặn mình thật mạnh. Hàng chục vòng ni-lông đã đứt tung trong chớp mắt.

Văn Bình từ từ đứng dậy cho dãn gân cốt.

Chàng không để ý tới cửa bên trái vừa mở. Một gã đàn ông Diến xâm đầy tay và cổ bước vào. Thấy Văn Bình, hắn la lên :

- Thiếu tá, thiếu tá, có biến !

Văn Bình tung bàn chân phải vào mặt hắn. Cái đá tuyệt diệu của chàng làm đối phương lộn nhào.

Cửa ca-bin bên phải bị đẩy mạnh. "Thiếu tá" Inka hiện ra, mắt long sòng sọc. Nhanh nhẹn, hắn luồn tay vào nách rút súng. Nhưng khẩu Colt-9 vừa tuột vào lòng bàn tay hắn thì Văn Bình đã nhào tới.

Chân phải của Văn Bình phóng ra theo thế Mae Geri của võ karaté. Khẩu súng bị đá văng xuống nền ca-bin. Inka cúi xuống lượm song Văn Bình đã tiến lên, đá xẹt ngang. Nạn nhân ngã chúi, nằm chổng bốn vó lên trời.

Inka chỉ có mã to lớn, võ nghệ kém cỏi nên cuộc so tài đã thiếu cân xứng ngay từ phút đầu, và chỉ trong vòng 5 giây đồng hồ ngắn ngủi là hắn bị thảm bại, với cổ tay và đầu gối bong gân. Hắn cố bò dậy, mặt tái mét và méo xệch vì đau đớn. Đứng bên, Sophie thản nhiên khoanh tay, theo dõi tấn kịch chuột lắt đấu với cọp dữ từ đầu đến cuối, không bỏ lỡ một chi tiết cỏn con nào.

Tuy vậy, thái độ thản nhiên của nàng chỉ là sự thản nhiên giả tạo của mặt nước hồ trước cơn sóng lớn. Nàng quen Inka từ lâu : hắn không đến nỗi quá tồi về võ thuật. Có lần đi ăn với nàng và Abê, hắn đã quật ngã hai thanh niên khổng lồ say rượu trong một tiệm ăn sang trọng. Đêm ấy, Inka giải quyết vụ lộn xộn trong chớp mắt, đối phương chưa kịp vung tay thi thố quyền Anh thì Inka đã dùng một thế nhu đạo kỳ diệu đánh bạt vào góc phòng.

Nguyên nhân của vụ ấu đả là hai gã lạ mặt cậy có khối thịt đồ sộ buông lời ong bướm thô lỗ với Sophie. Sau khi Inka toàn thắng trước con mắt khâm phục của thực khách - trong số có khá nhiều phụ nữ kiều diễm - nàng cất tiếng khen ngợi :

- Anh giỏi võ ghê. Trông anh như nhà võ sĩ vô địch trên đài.

Thì Inka nhũn nhặn đáp :

- Cô quá lời. Tôi chỉ võ vẽ dăm ba miếng tầm thường. Sở dĩ tôi hạ được hai cái tủ gương này là nhờ cô.

- Nhờ tôi ?

- Vâng, nhờ khích lệ tinh thần của cô. Không hiểu sao, sự hiện diện của cô bên tôi đã làm tôi khỏe mạnh gấp chục, gấp trăm lần ngày thường. Dường như cô là bà tiên trên thượng giới xuống truyền dạy võ nghệ và pháp thuật mầu nhiệm cho tôi….

Hôm nay, trên giòng Irrawaddy, Inka cũng có nàng một bên. Nghĩa là hắn trở nên khỏe mạnh và giỏi võ gấp chục, gấp trăm lần ngày thường.

Vậy mà chàng tnanh niên có bắp thịt rắn chắc và cặp mắt sáng quắc kia đã triệt hạ Inka trong vòng mấy giây đồng hồ phù du.... Nàng đứng lặng vì một mãnh lực vô hình đã giữ chặt thân thể nàng, không cho nàng cử động nữa. Mãnh lực này là ái tình, một thứ ái tình kỳ lạ….

Chờ cho Inka đứng dậy, Văn Bình mới gằn giọng :

- Anh còn muốn giết tôi nữa không ?

Tuy phải vịn vào giường sắt để khỏi loạng choạng, Inka vẫn cố vớt vát danh dự :

- Chẳng qua tôi bị anh tấn công bất thần. Tôi lại bị thương. Nếu không….

Văn Bình đỡ Inka ngồi xuống :

- Sắp đến Nambum-Ga rồi, tôi không muốn mất thời giờ vô ích với anh nữa. Anh tìm cách giết tôi song đã thất bại. Theo lẽ thông thường, tôi phải giết anh.

Inka giật bắn người :

- Vâng, tôi hiểu. Hại nhân thì nhân hại, dầu bị chết dưới tay anh, tôi cũng không dám ta thán. Nhưng anh cũng hiểu cho rằng tôi không hề thù nghịch anh. Chẳng qua người ta đưa tôi vào thế kẹt.

Văn Bình quay sang Sophie :

- Cô nghĩ thế nào ?

Sophie đáp ngay :

- Tôi tin là anh tha giết Inka.

Văn Bình cười rộ :

- Đàn bà tài thật ! Cô đã đọc thấu tư tưởng của tôi. Đúng vậy, tôi sẵn sàng quên hết mọi việc xảy ra.

Nhìn giữa mắt Inka, chàng nói tiếp :

- Yêu cầu anh lên boong, đốc thúc cho thủy thủ ghé bờ. Sau khi cho chúng tôi lên bộ, anh sẽ được tự do. Tôi không muốn giữ anh lưu lại phút nào ở Nambum-Ga. Anh phải trở lại ngay miền Nam. Anh đã nghe rõ chưa ?

- Nghe rõ.

Văn Bình ghé vai cõng Inka. Hắn ngoan ngoãn bíu lấy cổ chàng như đứa trẻ. Với cây thịt nặng nề trên vai, Văn Bình vẫn bước thoăn thoắt lên cầu thang.

Nắng trưa chiếu thẳng xuống đỉnh đầu làm Văn Bình chói mắt.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Trước đó hai giờ, mặt trời cũng đổ sức nóng thiêu đốt xuống khu nhà sang trọng của Tin Aung, xã trưởng Nambum-Ga.

Khu nhà rộng thênh thang này nằm dọc theo ngọn đồi thoai thoải, nền đất đỏ tương phản nên thơ với nền cây xanh ngắt, và nền tường trắng toát. Cũng như mọi ngày, Tin dậy trưa. Hồi còn thanh niên, hắn dậy rất sớm, đeo cung tên vào rừng từ tinh sương. Lẽ sống của Tin là những cuộc săn thú say mê, bất chấp nhọc mệt, khó khăn và nguy hiểm chết người. Nhưng thời gian trôi qua, mái tóc càng ngã sang màu muối tiêu xã trưởng Tin Aung càng dậy muộn. Vì đêm nào cũng như đêm nào, nóng nực cũng như mùa đông lạnh buốt, Tin đều thức khuya. Thức rất khuya. Thức đến 3, 4 giờ sáng bên cạnh những người đàn bà tuyệt đẹp.

Sau khi mở mắt, Tin chưa nhảy xuống giường vội. Một cô gái nảy nở tròn trịa như trăng rằm đã chờ sẵn với mâm đèn thuốc phiện. Mỗi sáng, Tin phải súc miệng bằng khói thơm của ả Phù Dung. Xã trưởng Tin Aung không hút xô bồ như nhiều người khác. Cái tẩu được làm toàn bằng ngà voi, trạm trổ long li quy phượng, miệng tẩu bằng nhựa hóa học ngậm không mòn, không gãy, còn nồi tẩu thì bằng bọt biển Amboseli [1] - một thứ đá trắng, nhẹ, thơm thoảng, tinh khiết, hiếm có, tìm thấy ở đông bộ Phi châu - hút vào kêu ròn tan, khói thuốc tăng thêm mùi vị tân kỳ.

Thuốc phiện do Tin Aung sản xuất theo công thức trồng trọt, xẻ nhựa và chế biến đặc biệt. Gần một mẫu đất phì nhiêu được Tin dành cho cây á phiện, hắn lại dùng toàn phụ nữ - nhất là con gái đồng trinh - để chăm bón và lấy nhựa, vì theo truyền thuyết và kinh nghiệm hơi hướng nữ giới ảnh hưởng lớn tới mức thơm ngon của thuốc.

Người ta thường bảo rằng thuốc phiện sẽ làm mắt trắng dã, môi thâm sì, vai so, cổ rụt, thân thể thanh niên cường tráng tràn trề sinh lực thành khối gỗ đá vô tri trước đàn bà khêu gợi. Nhưng dối với Tin Aung, tình trạng trái ngược đã xảy ra. Có lẽ vì hắn hút toàn thuốc thượng hảo hạng nên càng hút hắn càng khỏe khoắn, càng hút hắn càng tăng thêm sức mạnh yêu đương.

Hút xong, hắn nằm dài trên đệm cho một đạo quân phụ nữ đấm bóp. Kẻ nắn tay, người bóp chân, ít nhất là bốn cô gái xinh tươi phụ trách tẩm quất cho Tin Aung.

Bữa ăn điểm tâm của Tin là một kỳ công của nghệ thuật phụng sự thần khẩu và thần ái tình. Thực đơn bắt buộc trong mọi bữa ăn sáng này là 3 lòng đỏ trứng gà. Từ xưa đến nay, ai cũng biết lòng đỏ trứng gà rất bổ dưỡng, nhưng phải là người sành điệu từng đọc cẩm nang ái tình Á-rập "Hương viên" như Tin Aung, mới biết được rằng 3 lòng đỏ trứng gà ăn sáng thường xuyên sẽ có tác dụng cải lão hoàn đồng trong hoạt động phòng the [2].

Món ăn thì mỗi ngày một đổi, và có cả trăm song món thông thường và đưọc Tin ưa chuộng là óc chim bồ câu và đuôi cá sấu [3].

Sau khi hút thuốc, đấm bóp, ăn điểm tâm, Tin mới ra khỏi phòng. Trong thời gian ấy, không ai được quyền tới phá rối. Lệnh của hắn ban ra, thuộc viên phải tuân theo răm rắp. Vì từ nhiều năm Tin Aung đã là ông trời con trong miền rừng núi hiểm trở phía Bắc.

Nhưng hôm nay, thời khóa biểu vương giả của xã trưởng Nambum-Ga hoàn toàn thay đổi.

Vì một bức thư ngắn ngủi từ trong rừng ửi tới.

Đang hút thuốc, Tin Aung choàng dậy, quên cả đấm bóp, ăn điểm tâm và thưởng thức sắc đẹp chín muồi của đoàn hầu non ngoan ngoãn. Hắn vỗ tay gọi vệ sĩ, dặn lấy một tiểu đội võ trang đầy đủ. Hắn trèo lên xe díp, ra lệnh cho tài xế :

- Ra bờ sông.

Nắng trưa chiếu thẳng xuống bến tàu.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Hơi lạnh đã tan hết. Chỉ còn những mảng sương trắng lạc lõng trong kẽ lá dày cộm.

Thị trấn Nambum-Ga hiện ra trước mũi ca-nô. Đó là một tiểu thị trấn nàm sát biên giới, lọt thỏm giữa những đồi núi trùng điệp, lởm chởm đá nhọn, cây cối mọc um tùm. Vẻn vẹn chỉ có ba, bốn đường phố, và một vài chục ngôi nhà gạch ha ba tầng lẻ loi. Còn toàn là đường đất ngoằn ngoèo, bẩn thỉu và nhà sàn, mái lợp rơm rạ cong queo như mái chùa.

Con tàu ọp ẹp của Inka từ từ cập bến giữa tiếng gà gáy, tiếng dê kêu và chó sủa. Quang cảnh buồn tênh.

Vêra tựa vào lan can tàu, vẻ mặt đăm chiêu. Nàng còn mệt vì không quen với thuốc ngủ. Inka giật mình khi thấy binh sĩ đội mũ sắt, mặc đồng phục, cầm tiểu liên đứng sẵn trên cầu phao. Hắn quay về phía Văn Bình, giọng run run :

- Lính cảnh bị của Tin Aung. Lạ thật, họ ra đây làm gì ? Hay là quân du kích sắp tấn công thị trấn ?

Văn Bình nhìn tứ bề vắng tanh bằng cặp mắt thản nhiên. Dầu sao chàng cũng không thể quay về được nữa. Muốn bắt cọp chàng phải vào hang hùm.

Hai khẩu trung liên được bố trí trên sân thượng một tòa nhà ba tầng nhìn ra bến tàu, phía sau lố nhố mũ sắt. Tiểu đội cảnh bị án ngữ trên bờ sông tách ra làm đôi, một nửa nhảy xuống hố cá nhân, kê súng lên bao cát, chĩa về phía ca-nô, một nửa dàn thành hàng ngang, tiến lại gần mặt nước, cách boong tàu một quãng ngắn.

Hai người lính từ từ bước xuống ca-nô. Inka chận họ lại :

- Các ông đi đâu ?

Người thứ nhất lạnh lùng đáp :

- Chúng tôi được lệnh mời các hành khách lên bộ.

- Tôi là Inka, thiếu tá Inka. Ở đây, ai cũng biết tôi. Các ông quên tôi rồi ư ?

- Lệnh trên không cho phép chúng tôi trò chuyện với hành khách, xin ông cảm phiền.

- Tôi không phải là hành khách. Mà là chủ hãng thuyền máy. Và là bạn của xã trưởng.

- Xã trưởng ra lệnh cho chúng tôi tới mời ông.

- Mời đi đâu ?

- Ông sẽ biết sau.

- Tôi là công dân Anh quốc. Nghĩa là ngoại kiều. Toàn thể hành khách trên tàu đều là ngoại kiều. Theo luật lệ, các ông không có quyền làm khó dễ ngoại kiều, nhất là người Anh.

Người lính thứ hai quắc mắt :

- Ông nhiều lời quá. Phiền ông lên bờ ngay cho.

Inka cưỡng lại :

- Coi chừng. Tôi sẽ phản đối với Tin Aung.

- Tùy ông. Ông muốn phản đối với ai cũng được. Nhưng trước khi phản đối, ông phải tuân lệnh chúng tôi.

- Tôi không phải là phạm nhân. Các ông….

Người lính thứ nhất thúc mũi súng vào bụng Inka :

- Im miệng. Nếu ông cưỡng lệnh, miễn cưỡng tôi phải nổ súng.

Inka nắm chặt bàn tay để kềm hãm tức giận. Rồi hắn nhún vai, giọng khinh bỉ :

- Được, tôi bằng lòng im miệng. Các anh muốn đưa chúng tôi đi đâu thì đưa.

Văn Bình chứng kiến cuộc va chạm giữa Inka và hai tên lính cảnh bị, vẻ mặt lạnh như tiền, và không nói một lời. Dưới ánh nắng xế trưa gay gắt, chàng đặt chân lên bờ sông đầy bụi đỏ hoe. Mọi người được dẫn qua đường phố xơ xác và bẩn thỉu, tới một tòa nhà hai tầng khá rộng, lợp tranh, quét vôi trắng, nằm chềnh ềnh giữa những bụi cây rậm rạp, nhìn thẳng ra bến tàu.

Đó là khách thất của thị trấn Nambum-Ga. Viên chức chính phủ hoặc du khách thường ngụ tại đây vì trong thành phố không có lữ quán.

Một sĩ quan râu mép ngạo nghễ chờ sẵn ngoài hành lang. Hắn khoác tay ra lệnh cho bọn lính :

- Đàn ông, đàn bà giam riêng, hai người một phòng. Họ không được đi ra ngoài nghe chưa ?

Nói đoạn, hắn xăm xăm đi ra ngoài. Vêra đang trèo cầu thang bỗng loạng choạng. Nàng cố vịn lan can để khỏi ngã. Một tên lính vội chạy tới, xốc nách nàng lên. Văn Bình nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu khi thấy tên lính lợi dụng cơ hội để ôm cứng lấy Vêra. Hắn không đỡ vai nàng mà chỉ nghĩ đến xâm chiếm bộ ngực tròn trịa. Tuy mỏi mệt, Vêra vẫn còn đủ sức gạt tay hắn ra. Hắn trượt chân, chúi đầu vào vách tường.

Văn Bình tự nhủ sẽ đóng vai ngu si hưởng thái binh nhưng sự việc vừa xảy ra không cho phép chàng tiếp tục làm thinh được nữa. Vì tên lính nham nhở đã buông ra một tràng tiếng tục tĩu rồi đứng dậy, chắn ngang mặt Vêra. Nàng nghiêm mặt :

- Tránh ra !

Hắn nhe hàm răng cải mả :

- Qua không tránh thì đã sao ?

Vẻ sửng sốt hiện rõ trong cặp mắt thất thần của Vêra :

- Anh không được hỗn. Lát nữa, tôi sẽ mách với xã trưởng Tin Aung.

Tên lính nắm ẩu lấy bàn tay thon đẹp của nàng, giọng chớt nhả :

- Thách đấy !

Tấn trò chướng tai gai mắt diễn ra một cách sỗ sàng mà toán lính cảnh bị chỉ đứng nhìn bình thản. Thậm chí có tên còn cười ngặt nghẽo nữa. Văn Bình bèn chắn ngang Vêra :

- Buông tay lập tức.

Tên lính nham nhở buông tay Vêra nhưng lại chĩa mũi súng vào bụng Văn Bình, hăm dọa :

- Cho anh một phút, anh phải xin lỗi nếu không….

Văn Bình cười nhạt :

- Anh sẽ bắn phải không ?

- Chưa cần. Tôi sẽ cho anh một bài học để đời.

Nói đoạn, hắn quạt báng súng vào hông chàng. Trông cách đánh nhậm lẹ và hiểm ác, Văn Bình biết hắn có võ. Tuy nhiên, tài nghệ của hắn chỉ là ngọn đồi bé nhỏ trước đỉnh thái sơn Z.28 danh lừng thiên hạ. Chàng bèn vận công chịu đòn.

Rắc một tiếng khô khan, báng súng trường gãy làm đôi như thể bị chặt bằng búa.

Tên lính ngó chàng trong sự kinh ngạc lẫn khâm phục. Song tự ái cá nhân bùng dậy, hắn quên nghĩ hơn thua, đâm bổ vào người chàng. Sống bàn tay hắn chém nghiêng nhằm khớp xương quai xanh. Cũng như lần trước, Văn Bình không thèm tránh đòn.

Lệ thường, ít ai bị đánh mạnh vào khớp xương này mà không lìa bả vai. Tên lính chắc mẩm Văn Bình chậm đỡ, chứ thể ngờ chàng đã vận dụng võ công kỳ diệu để dạy hắn một đường quyền mới. Khớp xương của chàng đột nhiên rắn lại như bê-tông cốt sắt. Bàn tay tên lính chạm vào bị dội bật trở lại, và như hai chân có lò so hắn bị hất lên cao, ngã lộn nhào xuống chân cầu thang.

Đầu nạn nhân đập đầu vào bậc thềm xi-măng máu chảy lênh láng.

Tên cảnh bị thứ hai lên đạn vào nòng nhưng một tiếng quát làm hắn khựng người :

- Không được bắn.

Gã sĩ quan râu mép đứng lù klù ở cửa phòng bên dưới. Hắn quát um bằng thổ ngữ :

- Đồ hèn. Bạn mày bị thương đáng đời. Nó đánh người ta chứ người ta có đánh nó đâu mà mày xấn vào bênh vực.

Gã sĩ quan tiến lên cầu thang, phân trần với Văn Bình :

- Lính của tôi vô lễ, xin quý vị miễn thứ.

Văn Bình nghiêng đầu :

- Không dám. Bản thân tôi không muốn làm mất hòa khí… Chẳng qua vì trường hợp bất khả kháng.

- Ông quá nhún nhường. Bọn lính của tôi quả rất hỗn xược. Chúng phải gặp một võ sĩ tuyệt luân như ông mới sáng mắt ra. Ông là kỳ quan về nội công. Tôi luyện môn này từ 15 năm nay mà chưa bằng một phần mười của ông.

Hồi nãy gã sĩ quan kênh kệu bao nhiêu thì giờ đây khiêm tốn bấy nhiêu. Có lẽ ngọn quyền thần sầu của Văn Bình đã làm hắn chột dạ. Hắn dẫn Văn Bình vào phòng giữa trên lầu, căn phòng khang trang nhất, nhìn ra đường, giải thích :

- Xin ông thông cảm. Một phần vì lệnh của xã trưởng. Phần khác, vì… phong tục….

Văn Bình gật đầu :

- Vâng, phụ nữ ở riêng phòng tiện hơn. Bà Vêra không được khỏe, phiền ông chăm sóc.

- Chúng tôi xin hết lòng. Tôi sẽ chọn đầy tớ gái lên đây. Về tiện nghi thì chắc chắn là không bằng được dưới thủ đô. Nhưng còn về ăn uống….

- Không hề gì. Khi nào xã trưởng Tin Aung tới ?

- Có lẽ lát nữa.

Tiếng súng máy từ xa vọng lại. Văn Bình hỏi gã sĩ quan :

- Chạm súng ?

Hắn đáp :

- Vâng, dạo này ngày nào cũng có đụng độ giữa lính cảnh bị và du kích quân của thượng tá U-Ban.

- Liệu U-Ban có chiếm Nambum-Ga không ?

- Tôi không biết. Trên phương diện quân sự, Nambum-Ga chỉ là một cái đồn nhỏ, phòng thủ lấy lệ, du kích quân muốn nuốt chửng lúc nào chẳng được.

- Tại sao U-Ban lại buông tha Nambum-Ga ?

- Vì Tin Aung cố gắng thỏa mãn những điều y muốn. Đổi lấy sự yên tĩnh cho thị trấn. Tin đã bắt Seng Ho nộp cho U-Ban. Dường như ông và các bạn ông cũng bị bắt vì lý do tương tự.

- Nghĩa là theo lệnh của U-Ban ?

- Vâng.

- Chúng tôi được chính phủ trung ương phái lên đây. Trong trường hợp ông có thể giúp đỡ….

Vừa nói Văn Bình vừa bỏ tay vào trong túi áo. Nhìn xấp Anh-kim mới toanh rực sáng trước mắt, gã sĩ quan nuốt nước bọt ừng ực :

- Ông muốn tôi giúp những gì ?

Gã sĩ quan há miệng chưa kịp đáp thì thân thể bỗng mềm nhũn. Một mũi tên nhỏ xíu từ ngoài hành lang bay vào cắm giữa yết hầu. Gã sĩ quan quay lộn một vòng rồi ngã xuống. Văn Bình nghe hắn thở hắt ra nhè nhẹ.

Thế là hết.

Xã trưởng Tin Aung lệt xệt kéo giày đến cửa phòng. Mỗi bên mình hắn có một vệ sĩ cầm ná. Gã sĩ quan xấu số vừa bị hạ sát bằng mũi tên vầu tẩm nọc rắn độc do một vệ sĩ bắn ra.

Hắn dõng dạc ra lệnh cho vệ sĩ :

- Khiêng xác ném xuống huyệt cho kên kên ăn thịt.

Rồi quay về phía Văn Bình và Inka :

- Thật phiền cho hai ông. Kên kên là giống chịm quạ chuyên rỉa thịt người chết. Cánh rừng nào ở Đông-nam-á cũng có chim kên kên. Nhưng chim kên kên ở miền Bắc Diến-Điện nổi tiếng hung hăng nhất, thèm thịt người chết nhất. Nhân viên của tôi đứa nào phản thùng đều bị vứt xuống hố sâu ở sườn đồi, làm quà cho bọn kên kên. Kên kên trong vùng này là bạn tri kỷ của tôi. Chúng kêu la từ sáng đến giờ mà chưa được ăn…

Tin Aung nhắc đến chuyện chết chóc thê thảm bằng giọng say sưa và hân hoan như người khoe khoang kỷ niệm chăn gối với đàn bà đẹp. Chắp tay sau đít, Văn Bình hỏi hắn :

- Ông là Tin Aung, xã trưởng Nambum-Ga ?

Tin Aung gật đầu :

- Câu hỏi của ông hơi thừa. "Thiếu tá" Inka quen biết tôi từ lâu. Vả lại, trước khi lên đây, chắc hẳn ông đã tìm hiểu về tôi, phải không đại tá Văn Bình Z.28 ?

Tin Aung dằn mạnh tiếng Z.28 kèm theo nụ cười bí hiểm trên đôi môi thâm sì vì á phiện. Viên xã trưởng Nambum cố gắng khám phá một sự thay đổi cỏn con trên mặt Văn Bình nhưng sau một phút đồng hồ quan sát hắn đã thất vọng.

Văn Bình đủng đỉnh :

- Inka có nhắc đến tên ông song tôi không để ý.

- Z.28, đại tá đừng kiêu ngạo như vậy.

- Ngược lại, ông cũng đừng dùng xác chết của một sĩ quan thuộc viên để hăm dọa phủ đầu. Nếu sợ, tôi đã không đơn thương độc mã tới Diến-Điện, và lên miền rừng xanh núi đỏ này. Ông giữ chúng tôi ở đây với mục đích gì ?

- Vì thượng tá U-Ban dọa làm cỏ thị trấn Nambum-Ga.

- Khi nào ông nộp chúng tôi cho họ ?

- Có lẽ nội ngày nay. Từ phút này trở đi, yêu cầu các ông ở nguyên trong phòng. Cảnh bị của tôi sẽ nổ súng để ngăn chặn mọi ý định tẩu thoát.

Inka xen vào :

- Tin Aung, ông có thể tàn nhẫn đến thế được ư ?

Tin Aung khoác tay :

- Nếu tôi không bắt các ông thì họ sẽ bắt tôi. Vì quyền lợi chung, tôi đành phải hy sinh tình bạn.

Inka nắm ve áo Tin Aung, giọng cầu khẩn :

- Ông hãy tha tôi. Tôi sẽ bỏ xứ này mà đi. Mọi của chìm, của nổi của tôi ở đây xin biếu ông hết.

Tin Aung xô hắn ra :

- Yêu cầu ông ngậm miệng. Bình sinh tôi rất ghét hối lộ. Người Diến rất trọng danh dự, ông nhớ không ?

Inka vẫn van nài :

- Tin… ông nghĩ lại cho tôi nhờ.

Tin Aung đẩy hắn xuống ghế một cách tàn nhẫn. Nhưng hắn cứ bám chặt lấy viên xã trưởng như đỉa đói.

Mọi việc xảy ra chớp nhoáng, khiến Văn Bình không kịp theo dõi. Thoạt đầu, chàng thấy Tin Aung bước dạt sang một bên, Inka lao theo, rồi sau tiếng ra lệnh khô khan của chủ nhân, một tên vệ sĩ lắp mũi tên vầu vào cung tre. Phật một tiếng nhẹ… Inka ngã nhào, vập đầu vào chân tường. Mũi tên thuốc độc đã kết liểu đời hắn trong mấy giây đồng hồ ngắn ngủi.

Văn Bình đnh lợi dụng tình thế thế tên vệ sĩ thứ hai đã chĩa ná vào người chàng. Tin Aung nói :

- Thưa đại tá, mạng người ở miền rừng núi nguy hiểm này còn rẻ hơn mạng ruồi kiến ở miền trung châu nữa… Ai cãi lời tôi thì phải chết.

Văn Bình phẫn nộ :

- Dầu sao thái độ của Inka cũng không đáng để ông ra lệnh cho vệ sĩ hạ sát.

Tin Aung vẫn điềm nhiên :

- Rồi ông sẽ hiểu.

- Tôi muốn ông giải thích ngay bây giờ.

- Không thể được.

Văn Bình nín thinh. Tin Aung vỗ tay. Hai tên vệ sĩ khác, cởi trần trùng trục, mình mẩy đen thui, đóng khố da cọp, quấn khăn mỏ rìu, lù lù từ dưới nhà đi lên. Dường như viên xã trưởng đã dặn dò từ trước nên hai tên vệ sĩ lẳng lặng tiến về phía Văn Bình, mỗi đứa nắm một bàn tay Văn Bình.

Văn Bình không kháng cự, vì biết kháng cự vô ích. Chàng nhún vai nhìn Inka nằm ngửa, mắt trợn trừng, một tia máu đen ri rỉ ra ngoài mép. Bất giác, Văn Bình ngó trộm Tin Aung. Qua đôi mắt, chàng nhận thấy viên xã trưởng độc ác và đểu cáng cũng nhìn trộm chàng. Cái nhìn lén lút của hắn phảng phất một sự khó hiểu kỳ quặc.

Qua phòng giam Vêra và Sophie, chàng thấy cửa đóng kín. Có lẽ họ đã bị giải đi trước chàng.

Dưới sân, một chiếc xe díp mới toanh đã đợi sẵn. Mấy con khỉ vắt vẻo trên cành cây phượng vĩ nhảy xuống đất, trèo lên đầu xe như muốn trêu ngươi. Một đàn muỗi bay theo cơn gió từ rừng tre tới, đập vào mắt Văn Bình, khiến chàng hoa mắt, choáng váng trong khoảnh khắc. Tiếng thạch sùng tắc lưỡi nghe đều đặn đến nỗi chàng có cảm tưởng là từ băng nhựa ghi âm phát ra.

Vêra và Sophie được đưa lên băng sau. Hai người đàn bà lẳng lặng tuân lệnh. Văn Bình ngồi phía trước với tài xế, một thanh niên bộ lạc da đồng hun, mắt ốc lồi, tóc quăn queo, một cái thẹo bề ngang một phân rưỡi dài gần một tấc tây ngăn khuôn mặt dài, xương xẩu, ra làm đôi. Cái thẹo xấu xí này là bằng cấp "anh chị". Hắn không buồn để ý đến chàng, thản nhiên mở máy xe. Hai tên cảnh bị đen chùi chũi trèo lên hông xe, khẩu tiểu liên lủng lẳng trên vai trần.

Chiếc díp rú tròn trịa rồi nhảy câng câng trên con đường ngoằn ngoèo đất đỏ, đầy ổ gà sâu hoắm. Phía sau là một xe díp khác chở đầy nhóc binh sĩ võ trang. Và sau cùng là xe của Tin Aung.

Viên xã trưởng đã bố trí cẩn mật, tuy nhiên, đối với một điệp viên tài ba, giàu kinh nghiệm trận mạc như Văn Bình thì màng lưới kiên cố vẫn có những kẽ hở. Đến khúc rẽ, chàng chỉ cần gạt nhẹ sang bên phải là hai tên cảnh bị ngã lăn chiêng xuống đường. Một cái gạt nhẹ sang trái sẽ giải quyết tình trạng tên tài xế lì lợm. Khi đoàn hộ tống nhìn thấy thì đã muộn, chàng đã biến mất vào rừng sâu.

Bụi rậm, hang núi, đèo cao vốn là tri kỷ của Văn Bình. Suốt những năm thơ ấu sôi động, chàng đã quen với cuộc sống nơi sơn lâm cùng cốc, một mình một cây cung hoặc khẩu súng săn của phụ thân. Nhiều khi bị lạc trong rừng lạ, chàng vẩn tìm về được dễ dàng, nhờ biết định hướng mặt trời, tinh tú ban đêm, hoặc căn cứ vào giòng suối chảy từ nguồn xuống đồng bằng, vào lối đi len lỏi của tiều phu, hoặc vào một số cổ thụ làm đích hoặc vào vết chân của thú, vào tiếng chim hót, tiếng kêu của khỉ….

Chàng tới Nambum-Ga lần đầu, nhưng nếu chàng lọt được vào rừng thì bọn cảnh bị của Tin Aung khó theo nổi. Với một khẩu súng ngắn núp ở vị trí khôn ngoan, chàng có thể bắn hạ cả tiểu đội mà không hề bị lộ diện.

Song le ý tưởng thoát thân chỉ thoáng qua trong trí Văn Bình rồi tan biến. Vì ngoài chàng ra, cón hai người đàn bà… Vì còn thượng tá U-Ban, còn Seng Ho, còn bí mật dày đặc của F-22 tổng hành doanh du kích Đông-nam-á của Quốc Tế Tình Báo Sở nữa.

Con đường mòn mỗi lúc một thêm gồ ghề và thu hẹp lại. Đột nhiên những giọt mưa lớn thi nhau rơi xuống. Gã tài xế văng ra một tiếng chửi tục tằn.

Đoàng ! Đoàng !

Hai phát súng nối tiếp nhau vang dội.

Tài xế thắng lại.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Cách thị trấn Nambum-Ga một quãng ngắn có một ngôi chùa cổ. Tính trên bản đồ thì ngôi chùa cổ này chỉ cách thị trấn 5 cây số. Nhưng người đi bộ, men theo lối gỗ kéo, phải mất trên dưới 3 giờ đồng hồ.

Đường xe hơi chỉ ra khỏi thị trấn một quãng rồi tắc nghẽn, phải xuống xe qua đò máy.

Dân chúng đồn rằng ngôi chùa cổ rất linh thiêng, song ít người dám tới. Chắc vì đường xá không thuận tiện. Nhưng cũng vì sợ hãi. Một số người sùng bái, chẳng quản khó khăn, băng rừng tới cúng vái, đã ra đi không bao giờ về nữa. Mấy ngày sau, một cái bè chuối trôi lửng lờ trên sông, chở theo xác chết bị mổ ruột, thân thể vằm nát. Từ đó, không ai dám léo hánh tới ngôi chùa bí mật ấy nữa.

Người Diến thượng du chất phác tin rằng chung quanh chùa có ma, một giống ma cà rồng khổng lồ, nhá xương người rôm rốp như phụ nữ Diến nhai trầu vậy. Ma cà rồng thường có ở miền Bắc, già trẻ, trai gái đều sợ, họ lại sợ hơn vì không biết ai thuật lại là ma cà rồng gần ngôi chùa cổ đã thành tinh từ nhiều thế kỷ, bị chọc giận có thể ăn thịt cả thị trấn Nambum-Ga.

Trên thực tế, chủ nhân của ngôi chùa không phải là ma cà rồng. Mà là loài người. Nhưng là loài người dữ tợn hơn ma cà rồng gấp chục lần.

Trong thế chiến thứ hai, một đảng cướp từ Hoa Nam tràn xuống, lợi dụng sự nhẹ dạ của dân địa phương, đã chiếm cứ ngôi chùa. Binh đội Nhật đánh đuổi bọn cướp chạy thất điên bát đảo sang Lào. Sau đó, đến lượt binh đội Thiên Hoàng rút lui trước sự phản công của đồng minh. Đại chiến chấm dứt. Nội chiến lại vẫn tiếp diển ở Trung Hoa, tàn quân Quốc Dân Đảng do tướng Li Mi chỉ huy kéo vào Diến-Điện. Ngôi chùa lạ lùng được dùng làm tổng hành doanh Quốc Dân Đảng.

Nhưng rồi một phần Quốc Dân Quân được hồi hương về Đài Loan, phần còn lại phân tán thành nhiều toán nhỏ vào rừng, qua Lào hoặc Ấn-Độ, chờ cơ hội phục hận. Ngôi chùa "ma cà rồng" lại nằm phơi sương nắng, rêu xanh phủ kín.

Chiến tranh Đông-Dương mỗi ngày một leo thang. Hồng Quân Trung Hoa lũ lượt kéo xuống phía Nam. Ngôi chùa "ma cà rồng" một lần nữa được chiếu cố đặc biệt. Thượng tá U-Ban của Quốc Tế Tình Báo Sở, tư lệnh F-22, tới chùa đồn trú một ngày mưa tầm tã, nước sông Irrawaddy dâng khỏi bờ, làm miền Bắc ngập lụt.

Chùa được xây bằng đá ong, thứ đá ong từng phiến lớn, hàng chục người lực lưỡng cũng khiêng không nổi. Thứ đá ong đặc biệt này giống với thứ được dùng để xây bức Vạn Lý Trường Thành bên Tàu. Thật là kỳ diệu, vì di chuyển các tảng đá ong trên đất bằng phẳng đã khó, huống hồ ngôi chùa lại được xây cất cheo leo trên sườn đồi gần 45 độ nghiêng. Trừ phi có xe cần trục khổng lồ mới nâng được đá lên đồi. Hồi ấy, xe cần trục khổng lồ chưa được kỹ nghệ Tây phương sản xuất. Dầu có xe cần trục này nữa thì xe chạy bằng đường nào ?

Đặc điểm thứ hai - có tính cách quân sự - của ngôi chùa "ma cà rồng" là tuy ở trên sườn đồi, nó lại hoàn toàn kín đáo. Phi cơ bay phía trên dầu được trang bị máy ảnh bén nhạy tối tân đến đâu cũng không chụp được gì, ngoại trừ một vùng cây xanh um, kết chặt vào nhau như tấm thảm bát ngát và dày cộm.

Ngay cả máy ảnh quang tuyến hoặc hồng ngoại tuyến, có thể chụp xuyên qua bê-tông cũng trở nên vô ích. Vì ngôi chùa được xây cất trên một vùng đất đặc biệt, có những tia sáng vô hình được phát ra làm phim nhựa bị hư hỏng.

F-22 đặt hành doanh trên sườn đồi gần Nambum-Ga không phải do ngẫu nhiên. Mà vì Quốc Tế Tình Báo Sở đã biết rõ đặc tính của lớp dất bên dưới.

Chùa rộng hơn một mẫu tây, tứ phía có tường bao bọc. Vào chùa chỉ có một lối độc nhất, từ dưới lên trên đếm đúng 500 bậc cấp. Trải qua nhiều cuộc phế hưng, kiến trúc chính của chùa đã đổ nát, hoặc rêu phong kín mít, các bệ thờ trống trơn khiến người lạ không thể biết trước kia chùa thờ Phật hay thờ thần linh.

Tuy nhiên, sự điêu tàn của ngôi chùa chỉ ở bề ngoài. Khách đi qua phương trượng rộng mông mênh giữa đống đá ong vụn hỗn độn, đám rễ si chằng chịt và hàng trăm thứ nấm rực rỡ, đến một cái bệ thờ bẩn thỉu chắc không ngăn được ngậm ngùi. Nhưng nếu khách là nhân viên Tình Báo Sở, dưới quyền thượng tá U-Ban thì phải cảm thấy hân hoan vì cái bệ thờ bẩn thỉu này đã che giấu bên dưới một nhà hầm bát ngát.

Đụng vào nút mở bí mật, bệ thờ sẽ tách ra, đẻ lộ một ô cửa vuông vức, có bậc xuống. Nhà hầm gồm nhiều phòng, chạy dài theo hình chữ nhất từ sườn đồi xuống chân đồi. Phòng cuối cùng ăn thông với một giòng suối nước nóng, khói bốc nghi ngút quanh năm. Gần giòng suối là một thạch động kiên cố.

Thượng tá U-Ban đóng trụ sở bên trong thạch động.

Dưới ánh đèn măng-sông sáng xanh, U-Ban đang ngồi trước bàn làm việc, vẻ mặt đăm chiêu. Bàn làm việc là một phiến đá ong, bên trên để lớp gỗ tếch nổi vân bóng loáng. Ghế ngồi cũng bằng gỗ tếch, gọt đẽo bằng cưa và đục song mỹ thuật.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:06 pm

Đĩa đựng tàn thuốc đặt trước mặt U-Ban là phân nữa trái bầu rừng, phơi khô, khoét rỗng ruột. Ly nước uống kế bên cũng bằng trái bầu hoặc bằng thân tre. Dáng điêu trầm ngâm, U-Ban gác hai chân lên bàn, ngửa cổ ra sau, thở hơi khói thơm tho của điếu xì-gà bản xứ tẩm nhựa a phiến. Đoạn hắn tu một ngụm rượu nếp, thứ rượu cất bằng nếp trồng trong rừng màu hung hung và ngâm mật rắn.

U-Ban ngồi bất động như vậy đã lâu lắm.

Một thuộc viên mặc y phục đen, đeo tiểu liên AK-47 từ bên ngoài bước vào từ nãy song không dám hó hé khi thấy thượng cấp đắm mình trong cơn suy nghĩ.

Ngẩng đầu lên, U-Ban hất hàm :

- Xong chưa ?

Tên thuộc viên đáp :

- Thưa, họ đã bắt đầu lên đường. Trạm tiền sát vừa gọi điện thoại về xong.

U-Ban ném điếu xì-gà vào trái bầu khô :

- Giải Seng Ho lên đây. À, lấy thêm cho vò rượu nữa. Còn thịt cá sấu không ?

Thế gian 3 sự khó chừa, U-Ban đã có "rượu nồng, dê béo" lại có cả "gái vừa đang tơ" nữa. Nếu là ban đêm hoặc buỗi trưa nhàn hạ, hắn đã dặn thuộc viên mang "vũ công" đến căn phòng riêng, phía sau bàn giấy. Vũ công là những cô gái trẻ măng, khá đẹp, theo chân F-22 từ Vân Nam tới hoặc tuyển mộ tại địa phương.

Có tiếng động ngoài cửa.

Seng Ho bước vào giữa hai du kích quân. Cuộc sống giam hãm tuy ngắn ngủi đã biến chàng thanh niên hào hoa thành bộ xương người biết cử động. Thật vậy, Seng đã mất gần hai chục ký thịt trong một thời gian kỷ lục. Vì thiếu chất bổ cần thiết, da mặt hắn xanh mét. Tuy vịn vai tên lính hắn vẫn loạng choạng.

Nhưng cặp mắt của hắn vẫn còn nguyên những tia sáng tinh anh thường lệ. Hắn đứng lặng một phút, nhìn U-Ban rồi nói :

- Anh lừa tôi.

U-Ban rót rượu vào hai ly tre, giọng ôn tồn :

- Tôi lừa anh ra sao ?

- Anh hứa trả tự do cho tôi sau khi tôi cung cấp cho anh danh sách các điệp viên MI-6 ở miền Bắc, và tôi đã làm theo ý anh. Nhưng cho đến giờ này, tôi vẫn bị nhốt trong ngục tối.

- Tôi mời anh tới đây để trả tự do.

- Thật không ?

- Thượng tá U-Ban, tư lệnh F-22, không bao giờ nói hai lời. Tuy nhiên, tôi cần cho anh biết sự thật… Anh gầy quá, ốm yếu quá… anh cần tĩnh dưỡng một vài tuần lễ trước khi trở về. Với sức lực hiện giờ, anh không mảy may hy vọng đối phó với tên Z.28.

- Hắn lên tới Nambum-Ga chưa ?

- Rồi. Nội ngày nay, Z.28 sẻ có mặt tại đây. Tuân lệnh tôi, xã trưởng Tin Aung đã thộp cổ hắn ngay sau khi hắn đặt chân lên bến.

- Đa tạ anh ngàn lần. Tội quyết băm vằm hắn ra làm trăm mảnh. Nếu anh cho phép, tôi xin tình nguyện ở lại làm thuộc viên. Tôi sẽ không trở về Ngưỡng Quang nữa.

U-Ban đưa ly rượu cho Seng Ho :

- Uống đi, rượu cẩm này khá lắm. Thuộc viên của tôi tự nấu lấy rượu, rồi ngâm thuốc bổ. Món đuôi cá sấu vũng ngon kinh khủng, mời anh dùng với tôi cho vui.

Seng Ho ngồi xuống một bên. Niềm tức giận của những ngày bị giam như con thú trong cũi tre đã tan biến, nhường chỗ cho một cảm giác nhẹ nhõm, lâng lâng, cảm giác của hai chục năm về trước, hắn và U-Ban là hai sĩ quan chưa vợ, tràn trề nhựa sống phục vụ trong bộ tham mưu đoàn quân Anh viễn chinh của tướng Wingate ở Diến-Điện. Hồi ấy, họ uống rượu với nhau trong một thạch động. Rồi sau đó, một trong hai người biệt tích để trở thành thượng tá U-Ban hét ra lửa của Quốc Tế Tình Báo Sở Trung Hoa lục địa.

Men rượu nồng cháy làm ruột gan Seng Ho cồn cào. Có lẽ vì bụng hắn đói, nhưng cũng vì hắn không quen uống rượu, nhất là thứ rượu đặc biệt của U-Ban, có thể vật ngã con voi khổng lồ. Nếu biết được dã tâm của anh vợ, hắn đã từ chối. Vì U-Ban có pha vào ly rượu một hóa chất có tác dụng mãnh liệt hơn Scopolamine, thường được giới điệp báo dùng để bới móc bí mật giấu kín trong tiềm thức đối phương.

Seng ngồi ngây một hồi, cặp mắt lờ đờ. Giọng nói trầm trầm của thượng tá U-Ban xoắn sâu vào tai hắn :

- Anh bắt đầu say chưa ?

Seng Ho đáp như máy :

- Say rồi.

- Anh biết người ngồi trước mặt anh là ai không ?

- Biết.

- Là ai ?

- Là Paul, bạn thân của tôi ngày xưa trong quân đội.

- Anh đối với tôi ra sao ?

- Bao giờ tôi cũng mến anh. Phương chi tôi lại là em rể anh.

- Tại sao anh không chịu nói hết sự thật ?

- Sự thật nào ? Anh cần gì, tôi xin nói hết. Tôi không thể thiếu thành thật với anh.

- Anh vẫn làm việc cho MI-6 chứ ?

- Vẫn.

- Seng Ho, anh vẫn chưa hoàn toàn thành thật với tôi.

- Trời ơi, tôi xin thề không giấu diếm anh gì hết.

- Vậy MI-6 bố trí cho anh kết hôn với Vêra phải không ?

- Phải.

- Yêu cầu anh nói rõ hơn nữa.

- Vâng, tôi xin đưa thêm chi tiết. Trước khi cưới nàng, tôi vẫn là nhân viên tình báo MI-6 hoạt động ở Tân-gia-ba và Mã-lai dưới danh nghĩa đại diện một công ty mỏ dầu Hòa Lan. Một buổi tối, tôi được thượng cấp mời tới. Tôi thuộc vào thành phần nhân viên nằm lì, thỉnh thoảng cung cấp một số tin tức đặc biệt, nên khi được tin, tôi đinh ninh là tới để nhận công tác mới, ngờ đâu thượng cấp mời tôi đi ăn và đi…. chơi.

- Chơi gái ?

- Vâng. Thượng cấp trực tiếp của tôi là một người Anh. Y rủ tôi xuống xốm yên hoa và đưa tôi vào một hộp đem trung lưu trình diễn thoát y vũ.

- Mà Vêra là vũ nữ ?

- Vâng. Hời ấy nàng mang tên khác, không phải Vêra như sau này làm chủ gia tài kếch sù 250 triệu đô-la của ông vua mỏ kẽm Mã-lai. Vêra múa khỏa thân mỗi đêm 6 lần song chỉ kiếm đủ sống, vì tuy có nhan sắc nàng lại kém cỏi về nghệ thuật múa nhảy nên màn trình diễn của nàng thiếu hấp dẫn. Tính tình của nàng lại thất thường, gần như bốc đồng, khi vui, khi buồn không ai có thể đoán trước. Khi vui, nàng mặc cho khán giả đùa nghịch, nhưng khi nàng buồn, nàng có thể trở nên dữ tợn hoặc thô tục nhất đời.

- Hồi ấy, Vêra còn nghèo lắm, phải không ?

- Phải, con nhà lính, tính nhà quan, nàng kiếm tiền chẳng bao nhiêu mà tiêu xài lại như đế vương. Cho nên nàng rất túng. Nàng lại mắc bệnh. Như anh đã biết, bệnh của nàng là di sản của gia đình : bệnh suyễn. Mỗi đêm, trời đổi gió, cơn suyễn kéo lên, nàng cảm thấy chán đời hơn bao giờ hết. Tôi đã lợi dụng cơ hội này để chinh phục tình yêu của nàng … Tôi đến thăm nàng, ngồi chờ cho đến khi nàng yên giấc ngủ mới trở về. Tôi lại tìm một y sĩ Mã-lai nổi tiếng điều trị cho nàng nữa. Và sau đó một thời gian, nàng khỏi bệnh.

- Anh yêu Vêra theo lệnh thượng cấp ?

- Thoạt đầu là vậy. Nhưng dần dà tôi cảm thấy nàng là một phần của đời tôi. Tôi đã yêu nàng thật sự. Rồi tôi đánh tiếng hỏi nàng làm vợ. Chúng tôi sữa soạn làm lễ thành hôn thì có tin nàng được thừa hưởng gia tài kếch sù 250 triệu đô-la của ông vua mỏ kẽm, cha nàng.

- Anh lầm rồi. Cha của Vêra đã từ trần hồi nàng lên 5 tuổi. Nhà còn lại hai anh em. Anh thì tòng quân, phục vụ trong lữ đoàn của tướng Wingate trong miền thượng du Diến-Điện, còn em thì trôi giạt trên bến tàu Tân-gia-ba với nghề ca kỹ thảm thương.

- Vâng, tôi cũng định nói như vậy. Ông vua mỏ kẽm Mã-lai chỉ là cha nuôi của nàng. Ông có một người con trai duy nhất tử nạn chiến tranh. Vợ ông thiệt mạng trong một tai nạn máy bay trên không phận Thái Bình Dương. Ông nhận Vêra làm dưỡng nữ trong một cơ hội lạ lùng : ông có thói quen cải trang làm người nghèo, lang thang trên đường phố. Chẳng may, đêm ấy, bọn cướp phăng ra tung tích ông, và chặn bắt ông trong một hẻm tối. Ông thoát hiểm nhờ Vêra tình cờ đi qua. Nghe tiếng ông kêu cứu, nàng dừng xe lại, mời ông lên. Bọn cướp bắn theo, Vêra bị trúng đạn vào cánh tay, song vẫn can đảm lái xe đưa ông vua mỏ kẽm về nhà nàng. Ông vua mỏ kẽm thú thật ông là nhà tỷ phú và muốn đền ơn thì nàng nói rằng tuy cần tiền song lại khinh tiền và từ chối không nhận. Nàng cũng không hỏi danh tính và nghề nghiệp của ông vua mỏ kẽm. Thái độ hào hoa của Vêra làm nhà tỷ phú xúc động sâu xa. Ông bèn viết chúc thư, bí mật để lại toàn bộ gia sản cho nàng.

- MI-6 biết ông vua mỏ kẽm để của lại cho nàng nên ra lệnh cho anh lấy nàng làm vợ phải không ?

- Phải.

- Anh là thằng tồi.

- Giá nàng không có 250 triệu đô-la, tôi vẫn yêu nàng và yêu nàng tha thiết. Đặt vào địa vị tôi, anh sẽ thấy tôi là người chồng đau khổ nhât thế giới. Đến khi có tiền nàng đổi hẳn tính tình. Nàng yêu đương bừa bãi, gặp ai cũng hò hẹn. Nàng lạnh nhạt dần dần với tôi. Tôi cố gắng chinh phục tình yêu của nàng nhưng vô hiệu. Nên khi nàng yêu cầu tôi lên miền Bắc, tôi nhận lời liền, bất chấp nguy hiểm, để nàng vui lòng.

- Chứ không phải MI-6 ra lệnh cho anh ư ?

- Sau khi Vêra yêu cầu tôi mới liên lạc với MI-6 để xin chỉ thị.

- Seng Ho, anh vẫn chưa hoàn toàn thành thật.

- Trời ơi, anh còn muốn tôi thành thật đến thế nào nữa. Tôi đã cung cấp cho anh bản danh sách nhân viên MI-6 hoạt động tại miền Bắc. Tôi đã cung khai tất cả bí mật. Nhờ tôi, anh đã có thể đập nát tổ chức tình báo Anh-Mỹ tại miền Bắc Diến-Điện.

- Cám ơn anh. Anh đã tỏ ra thành thật, nhưng vẫn chưa hoàn toàn thành thật. Tôi hy vọng là anh quên, chứ không có ý định giấu diếm. MI-6 đã dặn anh điều tra súng hơi BZ bao giờ chưa ?

Đang lờ đờ như mất hồn, Seng Ho bỗng khựng người. Hắn choàng dậy, nói luôn một hơi :

- Có. Không hiểu sao tôi chẳng còn nhớ gì nữa. Trước ngày tôi lên đường, MI-6 có huấn luyện tôi về tác dụng của hơi độc BZ. Huấn luyện viên cho biết là một số cán binh F-22 của Quốc Tế Tình Báo Sở được võ trang một loại súng riêng, bắn đạn hơi độc BZ. Bởi vậy, bằng bất cứ cách nào tôi phải lọt vào tổng hành doanh của F-22.

- Anh biết tại sao F-22 lập tổng hành doanh trong khu vực ngôi chùa này không ?

- Biết. Thứ nhất là vì địa điểm được bảo mật tuyệt đối, phi cơ không hể chụp hình, đi đường bộ cũng như đường thủy rất khó khăn. Thứ hai là vì trong khu rừng này có một loại cây leo đặc biệt, chất nhựa của nó có thể dùng để chế hơi độc BZ. Theo lời huấn luyện viên MI-6, nếu Tây phương không tiêu diệt được căn cứ này của Tình Báo Sở thì chỉ một vài năm nữa sẽ phải đối phó với một hiểm họa nghiêm trọng không kém hiểm họa nguyên tử.

- Ngoài việc giết thượng tá U-Ban, anh còn nhiệm vụ phụ thuộc nào nữa ?

- Đặt mìn cho tổng hành doanh F-22 nổ tung. Nếu không, tôi phải liên lạc vô tuyến với nhân viên MI-6 để báo cáo về trung ương, xin một toán phá hoại đặc biệt tới tận nơì bằng phi cơ.

- Liên lạc vô tuyến ? Anh liên lạc với nhân viên MI-6 bằng phương pháp nào ?

- Bằng điện đài.

- Hừ, anh phải hiểu rằng khí trời trong vùng này có tác dụng hút phá mọi làn sóng vô tuyến điện… Vả lại, nhân viên của tôi lục soát hành trang của anh, và không thấy gì hết. Anh cất điện đài ở đâu ? Chẳng lẽ anh lại giấu trong người ?

Seng Ho gật đầu :

- Vâng, tôi giấu trong người. Đúng ra trong hàm răng. Hẳn anh còn nhớ là hàm răng trên của tôi bị gãy nát từ 20 năm trước, trong một trận giao phong với quân đội Nhật trong rừng. Tôi cắn vỡ cái vỏ lát-tích của răng cấm là điện đài bắt đầu hoạt động.

Mặt thượng tá U-Ban hơi biến sắc :

- Anh đã cắn nó vỡ chưa ?

- Rồi. Ngay sau khi tôi được giải về đây.

- Nó chỉ phát làn sóng hay chuyển âm ?

- Chuyển âm. Theo chỗ tôi biết, cuộc nói chuyện giữa anh và tôi đang được chuyển đi. vì vùng đất này có đặc tính phá tuyến, tầm hoạt động của nó lại bị hạn chế nên trong đường kính một cây số phải có một đài tiếp vận.

- Ai phụ trách đài tiếp vận ?

- Tôi không biết. Theo chỉ thị, tôi có nhiệm vụ cho máy chạy sau khi lọt vào tổng hành doanh của F-22. Có lẽ nhân viên phụ trách MI-6 phụ trách tiếp vận hiện sống lén lút trong rừng, sát thạch động.

- Không ai có thể bén mảng tới tổng hành doanh trong vòng 10 cây số.

- Biết đâu lại là thuộc viên của anh.

- Việc này không thể xảy ra. Thuộc viên của tôi đã được tuyển chọn kỹ càng. Vả lại, nếu có đài tiếp vận bí mật trong tổng hành doanh, tôi phải biết. Vì tôi có một hệ thống điện tử hữu hiệu, chuyên khám phá những làn sóng lạ. Như vậy nghĩa là…

U-Ban ngừng bặt.

Bỗng hắn nhìn giữa mắt Seng Ho :

- Điện đài trong miệng anh hoạt động được bao lâu ?

Seng Ho đáp, giọng đều đều :

- Một tuần.

U-Ban lặng người một phút rồi lẩm bẩm :

- Đích là hắn… Té ra mình bị lừa….

Mắt Seng Ho chớp liên hồi. Thuốc mê đã tan gần hết. Hắn vùng dậy, vẻ ngơ ngác hiện rõ lên mặt :

- U-Ban… anh Paul ? Đây là đâu ?

Dường như chuông báo động vừa reo vang trong tiềm thức hắn. Trong chớp mắt, hắn mang máng nhớ lại những bí mật xa xăm mà hắn tiết lộ một cách vô tình và dại dột trong cơn mê hóa học. Hắn vung tay, đổ trái bầu khô đựng tàn thuốc và hai cái ly tre đầy ắp rượu xuống đất, giọng giận dữ :

- Trời ơi, anh vừa cho tôi uống thuốc mê.

U-Ban nhún vai :

- Dĩ nhiên. Vì tôi cần biết những chi tiết mà anh cố tình giấu diếm.

Sức mạnh bùng lên trong huyết quản và thớ thịt, Seng Ho vụt nắm lấy tay áo U-Ban :

- Bây giờ tôi đã phăng ra sự thật. Anh không hề có ý định trọng dụng tôi. Chẳng qua anh đóng kịch. Giờ đây, tôi quyết định sống mái với anh.

U-Ban lùi một bước, tay chống nạnh, thái độ khinh bỉ :

- Anh muốn đấu quyền với tôi ư ? Bình thường anh không chịu nổi một atémi của tôi, huống hồ bây giờ anh chỉ là đống giẻ rách….

U-Ban không ngờ tàn lực của Seng Ho lại có thể hung hăng đến mực độ ấy. Seng Ho lao đầu vào ngực U-Ban. Ngón đòn liều lĩnh được phóng ra quá nhanh nên viên thượng tá Tình Báo Sở tránh không kịp. Nếu Seng Ho không bị giam giữ, bỏ đói, bỏ khát trong cũi tre, thì thế thiết đầu thần tốc này đã có thể làm đối phương bị té ngửa thương tích trầm trọng. Tuy vậy, U-Ban cũng xửng vửng trong giây phút.

Mặt đỏ gay vì tức giận (và phần nào cũng vì xấu hổ) U-Ban vung mạnh cánh tay rắn chắc như sắt nguội để chặn miếng đòn thứ nhì của Seng Ho vừa vút tới. Seng kêu ái một tiếng đau đớn. Xương cổ tay hắn bị gãy lìa. Hắn không bao giờ ngờ được U-Ban đã trở thành một võ sĩ cừ khôi, giết người dễ dàng như lấy đồ trong túi áo.

Sự đau đớn không làm Seng nhụt nhuệ khí, trái lại, hắn lại liều lĩnh hơn lên. Tay phải bị thương, hắn dùng tay trái để tấn công. Hắn thu toàn bộ võ công vào sống bàn tay, nhắm giữa hoành cách mô của địch, đánh ra thế quyền chí tử.

Song le tài nghệ của hắn chỉ là hột bụi vô nghĩa đối với thượng tá U-Ban, con người giang hồ của Tình Báo Sở, đã tốt nghiệp nhiều lớp huấn luyện quyền thuật cao cấp ở Bắc Kinh và Mạc-tư-khoa. Vì vậy, Seng Ho đã bị gạt bắn vào vách thạch động. Đầu hắn giáng vào phiến đá lởm chởm, máu tuôn ra xối xả. Seng Ho nằm sóng soài trên đất, và bắt đầu mê man.

U-Ban đứng nhìn nạn nhân một giây rồi bĩu môi, bước nhanh ra ngoài.

Ánh nắng xế trưa gay gắt bị vòm cây cao xanh um cản lại nên chỉ có một lằn sáng xanh man mác tỏa xuống lối đi ngập lá, chằng chịt rễ cây mốc meo, dày đặc rêu xanh ẩm ướt, lốm đốm những chấm đỏ của hoa mẫu đơn vừa nở.

Phong cảnh rừng già thật nên thơ, nhưng thượng tá U-Ban đã mất hẳn tâm hồn thi sĩ của hai chục năm về trước. Hắn không có thời giờ dừng lại, nhìn lên cành cây, có một con chim mỏ đỏ, đuôi vàng, mình gày nhom, cẳng cao lêu nghêu, đứng vắt vẻo, suốt ngày cất lên những nốt nhạc êm đềm, êm đềm như bản "mơ mộng" bất hủ của đại nhạc sĩ Chopin…

Thuở xưa…. thuở còn là sĩ quan tham mưu tình báo của đoàn quân viễn chinh Chindits, U-Ban là một cây Hạ-uy-cầm chứa chan tình cảm. Mỗi khi ngón tay đeo vuốt sắt của hắn thoăn thoắt trên phím đàn là người nghe có thể rớt nước mắt.

Lâu lắm, U-Ban chưa xử dụng lại Hạ-uy-cầm. Vì hắn còn bận chém giết.

Trong phút này, tư tưởng chém giết đang sôi sục trong lòng hắn.

Xa xa, tiếng súng nổ ròn.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đoàng, đoàng….

Đó là hai phát súng trường từ bụi rậm bên trái bắn ra. Tài xế thiếu bình tĩnh, dồn hết sức lực vào chân thắng nên chiếc díp mảnh mai lết một đoạn ngắn trên con đường thoai thoải bị trận mưa vừa trút xuống làm trơn như máng xối. Sau cùng, xe hơi chịu dừng lại trước một gốc đa hai người ôm không xuể, cành lá xòe ra như cái tán khổng lồ.

Chiếc díp chở toán vệ sĩ võ trang vọt lên trước, tên sĩ quan chỉ huy nhảy xuống, hét lớn :

- Tôi đây, đừng bắn nữa.

Từ bụi rậm um tùm ló lên một cái đầu đen sì. Rồi hai cái, ba cái… hai bên đường, phía trước, đầu người hiện lên lố nhố.

Một người mặc đồ trận đen tiến lên ra lệnh :

- Yêu cầu mọi người xuống xe.

Tin Aung đã xuống xe trước khi khẩu lệnh được ban ra bằng giọng gay gắt. Cử chỉ bình tĩnh, hắn giơ tay cho Vêra nắm và đỡ cho nàng tuột xuống, còn tay kia hắn xách cái va-li nhỏ bằng da đen của nàng. Văn Bình hỏi hắn :

- Lính của U-Ban phải không ?

Tin Aung gật đầu :

- Phải.

-Tại sao họ không cho xe hơi chạy nữa ?

- Tôi không rõ. Có lẽ họ thay đổi lộ trình, bắt chúng ta dùng đò máy.

Văn Bình nói, giọng chua chát :

- Ông với U-Ban là bạn thân kia mà… Tại sao U-Ban lại đối xử tàn nhẫn như thế ?

Tin Aung trả cái va-li lại cho Vêra :

- Rồi ông sẽ hiểu.

Một giờ trước, tại Nambum-Ga, khi Văn Bình phẫn nộ về cái chết của Inka, Tin Aung cũng đã chậm rãi nói với chàng "rồi ông sẽ hiểu". Chàng đòi hắn giải thích thì hắn đánh trống lảng không đáp. Khi ấy, chàng không để ý, nhưng giờ đây chàng đã nhận thấy bên trong câu nói cộc lốc của viên xã trưởng thiểu số một sự hàm súc bí mật. Chàng muốn hỏi hắn lần nữa thì toán người núp sau bụi rậm đã tiến tới, dàn thành hàng ngang, súng chĩa vào bọn cảnh bị của Tin Aung.

Tin Aung khoác tay :

- Chắc các anh không lạ gì tôi. Tôi là xã trưởng Tin Aung. Tôi có giấy thông hành đặc biệt do thượng tá cấp.

Tên lính mặc đồ trận đen, chỉ huy toán du kích nói :

- Vâng, tôi biết.

Tin Aung nhoẻn miệng cười thân thiện :

- Nghĩa là anh đã biết tôi áp giải phạm nhân vào tổng hành doanh nộp cho thượng tá…

- Biết.

- Vậy phiền anh ra lệnh cho binh sĩ…

- Không được. Thượng tá vừa đích thân gọi điện thoại cho tôi, ra lệnh cho tôi chặn đoàn xe của ông lại.

- Để làm gì ?

- Ông không có quyền hỏi. Binh sĩ dưới suyền ông phải nộp võ khí cho chúng tôi mới được trở về thị trấn.

- Hành động này trái với sự thỏa thuận giữa thượng tá và tôi. Chúng ta là đồng minh. Vì như vậy, bắt buộc chúng tôi phải chiến đấu. Các anh tuy đông thật nhưng không võ trang hùng hậu bằng chúng tôi. Thử hỏi một tiẻu đội súng trường làm sao ngặn chận được 15 tay súng Tôm-sơn và một khẩu đại liên….

- Hà, hà… xã trưởng bắt đầu dạy quân sự cho tôi. Vâng, tôi xin cám ơn. Nếu xã trưởng còn cho rằng chúng tôi chỉ có súng trường cũ mèm, thì hãy nhìn quanh một lần nữa….

Tên chỉ huy du kích đập hai bàn tay vào nhau và cất tiếng kêu. Tức thời từ phía sau bụi rậm bên tả, bên hữu, nhiều cái đầu khác mọc lên, rồi những khẩu tiểu liên AK-47 từ từ chĩa về phía Tin Aung.

Tên chỉ huy du kích nói :

- Chúng tôi đã bố trí đầy đủ. Lọt vào quãng đường hiểm trở này thì cả một tiểu đoàn súng ống tối tân và đạn dược ê hề cũng chết không còn một mạng, phương chi ông chỉ có 3 xe díp lèo nhèo và một bọn cảnh bị run như cầy sấy. Thôi, ông đừng làm tôi mất thời giờ thêm nữa. Ông bảo họ hạ súng xuống.

Toán vệ sĩ của Tin Aung lần lượt ném súng xuống đất. Mưa vẫn tuôn xối xả.

Tên chỉ huy du kích hất hàm :

- Tất cả lên xe.

Như mèo cụp đuôi, bọn lính cảnh bị lẳng lặng cúi đầu trèo lên xe díp. Tin Aung hỏi tên chỉ huy du kích :

- Còn tôi ?

Tên chỉ huy đáp :

- Ông phải theo chúng tôi vào tổng hành doanh. Chờ cho xe díp chở bọn lính bị tước khí giới của Tin Aung chạy khuất dưới sự hộ tống của hai khẩu trung liên, tên chỉ huy quay lại phía sau, nói líu lo với một vệ sĩ. Văn Bình lắng nghe nhưng không hiểu được gì, mặc dầu căn cứ vào giọng nói uốn lưỡi và một số danh từ quen thuộc chàng biết đó là thổ âm Vân Nam.

Tên chỉ huy vừa dứt lời thì Tin Aung xấn tới phản đối :

- Anh không có quyền làm thế.

Tên chỉ huy nhăn mặt :

- Ông là kẻ nhiều lời nhất trong bọn. Vâng, tôi không có quyền thật, song viên đạn của tôi có quyền. Tôi chỉ tuân lệnh thượng cấp mà thôi. Nếu ông phản đối, xin để dành lát nữa, phản đối trực tiếp với thượng tá.

Bọn lính mặc đồ đen từ trong bụi rậm ùa ra với những cuộn thừng ni-lông to tướng. Trong chớp mắt, mọi người bị trói giật cánh khuỷu ra sau lưng, kể cả xã trưởng Tin Aung. Giây thừng xiết quá chặt nên Sophie kêu đau. Tên chỉ huy du kích cười gằn :

- Đó là chúng tôi còn nhân nhượng. Trói đúng tiêu chuẩn của quân đội giải phóng Trung quốc thì đau đớn gấp năm, gấp mười nữa.

Nghe hắn đe dọa, Sophie nín lặng. Nàng không lạ gì lối trói vô nhân đạo của binh sĩ Hồng Quân trên lục địa. Trói hai cánh tay rồi còn vòng sợi giây quanh cổ, lòng thòng như xích chó, có nơi còn vòng cả xuống háng, khiến nạn nhân bị kẹt cứng, chỉ có thể nhích lên từng bước một.

Văn Bình thản nhiên quật tay ra sau lưng. Hai tên lính lực lưỡng phụ trách riêng một mình chàng, trong khi tên thứ ba lăm lăm khẩu tiểu liên Trung cộng. Có lẽ địch đã biết rõ căn cước điệp viên lừng danh Z.28 nên hai tên du kích của F-22 trói chàng một cách chắc chắn, giây dù được chập lại, nút buộc đè chận lên nhau, trong khi mọi người khác chỉ được trói một giây và buộc một nút.

Địch cho chàng là một kẻ lợi hại, song địch quên mất - hoặc vô tình không biết - chàng là một võ sĩ thượng thặng về Ninjutsu Nhật-Bản và Thần Ảo Công của quyền Thiếu Lâm, nghĩa là những môn võ có một không hai trên thế giới, chuyên về gỡ trói. Nếu muốn, chàng có thể vận công, bẻ gãy xích sắt, giây dù nổi tiếng dai bền, đôi khi dao bén mới cắt đứt, song đối với chàng thì mọi thứ giây trói và mọi cách trói đều chỉ là trò chơi, chàng chỉ cần một phút là tự giải thoát được.

Sau khi trói xong, bọn du kích chụp bao vải đen vào đầu Văn Bình, rồi đẩu chàng ngã xuống võng ni-lông do hai người khiêng. Chàng loáng thoáng nghe tên chỉ huy ra lệnh :

- Cởi ra. Ai bảo mày trói người đàn bà này ?

"Người đàn bà này" chắc là Vêra. Giọng tên chỉ huy lại cất lên oang oang :

- Nhanh lên, kẻo lát nữa thượng tá lại cho mày ăn đạn.

Rồi tiếng đáp của một tên du kích :

- Xin lỗi, em quên khuấy.

Tiếng gã chỉ huy :

- Lần sau mày đừng nên quên dại như vậy nữa.

Tiếng Vêra phản đối :

- Tại sao ai cũng bị trói, trừ tôi ?

Tên chỉ huy đáp :

- Lệnh trên. Bọn tôi chỉ biết chỉ đâu đánh đấy. Bà là Vêra phải không ? Thượng tá đích thân dặn tôi phải biệt đãi bà.

Vêra càu nhàu vài ba tiếng nữa mà Văn Bình không nghe rõ rồi nín thinh. Văn Bình nằm ngửa trên võng, từ từ hít không khí vào lồng ngực để khỏi bị ngạt.

Bọn lính đang xuyên qua rừng nứa vì Văn Bình ngửi thoáng mùi thơm đặc biệt của phấn nứa và của những chồi măng mới nhú sau trận mưa vội vã. Hồi nhỏ, chàng thường vào rừng tre, rừng nứa, rừng giang, đốt lửa nấu cơm nếp cẩm. Nếp cẩm miền thượng phảng phất màu lam dịu dàng, làm cậu bé Văn Bình say sưa. Màu lam là màu truyền thống của rừng núi : cơm màu lam, áo màu lam, khói bốc trên nhà sàn màu lam, đôi mắt của những cô gái nhí nhảnh, thoăn thoắt cũng nhuộm màu lam, màu lam của sườn núi hoàn hôn, màu lam của cánh rừng bình minh quyện sương óng ánh.

Đoàn người đổ giốc thoai thoải rồi đi men suối. Văn Bình nghe tiếng nước chảy róc rách. Dầu không nghe tiếng nước chảy, chàng vẫn biết rõ lộ trình. Vì đường ven bờ suối ở bất cứ khu rừng nào trên trái đất cũng đều có mùi vị độc đáo, mùi hăng hắc của hoa cỏ trên bờ : chàng nhận thấy hoa cỏ trên bờ suối bao giờ cũng thơm đậm hơn hoa cỏ trong rừng, vì được uống nhiều nước mát, khác nào cô gái dậy thì của xã hội "nhất dạ đế vương" Hồng-Kông được nuôi toàn bằng sâm nhung, thừa chất bổ đặc biệt nên da thịt nhất là khả năng lôi cuốn chăn gối thường có mùi hương đặc biệt. Những phiến đá bị nước đào nhẵn nhụi cũng tiết ra một mùi riêng, kẻ đi rừng lâu năm không ngửi thấy. Rồi đến những bụi nấm, mùi những khóm rêu, mùi những tụm cỏ, mùi những đóa hoa chỉ mọc theo giòng suối, luôn luôn thủy chung như bóng với hình….

Lòng Văn Bình rộn lên một niềm vui vô tả. Chàng không nhớ là bị trói gô, đung đưa tên cáng ni-lông, trong tay bọn đầu trâu mặt ngựa, coi tính mạng con người như số không rỗng tuếch. Chàng không nhớ là lát nữa phải đối đầu với thượng tá U-Ban, con hùm xám của Tình Báo Sở ở miền rừng núi hiểm trở Bắc Diến, để rồi bị tiêm thuốc mê, bỏ vào thùng gỗ, chở về Bắc Kinh như món hàng, hoặc lãnh một băng đạn tiểu liên vào ngực, thi thể bị quăng xuống vực làm quà cho chim kên kên….

Núi rừng vốn là tình nhân của chàng nên chàng chỉ nghĩ đến núi rừng, nhớ đến núi rừng, mường tượng đến cuộc đi săn kỳ thú từ Việt Bắc vào Hòa Bình, Thanh Hóa, gót chân lãng tử dẫm lên các buôn Thái trắng, Mèo và Mường, trái tim rung động trước những tấm thân cân đối, kiều diễm phơi trắng dưới ánh trăng vàng huyền diệu….

Kỷ niệm hoan lạc của thời xa xưa bao trùm hết hiện tại phũ phàng. Văn Bình thiêm thiếp ngủ một cách bình thản và hồn nhiên như ngày nào nằm ngủ trên gối của cô gái Mường mát rợi, vừa ở dưới suối lên, chưa kịp mặc quần áo…

Chàng ngủ say đến nỗi được khiêng từ võng xuống thuyền, rồi từ thuyền lên bộ mà không biết.

--------------------------------
1. Gọi là bọt biển Amboseli vì thứ đá này được tìm thấy (năm 1954) gần hồ Amboseli, dưới chân rặng núi hùng vĩ Kilimanjaro, Tanganyika. Bọt biển (meerschaum) là vật liệu quý giá nhất để làm nồi ống điếu. Ống điếu bọt biển là loại ống điếu đắt tiền nhất.
2. Cuốn "Hương viên" (vườn thơm) do tù trưởng Á-rập tên là Abu Abd-Allah al- Nefzawi viết vào thế kỷ thứ 16, dịch sang tiếng Pháp vào thế kỷ 19, sách này chứa đựng mọi bí mật về nghệ thuật yêu đương trai gái.
3. Theo thi sĩ La-mã cổ xưa Horace thì đuôi cá sấu có tác dụng khích động mãnh liệt. Món này hiện được ghi trong thực đơn "nhất dạ đế vương" ở Hồng Kông.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:08 pm

VIII
Đoạn kết


Mãi đến khi tiếng quát tháo inh ỏi đập mạnh vào tai, Văn Bình mới chịu tỉnh dậy. Sự thật là chàng ngủ mê mệt từ lúc bị bắt. Nhưng Tin Aung và nhất là bọn du kích lại đinh ninh là chàng giả vờ. Cái túi vải dày đặc như đêm ba mươi đã được rút khỏi đầu, tuy nhiên dây trói vẫn còn để nguyên.

Văn Bình đang ở trong một gian nhà rộng rãi, trần và tường đều bằng đá ong. Chàng ngồi dựa lưng vào tường, bên trên nệm cỏ khô êm ái. Đối diện chàng, hai tên lính mặc dồ đen đứng sừng sững như tượng đồng hun, lưng đeo lủng lẳng con dao quắm, cất trong bao tre, và một khẩu súng hình thù quái dị mà chàng biết là súng bắn đạn thuốc tê liệt BZ do Tình Báo Sở chế tạo.

Hai tên lính ngó chàng không chớp mắt, dường như sợ chớp mắt tù nhân sẽ biến thành luồng khói bay đi mất.

Văn Bình liếc sang bên. Xã trưởng Tin Aung cũng ngồi dựa lưng vào tường như chàng, vẻ mặt cũng bình thản như chàng, và có lẽ trong sự bình thản còn pha thêm ngạo nghễ nữa.

Nghe động, Tin quay lại, mỉm cười :

- Ông tài thật ! Đến nước này mà còn ngủ được đầy giấc như nằm trên nệm mút ở nhà.

Một tên lính dậm chân xuống đất, giọng gay gắt :

- Im lặng.

Tên thứ hai rút dao quắm sáng loáng múa tròn :

- Còn nói nữa sẽ mất tai, mất lưỡi.

Văn Bình tưởng lão già Tin Aung sẽ ngậm hột thị trước lời hăm dọa dữ dằn. Nhưng ngược lại, hắn vẫm mỉm cười tươi tỉnh :

- Tôi biết là các anh chỉ nói suông mà không dám làm vì lẽ giản dị phải giữ tôi nguyên vẹn để trình lên thượng tá. Mặt khác, các anh không thể cắt tai, xẻo lưỡi tôi vì nếu tôi chết đi, các anh sẽ mất một nơi giải sầu thần tiên mà khỏi phải trả tiền. Bọn gái đẹp của tôi sẽ bỏ xó rừng này về miền xuôi, các anh lại không có thuốc phiện, rượu ngon, thức ăn thịnh soạn mà thưởng thức ê hề như trước nữa…. Vả lại, nhà tôi nuôi toàn ma xó, chúng sẽ theo các anh ngày đêm nếu các anh dám đụng vào người tôi. Chúng sẽ bẻ gãy cổ các anh ròn tan như con nít bẻ khúc mía, rồi nhai gâu gấu. Các anh sinh sống ở Vân Nam chắc đã nghe nói đến ma xó Diến-Điện….

Hai tên lính đang hùng hổ bỗng dịu mặt tức thời. Tên lính thứ nhất nhún vai :

- Ma xó của ông thiêng lắm phải không ? Nhưng vẫn không thiêng bằng khẩu súng của tôi. Người ta vẫn bảo ông là kẻ lắm lời. Có lẽ ông nên nằm nghỉ một lát.

Nói đoạn, tên lính điềm nhiên rút súng ra, bắn giữa mặt Tin Aung một phát. Tiếng súng chỉ kêu "bụp" nho nhỏ, còn êm ái hơn tiếng súng gắn ống cao-su hãm thanh, nghĩa là còn êm ái hơn tiếng nút bấc rút khỏi cổ chai sâm-banh.

Một làn khói trắng lóe ra, Tin Aung ngã vật vào tường. Viên đạn hơi BZ đã làm hắn bất tỉnh.

Đột nhiên, Văn Bình cảm thấy ruột gan nóng như lửa đốt. Chàng có linh tính là biến cố quan trọng đang xảy ra.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Trên thực tế, nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra đồng loạt. Biến cố quan trọng thứ nhất bắt đầu từ lúc Vêra về tới tổng hành doanh du kích F-22.

Nàng ngạc nhiên khi thấy không bị trói, và không bị bịt mắt như mọi người. Song sự ngạc nhiên chỉ thoáng qua, nhường chỗ cho sự phớt tỉnh lì lợm của cuộc sống bèo giạt mà nàng trải qua nhiều năm ở các đô thị tình ái châu Á trước khi trở thành dưỡng nữ thừa hưởng gia tài khổng lồ 250 triệu đô-la của ông vua mỏ kẽm Mã-lai.

Nàng chắc là bên trong nội vụ có một bí ẩn ghê gớm. Nằm trên cáng, có hai tên lính khỏe mạnh khiêng hai đầu, Vêra mỉm cười một mình. Địch nhẹ tay với nàng có lẽ vì muốn nàng lấy tiền chuộc mạng. Dĩ nhiên Vêra sẵn sàng ký chi phiếu để đổi lấy tự do bản thân, nhưng đối với Văn Bình, nàng cũng không tiếc, dầu phải hy sinh một phần lớn gia sản. Bởi vì nếp sống giang hồ đã dạy cho Vêra đức tính khinh tài. Không phải bây giờ có thật nhiều tiền nàng mới tiêu xài rộng rãi, thuở xưa còn là bông hoa luân lạc trong xã hội đèn màu hoan ái, Vêra đã tiêu xài một cách sang trọng. Huống hồ Văn Bình lại là con người duy nhất đã giáng vào cõi lòng giá lạnh của nàng một tiếng sét sưởi nóng !

Nàng ngồi bâng khuâng rất lâu trước ấm trà hoa cúc nóng hổi do một mụ già bưng ra. Trong khi Văn Bình, Tin Aung, Sophie bị đưa xuống nhà giam, nàng được ân cần mời mọc đến một căn nhà sàn lợp tranh, đứng vắt vẻo trên một phiến đá lớn, gần suối nước nóng khói trắng bốc mù mịt.

Nhà sàn không có ai, ngoài Vêra. Tên lính và mụ hầu già khọm khẹm dẫn nàng tới cũng lẳng lặng rút xuống bên dưới.

Vêra nhìn qua cửa xuống suối.

Thủ phủ Đài Bắc khét tiếng Viễn Đông vì những suối nước nóng đầy thơ và mộng, tuy nhiên, nếu so sánh với giòng suối nước trong xó rừng Bắc-Diến này thì còn thua xa. Tuy ở xa, Vêra vẫn nhìn thấy những đóa mẫu đơn tròn trịa đỏ ối khoe sắc trên nệm rêu xanh biếc, dọc giòng nước trắng xóa, phát ra một âm thanh ru ngủ đều đều.

Nước suối ở đây không quá nóng nên người tắm không sợ bị phỏng da. Đặc điểm của nó là khỏa tay xuống thì nóng nhưng đến khi dìm mình thì chỉ âm ấm, toàn thân nhẹ nhõm như trút bỏ được gánh nặng tục lụy, và trong khoảnh khắc cảm thấy ngược giòng thời gian, trở về tuổi thơ tràn trề hứa hẹn và sức sống. Mụ hầu đã tấm tắc ca ngợi đặc điểm thần tiên của suối nước nóng, và xun xoe sắp sẵn đồ tắm cho Vêra nhưng nàng lắc đầu.

Hồi còn là vũ nữ nghèo, nàng thèm tiền kinh khủng, và tự nghĩ kẻ nào có nhiều tiền là có nhiều hạnh phúc. Đến khi làm chủ gia tài khổng lồ cũa ông vua mỏ kẽm, nàng mới thấy rằng 250 triệu mỹ-kim có thể mua được một quốc gia nhưng không mua nổi trái tim. Sống trên nhung lụa, bên cạnh Seng Ho, nàng vẫn cô đơn và lạnh lẽo. Gặp Văn Bình, nàng xúc cảm mãnh liệt như thể cô gái đồng trinh nguyên mới cọ sát với đàn ông lần đầu. Nếu không vướng Sophie, nàng đã chinh phục được chàng….

Tự dưng, nàng ghét Sophie thậm tệ. Sophie biến thành kẻ thù bất cộng đái thiên của nàng. Nghĩ đến Sophie đang ở chung phòng giam với Văn Bình, nàng đập tay vào vách tre, kêu lớn :

- Tức quá, trời ơi !

Có tiếng chân người bước lên nhà sàn mà Vêra không nghe thấy. Rồi giọng nói thân mật, êm ái của một người đàn ông :

- Em ! Em còn nhớ anh không ?

Vêra quay phắt lại :

- Tim nàng như ngừng đập khi ấy. Hai chục năm qua vẫn không thay đổi khuôn mặt và dáng dấp của người đàn ông đối diện. Hai chục năm qua, nàng còn là cô bé lên năm, nhí nhảnh, ngây thơ, song đã có óc nhận xét và trí nhớ như người lớn.

Vêra đứng chôn chân trên nền nhà, cổ họng cứng lại, không thốt được ra lời.

Trước mặt nàng, gọn ghẽ trong bộ quân phục cổ cao màu đen, quấn phu-la đỏ, đội kết đen viền vàng, lưng đeo trễ hai khẩu súng lục là Paul, anh ruột thân yêu của nàng.

Vêra tưởng như đột nhiên lùi lại thời quá khứ xa xăm. Một buổi sáng, cô bé năm tuổi được anh ruột bế lên lòng hôn. Rồi hai anh em xa nhau. Paul đi đâu, nàng không biết. Nàng chỉ biết là Paul tòng quân, hàng tháng gửi thư và tiền về nuôi nàng. Mấy năm sau, Paul biệt tích.

Giờ đây Paul đã trở lại. Anh nàng vẫn còn sống bằng xương bằng thịt.

Nước mắt lã chã, nàng nhảy bỗ vào người anh :

- Paul.

Paul, tức thượng tá U-Ban, ôm chặt Vêra trong vòng tay khỏe mạnh. Nàng ngước mặt nhìn anh. Bỗng dưng anh nàng cúi xuống, mặt sát gần môi nàng. Rồi Paul đặt vào môi nàng một cái hôn kỳ lạ. Dường như từ một phần tư đời người thượng tá U-Ban chưa được hôn đàn bà. Dường như từ một phần tư đời người, thượng tá U-Ban hằng mong chờ giây phút được hôn. Bởi vậy, tất cả sức nóng trong thân thể hắn đều bốc lên và tập trung vào đôi môi run run, mọi thớ thịt, đường gân trên mặt hắn đều cử động một lượt.

Toàn thân Vêra cũng run run. Trong đời, nàng đã được đàn ông ôm hôn ngàn lần, kể cả nụ hôn cuồng say của bọn thanh niên yêu vội, sống vội, và nụ hôn khát vọng điên dại của chồng nàng trong đêm hợp cẫn, tuy vậy, ít khi - dường như là chưa bao giờ - nàng xúc động thật sự. Người ta hôn nàng thì nàng hôn trả, thế thôi. Chứ nàng không mang hết phần xác và phần hồn để hưởng thụ và đền đáp.

Thật là quái lạ, vì cái hôn của anh nàng - cái hôn trên miệng, vốn dành cho trai gái yêu nhau - lại làm cho nàng xúc động sâu xa.

Đến khi U-Ban buông nàng ra mà nàng còn có cảm giác là môi hai người còn dính chặt nhau. Nàng loạng choạng như bị ai xô mạnh vào gáy, mắt nàng mờ tối, nàng chẳng còn thấy gì nữa.

Giây lâu, nàng nới lắp bắp :

- Paul… tại sao anh… ?

U-Ban đáp :

- Paul là tên của dĩ vãng. Em hãy gọi anh là U-Ban. Thượng tá U-Ban.

- U-Ban, tại sao anh lại hôn em như vậy ?

- Vì anh yêu em.

- Dĩ nhiên là anh em phải yêu nhau. Nhưng là yêu nhau bằng tình ruột thịt. Còn anh… em nhận thấy anh yêu em khác hẳn. Dầu sao cũng còn gia đình, còn luân lý, còn xã hội nữa.

- Anh yêu em, anh hôn em, chẳng có gì là trái với ràng buộc gia đình, luân lý và xã hội cả.

- Ngụy biện… Yêu như vậy là loạn luân.

- Em đừng dối lòng nữa. Khi anh hôn em, anh thấy rõ em xúc động mãnh liệt. Nghĩa là trong thâm tâm, em cũng yêu anh bằng một mối tình riêng biệt.

- Không hiểu tại sao em lại như vậy. Nhưng đến lúc bừng tỉnh, em đã kềm hãm được lòng. U-Ban ơi, chúng ta không nên có thái độ nào làm hương hồn song thân dưới suối vàng phải phẫn nộ.

U-Ban đặt bàn tay lên vai Vêra :

- Phải, anh hoàn toàn đồng ý với em rằng anh em ruột yêu nhau là loạn luân. Song nếu em không phải là em ruột của anh thì em nghĩ sao ? Em còn yêu anh nữa không ?

Vêra nín lặng, đưa móng tay lên miệng cắn. Sự việc vừa xảy ra quá đột ngột và phũ phàng đối với nàng. Chưa bao giờ nàng dám nghĩ rằng người đàn ông khôi ngô đứng trước mặt không phải là anh ruột của nàng.

U-Ban ngồi xuống nhìn qua khung cửa, bâng khuâng :

- Em ngồi xuống đây anh sẽ kể em nghe. Và em để anh nói một mạch, đừng ngắt. Giờ đây, em có thể yên tâm vì em không phải là em ruột của anh, nghĩa là em ruột của Paul 20 năm về trước.

Cách đây 25 năm, anh là một thanh niên cường tráng, khả ái, quen tên biết mặt trong giới vương tôn, công tử Tân-gia-ba. Hồi ấy, anh mới 18 tuổi. Anh kiếm được nhiềutiền từ năm 16, nhờ gan dạ, giỏi võ, đa mưu, và một đám bạn bè buôn lậu khét tiếng. Anh chỉ cần buôn một chuyến thuốc phiện là dư tiền tiêu xài cả năm.

Trong số phụ nữ tứ chiến, anh quen một người tuyệt đẹp, tên là Kwe-Lin. Nghe tên, em biét Lin là người Trung Hoa. Lin đã 40, song từ thân hình đến khuôn mặt vẫn trẻ như người 24, 25. Nàng là vợ một phú thương Tàu ở Tân-gia-ba. Bề ngoài, chồng nàng là phú thương, có công ty xuất nhập cảng đồ sộ và tiếng tăm đúng đắn, nhưng thật ra là tay tổ buôn lậu á phiện.

Mỗi chuyến mang hàng về, anh đèu bán cho chồng Kwe-Lin. Gã chồng đi vắng luôn nên anh thường giao dịch với Lin. Và từ liên lạc thương mãi đến liên lạc yêu đương chỉ là một thời gian ngắn, sau ba chuyến nhận hàng. Anh yêu nàng đắm đuối song không dám thổ lộ vì dầu sao nàng gấp đôi tuổi anh, vệ sĩ của gã chồng lại luôn luôn cặp kè một bên, đứa nào cũng to lớn, võ trang đầy đủ, võ giỏi, bắn súng cũng giỏi không kém. Một đêm kia, nhân cơ hội được đứng một mình, anh đánh bạo nắm tay nàng. Nàng giật ra và nói :

- Em biết rồi. Em biết anh sắp sửa tâm sự là anh yêu em. Thôi, anh đừng nói nữa. Em cũng yêu anh, và yêu anh từ lâu.

Sau phút tỏ tình thần tốc ấy, Lin và anh lén lút hò hẹn với nhau. Chẳng may cho anh….

Vêra bật lên như lò-so :

- Gã chồng gài bẫy bắt được phải không ?

U-Ban thở dài :

- Phải. Đúng ra, không phải là gài bẫy. Chẳng qua là lỗi tại anh quá tham lam. Kwe-Lin nói là chồng nàng phong phanh biết chuyện, song anh không tin. Mà có tin nữa anh cũng làm ra vẻ không tin, vì anh chỉ muốn gặp nàng, xa nàng một phút anh không chịu nổi.

Như mọi lần, anh đưa nàng vào một căn phòng kín đáo ở khu người Anh. Nàng vừa cởi áo thì bọn vệ sĩ của chồng nàng ập vào. Tuy tay không, phải đương đầu với bốn tên lực lưỡng, tên nào cũng mang dao nhọn, anh vẫn không nao núng. Có lẽ tình yêu đã giúp anh tăng thêm sức mạnh và tài nghệ. Trong chớp mắt, anh quật ngã được cả bọn. Anh giắt Kwe-Lin chạy xuống đường.

Té ra chồng nàng phục sẵn bên dưới. Một đám đông đầu trâu mặt ngựa vây kín lấy anh. Dầu là vô địch quyền thuật thế giới cũng không địch nổi, huống hồ là anh, vừa mất sức với bốn tên vệ sĩ xong, võ nghệ anh chẳng lấy gì làm xuất chúng. Quần thảo được mấy phút thì anh bị trúng đòn tới tấp, và ngã gục xuống đường. Bọn vệ sĩ ùa vào đâm chém không tiếc tay. Tưởng anh đã chết, chúng khiêng anh vứt xuống biển.

Không hiểu sao lúc ấy anh lại không chết. Sau này, kiểm điểm lại, anh bị đâm cả thảy 22 lát dao, lát nào cũng gần chí tử. Nước lạnh làm anh tỉnh dậy, và tuy bị trọng thương anh vẫn bơi được vào bờ. Anh mò vào nhà người quen để băng bó, nhưng đến nơi thì anh mê man. Hai ngày, hai đêm sau, anh mới thật sự tỉnh dậy. Và anh phải nằm liệt giường đúng 6 tuần mới có thể chống nạng đi khập khiễng được.

Anh trở về nhà thì không thấy Kwe-Lin đâu nữa. Gia nhân cho biết là hai vợ chồng đã xuất ngoại. Đi đâu, họ không biết. Anh chờ một năm mà nàng vẫn tuyệt vô âm tính. Anh đâm ra thất vọng vì cửa hàng của chồng nàng đã được nhượng lại cho chủ khác.

Đúng 14 tháng sau, anh nhận được thư của nàng. Nàng viết cho anh, nhờ một cô bạn gái đưa lại. Định mạng oái oăm đã khiến cô bạn này bị tai nạn xe hơi, gãy xương sống, phải đi Luân-Đôn điều trị. Khi nàng bình phục, trở về Tân-gia-ba thì anh đã dọn đi nơi khác.

Tình cờ anh gặp cô bạn này trong một buổi dạ vũ tại câu lạc bộ sĩ quan. Lúc ấy anh đã cải tà quy chính, gia nhập quân đội, và sau nhiều chiến công, được vinh thăng thiếu úy. Thư của Kwe-Lin chỉ gồm mấy chữ vắn tắt, yêu cầu anh tới nhà một thiếu phụ ở ngoại ô để nhận một bé gái về nuôi.

- Bé gái ấy là em ?

- Đúng. Là em. Vì anh phải theo đơn vị, anh để em lại Tân-gia-ba gửi tiền cho dì phước nuôi ăn học và nhận là em ruột. Anh bị biệt tích trong rừng Nambum-Ga, dì phước tưởng anh chết nên khi em gần trưởng thành đã đưa thư và ảnh của anh cho em. Do đó, em tưởng anh là anh ruột.

Vêra thở dài chua chát :

- Dầu em không phải là em ruột, anh cũng không được quyền yêu. Vì anh là tình nhân của mẹ em. Nếu em đoán không lầm thì mẹ em bị cưỡng bách xuất ngoại, chứ trong lòng vẫn còn yêu anh tha thiết.

- Em đoán không lầm chút nào cả. Kwe-Lin vẫn còn yêu anh, mãi mãi yêu anh.

- Ồ, té ra anh là người đàn ông phụ bạc. Lời thú tội bất ngờ của anh đã làm em ghê tởm.

- Em đừng vội kết tội anh. Chính vì nghe theo di ngôn của Kwe-Lin, vì chung thủy đời đời kiếp kiếp với mối tình đứt đoạn thảm thương mà anh phải lặn lội tìm em dể chắp nối với em.

- ?

- Thật vậy, em hãy bình tĩnh nghe anh giải thích. Đêm bắt được Kwe-Lin hẹn hò với anh, gã chồng ghen tuông mù quáng đã đánh đập nàng thừa sống, thiếu chết, và còn lấy dao rạch mặt nàng để phá hủy nhan sắc kiều diễm của nàng, khiến nàng bị mù, mù cả hai mắt.

- Trời ơi, mẹ em bị mù mắt ư ?

- Sáng hôm sau, một phần vì hối hận, phần khác sợ phe đảng của anh trả thù, gã chồng vội thu xếp tiền bạc, hành trang trốn vào khu rừng biên giới Mã-lai - Thái-Lan, nhập bọn với lực lượng du kích cộng sản, gã chồng là cán bộ kinh tài cao cấp của cộng quân lại có liên hệ máu mủ với viên tư lệnh phó nên đã rút lên mật khu một cách dễ dàng. Viên tư lệnh phó được thuyên chuyển lên mặt trận Bắc bộ Diến-Điện, vợ chồng Kwe-Lin được đi theo để khuếch trương hệ thống kinh tài thuốc phiện.

- Hồi ấy, mẹ em đã khỏi mắt chưa ?

- Chưa, vì con ngươi đã vỡ nát. Nói cho cùng, gã chồng đã trèo non, vượt suối, hy sinh hết sản nghiệp, để cứu chữa cho nàng, nhưng mọi cố gắng đèu thất bại. Trong khi ấy, anh là sĩ quan trung úy trong đoàn tham mưu của đoàn quân Chindits ở Diến-Điện. Và Thưọng Đế đã ban phúc cho anh được tái ngộ Kwe-Lin.

- Tại sao quân đội cũng như dì phước lại bảo là anh bị mất tích trong một cuộc giao phong trong rừng rậm Nambum ?

- Đúng. Trong trận phục kích kinh khủng ấy, anh bị bỏ lại trận địa. Ai cũng tưởng anh đã bị thiệt mạng. Vả lại, không ai dám nán lại vài phút để xem anh còn sống hay chết nữa. Mạnh ai, nấy chạy. Nếu đêm ấy trời không mưa to thì anh đã chết. Nhờ nước mưa, anh tỉnh lại, mặc dầu thương tích đầy mình, anh vẫn cố bò lết tới hốc cây tìm thuốc dấu để rịt.

Và cũng vì trời mưa lớn nên toán di kích tiền sát mới dừng chân, tìm chỗ trú. Anh đang rên rỉ chờ chết thì họ tìm thấy. Khi ấy, anh đã hoàn toàn mê man. Sau này, Kwe-Lin thuật lại anh mới biết là đã mê man luôn trong một tuần lễ, nhiều lần chết đi sống lại.

- Anh gặp mẹ em ở Nambum-Ga ?

- Phải. Mẹ em cùng đi với chồng về Vân-Nam, do sự hộ tống của một đơn vị đặc biệt. Sau khi tìm thấy anh, toán du kích tiền sát cáng anh về nơi Kwe-Lin và chồng tạm trú.

- Ông ta không nhận ra anh ư ?

- Không. Do Kwe-Lin bố trí chu đáo, mặc dầu hai mắt nàng mù. Lúc anh được mang về trại quân thì trời chưa sáng, mọi người còn ngủ. Anh được đặt nằm gần đống lửa, miệng nói mê sảng. Kwe-Lin nằm cách anh một quãng, Kwe-Lin nghe được tiếng anh và nhận ra anh. Em có biết đêm ấy một biến cố trọng đại đã xảy ra không ?

- Không, em biết sao được. Em nóng ruột quá, anh kể ngay cho em đi.

- Ừ nhỉ, khi ấy em còn là cô bé tí xíu. Vả lại, anh đã giữ kín chuyện này, em là người thứ nhất được biết, ngoài mẹ em. Sau khi khám phá ra người bị thương là anh, Kwe-Lin bèn tìm kế giết gã chồng ghen tuông.

- Tuy anh không nói rõ, em cũng đã biết em là con riêng của mẹ em. Đúng hay sai, hả anh ?

- Đúng. Gã phú thương này chỉ là phòng hờ, và là chồng sau. Cha em là một người Tây phương, mất tích khi em đang ở trong bụng mẹ. Thôi, để anh kể tiếp, Kwe-Lin lợi dụng trời tối, chích độc dược vào máu cho gã chồng hờ. Hắn tắt thở ngay, và ai cũng cho là bị gió độc. Từ đó Kwe-Lin săn sóc thương tích cho anh. Đoàn du kích tới Vân-Nam thì anh ra khỏi cơn mê. Và anh cũng nhận ra Kwe-Lin.

Anh ở lại chiến khu cho đến ngày hoàn toàn bình phục. Đồng thời, Kwe-Lin cũng khỏi một con mắt, nhờ sự tận tình của một danh y tu tiên trên núi.

- Rồi anh tác hợp với mẹ em, sinh sống trong hạnh phúc ?

- Ồ, nếu vậy thì đúng là một thiên tình sử diễm tuyệt và anh đã không trở về đây, lao tâm khổ trí để đưọc gặp em. Viên tư lệnh lữ đoàn để ý tới Kwe-Lin sau khi nàng đặt chân tới mật khu. Hắn ngỏ lời thì nàng cương quyết từ chối. Hắn là người đàn ông quân tử nên câu chuyện được bỏ quên một thời gian.

Cho đến ngày anh bình phục lên trình diện hắn. Anh đinh ninh được hắn thu dụng, ngờ đâu hắn sai nhân viên đưa anh xuống nhà giam, chờ ngày hành quyết.

- Không lấy được mẹ em, hắn giết anh để trả thù, như vậy đâu còn là quân tử nữa ?

- Em lầm rồi, hắn không biết mảy may về mối tình giữa anh và mẹ em. Vả lại, anh liên lạc với Kwe-Lin một cách rất kín đáo. Sở dĩ hắn phải giết anh vì chánh ủy ra lệnh. Bộ Chánh Trị trong lữ đoàn không muốn kết nạp một sĩ quan tình báo Tây phương, sợ lộ bí mật. Được tin, Kwe-Lin tới năn nỉ viên tư lệnh. Hắn bèn đưa ra một đề nghị thực tế : vì yêu nàng, hắn sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả hy sinh mạng sống, nhưng ngược lại, nàng phải làm vợ hắn, và người tình của nàng phải cam kết là không được đi lại chăn gối với nàng lén lút trong thời gian hắn còn sống. Kể ra, đề nghị của hắn không phải là quá đáng, vì muốn cứu anh, hắn phải lừa bộ tham mưu chánh trị vào một ổ phục kích và giết sạch, xong xuôi, hắn lại phải thủ tiêu luôn bọn thuộc viên dính dáng vào cuộc phục kích này nữa. Tóm lại, hắn phải sát hại một lúc gần một trăm cán bộ cao và trung cấp để đổi lấy mẹ em.

- Anh đã chấp thuận đề nghị của hắn .?

- Kwe-Lin và anh đã bàn bạc rất lâu, và nhận thấy không còn lối thoát nào khác. Viên tư lệnh bắt Kwe-Lin và anh đốt hương thề độc với trời đất. Rồi hắn trở thành chồng của Kwe-Lin.

- Còn anh ?

- Theo sự thỏa thuận giũa bộ ba, anh được phép ở lại trong lữ đoàn, phục vụ dưói quyền viên tư lệnh, để có thể gần gủi Kwe-Lin. Em nghe rõ chưa ? Chỉ được gần gũi thăm viếng, chớ không được nghĩ đến chuyện khác. Vì vậy anh không ưa chủ nghĩa cộng sản mà đã thành sĩ quan cộng sản cao cấp, và là chuyên viên uy tín của Quốc Tế Tình Báo Sở nữa.

- Tại sao anh lại rời lục địa về miền Bắc Diến-Điện ?

- Vì Kwe-Lin. Vì mẹ em không còn nữa.

- Trời ơi, mẹ em đã chết !

- Phải, chết vì một chứng bệnh trầm kha kéo dài nhiều năm tháng, bệnh ung thư phổi. Trong giờ phút lâm chung, nàng đã dặn dò anh. Khi ấy, em đã lớn, 16 hoặc 17 tuổi. Nàng trăn trối là xuống suối vàng vẫn tiếp tục yêu anh, và muốn anh kết hôn với đứa con gái duy nhất để tiếp tục mối tình ấy trên dương thế. Mẹ em chết rồi, anh vận động thuyên chuyển xuống miền Nam. Một thời gian sau,anh mới tìm ra tung tích em, và gửi thư cho em.

Vêra lắc đầu, giọng đau đớn :

- Nghe anh nhắc lại dĩ vảng, em buồn có thể chết đưọc. Em rất thương mẹ em, nhưng anh ơi… em là người ưa sống với kỷ niệm bất dịch, em muốn anh là anh ruột của em hơn là tình nhân của mẹ em.

Thượng tá U-Ban nói, dáng điệu ngao ngán :

- Trong những ngày sống xa em, anh cầu mong cho thời gian trôi qua thật nhanh, và anh được chắp cánh để chóng gặp gỡ. Nhưng đến khi em đáp phi cơ lên Nambum-Ga, anh lại cầu mong cho thời gian lùi lại, vì anh cảm thấy sự thật rất phũ phàng. Dầu sao anh cũng gấp đôi tuổi em, anh đã già rồi….

- U-Ban, anh đừng vội chán nản. Anh hãy bỏ khu rừng quạnh quẽ và rùng rợn này, về Tân-gia-ba với em. Biết đâu đô thị náo nhiệt sẽ làm em thay đổi ý kiến. Em không còn là con bé nghèo túng, phải nhảy múa toát bồ hôi, trẹo mắt cá chân mỗi đêm trên sàn gỗ để kiếm tiền nuôi thân nữa. Anh đã biết chưa ? Anh đã biết em là một trong những phụ nữ giàu nhất thế giới chưa ?

- Biết.

- Với tiền bạc, chúng ta sẽ tạo lại cuộc đời mới. Anh về với em nhé ?

- Không được đâu, em ạ.

- Khổ quá, tiền của em là tiền của anh. Gia sản của em lên tới 250 triệu đô-la, em….

- Anh đã bảo với em là sự thật rất phũ phàng. Sự thật là gia sản khổng lồ này không phải trên trời rơi xuống. Mà là một kế hoạch được xếp đặt tỉ mỉ. Ông vua mỏ kẽm Mã-lai, cũng như em, chỉ là con cờ của một tổ chức quốc tế hùng hậu, cực kỳ hùng hậu.

- Phải chăng anh muốn nói rằng ông vua mỏ kẽm để lại gia sản cho em là theo một kế hoạch được bố trí từ trước, chứ không phải vi có thiện cảm đặc biệt với em ?

- Phải.

- Ai bố trí ra kế hoạch ấy ?

- Quốc Tế Tình Báo Sở.

- Gia sản 250 triệu đô-la là của ai ?

- Quốc Tế Tình Báo Sở.

- Quốc Tế Tình Báo Sở chuyển 250 triệu đô-la vào tay em làm gì ?

- Sự thật là ông vua mỏ kẽm hoạt động dưới sự điều khiển của Tình Báo Sở. Một phần vốn do Tình Báo Sở xuất ra. Phần lớn còn lại là do ông vua mỏ kẽm kinh doanh thành công. Tuy nhiên, hắn có cử chỉ lươn lẹo sau khi kiếm được quá nhiều tiền. Tình Báo Sở bèn tìm cách thủ tiêu hắn và đưa em ra làm bình phong tiếp nhận 250 triệu đô-la.

- Anh gọi em lên Nambum-Ga là để nhân danh Tình Báo Sở đòi lại 250 triệu đô-la ?

- Không phải. Thứ nhất là để giải quyết vấn đề gia đình. Thứ hai, mới là công vụ. Em được quyền tiếp tục làm chủ số tiền khổng lồ ấy, và tự do tiêu xài. Dĩ nhiên, cũng như trong quá khứ, một phần số vốn sẽ được nhân viên Tình Báo Sở dùng vào việc buôn bán á phiện, vàng, kim cương và võ khí để lấy tiền lời đài thọ cho du kích quân Mã-lai, Nam-Dương, Thái-Lan, Diến-Điện và Cao-Miên.

- Ồ, em tưởng là của cải riêng của ông vua mỏ kẽm nên mới nhận lãnh. Còn là kinh phí hoạt động của Trung Hoa cộng sản thì em xin trả cho anh.

- Vêra, em đừng nói vậy.

- Em sống tự do quen rồi. Em nghèo thật đấy nhưng thà chịu nghèo còn hơn chịu mất tự do.

- Có ai hạn chế tự do của em đâu ?

- 20 năm sống với cộng sản, anh đã thay đổi tư tưởng hoàn toàn. Anh tha lỗi cho em, đừng bắt em phải tranh luận với anh về một vấn đề mà em cũng như anh đã có lập trường dứt khoát. Nhờ tiền anh gửi về, em đã được học trong trường đạo, dì phước đã dạy em cách phân biệt giữa tự do và nô lệ….

- Vêra, thật anh không ngờ….

- Em cũng không ngờ…

- Anh muốn em có thời giờ suy nghĩ lại. Em không khác Kwe-Lin là bao. Nàng là cả đời anh. Nàng đã ra đi mãi mãi. Trên dương thế, chỉ còn em. Thiếu em, anh chết mất.

Thượng tá U-Ban ôm ghì lấy Vêra. Nàng đứng yên trong vòng tay rắn chắc và hăm hở của gã đàn ông dày dạn phong sương. Lòng nàng rào rạt lạ thường. Nàng cảm thấy không thể xua đuổi hắn. Một sợi giây vô hình đã buộc nàng vào thượng tá U-Ban. Tuy nhiên, sự gần gũi này chưa phải là tình yêu. Hình ảnh người anh cả đã in sâu từ 20 năm nay trong óc Vêra. Dầu địa vị này đã hoàn toàn thay đổi, nàng vẫn không quên được quá khứ. Lần đầu tiên, nghe thuật lại cuộc sống bi thương của mẹ, nàng bị xúc động, nhưng chỉ mấy phút sau, nàng không còn nhớ gì nữa. Hiện tại đối với Vêra đã trở thành tuồng kịch giả tạo. Duy có dĩ vãng là thật.

Mắt Vêra đang ươn ướt bỗng ráo hoảnh. Nhận thấy sự biến đổi sâu xa trong cơ thể nàng, thượng tá U-Ban bàng hoàng :

- Em mệt ư ?

Nàng gật đầu :

- Vâng, em không được khỏe.

U-Ban nhìn đồng hồ tay :

- Em cần nghỉ ngơi cho lại sức. Tối nay, chúng mình sẽ ăn cơm với nhau và thảo luận tiếp. Bây giờ anh phải về văn phòng, giải quyết vụ mấy người bị bắt.

- Anh nên trả tự do cho họ.

- Khu vực này được coi là tối mật, bất cứ người nào bén mảng tới cũng bị thủ tiêu. Phương chi họ lại là nhân viên của địch. Văn Bình là kẻ thù bất cộng đái thiên của Tình Báo Sở, Tin Aung là đứa xanh vỏ đỏ lòng, còn Sophie là gián điệp cái… Anh sẽ xin chỉ thị thượng cấp, may ra họ được giải về trung ương.

- Còn Seng Ho ?

- Hắn vẫn còn sống nhăn. Em có yêu hắn không ?

- Em rất khó trả lời. Yêu Seng thì không bao giờ em yêu, nhưng dầu sao hắn cũng là chồng em. Em lấy hắn vì nhớ đến anh, người anh ruột đáng kính và đáng yêu của đứa con gái bồ côi, thiếu tình thươnh gia đình, sống vất vưởng ở Tân-gia-ba.

U-Ban ngẫm nghĩ một phút rồi nhún vai bước ra cửa. Ngồi lại một mình trong gian nhà sàn trống trải, Vêra ôm mặt khóc rưng rức.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Tiếng khóc tức tưởi lọt vào tai thượng tá U-Ban. Mới xuống hết cầu thang, hắn dừng lại. Trước tiếng khóc của Vêra, hắn cảm thấy toàn thân run rẩy. Hắn muốn trèo lên, ôm Vêra vào lòng, nói cho nàng biết hắn sẵn sàng hy sinh tất cả cho nàng. Ruột gan U-Ban nao nao : Vêra giống mẹ nàng như đúc. Như Kwe-Lin, nàng sẽ trẻ mãi không già.

Đang gục vào hai bàn tay, nước mắt đầm đìa, Vêra bỗng nín bặt.

Nàng vừa nghe âm thanh lách cách của vỏ khí chạm nhau, kèm theo câu hỏi trống không hách dịch của thượng tá U-Ban :

- Dựng xong chưa ?

Có tiếng đáp :

- Thưa, chừng 2 giờ đồng hồ nữa. Thòng lọng bện bằng dây đay thật tốt. Treo cổ hùm cũng được, huống hồ là cổ người.

Nghe hai tiếng "thòng lọng" và "treo cổ", Vêra toát bồ hôi. Nàng bước nhanh lại cửa sổ, nhìn xuống bên dưới. Thượng tá U-Ban đang trò chuyện với một viên đại úy du kích quân. Phía sau là một tiểu đội binh lính mặc đồ đen, võ trang tối tân, đứng xếp hàng hai.

U-Ban nói :

- Đốc thúc cho bọn nó làm nhanh hơn nữa. Chậm lắm là trong vòng 60 phút ta sẽ bắty đầu cuộc hành quyết. Trừ phi….

Viên đại úy đáp :

- Thưa, tôi và cả tiểu đội đã lục soát tỉ mỉ song không thấy gì hết.

- Có lục soát thân thể không ?

- Thưa, mới đầu là hành lý, sau đến áo quần. Bất cứ bộ phận nào trên người có thể giấu được máy vô tuyến vi ti, tôi đều đích thân xem xét cẩn thận.

- Không thấy gì hết.

- Lạ thật. Không lẽ chúng nuốt máy vào bụng.

Thượng tá U-Ban cau mày một giây. Sự an toàn của F-22 với những vỏ khí gián điệp tối tân, những phòng thí nghiệm ăn sâu dưới đất sẽ bị đe dọa trầm trọng nếu địch đưa lọt máy chuyển âm vô tuyến vào nội địa tổng hành doanh.

U-Ban định bước rảo thì Vêra ló đầu ra, gọi giật lại. Tiếng kêu của Vêra như gáo nước mát dội vào cõi lòng nóng rực của thượng tá U-Ban. Hắn vẫy nàng :

- Em xuống đây !

Vêra mất bình tĩnh nên suýt vấp ngã nhiều lần. U-Ban giang rộng cánh tay, ôm nàng, giọng âu yếm :

- Em ra văn phòng với anh nhé ?

Vêra nhìn thẳng vào mắt U-Ban :

- Vâng. Tuy nhiên, em muốn anh trả lời một vài thắc mắc. Vì em có cảm tưởng là anh không giữ đúng lời hứa với em.

U-Ban cười rộ :

- Anh hiểu rồi. Em cần biết tại sao bọn nhân viên của địch lại sắp sửa bị treo cổ. Nếu họ chịu khai là cất giấu máy chuyển âm vô tuyến ở đâu thì anh có thể nhân nhượng… Đằng này họ nhất định không nói gì hết. Dường như họ cất giấu trong thân thể. Bắt buộc anh phải giết họ để tìm máy. Em biết không ? Nhân viên trắc giác của anh đã khám phá ra làn sóng vô tuyến điện lạ trong căn cứ.

- Rừng rậm rộng hàng ngàn mẫu mà máy chuyển âm vô tuyến lại có thể nhỏ như khuy áo….

- Dùng phương pháp trắc giác tân tiến thì timìra không khó em ạ. Vì vậy anh biết đích xác là trong khoảng tròn đường kính 100 thước, lấy giòng suối nước nóng làm tâm điểm, hiện có một máy vô tuyến đặc biệt của địch. Máy sẽ thông báo cho địch biết những điều ta muốn che đậy. Lần đầu tiên, an ninh F-22 bị xâm phạm. Cho nên miễn cưỡng anh phải đem họ ra hành hình.

Thượng tá U-Ban ngưng một phút, vẻ mặt đang tươi vui bỗng sa sầm. Rồi hắn thở dài :

- Em chưa nói rõ song anh biết em cố gắng can thiệp cho một người đàn ông trong bọn tên là Văn Bình, đại tá Văn Bình. Anh có tai, có mắt khắp nơi, nên mọi việc đều được phúc trình đầy đủ. Hiện em có cảm tình đặc biệt với hắn.

- Yêu cầu anh….

- Anh không ghen tuông đâu.

- U-Ban, anh đừng nói như vậy.

- Ồ, anh đã đọc rõ trong mắt em những ý nghĩ thầm kín mà em dằn ép trong óc. Anh sẵn sàng đấu quyền với hắn. Kẻ nào thua phải chết. Kẻ nào thắng sẽ được làm chủ thể xác và tâm hồn em.

- U-Ban ! Em van anh !

- Anh gấp đôi tuổi em, em chống chế nữa làm gì, vô ích. Bây giờ, anh cho phép em xuống nhà giam, khuyên nhủ Văn Bình nộp máy vô tuyến cho anh.

Thượng tá U-Ban ngoảnh sang bên, dõng dạc ra lệnh cho vệ sĩ. Vêra há miệng toan nói, song lại nín thinh. Nghĩ đến Văn Bình, lòng nàng rào rạt khác thường.

Vì vậy, nàng không cảm thấy bực bội khi U-Ban kéo nàng vào lòng lần nữa, mơn trớn say sưa, trước mắt thèm muốn của bọn thuộc viên.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Vêra không còn nhớ tới Seng Ho nữa, nhưng Seng Ho vẫn nhớ tới nàng.

Thượng tá U-Ban ra khỏi thạch động được một lát thì Seng Ho, người chồng đáng thương, lồm cồm bò dậy. Hắn không mệt mỏi tuy thuốc mê còn vương trong máu. Cánh tay bị gãy lìa do miếng atémi tàn nhẫn của U-Ban cũng không làm hắn đau đớn.

Danh dự bị chà đạp khiến Seng Ho khỏe dội lên. Thực tế đã chứng tỏ Vêra lợi dụng hắn. Seng không hy vọng nàng yêu chồng thành thật song không thể tiêu cực và nhượng bộ đến mức tự ái bị va chạm nặng nề. Hắn là người không biết ghen nhưng đến khi ghen thì hung dữ gấp chục lần con sư tử trúng đạn.

Hắn quyết tìm Vêra. Quyết tìm tình địch. Để làm ra lẽ.

Tưởng Seng còn mê man, tên lính gác ngồi vắt vẻo trên ghế đá, súng dựng một bên, phì phèo điếu xì-gà tẩm á phiện. Seng từ từ đứng dậy, tiến đến sau lưng, nhanh như cắt. Seng phạt sống bàn tay ngang cổ tên lính. Nạn nhân ngã chổng kềnh trên nền thạch động. Tên lính há miệng toan kêu cứu thì Seng đã bịt chặn kèm theo câu hăm dọa :

- Im ngay… nếu không mất mạng.

Nạn nhân nằm cong queo trên mặt đất, dáng điệu thần phục. Seng rút tay ra, quắc mắt :

- Những người mới đến hiện bị giam ở đâu ?

Nạn nhân lắp bắp :

- Sau bờ suối.

- Gần hay xa ?

- Gần. Chỉ cách đây hơn trăm thước.

Vậy mày đưa tao tới.

- Nguy lắm. Vì có vọng gác bên ngoài.

- Thì mày dẫn tao tới cửa sau. Nào, mày có chịu tuân lệnh hay không ?

Nạn nhân lảo đảo đứng dậy.

Ánh nắng bên ngoài ùa vào tròng mắt quen với bóng tối của Seng Ho, khiến hắn phải nhắm lại. Hắn dí mũi dao vào lưng tên lính, dặn lại lần nữa :

- Mày nhớ đấy ! Hễ có cử chỉ khả nghi là tao thọc sâu mũi dao, mày sẽ chết không kịp trối. Dẫn tai đến nhà giam, rồi tao cho mày tự do.

Tên lính run cầm cập, cất bước không vững, hắ hắn loạng choạng, Seng Ho cười thầm. Chắc nạn nhân là du kích, còn xa lạ với thủ đoạn tình báo đầy cạm bẫy. Nếu có đôi chút kinh nghiệm, nạn nhân đã phải nghĩ kế thoát thân. Vì ngoan cố cũng chết mà ngoan ngoãn cũng chết. Múi chanh đã vắt hết nước thì ném vào sọt rác.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Văn Bình cúi xuống, nâng Tin Aung ngồi dậy. Mùi hơi độc BZ phảng phất trong gian nhà rộng làm chàng hơi choáng váng. Thấy Văn Bình kê đầu Tin Aung lên đệm rơm, rồi mở nút áo, sửa soạn làm hô hấp nhân tạo, tên lính phá lên cười :

- Ông làm gì thế ? Ông muốn lão già tỉnh lại ư ?

Văn Bình lách sang bên. Tên lính rút trong túi ra một ống xơ-ranh bằng lát-tích, đựng non nửa một thứ nước xanh nhạt. Đây là loại xơ-ranh kim được gắn luôn vào ống, chỉ tiêm một lần rồi vứt bỏ, hiện được thịnh hành ở Tây phương. Hắn cắm phập mũi kim vào cánh tay Tin Aung đang nằm thiêm thiếp.

Chỉ trong vòng 30 giây ngắn ngủi là Tin Aung mở mắt. Và hắn chỉ cần 30 giây đồng hồ khác là trở lại bình thường. Lão xã trưởng Nambum-Ga không tỏ vẻ sửng sốt khi thấy tên lính nhìn hắn bằng luồng mắt đùa nghịch và miệt thị.

Văn Bình chưa kịp cất tiếng thì cánh tay của Tin Aung đã vung lên, nhanh như lằn chớp. Tên lính bị đòn trúng cằm ngã lăn xuống nệm cỏ. Tên lính thứ hai dựa lưng vào vách tường rút khẩu súng lục bắn đạn hơi độc ra khỏi vỏ, song Văn Bình đã phóng độc cước vào cườm tay. Hắn rú lên rồi ngã chận lên bụng bạn.

Tin Aung nhìn quanh quất rồi nói nhanh :

- Ông xem chung quanh có ai không ?

Văn Bình đáp :

- Không.

Giọng xã trưởng Nambum-Ga thều thào song Văn Bình nghe rõ mồn một :

- Ông Văn Bình, yêu cầu ông nhớ kỹ những lời tôi sắp nói ra. Hẳn ông đã biết thượng tá U-Ban là anh ruột của Vêra.

- Biết.

- Còn tôi là…

- Đồng minh của tôi. Khi ông xách giùm va-li cho Vêra, tôi thấy ông lén bỏ vào một cái hộp nhỏ. Sau này, khi bị nhân viên của U-Ban lục soát tỉ mỉ, tôi mới nhớ lại cái hộp nhỏ này là máy vô tuyến. Ông giấu máy vô tuyến trong sắc của Vêra vì tiên đoán nàng sẽ không bị khám xét. Vì biết rằng U-Ban đã khám phá ra vai trò bí mật của ông. Phải không, ông Tin Aung ?

- Phải. Tôi là nhân viên MI-6 ở Bắc bộ Diến-Điện. Tôi lại biết công tác của Seng Ho, song Seng Ho lại không biết rõ về tôi. Seng có nhiệm vụ lọt vào tổng hành doanh của U-Ban, mở máy ghi âm giấu trong răng, còn tôi có nhiệm vụ tiếp vận.

- Tiếp vận về đâu ?

- Dường như MI-6 có một trạm vô tuyến dọc biên giới. Mục đích của MI-6 là thu thập những bằng chứng chi tiết và cụ thể về sự hiện diện của Tình Báo Sở tại Bắc bộ Diến-Điện… Căn cứ này rất kiên cố, bom hạng nặng từ pháo đài bay B-52 dội xuống cũng chẳng ăn thua vì mọi kiến trúc quan trọng đều ở dưới đất, bên trên có núi đá. U-Ban đã phong thanh khám phá ra vai trò thầm kín của tôi nên phen này tôi quyết một mất, một còn. Phiền ông giúp tôi một tay : ông triệt hạ bọn cận vệ của thượng tá U-Ban, còn tôi sẽ phá hủy hệ thống điện tử tối tân và kho võ khí hơi độc BZ của họ.

Văn Bình đạp toang cánh cửa ra vào. Chàng đinh ninh được thở không khí tự do, ngờ đâu lại phải đối đầu với một mũi dao nhọn hoắt. Chàng la lên :

- Seng Ho !

Seng Ho đáp lại tiếng la hân hoan của Văn Bình bằng cái lắc đầu khinh bạc :

- Phải, tôi là Seng Ho. Nhưng anh đừng tưởng tôi đến đây để cứu anh.

Dứt lời, hắn tiến lên, quét lưỡi dao nửa vòng. Thế công của Seng Ho rất nhậm lẹ, gọn gàng và hữu hiệu nên Văn Bình phải trổ tài ngay trong phút giao đấu đầu tiên. Vả lại, chàng phải vận dụng toàn bộ võ nghệ để khuất phục Seng Ho trong nháy mằt vì bọn cận vệ của thượng tá U-Ban có thể dẫn xác tới bất cứ lúc nào. Thay vì né sang bên, hoặc lùi lại theo thủ pháp thông thường, Văn Bình lại bước vọt lên hai bộ, đồng thời xử dụng ngọn cước chân trái quạt lia vào ống quyển đối phương. Hoảng hồn, Seng Ho nhảy lên cao để tránh đòn. Song ngọn cước chân phải của Văn Bình đã chờ sẵn. Phát atémi ashi-no-ko đánh bằng mặt trên của bàn chân đã phang vào hông đối phương, trong khoảng trống của xương sườn thứ I1 và I2. Trong lúc hớ hênh, Seng Ho không đỡ kịp đòn nên ngọn cước trới giáng hạ trúng huyệt mê Inazuma đã làm hắn té nhào xuống đất, lưỡi dao văng ra xa.

Nghe tiếng động, Văn Bình quay lại. Vêra nhìn chàng, giọng trách móc :

- Anh là người tàn nhẫn.

Văn Bình chưa kịp trả lời thì Tin Aung đã hét lớn :

- Cúi đầu xuống.

Văn Bình phóng mình, nằm nhoài trên nền đất. Hai tên, cận vệ mặc đồ đen vừa chạy vào, tên thứ nhất chĩa khẩu súng bắn hơi BZ về phía chàng bóp cò. Phát thứ nhất trệch ra ngoài, hắn mất thăng bằng nên chưa thể bắn phát thứ hai.

Tuy đã già, xã trưởng Tin Aung vẫn phản ứng thần tốc không kém trai tráng. Hắn lao đầu vào bụng tên cận vệ cầm súng bốc khói. Hai người lăn lông lốc trên nền nhà, Tin Aung chận lên trên. Tên cận vệ thứ hai đang loay hoay với khẩu BZ chưa rút kịp ra khỏi bao thì Văn Bình đã xô hắn chúi mũi vào tường. Hắn ngã phịch, một nửa sọ bị vỡ, máu chảy lênh láng xuống mặt.

Bên ngoài, tiếng chân người chạy rầm rập và gọi nhau ơi ới. Chỉ trong vòng vài ba phút nữa, địch sẽ ồ ạt kéo tới. Văn Bình nhìn thấy thượng tá U-Ban rút súng ra cầm tay. Tiến thoái lưỡng nan, chàng liếc Tin Aung, ngầm hỏi ý kiến.

Trong khi ấy, hai khẩu tiểu liên Trung cộng đen sì đã hiện ra gớm ghiếc trên ngưỡng cửa. Văn Bình bóp cò khẩu súng BZ. Chàng nghe tiếng kêu the thé, rồi hai khối thịt lực lưỡng ngã đè lên nhau. Chàng bóp cò tiếp, để triệt hạ tên địch thứ ba vừa đặt chân vào hàng hiên. Song chàng chỉ nghe một tiếng động khô khan. Bì đạn trống rỗng. Chàng bèn ném khẩu súng vô tích sự xuống đất.

Thượng tá U-Ban chạy vụt tới. Văn Bình hơi ngạc nhiên khi thấy xã trưởng Tin Aung tiến nhanh về phía Vêra. Nhưng chỉ trong chớp mắt, chàng đã hiểu. Dường như đọc được tư tưởng của lão xã trưởng khôn ngoan và quỷ quyệt, Vêra bước lùi lại.

Song bàn tay thép của Tin Aung đã nắm đưọc vạt áo Vêra, và xoay mạnh một vòng. Thượng tá U-Ban đứng sừng sững giữa nhà, miệng thét lớn :

- Bỏ khí giới xuống.

Văn Bình đành vứt lưỡi dao mà chàng vừa lượm được. Trước mặt, sau lưng chàng, mũi súng chĩa tua tủa. Toàn là súng tiểu liên AK. Chàng chỉ cử động nhẹ là hàng chục viên đạn sẽ găm vào người.

Đáp lại khẩu lệnh của thượng tá U-Ban, xã trưởng Tin Aung lại cười the thé :

- U-Ban, anh tiến thêm bước nữa thì nàng sẽ chết.

Thì ra Tin Aung đã kề lưỡi dao sắc như nước vào cổ Vêra. Cổ nàng trắng toát, nổi bật cán dao màu nâu, đọng máu khô. Lão xã trưởng đã nắm được yếu điểm của thượng tá U-Ban. Văn Bình nhìn hắn bằng luồng mắt khâm phục. Mưu kế của hắn rất giản dị mà chàng không nghĩ ra. Vả lại, dầu chàng nghĩ ra, chàng cũng không dám thi hành…

Bọn cận vệ từ phía sau xấn lên, dí súng vào người Tin Aung. Lão xã trưởng kéo Vêra lùi lại :

- U-Ban, tôi cảnh cáo anh lần nữa, lần cuối cùng. Nếu thuộc viên của anh tiến tới, miễn cưõng tôi phải hạ sát nàng. U-Ban lắc đầu :

- Anh nói dối. Anh biết rằng tôi sẽ băm vằm anh ra trăm ngàn mảnh nếu Vêra thiệt mạng.

Tin Aung cũng lắc đầu :

- Nhưng về phần anh, anh cũng biết rằng tôi phải giết Vêra để tự cứu. Yêu cầu anh ra lệnh cho cận vệ hạ súng.

Vêra nhìn Văn Bình và thượng tá U-Ban, mắt đỏ hoe. U-Ban năn nỉ với Tin Aung :

- Anh coi chừng…. lưỡi dao quá sắc có thể gây thương tích cho nàng.

Tin Aung đáp :

- Súng tiểu liên AK của bọn cận vệ cũng có thể gây thương tích cho nàng nữa. Đối với tôi thì sống chết là chuyện thường, cũng thường như lên giường ngủ mỗi đêm vậy. Anh đừng hòng áp đảo tôi. Tôi cũng biết rằng anh không hề sợ chết. Nhưng anh không thể đứng nhìn em gái anh chết. Anh chấp nhận điều kiện của tôi đi, tôi không thể chờ đợi thêm nữa.

- Anh hãy thả nàng ra.

- Không được. Anh phải thi hành điều kiện của tôi trước : bọn cận vệ bỏ súng, anh sẽ hộ tống chúng tôi ra khỏi rừng cách đây nửa cây số, tôi sẽ trả tự do cho nàng.

Thượng tá U-Ban nhìn Vêra, vẻ mặt thiểu não :

- Em bị đau không ?

Vêra đáp :

- Không. Tôi nghiệp cho anh… Anh đừng chấp nhận điều kiện của hắn. Công việc trên hết… U-Ban ơi, anh hy sinh cho em quá nhiều.

U-Ban thở dài :

- Không… em là lẽ sống của anh… anh không thể không chấp nhận điều kiện của hắn. Em Vêra, anh yêu em có thể chết được, em biết như vậy không ?

Vêra thở dài theo :

- Em biết.

- Vêra yêu anh không ?

Vêra ứa nước mắt :

- Phút này, lòng tự hỏi lòng, em cảm thấy yêu anh tha thiết thì đã muộn.

Cả Tin Aung lẫn Văn Bình đều trố mắt nhìn Vêra. Nàng quay về phía Văn Bình :

- Thượng tá U-Ban là Paul, hẳn anh đã biết. Song Paul không phải là anh ruột của em.

U-Ban suy nghĩ một phút, rồi ra lệnh cho bọn cận vệ :

- Thôi, bọn mày xếp súng vào góc nhà rồi ra ngoài.

Cả bọn nhao nhao. Tên cầm đầu góp ý kiến :

- Thưa thượng tá….

U-Ban gạt ngang :

- Mày đừng nhiều lời vô ích.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   Sat May 27, 2017 6:08 pm

Trong gian nhà rộng thênh thang chỉ còn lại ba người đàn ông và một người đàn bà. Thượng tá U-Ban cởi băng súng lục và đạn, vứt xuống đất, chận giày lên trên, rồi nói :

- Chúng ta là bọn giang hồ nên tôi muốn giải quyết nội vụ trên tinh thần giang hồ…. Các anh lọt vào tổng hành doanh F-22 với mục đích phá hoại công trình của tôi. Giết người, như Vêra hoặc tôi, chỉ là phụ. Và tôi cũng không tin là các anh giết Vêra. Dầu sao các anh cũng là con người. Con người điệp báo lại nhiều rung cảm hơn mọi người nào khác. Vả lại, Vêra hoàn toàn vô tội… Vậy, tôi xin đề nghị với hai anh… đề nghị một cuộc giao đấu. Chúng ta sẽ đánh nhau cho đến chết.

Tin Aung đáp :

- Đề nghị của anh rất hấp dẫn. Tuy nhiên, tôi cần lưu ý về các điểm thắc mắc sau đây : chúng mình sẽ giao đấu ở đâu ? Nếu anh giết được chúng tôi thì chẳng nói làm gì, nhược bằng anh là kẻ bị giết thì thuộc viên của anh sẽ ập vào, dùng võ khí uy hiếp. Vì vậy, tôi đề nghị giao phong trên một vùng đất "trung lập".

- Anh yên tâm. Thằng U-Ban này nổi tiếng là quân tử, không bao giờ thèm lường gạt ai. Lát nữa, tôi sẽ đưa các anh ra bãi trực thăng. Thắng được tôi, các anh chỉ cần trèo lên, mở máy, trở về Nambum-Ga. nhưng tôi cần xác nhận trước là các anh sẽ bị tôi đánh bại. Vì nghĩa giang hồ, tôi sẽ dặn cận vệ mai táng hai anh trên đỉnh đồi nhiều gió và nắng sáng, nhìn xuống sông Irrawaddy.

Văn Bình cười gằn :

- Tin Aung đã gần lục tuần nên tôi đề nghị anh và tôi giao đấu mà thôi.

U-Ban nhún vai :

- Như vậy tôi càng đỡ mệt.

Vêra xen vào :

- Đừng anh… anh đừng giao đấu nữa. Chúng ta nên tìm một cách dàn xếp khác, hơn là cách chém giết. Vả lại….

Thượng tá U-Ban nghiêm mặt :

- Em định nói rằng đối thủ là đại tá Văn Bình, Z.28 võ nghệ siêu quần bạt chúng phải không ?

Vêra chống chế :

- Em không muốn nói như thế.

U-Ban khoác tay :

- Anh đã đọc thấy trong mắt em. Em yêu anh song vẫn còn cảm tình với hắn. Vì em, anh không thể nhân nhượng nữa.

Hắn hất hàm hỏi Văn Bình :

- Đấu võ khí hay quyền thuật ?

Văn Bình búng ngón tay, cử chỉ ung dung :

- Môn nào cũng được. Xin anh tùy nghi lựa chọn.

- Vậy thì dùng súng. Nếu anh chấp thuận, tôi sẽ sai nhân viên đi lấy.

- Chấp thuận.

- Anh thích dùng kiểu nào ?

- Kiểu nào cũng được.

- Tôi đề nghị súng côn.

- Đồng ý. Nhưng mỗi khẩu chỉ có một viên đạn nạp sãn mà thôi. Mội người chỉ bắn được một lần. Sau đó thì tùy nghi.

- Càng hay. Từ xưa đến nay, chưa bao giờ tôi phải dùng đến viên đạn thứ nhì mới hạ được kẻ địch. Nào, mời hai anh ra trước.

Tin Aung nói :

- Anh sẽ đi đầu. Tôi và Vêra ở giữa. Sau cùng đến Văn Bình. Dĩ nhiên anh là người quân tử, nhưng còn bọn cận vệ, nghề nghiệp này lại bắt chúng ta phải thận trọng.

Thượng tá U-Ban nhăn mặt :

- Giờ đây, tôi mới biết anh hoạt động cho MI-6 thì đã muộn. Trong nhiều năm nay, tôi cứ đinh ninh anh là kẻ hèn nhát, theo chủ nghĩa thời cơ. Hỏi thật anh, anh là nhân viên MI-6 từ khi nào ?

Xã trưởng Tin Aung đáp :

- Ồ, từ trước khi anh là sĩ quan tham mưu của quân đoàn Chindits.

Nắng đầu chiều vàng rực xuyên qua cành lá cổ thụ xum xuê chiếu hàng ngàn vệt sáng lung linh trên con đường đất đỏ thoai thoải lên giốc. Bọn cận vệ rục rịch đi theo thì thượng tá U-Ban quát :

- Tất cả đứng lại. Cứ tiếp tục công việc như thường lệ.

Miệng phì phèo thuốc lá, Văn Bình thản nhiên bước như kẻ nhàn du. Thượng tá U-Ban cũng thọc một tay vào túi quần, chốc chốc lại dừng lại, chờ Vêra. Mặt nàng tái nhợt, nàng bị xã trưởng Tin Aung kèm bên. Nếu lưỡi dao sáng loáng của Tin Aung không lộ ra ngoài, chực sẵn để đâm giữa tim Vêra thì người lạ có thể tưởng lầm đây là cuộc hóng mát.

Hai tên lính từ công sự bê-tông dưới đất nhảy lên. Thượng tá U-Ban ra lệnh cho chúng đứng yên ở chỗ cũ. Đi được một quãng nữa, U-Ban chỉ sang bên trái :

- Phía sau cây đa cao nhất là cái sân rộng, dùng làm bãi đáp trực thăng. Các anh thấy tấm lưới ngụy trang không ? Trực thăng riêng của tôi đậu khít bên, xăng luôn luôn đầy ắp. Nhưng các anh cũng không cần hỏi rõ làm gì. Vì tôi không tin là các anh được diễm phúc trèo lên trực thăng. Trong 5 phút nữa, cận vệ của tôi sẽ dàn hàng rào danh dự, và tống tiễn các anh sang thế giới bên kia theo lễ nghi quân cách.

Văn Bình chia bàn tay, như thách thức :

- Vậy chúng ta bắt đầu ngay mới kịp.

Thượng tá U-Ban ra hiệu cho Vêra và Tin Aung ngồi xuống phiến đá trắng nhẵn thín. Đoạn hắn lấy hai khẩu súng ru-lô ra, tháo bỏ hết đạn.

Văn Bình nói :

- Mời anh lấy trước.

U-Ban lắc đầu :

- Không. Tôi xin mời anh.

Văn Bình lượm một viên đạn, lắc đi lắc lại trên gan bàn tay rồi đút vào ru-lô. Giới anh chị Viễn-Tây thường làm đối thủ kinh hồn bạt vía với khẩu súng côn chỉ đựng một viên đạn duy nhất. Viên đạn này nằm gọn trong một lỗ của ru-lô, miệng súng được kê vào thái dương đối thủ, rồi ngón tay từ từ, lạnh lùng lảy cò. Nếu chưa đến lỗ chứa viên đạn thì súng chỉ kêu một tiếng "cách" rùng rợn. Cả thảy có 6 lỗ, chứa 6 viên đạn, nhưng nhiều khi bóp cò 5 lần là chỉ nghe tiếng "cách". 5 lần nạn nhân tưởng chết, hóa ra viên đạn chưa nổ. Văn Bình và U-Ban cũng dùng một viên đạn như giới cao-bồi Viễn-Tây, nhưng lại không lảy cò hú họa. Cả hai đều tính toán trước, nhằm nổ viên đạn ngay trong lần bóp cò thứ nhất.

U-Ban gài súng vào thắt lưng rồi nói :

- Chúng ta sẽ đứng cách nhau 10 thước. Hễ một bên rút súng thì bên kia mới được rút súng tự vệ.

Văn Bình cười nhạt :

- Nhưng nếu không bên nào chịu rút súng ?

U-Ban dề môi :

- Tôi không tin.

Nói đoạn, hắn đi lùi, hai mắt vẫn nhìn Văn Bình trừng trừng. Cuộc giao đấu theo truyền thống cao-bồi châu Mỹ bắt đầu, trịnh trọng như trận đọ súng để rửa nhục giữa hai kẻ thù thượng lưu quý tộc của thế kỷ 17. Đi được một quãng ngắn, U-Ban dừng lại, Văn Bình cũng dừng lại theo. Lưng chàng hơi cong, hai chân chàng khuỳnh khuỳnh, tay chàng thõng xuống, chuẩn bị đối phó.

Từ xa, U-Ban thét :

- Mời anh.

Văn Bình đáp, giọng nhã nhặn :

- Tôi chấp anh rút súng ra trước.

Nhanh như điện xẹt, khẩu súng ru-lô đã nằm gọn trong bàn tay thượng tá U-Ban, và tiếng đoàng khô khan nổi lên. Nhưng Văn Bình lại phản ứng nhanh hơn, toàn thân chàng xô hẳn sang bên tả như bị một sức mạnh phi thường vô hình kéo ngã, và chàng nằm sóng soài trên đất, viên đạn rời khỏi nòng súng của thượng tá U-Ban bay vèo qua. Nếu Văn Bình đứng thẳng ở vị trí cũ, chàng đã lãnh thần Chết vào giữa trái tim.

U-Ban bủn rủn tay chân khi thấy Văn Bình vẫn còn súng, khẩu súng vẫn an vị trong tay. Văn Bình chỉ cần bóp cò là thượng tá U-Ban trở thành cái xác không hồn.

Tuy nhiên, chàng không bắn trả. Chàng ném khẩu súng xuống nền đất sỏi cứng đét, giọng điềm tĩnh :

- Vì Vêra, tôi tha chết cho anh.

Mặt U-Ban đỏ như gấc chín. Hắn tiến tới, giọng đầy tức giận :

- Anh là kẻ xảo quyệt… Khi tôi bắn, anh lại tìm cách né tránh. Anh cứ hạ tôi đi, tôi không thèm van xin. Chẳng qua anh không dám lảy cò, anh giả vờ cao thượng để chinh phục Vêra.

Vêra cất tiếng, nước mắt ràn rụa :

- Em lạy hai anh… Tinh thần em đang bấn loạn đến cùng cực. Nếu các anh cứ tiếp tục chém giết nhau thì em chết mất.

Thượng tá U-Ban múa quyền trước mặt Văn Bình :

- Anh có giỏi thì hãy vào đây.

Văn Bình rút thuốc lá ra hút :

- Ồ, tưởng anh biểu diễn môn võ siêu đẳng gì, té ra anh rủ tôi đánh vật… Môn đô vật vốn dành cho bọn người vai u thịt bắp… Dầu sao chúng ta cũng là võ sĩ thượng lưu…

Văn Bình đã chủ ý nói đùa. Môn vật Sumô của Nhật-Bản trở thành một khoa học chiến đấu từ lâu và được thế giới học hỏi. Trên thế giới ngày nay, võ sĩ đô vật có đến hàng ngàn, khán giả mộ điệu có đến hàng chục triệu. Trông những núi thịt khệnh khạng trèo lên đài, với cái bụng phệ thiếu thẩm mỹ của võ sĩ đô vật, nhiều người tưởng rằng môn đấu này chỉ dành riêng cho hạng đàn ông quá khổ. Trên thực tế, đô vật là môn đấu của mọi giới.

Đồ sộ thì như Havstack Calhoun, được coi là con voi của làng đô vật, xấp xỉ 340 lí. Nhỏ bé thì có Little Bruiser, anh lùn vô địch, cao chưa đầy 80 phân tây, mà nặng 60 kí. Y là võ sĩ đô vật lùn cao nhất và nặng nhất trong đám lùn vô địch đô vật thế giới. Phụ nữ thì có những Lita Marez hoặc June Sherrel, với bắp thịt tròn trịa, rắn như bê-tông cốt sắt, và bộ ngực hùng vĩ, đạn chống xe tăng cũng vị tất xuyên phá nổi…

Văn Bình là một trong những võ sĩ đô vật hữu hạng. Chàng thích đánh vật, song không phải là môn vật chân chỉ hạt bột, mà là môn vật tự do, mọi thế đòn đều được chấp nhận. Dĩ nhiên, chàng học đánh vật là để gia tăng số vốn võ thuật, nhưng phần nào chàng nhận thấy môn đô vật chứa đựng nhiều nét rí rỏm, thích hợp với nếp sống trẻ lâu của chàng. Thật vậy, làng đô vật quốc tế đã có nhiều bộ mặt kỳ dị : có võ sĩ chuyên đeo mặt nạ thượng đài, giấu tên thật và diện mạo, có võ sĩ cải trang thành Batman - tuồng vô tuyến truyền hình Mỹ mà trẻ con ưa thích - có võ sĩ nuôi tóc dài lượt thượt như dân bít-tơn, hýp-py của thời đại mới, lại có võ sĩ cạo đầu trọc lốc, và bôi xi-ra bóng loáng, tưởng như có thể trượt tuyết bên trên được.

Thượng tá U-Ban nghiến răng :

- Đô vật đối với anh là môn võ hạ lưu ư ? Tôi không tin… Anh phải khinh nó vì lẽ giản dị anh chưa hề học nó. Nếu anh là người quân tử thì hãy thù tiếp ngọn cước này của tôi…

U-Ban phi thân, đạp luôn hai chân vào mặt Văn Bình. Hắn đã phối hợp giữa đô vật và võ karaté. Cái đá liên hoàn của hắn lại phảng phất sự nhanh nhẹn phi thường của võ Thiếu Lâm Trung Hoa và Sambo Nga-la-tư… Nghĩa là thượng tá U-Ban thuộc vào loại võ sĩ thượng thặng.

Trong dĩ vãng, Văn Bình đã nhiều lần chứng kiến những cuộc giao đấu trên đài thuần túy bằng cước. Có lần chàng phải sửng sốt trước lối đá liên hoàn của một võ sĩ Nam-Mỹ. Hắn đá hết chân phải, đến chân trái, đá một chân đến đá hai chân, bằng đầu bàn chân, gan bàn chân, đầu gối, xương ống quyển, tuyệt nhiên từ đầu chí cuối trận đấu không khi nào dùng đến hai tay hoặc bộ phận nào khác trong thân thể.

Văn Bình cuộn người né tránh. U-Ban rít lên :

- Giỏi !

Lần này, hắn đá theo thế gọng kềm, nghĩa là đá từ trái sang phải và từ phải sang trái, đá từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên, bốn ngọn cước được phóng ra kế tiếp nhau, nhanh như chuyển động bằng máy. Trước phép đánh bủa vây này, Văn Bình thể né tránh như trước. Chàng bèn áp dụng nguyên tắc dĩ độc trị độc, dùng cước thuật để chế ngự bốn cái đá hung dữ của địch.

Văn Bình tung hai chân lên. Rầm một tiếng, hai khối thịt chạm nhau mạnh mẽ. Thượng tá U-Ban là tinh hoa đô vật, song về sức lực chưa đủ để đối phó với võ sĩ nội ngoại công vẹn toàn như Văn Bình. Vì vậy hắn bị hất ngã xuống đất.

Nhưng hắn đã vùng vậy ngay. Và ngọn cước liên hoàn lại tiếp tục vút tới. Văn Bình lại đá với một sức mạnh tăng bội. Lần này U-Ban bị đánh văng ra xa, và nằm mọp trên đống sỏi vụn lởm chởm, một tia máu đỏ rỉ ra bên mép.

Tin Aung buông Vêra, chạy vội tới để nâng U-Ban lên. Tuy nhiên, cử chỉ mã thượng của viên xã trưởng Nambum đã được đáp lại bằng một thế phản công hiểm ác tuyệt vọng của thượng tá U-Ban. Tin Aung vừa cúi mặt xuống thì bàn tay phải của U-Ban đã đâm thẳng vào tử huyệt nằm giữa hai con mắt.

Tin Aung chỉ kịp thét lên một tiếng ngắn rồi ngã nhào. Hắn giãy vài ba cái nhè nhẹ rồi thẳng đơ.

Miếng atémi đột ngột của thượng tá U-Ban đã giết chết viên xã trưởng.

Văn Bình nổi giận, định phóng đòn kết liễu tính mạng U-Ban thì Vêra đã cản tay chàng lại, nước mắt tuôn ròng ròng :

- Em van anh…. Anh tha cho U-Ban. Anh hãy vì em mà tha cho U-Ban….

Văn Bình đứng dậy, quay mặt ra chỗ khác. Vêra quỳ xuống một bên U-Ban, hôn lấy hôn để vào cặp môi đầy máu của hắn.

Vêra siết chặt bàn tay bắt đầu run lạnh :

- Anh đau lắm không ?

Hắn thều thào :

- Anh bị miếng đòn cực hiểm, gan ruột chắc đã bị nát bấy. Anh chẳng còn sống bao lâu nữa đâu. Mấy giờ rồi em ?

Vêra nhìn đồng hồ tay :

- Ba giờ đúng.

- Thế hả ? Có lẽ em nhìn sai. Anh không tin bây giờ đã ba giờ.

- Đúng anh ạ. Ba giờ một phút.

- Vậy em phải đi ngay.

- Em bỏ anh nằm đây sao được.

- Không, em phải đi ngay. Vì bom sắp nổ.

- Bom nào ? Bom nào sắp nổ ?

- Bom gài trong các địa đạo của tổng hành doanh. Sợ đối phương lẻn vào phá hoại nên anh đã chôn chất nổ khắp nơi. Trước khi ra đây, anh đã đề phòng bị thua bằng cách vặn kim đồng hồ 3 giờ 15 phút thì mọi trái bom đều nổ tung đồng loạt. Anh không dè thời gian trôi qua mau quá, mới đó mà đã gần hai tiếng đồng hồ… Nếu anh giết được Văn Bình, anh sẽ trở về tháo ngòi nổ. Duy có anh là có thể làm việc ấy. Anh chết, em ở lại một mình, tội nghiệp em ghê… Trời ơi, sau 20 năm cố gắng, 20 năm bố trí, 20 năm chờ đợi, 20 năm dệt mộng thần tiên... để rồi tất cả đã tan tành trong vòng một phút phù du….

Vêra nức nở :

- Không, anh không chết, anh sẽ còn sống. Em sẽ dìu anh lại trực thăng….

Nụ cười héo hắt nở trên môi nhầy nhụa của U-Ban :

- Anh lừa hắn. Trực thăng đã hỏng động cơ. Em hãy chạy theo con đường sỏi vụn này độ một trăm thước, rồi rẽ sang bên phải, có một lối đi nhỏ được dùng để kéo gỗ. Em men theo lối kéo gỗ này, chạy thật nhanh xuống chân đồi. Phía ấy, anh không đặt lính gác. Cuối đường mòn này, em sẽ thấy một căn nhà gỗ lợp gồi. Bên trong có chiếc xe díp riêng của anh. Xe này chạy được trên bộ và dưới nước. Em hãy lái thẳng xuống sông…

Vêra hỏi :

- Còn đại tá Văn Bình ?

Nghe nói, Văn Bình cúi xuống. Trong một cử chỉ hồi phục ghê gớm, thượng tá U-Ban chồm dậy, phóng luôn hai tay vào cổ họng Văn Bình. Trúng đòn, chàng phải táng mạng như xã trưởng Tin Aung. Song chàng đã nhanh mắt tránh khỏi, và thuận tay gạt nhẹ. Thượng tá U-Ban ngã xuống, miệng vẫn mĩm cười.

Vêra xỉa xói vào mặt Văn Bình :

- Anh là kẻ sát nhân.

Văn Bình lùi lại :

- Hắn định giết tôi trước À ra bây giờ cô yêu hắn… Yêu hắn là quyền của cô, nhưng cô nên nghe tôi chạy xuống chân đồi vì bom sắp nổ.

- Còn lâu… còn những 15 phút nữa bom mới bổ.

- Cô điên rồi. Phải mất ít ra 10 phút mới chạy được xuống chân đồi, thoát khỏi tầm ép của bom.

- Tôi không điên chút nào hết.

- Vậy cô ở đây làm gì ?

- Để giữ không cho anh chạy.

- Trời ơi, thế thì lát nữa cả cô lẫn tôi đều chết.

- Dĩ nhiên, đó là mục dích của tôi.

- Tại sao cô không muốn tôi sống nữa ?

- Anh tự hỏi lòng anh thì biết.

- Hừ, cô thù ghét tôi đến thế kia ư ? Cô nên nhớ rằng trong bất cứ cuộc đấu võ nào giữa hai điệp viên lợi hại, thế nào cũng có người chết. U-Ban đã mưu tìm cái chết. Chính tôi đã tha hắn…

- Tôi không hề thù ghét anh. Anh mới thù ghét tôi. Văn Bình ơi, anh là người đàn ông vô tình nhất trên thế giới. Vì vậy, tôi phải giết anh, anh phải chết dưới chân tôi. Anh sẽ phải chết tan xác trên ngọn đồi lộng gió này…

- Té ra….

- Anh đừng đóng kịch nữa. Anh thừa biết là tôi yêu anh, tôi có thể nhảy vào đống lửa vì anh.

- Riêng tôi, tôi cũng….

- Yêu cầu anh đừng nói hết. Vì tôi không muốn thất vọng nặng nề. Để cứu mạng sống, anh sẽ xác nhận là yêu tôi, yêu tôi từ sau khi mới gặp, yêu tôi tha thiết. Nhưng đó chỉ là tình yêu theo đơn đặt hàng, tôi không thể tin được. Suốt từ Ngưỡng Quang lên Nambum, tôi luôn luôn theo dõi anh từng giây, từng phút. Tôi nhận thấy anh nghiêng về Sophie.

- Em lầm…

- Hy vọng là tôi lầm. Nhưng lòng tôi đã quyết. Anh phải chết ở đây.

- Và cô cũng chết.

- Tôi thèm chết hơn thèm sống. Chết bên anh, tôi sẽ thắng Sophie. Người đàn bà sống trên đời với trái tim nứt rạn vì tình nhân đã chết thì sống không bằng chết, sống còn khổ hơn nữa.

- Giờ này Sophie đang bị giam trong tổng hành doanh. Lát nữa, bom nổ nàng sẽ chết.

- Không. Sophie đã trốn thoát. Lính gác tưởng nàng là phụ nữ chân yếu tay mềm, ngờ đâu nàng đã dùng nhu đạo giết tên cận vệ rồi trốn vào rừng.

- Nếu thoát chết vì bom nổ, nàng cũng chết vì thú dữ, rắn độc và đói rét. Rừng Nambum còn nguy hiểm hơn sa mạc giết người Gôbi nữa, Vêra ạ.

- Nhưng chỉ nguy hiểm với người lạ, không thể nguy hiểm với Sophie, từng sống ở Nambum, hiện mang giòng máy bộ lạc Kachin trong huyết quản, Sophie nhắm mắt cũng không lạc trong rừng. Nàng sẽ trở về Ngưỡng Quang, gặp lại anh, và… Không, không, tôi quyết ngăn chặn cái hạnh phúc đốn mạt ấy….

Một tiếng nói từ sau cất lên, điểm tĩnh song đượm vẻ thách thức :

- Ai bảo hạnh phúc là đốn mạt ?

Cả Vêra lẫn Văn Bình đều quay lại.

Sophie bằng xương bằng thịt không biết ở đâu hiện ra, trong tay lăm lăm khẩu tiểu liên Trung cộng, ngón tay lại hườm sẵn trên cò. Đứng xa 5 thước, Văn Bình không hy vọng đoạt súng của nàng. Phương chi lại là súng tiểu liên, có thể khạc ra một lúc cả xạt-giơ đạn 9 li mà một viên cũng đủ mang chàng xuống chín suối.

Sophie chĩa súng về phía Vêra :

- Tôi đã nghe hết những lời hăm dọa xuẩn động của cô. Hạng đàn bà tầm thường và ích kỷ như cô thì sống vô ích.

Vêra hầm hầm nét mặt :

- Trước tình yêu, người đàn bà nào cũng tầm thường và ích kỷ như nhau. Bằng chứng là hiện giờ cô sửa soạn bắn tôi. Cô muốn tôi chết để được tự do bù khú với Văn Bình. Cô hèn lắm. Người tình của cô rồi sẽ khinh bỉ cô. Tôi sẽ chết, nhưng lại chiếm được cảm tình trọn vẹn của chàng. Vì vậy, tôi sẵn sàng chết. Sophie, hẵy bắn vào giữa mặt tôi, hủy hoại dung mạo tôi, để chàng có thể nhớ cô nhiều hơn.

Cơn tức giận làm toàn thân Sophie run rẩy. Nàng vứt khẩu tiểu liên xuống chân, rồi chống nạnh :

- Bây giờ, chúng mình đều tay không. Tôi xin nhường cô tấn công trước.

Vêra phá lên cười :

- Sophie bé bỏng ơi, em là đồ ngu. Em ngu hơn mọi người ngu trên thế gian này. Trong cuộc tranh dành tình ái, phụ nữ mà hiền như bụt thì chết. Em nhớ chưa ? Phụ nữ phải như rắn độc mới được. Em quá ngu, quá ngây thơ nên em phải chết.

Hoảng hốt, Sophie cúi xuống, toan lượm súng thì Vêra quát lớn :

- Bỏ tay ra.

Không hiểu Vêra đã lấy khẩu súng lục nàng đang cầm trong tay ở đâu. Nhưng một phút sau, Văn Bình nhớ ra liền. Đó là khẩu súng chỉ đựng một viên đạn của Văn Bình. Trong vòng 5 thước, Vêra khó thể bắn trúng. Vả lại, chắc đâu lần thứ nhất có đạn. Vì vậy, Văn Bình đứng yên, không can thiệp.

Sophie chỉ run sợ thoáng qua rồi trở lại bình tĩnh. Vêra tiếp tục thét :

- Quay lưng lại.

Sophie nhún vai :

- Chị giết tôi đi.

Vêra cười nửa miệng :

- Em Sophie ơi, chặng dại gì chị bắn em. Chị sẽ trói em nằm còng queo trên đồi, để cho chó sói ăn thịt.

- Thất bại. Văn Bình sẽ không khi nào giúp chị thực hiện kế hoạch tàn nhẫn và độc địa ấy. Văn Bình sẽ không khi nào bỏ đi, mặc em nằm một mình ở đây.

Vêra ngước nhìn Văn Bình :

- Anh định ở lại với Sophie phải không ?

Văn Bình nín lặng. Nếu là tỉ phú, chàng cũng sẵn sàng đổi sản nghiệp của chàng để khỏi ở vào hoàn cảnh éo le này. Đúng ra, chàng chẳng yêu ai, hoặc yêu thì yêu cả hai. Chàng muốn sống những giờ phút thần tiên với họ thì đúng hơn. Cho nên chàng không thể tây vị.

Sophie cũng nhìn chàng, giọng van lơn :

- Văn Bình, anh nói đi ?

Văn Bình đã học Ninjutsu và thần ảo công, song hai võ thuật kỳ lạ này chỉ giúp chàng tránh né tài tình đòn đánh của đối phương, chứ chàng chưa thể độn thổ, thăng thiên hoặc phân thân như Tề Thiên Đại Thánh. Thành ra chàng cố thu mình thật nhỏ lại mà vẫn như trời trồng, hứng chịu tia lửa từ mắt hai người đẹp ghen tuông, tranh dành kịch liệt tỏa ra.

Thì động đất xảy ra.

Những tiếng động ầm ầm liên tiếp làm núi rừng rung chuyển dữ dội. Ầm ầm, ầm ầm, hàng cây cổ thụ sừng sững như trêu gan trời cao đã gục ngã trong chớp mắt. Nền đất như dựng ngược, cát, sỏi, đá, gỗ bay loạn xạ trong bầu không khí vụt trở nên đen ngòm như pha mực tàu.

Cố thượng tá U-Ban, tư lệnh F-22 của Quốc Tế Tình Báo Sở, nói đúng. Bom đã nổ.

Sophie bị bắn lên cao và rớt trúng phiến đá trắng đối diện Văn Bình, ngay từ giây đồng hồ đầu tiên của tai họa. Vêra cố chạy về phía Văn Bình, như để tìm sự an toàn, song sức thổi của chất nổ đã xô nàng ngã gục. Cả hai thiếu phụ đều chết. Cả hai đều chết gần tảng đá vô tri giác.

Lúc ấy Văn Bình cũng trở thành vật vô tri giác. Chàng thoát chết nhờ phản ứng nghề nghiệp thần tốc, nằm lăn trên đất sau khi nghe tiếng nổ. Tuy nhiên, chàng cũng bị bất tỉnh.

Trời Nambum xế trưa mà như ban đêm. Những ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt ở chân đồi. Khu rừng sặc mùi khét lẹt. Tiếng nổ kéo dài liên tiếp trong vòng 15 phút. Nhưng đám cháy mãi đến sáng hôm sau mới chịu tắt. Nếu không có cơn mưa bất ngờ trút xuống thì có lẽ rừng Nambum còn cháy suốt tuần lễ.

Thiên tình sử Nambum bắt đầu đóng lại.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Nhưng chỉ đóng lại để rồi mở ra đúng một năm sau.

Phải, một năm sau.

Một năm sau, nghĩa là ngày giỗ đầu của hai người đàn bà uổng tử ở miền Bắc Diến-Điện, một cuộc họp bí mật được diễn ra trong một tòa nhà tráng lệ ở trung tâm thủ đô Sàigòn.

Đó là cuộc họp hàng năm, trao đổi kinh nghiệm và tin tức giữa đại diện tình báo Tây phương tại Đông-Nam-Á.

Một trong các nhân vật dự họp là Roy, đại diện MI-6 phụ trách Diến-Điện, đội lốt tùy viên thương mãi, tòa đại sứ Anh quốc tại Ngưỡng Quang. Phiên họp kéo dài trong hai ngày. Ngày thứ hai, đến lượt Roy lên tiếng. Bản phúc trình của Roy được cử tọa hoan nghênh nhiệt liệt. Đại diện tình báo Nam Việt không ngớt lời khen ngợi Roy về vai trò đắc lực trong vụ triệt hạ F-22 tại Nambum-Ga.

Tùy viên Roy đứng dậy, phát biểu cảm tưởng, giọng run run :

- Tôi là người có duyên nợ với Việt-Nam, có lẽ vì vợ tôi cũng là người Việt-Nam. Thật ra, tôi chẳng có tài cán gì, chẳng qua là nhờ tài cán phi thường của cố đại tá Văn Bình của tình báo Việt-Nam đã hy sinh tại Nambum-Ga.

Đại diện C.I.A. tại Vọng-các nâng ly huýt-ky :

- Nghe tin bạn Roy được vinh thăng đệ nhất tham vụ sứ quán, chúng tôi xin thành thật chia vui.

Người ta nhận thấy Roy uống cạn ly rượu, rồi còn uốn cạn nửa chai huýt-ky khác nữa, tuy hắn không phải là tay bợm nhậu. Lúc ra xe, hắn loạng choạng suýt ngã, phải vịn vai người tài xế.

Nhưng một lát sau, hắn bừng tỉnh. Dường như một chất lạ huyền bí nào vừa được tiêm vào máu hắn, khiến hắn khắc phục hơi men dễ dàng. Toàn thân hắn run lạnh mặc dầu Sàigòn đang ở mùa khô, trời nắng chang chang.

Theo chương trình, hắn còn ở lại thủ đô Nam Việt ba ngày nữa. Song vừa về đến đại lữ quán Caravelle, Roy đã gọi điện thoại cho công ty hàng không, giữ chỗ để đi ngay buổi tối. Giác quan thứ sáu ngầm báo cho hắn một tai họa sắp xảy ra….

Có tiếng gõ cửa.

Như máy, Roy nói :

- Cứ vào !

Khách là một người đàn ông trung niên, khôi ngô, cường tráng và nhã nhặn. Thấy hắn, khách nghiêng đầu chào, rồi chìa tay vồn vã. Nhưng Roy rụt tay lại, không dám bắt. Miệng há tròn, hắn kêu lên :

- Đại tá Văn Bình !

Văn Bình ngồi xuống đi-văng lót da đỏ :

- Vâng, chính tôi.

- Thế mà ai cũng tưởng anh đã thiệt mạng.

- Người mong tôi thiệt mạng nhất là anh. Tôi không hiểu tạo sao hôm ấy tôi còn sống nũa. Tổng hành doanh F-22 đã tan thành tro bụi trong chớp mắt. Vêra và Sophie gục chết ngay cạnh tôi. Tôi mê man đến nửa đêm mới tỉnh lại.

- Anh làm cách nào mà về được Ngưỡng Quang ?

- Không, tôi vượt rừng sang Ai-lao.

- Tại sao lại qua bên ấy ?

- Vì tôi cần thử lại đáp số của bài toán. Hơn ai hiết, anh đã biết đại tá Karati là kẻ hai, ba mang, bị Tình Báo Sở nắm được yếu điểm.

- Tôi định báo tin cho anh biết hồi ấy, song bị Karati giữ riết. Đến khi Karati chặn bắn anh trên không phận miền Bắc, tôi mới liều mạng liên lạc với C.I.A.. Đại tá Karati chưa kịp phản ứng thì tôi đã lên máy bay đi Calcutta, nói là nghỉ phép, nhưng là để tránh bị trả thù. Và thượng cấp đã cho phép tôi thuyên chuyển khỏi Ngưỡng Quang. Xin anh thông cảm… Nghề tình báo vẫn lắt léo như vậy….

- Cũng lắt léo như cái chết của Karati chứ gì ?

- Lúc hắn chết, tôi đang ở Luân-Đôn. Anh đừng nghi oan cho tôi. Bình sinh tôi rất ghét giết người.

- Không, tôi không hề nghi oan cho anh. Theo tin chính thức thì đại tá Karati chết vì ngộ gió trong cơn rượu say. Chết trong phòng kín với gái đẹp trên giường là điều tối kị nên nhà đương cuộc Diến cho xếp nội vụ.

- Tình Báo Sở giết phải không ?

- Phải. Họ đòi tin tức, tài liệu thì Karati từ chối. Hắn từ chối là vì tôi đã cảnh cáo hắn. Tình Báo Sở bèn xuống tay. Như thế mà hơn, vì nếu không, tôi cũng đến giết hắn.

- Anh giết Karati ?

- Phải, giết Karati để cứu anh.

- Tôi có cảm tưởng là anh mới ở dưỡng trí viện ra. Tai họa ở Nambum đã làm anh bấn loạn tinh thần. Giữa tôi và Karati không có liên hệ đen tối nào cả.

- Trừ một điều quan trọng : Karati khám phá ra trương mục khổng lồ của anh tại một ngân hàng Tân-gia-ba, và những món tiền tiêu xài vong mạng trong thời gian anh phục vụ ở Ngưỡng Quang.

- Văn Bình, anh…

- Còn bào chữa gì nữa, vì Karati đã biết anh lãnh tiền của Tình Báo Sở. Trong ngày thứ nhất ở Ngưỡng Quang, tôi đã ngờ vực anh. Anh còn nhớ cuộc nói chuyện điện thoại, nhớ cái chết của Abê không ? Anh đã dại dột lạy ông tôi ở bụi này… vì ngoài anh ra, không ai biết Abê sữa soạn đón tiếp tôi. Kể ra, đang còn một số chứng cớ nữa, nhưng tôi vì nàng, tôi sẵn sàng bao che, sẵn sàng bênh vực anh….

- Vì nàng ?

- Phải. Vì anh là chồng Như Hồng. Tôi không thể lấy nàng làm vợ vì cô ruột của nàng là người yêu của tôi. Sau đó, nàng kết hôn với anh. Về đến Sàigòn, sau vụ Nambum-Ga, tôi nhờ ông Hoàng mở cuộc điều tra về anh, và khám phá ra vụ anh là chồng của nàng. Tôi không thể giết anh, khiến nàng phải góa bụa. Chính tôi đã can thiệp với ông Hoàng để tiêu hủy những chứng cớ có thể buộc tội anh. Căn cứ vào lời khen của ông Hoàng, MI-6 đã cất nhắc anh lên làm đệ nhất tham vụ. Chẳng bao lâu nữa, anh sẽ trở thành cố vấn, rồi đại sứ…. Như Hồng sẽ được hạnh phúc.

- Nàng có biết chuyện này không ?

- Không.

Roy thở dài :

- Sự đời éo le thật.

Văn Bình đặt tay lên nắm cửa :

- À, tôi muốn hỏi anh điều này. Tình Báo Sở đã trả anh bao nhiêu tiền ?

Roy vẫn thở dài :

- Ba ngàn đô-la.

- Anh đã dùng ba ngàn đô-la để mua chuộc Sophie ?

- Phải. Nhưng nàng không thèm lưu tâm đến tôi.

- Nên anh bố trí giết Abê và ám sát hụt Sophie.

- Vâng, anh tha lỗi cho tôi.

Văn Bình nghiêm sắc mặt :

- Tôi sẽ xé xác anh ra nếu anh làm nàng đau khổ. Từ nay, anh phải cải tà, quy chánh. Anh hãy thề đi.

- Vâng, tôi xin thề….

Văn Bình đóng cửa đánh sầm. Chàng đinh ninh tiếng cửa đóng dữ dằn sẽ làm chàng nghĩ đến chuyện khác. Chàng đã làm. Cánh cửa chỉ ngăn được căn phòng với hành lang, chứ không ngăn được hiện tại với dĩ vãng. Văn Bình lặng lẽ bước xuống cầu thang.

NGƯỜI THỨ TÁM
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam   

Về Đầu Trang Go down
 
Hồn Ma Diến Điện - Nguoi Thu Tam
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Nhanbkvn 2017 :: THƯ VIỆN SÁCH TRUYỆN :: Truyện Trinh Thám-
Chuyển đến