Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:30 pm



I. Chiếc ghế điện

Bồ hôi ướt đầm, Bôrin giật mình tỉnh dậy. Suốt đêm không ngủ, mãi đến gần sáng mới chợp được mắt thì cơn ác mộng hiện ra. Y mơ thấy đắm tàu trên một giòng sông đen kịt như hắc ín, những con thuồng luồng nhầy nhụa, kinh tởm, đua nhau róc rỉa thân thể của y. Đột nhiên, một rặng núi to lớn, đá nhọn chĩa ra tua tủa, chạy xô tới, sấm sét nổ đùng đùng, tia lửa bắn ra, quyện lấy người y, đốt cháy như cây đuốc tẩm xăng.

Bôrin thét lên một tiếng hãi hùng. Theo thói quen, y đưa tay trái lên xem giờ: nơi y thường đeo chiếc đồng hồ vàng 10 ca-ra nạm hạt soàn óng ánh, chỉ còn lại một vết dài trắng bệch, nổi bật trên nền da nâu sẫm. Bôrin sực nhớ y đang ở trong khám, trong khu tử hình lạnh lẽo và ghê rợn của nhà lao Sing Sing, gần bến tàu Nữu ước. Từ ngày bị giam trong khu tử hình, đợi ngày lên ghế điện, y mất hẳn ý niệm về thời gian. Ngọn đèn vàng ệch treo ngoài hành lang được bật ngày đêm, lúc nào mí mặt cũng nặng chĩu song y không tài nào ngủ nổi.

Có tiếng chân người và khóa cửa rỏn rẻng. Một người gác đẩy cái xe nhỏ chở thức ăn nóng hổi tới. Nhìn tách cà phê bốc khói nghi ngút, Bôrin lẩm bẩm: sáng rồi.

Rồi y thở dài, một giọt nước mắt lăn trên gò má xương xẩu. Sáng rồi! Còn mấy giờ nữa, Bôrin sẽ bị dẫn lên ghế điện. Trưa qua, y được đưa tới "phòng đợi" này, một xà-lim nhỏ, tường bằng thép sơn những màu mát mắt. Bôrin bỗng thèm được trở lại căn phòng số 13, nơi y bị giam cầm gần sáu tháng trường. Cũng như các xà-lim khác trong khu tử hình, phòng 13 sâu 3 th 60, rộng 2 th 70, trần quét vôi xanh nhạt, chân tường cẩn gạch nâu, đồ đạc gồm một cái giường xinh xắn trắng muốt, cái chậu rửa mặt, cái bàn nhỏ trên có mấy cái ly bằng giấy, một xấp giấy và một cái bút chì.

Con số 13 làm Bôrin liên tưởng tới văn phòng chỉ huy trung ương tại Mạc Tư Khoa. Tổng hành doanh Smerch cũng ở nhà số 13.[1] Phòng bí mật nhất ở lầu hai cũng sơn mầu xanh ôliu như trần xà-lim Sing Sing, khác một điều là nền nhà được lót thảm len sặc sỡ đắt tiền, và ở góc phòng có một cái bàn vĩ đại bằng gỗ quí, lợp nhung đỏ, bên cạnh là tám cái ghế da, một cái bàn dài dùng cho các phiên họp, và bốn bức ảnh khung mạ vàng treo ngay ngắn trên tường. Đó là văn phòng đại tướng G.[2] người cầm đầu Smerch.

Bôrin là nhân viên Smerch. 18 tháng trước, y được gọi tới tổng hành doanh. Tướng G. - người có lông mày sâu róm, mắt cú vọ, đầu cạo nhẵn thín như hòn bi - chăm chú nhìn y rồi nói, giọng lạnh lùng:

- Thiếu tá Bôrin, tôi rất hài lòng về những tiến bộ của anh trong thời gian huấn luyện đặc biệt tại Kuchino[3]. Ngày mai, anh sẽ lên đường sang Mỹ, anh không còn là thiếu tá Bôrin nữa mà là trung sĩ Bôrin, làm tài xế cho tùy viên không quân tại sứ quán Liên Bang Sô Viết. Nếu công tác tôi giao cho anh được hoàn thành, anh sẽ được vinh thăng đại tá.

Bôrin đứng nghiêm chào tướng G. Một tuần sau, Bôrin trở thành bác tài ngây ngô trong sứ quán tại Hoa Thịnh Đốn. Nhiệm vụ của Bôrin được thu vỏn vẹn vào trong một giòng chữ đánh máy: tìm mọi cách để biết những người Việt nào làm việc tại tổng hành doanh tình báo Mỹ C.I.A. và họ đã bí mật liên lạc với ai ở Hànội để lấy tài liệu. Bôrin có đủ khả năng để làm việc này, vì y nói tiếng Việt rất giỏi. Điều đó không lạ, cha y người Nga, mẹ là người Việt. Là thủy thủ trên một chiếc tàu buôn Sô Viết, đi lại trên biển Nam Hải, cha y cũng là nhân viên do thám cho Smerch. Trong thời gian hoạt động tại Hànội, cha y ăn ở với một thiếu phụ Việt rồi đẻ ra y. Sau thế chiến, gia đình Bôrin về nước, y trở thành công dân Nga. Lớn lên, y gia nhập Smerch và tòng sự trong ban Việt Vụ, ban chuyên về các vấn đề Việt Nam.

Sau nhiều ngày dò xét khôn ngoan, y phăng ra tung tích một người Việt, nhân viên C.I.A. Một đêm tối trời, Bôrin mò đến nhà riêng, một căn nhà lầu kín đáo ở ngoại ô Hoa Thịnh Đốn, Bôrin dùng tiền bạc và lời đường mật dụ dỗ. Người ấy nhận lời. Trong buổi gặp gỡ để trao tài liệu đầu tiên, diễn ra tại một công viên tối om, Bôrin cùng đi với viên tùy viên không quân. Bôrin không ngờ mắc mưu công an FBI: nhận tài liệu xong, y vào một hộp đêm gần đấy để chuyển cho người tùy viên không quân thì bị công an ập vào bắt. Y lính quýnh chưa định xử trí ra sao thì đèn điện vụt tắt. Tiếng súng nổ ròn. Đèn bật lên, một cảnh sát viện bận đồng phục nằm chết trong vũng máu. Ai bắn, Bôrin không biết. Người tùy viên không quân đã biến mất. Công an đổ riết cho Bôrin là hung thủ mặc dầu y không bắn. Y khai trước tòa y không mang súng trong mình, song quan tòa không tin. Và y bị kết án tử hình. Bôrin còn nhớ rõ mồn một những giòng chữ đen ghi trong án lệnh:

"Nay ra lệnh cho các viên chức khám đường Sing Sing thi hành bản án này đối với Anáttát Bôrin, đúng theo luật định. Anáttát Bôrin phải bị hành quyết trong khám đường..."

Tử tội Bôrin thở dài áo não. Là nhân viên Smerch, y thừa hiểu chánh phủ Liên Sô không bao giờ giơ ngón tay trỏ lên bảo vệ cho y. Đó là luật hành nghề. Song Bôrin vẫn hy vọng. Từ mấy năm nay, nhiều phạm nhân gián điệp đã được trao đổi gữa Nga và Mỹ. Bôrin hy vọng tướng G. sẽ nhấc máy điện thoại có ghi hình chữ V. Ch.[4] màu trắng lên, gọi cho điện Cẩm Linh yêu cầu bộ Ngoại Giao can thiệp cho y. Trong thời gian bị giam giữ, Bôrin đã gặp phó lãnh sự Sô Viết hai lần, lần nào y cũng được nghe những lời hớa đầy hy vọng.

Nhưng rồi Bôrin được giải về Sing Sing. Chiếc xe bít bùng chở tử tội trên xa lộ, dọc giòng sông Hớtsơn[5] hùng vĩ. Mùi nước sông thơm thơm bay vào mũi Bôrin. Bên tay, y nghe thoang thoáng tiếng ầm ầm của con tàu chạy vào thị trấn Nữu ước. Y muốn trốn, song chân bị xiềng, tay xích chặt vào một công an viên, nét mặt lì lợm. Trên băng trước là người tài xế và hai công an viên khác, võ trang súng máy.

Một tòa nhà màu xám hiện ra: khám đường Sing Sing. Bôrin bàng hoàng khi thấy căn nhà hai tầng bằng gạch in rõ trên nền trời buổi sáng, nơi hành quyết tử tội. Xe dừng, y bước vào một căn phòng vuông sặc mùi thuốc sát trùng. Trên tường treo một cái đồng hồ quả lắc màu trắng to tướng. Đó là lần cuối trong đời Bôrin được nhìn thầy đồng hồ. Y lãnh thẻ bài 7613 - trời, con số 13 của định mạng - rồi cởi bỏ quần ảo cho hai người gác và một y sĩ khám xét. Lỗ tai, lỗ mũi, hậu môn, đều bị nắn bóp. Y sĩ dùng đèn bấm cực mạnh soi vào lổ tai. Người gác chải đầu Bôrin bằng cái lược riêng. Mọi đồ vật đều bị giữ lại, kể cả thư từ, hoặc một que diêm, vì đã có tử tội nuốt diêm tự vận.

Bôrin được dẫn qua một khu vườn hoa thơm nhè nhẹ, cỏ cắt xanh rờn, tới một hàng rào sắt. Y nhìn trời lần chót, và thở lần chót khi trời trong Iành. Y bước vào khám tử hình: những cửa thép dầy nặngnề, những hành lang vắng tănh. Y đếm được tám cửa sắt. Những cửa này dẫn vào ba khu xà lim tử hình. Hai người mặc sơ mi trắng cụt tay hiện ra.

Bôrin lại cởi quần áo lần nữa. Một tiếng chuông reo lên rền rĩ, một cánh cửa mở ra. Bôrin bị đẩy vào một "nhà tắm", phía trên có những vòi nước và hoa sen kếch sù. Cửa đóng, nước ấm tuôn xuống rào rào. Phía sau cửa kính, một giọng nói cất lên:

- 7613, kỳ cọ nhanh lên.

Tự nhiên, căn phòng sực nức một mùi khó chịu. Làn da của Bôrin đau buốt như bi trầy trụa dưới bong bóng xà bông. Vòi nước bị cắt. Một người gác bẻ quặt tay Bôrin ra sau lưng, người thứ hai dùng khăn lông màu lục chà sát da thịt y thật mạnh đến nỗi y tưởng như tóe máu. Đó là sự tiếp đón đặc biệt của khám tử hình: tội nhân bị kỳ cọ bằng hóa chất để cạo bỏ mọi chất độc - nếu có - được dính vào da. Xong xuôi, Bôrin được lãnh một đôi giầy không giây, quần y cũng không có giây lưng.

Cửa sắt lại mở, Bôrin vào xà lim số 13. Y được đọc sách nhưng sách đã bị tháo rời ra từng tờ. Y có thể hút thuốc, nhưng người gác đứng ngoài song sắt châm diêm cho y. Đã hết đâu, một cái chậu lớn đầy nước xà bông được bưng đến, y lại cởi bỏ quần áo, giặt dũ trước sự chứng kiến của giám thi. Việc giặt dũ là biện pháp cuối cùng để tẩy bỏ chất độc lẫn trong quần áo. Giặt xong, phơi quần áo lên, giám thị mới ra ngoài, vì sợ tử tội uống nước xà bông quyên sinh.

Nghĩ tới đó, Bôrin lại thở dài. Y không ngờ mới hăm mấy tuổi đầu đã phải lìa đời một cách thảm thương.

- 7613. Bữa ăn đặc biệt hôm nay anh dùng gì?

Bôrin giật mình đánh thót. Bữa ăn đặc biệt!

Bữa ăn trước khi lên ghế điện. Y ngồi im, hai mắt lờ đờ phóng vào khoảng không. Biết ăn gì đây? Người gác buông ra một tiếng:

- Tôm chiên, xà lách, rượu vang đỏ, xì gà Ha van nhé?

Bôrin rùng mình như bị cảm lạnh. Thực đơn của người gác vừa đánh thức trong lòng y một kỷ niệm êm đềm. Vợ y - một thiếu nữ Việt y gặp tại Mạc tư khoa trong trường đại học âm nhạc đã ăn tôm chiên, xà lách và uống rượu vang đỏ với y trong đêm vợ chồng xa nhau, chồng đi Mỹ, vợ về quê ở Hànội. Nước mắt đầm đìa hai má, Bôrin nhớ tới người đàn bà mảnh khảnh, lông mày thanh như vẽ, hàm răng đều trắng muốt. Tên nàng là Lệ. Vương Lệ. Nàng không biết y là nhân viên gián điệp Smerch. Đêm qua Bôrin viết thư cho vợ. Viết xong, y xé đi vì y không muốn làm nàng bị liên lụy. Trong một phút phẫn nộ, Bôrin chỉ trích thái độ bạc bẽo của nhà cầm quyền Sô Viết. Họ đã đưa y vào chỗ chết một cách tàn nhẫn.

Người gác đưa thức ăn vào thấy Bôrin gục đầu vào hai tay bèn lặng lẽ đi ra. Bên ngoài, nhân viên khám đường đang lặng lẽ sửa soạn cuộc hành quyết. Linh mục đã ngồi ở phòng đợi, tay đặt lên cuốn thánh kinh. Người thợ điện đeo cà-vạt đen đi vào phòng ghế điện. Y đứng lặng một phút, ngắm chiếc ghế ba chân, trông hao hao như ghế nha y. Khi tử tội ngồi vào, ghế sẽ ngã về phía sau, những sợi giây do to lớn sẽ cột tay chân y lại. Con dao điện được kéo lên, hai ngàn vôn. Năm giây sau, điện hạ xuống một ngàn vôn. Năm giây nữa, xuống năm trăm vôn. Trong sáu phút, tử tội chỉ còn lại cái xác không hồn.

Trong xà-lim, Bôrin cũng đang nghĩ tới lúc bị trói vào ghế. Chết bằng điện có lẽ sướng hơn chết bằng hơi ngạt, mấy viên độc dược xi-a-nuy được bỏ vào thùng át-xít trong phòng đóng kín. Có lẽ còn hơn cả chết treo, bước 13 bậc, đút đầu vào thòng lọng, thạp gỗ bị giựt tụt xuống, cổ mắc tòn teng trong giây thừng ni lông, xương cổ vỡ nát, lưỡi lè ra màu tím gớm ghiếc. Tuy nhiên, nếu máy điện riêng của nhà lao bị hỏng, phải dùng điện cao thế ngoài đường trên 2.600 vôn, Bôrin sẽ có thể bị cháy đen như thịt nướng trên than hồng.

Bôrin lấy khăn mặt lau bồ hôi. Y từ chối không tiếp linh mục. Tâm trí y đang nghĩ tới một người. Người đó là phó lãnh sự Sô Viết.

Cửa xà-lim mở toang. Bốn người lực lưỡng tiến vào, sơ mi trắng, giày ban màu xanh, đế bọc chì, khi hữu sự có thể biến thành khí giới đắc lực. Giám thị trưởng nói với Bôrin:

- 7613. Đến giờ rồi.

Bôrin đứng dậy, mắt y hoa lên. Y cố trấn tĩnh để khỏi ngã xuống. Hai người xốc nách y dìu ra phòng ghế điện. Nhìn thấy ghế, y nhắm nghiền mắt lại. Trong hai phút nữa, tử thần sẽ đến cướp y. Biết không còn hy vọng nữa, y bặm môi lại, cố nén khóc òa lên. Dầu sao y cũng là thiếu tá của sở gián điệp Smerch.

Bôrin liến nhìn mọi người. Một mùi khét đặc biệt từ phòng ghế điện xông vào mũi tử tội. Đột nhiên, có tiếng chân người chạy rầm rập. Một viên giám thị hớt hãi mở toang cánh cửa sắt ngoài hành lang, kêu to:

- Thong thả.

Bôrin giật mình. Da mặt y đang xanh mét trở nên hồng hào. Văn phòng thống đốc vừa gọi giây nói tới. Hú vía! Cuộc hành quyết được hoản lại. Hai nhân viên FBI tiến đến gần Bôrin:

- Chào ông. Ông có phải là Bôrin không?

Dĩ nhiên, tử tội không là Bôrin còn ai nữa? Bôrin sững sờ trước câu hỏi bất thần

- Mời ông đi theo chúng tôi, xe hơi đang chờ ngoài cửa.

Bôrin hỏi, giọng yếu ớt:

- Đi đâu?

- Đi tới tòa đại sứ Sô Viết.

Bôrin khựng người một giây. Rồi như cây gỗ, y ngã lăn xuống đất bất tĩnh.

Bên ngoài, trời trong không một gợn mây.

***

Hăm bốn giờ trước khi Bôrin bị đưa sang phòng hành quyết, một hội nghị quan trọng diễn ra tại số 13, đường Stretenska Ulitsa, Mạc-tư-khoa, dưới quyền chủ tọa của đại tướng G. Ngoài tướng G. ra còn có hai tướng lãnh khác, đại diện cho công an KGB và sở tình báo RUMID của bộ Ngoại Giao.

Phiên họp kéo dài trong một tiếng đồng hồ. Mọi người đều nói nhỏ, dường như sợ lọt âm thanh xuống con đường phía dưới vắng tanh, đầy binh sĩ võ trang đứng gác. Cử tọa lục tục ra về, tướng G. ở lại một mình trong văn phòng, ưỡn ngực đầy huy chương, tay xoa lên đầu nhẵn thín. Cửa kẹt mở, một sĩ quan phụ tá tiến vào chờ lệnh. Tướng G. hất hàm:

- Mang hồ sơ Bôrin lên đây.

Tướng G. châm lửa, rít một hơi thuốc Vônga[6] thơm phức. Đoạn ngồi xuống bàn, uống một ly nước lạnh, giở cái bìa màu vàng trên góc có một ngôi sao đỏ và hai chữ S.S.[7] ra coi. Bên trong có một xấp ảnh và một hồ sơ đánh máy chữ đen chi chít. Tướng G. ngắm tấm hình toàn thân của thiếu tá Bôrin. Đó là một thanh niên cao thước bẩy, gầy guộc, xương lưỡng quyền nhô lên, yết hầu lộ ra ngoài, mắt sâu trũng, lông mày thưa, tóc ngắn, ngón tay dài tháp bút. Bức hình chụp Bôrin đứng bên một sạp báo ở Nữu-ước.

Tướng G. Nhún vai đọc hồ sơ:

"Bôrin sinh ngày 13-7-1940 tại Hànội, Bắc Việt. Đã theo học trường đại học Lênin và Kuchinô. Gia nhập Smerch ngày 4-9-1960, tòng sự tại ban Việt Vụ. Vợ là Vương Lệ, người Việt, hiện làm việc tại bộ Ngoại Giao nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bôrin thành hôn với Vương Lệ ngày 2-2-1960 tại Mạc-tư-khoa. Tuy đã gia nhập đảng Cộng Sản và lập nhiều thành tích tốt đẹp, Vương Lệ vẫn chưa đoạn tuyệt được với quá khứ tiểu tư sản do liên hệ gia đình để lại. Cũng vì lý do này. Sở đã đưa Vương Lệ về Hànội, sống xa chồng, trong khi Bôrin công tác tại Hoa Kỳ."

Chắc lưỡi ra vẻ chán nản, tướng G. mở qua trang khác. Đó là bản báo cáo của ban Y khoa đặc biệt. Bản báo cáo về Bôrin như sau: "Tuân lệnh đại tướng, Bôrin đã được giải phẫu ngày 8-11-1963. Cuộc giải phẩu đã thành công, tuy nhiên thỉnh thoảng y bị nhức đầu và khi nào xúc cảm mạnh thì ngất đi. Đại để những biến chứng nhỏ này không làm phương hại tới sức khỏe của Bôrin, và địch không thể biết được. Sau khi dưỡng bệnh một tháng tại Hắc Hải, y được đưa về Kichinô, theo lớp huấn luyện cấp tốc. Trước ngày qua Mỹ, y đã có một sức khỏe hoàn toàn."

Tướng G. Hít một hơi thuốc Vônga nữa rồi lẩm nhẩm đọc bức điện báo do đại sứ Sô Viết từ Hoa Thịnh Đốn đánh về hồi đêm:

"... Vâng lệnh bộ Ngoại Giao, tôi đã đích thân tới gặp ngoại trưởng Mỹ Rớt[8]. Rớt phải qua Ba-lê và Luân Đôn nên mặc dầu tôi hối thúc nhiều lần, mãi đến hai tuần sau tôi mới được gặp Rớt. Vì sự đình hoãn này, công việc điều đình phải bị chậm trễ. Mở đầu câu chuyện, tôi nói với Rớt về sự giao hảo ngày một tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Liên Bang Sô Viết. Rớt lấy làm vui sướng. Nhưng đến khi tôi đề cập tới vụ Bôrin thì Rớt sa sầm nét mặt. Ông ta cho biết tuy giữa hai quốc gia có sự thông cảm, việc xét lại bản án của Bôrin rất khó khăn, vì lẽ tòa án ở Mỹ là cơ quan biệt lập, không tuân theo lệnh Hành Pháp.

"Tôi mỉm cười đáp lại là nếu tòa án Mỹ biệt lập thì sao Gubít-sép[9] bị xử 15 năm tù mà bộ Ngoại Giao Mỹ lại can thiệp cho miễn nghị và hồi hương, tại sao Aben[10] bị 30 năm tù mà lại được đem đổi với Paoớt[11]. Ngoại trưởng Rớt ngồi im một lát rồi trả lời là vụ Bôrin ở ngoài quyền hạn của ông, ông còn phải trình lên tổng thống Dônsơn. Tôi nói là ngày hành hình Bôrin đã tới, tôi cần biết dứt khoát quyết định của chính phủ Mỹ.

"Ba giờ sau, tôi được mời gấp tới bộ Ngoại Giao. Ông Rớt cho biết là tổng thống Dônsơn đồng ý vì không muốn làm mất lòng chính phủ Liên Sô. Tuy nhiên, điều kiện đưa ra lại quá nặng nề. Ông Rớt nói rằng Bôrin sẽ được ân xá và hồi hương với điều kiện là 5 người Mỹ bị cầm tù ở Bắc Việt phải được trả tự do, ngoài ra về phí tổn, Liên Sô phải trả một triệu đô la.

"Tôi tỏ sự bất mãn trước điều kiện quá khắc nghiệt của chính phủ Mỹ, thì ông Rớt nói: - Tôi chỉ có nhiệm vụ chuyển tới ông quyết định của tổng thống Dônsơn sau phiên họp của Hội Đồng Nội Các. Nói đoạn, ông Rớt cáo từ, viện cớ phải đi dự một phiên nhóm quan trọng của bộ.

"Tôi xin đính sau đây bản tường thuật tỉ mỉ về hai cuộc tiếp xúc với ông Rớt. Tôi cũng xin trình chính phủ nên xét lại vụ Bôrin, vì tôi thiển nghĩ Bôrin chỉ là một sĩ quan trung cấp, không mấy quan trọng. Trong khi hành sự, y lại phạm một lỗi lầm không tha thứ được, đó là hốt hoảng rút súng hạ sát nhân viên FBI. Tôi xin đề nghị bác bỏ những điều kiện quá đáng của chính phủ Mỹ."

Tướng G. ném bức điện sang bên, cười khinh miệt:

- Hừ, đồ ngu như bò.

Chợt nhớ ra, tướng G. lẩm bẩm một mình:

- Hắn ngu cũng phải. Vì hắn có biết quái gì về Bôrin. Đặt điều kiện phóng thích năm người, và nộp một triệu đô la, chứ gấp mười lần như vậy ta cũng nhận.

Tướng G. ấn nút, ra lệnh cho bí thư:

- Đánh gấp một mật điện cho đại sứ của ta ở Hoa-thịnh-đốn. Nói là chính phủ hoàn toàn chấp nhận các điều kiện của ngoại trưởng Rớt. Nội ngày nay, năm người Mỹ sẽ được thả. Một triệu đô la sẽ được chuyển tới sứ quán Mỹ ở Mạc Tư Khoa.

Tướng G. cười khà, ra vẻ thõa mãn. Chợt nhìn đồng hồ, tướng G. hỏi bí thư:

- Nguyễn Văn Kỉnh đến chưa?

Bí thư, một sĩ quan nét mặt khắc khổ, cung kính đáp:

- Thưa đại tướng, ông ta ngồi đợi đã hơn hai tiếng đồng hồ rồi.

Tướng G. khoác tay:

- Đưa y lên đây.

Nguyễn Văn Kỉnh là đại sứ Bắc Việt tại Mạc Tư Khoa. Y bước nhẹ lên tấm thảm len sặc sỡ, sợ kinh động bầu không khí trang trọng của tổng hành doanh Smerch. Trên bức tường, bức ảnh tướng Sêrốp, bộ trưởng An Ninh, nhìn y bằng con mắt tóe lửa. Y cúi đầu chào tướng G. Không cần bắt tay, tướng G. nói một hơi:

- Tôi gọi đồng chí tới đây để cho đồng chí biết rằng Smerch rất bất mãn về sự ấu trĩ của nền tình báo Bắc Việt. Trong vòng ba tháng qua, hai nhân viên bị bại lộ ở Hồng Kông, ba cơ sở lớn ở Nam Việt bị phá vỡ một cách thảm hại.

Nhìn giữa hai mắt đại sứ Bắc Việt, tướng G. hỏi, gay gắt:

- Vụ mất tài liệu đi đến đâu rồi?

Nguyễn văn Kỉnh rụt rè:

- Thưa đại tướng.... tài liệu trong bộ Ngoại Giao vẫn bị mất và Phản Gián Hànội chưa tìm được đầu mối.

Tướng G. Nghiêm nét mặt:

- Tôi sẽ tìm cách cứu các đồng chí một lần nữa. Đồng chí hãy báo ngay cho thủ tướng Phạm Văn Đồng biết một phái đoàn Smerch sắp đi Hànội cùng với Bôrin.

Mắt Nguyễn Văn Kỉnh sáng lên:

- Thưa, thiếu tá Bôrin bị kết án tử hình và giam tại Sing Sing.

Tướng G. đập tay xuống bàn:

- Phải, Bôrin. Bôrin là ân nhân của các đồng chí.

Tướng G. lặng lẽ châm thuốc Vônga. Cửa phòng được khép lại nhè nhẹ. Chuông điện thoại reo lên. Đầu giây có tiếng nói chắc nịch:

- Đây là tướng Sêrốp. Yêu cầu đồng chí G. tới văn phòng tôi ngay để thảo luận về vụ Bôrin.

Gác điện thoại xuống, tướng G. vỗ vào đùi đánh đét, dáng điệu hể hả:

- C.I.A., lão Hoàng, ngày tận số của bọn mi đã tới.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:31 pm

II. Ông Hoàng

- Huýt-ky.

Nghe Văn Bình gọi thêm huýt-ky, người bồi trợn mắt kinh ngạc. Trong đời hầu bàn, y đã gặp nhiều tay thần tửu, song uống rượu như Văn Bình y mới thấy lần đầu. Vì đặc biệt là uống rượu sáng sớm, thay cho bữa ăn điểm tâm, và uống vô hồi kỳ trận. Loáng một cái, Văn Bình đã cạn hết ly thứ sáu. Gã bồi có cảm tưởng ông khách súc miệng rồi nhổ ra chứ không uống. Y nghễnh cổ, nhìn quanh ghế. Văn Bình cười xòa:

- Cho thêm hai huýt-ky lớn nữa.

Mộng Kiều tì tay lên bàn, nhìn ngây ngất vào đôi mắt sáng quắc của chàng. Ngày tháng trôi qua Văn Bình vẫn không già, mớ tóc quăn lòa xòa trên vầng trán rộng bướng bĩnh, lông mày sắc như nét mác, cái miệng hay cười, lúc cười đĩ thõa, lúc cười lạnh ngắt như nước đá. Chàng mặc sơ mi ngắn, lộ những bắp thịt rắn chắc trên nền da hồng hào, bộ ngực lực sĩ cân đối nổi bật sau làn vải ni-lông màu xám nhạt.

Mộng Kiều quen chàng từ lâu. Thỉnh thoảng, chàng đến thăm nàng trong căn phòng ấm cúng ở đường Võ Tánh, rồi chàng đột ngột ra đi, không biết đi đâu. Nàng là vũ nữ nổi tiếng của Sàigòn hoa lệ, hàng chục người đàn ông triệu phú sẵn sàng cất nhà vàng, mua sâm banh uống thay nước lã, để mời nàng mà nàng vẫn dững dưng. Thấy chiếc nhẫn kim cương óng ánh đeo ở ngón tay trắng muốt, Văn Bình hỏi đùa:

- Em sắp lên xe hoa phải không?

Nàng sa sầm nét mặt. Lặng lẽ, nàng lột nhẫn đưa phía sau chàng xem. Trên nền bạch kim, chàng đọc được hai chữ VB. Chàng thở dài:

- Xin lỗi em. Em đã biết anh ưa sống trôi nổi, không thể lập gia đình.

Nàng cũng thở dài:

- Em cũng biết thế, song định mạng đã an bài rồi, anh ạ. Sáng nay, anh đưa em đi uống rượu sớm, em đoán là anh sắp lên đường, và chúng mình sắp xa nhau rồi. Anh không nói anh làm nghề gì nhưng em là đàn bà, em biết lắm, em chỉ cầu nguyện cho anh được yên lành trở về và đừng quên em, thế thôi. Còn chúng mình thành vợ chồng hay không, đó là chuyện phụ, vì em biết anh có rất nhiều người yêu.

Văn Bình kéo bàn tay mềm mại của Mộng Kiều lên môi, và hôn nhè nhẹ. Một tiếng nói làm chàng giật mình:

- Lố lăng quá.

Chàng nhìn sang bàn bên. Hai gã to lớn, mặt mũi gân guốc, da dẻ một màu nâu bóng như đồng hun, ôm nhau cười một cách khả ố. Văn Bình không chấp, gọi bồi trả tiền. Chàng đứng dậy, đưa Mộng Kiều ra cửa, thì một tên xô ghế, cố tình chạm người nàng. Cái xắc cầm tay bị văng xuống đất. Mộng Kiều phải vịn vào bàn để khỏi ngã. Biết bị gây sự, Văn Bình vẩn thản nhiên cúi xuống nhặt cái xắc, những tên thứ hai đã dẫm lên.

Không nhịn được nữa, Văn Bình quắc mắt:

- Các anh định đọ sức với tôi phải không?

Mộng Kiều ôm lấy vai chàng:

- Thôi anh. Gây chuyện làm gì.

Tên to béo trả lời bằng một trái đấm vào mặt Văn Bình. Cực chẳng đã, chàng phải ra oai, cho hai đứa một bài học. Quả thôi sơn chưa tới nơi đã bị chàng hoành tay, hất mạnh ra, đối thủ ngã mèo xuống đất. Tên thứ hai phóng chân đá, Văn Bình bắt lấy và tống y vào đống ghế hỗn độn. Thực khách trong nhà hàng nhao lên. Chàng khoát tay Mộng Kiều, sửa soạn đi ra thì có tiếng la:

- Cẩn thận chúng có dao.

Tiếng gió vèo vèo sau lưng. Văn Bình không thèm ngoảnh lại, chỉ nghiêng người sang bên. Lưỡi dao nhọn hoắt rơi gọn vào tay chàng. Tên thứ hai đấm móc từ dưới lên trong một thế võ cực kỳ nguy hiểm. Văn Bình tặng y một ngọn cước bất thần vào giữa ngực. Lần này, y ngã xuống và không lóp ngóp bò dậy được nữa.

Văn Bình đánh diêm châm điếu Salem. Thấy hai đối thủ nằm mọp rên rỉ trên nền gạch ướt át, chàng không nỡ đánh thêm và chỉ nói một câu ngắn ngủi:

- Chào hai anh.

Rồi chàng lững thững ra đường giữa hàng chục cặp mắt thán phục. Chàng mở cửa xe cho Mộng Kiều lên. Chiết Cọt-ve sơn trắng, thấp lè tè, mui trần, nằm khoe sắc dưới ánh nắng trời hè rực rỡ. Chàng gài số hai, giựt xe ra khỏi lề, phóng như tên bắn trên đường Tự Do. Tới chợ Bến Thành, chàng dừng lại cho nàng xuống xe. Nàng hôn lung tung vào má và tóc chàng:

- Chừng nào anh về?

- Không biết nữa. Nhưng chắc chắn là sau khi về Sàigòn, anh sẽ lại em ngay.

Văn Bình quay xe về đại lộ Nguyễn Huệ. Hồi sáng, ông Hoàng đã sai người gọi chàng. Sau một tháng dưỡng sức, chơi bời và tiêu tiền thả cửa, chàng lại lao đầu vào cuộc sống nguy hiểm. Tổng hành doanh của ông Hoàng đã rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt và được thiết lập cuối đường Nguyễn Huệ, gần bờ sông, trong một binh-đinh tám tầng, cao bằng lữ quán Caraven, đội lốt một công ty tư nhân tên là công ty Việt Nam Điện Tử.

Theo lệnh ông Hoàng, chàng vòng xe ra đường Phú Kiệt, đậu trước một tiệm ăn Tàu, rồi bách bộ về phía binh-đinh. Trụ sở của ông Hoàng không khác những nhà buôn ở đường Nguyễn Huệ là mấy: phía trước quét vôi trắng toát, cửa sổ che riềm, bên dưới một người Chà đứng gác. Văn Bình chăm chú đọc tấm biển đồng gắn vào tường, suýt phì cười. Nếu ông Hoàng không cho biết địa chỉ, chàng cũng chịu bó tay, đừng nói là địch nữa.

Chàng không ngạc nhiên khi thấy bên dưới toàn nhân viên lạ hoắc. Chàng cúi đầu chào một thiếu nữ ngồi sau bàn "chỉ dẫn". Thiếu nữ nhoẻn miệng cười lịch sự:

- Thưa ông, ông cần gặp ai?

Thiếu nữ có cái miệng duyên dáng quá! Suýt nữa chàng quên cả lời ông Hoàng dặn. Chàng nói:

- Tôi là kỹ sư Vạn. Tôi có hẹn với ông Đồng ở phòng giám đốc.

Đang cười, thiếu nữ vụt trở nên nghiêm nghị. Nàng mở rộng đôi mắt, nhìn chàng từ đầu xuống chân, nửa kinh ngạc, nửa mừng rỡ. Đoạn nàng ấn phít điện thoại:

- Allô, có chị Ngọc đấy không? Một ông khách xưng là kỹ sư Vạn đang ngồi dưới này, nói là có hẹn với ông Đồng. À vâng, chị Ngọc đấy à? Tôi bảo ông ấy lên nhé.

Thiếu nữ đứng dậy, cử chỉ xuồng xã không còn nữa:

- Xin mời ông đi vòng ra đường Tự Do. Tòa nhà này không ăn thông ra đường ấy. Đến căn nhà sơn xanh, có gắn biển "Công ty Việt Nam Điện Tử" xin ông bấm chuông, có người sẽ đưa ông lên gặp ông Đồng.

Văn Bình chưa chịu đi. Chàng hỏi, giọng tiếc nuối:

- Cô có đôi mắt và cái miệng đẹp quá. Xin lỗi, tên cô là gì?

Thiếu nữ bật cười thật tươi:

- Thưa ông, em quên mất tên rồi. Ông hỏi ông Đồng thì biết tên em.

- Mời cô tối nay đi ăn với tôi được không?

- Rất hân hạnh cho em. Nhưng ông phải xin phép ông Đồng đã.

- Kỳ quặc. Không lẽ muốn lấy chồng, cô cũng phải xin phép ông Đồng?

Cô gái phì cười:

- Ông nói đúng. Nếu ông Đồng cho phép, em sẽ đi ăn tối nay với ông. Em ở đây cho tới 8 giờ tối.

- Tôi sẽ đón cô ở nhà riêng.

- Em ở luôn ở sở. Ông hỏi ông Đồng thì biết phòng em.

Văn Bình lẩm bẩm:

- Ông Đồng, ông Đồng. Hắn ta là ai mà có quyền thế?

Thiếu nữ mỉm cười không đáp. Văn Bình cũng không biết "ông Đồng" là ai. Lát nữa, gặp ông Hoàng, chàng sẽ nhờ "cụ via" xài xể cho ông Đồng phải gió kia một trận.

Văn Bình vứt mẩu thuốc Salem xuống đường, rảo bước về phía bờ sông. Lòng chàng ấm hẳn lên. Chàng mong trời chóng tối, để chàng khoác tay cô gái, hôn lên môi, lên mắt nàng cho đỡ cơn thèm. Một đống hòm gỗ để chật lề đường trước hãng thuốc tây Rút-sen, Văn Bình phải đi xuống đường nhựa.

Chàng dừng lại, móc điếu thuốc Salem cuối cùng ra hút, chưa kịp châm lửa thì một chiếc xe đua không biết từ đâu tới, phóng như điên vào người chàng. Trong thành phố, trên con đường hẹp, tài xế dám chạy trên trăm cây số một giờ, lại không thèm bóp còi báo hiệu nữa. Chiếc xe sơn đen còn cách chàng hai thước, chàng mới sực nhớ ra cái chết gần kề. Vội vàng, chàng phi thân, nhảy vọt lên. Chàng ngã sóng soài trên lề đường, song vùng dậy được ngay.

Chiếc xe đua thắng đến kít ở đầu đường. Máu nóng trào lên thái dương Văn Bình. Chàng quyết cho tài xế bài học thấm thía về nghệ thuật lái xe trong một thành phố đông đúc. Phủi quần áo, Văn Bình thọc tay vào túi quần, khệnh khạng tiến về chiếc xe đua. Đó là một chiếc Mercédès 190 SL, loại xe ngốn đường nhanh như chớp nhoáng do Đức sản xuất, ở Sàigòn có rất ít.

Đã giận, chàng càng giận thêm vì xe đậu rồi mà tài xế không thèm bước xuống xem chàng còn sống hay chết. Nắm tay gân guốc trong túi quần run lên. Chàng định tặng cho tên lái xe ngạo ngược một quả thôi sơn vào giữa miệng, xin y bốn cái răng cửa để từ nay trở đi không thể mở miệng ví von và hôn môi người đẹp nữa.

Chàng rút tay ra khỏi túi quần, xoa xoa vào áo như để mài cho sắc. Kinh ngạc xiết bao, một giọng nói ngọt như kẹo Hòa Lan và thơm như nước hoa Chanel số 5 từ chiếc xe đua cất lên:

- Anh việc gì không? Em thành thật xin lỗi anh.

Cửa xe đóng đánh sầm. Trên xe, bước xuống một thiếu nữ đẹp tuyệt trần. Nàng mặc váy ngắn cũn cỡn nên khi xuống xe để lộ cặp giò phía trên trắng như ngó sen, đều đặn như nặn trong cẩm thạch, lại không mang một vết thẹo nhỏ. Văn Bình bối rối trong một giây đồng hồ. Chàng nổi danh bình tĩnh trước thần Chết, song lại có nhiều yếu điểm trước đàn bà.

Chàng ngây người ngắm nàng. Nàng trạc hai mươi, tuổi thần tiên của giống cái, mớ tóc dài lòa xòa rủ xuống vai, làm nổi bật khuôn mặt dài, đôi mắt to, đen láy, hàng mi dài cong vút, cái mũi dọc dừa, hơi cao như người đàn bà phương Tây, cái miệng nhỏ hình trái tim - chao ôi, miệng đã đẹp, môi và răng còn đẹp hơn, môi đỏ, chon chót như thoa son, răng đều và trắng.

Thân hình của nàng là một kỳ công của tạo hóa. Nàng cao gần thước bảy - dĩ nhiên phải trừ hao đôi giày một tấc, không mập, không gầy, bụng thắt lại, mông nở ra tròn trịa, khiến Văn Bình muốn vỗ vào đó một cái và nhứt là bộ ngực không mềm, không cứng hơi rung rung khi nàng ưỡng ẹo xuống xe. Đột nhiên, Văn Bình cảm thấy khát nước. Có lẽ vì chàng tưởng lầm ngực nàng là hai trái lê Nhật Bản trắng muốt, thứ lê tròn, bày bán ở khắp chợ Bến Thành.

Thiếu nữ mặc áo thun bằng sợi đan mắc cáo để lộ đồ mặc bên dưới, hở đến nách, khoe đôi cánh tay thon trắng, bàn tay dài, ngón tháp bút, cổ tay bắp chuối, khuỷu tay tròn, bờ vai thuôn thuôn, tỏa ra một mùi thơm, không phải mùi nước hoa, mù là mùi da thịt còn trinh. Thiếu nữ cúi đầu chào chàng:

- May quá, anh không hề gì. Một lần nữa, em xin anh tha lỗi.

Văn Bình sững sờ, không biết trả lời ra sao. Lúc nàng nghiêng mình, cái áo thun hở cổ quá sâu cố tình dâng cho cặp mắt hau háu của chàng những trái cấm độc nhất vô nhị. Chàng lắp bắp:

- Cô đẹp quá nên... tôi không chết được.

Thiếu nữ phá lên cười:

- Anh ăn nói duyên dáng và lịch sự quá. May phúc cho em, nếu em đụng phải người khác thì đã ăn bạt tai cháy má rồi.

- Trời, quỉ sứ cũng không dám đánh cô nữa là người. Tôi bị hút chết, tôi không đánh cô, nhưng tôi muốn bắt đền cô.

Mắt thiếu nữ sáng lên:

- Vâng, lỗi tại em, anh muốn đền bao nhiêu, em cũng xin nhận.

Văn Bình nháy mắt, tình tứ:

- Không, cô phải đền tôi bằng cách đi ăn tối nay với tôi. Tám giờ, cô bằng lòng nhé? À, tên tôi là Văn Bình, tên cô là gì nhỉ?

- Gớm, anh tham quá. Hỏi ba câu một lúc làm em ngạt thở, trả lời không xuể. Tên em là Quỳnh Loan, Trương thị Quỳnh Loan. Em không thích ăn cơm và đi chơi với người lạ. Em tin anh đúng đắn nên sẵn sàng nhận lời. Sau tám giờ, em sẽ chờ anh ở đây.

Văn Bình định hỏi địa chỉ nàng song Quỳnh Loan đã tất tưởi trèo lên xe, và trong chớp mắt nàng đã phóng như tên bắn. Chàng thở dài nhìn theo chiếc xe xinh xắn. Trời ơi! mới chín giờ sáng, nghĩa là còn mười một tiếng nữa, vị chi 680 phút hoặc 39.600 giây đằng đẵng nữa chàng mới được tái ngộ mỹ nhân. Chàng cầu Trời, khấn Phật cho ông Hoàng không bắt chàng đi ngay. Dầu phải từ chức, dầu bom nguyên tử rơi xuống Sàigòn, chiều nay, chàng quyết ăn cơm tối với Quỳnh Loan, ôm cái eo thon đẹp của nàng, nhảy một bài luân vũ, và, và, và.... Văn Bình không dám nghĩ thêm nữa. Nàng đáo để lắm, không phải chơi đâu. Khi chàng giả vờ ngã vào người nàng, ghé vào đôi môi hoa nở hôn đùa một cái, chắc chắn nàng sẽ tặng cho chàng một cái hôn thấm thía bằng mười ngón tay dài có móng sắc. Bất giác, Văn Bình lấy tay xoa má. Trong đời, chàng đã bị đàn bà tát nhiều lần. Song lần nào chàng cũng được đền bù lại bằng những phút mê ly đến sụm đầu gối.

Nhẩn nha chàng dừng chân trước căn nhà nhỏ son xanh, gắn biển đồng "Công ty Việt Nam Điện Tử" lúc nào không biết. Bỗng chàng giựt mình đánh thót. Chết rồi, chàng đã hẹn đi ăn với cô-gái-không-tên đúng tám giờ, chàng lại hẹn đi ăn với Quỳnh Loan cũng đúng tám giờ. Cả hai đều đẹp, song Quỳnh Loan sắc sảo và khêu gợi hơn nhiều. Chàng nhủ thầm: "lát nữa, gặp thằng cha gọi là ông Đồng, mình lờ luôn đi, đứng nhắc tới chuyện hẹn hò với cháu gái hắn nữa". Nhưng nếu ông Đồng là ông Hoàng?

Bồ hôi ướt đẩm cổ áo, Văn Bình đưa tay bấm chuông. Đúng ba chục giây sau, cửa mở, một thiếu nữ - trời, sao ông Hoàng chỉ dùng toàn thiếu nữ làm nhân viên - ló đầu ra, giọng ỏn ẻn:

- Thưa, ông là kỹ sư Vạn phải không?

- Chàng gật đầu. Nàng xích sang bên, nhường chỗ cho chàng vào. Nàng đi trước, qua một cái hành lang sơn màu đọt chuối ngoạn mục. Văn Bình chỉ để ý tới đôi giò mềm mại và cái mông uốn éo của nàng. Đến thang máy, nàng mở cửa, mời chàng vào. Không hiểu vì thang máy hẹp hay vì nàng cố ý, nàng áp ngực vào người chàng. Trong một giây, Văn Bình ngạt thở. Phen này, có lẽ chàng phải xin phép ông Hoàng cho làm thư ký quèn ở tổng hành doanh một thời gian.

Thang máy dừng ở lầu tư. Thiếu nữ dẫn chàng qua hành lang khác, trải nệm cao su ngăn tiếng động, đến một cánh cửa thép, sơn đỏ, bên ngoài có miếng giấy hình chữ nhật đề chữ "phòng đợi". Bước vào phòng đợi, Văn Bình choáng mắt. Đó là một căn phòng trần thiết cực kỳ sang trọng, không có cửa sổ, vì được gắn máy điều hòa không khí riêng, tường quét vôi xám, không treo ảnh. Trên trần, chàng thấy bốn cái lỗ tròn, đó là bộ phận dẫn hơi lạnh vào phòng. Chàng nhìn kỹ và hoảng hồn. Một trong bốn lỗ tròn là ống ảnh bí mật của vô tuyến truyền hình. Mọi việc xảy ra trong phòng đợi đều được thu vào phim nhựa, chuyển tới một trung tâm kiểm soát.

Tuy nhiên, điều làm Văn Bình hoảng hồn nhất là sự hiện diện của ba thiếu nữ trạc hai mươi, ngồi sau bàn, một cái bàn dài trông như quầy bán vé xi-nê, cô nào cũng xinh tươi như hoa hồng trong nắng sớm. Một cô đứng dậy, ngực phập phồng sau làn áo mỏng dính như giấy bóng:

- Xin mời kỹ sư Vạn ngồi chơi một lát. Ông Đồng đang bận.

Chàng nhún vai, ngồi xuống ghế, rút thuốc Salem ra hút. Ba thiếu nữ châu đầu vào nhau, nói nhỏ một hồi, rồi ngó chàng cười khúc khích. Chàng nhìn cô ngồi giữa, cô đẹp nhất:

- Ông Hoàng có ở đây không cô?

Thiếu nữ ngạc nhiên:

- Thưa, ông Hoàng nào ạ?

- Có cô Nguyên Hương không?

- Thưa, cô Nguyên Hương nào ạ?

Văn Bình thở dài. Ba thiếu nữ lại rúc rích cười. Để khỏi ngượng, Văn Bình vớ lấy tờ báo Anh ngữ lên đọc. Chàng nâng tờ báo ngang mày, cốt khỏi nhìn ba cặp mắt to và đen, có mãnh lực thu hồn đàn ông. Bỗng chàng để ý tới một cái tựa dài năm cột ở đầu trang nhất: "Một cuộc phóng thích lạ lùng: tử tội Bôrin được trả cho Nga Sô." Nội dung bản tin như sau:

"Theo tin của hãng Mỹ Liên Xã, chính phủ Hoa Kỳ vừa bất thần ân xá cho một tử tội nguy hiểm làm gián điệp cho Nga Sô, và đưa y về Mạc-tư-khoa. Tên y là Anáttát Bôrin, tài xế sứ quán Sô Viết tại Hoa-thịnh-đốn, bị bắt cách đây không lâu về tội dọa dẫm một nhân viên C.I.A. và bắn chết một cảnh sát viên FBI. Ra tòa, Bôrin bị kết án tử hình. Đơn xin ân xá của tử tội đã bị tổng thống Dônsơn bác bỏ và Bôrin phải lên ghế điện thọ hình trong khám đường Sing Sing.

"Một phút trước khi họ hình, Bôrin được trả tự do, theo lệnh hỏa tốc của tòa Bạch Ốc. Chính phủ Hoa Kỳ chưa ra thông cáo về vụ này, song theo nguồn tin thành thạo, người ta được biết tử tội được ân xá sau khi chính phủ Sô Viết tích cực can thiệp với bộ Ngoại Giao Mỹ. Việc phóng thích một tử tội Sô Viết mới xảy ra lần đầu trong lịch sử nền Tư Pháp Hoa Kỳ.

"Dư luận Mỹ rất xôn xao. Theo tin chưa được phối kiểm, dường như trung ương tình báo C.I.A. đã phản đối với tổng thống, song sự phản đối được đệ lên quá muộn vì tử tội Bôrin đã rời phi trường Nữu-ước. Người ta chưa hiểu tại sao tòa Bạch Ốc không tham khảo ý kiến với C.I.A. trước khi ra lệnh ân xá Bôrin. Được tin thêm, bản báo sẽ loan tiếp".

Văn Bình vừa đặt tờ báo xuống bàn thì chuông điện reo lên nhè nhẹ. Thiếu nữ ngồi giữa đứng dậy, giọng ngọt ngào:

- Mời ông tới gặp ông Đồng.

Một cánh cửa bí mật trong tường được mở ra. Lại một hành lang nữa, Văn Bình khen thầm tài tổ chức của ông Hoàng. Thiếu nữ đi sát chàng, mùi da thịt thơm tho quạt vào mũi, khiến chàng ngây ngất. Chàng hỏi:

- Cô làm đây lâu chưa?

Thiếu nữ lắc đầu:

- Ông Đồng không cho phép chúng em trò chuyện với khách.

Bực bội, Văn Bình há miệng, định rủa mát ông Đồng, song chợt nghĩ phải lịch sự với phái yếu, chàng lại nín thinh. Thiếu nữ mở một cách cửa bọc da, rồi đứng sang một bên. Chàng xô cửa thật mạnh để tỏ vẻ bất mãn, đồng thời cất tiếng chào châm biếm:

- Kỹ sư Vạn xin chào ông Đồng.

Ngạc nhiên xiết bao, một tiếng oanh vàng từ sau bàn buy-rô thỏ thẻ đáp:

- Chào anh Z.28.

Thẹn đỏ mặt, Văn Bình ngây người như khúc gỗ. Nếu biết phép thần thông như Tề Thiên Đại Thánh, chàng đã hóa ngay ra con muỗi trốn nhủi dưới chân bàn để khỏi nhìn cặp mắt nhung huyền dịu dàng và trách móc đang hướng vào chàng. "Ông Đồng" là một người đàn bà trên 25 tuổi, song trẻ măng như con gái mười tám, da trắng muốt, miệng cười siêu đình đổ quán, thân hình đều đặn, thướt tha sau làn vải trắng mỏng. Nàng vén mớ tóc lòa xòa trên trán, miệng nở nụ cười hồn nhiên, nụ cười mà Văn Bình không thể quên được từ bao năm nay. Đối với chàng, nàng không phải là người xa lạ. Nàng là bí thư của ông tổng giám đốc Mật Vụ.

Văn Bình gượng cười đáp lại:

- Tưởng ai, hóa ra Nguyên Hương.

Nguyên Hương chỉ cái ghế nhung đặt trước bàn mời chàng ngồi:

- Anh không ngờ ông Đồng là em phải không? Anh không ngờ là phải. Từ ngày anh đi xa đến giờ, Sở đã được tổ chức lại, bí mật và cầu kỳ hơn trước nhiều. Lâu ngày gặp anh, em không thấy anh già hơn chút nào. Có lẽ còn trẻ thêm nữa.

- Em cũng vậy. Nếu biết em là "ông Đồng", anh đã xô cửa vào đây, không thèm chờ nữa.

- Anh không tới nổi phòng em đâu. Ngoài hành lang có nhiều tấm cửa thép bí mật, chỉ bấm nút điện là xập xuống, nhốt anh vào trong. Lại có những viên gạch mở ra, để lộ cái hố đen ngòm, lôi anh xuống hầm. Vả lại,....

Nguyên Hương ngừng một giây. Văn Bình chăm chú nhìn nàng. Năm tháng trôi qua, nhan sắc của nàng vẫn đầy sinh lực như trái dâu chín vắt vẻo trên cành xanh biếc, kẻ đi qua phải thèm rỏ giãi. Đã nhiều lần chàng hôn lên đôi môi chúm chím và lần nào chàng cũng cảm thấy chưa đủ. Chàng muốn dính môi với nàng mãi mãi, cho đến khi nào hai người hợp thành một, biến làm luồng khói ngũ sắc bay bỗng vào cõi hư vô của tình ái.

Cặp mắt trìu mến của nàng vụt trở nên nghiêm nghị. Nàng nói, giọng trách móc:

- Vả lại, anh có còn nhớ tới Nguyên Hương nữa đâu.

Văn Bình giựt mình đánh thót. Nguyên Hương yêu chàng từ lâu. Có lần người ta tưởng hai người thành vợ, thành chồng. Cuộc sống hải hồ, đưa chàng tới những nơi xa lạ, ngày đêm đùa rỡn với tử thần, không cho phép chàng bận tâm vì hôn nhân. Cách đây một năm, nàng đã thở dài nói với chàng:

- Mỗi khi anh lên đường, em thường đốt hương trước bàn thờ Phật, thành kính cầu nguyện cho anh sớm trở về lành lặn. Nhưng lần này, em lại nảy ý muốn anh bị thương, bị mất một cánh tay, để anh không ở xa em nữa, để em được sống gần anh cho đến trọn đời.

Nhìn nét mặt hờn giận của người yêu, Văn Bình nói:

- Nghe lời em, anh không còn bê tha như trước nữa.

Nguyên Hương phá lên cười. Văn Bình lạnh toát cả người, như bị ném vào thùng nước đá một ngày lạnh rét. Nguyên Hương bấm nút trên bàn. Chàng nghe tiếng rè rè của cuộn băng nhựa ghi âm, rồi những câu nói quen thuộc được cất lên:

".... Cô có đôi mắt và cái miệng đẹp quá. Xin lỗi, tên cô là gì? Thưa ông, em quên mất tên rồi, ông hỏi ông Đồng thì biết tên em. Mời cô tối nay đi ăn với tôi được không? Rất hân hạnh cho em, nhưng ông phải xin phép ông Đồng đã. Kỳ quặc, không lẽ muốn lấy chồng, cô cũng phải xin phép ông Đồng.... Tôi sẽ đón cô ở nhà riêng..."

Văn Bình choáng váng như vừa bị đánh cú đìa-rét vào giữa mặt. Những lời tán tỉnh nhăng nhít của chàng đã bị cô gái quái ác thu vào băng nhựa, chuyển lên cho Nguyên Hương, để nàng dằn vặt chàng. Nguyên Hương lại bấm nút. Máy ghi âm lại nín bặt. Nàng nói:

- Anh nghe rõ chưa? Em vặn lại anh nghe nhé?

Văn Bình xua tay:

- Thôi, anh chịu thua rồi. Em tha lỗi cho anh.

Giọng Nguyên Hương buồn man mác:

- Không, em có muốn coi anh là của sở hữu riêng một mình em đâu. Anh là sĩ quan điệp báo đại tài, anh lại là người đàn ông có đủ điều kiện làm đàn bà say mê như điếu đổ. Em đã biết anh có nhiều nhân tình, em chưa phải là vợ anh, em không được quyền phiền trách, vả lại, nếu em làm vợ anh nữa, em cũng sẵn sàng làm ngơ cho anh. Nhưng anh ơi, em đã 25 rồi, chẳng bao lâu nữa, em sẽ ba mươi, em sẽ trở thành cô gái quá lứa. Em lo lắm. Em lo hình ảnh của em sẽ phai nhòa trong trí anh.

Mắt nàng rơm rớm, Văn Bình siết chặt bàn tay mũm mĩm của nàng:

- Anh vốn có tính đùa cợt như vậy, chứ không có tình ý gì đâu. Tối nay, anh sẽ ăn cơm với em, em bằng lòng không?

Nguyên Hương cười tươi tỉnh và hôn vào trán chàng. Bỗng chàng nhớ tới lời thề non hẹn biển với Quỳnh Loan. Chết rồi! Quỳnh Loan sẽ không tha thứ cho chàng. Vui như chim sơn ca, Nguyên Hương nói:

- Anh thấy nữ nhân viên của em thế nào? Đẹp không?

Văn Bình gượng đáp:

- Đẹp, nhưng lẳng lơ và láu cá lắm.

- Đó là mục phiêu mà em đặt ra khi thành lập ban Biệt Vụ. Chắc anh chưa biết Sở có ban Biệt Vụ do chị Thu Thu và Katy điều khiển, nhân viên toàn là phụ nữ. Một trường huấn luyện đã được mở ngay tại đây, khóa thứ nhứt có năm chục học viên. Những thiếu nữ anh gặp trong "phòng đợi" đều là khóa sinh xuất sắc tốt nghiệp khóa thứ nhứt. Số hiệu của họ là YT không phải là Z như anh và em. Việc tuyển nạp rất chặc chẽ: ứng viên phải cao trên 1 thước 55, thân thể phải cân đối, diện mạo đẹp đẽ, và có bằng tú tài toàn phần. Chương trình giảng dậy căn bản gồm thể dục thẩm mỹ, cận vệ chiến, bắn súng, dùng dao ngắn, dùng những dụng cụ làm đẹp để giết địch như lược, gương, kẹp tóc, đế giày, xắc tay, dù. Họ đều được học ngoại ngữ, kỹ thuật truyền tin, liên lạc và mê hoặc nam giới. Sau đó, họ được chia làm nhiều tổ riêng, mỗi tổ theo một chương trình huấn luyện thích hợp với công tác tương lai, tổ học nghề nữ thư ký hành chánh, hãng buôn, tổ học nghề chiêu đãi, diễn viên ca sĩ và vũ nữ, và sau cùng là tổ hành động.

Các sở điệp báo phía sau bức màn sắt đã huấn luyện nữ giới từ lâu. Nga Sô đã có hai trường dạy ái tình. Nhiều trường tương tự đã được thiết lập trên lãnh thổ Đông Đức và Bảo-gia-lợi. Gián điệp Bắc Hàn đã bí mật mở một lớp huấn luyện yêu đương tại Hán Thành trong trận chiến tranh Cao Ly. Tại Bắc Kinh, có một viện đại học dạy phụ nữ làm gián điệp, phần đông là học nghề thanh lâu. Cộng Sản Bắc Việt cũng đưa một số phụ nữ tốt nghiệp trường ái tình vào chiến trường miền Nam. Đương đầu với sự kiện này, ông Hoàng đã mất một thời gian dài để thuyết phục chính phủ lập ban Biệt Vụ.

Ngừng một phút, Nguyên Hương tiếp:

- Nếu anh ngoan ngoãn, em sẽ giới thiệu các cô YT với anh. Họ gọi em là "ông Đồng". Anh coi chừng, tuy anh giỏi võ, họ vẫn có thể quật anh ngã và ném anh xuống sông Sàigòn nếu anh không bỏ cái thói sàm sỡ.

Văn Bình nhún vai:

- Anh sợ rồi.

Nguyên Hương nhấc điện thoại:

- Bây giờ, em đưa anh vào gặp ông Hoàng.

Văn Bình cảm thấy nhẹ nhõm như vừa cất được quả tạ trăm cân đè lên ngực. Chàng nhủ thầm từ nay trở đi không dám nhăng nhít với mấy nữ quái của ban Biệt Vụ nữa.

Một ngọn đèn đỏ trên nóc tủ két gắn vào tường ở góc phòng vừa bật lên. Rồi cánh cửa tủ sắt mở ra nhè nhẹ. Thì ra cái két là cửa bí mật ăn thông với văn phòng ông Hoàng.

Phòng ông Hoàng hình vuông như cái hộp, sơn màu xám, đèn nê ông xanh biếc tỏa xuống một ánh sáng dìu dịu. Ông tổng giám đốc già nua ngồi thu mình sau cái bàn bán nguyệt bằng sắt đầy ắp hồ sơ và điện thoại đủ màu. Thấy chàng vào, ông Hoàng ngẩng đầu lên:

- Z.28. Lâu lắm mới gặp lại anh. Lần này, triệu anh tới gấp có cản trở chương trình du hí của anh không?

Chàng đưa hai tay lên trời, dáng điệu đau khổ:

- Thưa ông, oan cho tôi quá. Sở cho nghỉ hai tháng, tôi chỉ lên Đà Lạt và ra Cấp dưỡng sức, chứ có dám đi đâu đâu.

Ông Hoàng nhìn xuống tập hồ sơ trước mát:

- Phải, anh chỉ lên Đà Lạt và ra Cấp, song không phải anh đi dưỡng sức như hứa với tôi mà là đi phí sức. Có hai người đàn bà đẹp cùng ở với anh trên Đà Lạt. Ra Cấp, anh ngụ chung phòng với người đàn bà thứ ba, có hai ba ngày anh nằm mọp trong phòng, không ra tắm biển. Nhưng thôi, đàn bà là món ăn cần thiết của anh, cũng như sinh tố B, C, đối với con người nên tôi sẵn sàng bỏ qua. Còn vấn đề rượu, tôi bắt buộc phải khuyên anh hạn chế lại.

- Thưa, có bao giờ tôi say đâu?

- Ồ, làm gián điệp mà say thì mất mạng còn gì! Anh không say, anh bình tĩnh trước nguy hiểm, anh bền bĩ trong công tác, vì quả tim anh tốt, tim anh đập 39 lần trong một phút, giống như tim các nhà quán quân thế giới về xe đạp và quyền Anh. Trong vòng một tháng nay, tim anh đập nhanh tới 60 một phút, thói quen súc miệng buổi sáng một chai huýt-ky, thứ nặng nhất. Giá tim anh bằng sắt, rượu huýt-ky cũng có thể làm mòn, huống hồ anh là con người, anh lại là con người cần có sức khỏe, sức chịu đựng, và trí sáng suốt phi thường để hoàn thành những công tác vô cùng khó khăn. Nếu công việc tôi và anh đang làm chỉ can dự tới vài ba ngàn người, tôi sẽ buông thả cho anh, tha hồ anh trác táng, tha hồ anh rượu chè, tha hồ anh bài bạc, nhưng đây lại là công việc liên quan tới hàng triệu người. Tôi có bổn phận chăm sóc anh, còn hơn cha chăm sóc con, ông bầu chăm gà nòi nữa.

- Thưa ông, tôi sẽ bỏ rượu buổi sáng.

- Anh đáng khen lắm. Ngoài vấn đề sức khỏe, tôi còn nhận thấy võ nghệ của anh chưa được như cũ.

- Có lẽ người ta báo cáo sai với ông. Bằng chứng là sáng nay, tôi đã hạ hai tên du đãng cầm dao trong nháy mắt và thoát chết trong một tai nạn xe hơi, nhờ phản ứng nhanh nhẹn.

Ông Hoàng rút trong túi ra một cái kéo bằng vàng nhỏ xíu, trịnh trọng cắt điếu thuốc xì gà Havan, rồi châm hút. Thấy trên bàn một bịch Salem, Văn Bình lấy một gói, bóc ra, bật lửa phì phèo. Ông Hoàng nhìn thẳng vào giữa mắt chàng, cười tủm tỉm:

- Anh đã phạm hai lỗi lầm trong khi đánh ngã hai người gây sự với anh trong quán rượu.

Văn Bình giật mình:

- Thưa, họ là người của ông?

- Dĩ nhiên. Họ là nhân viên của Sở. Tôi sai họ gây sự với anh để xem anh đã phục hồi phong độ chưa. Anh đã quật họ ngã trong vòng một phút vì anh giỏi võ hơn họ. Nếu anh gặp địch đồng cân đồng lạng thì sáng nay anh phải bị thương. Trái đấm thứ nhứt của người to béo tống vào mặt anh, anh nhớ chứ? Anh hoành tay gạt y ngã lăn xuống đất. Anh quên đó chỉ là đấm dứ, không phải đấm thật. Ngã cũng giả vờ, không phải ngã thật. Thế mà anh không biết. Cả lúc đánh dao cũng vậy. Nếu anh không bị ma men ám ảnh, anh đã phăng ra kẻ gây sự là bạn anh, đằng này, anh đã vận dụng toàn lực để đánh họ. Sự kiện này chứng tỏ khả năng quan sát của anh không còn tinh tế như trước nữa. Chung quy cũng do rượu buổi sáng mà ra.

Văn Bình lặng thinh. Ông Hoàng tắt đèn, căn phòng tối om. Chàng nghe tiếng rè rè của máy chiếu phim. Thì ra cuộc ấu đả chớp nhoáng trong quán rượu đã được Sở Mật Vụ chụp lại để xét tài chàng. Chàng xấu hổ khi thấy trên tường Mộng Kiều hiện ra, gục đầu vào vai chàng, cử chỉ vô cùng âu yếm. Chàng biết trong bóng tối, ông tổng giám đốc đang chăm chú nhìn chàng.

Đến chỗ chàng đấm đối thủ, phim được quay chậm lại. Văn Bình bàng hoàng. Quả chàng đã bị lừa một cách tai hại. Hai đối thủ chỉ vờn chàng, chứ không thật tâm tấn công.

Tắt máy, đèn bật lên, ông Hoàng nói, giọng trìu mến:

- Anh thấy chưa? Nhứt cử nhất động của anh, tôi đều theo dỏi tỉ mỉ. Không riêng gì óc quan sát, ngay cả phản ứng trước sự nguy hiểm cũng mòn hơn trước. Bằng chứng, anh đã phản ứng chậm một phần trăm giây đồng hồ khi cô Quỳnh Loan phóng xe tới.

- Quỳnh Loan?

- Anh ngạc nhiên phải không? Quỳnh Loan cũng là nhân viên của Sở. Các nữ nhân viên trong ban Biệt Vụ đều bắt đầu bằng chữ Quỳnh. Nữ nhân viên tiếp khách tại công ty Việt Nam Điện Tử, đường Nguyễn Huệ là Quỳnh Mai. Cô gái xinh đẹp đưa anh vào văn phòng "ông Đổng" là Quỳnh Như. Cả ba đều là điệp viên xuất sắc.

Riêng cô Loan suất xắc hơn cả. Có phải anh mời cô Loan đi ăn tám giờ tối nay phải không?

Văn Bình cứng họng:

- Thưa phải.

Ông Hoàng cười:

- Có lẽ anh không nên đi với cô Loan thì hơn. Tháng trước, Triệu Dung đã bị một mẻ khiếp vía. Anh còn nhớ Triệu Dung, biệt hiệu "anh Cả" chứ? Dung là nhân viên cừ khôi của ta tại Bắc Việt, anh đã có dịp gặp nhiều lần. Trí dũng song toàn. Dung xứng đáng là người thay tôi, nếu chẳng may tôi tạ thế. Bây giờ Dung là giám đốc công ty Điện Tử.

Thấy cô Loan đẹp, lại học giỏi, Dung bèn mời đi bơi thuyền trên sông Sàigòn. Chẳng hiểu Dung nghịch ngợm thế nào làm cô Loan chơi cho một vố, bị ướt như chuột lột.

- Thưa, Triệu Dung bị đẩy xuống sông?

- Phải. Cô Loan lừa Dung ôm ngang lưng rồi dùng một thế võ cực hiểm, hất anh ta lăn tùm xuống nước. Về võ nghệ, trên đất Việt Nam này, chỉ có Dung mới dám đương đầu với anh. Về mưu lược, Dung cũng không kém. Dung lại hơn anh ở chỗ không sàm sỡ với đàn bà. Thế mà vẫn bị uống một bụng nước. Xô Dung xuống xong, cô Loan điềm nhiên chèo vào bờ. Báo hại Triệu Dung phải bơi hết hơi mới về được bến đò Thủ Thiêm. Hôm đó, trời bão, nếu Dung bơi kém thì đã mất mạng. Từ hôm bị ngã, Dung không dám léo hánh tới ban Biệt Vụ nữa.

- Quỳnh Loan giỏi võ lắm, phải không ông?

- Thường thôi. Cô ta mới là đai đen đệ nhị. Nhưng anh đừng quên chỉ có rất ít phụ nữ Việt Nam lên tới đai đen đệ nhị về nhu đạo. Cô Loan còn sở trường môn tự vệ bằng dù, loại dù đàn bà che nắng ấy mà... Khi nào anh thích ăn bụi, anh thử trêu chọc cô Loan xem.

Nghe ông Hoàng nói, Văn Bình tức uất lên. Chàng phải nghĩ cách trả thù cho Triệu Dung. Chàng phải ôm Quỳnh Loan hôn cho bõ ghét. Chàng sẽ làm cho nàng tương tư, chết mê chết mệt vì chàng.

Ông Hoàng rít một hơi xì gà thơm phức:

- Võ nghệ siêu quần, nhan sắc tuyệt vời, cô Quỳnh Loan còn là một nữ trí thức nữa. Cô ta tốt nghiệp ưu hạng cử nhân luật, và định thi tiến sĩ. Vì ham thích phiêu lưu, cô xin gia nhập ban Biệt Vụ.

Tôi sai cô Loan phóng xe cán anh, anh nhảy kịp, song anh đừng vội tự hào, vì nếu tôi đưa ra một vài bằng chứng, anh sẽ phải bỏ rượu suốt đời không uống nữa. Lệ thường, anh chỉ cần rún nhẹ là vọt lên đầu xe hơi, đằng này....

Văn Bình thở dài:

- Tôi hiểu rồi.... Xin phép ông cho tôi được tập dượt lại.

- Anh không cần tập dượt đâu. Chỉ cần từ bây giờ đến tối. Trước khi anh xuống phòng tập, tôi muốn cho anh biết đại cương của chuyến đi quan trọng này. Anh sẽ ra Hànội một lần nữa, và lần này, anh sẽ phải đọ sức với ba cơ quan gián điệp: Bắc Việt, Nga Sô và Trung Cộng cùng một lúc. Chính vì thế, tôi cần anh bắn súng thật giỏi, giết người thật lẹ, nhảy xe thật nhanh.

Trầm ngâm một lát, ông tổng giám đốc mở tập hồ sơ dầy cộm trước mặt:

- Trước hết, anh cần biết về Bôrin, Anáttát Bôrin, nhân viên Smerch Sô Viết.

- Thưa, tôi vừa đọc tin về Bôrin trong báo.

- À, tờ báo để trong phòng đợi. Tôi dặn cô Quỳnh Như để sẵn cho anh đọc trước khi vào đây, cho khỏi mất thời giờ. Cũng như công luận quốc tế, anh đã biết Bôrin giết cảnh sát viên FBI, bị kết án tử hình, và được phóng thích trước giờ lên ghế điện trong khám đường Sing Sing. Anh lại biết C.I.A. phản đối việc trả tự do cho Bôrin. Tất cả việc này đều là giả tạo. Hoàn toàn giả tạo, anh rõ rồi chứ?

Việc tha Bôrin nằm trong kế hoạch của trung ương tình báo Mỹ C.I.A. Chính phủ Mỹ đã yêu cầu báo chí loan tin như vậy để phỉnh phờ địch. Bôrin đóng vai tài xế trong tòa đại sứ Sô Viết để tiếp xúc với các nhân viên C.I.A., người Bắc Việt. Y đã thành công, do sự bố trí của C.I.A. Tưởng cần nói anh biết, một số điệp viên Bắc Việt hoạt động ở hải ngoại đã qui thuận Tây phương, và về làm cho C.I.A. tại Hoa-thịnh-đốn. Nhờ những đầu mối này, C.I.A. đã liên lạc với một số viên chức cộng sản tại Bắc Việt để lấy tài liệu quốc phòng. C.I.A. thực hiện kế hoạch này với sự thỏa thuận và sự trợ giúp của ta.

Nhiều tài liệu bí mật của Bắc Việt bị lọt vào tay thế giới tự do mà cộng sản không tìm ra manh mối, Smerch bèn lập mưu, dùng Anáttát Bôrin làm mồi.

Vụ Bôrin có lẽ là lần đầu tiên áp dụng những tiến bộ mới nhứt của khoa học vào công tác gián điệp. Thật vậy, tiến bộ đáng kể nhứt về khoa học sau đại chiến thứ hai là kỹ thuật mổ óc và nắm quyền kiểm soát thần kinh hệ.

Ông Hoàng bấm nút anh-téc-phôn cho Nguyên Hương:

- Bác sĩ Võ Hoài tới chưa? Tới rồi hả? Mời vào trong này ngay.

Võ Hoài là một người thấp, béo, cận thị nặng, trán hói, dáng điệu từ tốn và mơ màng. Văn Bình quen Võ Hoài từ lâu. Hoài là bác sĩ quân y, được biệt phái sang Sở Mật Vụ, chuyên về thần kinh. Ông Hoàng nói:

- Hai anh quen nhau đã lâu, tôi miễn phải giới thiệu. Yêu cầu anh Hoài trần thuật cho Z.28 nghe khía cạnh kỹ thuật của vụ Bôrin.

Võ Hoài móc thuốc lá, nhồi đầy cái tẩu Đơn-bin da sần sùi, chậm chạp châm lửa, rồi bắt đầu:

- Óc con người là một bộ máy vô cùng tinh vi, có thể nói là tinh vi nhứt, gồm 14 tỷ tế bào, danh từ chuyên môn gọi là nơ-ron[12]. Nhờ các nơ-ron, khối óc có thể chứa được một trăm tỷ tỷ - anh nhớ rằng một tỷ có chín con dêrô phía sau, một trăm tỷ tỷ là hai chục dêrô - tin tức, khi cần tới là có ngay.

Mỗi nơ-ron có thể so sánh với một tổng đài điện thoại tối tân, trong chớp mắt có thể thông tin với ba ngàn tế bào khác. Mỗi phân khối vủa óc lại chứa đựng từ ba đến bốn chục ngàn trung tâm phân loại tin tức.

Trong số 14 tỷ nơ-ron, khoa học chỉ mới biết sơ sài về vai trò của bốn tỷ, còn mười tỷ kia, chưa ai khám phá ra. Hiện nay, các nhà bác học từ Đông sang Tây đang nỗ lực tìm hiểu sự thật lạ lùng bên trong. Bác sĩ Nhựt Phucutômê[13] ở Kyôtô đang điều khiển một nhóm chuyên viên vật lý học chế tạo một bộ óc nhân tạo giống như óc người. Mỗi nơ-ron của bác sĩ Phucutômê lớn bằng hộp diêm, nghĩa là muốn làm một bộ óc người, người ta phải chất các hộp diêm điện tử kia cao thành một bin-đinh mười tầng.

Với đà tiến bộ này, chỉ trong một thời gian nữa, các nhà bác học có thể biến óc người thành bộ máy điện tử, hoặc làm một bộ máy điện tử thay cho óc người. Con người đang hiền lành có thể trở thành sát nhân, kẻ buồn bực có thể trở thành vui sướng. Mùa thu năm 1964, bác sĩ Đengađô[14] đã hoàn thành tại Mỹ một cuộc thí nghiệm sai khiến óc người vô tiền khoáng hậu. Đengađô mổ óc một bệnh nhân, bỏ vào người điện cực[15] nhỏ li ti bằng sợi tóc. Những điện cực này được điều khiển bằng vô tuyến điện. Bác sĩ Đengađô đi theo bệnh nhân ra đường. Đột nhiên, bệnh nhận đập nắm tay vào tường, cười rũ rượi, rồi nằm lăn ra vĩa hè ngáy o o giữa lúc viên chức tan sở ra về đông đảo. Bác sĩ Đengađô ra lệnh cho bệnh nhân cười và ngủ bằng một cái máy vô tuyến tí hon giấu trong túi áo.

Bắt chước Đengađô, sở gián điệp Nga Sô đã mổ óc một số nhân viên, bỏ điện cực vào, rồi dùng vô tuyến sai khiến họ ám sát các lãnh tụ cao cấp trong thế giới tự do. Việc này còn ở giai đoạn thí nghiệm. Bôrin có lẽ là nhân viên gián điệp Sô Viết đầu tiên được mổ óc và đưa sang Hoa Kỳ.

Nóng ruột, Văn Bình ngắt lời:

- Để ám sát tổng thống Mỹ?

Bác sĩ Võ Hoài khoát tay:

- Không, Bôrin bị mổ óc không phải để gắn điện cực sai khiến bằng vô tuyến mà là gắn một máy thu thanh tí hon.

Võ Hoài ngưng bặt, nhìn ông Hoàng đợi lệnh. Ông Hoàng đóng tập hồ sơ trước mặt, nói giọng trầm trầm:

- Sống lâu trong làng điêp báo, hai anh đã biết một phần lớn thắng lợi thu hoạch được đều do tình cờ mà ra. Cũng nhờ tình cờ C.I.A. khám phá ra mưu mô của Nga Sô trong vụ Bôrin.

Sau khi bị bắt, Bôrin bị thẩm vấn suốt ngày đêm. Y bất tỉnh ba lần. Thỉnh thoảng, y lại kêu nhức đầu. Một hôm, y ngất đi quá lâu, trong lúc cứu chữa, các y sĩ phăng ra một vết thẹo đường kính chín ly trên đầu. Vết thẹo này là dấu tích của một cuộc mổ óc. Khi Bôrin tỉnh lại, y sĩ hỏi y trước kia đã bị giải phẩu lần nào chưa, y đáp chưa. Sinh nghi, người ta bèn cho y uống một ly cà phê pha thuốc, y ngất đi trong năm giờ đồng hồ.

Tại bệnh xá đặc biệt của C.I.A. người ta dùng quang tuyến và một số dụng cụ khác, chụp hình óc Bôrin. Kết quả làm ai nấy giựt mình.

Bôrin mang trong óc một cái máy ghi âm nhỏ xíu. Mọi tiếng động qua vành tai Bôrin đều được thu vào băng nhựa nhỏ bằng phần trăm sợi tóc trong óc. Máy ghi âm này tự động mở chạy khi một luồng ánh sáng cực mạnh chiếu vào mắt Bôrin. Hẳn hai anh đã biết công an Mỹ có thói quen dùng đèn rất sáng chiếu vào mắt người tình nghi trong khi thẩm cung.

Nói tóm lại, máy ghi âm trong đầu Bôrin được dùng để thu các cuộc thẩm cung.

Lúc nãy, tôi nói là một số điệp viên Bắc Việt đầu hàng Tây phương và làm việc trong tổng hành doanh C.I.A.. Họ gồm tám người cả thảy. Gián điệp Bắc Việt hoạt động ở nước ngoài đều ở dưới sự điều khiển của Smerch Sô Viết. Cộng sản không biết những điệp viên qui thuận là ai, hiện ở đâu, vì lẽ họ đột nhiên mất tích, không rõ là tự ý chọn tự do, bị bắt cóc mang đi, hoặc bị giết.

Cuộn băng ghi âm trong óc Bôrin sẽ có thể giúp tướng G. biết những nhân viên người Việt của C.I.A. thẩm cung Bôrin là ai. Từ đó họ sẽ có thể tìm ra đầu mối những tài liệu không cánh mà bay ở Hànội.

Tuy nhiên, đó mới là một trong hai mục đích mà tướng G.. Mục đích thứ nhì của tướng G. là dùng Bôrin để phăng ra hai nhân viên Bắc Việt gắn điện cực trong óc.

Thật vậy, Nga Sô đã bố trí cho hai điệp viên quy thuận C.I.A. mang điện cực trong óc mà họ không biết. Khi cần tới, tướng G. sẽ cử một người sang Mỹ, dùng vô tuyến điện điều khiển họ ám sát các lãnh tụ cao cấp. Có lẽ tướng G. định giết tổng thống Mỹ và ông tổng giám đốc C.I.A..

Việc điều khiển điện cực bằng vô tuyến có cái phiền toái là tầm hoạt động của máy tờrăndítto rất hẹp, người điều khiển phải ở gần nhân viên đeo điện cực trong vòng mấy trăm thước. Nga Sô không biết họ ở phòng nào trong tổng hành doanh C.I.A. Nhân một cuộc khám bệnh thường xuyên, y sĩ C.I.A. tìm ra hai nhân viên điện cực. Thấy Bôrin tới, C.I.A. bố trí cho họ ở trong ban thẩm vấn.

Nhứt cử nhứt động của Bôrin đều được bí mật chụp hình. Khi hai nhân viên điện cực xuất hiện, người ta thấy mắt Bôrin sáng lên một cách thõa mãn và kiêu ngạo. Có lẽ trước ngày sang Mỹ, Bôrin đã được coi ảnh họ để dễ nhận diện sau này.

Tương kế tựu kế, C.I.A. bèn trình nội vụ lên tổng thống Dônsơn, và đề nghị nếu Nga Sô yêu cầu phóng thích Bôrin thì kéo dài cuộc thương thuyết, đến phút cuối cùng mới nhận lời và đòi điều kiện thật nặng. Như các anh đã thấy, Nga Sô đã phải trả tự do cho năm người Mỹ bị cầm tù ở Hànội, kèm theo số tiền một triệu đô la.

C.I.A. tiên đoán sau khi rời Mỹ, tướng G. sẽ cử người điều khiển điện cực tới. Họ đã bố trí sẵn sàng, chờ nhân viên Smerch xuất đầu lộ diện thì tóm cổ.

C.I.A. gởi cho tôi một bản sao hồ sơ về vụ Bôrin. Tôi bèn nghĩ ra một kế. Kế lợi dụng Bôrin để đập nát những mối liên hệ cuối cùng giữa Nga Sô và Trung Cộng.

Từ ngày Sít-ta-lin tạ thế, Cút-sép lên cầm quyền, Bắc Kinh đã hục hặc với Mạc-tư-khoa. Cút-sép bị hạ, giây liên lạc Nga-Hoa lại căng thẳng thêm. Tôi vừa nhận được tin Hồng Quân Nga-Hoa đã được huy động dọc biên giới hai nước. Nếu có cách nào làm Trung cộng tin rằng Nga Sô cố tình phá họ, ta sẽ rút ngắn được chiến tranh du kích ở Đông Dương, đẩy Nga Sô vào cái thế phải đi đôi với Hoa Kỳ, và cô lập luôn đế quốc Trung cộng.

Việc ly gián này, tôi giao cho anh đảm trách. Thực hành đề nghị của tôi, C.I.A. bố trí bằng những lời nói úp mở khôn ngoan trong cuộc phỏng vấn cho Phan Mỹ, phó giám đốc điệp báo Bắc Việt, bị tình nghi liên lạc với Tây phương. Phan Mỹ là con cưng số một của Trung cộng trong địa hạt gián điệp. Hiện Phan Mỹ cấu kết với Trung cộng để loại trừ ảnh hưởng của Nga Sô ra khỏi Bắc Việt.

Nắm được bằng chứng Phan Mỹ "phản thùng", Nga Sô sẽ hối thúc Phạm Văn Đồng thanh trừng y và có thể ám hại y. Phan Mỹ bị hạ, Trung cộng sẽ ra mặt đập tan hệ thống điệp báo Sô Viết tại Hànội để trả thù.

Ngao cò tranh chấp, như ông thủ lợi, sứ mạng của anh là làm cách nào cho ngao cò giết nhau để mình thủ lợi. Anh sẽ được toàn quyền. Anh lên đường sáng mai. Các chi tiết phụ, anh xuống hỏi ban Hành Động.

Văn Bình toan hỏi thì chuông điện thoại kêu nhè nhẹ. Ông Hoàng nhắc ống nói siêu tầng số lên nghe, sau khi bấm nút trên máy, đảm bảo an ninh cho cuộc nói truyện bằng vô tuyến không sợ bị người ngoài nghe trộm.

Điện đàm kéo dài trong năm phút. Nghe xong, mắt ông tổng giám đốc sáng lên sau làn kính cận thị dày cộm. Ông Hoàng nói với Văn Bình:

- Tôi vừa được điện thoại của tổng hành doanh C.I.A. Đông Nam Á từ Vọng-các. Họ cho biết chương trình hành động của ta có thể tiến nhành theo dự tính. Bôrin đã từ Mạc Tư Khoa tới Hànội cùng với một phái đoàn Smerch do đại tá Kamốp cầm đầu.

Thoạt tiên, C.I.A. không dám chấp thuận đề nghị của tôi, vì họ sợ Bôrin bị giữ tại Mạc-tư-khoa, không đi Hànội. Bây giờ, họ phục tôi sát đất. Từ lâu, tôi đoán Bôrin phải đi Hànội vì Nga-Hoa đang tranh nhau từng li từng tí ở Bắc Việt, Smerch lợi dụng Bôrin, giả vờ giúp Phạn Văn Đồng để hất cẳng Trung cộng, cho nên tướng G. phải đưa Bôrin đi Hànội hầu phô trương thanh thế. Mặt khác, để C.I.A. không thể ngờ được Smerch sắp gởi nhân viên sang Hoa Kỳ để hạ sát các lãnh tụ cao cấp.

Ông Hoàng mở một hồ sơ khác trên đề sáu chữ "Kế hoạch xâm nhập Bắc Việt". Biết câu chuyện đã kết thúc, Văn Bình đứng dậy. Chuông điện thoại trên bàn lại reo lên.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:31 pm

III. Văn Bình ngồi khám

Nguyên Hương đợi chàng ở phòng ngoài với cái khay ni-lông để một chai huýt-ky mới khui và hai ly pha lê trắng tinh. Trong lúc chàng nói chuyện với ông Hoàng, nàng đã chải lại tóc, tô lại đôi môi chúm chím và phớt chút phấn hồng lên má, trông nàng xinh đẹp bội phần.

Bác sĩ Võ Hoài vịn tay vào bàn, mắt nhắm lại, giả vờ ngất xỉu:

- Trời, tôi bị đứng tim mất rồi.

Văn Bình đập vai bạn:

- Anh bị mệt chắc ở đây không được đâu. Anh xuống phòng tập trước, dặn họ sửa soạn đợi tôi. Uống xong ly rượu, tôi sẽ xuống.

Biết Văn Bình đuổi khéo, Võ Hoài nguýt hai người một cách rí rỏm, đoạn mở cửa bước ra ngoài hành lang. Trong phòng còn lại Văn Bình và Nguyên Hương; chàng ngồi xuống ghế rót rượu, nàng cúi xuống chiếc máy chữ điện IBM, má đỏ hây hây, dáng điệu ngượng ngùng.

Tuy quen chàng và yêu chàng đã lâu, nàng vẫn thẹn thò khi sắp ngã vào vòng tay rắn chắc của chàng. Chàng đưa ly huýt-ky lên môi:

- Cám ơn em đã nghĩ đến anh. Em hết giận anh chưa? Ông Hoàng cấm anh không được say rượu buổi sáng nữa rồi.

Sực nhớ ra, chàng vội nói:

- Ừ nhỉ, suýt nữa quên mất. Anh phải tập dượt dưới hầm đến tối mịt mới xong. Không biết chúng mình còn có thời giờ đi ăn với nhau không.

Nguyên Hương đứng dậy, tiến lại phía chàng, hờn dỗi:

- Nếu quả anh bận, em xin hoãn đến khi anh về. Còn nếu anh nói dối em để hẹn hò với người khác thì coi chừng. Em sẽ bảo cô Quỳnh Loan cắt lưỡi anh đi.

Văn Bình giựt mình đánh thót khi nghe nhắc đến tên Quỳnh Loan. Nàng đã xô Triệu Dung xuống sông Sàigòn. Vốn thích việc khó, chàng quyết chinh phục nàng cho bằng được dẫu bị mất lưỡi. Chàng kéo Nguyên Hương vào lòng, vít đầu nàng xuống. Hương tóc và da thịt thơm thơm thấm vào người chàng. Đê mê, chàng hôn vào đôi môi vừa mở hé. Nàng nhắm nghiền mắt lại, như muốn kéo dài giây phút thần tiên.

Đột nhiên, nàng mở mắt, gỡ ra khỏi vòng tay của chàng rồi tát vào má chàng một cái. Văn Bình bàng hoàng:

- Ơ kìa, sao em lại đánh anh?

Nàng trợn tròn mắt:

- Em còn đánh anh nữa. Anh nghĩ đến cô nào mà hôn em một cách bờ hững như vậy?

Giác quan thứ sáu của đàn bà, nhứt là đàn bà làm gián điệp, thật kinh khủng! Quả chàng đã tơ tưởng tới đôi môi như vẽ của Quỳnh Loan trong khi ôm hôn Nguyên Hương. Bèn chối bai bải:

- Em đa nghi như Tào Tháo. Anh đâu dám nghĩ đến ai ngoài em.

Tay chống nạnh, Nguyên Hương nói:

- Em sẽ cho người theo anh, từ bây giờ cho đến khi anh từ giã Sàigòn. Anh không giữ lời hứa thì chết với em nghe chưa? Em đã trình với ông Hoàng ròi. Nếu anh còn lăng nhăng, em sẽ bắt anh phải cưới em làm vợ ngay khi anh trở về. Em sẽ nhốt anh trong phòng này, không cho đi đâu hết.

Xoa má, Văn Bình kêu đau. Tưởng thật, Nguyên Hương ôm chầm lấy chàng:

- Khổ quá, em đánh chơi thôi mà. Anh bị đau thật ư? Em xin lỗi anh. Để em đền cho anh.

Nàng hôn Văn Bình một hơi dài. Ông Hoàng gọi nàng qua anh-tét-phôn từ nãy mà nàng không biết.

***

Phòng tập ở tầng dưới cùng, cách mặt đất mười thước, bên trên là văn phòng công ty Điện Tử.

Văn Bình xuớng bằng một thang máy riêng. Lúc ấy đã 12 giờ trưa, phòng tập vắng tanh. Đó là một căn phòng rộng 10 thước, dài hơn trăm thước, tường bê-tông gắn cao su hãm thanh. Một làn ánh sáng xanh mát tỏa xuống nền gạch màu vàng.

Văn Bình bắt tay thiếu tá Lê Diệu, chuyên viên tác xạ. Lê Diệu mỉm cười:

- Lâu lắm mới gặp lại đại tá ở phòng tập. Đồ tập vừa được mua ở Hoa Kỳ về, còn mới nguyên và tối tân hơn trước nhiều, nào, xin mời đại tá bắt đầu.

Đối diện Văn Bình, kê sát tường, là sáu cái ca-bin nhỏ, giống như ca-bin điện thoại công cộng. Lê Diệu đưa cho chàng sáu tấm ảnh lớn:

- Khi tôi bấm nút điện, sáu cửa ca-bin sẽ mở ra, từ mỗi ca-bin sẽ có một hình nộm bằng thép bọc ni-lông mềm bật ra. 5 hình nộm là cảnh sát viên, hình nộm thứ sáu là tên cướp mà đại tá cần hạ sát. Cửa ca-bin mở ra, đại tá phải rút súng ra khỏi vỏ và bắn liền, tuy nhiên, đại tá phải bắn đúng tên cướp, bắn lầm cảnh sát viên là mất điểm. Bắn tên cướp cũng phải trúng tim hoặc giữa mặt, nếu không cũng mất điểm. Tên cướp bắn bằng điện tử nên bao giờ cũng trúng, xin đại tá cẩn thận. Ba lần đấu súng cả thảy, ít nhất phải hạ được tên cướp hai lần. Tôi tin đại tá bắn trúng vì ở Sở, đại tá là người bắn giỏi nhất.

Văn Bình nhìn kỹ sáu tấm hình. Sáu người đều mặc quần áo giống nhau, sơ mi ngắn bỏ ngoài quần, miệng phì phèo thuốc lá, một tay thọc túi quần cồm cộm. Diện mạo cũng gần giống nhau, chỉ khác một điều là tên cướp có một vết thẹo dài trên má trái và đi giầy màu nâu trong khi các hình nộm cảnh sát dận giày đen.

Chàng đã quen với lối bắn hình nộm này bên Mỹ, trong các trường huấn luyện công an FBI. Muốn thắng điểm phải hội đủ ba điều kiện: thứ nhứt, nhận diện thật nhanh, để phân biệt tên cướp và năm cảnh sát viên, thứ nhì, rút súng thật nhanh, ít ra là nhanh bằng máy điện tử, và thứ ba là bắn thật trúng.

Thiếu tá Lê Diện hỏi:

- Đại tá vẫn dùng súng Luger chứ?

Văn Bình đáp:

- Tôi đánh mất rồi. Cho tôi khẩu nào cũng được.

Lê Diện ngần ngừ:

- Tôi đề nghị đại tá xử dụng khẩu SM 38[16].

Văn Bình suy nghĩ một phút. SM 38 là một trong những súng Côn thường dùng của công an Mỹ. Có hai loại súng ngắn: súng cất trong bao đeo ở thắt lưng, hoặc đeo giấu dưới nách, và súng nhỏ hơn, chỉ cất trong túi riêng, hoặc giấu dưới nách. Ngoại trừ cảnh sát cơ giới là dùng súng nòng dài còn hầu hết đều dùng nòng ngắn, để rút ra nhanh chóng, bao da khỏi kềng càng. Cảnh sát ít dùng súng tự động, đạn để trong gắp mà mà dùng súng rulô. Súng lục tự động bắn chậm hơn súng rulô, nếu bị đạn hóc, đạn thối thì chết. Bắn hết đạn, người ta phải xử dụng cả hai tay để thay bì đạn trong súng tự động, một tay giữ báng súng, tay kia bấm nút cho bì đạn tuột ra, rồi còn phải kéo qui lát cho một viên nhảy lên nòng. Còn súng rulô thì chỉ cần một tay mà thôi.

Sở dĩ Văn Bình ưa súng lục tự động vì nó nhỏ hơn, nhẹ hơn, dễ giấu, lại dễ bắn, và có thể nổ được nhiều phát hơn. Song le, đây là cuộc tập dượt nên chàng nhận thấy súng côn rulô là khí giới thích hợp. Chàng liền hỏi Lê Diệu:

- Thiếu tá đề nghị loại SM 38 nào.

- Thưa có 10 loại 38 đặc biệt. 39 Quân Cảnh, 38 K, 38 Chiến Đấu, 38 nặng, 38 Vệ Sĩ, 38 Teriê, 38 Ngoại Xạ, 38 Không Lượng, 38 Thủ Lãnh, 38 Xentênian, 38 Đặc Biệt Thủ Lãnh, đại ta muốn lấy thứ nào 3[17].

- Ồ, những loại này rẻ tiền, bắn không sướng, yêu cầu thiếu tá cho tôi khẩu Mắcnom 33 đặc biệt.[18]

Lê Diệu trố mắt, kinh ngạc. Khẩu Mắcnom 44 đặc biệt là súng rulô đắc tiền nhứt, giá bán tại Mỹ gần 150 đô la. Nó là loại nặng, nòng dài, xử dụng cồng kềnh, chỉ những tay thần xạ mới dám mó tới.

Nghĩ tới những lời phê bình gay gắt của ông Hoàng, Văn Bình cảm thấy sung sức hẳn lên. Chàng quyết dùng súng Mắcnom nặng chình chịch để tỏ cho ông Hoàng biết chàng không quá tồi mặc dù nghiện rượu buổi sáng. Chợt nhìn lên trần, thấy mấy cái lỗ tròn của máy điều hòa khí hậu, chàng hỏi Lê Diệu:

- Vô tuyến truyền hình ở đây được chuyển lên phòng nào?

- Theo thường lệ, được chuyển về ban An Ninh. Nhưng ông tổng giám đốc vừa ra lệnh chuyển lên phòng ông. Giờ này, ông tổng giám đốc đang sửa soạn ngồi trước khung ảnh, chờ anh biểu diễn bắn hình nộm.

Văn Bình nhún vai ra lệnh cho Lê Diệu. Lê Diệu bấm một cái nút màu đỏ. Đeo khẩu Mắcnom bóng loáng ở thắt lưng, Văn Bình khuỳnh chân, hai tay duỗi ra sát đùi, mắt mở rộng, nhìn thẳng vào 5 ca-bin đóng im ỉm.

Một tiếng "cách" thật lớn nổi lên, sáu cánh cửa sắt cùng mở toang một lượt. Sáu hình nộm cao lớn cùng nhảy ra, trên tay lăm lăm khẩu súng. Nhanh như chớp, Văn Bình nhận diện được tên cướp có thẹo dài trên mặt. Chờ y nâng súng lên, chàng mới ngã lăn xuống đất.

Hai phát súng chát chúa nổ vang. Hình nộm bị bắn trúng tim, gây ra một lỗ lớn đen sì. Viên đạn của hình nộm bắn ra bị lạc vào tường. Đạn được nhồi một thứ bột riêng, nhuộm màu đen, đụng đâu bẩn đấy, song không làm chết người. Văn Bình đứng dậy, phủi quần áo giữa tiếng vỗ tay hoan hô của thiếu tá Lê Diệu.

Cửa ca-bin đóng lại, rồi mở ra lần thứ hai, thứ ba. Mỗi lần, hình nộm tên cướp được đổi sang vị trí khác, song lần nào Văn Bình cũng bắn trúng, phát thứ nhì vào yết hầu, phát thứ ba vào giữa hai con mắt. Mãi tới phát thứ ba, hình nộm mới bắn vào người chàng, song viên đạn chỉ sướt qua tay áo, để lại một vết đen nhỏ. Lê Diệu cười to:

- Đại tá giỏi lắm. Ba năm nay, tôi mới thấy lại một tay thiện xạ như đại tá.

Văn Bình uống một ly nước lọc - nước lọc chứ không phải huýt-ky - rồi theo Lê Diệu sang phòng bên. Ở góc nhà, đứng sừng sững một hình nộm, mặc theo lối cao bồi miền Tây nước Mỹ. Mỗi bên lưng hình nộm đều có một khẩu súng lục cán bạc nòng ngắn, nhô lên khỏi bao da thêu kim tuyến rực rỡ. Lê Diệu bảo:

- Bây giờ đến tập rút súng. Đại tá cũng đeo hai khẩu như hình nộm. Khi tôi bắn phát súng lệnh thì đại tá phải rút khí giới và lảy cò.

Văn Bình đứng xa hình nộm 10 thước. Hình nợm trừng mắt thủy tinh nhìn chàng. Nó được điều khiển bằng điện tử. Một cái máy IBM ở trong óc tính hộ hình nộm khi nào phải rút súng và bắn vào đâu. Lệ thường, hình nộm rút và bắn nhanh hơn người.

Phát súng lệnh của Lê Diệu nổ dòn, đồng thời mở máy toán điện tử. Văn Bình đang đứng thẳng, đột nhiên quay nửa người và nhanh như cắt ngồi thụp xuống, nã luôn hai phát, khói súng xanh lè, quyện một mùi khét lẹt. Kết quả khả quan: hình nộm trúng đạn vào mắt. Văn Bình chỉ bị thương ở vai. Lê Diệu bắt tay chàng, dáng điệu hân hoan.

Văn Bình nói:

- Nào, còn chém giết ai nữa thì đem ra đây một thể.

Lê Diệu cười:

- Ông Hoàng đặn tôi đưa đại tá lên ghế quay.

Văn Bình cau mặt. "Ghế quay" là một thứ ghế riêng, trông như ghế chữa răng, lắp một động cơ riêng, người ngồi lên là ghế quay tít như chong chóng và hất ngã xuống. Người mới tập phải mặc một bộ quần áo đặc biệt để khỏi bị thương. Ghế quay dùng để làm quen với phương pháp nhảy tàu hỏa, nhảy xe hơi, trong khi chạy nhanh. Lê Diệu lấy bộ áo đặc biệt cho Văn Bình mặc, song chàng gạt đi. Chàng phải biểu diễn lần nữa thật đẹp cho ông Hoàng khỏi dè bĩu.

Chàng ngồi ngay ngắn trên ghế. Lê Diệu vặn cho ghế cao lên, rồi bấm nút. Chiếc ghế ngã ra sau, rồi quay sang trái, quay sang phải, trước khi quay tít mù. Nếu là người yếu tim thì đã bất tỉnh, song Văn Bình vẫn thản nhiên như không. Chiếc ghế đột nhiên tung chàng xuống nền xi-măng, chàng lẹ làng uốn mình nhảy vọt lên, rồi đứng dậy, không bị xây sát, nét mặt bình thường, trên trán không một giọt bồ hôi. Lê Diệu lặng người trong một phút.

Chợt một tiếng nói vang lên trong phòng:

- Được rồi, không cần tập nữa. Thành thật khen ngợi Z.28.

Đó là tiếng nói quen thuộc của ông Hoàng. Lê Diệu móc trong túi ra một chai huýt-ky dẹt:

- Xin mừng đại tá.

Văn Bình mở nút, nốc cạn một hơi. Rượu vừa chảy qua cuống họng, chàng cảm thấy cồn cào, rồi mắt hoa lên, hàng ngàn con đom đóm xanh đỏ múa nhảy trước mặt. Chàng ném chai rượu xuống đất vỡ nát, loạng choạng một giây, trước khi ngã xụm vào ghế bành.

Cửa phòng tập mở toang. Hai người mặc áo trắng, tiến vào, khiêng theo một cái băng-ca. Họ lẳng lặng đặt Văn Bình nằm cứng đơ như khúc gỗ vào băng-ca, rồi khiêng thẳng ra thang máy, lên lầu tư.

Văn Bình được đưa vào một căn phòng sực nức mùi thuốc sát trùng, ba y sĩ vẻ mặt nghiêm nghị đã chờ sẵn. Chàng được khiêng đặt lên chiếc bàn mạ kền bóng loáng, một y sĩ lắp giây điện vào cổ tay, ngực và đầu chàng, hai y sĩ khác đeo ống nghe chăm chú cúi xuống. Bầu không khí bệnh xá im lặng lạ thường. Người ta có thể nghe được hơi thở của ba y sĩ.

Mười phút sau, y sĩ lớn tuổi nhất bỏ ống nghe tiến lại máy điện thoại:

- Alô, xin báo cáo. Các bộ phận trong người đều tốt. Duy có một điều lạ: dung lượng rượu trong máu còn rất nhiều.

Ở đầu giây, ông Hoàng suýt kêu lên một tiếng sửng sốt. Sự kiện này chứng tỏ Văn Bình càng uống rượu càng sáng suốt. Ông thở dài nhè nhẹ. Từ cổ chí kim, tạo hóa mới sản xuất được một điệp viên kỳ lạ như Z.28.

Ông Hoàng hỏi:

- Đã lắp A-16 vào chưa?

Viên y sĩ trưởng đáp:

- Thưa rồi.

- Xong xuôi, các ông đưa Z.28 xuống phòng nghỉ.

Ông Hoàng gác điện thoại, dáng điệu mơ màng. Trông ông, ai cũng tưởng là một thi sĩ già đang tìm vẩn thơ, chứ không ai ngờ được ông là một trong những nhân viên nguy hiểm nhứt và quan trọng nhứt của nhân loại.

***

Văn Bình tỉnh lại trong một căn phòng sơn trắng toát, trang trí vô cùng sang trọng. Chàng hơi ngạc nhiên khi thấy nằm trên giường.

Nhìn chung quanh, chàng lại ngạc nhiên hơn nữa. Quỳnh Như, cô gái đẹp nhứt trong "phòng đợi" đang ngồi trầm ngâm trên ghế bành, kê sát giường. Thấy chàng tỉnh dậy, nàng cất giọng thỏ thẻ:

- Anh khỏe quá, bác sĩ nói anh bảy rưỡi mới tỉnh mà bây giờ mới sáu giờ anh đã ngồi dậy rồi.

Văn Bình ngồi phắt dậy trên giường:

- Tôi bị thương à? Sao tôi lại ở đây?

Quỳnh Như mỉm cười:

- Không đâu. Ông Hoàng cho anh uống huýt-ky pha thuốc mê, để xem xét các bộ phận trong người anh, khi bị bất tỉnh ra sao. Ông Hoàng muốn biết phản ứng của anh nếu chẳng may anh bị địch chích thuốc mê hoặc huyết thanh sự thật[19]. Các y sĩ cho biết anh tốt lắm. Địch bắt được anh cũng chẳng làm gì nổi.

- Tôi đang ở trong tổng hành doanh phải không?

- Vâng, ở lầu hai. Ông Hoàng dặn anh có thể trở về nhà sau khi thức dậy. Trong khi anh bị mê, các y sĩ đã gắn vào răng hàm anh một cái A-16. Khi hữu sự, anh chỉ cắn mạnh một cái là máy chạy. Hễ anh thấy miệng tê tê là A-16 bắt đầu chạy. Nó có thể chạy trong 72 giờ đồng hồ mới ngừng. Ông Hoàng sai em nói lại vời anh chỉ dùng A-16 trong trường hợp đặc biệt anh bị bắt ở Hànội, giam trong phòng kín mà không có hy vọng trốn thoát.

Văn Bình giựt nảy người. A-16 là loại máy phát tín hiệu tí hon nhưng tân tiến nhứt của Sở Mật Vụ. Tín hiệu này sẽ lọt vào tai một máy thu âm đặc biệt trong đường kính ba cây số. Chàng vụt hiểu. Ông Hoàng đã cài sẵn nhân viên ở Hànội, trong trường hợp chàng lâm nạn sẽ tìm cách tiếp cứu.

Vuôn vai, Văn Bình bước xuống giường. Mùi son ngòn ngọt như kẹo trên môi Quỳnh Như tạt vào mũi chàng. Nàng mặc một bộ din mỏng, bó sát lấy tấm thân ngà ngọc, làm nổi bật đôi gò bồng đảo phồng nhựa sống. Ngây ngất, chàng nắm lấy tay nàng, kéo lại. Nàng lặng yên cho chàng vuốt ve. Chàng hôn vào môi nàng. Nàng ghì chặt lấy chàng, hôn trả rất lâu.

Đoạn buông chàng ra, Quỳnh Như nói, giọng tiếc nuối:

- Em vừa vi phạm điều 25 trong nội qui. Cấm không được mềm lòng đối với đồng nghiệp nam giới. Đến giờ rồi, thôi anh về đi. Một chiếc xe cọt ve sơn xanh đang chờ anh trên đường Nguyễn Huệ. Chìa khóa công-tắc để dưới nệm xe. Chào anh và chúc anh may mắn.

Quỳnh Như đua chàng ra thang máy xuống dưới nhà. Chàng gạ hỏi thêm, song nàng lặng thinh, đôi mắt mơ màng nhìn đâu đâu. Có lẽ nàng đang nghĩ tới sự khiển trách nghiêm khắc của "ông Đồng".

Chàng vừa ra tới đầu đường Tự Do, đối diện khách sạn Ma-dét-tích, thì chạm trán Triệu Dung. Trong thế chiến, Dung và chàng đều là nhân viên quân báo OSS[20], tung hoành ở châu Âu. Dung học tới năm thứ 5 trường Thuốc thì dấn thân vào nghề điệp báo. Đến khi gia nhập tổ chức ông Hoàng, ra Hànội hoạt động với tư cách lãnh tụ phong trào Yêu Nước, chàng mở phòng mạch, ban đêm là Z.30 làm cộng sản sợ toát bồ hôi, ban ngày là y sĩ đông khách.

Gặp chàng, Văn Bình mừng rú. Hai người bắt tay đến cháy bỏng da. Triệu Dung lôi chàng lên vĩa hè bách bộ dọc đường Nguyễn Huệ. Dung từ Hànội vào Nam được gần một năm, sau khi ông Hoàng cải tổ lại guồng máy hoạt động, đưa phần lớn tổ chức vào vòng bí mật, đội lốt công ty kỹ nghệ như tình báo liên bang Tây Đức của tướng Ghêlen[21].

Triệu Dung nói:

- Sáng mai tôi đưa anh lên phi trường, mang theo chỉ thị cần thiết cho anh. Đêm nay anh ở đâu? Ông Hoàng cho biết anh ngủ đêm ở đường Võ Tánh, trong phòng cô Mộng Kiều.

Chàng dẳn mạnh hai tiếng "Mộng Kiều" điểm thêm một cái cười ý nghĩa:

- Mộng Kiều đẹp lắm phải không anh?

Văn Bình hơi ngạc nhiên về sự thay đổi tính tình của Triệu Dung. Từ lâu, Triệu Dung vẫn nổi tiếng là nghiêm nghị, không thích đùa cợt, nhứt là không ưa gần đàn bà. Như đọc được tư tưởng của bạn, Triệu Dung nhún vai:

- Tôi đã 42 rồi, anh biết không? Hai phần ba đời người mà vẫn sống vò võ một mình. Làm nghề gián điệp hành động, ít ai sống đến tứ tuần, nên 42 tuổi đối với tôi cũng như 70 đối với người khác. Bỗng nhiên, tôi thấy trống trải lạ lùng. Tôi muốn trở lại quá khứ, trở lại thuở còn là sinh viên, ôm hôn một cô gái mũm mĩm và nói chuyện bâng quơ suốt sáng.

- Anh quên vụ chết đuối rồi sao?

Triệu Dung phá lên cười:

- À, ông cụ già lắm chuyện đã thuật lại anh nghe. Đúng thế, cô Loan đã lừa xô tôi xuống sông. Cô bé đáo để lắm, tôi đòi hôn nó, nó bằng lòng, lim dim đôi mắt, và ngã vào lòng tôi. Thấy ngon quá, tôi quên cả giữ gìn. Nó chỉ đẩy nhẹ là tôi lăn tòm xuống nước. Nói đúng ra, Quỳnh Loan không xô tôi ngã nổi nếu trước đó Nguyên Hương không lừa tôi uống cà phê. Anh vốn biết tôi nghiện cà phê đen. Nguyên Hương bỏ thuốc vào cà phê, làm tay chân tôi bải hoải. Nên tôi bị thua dễ dàng. À, mai kia có dịp đi chơi với Quỳnh Loan, anh làm ơn rửa hận giùm tôi. Cả Sở đều khiếp cô ta, chắc chỉ có anh mới trị nổi.

Lời nói của Triệu Dung làm Văn Bình miên man nghĩ đến bộ ngực và cái mông bất hủ của Quỳnh Loan. Đêm nay, chàng quyết ra tay bẻ khóa động đào, tạo kỷ lục cho Sở Mật Vụ kính nể. Cúi nhìn đồng hồ, chàng nhếch nụ cười bí mật:

- Chào anh. Tôi có cái hẹn.

- Hẹn với Quỳnh Loan hả? Cẩn thận, không khéo bị uống nước vỡ bụng đấy.

Hai người vui vẻ chia tay. Văn Bình trèo lên tắc xi, dặn lái loanh quanh một hồi, rồi đậu lại cuối đường Phú Kiệt. Chiếc xe hơi mui vải sơn trắng của chàng đậu hồi sáng trước một tiệm ăn Tàu đã được nhân viên Sở lái về cất trong ga-ra riêng. Ông Hoàng dành cho chàng một chiếc Cọt-ve khác, sơn xanh, nằm lẻ loi trước Tổng Ngân Khố, lù mù ánh đèn.

Huýt sáo miệng, chàng mở cửa xe, chui vào. Đột nhiên, chàng khựng người.

Quỳnh Loan đã ngồi trong xe, không biết tự bao giờ. Thấp thoáng sau màn tối, nàng đẹp mê hồn như hồ ly mỹ nhân trong truyện Liêu Trai, khiến Văn Bình rùng mình. Nàng mỉm cười:

- Z.28 sợ em phải không? Anh yên tâm, em không xô anh suống sông Sàigòn đâu.

Văn Bình đóng cửa xe, giọng thoải mái:

- Ồ, trời nóng thế này, được xuống sông tắm mát thì còn gì thú bằng.

Quỳnh Loan nũng nịu:

- Anh cứ riễu em mãi. Lái nhanh đi, kẻo "ông Đồng" thấy thì chết. Nếu em không lầm, tối nay anh có hẹn với "ông Đồng".

- Bọn em sợ Nguyên Hương đến thế kia ư?

- Trời! Chị nào phạm lỗi phải phạt một tuần không được ra phố, mỗi sáng phải dậy từ 4 giờ, đeo ba lô nặng như cối xay trên vai, đi bộ đúng ba chục cây số mới được nghỉ ăn lót dạ.

Văn Bình ấn ga nhè nhẹ, chiếc xe Mỹ gọn gàng lướt ra khỏi lề, bon bon về phía Bờ Sông, gió thổi phần phật. Lái được một quãng, chàng hỏi Quỳnh Loan:

- Chúng mình đi đâu?

- Tùy anh. Nếu có thể, chúng mình vào Chợ Lớn. Ăn trong ấy kín đáo hơn. Đêm nay, em phải trực, chậm lắm là gần mười một giờ em phải về.

Mùi nước hoa "Văng-ve" Ba-lê - thứ nước hoa của đàn bà Âu châu quý phái đa tình - thoang thoảng vào mũi chàng. Những sợi tóc dài của Quỳnh Loan thổi tạt qua tay lái, mơn man da thịt chàng, gây ra một xúc cảm ngây ngất như vừa uống một chai rượu mạnh buổi sáng.

Đại lộ Trần Hưng Đạo đầy nghẹt xe hơi. Văn Bình vẫn phóng nhanh như tên bắn, đèn pha vặn chói lòa. Qua ngã tư Nguyễn Thái Học, Văn Bình nghe còi síp-lê cảnh sát thét bên tai. Chàng lại phóng nhanh thêm. Quỳnh Loan dựa má vào vai chàng. Văn Bình tê mê, quên cả thực tại, hàng chục xe hơi bị chàng rồ máy vượt qua, tài xế buông miệng chửi rủa mà chàng không nghe tiếng.

Chàng quẹo vào đường Huỳnh Quang Tiên, tránh chiếc mô tô của cảnh sát giao thông rượt theo, rồi tắt đèn, chạy từ từ dọc bờ sông. Quỳnh Loan mở choàng mắt:

- Anh coi chừng đấy. Đêm nay, em không muốn nằm trong xà-lim cảnh sát đâu.

Chàng vuốt má nàng âu yếm:

- Trái lại, anh muốn ngủ khám với em đêm nay.

Văn Bình dừng xe trước tiệm ăn Diamond. Hai người chọn một cái bàn khuất trong góc. Chàng mỉm cười trong khi Quỳnh Loan dặn bồi mang lại một chai huýt-ky và hai cái ly. Nàng nói:

- Em uống thật say với anh tối nay để chúc anh lên đường may mắn.

Văn Bình bâng khuâng nhìn vào cái cổ trắng nõn của nàng. Chàng ghé miệng sát mặt nàng, hôn nhẹ vào má, nàng lắc đầu, giọng ngọt ngào:

- Đừng anh, tiệm ăn đông người, thiên hạ cười cho đấy.

Chàng vừa uống xong ly rượu thứ nhứt thì cửa xịch mở, một toán cảnh sát viên võ trang ập vào. Giựt mình, Văn Bình nhìn Quỳnh Loan, dáng điệu cầu cứu. Nàng nhún vai:

- Không phải họ đến tìm anh đâu. Chắc họ vào xét giấy. Một vụ khủng bố vừa xảy ra cách đây mười phút trước cửa một tiệm nhảy.

- Sao em biết?

Quỳnh Loan cười, rút cái walkie talkie nhỏ xíu trong xắc ra:

- Lúc nãy, khi anh ra quầy rượu chọn huýt-ky, em mở máy ra nghe. Lệ thường, em vẫn liên lạc với ban An Ninh ở tổng hành doanh, nhứt là ban đêm.

Văn Bình đẩy đĩa tôm chiên lăn bột vàng rộm lại trước mặt nàng. Nàng khoác tay:

- Em no lắm rồi. Chúng mình về đi.

- 11 giờ em mới về kia mà.

- Không khí ở đây ngột ngạt lắm. Ra ngoài dễ chịu hơn.

Một ý nghĩ nhú lên trong óc Văn Bình. Vì nghề nghiệp, chàng thuê một số phòng trong thành phố, bày biện sang trọng nhưng để trống, chỉ khi nào hoạt động mới tới. Chàng định mang Quỳnh Loan tới đấy, xem nàng có dám xô chàng xuống sông không.

Thấy chàng đậu xe trước một bin-đinh gần Ngã Bẩy, Quỳnh Loan ngạc nhiên:

- Anh dẫn em lên phòng phải không? Em không lên đâu.

Văn Bình hôn vào gáy nàng:

- Anh chỉ mời em uống rượu thôi. Sáng sớm anh đi rồi, em dễ dãi một chút với anh không được sao?

Quỳnh Loan run rẩy dưới cái hôn kỳ lạ của chàng điệp viên đẹp trai giàu kinh nghiệm. Như cái máy, nàng theo chàng lên cầu thang. Văn Bình rất sành tâm lý phụ nữ. người đàn bà khó nhứt thường trở nên dễ nhứt khi đàn ông đánh trúng yếu điểm.

Men rượu làm má nàng đỏ hồng. Không để ý ới đồ đạc đắt tiền trong căn phòng tối tân, gắn máy điều hòa khí hậu. Quỳnh Loan ngồi xuống ghế, xiêm nàng vén cao quá dầu gối, để lộ cặp giò thon tròn và trắng như ngó sen. Nàng mặc một cái áo len mỏng ngắn tay, bó sát ngực. Con mắt quan sát thành thạo của chàng cho biết bên dưới nàng không mặc đồ lót.

Văn Bình giả vờ vô ý gạt tay làm chùm chia khóa để trên bàn rơi xuống đất. Quỳnh Loan cúi xuống lượm. Cổ áo nàng trễ ra, để lộ một nửa ngực trên, chất chứa một sức quyến rũ lạ lùng. Không cầm được lòng, chàng ôm ghì lấy nàng.

Bỗng nhiên nàng kêu lên:

- Trời ơi!

Cái khóa sắt sau lưng áo len đã được Văn Bình kéo xuống, làn da lưng nõn nàng phô bày lồ lộ dưới ánh đèn sáng quắc, chiếc áo len phong phanh chỉ đợi chàng giựt nhẹ là tuột ra khỏi người. Toàn thân Quỳnh Loan nóng bừng lên, ngũ quan nàng đang bị kích thích với tốc độ cao nhất.

Tiếng kêu của Quỳnh Loan làm chàng ngưng tay vuốt ve. Gỡ chàng ra, nàng vội đứng dậy:

- Khổ quá, em để quên cái xắc dưới xe rồi. Anh có khóa xe lại không?

Ngẫm nghĩ một giây, Văn Bình đáp:

- Không.

Bất giác, chàng rờ túi quần sau. Khổ quá, cái ví da đựng giấy tờ và tiền bạc của chàng cũng bay đâu mất. Chàng sực nhớ lúc ôm hôn nàng trong xe, tay chàng mân mê đùi nàng, chạm phải một vật cồm cộm lành lạnh mà chàng không để ý. Có lẽ túi quần cạn, cái ví tuột ra ngoài, nằm trên đệm xe.

Quỳnh Loan kéo lại phét-mơ-tuya. Văn Bình buồn thiu, nghĩ đến trái dâu chín mọng sắp lọt vào tay thì nàng nhớ tới ví da phải gió bỏ quên. Sợ nàng trở về, chàng dặn:

- Anh xuống một mình. Em ngồi trên này đợi anh.

Quỳnh Loan hôn chùn chụt vào má chàng:

- Mau lên nhé. Cái xắc bị mất thì nguy lắm. Bên trong, có một số giấy tờ.

Văn Bình không mấy quan tâm tới cái ví chàng. Tiền mất hết thì thôi, sẽ có tiền khác. Giấy tờ toàn là đồ giả, ông Hoàng đã làm sẵn cho chàng hàng chục căn cước khác nhau. Nếu Quỳnh Loan không khẩn cầu bằng con mắt rơm rớm, chàng sẽ ở lại trong phòng. Đàn bà muốn thì Trời muốn, chàng nhủ thầm. Lát nữa, chinh phục tấm thân ngà ngọc kia cũng chẳng muộn.

Gió mát buổi tối quạt vào mặt chàng. Đường phố vắng tanh. Chàng đi bộ một quãng mới tới nơi đậu xe, dưới một cây bàng lớn, cành lá đen sì, ánh điện ở đầu đường không đủ sức chiếu tới.

Chợt lông mày chàng nhíu lại.

Chàng không thể nào lầm được. Có kẻ đang núp trong xe chàng. Chắc là bọn "thổi xe". Cách cây bàng năm thước, Văn Bình lũi vào mái hiên một ngôi nhà tối om, vận nhơn tuyến nhìn về phía xe Cọt-ve nằm trơ trọi trên đường vắng.

Tiếng động cơ rú lên nhè nhẹ. Chết rồi, trong một tích tắc nữa, chiếc Cọt-ve sẽ vọt khỏi lề, xắc tay và ví da của hai người chắp cánh bay mất. Nhanh như chớp, Văn Bình phóng lại xe. Qua bóng tối mờ mờ, chàng nhận ra một gã to lớn đang lúi húi thử đề ma rơ. Thấy Văn Bình, y tông cửa xe, nhảy vọt ra ngoài, tay cầm cái xắc của Quỳnh Loan, chạy biến về đường Minh Mạng.

Văn Bình co giò đuổi theo.

Phải là vô địch một ngàn thước mới bỏ rơi được chàng. Trong ba phút ngắn ngủi, chàng bắt kịp tên gian. Lúc ấy, hai người chạy qua một nhà ngoại kiều, có nhân viên cảnh sát đứng gác. Văn Bình chỉ cần đòi lại cái xắc rồi bỏ qua câu chuyện, song chàng vừa tới nơi, chưa kịp lên tiếng, tên du đãng đã giáng một đòn quyết tử vào mặt chàng.

Đối với người xông pha chiến trận như Văn Bình thì một chứ mười tên du đãng cũng chẳng thấm vào đâu. Chàng né sang bên, quả đấm bị trượt ra ngoài. Không chịu thua, y lại đấm nữa. Văn Bình lại né. Tên anh chị rút dao bấm ra, lưỡi sắc như nước, lấp lánh dưới ánh đèn.

Bực mình, Văn Bình phải chống đỡ. Nhân viên cảnh sát thổi còi ré lên. Tên du đãng hoảng hốt đâm mạnh vào cổ Văn Bình. Chàng bắt lấy tay cầm dao bẻ ngược, y ngã chúi xuống đất.

Bỗng một tiếng kêu thất thanh nổi lên. Mũi dao chổng ngược đâm vào tim tên anh chị bất hạnh. Văn Bình vội cúi xuống. Nạn nhân xoay ngửa ra, máu tuôn như suối. Người cảnh sát ré còi liên hồi. May thay, một xe Hồng Thập Tự vừa chạy qua. Hai người trên xe nhảy xuống, khiên nạn nhân vào băng ca. Nạn nhân nằm thẳng đơ, cổ ngoẹo xuống vai, da mặt tái mét. Vết thương không nguy hiểm đến tính mạng, song Văn Bình sẽ bị rầy rà.

Nhân viên cảnh sát nói với chàng:

- Xin mời ông về Quận lấy lời khai.

Văn Bình chưa kịp đáp thì một xe díp công an ập tới. Chàng định yêu cầu trở về căn buồng đường Minh Mạng gặp Quỳnh Loan và nhờ nàng báo tin về Sở, song lại đổi ý kiến. Nguyên Hương sẽ không tha thứ cho chàng nếu nội vụ lọt vào tai.

Tới ty cảnh sát quận Ba, chàng được đưa thẳng vào phòng ông phó quận. Chàng được mời ngồi và yêu cầu xuất trình giấy tờ. Chàng bèn ghi số điện thoại của Triệu Dung, nhờ viên phó quận gọi báo tin. Viên phó quận hơi thay đổi nét mặt khi đọc thấy giây nói riêng của Sở Mật Vụ.

- Nếu tôi gọi được, thì sẽ xưng tên ông là gì?

Văn Bình đáp:

- Xin ông nói giùm là người bạn thân nhất của "ông Đồng" bị nạn. chắc ông đã nghe nhân viên báo cáo tên gian định trộm xe hơi của tôi, cướp giật cái xắc bị tôi đuổi theo, dùng dao đâm tôi, song chẳng may y ngã xuống bị mũi dao đâm vào ngực.

Viên phó quận nhấc máy điện thoại:

- Vâng, ông để tôi xét xem. Bây giờ tôi gọi số ấy cho ông.

Gọi một hồi, không nghe ai trả lời, viên phó quận trả máy vào giá:

- Giờ này, nơi đó đóng cửa rồi, phiền ông đợi đến sáng lai.

Văn Bình tỏ vẻ ngạc nhiên. Sở Mật Vụ thường có người gác điện thoại suốt ngày đêm. Nghĩ đến cảnh bó gối suốt đêm trong bót cảnh sát đầy muỗi, lại thiếu thuốc Salem và huýt-ky, Văn Bình vật nài:

- Ông làm ơn gọi lại lần nữa xem.

Dường như không nghe lời khẩn khoản của chàng, viên phó quận xô ghế, đứng dậy, gọi:

- Thường trực.

Hai cảnh sát viên đeo súng lục tiến vào. Viên phó quận chỉ Văn Bình ngồi ủ rũ trên băng gỗ lạnh lẽo:

- Đưa ông này xuống dưới nhà.

Văn Bình phản đối, song viên phó quận đã hối hả bước ra ngoài. Chàng không còn cách nào hơn, ngoài cách thui thủi đi giữa hai nhân viên công lực lầm lì xuống nhà giam.

Z.28 xộ khám.

Xộ khám vì mê gái.

Tức uất người, chàng muốn đạp toang cửa vi-ô-lông, tống cho tốp lính gác ngã rụi, rồi trèo lên xe díp, phóng như điên tới căn phòng thơ mộng đường Minh Mạng.

Song cánh cửa nặng nề đã đóng chặt rồi. Một mình trong căn phòng nhỏ xíu, với chiếc đi-văng gỗ đen sì bồ hôi, với hàng trăm chú rệp đói khát đang chờ đợi. Văn Bình đâm ra chán nản lạ lùng.

Chợt nghĩ ra, chàng tự tát vào má một cái đau điếng. Ngu quá, có thế mà không biết. Quỳnh Loan đã cho chàng vào xiếc. Tại sao viên phó quận không thèm hỏi lý lịch, cũng không thèm lấy một chữ khẩu cung. Tại sao y gọi đúng số Sở Mật Vụ mà không ai trả lời? Phải rồi, thông đồng với Quỳnh Loan, y đã cố tình gọi lộn số. Quỳnh Loan muốn chàng ngủ bót đêm nay cho biết thân.

Chàng bèn đập cửa ầm ầm.

Một cảnh sát viên chạy lại, giọng gắt gỏng:

- Gì thế? Có im cho mọi người ngủ không?

Văn Bình nói, giọng khẩn khoản:

- Tôi là Văn Bình, đại tá Tống Văn Bình.

Người cảnh sát viên cười ré lên:

- Nếu ông bạn là đại tá Văn Bình, thì tôi là thống tướng Oét-mô-re-len. Thôi bồ, đừng xạo nữa, nằm xuống sạp ngủ một giấc cho thiên hạ đỡ khổ. Sáng mai, lên biện lý rồi tha hồ nói phét.

Thờ dài sườn sượt, Văn Bình đành ngồi xuống đi-văng. Ngọn đèn nê-ông ngoài hành lang lập lòe như trêu ngươi chàng. Bao năm vào sinh ra tử, hàng trăm phụ nữ đẹp quì mọp dưới chân, giờ đây chàng bị thua mưu một cô gái hai mươi tuổi. Phen này, nhân viên Mật Vụ được một mẻ cười vỡ bụng!

Văn Bình cố xua đuổi ý nghĩ hờn giận ra khỏi tâm trí để chợp mắt, song chàng không tài nào ngủ được. Chàng nhớ tới lời nói ỏng ẹo của Quỳnh Loan trên xe:

- Anh coi chừng đấy, đêm nay em không muốn nằm trong xà-lim cảnh sát đâu.

Và câu trả lời ngu độn của chàng:

- Trái lại, anh lại muốn ngủ khám với em đêm nay.

Chàng đã được ngủ khám. Nhưng là ngủ một mình. Giờ này, chắc Quỳnh Loan đã ngủ say rồi. Chàng không biết nàng theo thói quen nào, thói quen phương Đông mặc quần áo ngủ che kín, hay thói quen phương Tây cởi bỏ hết rồi chui vào trong chăn.

Gần nhiều đàn bà, chàng ít thấy có làn da lạ lùng như làn da Quỳnh Loan. Trời nóng, rờ vào thì mát, tưởng như được uống một ly nước lạnh bỏ đá, đêm đông giá rét nàng lại tỏa ra một hơi ấm khác thường.

Bồ hôi là mối lo số một của phụ nữ, nhứt là phụ nữ đẹp. Nhiều người đệm bông dưới nách để hứng bồ hôi! Mặc áo dài ni-lông bó kín lấy phía trên, hoặc mang quần din ôm chặt mông dưới, bồ hôi thường đổ ra, tạo thành cái mùi mằn mặn, gây gây, khiến đàn ông khó tính có thể lợm mửa. Đặc điểm của Quỳnh Loan là không có bồ hôi. Mỗi khi nàng dơ tay, nách nàng tiết ra một mùi hương lạ, không phải mùi nước hoa đắt tiền để át bồ hôi, mà là một mùi da thịt ngất ngây, mùi quyến rũ nhẹ nhàng của người xử nữ.

Văn Bình thở dài lần nữa.

Chàng dựa lưng vào tường vôi bẩn thỉu, thu thiu ngủ. Muỗi rệp thi đua hành hạ chàng. Chốc chốc, chàng lại bật dậy, nhìn thấy trước mặt miệng cười châm chọc của Nguyên Hương, Quỳnh Loan, Quỳnh Như, Quỳnh Mai, Thu Thu, Thúy Liễu và Mộng Kiều.

Mệt quá, chàng thiếp lúc nào không biết.

Mãi đến khi mặt trời buổi sáng xuyên qua cửa sổ chấn song, tiếng chân người thình thịch ngoài hành lang, và tiếng khóa mở rỏn rẻn, chàng mới thức tỉnh. Chàng cảm thấy toàn thân ê ẩm, đầu nặng chĩu như bị đánh.

Một cảnh sát viên mở cửa phòng giam, ra hiệu cho chàng ra. Cơn giận hồi đêm xông lên ngùn ngụt, chàng vùng dậy, định phóng cho y một cái đá nên thân, nhưng hãm kịp, nhờ một giọng nói quen thuộc cất lên:

- Văn Bình đấy à? Khổ quá.

Giọng nói đầy ái ngại của Truiệu Dung. Dung chống nạnh trước xà-lim nói tiếp:

- Tôi đã bảo rồi mà. Anh không chịu nghe tôi nên bị họ chơi cho một vố.

Văn Bình cười gượng:

- Ai báo cho anh biết?

Triệu Dung cười tủm tỉm:

- Ôi chao, đêm qua họ có thèm báo cho tôi biết đâu. Nguyên Hương rủ tôi đi ăn mãi tới gần nửa đêm mới về. Trong bữa ăn, nàng nhờ tời nói lại anh nên chừa thói trăng hoa bừa bãi đi. Sinh nghi, tôi hỏi nàng Quỳnh Loan đi đâu, nàng nhún vai đáp: Anh không can thiệp nổi đâu, em quyết tặng Z.28 một bài học. Tôi cáo mệt, đòi về, nàng kiếm cớ giữ tôi lại, khi chỉ 11g45, nàng mới buông tha. Về nhà, tôi gọi điện thoại cho Quỳnh Loan thì nàng nói là hồi tối không gặp anh.

Văn Bình rủa:

- Nói láo!

Triệu Dung vỗ vai bạn:

-Tôi cũng biết con bé nói láo, song đành chịu vậy. Tôi van xin nó, cho tôi biết anh ở đâu thì nó ré lên cười, rồi gác điện thoại. Tội nghiệp cho tôi, đêm hôm khuya khoắt, tôi phải lái xe ra bờ sông, lên xa lộ, đi khắp tám quận đô thành tìm anh. Không thấy, tôi mò lên cả bót Tân Bình. Ác hại nhứt là tôi vào quận ba, hỏi lão phó quận thì y lắc đầu nói không biết. Tôi có ngờ đâu anh bị nhốt trong bót quận ba.

- Anh để tôi thưởng cho y một quả đấm....

- Thôi, tôi can anh. Y là nhân viên ngoại vi của Nguyên Hương. Y phải tuân lệnh nàng. Sáng nay, y thú thật với tôi y không biết anh là Văn Bình vì Nguyên Hương gọi điện thoại lại lúc 10 giờ đêm nói là ông Hoàng ra lệnh giam giữ một người mạo nhận Z.28 đến mai hẵng hay.

Suốt đêm, tôi không ngủ được. Mãi đến năm giờ sáng, Nguyên Hương mới nói sự thật cho tôi biết. Nàng dọa nếu anh không chừa, lần sau còn khổ hơn nữa. Tuy nhiên, nàng vẫn chưa cho biết anh bị nạn ở đâu. Đúng 7 giờ, Nguyên Hương sai người đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ, trên ghi mấy chữ "đến bót quận ba mà lãnh quỉ sứ", tôi vội lấy xe tới đây liền.

Hai người ra đến sân. Ánh nắng buổi sáng chiếu một màu hồng tươi tắn trên cảnh vật. Triệu Dung mở cửa xe cho Văn Bình lên, và dặn tài xế:

- Trường bay Tân Sơn Nhứt.

Văn Bình ngạc nhiên:

- Đi ngay à? Tôi chưa sửa soạn gì cả. Không lẽ lại để đầu bù, tóc rối, áo quần nhàu nát thế này?

- Tôi đã lo đủ cho anh. Va li của anh cất trong thùng xe. À, còn bức thư Quỳnh Loan gởi cho anh nữa.

Triệu Dung ném lên đùi chàng một tờ giấy viết tay, chữ bay bướm và mềm mại:

- Tôi vừa lên xe thì tùy phái mang lại cho tôi.

Văn Bình lẩm nhẩm đọc:

"Anh Văn Bình thân mến,

"Xin anh tha tội cho em. Quả tình em không muốn chơi xấu, nhưng ông Đồng ra lệnh, em phải tuân theo. Trong khi em ngồi chung xe với anh, ông Đồng lái xe đi theo. Em chúc anh thượng lộ bình an, khi anh về, em xin đền lại, chắc anh sẽ bằng lòng và không giận em nữa. Anh có nhìn thấy vết đo đỏ cạnh chữ ký của em không? Vết son ở môi em đấy! Anh biết không, môi em tô son riêng, có một mùi thơm thoang thoảng như bạc hà mà anh ưa thích. Vì anh mê thuốc lá Salem nên em tô son bạc hà đó! Em đã hôn vào đó một trăm lần. Anh cũng hôn vào đó nhé!

"Quỳnh Loan hỗn láo của Z.28".

Văn Bình buông lá thư xuống xe. Triệu Dung hỏi:

- Anh nghĩ sao?

Văn Bình cau mặt:

- Hừ, toàn là một bọn nói phét. Anh nói đêm qua đi ăn với Nguyên Hương nửa đêm mới về. Quỳnh Loan viết thư nói là Nguyên Hương lái xe đi theo tôi. Anh nói phét hay Quỳnh Loan nói phét?

Triệu Dung ngồi im như khúc gỗ. Chiếc xe dài ngoằng sơn đen phóng như bay qua trạm xăng Caltex, án ngữ con đường vào phi trường. Một đoàn máy bay phản lực rú lên, rầm rộ vượt bức tường âm thanh. Cuốn phim những ngày hoạt động sôi nổi bắt đầu, mở dần ra trước mắt Văn Bình.

Đột nhiên, chàng nắm tay Triệu Dung.

Hai người ôm nhau cười như nắc nẻ.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:32 pm

IV. Vượt bức màn tre

Ánh nắng buổi trưa ở phi trường Đồng Mương làm da mặt Văn Bình rát bỏng. Chàng đã cảm thấy nóng thêm, vì sau hai giờ đồng hồ trên trời cao được hít thở không khí lạnh mát cũa chiếc phi cơ thương mãi tối tân của hãng hàng không Thái.

Chàng uống liên tiếp không biết bao nhiêu ly huýt-ky nữa. Một phần vì suốt đêm qua bị muỗi rệp hoành hành, đâm ra thèm rượu, nhưng phần khác vì mấy cô chiêu đãi viên đẹp một cách chết người, nhứt là cô chiêu đãi chuyên bưng rượu cho khách.

Trời ơi, Văn Bình muốn Nam Cực Tiên Ông nhấc Vọng-các ra khỏi vùng Đông Nam Á, sát nách Sàigòn mà đặt mà đặt sang bên kia Tây bán cầu, để con chim sắt khổng lồ phải bay mãi, bay suốt ngày, bay suốt đêm, để chàng được sống gần mỹ nhân. Các chuyên viên sắc đẹp trên thế giới đều đồng ý đàn bà Thái có cái cổ đẹp nhứt. Văn Bình cứ tưởng bọn đàn ông Tây phương nịnh đầm, song đến khi chiêm ngưỡng cái cổ trắng ngần của cô chiêu đãi chàng mới thấy mạch máu chạy rần rật hai bên thái dương, cuống họng khô lại, uống cạn nước sông Đồng Nai cũng vị tất hết khát.

Nàng cúi xuống ỏn ẻn:

- Mời ông sơi rượu.

Mời ông, mời ông, hai tiếng Anh thánh thót của nàng kỳ diệu làm sao! Chàng bỗng bực mình khi nhớ tới cái áo dài màu xanh da trời, thêu hai con rồng ở cổ của các nữ chiêu đãi hàng không Việt Nam. Đàn bà đẹp có cái cổ, cái vai thì Air Việt Nam lại che kín như bưng. Chàng nhủ thầm chuyến này về Sàigòn phải gởi một bức thơ phản đối lầm lỳ và quyết liệt lên cho ban giám đốc Air Việt Nam, đòi nữ chiêu đãi viên được mặc áo hở cổ, và nếu cần....

Cô chiêu đãi né sang bên:

- Chào ông.

Văn Bình nhoẻn miệng cười. Nàng trạc hăm hai - dĩ nhiên là chưa có chồng - má không cần phấn hồng vẫn tươi như hoa hồng của những khu vườn triệu phú ở Vọng-các. Con mắt lịch lãm của chàng đã khám phá ra một bí mật phi thường: nàng không phải là môn đệ của chủ nghĩa cao su mút, một trong những chủ nghĩa thịnh hành trong nữ giới ở Sàigòn.

Tia nắng xiên khoai của trường bay như quả đấm thôi sơn tống vào đầu Văn Bình. Chàng liếm mép, tỏ vẻ thèm muốn những giọt huýt-ky cuối cùng của người đẹp trên phi cơ, rồi nhún vai, bước xuống cái thang cao ngất ngưởng màu trắng.

Công An. Quan Thuế. Văn Bình rút khăn mặt lau bồ hôi lấm tấm trên trán. Báo hại, trời nóng trên 30 độ mà chàng phải nhốt mình trong bộ téc-gan màu xám, áo lót ni-lông, tất ni-lông, sơ mi dài ni-lông, cả cái mù soa sặc sỡ trong túi cũng ni-lông.

Văn Bình trình thông hành cho nhân viên cảnh sát. Từ lúc từ giả Triệu Dung trèo lên phi cơ ở Tân Sơn Nhứt tới khi đáp xuống phi trường Đồn Mương, chàng chưa có dịp mở sổ thông hành ra coi. Nhân viên công an hỏi chàng:

- Tên ông là gì?

Chết rồi, chàng quên mất tên mà ông Hoàng vừa đặt. Lần này, ông Hoàng biến chàng thành một thương gia Phi Luật Tân. Thái Lan kỵ nhứt nhà báo, và niềm nở đối với nhà giàu từ ngoại quốc tới. Trong vòng 10 năm nay, Thái Lan đã thu hút rất nhiều tư bản nước ngoài, lấy tiền canh tân xứ sở.

Văn Bình nhún vai:

- Nếch-to.

Nếch-to là một trong những tên họ thông dụng ở Phi Luật Tân. Nếch-to gì, chàng không nhớ nữa. Song nhân công công an chỉ hỏi tên lấy lệ. Y dở mấy trang, liếc sơ qua, rồi đóng vào một cái dấu to tướng.

Văn Bình chỉ mất nửa phút trước bàn quan thuế. Chàng không mang theo gì hết: dụng cụ gián điệp, súng lục, bì đạn, chàng đều cất ở nhà. Trong va li vẻn vẹn một bộ áo ngủ, một com lê nhạt, hai cái cà vạt, hai đôi tất, và một đôi giày nhẹ. Một nhân viên vạch phấn lên mặt va li, Văn Bình thở ra, dáng điệu khoan khoái.

Nhìn trong thông hành, chàng suýt phì cười. Tên chàng dài dằng dặc như bộ tóc mây của cô gái Việt đầu thế kỷ. Nếch-to Libêratuximê Phenănđê.

Nếch-to! Chàng sực nhớ tới cuộc thi hoa hậu vừa kết thúc tại Sàigòn. Nhiều người bất mãn vì cái nây quá to của hoa hậu. Nây to với Nếch-to không khác nhau là mấy. Chắc hẳn anh chàng vâng lệnh ông Hoàng đặt tên cho Văn Bình đã ở trong đám người phản đối "nây to" của đệ nhứt giai nhân nước Việt.

Văn Bình cũng không ưa đàn bà "nây to". Đàn bà lý tưởng, theo chàng, phải có cái bụng thót lại, tưởng như không bao giờ đựng cơm, cái ngực phải nhô ra, mổi khi người đẹp rún bước, phải có cử chỉ thật phiến loạn, chứ không được nằm bẹp trong nhà tù cao su mút. Vòng ngực ít nhất phải 95 phân, vòng bụng chỉ được phép từ 50 đến 55 phân là cùng.

Chàng lau bồ hôi lần nữa. Gớm, không biết bồ hôi ở đâu mà ra nhiều thế. Phòng đợi của phi cảng được gắn máy điều hòa khí hậu không làm chàng quên được cái nóng nung người kinh khủng bên ngoài.

Theo chương trình đã định, một nhân viên của Sở đã chờ sẵn ở phi cảng, đưa xe cho chàng về trung tâm thành phố cách xa ba chục cây số. Ông Hoàng không muốn tòa đại sứ Vọng-các dính vào sợ bại lộ. Vả lại, Văn Bình đã biến thành công dân Phi Luật Tân, không còn lý do để sứ quán Việt Nam giúp đỡ nữa.

Tuy nhiên, chàng không thấy ai hết. Đối với chàng, thị trấn Vọng-các không xa lạ, nếu ông Hoàng không bày vẽ chuyện đón tiếp phiền phức, chàng có thể vẫy tắc xi, phóng một mạch về Erawan, khách sạn sang nhứt, tắm rửa, thay quần áo rồi xuống đường uống rượu với những cô gái đa tình.

Một trong các điểm cốt yếu của nghề điệp báo là đúng hẹn. Phải thật đúng, không được sai một giây, chứ đừng đừng nói là một phút. Lệ thường, nhân viên gián điệp không được phép đến sớm, cũng như đến muộn, và chỉ chờ nhau lâu nhứt là năm phút. Văn Bình nhìn chiếc đồng hồ to tướng của nhà ga: chàng đã đợi đúng hai mươi phút.

Hành khách cùng đi chuyến Sàigòn-Vọng-các với chàng đã lên xe đi hết. Loa vi âm đã rền vang tiếng gọi hành khách đi Âu châu của công ty hàng không Lufthansa - một công ty nổi danh trên thế giới nhờ cái mông rất tròn, rất cứng của các nữ chiêu đãi viên tình tứ.

Trời đã xế trưa. Tuy Văn Bình đã ăn sáng khá nhiều ở Tân Sơn Nhứt - sáu quả trứng lập-là, một hộp ba tê gan, cái bánh mì dài ngoằng, ba tách cà phê đen có thể làm tượng đá phải nhảy tuýt, và hai ly huýt-ky uống trộm oai ông Hoàng - cộng với một kilô săng-uých, một thùng rượu trên phi cơ, dạ dày kinh khủng của chàng đã trống rỗng như từ lâu chưa ngửi mùi ẩm thực.

Chàng không dám lại quán ăn, sợ nhân viên (phải gió) của sở không gặp chàng. Bụng đói meo, chàng đành hút thuốc Salem liên tiếp, hết điếu này đến điếu khác. Ác hại cho chàng, hơi thuốc bạc hà lại có tác dụng kích thích cường toan trong bao tử, khiến chàng đói thêm. Để đánh lừa ma đói, chàng bách bộ về phía bày bán cà vạt và đồ bạc, đồi mồi thủ công nghệ Thái. Xứ Thái có 2 đặc điểm: cà vạt và nút áo măng sét. Một đô-la một cái cà vạt lụa tơ tằm của Thái vừa bền, vừa đẹp, thắt hàng năm không bạc màu, không nát. Văn Bình đã dùng một cặp khuy măng sét trên sáu năm không gãy trong khi khuy mạ vàng đắt tiền gấp ba bốn lần của Pháp chỉ nặng tay là hỏng.

Linh tính nghề nghiệp xui chàng quay lưng lại. Chàng thoáng thấy một cái xe hơi đen treo cờ vàng ba sọc đỏ, cờ Việt, bay phất phới. Xe đậu lại, từ cửa sau bước xuống một người béo mập, da trắng, nét mặt oai vệ, dáng đi hách dịch. Văn Bình giựt mình đánh thót. Khổ quá, ông bự này là đệ nhất bí thư sứ quán. Hơn một lần, hắn đã chạm trán chàng, và chàng đã làm hắn ăn ngủ không yên trong thời gian hắc phục vụ tại Đông Kinh.

Hắn không thương chàng, song rất gờm chàng, vì biết chàng là đại tá điệp báo, và là con hùm xám của ông Hoàng, chỉ phất mấy cái móng tay là cái ghế ngoại giao sơn son thếp vàng của hắn bị ngã sụm, biến thành củi đun bếp. Nghe phong phanh chàng đến, hắn mặc bộ đồ lớn đi đón chàng chăng? Gặp hắn thì chết, hắn sẽ bô lô ba la, giới thiệu lung tung với nhân viên sứ quán để tỏ ta đây quen toàn hung thần, hắn sẽ thuê cho chàng một cái phòng thơm phức, ga trải giường thơm phức, và cô bồi cũng thơm phức từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài.

Hoảng hồn, Văn Bình xách va li lại góc phi cảng, kiếm một cái ghế đông người, ngồi thu hình vào đấy. Sợ chưa được an ninh, chàng phải mua thêm một tờ báo tiếng Thái, di sát cào mắt, giả vờ đọc. Khốn nạn, chàng không biết đọc chữ Thái nên cầm ngược tờ báo, cặp trai gái đang mơn trớn nhau bên cạnh tới độ lâm ly nhứt cũng ngừng tay, nhìn chàng và ré lên cười.

Văn Bình cũng cười theo. Nàng trạc hăm tám, hăm chín, cái tuổi lọc lõi trong tình trường, nếu không có một tá người yêu để hò hẹn ban đêm trong công viên tối om, thì cũng biết kháng chiến trong phòng the cửa đóng im ỉm. Lông mày nàng được nhổ gần hết, còn lại mấy sợi lăn tăn, và nàng đã vẻ bút chì cong veo, khiến đôi mắt ướt trở nên dâm dật lạ thường. Môi nàng rất dầy, đặc điểm của phụ nữ thèm đàn ông, thèm hôn như con người thèm ăn cao lương mỹ vị. Khi nàng cười, Văn Bình thấy hai cái răng chó xinh xắn lộ ra. Nàng không đẹp song có duyên. Nếu không bận việc chàng đã ngồi xích lại, trổ tài gạ gẫm, và chắc chắc đã đánh bại được "cậu" nhân tình hôi sữa.

Eo oi, "cậu" nhân tình là một thiếu niên chưa được mười tám, nét mặt dại khờ, tay chân ngượng ngập, ngồi bên nàng, giống như em út với chị cả. Thế mà cô gái cũng bằng lòng cho hắn giựt toang cúc áo, mặc cho cái đầu bù xù của hắn rúc vào nách, vào ngực. Hành khách đi qua không thèm quan tâm tới. Một cảnh sát viên phì phèo thuốc lá tới gần, gã si tình vội rụt tay lại.

Mãi nhìn cặp tình nhân âu yếm, Văn Bình không lưu ý tới một thiếu nữ Thái cao thon, ngực nở, mông tròn, rún rẩy đi quanh phòng đợi. Nàng phục sức theo lối Tây phương, xiêm áo một màu hồng gợi cảm, may ôm lấy tấm thân đều đặn. Mớ tóc dài man dại của nàng rũ xuống đôi vai tròn, nước da ngăm ngăm, trông như giai nhân của xứ Hạ-uy-cầm.

Đến trước Văn Bình, nàng đứng lại.

Cặp mắt to, đen láy, nhìn chàng soi mói. Nàng nhíu lông mày ra vẻ suy nghĩ, đi quanh một vòng nữa, rồi quay lại, và lần này ghé miệng sát mặt chàng, giọng ngọt ngào:

- Thưa, ông có phải là Nếch-to Libêratuximê Phenănđê không ạ?

Nhân viên của Sở đến đón chàng chăng? Không có lẽ. Ông Hoàng đã dặn kỹ càng: đại diện của Sở tại Vọng-các là đàn ông - đực rựa trăm phần trăm, không phải ái nam, ái nữ - 40 tuổi, mặt vuông, râu quai nón lởm chởm, mắt sáng như điện, sơ mi ngắn màu xanh, quần đen, ở cánh tay trái xâm một thiếu phụ trần truồng, đứng ưỡn ẹo dưới gốc cây xoài.

Văn Bình chăm chú nhìn nàng, như nhìn con hổ lông vằn trong vườn Bách Thú. Không, nàng là đàn bà, không phải đàn ông cải trang, mặt dài trái soan, mũi dọc dừa, cầm chẻ hai, má lúm đồng tiền, cổ tay bắp chuối, đôi vú quả lê….

Tuy da nàng không trắng, màu ngăm ngăm còn quyến rũ hơn da đàn bà Tây phương nhiều. Trông nàng, ai cũng phải khen ngợi sự quân bình khác thường giữa bụng và ngực, nhứt là cặp giò thon thon không thua cặp giò lừng danh thế giới của minh tinh Angie Dickinson, và đôi mắt cá tròn trĩnh, đôi vàn chân đỏ chon chót…. Văn Bình líu lưỡi không trả lời được nữa.

Lúc nãy, máu tức trào lên mặt, chàng định đấm cho thằng cha đại diện Sở một cái gẫy sống mũi, nhưng bây giờ, chàng lại nhũn như con chi chi. Ông Hoàng chơi khăm chàng thật. Nhân viên của Sở là nữ hồ ly, không phải Trư Bát Giới.

- Thưa ông, ông có phải là Nếch-to Libêratuximê Phenănđê không?

Văn Bình gật đầu một cách lịch thiệp. Người đẹp chia bàn tay thon dài, mười ngón như tháp bút ra:

- Hân hạnh được gặp ông. Em là Hêlen.

Nàng nói tiếng Pháp, giọng thánh thót như đầm. Hêlen để bàn tay mềm mại thật lâu trong tay chàng, giọng nũng nịu:

- Xin lỗi ông, Môrít bị bận bất ngờ, nhờ em đến đón ông.

Môrít là tên nhân viên của Sở được lệnh tới sân bay Đồn Mương rước chàng. Bao nhiêu hờn giận tiêu tan trong nháy mắt. Văn Bình quên bẳng đã chờ gần nửa tiếng đồng hồ, và cách đây năm phút, chàng định sửa cho Môrít một trận.

Nàng tranh xách va li song Văn Bình giằng lại. Chàng cười:

- Tôi khỏe hơn cô nhiều.

Nàng ưỡn ngực, đôi tuyết lê dựng thẳng dậy như muốn chọc thủng con nhưng chàng:

- Ông đừng tưởng. Sáng nào em cũng tập luyện gần hai tiếng đồng hồ. Em vừa tốt nghiệp đai đen nhu đạo tuần trước.

Hai người đã ra đến chiếc xe Fiat sơn trắng, đậu chềnh ềnh giữa khoảng đất cấm. Một cảnh sát viên đeo kính cận thị đang lúi húi biên phạt. Hêlen rón rén đến sau lưng y, đập vào vai một cái thật mạnh. Y loạng choạng suýt ngã. Nàng ôm miệng cười một cách ngây thơ.

Người cảnh sát đưa tay xuống bao súng, trong một cử chỉ tự vệ quen thuộc. Nhưng đến khi nhận ra một thiếu nữ đẹp như tiên nga, y buông tay sửng sốt. Hêlen nói liếng thoắng một tràng tiếng Thái:

- Ông không biết tôi là em gái Thủ Tướng à?

Rồi không đợi nhân viên trật tự trả lời, Hêlen trèo lên xe, rú ga phóng một mạch. Vừa ra khỏi phi cảng, nàng suýt đâm vào một công xa chạy ngược chiều. Ngồi bên nàng, Văn Bình thấy hai mắt hoa lên. Phái yếu thường lái ẩu, song lái ẩu như Hêlen chàng mới gặp lần thứ nhứt trong đời.

Đoán được ý nghĩ của chàng, Hêlen nói:

- Ông cười em lái ẩu phải không?

Văn Bình chống chế:

- Không, tôi đang nghĩ tới miệng cười như hoa nở của cô.

Hêlen thích chí cười vang.

Một lát sau, nàng nói:

- Em mất trọn buổi sáng mới tìm ra thứ son đặc biệt này đấy. Ông biết không? Môrít dặn em liên lạc với hãng máy bay xem giờ ông tới, em định đi thật sớm, nhưng loay hoay suốt ba giờ mới sửa soạn xong. Môrít nói rằng ông rất xinh trai, ông rất ghét đàn bà xấu, nên em vất vả quá. Vì ông đấy.

- Hêlen làm gì mà vất vả?

- Trời ơi, phải gỡ tóc này, chải tóc này, đánh kem này, thoa phấn này, tô môi này, chọn áo quần này. Riêng cái khoảng y phục, em mất đúng 65 phút.

Văn Bình hít hà:

- 65 phút.

Nàng trề môi:

- Ông tưởng em đùa sao? Thoạt đầu, em mặc đồ Thái, nhưng ngắm trong gương thấy thô kệch, em phải thay bộ màu vàng. Ra đến xe rồi, nhìn trời nắng to, em sợ màu vàng làm ông chói mắt, em phải ba chân bốn cẳng chạy vào, lấy bộ Tây phương này. Ông bằng lòng không?

Sự vui vẻ hồn nhiên của Hêlen lây qua chàng. Chàng bèn nói đùa:

- Không, tôi thích cô mặc áo tắm kia.

Đang phóng nhanh trên trăm cây số một giờ, đột nhiên nàng thắng gấp lại. Chiếc xe khựng dần rồi đứng giữa đường nhựa. Văn Bình bị xô ngã vào người nàng. Chàng ngất ngây như vừa được hít bạch phiến.

- Em mặc đồ tắm đẹp lắm, ông không biết ư? Để về nhà, em mặc thử ông xem!

Trời! Ngây thơ đến thế là cùng. Văn Bình chưa kịp đáp thì phía sau có tiếng xe hơi phanh đánh đét. Suýt nữa tai nạn xảy ra. Hêlen thò đầu qua cửa xe, nói to với tài xế xe sau:

- Xin lỗi nhé.

Tài xế xe sau là một gã đàn ông râu mép lún phún, trạc năm mươi. Y trợn tròn mắt nhìn nàng không nói được lời nào. Nàng thản nhiên sang số, cho xe chạy nhanh như trước. Văn Bình thở dài:

- Hêlen lái xe như thế này thì có ngày chết.

Hêlen nhún vai:

- Em lái đã 5 năm rồi, ai cũng phải nhường em. Nếu ông không tin, chút nữa sẽ thấy. Qua đèn đỏ, em phóng bừa, cảnh sát sẽ không thổi còi bắt em đâu.

- Tại sao họ sợ cô như thế?

- Sợ là phải, vì nếu bắt em vào bót, họ phải mất thời giờ dỗ cho em nín. Em nổi tiếng khóc dai nhứt trường.

- Cô học trường nào?

- Đại học luật khoa.

- Cô là… gì của Môrít?

Nàng cười to, lộ hàm răng đều dặn và trắng muốt:

- Em ấy à? Em là em ruột Môrít. Môrít thương em lắm, ông biết không?

- Môrít đi đâu?

- Em không biết. Sáng nay, anh ấy lấy xe, nói là đi khỏi thành phố có việc tối cần. Giờ này có lẽ Môrít về rồi. Ơ kìa, sao ông ngồi sát quá! Ông làm em ngạt thở mất.

Văn Bình đã áp hông vào ngực nàng. Sức nặng quyến rũ của bộ ngực cân đối mơn trớn da thịt chàng, khiến chàng quên hết. Một bàn tay chàng đặt trên đùi nàng, làn da ấm truyền vào thần kinh chàng một cảm giác tê mê. Nàng không hất tay chàng ra, song lại nói:

- Sắp đến chỗ quẹo rồi, ông không ngồi xê ra thì cả em lẫn ông ăn bụi đấy.

- Tưởng gì chứ ăn bụi thì tôi sẳn sàng.

- Em khuyên ông. Ông phải lành lặn để tối nay còn đưa em đi ăn và đi nhảy nữa chứ? Vả lại, nếu ông bị thương, anh Môrít sẽ giết em chứ chẳng chơi.

- Môrít dữ lắm à?

- Còn phải nói. Anh ấy trợn mắt một cái là hai ba người có thể mất mạng, hoặc ít ra là bị thương. Có lần Môrít đánh ngã năm tên gian một lúc. Môrít ít nói lắm, song anh ấy thường tâm sự với em. Năm ngoái, em đi xem chiếu bóng với Môrít, vừa ở rạp Sri Krung ra, em có linh tính bị theo sau.

Đàn bà chúng em có linh tính kỳ quặc lắm. Em có cảm giác kẻ đi theo không phải là bọn thanh niên hiếu sắc bám gót để tán tỉnh như mọi lần mà là kẻ thù.

Chắc ông chưa biết Môrít mang luôn trong người một con dao nhỏ xíu, mũi nhọn, thứ dao bằng kền của y sĩ giải phẫu. Môrít dùng dao rất tài, đã rút khỏi vỏ là có người chết. Bọn đi theo gồm ba đứa, Môrít thản nhiên nắm tay em vào một con đường nhỏ gần Bangkapi. Giữa hẻm có một xe hơi đen tắt đèn đậu sẵn. Ba đứa rảo bước tới sau lưng, dí súng bắt Môrít và em lên xe.

Em tưởng Môrít ra tay liền, ngờ đâu lên xe anh ấy mới phản công chớp nhoáng. Xe hơi chật chội, bọn gian không dùng súng được, lưỡi dao của Môrít tha hồ tung hoành. Trong vòng một phút, cả bọn bị Môrít giết chết.

Hêlen bóp kèn inh ỏi, một quân xa chạy ngược chiều suýt đâm sầm vào chiếc Fiat bé nhỏ. Tuy lái ẩu, Hêlen là người bình tĩnh khác thường. Bình tĩnh là đức tính hiếm có của nữ giới, trừ phi là nữ giới trong làng gián điệp.

Khách bộ hành đông nghẹt hai lề đường. Từ các tiệp tạp hóa và quán giải khát, vẳng ra tiếng vi âm rộn rã. Văn Bình nhận ra khu Banglampoo, khu mua bán bình dân của thủ đô Vọng-các. Chàng muốn hỏi Hêlen về hoạt động của Môrít, song lại nín thinh. Môrít là nhân viên ưu tú của ông Hoàng, gây được nhiều thành tích trên đất Thái, nơi gián điệp Bắc Việt hoạt động rất mạnh trong giới kiều bào hải ngoại. Chàng không quen Môrít, không biết tên thật của y là gì, song ông Hoàng dặn chàng có thể tin cậy y để hoàn thành kế hoạch vượt bức màn tre ra Hànội.

Hêlen phóng qua một dãy biệt thự trệt xinh xắn quét vôi trắng. Nàng nói:

- Sắp đến nhà rồi đấy. Mời ông xuống xe, đi bộ tới.

Văn Bình sửng sốt:

- Ô kìa, cô không đưa tôi tới khách sạn sao? Tôi đã giữ phòng ở Erawan rồi.

- Ông giàu quá, đại thương gia có khác. Erawan đắt nhứt, những ba trăm tỉ-can một ngày. Giá ông ở khách sạn rẻ hơn, để tiền em mua vé xinê có lợi không? Nhưng thôi, em nói đùa đấy. Môrít dặn em thưa lại với ông là chương trình giờ chót thay đổi. Ông về nhà em. Nếu Môrít nói câu ấy, Văn Bình đã lắc đầu không chịu. Ở ôten vẫn là thói quen bất dịch của chàng mỗi khi công tác nước ngoài. Đi lại tiện lợi, gặp gỡ cũng tiện lợi, ban đêm dẫn ai về phòng cũng tiện lợi. Nhưng Hêlen đề nghị, chàng nhận lời liền. Nằm trên nệm mút, tắm nước nóng pha nước hoa Ba-lê , thở khí hậu mát rợi được điều hòa bằng máy Mỹ tối tân, uống đủ thứ rượu đắt tiền trên thế giới tại lữ quán Erawan sướng thật đấy, song vẫn thua xa căn phòng của Hêlen, dầu nàng bắt chàng ngã lưng trên giường gỗ ọp ẹp, rửa mặt bằng nước sông Mahanát đầy bùn, ngửi mùi bồ hóng, mạng nhện, dầu hôi từ trong bếp thoảng ra và uống nước ngọt lao động.

Hêlen đậu xe lại:

- Ông xuống đi, Môrít dặn em không nên đưa ông đến tận nhà, sợ người ngoài biết. Nhà em ăn thông với hai mặt đường, phía trước là tiệm sách - Môrít là chủ nhà sách - phía sau là nhà ở. Cách đây hai trăm thước, ông thấy hiệu sách mang tên em, Hêlen, mời ông đi thẳng vào. Bên trong không có ai cả, em sẽ đợi ông sau tấm riềm màu xanh ở bên trái, trong cùng.

Động cơ xe hơi rú lên. Hêlen mất dạng trong đám bụi mù. Mùi thơm của nàng vẫn thoang thoảng bên người Văn Bình. Chàng móc thuốc Salem ra hút.

Vọng-các buổi trưa vẫn nóng như lò nướng bánh mì. Bộ téc-gan mới toanh đã ướt sũng bồ hôi, áo sơ-mi dán lấy da thịt, làm Văn Bình khó chịu. Chàng mong mau đến nơi để cởi bỏ quần áo, lau mặt cho tỉnh người, rồi nhắp một ly huýt-ky pha nước đá thật lạnh.

Tiệm sách Hêlen là một ngôi nhà nhỏ, kiến trúc xưa, mặt hàng sơn trắng đã ngã sang màu nước dưa mà chưa được trang trí lại. Tấm bảng Hêlen - hiệu sách viết chữ đỏ trên nền trắng được treo cẩu thả trên cái tủ kiếng duy nhứt, bên trong bày sách bề bộn.

Bước vào, Văn Bình nhận thấy giữa nhà một tủ kiếng dài, hai bên tường là các giá sách bám bụi và phai màu. Môrít mở hiệu sách ở khu không sầm uất nên ít khách tới thăm. Có lẽ Môrít cũng muốn ít người để ý tới.

Mộtthiếu phụ đứng tuổi vén màn cửa đi ra. Văn Bình quay lưng lại, giả vờ coi sách. Thiếu phụ ra ngoài cửa, nhìn tứ phía, đoạn trở vào, nói với chàng:

- Côi-thi-ni.

Tiếng Thái "côi-thi-ni" là đợi ở đây. Văn Bình trả lời:

- Su-oát-di.

Su-oát-di là tiếng chào thông dụng, bất luận sáng chiều, gặp nhau hoặc tạm biệt nhau. Thiếu phụ tủm tỉm cười, đoạn nói một tràng tiếng Thái. Văn Bình chẳng hiểu gì hết, chỉ biết gật đầu cám ơn. Tấm riềm màu xanh run nhè nhẹ.

Chàng ngửi lại mùi thơm kỳ dị của thân thể Hêlen. Không cần hỏi ý kiến thiếu phụ đứng tuổi, Văn Bình tiến nhanh về phía cánh cửa đóng kín. Bỗng nhiên thiếu phụ nắm lấy ve áo chàng, nét mặt dữ tợn. Văn Bình cất bước, thiếu phụ dằng lại, tưởng như muốn xé rách áo chàng.

Sửng sốt, chàng vén riềm lên, đặt bàn tay vào nắm cửa. Thiếu phụ lôi chàng lùi lại. Không hiểu sao, chàng ẩy thiếu phụ ngã xuống rồi mở toang cửa.

Văn Bình vừa ló đầu vào thì bị đánh vào tai khiến óc chàng run lên, đom đóm bay tung tóe trước mắt, tứ chi bải hoải. Miếng đòn thứ hai được giáng trúng vai làm chàng mất thăng bằng và khuỵu xuống. Cánh cửa đóng lại đánh sầm.

***

Ông Hoàng bấm nút anh-tét-phôn, gọi:

- Nguyên Hương.

- Dạ. Tiếng Nguyên Hương từ phòng ngoài đáp qua máy.

- Đã có phúc đáp của Hànội chưa?

- Thưa rồi.

- Nội dung bức điện đánh ra sao?

- Thưa, bức điện này mang số 0609, truyền đi đúng 10g22, giờ Sàigòn. Nội dung như sau:

"Khẩn điện của tổng giám đốc.

Gởi Z.62.

Tham chiếu 307.

Tiếp mật điện 0609 của tổng giám đốc ngày… tháng….

Hãy chuẩn bị chu đáo để đón Z.28 sẽ tới vào ngày…. Mọi hoạt động tạm thời ngưng lại, dồn tất cả vào việc yểm hộ hoạt động của Z.28. stop.

Thời gian gặp gỡ: buổi tối ngày đến. stop. Nếu không gặp, hãy chậm lại 24 giờ. Giờ gặp là 20 giờ hoặc 22 giờ, giờ địa phương. stop.

Địa điểm: bờ hồ Hoàn Kiếm, trước cửa Bưu Điện, trên ghế đá. stop.

Ám hiệu: nhân viên của Z.62 mặc đồ trắng, tay trái cầm một đôi guốc Huế sơn đỏ, chưa đóng quai, tay phải xách một cái bị màu xanh, đan sợi mắt cáo, bên ngoài có thể nhìn thấy một đôi dép lốp xe hơi. stop. Z.28 mặc áo sơ-mi trắng cụt tay, quần sọt xanh, đi dép lốp xe hơi đen, cặp dưới nách trái một tờ báo Nhân Dân và một tờ Thủ Đô Hànội, miệng ngậm nửa điếu thuốc lá không châm lửa. stop.

Nhân viên của Z.62 ngồi đợi trước trên ghế đá. stop. Z.28 đi từ phía đường Hàng Khay cũ tới. stop.

Thấy Z.28, nhân viên của Z.62 đứng dậy, nhấc cái bị lên rồi lại ngồi xuống, Z.28 sẽ tới ngồi bên. stop.

Ám ngữ: nhân viên của Z.62 nói trước: hôm nay trời nóng tới 32 độ.

Z.28 đáp: Đồng chí lầm rồi, hàn thử biểu của tôi chỉ có 27 độ.

Nhân viên của Z.62 nói: Mời đồng chí lên Cầu Gỗ ăn một cốc kem cho vui.

Z.28 đáp: Ăn kem thì còn gì bằng. stop.

Hai người cùng đứng lên đi. Dọc đường nhân viên của Z.62 cần ghi nhớ những lời yêu cầu của Z.28. Tới ga xe điện Bờ Hồ, nhân viên của Z.62 đi qua đường, lên Hàng Đào, còn Z.28 vào tiệm kem xế nhà ga, mười phút sau trở ra.

Lời dặn quan trọng: Z.62 phải huy động nhân viên thân tín bố trí bảo vệ cho Z.28, đến khi rời tiệm kem ở Bờ Hồ mới giải tán. Hãy nghiên cứu chỉ thị này và điện về cho biết ý kiến.

Tổng giám đốc .

HH."

Nguyên Hương ngừng lời; ông Hoàng hỏi:

- Theo ban Chuyên Môn, liệu địch có hy vọng cỏn con nào chộp được bức điện của ta không?

- Thưa, một trăm phần trăm không. Bức điện được di chuyển trọn vẹn trong vòng 3 giây đồng hồ. Máy trắc giác tối tân nhứt mà Nga Sô viện trợ cho Bắc Việt phải mất đúng 60 giây mới có thể khám phá ra nơi giấu điện đài thu nhận.

- Z.62 trả lời ra sao?

- Thưa, Z.62 cho biết xin tuân lệnh. Nội đêm nay, sẽ gởi một bản báo cáo bổ túc về Bôrin.

- Z.28 tới Vọng-các chưa?

- Thưa. Môrít điện về phúc trình Z.28 tới nơi bình yên. Tuy nhiên….

Ông Hoàng nhấc mục kỉnh, để tai gần anh-tét-phôn, sợ nghe không rõ:

- Bị trục trặc phải không?

- Thưa vâng.

- Mang bức điện vào đây.

Ông Hoàng xô đống hồ sơ dầy cộm sang bên và đỡ lấy tờ giấy màu vàng, góc trái phía trên đề hai chữ "tối khẩn".

Đọc xong, ông Hoàng nhăn mặt:

- Rầy rà nhỉ!

Ông tổng giám đốc hít một hơi xì-gà Alhsmbra thơm phức, vẻ mặt đăm chiêu.

Đứng cạnh, Nguyên Hương cũng băn khoăn không kém.

Bỗng ông Hoàng mở choàng đôi mắt lim dim:

- Xin ưu tiên cho tôi tổng hành doanh C.I.A. Đông-Nam-Á ở Vọng-các.

Ông Hoàng đấm nắm tay xương xẩu xuống bàn:

- May là Môrít, không thì hỏng hết.

***

Trong lúc bị đánh bất thần, Văn Bình cũng nghĩ đến Môrít.

Chàng biết Môrít là nhân viên tin cậy, không thể nào phản bội. Hêlen chăng? Nếu Hêlen một mặt hai lòng, không lẽ Môrít cho nàng lên sân bay đón chàng? Hay là….

Đối phương vừa tấn công lần thứ ba.

Căn phòng đóng kín cửa nên tối như bưng. Từ ngoài sáng vào, chưa quen với bóng tối, Văn Bình không nhìn thấy gì hết. Đối phương đã ám hại chàng bằng ma-trắc, một loại roi chì, bọc cao su, quất mạnh có thể làm dập xương.

Nhờ dày công tập luyện, nghe tiếng gió vù vù, Văn Bình né được, khiến hai ngọn roi đầu tiên chỉ sớt qua, không làm chàng bị thương nặng.

Tiếng gió lại kêu vù vù. Tuy bị đau choáng váng, muốn té xỉu, Văn Bình vẫn còn nguyên sáng suốt và dõng lực. Nhắm vào chỗ phát ra luồng gió, chàng phóng một ngọn độc cước.

Cái đá của chàng đủ sức phá thủng một tấm cửa lim khóa chặt. Trúng người, nó sẽ làm thủng ruột, nạn nhân thiệt mạng vì nát bao tử, nát gan, nát lá lách.

Văn Bình nghe tiếng "hự" rồi một cây thịt nặng chình chịch bổ chúi vào tường kêu rầm.

Nhanh như chớp, chàng bật đèn điện lên. Một cảnh tượng hỗn độn diễn ra trước mắt. Hêlen bị trói quật cánh khuỷu vào chân giường Hồng Kông bằng đồng đồ sộ, miệng bị vải keo dán kín không kêu la được.

Mặc dầu tứ chi ê ẩm, Văn Bình vẫn thấy thèm muốn bộc phát lên thái dương. Hêlen ngước cặp mắt to và đen láy nhìn chàng, dáng điệu cầu khẩn và thán phục. Song chàng không để ý tới đôi mắt đẹp của nàng.

Chàng nhìn thấp xuống. Có lẽ Hêlen chống cự mãnh liệt trong khi bị trói nên áo nàng rách bươm và trễ xuống thắt lưng. Của báu ngàn vàng được phô bày nguyên vẹn: làn da trắng nõn nà, không một vết thẹo nhỏ, không một nốt ruồi đen, không một vết nhăn cỏn con ở bụng và bắp tay, chàng ngắm mãi hai cái núm hồng hồng và bộ ngực núi lửa lớn gấp rưỡi bộ ngực Diễm Thúy thường được coi là lớn nhất nhì Sàigòn.

Quên cả thực tại, Văn Bình tiến đến, vội vã cởi trói cho nàng. Suýt nữa chàng mất mạng. Mất mạng vì gái. Địch vùng dậy, không biết từ khi nào, trong tay lăm lăm con dao sắc như nước.

Y là một gã đàn ông Thái, nước da bánh mật, bắp thịt cuồn cuộn sau làn áo vải thun chật ních, ngực để hở lông lá đen sì, mỗi cánh tay đều xăm sọ người và hai cái xương chéo. Y nghiến răng đâm vào gáy Văn Bình.

Hêlen hét lớn:

- Nằm xuống.

Câu nói của nàng chỉ lúng búng trong miệng song Văn Bình vẫn nghe rõ.

Văn Bình tung người ra phía trước, cuộn tròn lại trên nền gạch trơn bóng. Lưỡi dao phớt qua vai chàng, mang theo một mảng áo, làm da chàng rớm máu. Chậm một phần trăm tích tắc nữa là khí giới giết người đã nằm gọn trong cuống họng chàng.

Chàng phóng ra ngọn cước thứ hai.

Đối phương chưa phải là kẻ đồng cân đồng lạng với chàng. Bị đá vào cườm tay, y bị văng dao, và ngã lộn mèo xuống đất. Văn Bình bồi thêm một đòn nữa, y nằm thẳng đơ như phiến gỗ không cục cựa.

Việc đầu tiên của Văn Bình là gỡ miếng vải keo dán dính miệng Hêlen.

Chàng giựt tấm keo quá mạnh, nàng kêu lên:

- Đau em quá, anh ơi!

Nàng không gọi chàng bằng "ông" như trước nữa. Cầm lòng không đậu, chàng hôn đại vào đôi môi nàng. Hêlen nhắm nghiền đôi mắt, ú ớ trong cơn sung sướng tràn trề. Một phút sau, nàng trách:

- Hừ, anh lợi dụng tay chân em bị trói để hôn em. Cởi trói mau lên, để em đánh cho một cái về tội làm bậy.

Văn Bình lia lưỡi dao một vòng. Những đoạn giây ni-lông đứt rơi lả tả xuống đất.

Chàng chìa má cho nàng:

- Đây, em đánh anh đi.

Nàng giơ tay toan tát, nhưng không hiểu sao lại ôm chầm lấy chàng, hôn chàng một cách đắm đuối. Bộ ngực căng cứng lồ lộ của nàng đè vào cổ chàng, khiến chàng nghẹt thở trong khoan khoái.

Chợt Hêlen buông chàng ra, kêu lên:

- Chết em rồi, còn bà dì ngoài cửa hiệu nữa.

Nàng chạy vội vào trong thay áo. Vừa khi ấy Môrít xô cửa bước vào, nét mặt lạnh như nước đá.

Văn Bình xốc áo đứng dậy. Môrít nói:

- Chào anh. Tôi là Môrít. Anh đã xem ảnh tôi ở Sàigòn, nên miễn phải trao ám ngữ. Hêlen đâu?

- Nàng ở trong nhà.

- Cả anh và nàng không hề gì chứ?

- Không.

Thiếu phụ đứng tuổi Văn Bình gặp hồi nãy cũng bước vào. Thấy chàng, thiếu phụ nhoẻn miệng cười:

- Gớm, tôi giữ ông lại không kịp. Ông mạnh quá.

Chàng sửng sốt khi nghe thiếu phụ nói tiếng Việt như người Việt.

Môrít khoát tay:

- Anh ngạc nhiên phải không? Chị ấy là người Việt chính cống. Nhân viên của Sở đấy.

- Bà dì của Hêlen hả?

Đang lầm lì, Môrít phá lên cười:

- Hừ, anh lại nghe con quỉ Hêlen rồi. Nó nhận là em ruột tôi phải không?

- Phải.

- Để tôi cho nó ăn bạt tai mới được. Hêlen là nữ nhân viên ban Biệt Vụ.

- Ban Biệt Vụ?

- Phải. Ban Biệt Vụ gồm toàn phụ nữ ấy mà. Nó sang đây với tôi đã sáu tháng nay. Kinh khủng lắm anh ơi, lắm lúc tôi đứt hơi vì nó. Nhà tôi đi vắng, nên tôi chưa giới thiệu với anh được. Nào, chúng ta vào trong nhà.

Hêlen hiện ra trong khung cửa.

Nàng vào phòng, không phải để thay sơ-mi bị rách, mà là thay một bộ xiêm y hoàn toàn mới, màu cá vàng rực rỡ, may thật khít, Văn Bình reo lên:

- Trời, cô Hêlen đẹp quá.

Môrít thở dài:

- Việc ngập đến cổ thế này mà còn khen đàn bà đẹp được, thú thật trên đời chỉ có anh là số một thôi. Nghe danh đã từ lâu, giờ mới gặp, quả thiên hạ đồn không sai.

Hêlen trề môi:

- Anh nói xấu Nếch-to Libêratuximê Phenănđê phải không?

Môrít giơ hai tay lên trời, dáng điệu thất vọng:

- Khiếp, tôi sống gần cô độ một tháng nữa thì tôi chết mất. May mà cô sắp đi rồi.

Hêlen mừng rú:

- Em được đi với Nếch-to ư?

Môrít nói:

- Không phải là Nếch-to mà là Văn Bình, tức Z.28.

Hêlen sửng sốt, ngó Văn Bình trân trân. một phút sau, nàng mới nói được:

- À ra anh là Văn Bình. Chị Nguyên Hương có nói với em nhiều về anh.

Văn Bình cười:

- Cám ơn cô. Nào, chúng ta bắt tay vào việc.

Môrít dựng gã người Thái bất tỉnh dậy, bồi thêm một atêmi vào yết hầu, rồi lôi sềnh sệch vào nhà trong.

Hêlen bấm một cái nút bí mật gắn trong tường. Một cánh cửa mở ra, để lộ miệng hầm đen ngòm.

Ba người bước xuống bực thang trơn như mỡ. Môrít vặn đèn, ánh sáng nê-ông xanh biếc chiếu rõ căn phòng khá rộng, đồ đạc kê hỗn độn, cạnh những thùng tôn lớn, dường như chứa ét-xăng.

Môrít gõ vào một cái thùng:

- Trong thùng không có ét-xăng mà là rượu. Thùng nào cũng đầy ứ. Mỗi thùng đựng hai xác chết.

- Đựng xác chết? Văn Bình hỏi.

- Vâng, xác chết của nhân viên RU, Trung Cộng và Bắc Việt. Dưới hầm này, tôi đã giấu được mười mạng cả thảy. Chắc tướng Grubo không ngờ được tôi ướp xác nhân viên RU trong rượu. Trong vòng một năm nay, nhân viên địch nào léo hánh tới Vọng-các cũng đều bị tôi thủ tiêu một cách êm thắm và cho uống huýt-ky dưới hầm.

Môrít kéo ghế mời Văn Bình ngồi, đoạn nói:

- Gián điệp địch ở đây nhiều lắm, không ít như bên nhà tưởng đâu. Bọn chúng định thịt tôi nhiều lần, song đều bị tôi thịt trước. Tôi biết sớm muộn chúng sẽ vớ được tôi. Nhưng cần gì, anh nhỉ? Làm nghề này, sống chết không còn nghĩa gì nữa.

Tuy mới sang, Hêlen đã giúp tôi được nhiều. Ngoài mặt, Hêlen là nữ sinh viên Luật trường đại học Watpo, dễ dãi với đàn ông và có tư tưởng chính trị tả khuynh.

Hẳn anh đã biết ở Thái có một số sinh viên thân Cộng. Gián điệp RU hoạt động ở đây khá mạnh nhờ Nga Sô có tòa đại sứ. Anh tới đại lộ bắc Sathorn Road là thấy cờ đỏ búa liềm sô viết. Một số điệp viên Bắc Việt đã trà trộn trong hàng vạn Việt kiều ở các tỉnh đông khác.

Hêlen đội lốt nữ sinh viên tả khuynh đã liên lạc được với đầu mối gián điệp của địch. Họ tin nàng lắm. Khổ một nỗi là phản gián Thái lại ghi nàng vào sổ đen.

- Phản gián Thái không biết Hêlen là nhân viên của ta à?

- Không. Tôi đã trình về, ông Hoàng dặn cứ lờ đi, để khi nào cần thiết mới cho họ biết.

- Anh cho Hêlen lên trường bay đón tôi, còn anh lảng vảng bên ngoài, xem nàng bị ai theo, phải không?

Môrít giật mình, thán phục:

- Anh nói trúng phong phóc. Z.28 có khác. Vì kế hoạch đưa anh ra Hànội cần được bảo mật triệt để, tôi mới dùng Hêlen để thử lại bài toán, coi phản gián Thái còn nghi ngờ nàng nữa không. Anh còn lạ gì, người Thái rất khôn ngoan và thực tiễn. Bằng chứng là họ đã duy trì được độc lập và không bị trầy vây sứt vẩy qua hai trận thế chiến kinh khủng.

Họ liên lạc ngoại giao với Nga Sô, song lại chống Cộng dữ dội. Họ ủng hộ cuộc chiến tranh của ta, song lại bằng lòng cho Việt kiều hồi hương về Bắc.

Họ cho nhân viên theo dõi Hêlen để khám phá guồng máy hoạt động của phe Cộng ở đây. Lúc anh xách va-li ra khỏi ghi-sê quan thuế, tôi đã chờ sẵn ở ngoài. Lẽ ra Hêlen tới đúng giờ, nàng thay áo, tô môi mãi thành chậm. Chậm thế mà hơn, vì tôi có đủ thời giờ quan sát ở phi cảng.

Anh vừa trèo lên xe với Hêlen thì ở phía sau, một nhân viên mật vụ Thái rút máy ảnh ra chụp. Xong xuôi, y lái xe rượt theo. Tôi đành phải dở trò lục lâm, chận đầu xe y ở dọc đường, đánh y bất tỉnh, đoạt lấy cuộn phim.

Tôi không ngờ một nhân viên khác lại đợi anh trong nhà. Công chuyện đã lỡ dở thế này, tôi tưởng nên bảo thẳng cho họ biết.

- Anh đã liên lạc với họ chưa?

- Chưa. Nhưng tôi đã điện ngay về cho Sở. Vào giờ này, chắc ông Hoàng đã nhờ C.I.A. nói nhỏ với mấy cha nội Phản Gián Thái. Dầu sao, nhà tôi cũng bị lộ rồi, anh không nên lưu lại đây nữa.

- Anh muốn tôi đi đâu?

- Tôi đã gọi dây nói lấy phòng ở Royal Hotel cho anh. Hêlen ở khít phòng anh. Bây giờ anh tới khách sạn nghỉ ngơi chờ tôi. Chừng sáu giờ chiều tôi đến.

- Chừng nào lên đường?

- Chưa rõ. Có thể đêm nay hoặc đêm mai. Sáu giờ, tôi sẽ tin anh biết.

- Còn thằng cha mật vụ bị tôi đánh ngã?

- Anh để tôi phụ trách. Lát nữa, tôi sẽ vứt y xuống đường, đá một cái vào đít, và dặn đừng mò tới nhà tôi nữa. Tôi cũng đi luôn, có lẽ một vài tuần sau, khi anh rời Hànội, mới trở về. Người Thái dễ quên lắm, anh đừng sợ họ giận.

Văn Bình cười nụ. Từ nãy đến giờ, Hêlen đặt hai bàn tay mềm mại lên đùi, ngồi yên không nói nửa lời.

Môrít hỏi:

- Hêlen có cần gì không?

Nàng đứng dậy, quắc mắt:

- Hừ, anh nói dối em. Anh bảo là phải ra ngoại ô có việc cần, ngờ đâu bí mật theo dõi em.

Môrít cười:

- Xin lỗi Hêlen. Tôi cận thị nên không nhìn thấy hai người hôn nhau trên xe đâu.

Nàng "hừ" mát:

- Hừ! Cận thị mà ban đêm không cần đeo kiếng anh vẫn thấy rõ đàn bà tắm trần truồng trên sông Chao Phya!

Văn Bình quay lại phía Môrít, giọng vui vẻ:

- Tôi không ngờ anh lại lập được thành tích vẻ vang như thế.

Môrít thở dài:

- Con bé nhớ dai thật! Chuyện xảy ra đã lâu rồi. Đêm đó tôi đi xuồng máy với Hêlen. Trời tối thui, cách đền Wat Aroon một quãng xa, lố nhố trên bờ sông có đàn bà tắm. Không hiểu sao mắt tôi trở nên sáng như đĩa đèn. Tôi tưởng Hêlen kém mắt, ngờ đâu mắt nó cũng sáng như tôi, có lẽ còn sáng hơn nữa. Nó bắt được quả tang tôi đang nhìn.

Văn Bình cười ha hả:

- Thôi, hòa cả làng.

Nhưng Hêlen chưa chịu hòa. Nàng đấm thùm thụp vào lưng Môrít:

- Anh phải thú tội liền. Anh về đã lâu, song chưa vào vì còn bận nhòm qua lỗ khóa phải không?

Văn Bình tái mặt. Môrít gớm thật! Té ra hắn đã chứng kiến cảnh chàng bị thu hồn trước bộ ngực phơi trần của Hêlen, và cảnh hai người ôm nhau hôn hít. Chàng hy vọng Hêlen đoán sai.

Song nàng đã đưa bằng cớ:

- Lúc anh bước vào, em đã khám phá ra liền. Anh vốn hay cười thế mà mặt anh lại lạnh như tiền. Chẳng qua anh sợ em biết anh nhìn trộm, làm ngậu lên, anh phải đóng kịch đứng đắn. Nào, anh còn chối nữa không, để em ra hỏi "bà dì"?

Môrít xua tay:

- Thôi, tôi xin cô.

Văn Bình lắc đầu lia lịa:

- May tôi chưa làm gì. Chứ nếu sàm sở thì chết.

Môrít ngửa mặt lên trần nhà:

- Anh là người có diễm phúc nhất thế gian này. Hêlen không dễ dãi đâu, anh đừng hiểu lầm. Nó gan lì như cóc tía và khắc nghiệt một cách kinh khủng. Cậu nào mó vào giày nó đều ăn bụi tức khắc. Nửa năm trường, nó ở chung nhà mà tôi chưa được hân hạnh vuốt má nó, chứ đừng nói là ghé sát miệng như anh vừa làm hồi nãy.

Hêlen nói:

- Ồ, vì anh sợ em mách với chị. Chị Môrít ghen ghê lắm, anh Z.28 biết không? Nếu Môrít nhănh nhít, em chỉ rỉ tai chị ấy một tiếng là tan xác. Em cũng xin giới thiệu với anh: chị Môrít là một nữ nhân viên cừ khôi của ban Biệt Vụ.

- Chị đi đâu? Văn Bình hỏi.

- Nhà tôi đi Chieng Mai, đêm mai mới về. Thôi, phiệu mãi, lỡ giờ mất rồi. Hêlen, cô dẫn anh Văn Bình ra cửa sau, gọi tắc-xi tới khách sạn.

Văn Bình theo Hêlen đi qua một cái sân rộng thoang thoảng mùi thơm hoa hồng. Mùi hoa đã thơm, mùi da thịt nàng còn thơm hơn. Chàng hỏi:

- Nhân viên Biệt Vụ đều manh tên Quỳnh. Tôi quen Quỳnh Loan, Quỳnh Mai và Quỳnh Như ở Sàigòn. Còn Hêlen tên Việt là gì?

- Em là Quỳnh Ngọc. Thật ra Ngọc cũng chưa phải là tên em, vả lại, anh biết tên thật làm gì hả anh?

- Quỳnh Ngọc, cái tên đẹp quá. Từ nay, tôi không gọi cô là Hêlen nữa, mà là Quỳnh Ngọc.

- Tùy anh. Nhưng xin báo anh biết, Quỳnh Ngọc dữ hơn Hêlen nhiều.

Hai người ra đến cửa hậu. Nàng sửa soạn mở. Văn Bình dồn nàng vào tấm cửa lim, nâng cằm nàng lên. Nàng ngoan ngoãn ngã vào vòng tay rắn chắc của chàng và hôn trả rất lâu, khiến chàng muốn trẹo quai hàm.

Văn Bình luồn tay qua cổ áo rộng của nàng. Quỳnh Ngọc gỡ ra:

- Z.28 tham lam lắm.

Cánh cửa nặng nề mở toang. Ánh nắng xế trưa ùa vào làm Văn Bình nghẹt thở. Chàng vẫy một chiếc tắc-xi, sơn nhiều màu rực rỡ như đồ chơi trẻ con. Ném va-li qua cửa sau, chàng ra lệnh:

- Đại lộ Rajdamnern.

Khách sạn Royal ở cuối đường Rajdamnern. Nghĩ đến lúc được bơi lội trong hồ tắm nước trong xanh giữa một vườn hoa ngoạn mục, Văn Bình cảm thấy yêu đời lạ thường.

Đúng 6 giờ, Môrít gõ cửa phòng, ba ngắn, một dài.

Văn Bình tung chăn ngồi dậy. Quá mệt, chàng ngủ thiếp đi, quên cả giờ hẹn với bạn.

Môrít không ngạc nhiên khi thấy Văn Bình cởi trần, chăn gối ngổn ngang trên giường. Văn Bình vớ lấy cái khăn lông:

- Xin lỗi anh. Tôi vào phòng tắm hai phút thôi.

Môrít đáp:

- Không sao, còn nhiều thì giờ. Anh cứ tắm tự nhiên. Đêm nay, tôi ở lại với anh. À, báo tin anh biết, ông Hoàng đã can thiệp xong xuôi với phản gián Thái rồi.

Huýt sáo miệng một bài ca tuýt thịnh hành, Văn Bình vặn nước. Những tia nước nóng làm thớ thịt chàng thoải mái từ cái hoa sen tối tân đổ xuống như mưa rào. Vừa kỳ cọ, chàng vừa trách thầm. Là điệp viên giàu kinh nghiệm, Môrít dư biết nguyên nhân chàng dậy muộn.

Chuyến bay Sàigòn-Vọng-các mất một giờ rưỡi, không lấy gì làm mệt. Khí trời oi bức thật đấy, song Văn Bình không phải là kẻ nhàn hạ, được ngã lưng là ngủ trả thù. Lý do khiến chàng ngủ quên là Quỳnh Ngọc.

Tới khách sạn, lên phòng, chàng mới rửa xong cái mặt, mở va-li thay đồ ngủ, định trèo lên giường thì Quỳnh Ngọc lò dò tới. Nàng mặc một cái sơ-mi ngắn tay, và đi giép thấp, quai da mạ vàng. Trong bộ y phục giản dị, nàng đẹp trội lên. Thấy chai huýt-ky uống dở trên bàn, nàng rót một ly uống cạn. Văn Bình khen ngợi:

- Hêlen uống rượu tài quá.

Nàng bặm miệng:

- Ai cho phép anh gọi em là Hêlen?

Sực nhớ ra, Văn Bình xin lỗi. Nàng rũ chân, quăng đôi giép xuống đất, nằm dài lên giường, tay dựa vào cái gối tròn. Qua làn vải mỏng, Văn Bình thấy rõ ngực nàng phập phồng. Chàng ngồi xuống bên nàng, quàng tay ra sau lưng. Nàng ẩy ra, song chỉ phản ứng lấy lệ.

Biết trái cây đã chín, Văn Bình đứng dậy kéo riềm che kín cửa sổ. Quỳnh Ngọc nằm quay mặt vào tường. Chàng nghe rõ tiếng tim đập rồn rập của nàng. Hai người lặng lẽ tìm môi nhau. Bàn tay Văn Bình chạm vào làn da mát rợi, khiến toàn thân nàng run lên, như bị cảm. Văn Bình ngây ngất khi nghe tiếng nhạc nhẹ từ xa vọng lại. Trong đời chàng đã yêu nhiều, nhưng ít khi được yêu say đắm, yêu cuồng loạn như trong 60 phút với Quỳnh Ngọc ở Vọng-các.

Nhìn đồng hồ, nàng nói;

- Chết rồi, đã bốn rưỡi. Nếu Môrít biết em yêu anh thế này, hắn sẽ báo cáo về Sở, em bị triệu hồi lập tức. Lạ quá, ai cũng cho em cương quyết, không ngờ lại mang lụy vì anh. Em về phòng, anh nhá!

Nàng khép cửa, chàng ngủ luôn một giấc.

Tắm rửa xong, Văn Bình mặc bộ com-lê vừa ủi, chải lại mớ tóc phiến loạn, bước ra ngoài. Môrít gật gù:

- Anh đẹp trai thật. Thảo nào Quỳnh Ngọc mê như điếu đổ.

Song mừng rỡ thở dài:

- Con bé ngoan lắm, tôi thương nó như em ruột. Trong công tác ở Hànội, phiền anh bảo vệ nó. Anh nó với tôi là bạn cùng lớp. Y làm phi công bị tử nạn trong một vụ ném bom xuống vùng địch. Gia đình không còn ai, y thường dặn tôi chăm sóc em gái, nên sau khi thiệt mạng, tôi xin cho nó gia nhập ban Biệt Vụ. Nó có khiếu tình báo nên được ông Hoàng cất nhắc. Tốt nghiệp ưu hạng khóa huấn luyệt Biệt Vụ, nó làm việc một thời gian ở tổng hành doanh, rồi tôi xin nó qua đây.

Lệ thường, nhân viên gián điệp yêu nhau là điều tối kỵ. Tuy nhiên, tôi mặc cho Quỳnh Ngọc yêu anh vì hai lý do. Thứ nhứt, Quỳnh Ngọc chưa yêu ai bao giờ, gặp anh tại phi trường bị ngay tiếng sét ái tình, nó lại rất cương quyết và bướng bỉnh, đã làm thì Trời đánh không bỏ. Thứ hai, anh là người giàu kinh nghiệm, anh đủ tài khuyên nó rằng trong nghề gián điệp tình yêu ít khi dẫn tới hôn nhân. Vả lại….

Môrít thở dài lần nữa, rồi tiếp:

- Chuyến đi này dữ nhiều, lành ít, tôi không dị đoan, tôi không bi quan tếu, song tôi biết trước sẽ có nhiều nguy hiểm chết người. Song, chết đối với anh và tôi là việc tầm thường, nhưng không hiểu sao lần này tôi lại nao nao trong dạ. Có lẽ vì anh là điệp viên giỏi, tôi hằng mến phục, còn Quỳnh Ngọc là ruột thịt đau sót của tôi.

Văn Bình ngồi im, tay đùa với cái quẹt máy. Lát sau, chàng hỏi:

- Quỳnh Ngọc đi chưa?

Môrít đáp:

- Rồi. Nhờ nó yêu anh tha thiết, nó mới có đủ bình tĩnh thi hành kế hoạch táo bạo đêm nay.

Bỗng, điện thoại trong phòng reo lên.

Áp ống nói vài tai, Môrít biến sắc mặt. Chàng bịt điện thoại, nói riêng với Văn Bình:

- Anh đóng va-li lại, đi ngay với tôi. Thằng cha mật vụ bị anh đánh ngã trong nhà tôi đã chết rồi.

Văn Bình choáng cả người. Mật vụ Thái sẽ không dung tha cho Môrít nữa, mặc dầu họ có cảm tình nồng hậu với ông Hoàng.

Môrít gác ống nói, rút thuốc ra hút:

- Thật là mình bị xui. Tên mật vụ chết vì bị dập lá lách. Không ngờ cái đá của anh lại ghê gớm đến thế. "Bà dì" vừa báo tin tôi biết. Mật vụ Thái đã liên lạc với tòa đại sứ của ta, đòi bắt tôi về tội sát nhân. Do sự điều đình của ông Đại Sứ, họ thỏa thuận cho tôi rời Vọng-các, nếu tôi đến nạp mình.

- Hừ, nạp mình để kế hoạch của ta bại lộ à?

- Tôi cũng nghĩ thế. Bây giờ mình chỉ còn một lối thoát duy nhứt, rút vào bóng tối. Đêm nay anh lên đường, sáng mai, tôi đi Songkhla, cách Vọng-các 900 cây số, sát biên giới Mã Lai, xuống Kuala-Lumpur rồi tìm đường về nước.

- Phiền quá, tôi làm anh mang lụy.

- Hề gì. Tôi chỉ sợ công việc chung không thành thôi. Anh yên tâm, họ bắt tôi không phải dễ.

Văn Bình chưa kịp đáp thì cửa phòng mở toang.

Hai người đàn ông lực lưỡng ập vào.

Trên tay lăm lăm khẩu súng lục bóng loáng.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:33 pm

V. Quỳnh Ngọc

Nhìn vào tấm gương cao bằng đầu người trong buồng tắm, Quỳnh Ngọc thấy nhú trong lòng một niềm kiêu hãnh lớn lao. Nàng đẹp thật!

Diện mạo đã đẹp, thân thể còn đẹp hơn nhiều. Có lẽ nàng là nữ nhân viên Biệt Vụ duy nhứt - cũng có lẽ là phụ nữ Việt duy nhứt - có vòng ngực đúng 98 phân, nghĩa là không thua mỹ nhân núi lửa Tây phương. Làn da trắng nõn làm nổi bật màu đen của tóc, và của đôi mắt đen láy, lông mi dài cong vút, màu đỏ tự nhiên của môi không cần thoa son, của gót chân xinh xắn, tròn trịa, và màu hồng khêu gợi của cặp nhũ hoa vươn ra phía trước.

Bất giác, nàng cảm thấy xấu hổ, và nóng ran lên mặc dầu đang dội nước lạnh.

Trên da thịt nàng, dường như còn vết tay mơn trớn của Văn Bình. Một mãnh lực dị thường đã xô nàng vào phòng chàng, bắt nàng nằm yên, tay chân bất động, trong khi xiêm áo bị ném dần lên ghế. Toàn thân nàng run lên lần nữa. Nàng nhắm mắt lại, nghĩ đến Văn Bình.

Nàng biết chàng không thể yêu đương được mãi vì còn công việc, còn tổ quốc, song nàng vẫn sẵn sàng dâng hiến cho chàng những báu vật của tuổi đôi mươi còn thơm mùi trinh tuyết. Đêm nay, nàng theo chàng ra Hànội, dấn thân vào cảnh hiểm nghèo. Không hiểu hai người còn sống sót để trở về Sàigòn, hay sẽ bỏ thây bên kia bức màn tre, nàng không dám nghĩ thêm nữa.

Vì vậy, nàng cần yêu, yêu say mê, yêu đắm đuối.

Mặc quần áo xong, Quỳnh Ngọc rắc nước hoa Diorissimo lên tóc, cầm cái xắc da lớn để trên bàn đêm, rồi mở cửa đi ra ngoài.

Đột nhiên, nàng đóng cửa lại, buông mình xuống ghế bành, nét mặt trầm tư.

Nàng mở xắc, rút ra một khẩu Bờraonin nhỏ xíu, cán mạ vàng. Loại súng tí hon này có thể giết người chính xác trong vòng ba thước. Sau khi kiểm điểm bì đạn, Quỳnh Ngọc bỏ vào túi sau quần din. Nàng bấm một nút bí mật ở quai xắc, cái quai bật tung khỏi xắc, để lộ ra một con dao lò xo.

Kéo dao ra, nàng lắc nhẹ một cái, lưỡi dao mảnh mai vọt khỏi cán. Nàng lia dao gần một sợi tóc. Tuy không đụng lưỡi, sợi tóc vẫn đứt làm đôi. Lúc nàng khoa dao, tiếng gió rẹt rẹt nổi lên, thứ thanh âm đặc biệt của kiếm báu được rút ra khỏi vỏ. Với con dao sắc như nước này, nàng có thể hạ thủ những gã đàn ông nặng cả trăm kilô, cừ khôi về võ thuật.

Cất con dao trong quai xắc, nàng lững thững ra thang máy. Môrít giao cho nàng một việc tế nhị, nàng quyết làm tròn. Không để ý tới luồng mắt soi mói của những người đàn ông sang trọng mặc com-lê thẳng nếp nhìn chăm chăm vào ngực nàng, như muốn bóc trần ra, Quỳnh Ngọc rảo bước ra đường. Đám thực khách thượng lưu này chắc vào gian phòng ăn lộng lẫy của lữ quán, mệnh danh là phòng Raja, chứa được 150 ghế, để thưởng thức những món ăn Pháp và rượu vang Pháp chính hiệu.

Quỳnh Ngọc cũng muốn kéo Văn Bình vào một góc phòng ăn, vừa uống sâm-banh, vừa nắm tay chàng âu yếm, song nàng không được quyền du hí. Nàng là nhân viên sở Gián Điệp, phải đặt công tác lên trên hết.

Thở dài, nàng gọi tắc-xi.

Vừa trèo lên xe, nàng khựng người lại. Tài xế lái qua một cái xe đen, trên xe bước xuống hai người đàn ông mặc sơ-mi rộng thùng thình, bỏ ngoài quần, bên hông cồm cộm. Quỳnh Ngọc bảo tài-xế chạy một quãng rồi ngừng lại.

Qua kiếng hậu, nàng thấy rõ hai người lạ mặt nghênh ngang tiến vào khách sạn Royal.

Một hồi chuông SOS reo lên trong trí, nắng bắt tắc-xi quay vòng lại.

Hối hả, nàng trèo cầu thang lên lầu. May nàng đi giày thấp nên không trượt ngã.

Nàng thấy hai người lạ mặt khệnh khạng từ thang máy bước ra, nện đế giày cồm cộp về phía phòng Văn Bình. Biết có việc chẳng lành, nàng rón rén đi theo. Cũng may, hành lang vắng tanh, không có một ai.

Hai người lạ mặt đạp tung cửa phòng Văn Bình, súng chĩa một loạt, kèm theo tiếng hô dọa nạt:

- Dơ tay lên.

Văn Bình đang lúi húi đóng va-li nên không kịp phản công. Môrít dựa lưng vào tường, còn bận nâng ly huýt-ky đầy ắp lên miệng. Hai tay cao thủ của làng do thám quốc tế vô tình bị mắc kẹt như con cá đút đầu vào rọ.

- Dơ tay lên.

Tuy bị mắc kẹt, Văn Bình và Môrít không hề biến sắc. Môrít thản nhiên hỏi:

- Các anh có cho tôi đặt ly rượu xuống bàn không hay là phải đưa cả ly rượu lên đầu?

Đó là kế mọn của chàng. Song hai người lạ mặt cũng khôn không kém. Một người cười rộ:

- Hừ, Môrít đừng làm trò quỉ thuật nữa. Cứ dơ cả tay lẫn ly lên. Còn anh kia còn đợi ai nữa?

Quay mặt lại, Văn Bình thoáng thấy Quỳnh Ngọc đi ngang cửa. Nàng rút khẩu súng tí hon ra khỏi xắc không biết từ lúc nào. Văn Bình nháy mắt, nàng nhắm bàn tay cầm khí giới của tên đứng gần nàng và lảy cò.

Tiếng súng nổ rất nhẹ, chỉ lớn hơn tiếng nút bấc văng khỏi cổ chai sâm banh. Bị đạn vào ngón tay cái, nạn nhân kêu lên:

- Trời ơi!

Tuy bị đạn, y không chịu buông súng. Y định nhả đạn, thì Văn Bình đã phóng chân phải ra, nhanh như tên bắn. Ngọn cước thần sầu của chàng rơi đúng ngón tay bị thương của y, khẩu súng ru-lô 9 ly to tướng văng xuống sàn gác, lót đệm ni-lông không nghe tiếng động.

Cũng trong lúc ấy, tên lạ mặt thứ hai bóp cò, lấy Môrít làm mục phiêu. Môrít quả không hổ danh là đệ nhứt đại diện của ông Hoàng trên đất Thái.

Chàng phóng người nằm rạp xuống sàn, viên đạn cắm vào cuốn lịch treo trên tường. Văn Bình đã phi thân sát tên cầm súng, hoành tay phát ra một cú atêmi.

Chàng không muốn hạ thủ y nên chỉ đánh nhẹ. Tuy vậy, y cũng lảo đảo, rồi ngã sóng soài vào khay huýt-ky, ly cốc chạm nhau vỡ loảng xoảng.

Một cú atêmi thứ hai hạ nốt tên bị thương vào ngón tay.

Môrít vội đóng cửa phòng, để Quỳnh Ngọc gác bên ngoài. Văn Bình lúi húi lục túi một tên, rút ra một tấm thẻ lát-tích trên có những dấu đỏ choé. Môrít giựt mình:

- Hừ, nhân viên của đại tá Arun rồi.

Văn Bình hỏi:

- Arun là ai?

- Phó chỉ huy Mật Vụ.

Quỳnh Ngọc hé cửa nói vào:

- Các anh yên tâm, không có ai đâu.

Văn Bình hỏi ra:

- Dưới đường, còn đứa nào nữa không?

Quỳnh Ngọc đáp:

- Còn một nữa. Cái xe màu đen đậu bên kia đường. Anh thấy chưa?

Nhìn qua cửa kính, Văn Bình nhận ra một chiếc Fiat cỡ lớn nằm chềnh ềnh dưới một thân cây cành lá xum xuê. Trời nhá nhem tối, xe cộ chạy như mắc cửi, song chàng vẫn thấy rõ một người mặc sơ-mi đỏ ngồi vắt vẻo trước tay lái, miệng phì phèo thuốc lá.

Chàng gọi:

- Hêlen.

Quỳnh Ngọc đáp:

- Dạ.

Nàng thò đầu vào. Văn Bình dặn Môrít:

- Quỳnh Ngọc và tôi xuống trước, hạ tên tài-xế. Khi tôi lái xe vòng sang bên này đường, anh xuống thì vừa.

Văn Bình khoác tay Quỳnh Ngọc ra khỏi lữ quán. Khi đi qua quày tiếp tân, chàng trả chìa khóa, kèm thêm hai chục đô-la. Nhân viên khách sạn cung kính hỏi:

- Thưa, còn hành lý của ông nữa.

Văn Bình khoác tay:

- Mai tôi sẽ quay lại lấy.

Chàng không muốn rềnh rang sợ lộ. Va-li của chàng không đựng đồ quí hoặc giấy tờ quan trọng, mất thì thôi, chàng sắm cái khác.

Một mình trong phòng, Môrít bế hai nhân viên mật vụ Thái lên giường, nện cho mỗi đứa một atêmi, rồi kéo chăn lên cổ. Hai mật vụ viên sẽ ngủ một vài giờ nữa mới tỉnh. Khi ấy, chàng đã cao bay xa chạy.

Chàng lượm mảnh ly vỡ, ném vào va-li, khóa lại. Xong xuôi, chàng ra cửa sổ theo dõi Văn Bình.

Cặp tình nhân nhẩn nha bước ra đường giữa tiếng kèn, tiếng thắng ken két.

Quỳnh Ngọc tiến lại phía đầu xe cho tên tài xế thấy chàng. Nàng đoán không sai, y ló cổ ra ngoài cửa xe, ngắm nàng từ đầu xuống chân bằng con mắt tóe lửa thèm muốn.

Nàng lại gần y, giọng ỏn ẻn:

- Xe đại tá Arun phải không anh?

Y gật đầu, mắt híp lại:

- Phải, sao cô biết.

- Tôi là bạn của Arun.

Nàng tì tay lên cửa xe. Y dại dột nắm lấy bàn tay trắng muốt của nàng. Văn Bình đứng sau Quỳnh Ngọc mà y không biết. Chàng chộp tay y, giựt mạnh. Y ngã chúi vào cửa xe, chàng giáng xuống một đòn, y bất tỉnh luôn.

Văn Bình trèo lên xe, mở máy. Xe hơi mật vụ có khác, chàng chỉ vặn khóa là động cơ kêu ròn, ngọt sớt. Chàng vòng qua đường. Môrít ba chân bốn cẳng xuống đường. Văn Bình tống ga xăng, phóng thẳng một mạch.

Dọc đường, chàng hỏi:

- Chúng mình đi đâu?

Môrít nói:

- Tôi sẽ đưa anh tới một ngôi nhà kín đáo.

Quỳnh Ngọc xen vào:

- Khlong Hualan phải không?

Môrít đáp:

- Phải.

Văn Bình nói:

- Bây giờ anh tính sao? Mật vụ Thái bám sát thế này, sợ chúng tôi lộ mất.

Môrít nhìn qua cửa xe, giọng lo lắng:

- Tôi cũng sợ như vậy.

Đột nhiên Quỳnh Ngọc nói to:

- Văn Bình. Anh đậu lại cho em xuống.

Văn Bình sửng sốt:

- Em đi đâu?

- Em tới gặp Arun.

- Để y nhốt em vào khám ư?

Môrít cười to:

- Anh đừng lo. Arun không dám đụng tới Quỳnh Ngọc đâu.

Văn Bình hỏi thêm:

- Em đến Arun làm gì?

Giọng nàng cương quyết:

- Để bắt y không được cho người bắt Môrít nữa.

Văn Bình cười ngất:

- Hừ, em làm như Arun là ý trung nhân không bằng.

Mặt Môrít vụt nghiêm nghị:

- Anh không biết đấy thôi. Arun còn quí Quỳnh Ngọc gấp mười thế nữa.

Giọng Văn Bình đổi khác, pha hằn học:

- Té ra Quỳnh Ngọc có người yêu làm đại tá mật vụ Thái. Như vậy anh em mình còn sợ gì nữa.

Quỳnh Ngọc cau mày:

- Em không thích đùa đâu. Arun yêu em, em không phủ nhận. Nhưng em có yêu lại không, lại là chuyện khác. Nếu được cầm tay em, Arun có thể hy sinh cả tính mạng, chứ không như anh, chiếm được lòng em, được đời em, mà còn kênh kiệu và ghen tuông bóng gió.

Môrít nói:

- Quỳnh Ngọc nói đúng. Arun say nó như điếu đổ. Nó bảo Arun giết người, Arun cũng nghe ngay. Chính tôi đã bố trí cho Arun gặp nó và chết mê, chết mệt vì nó.

Quỳnh Ngọc quắc mắt:

- Ai cho phép anh gọi em là nó. Anh phải gọi là em, hoặc là cô, nghe chưa?

Môrít xua tay:

- Thôi, tôi sợ rồi, xin lỗi cô Ngọc.

Nét mặt tươi tỉnh trở lại, nàng nói:

- Các anh về Khlong Hualam đi, em đến thẳng văn phòng đại tá Arun.

Văn Bình cầm tay nàng:

- Đừng giận anh, tội nghiệp.

Quỳnh Ngọc nhìn chàng bằng đôi mắt ướt:

- Bao giờ em dám giận anh. Em chỉ sợ mai kia công tác hoàn thành, anh lại bỏ em thôi.

Văn Bình nín thinh. Chàng không dám hứa với nàng. Quỳnh Ngọc lẳng lặng xuống xe, vẫy tắc-xi. Chờ tắc-xi của nàng khuất sau ngã tư, Môrít mới ngồi trước tay lái, thay Văn Bình, lái vòng vào một đường hẻm. Hai người không trò chuyện với nhau nữa. Một lát sau, Môrít nói:

- Lúc nãy, anh ghen đùa hay ghen thật đó?

Văn Bình thở dài:

- Tôi cũng không biết nữa. Không khéo tôi yêu nàng cũng nên. Sau bao năm lăn lộn, bây giờ tôi mới chiêm nghiệm lời dặn của ông Hoàng là đúng: chớ đùa ái tình với nhân viên trong Sở.

- Tôi cho mọi việc đều do định mạng an bài. Anh lấy được nàng còn gì bằng. Nàng đã đẹp lại đoan chính, còn anh, anh là điệp viên số một của Sở. Song tôi chỉ sợ giữa đường đứt gánh mà thôi.

Văn Bình bâng khuâng rút thuốc Salem ra hút. Môrít lái xe đến một công viên tối om, đậu lại. Gần đấy, chàng thấy một chiếc Dauphine sơn trắng. Trông trước, trông sau, không thấy tài xế, Môrít nhanh nhẹn mở cửa xe, nối giây công-tắc. 5 giây đồng hồ sau, động cơ nổ ròn. Môrít sang số, chạy biến vào bóng tối.

***

Qua rạp chiếu bóng Chalern Khetr, gần cầu Yosay, Quỳnh Ngọc ra hiệu cho tắc-xi dừng lại. Ném cho tài xế 10 bath[22], nàng rảo bước lại một tiệp cà-phê cũ kỹ. Nàng đi thẳng vào trong, đến cánh cửa trên đề chữ "phòng riêng" thì đẩy vào.

Bên trong, một người đàn ông cao lớn, ngồi hút xì-gà cạnh tổng đài điện thoại.

Y mở to mắt nhìn nàng:

- Đây là phòng riêng của chủ nhân. Cô hỏi ai?

- Tôi hỏi Arun.

- Arun là ai. Tôi không biết. Có lẽ cô lầm địa chỉ rồi. Tiệm giải khát này không có ai tên là Arun.

Quỳnh Ngọc dằn cái xắc xuống bàn:

- Tôi không có thời giờ ởm ờ với anh nữa. Arun ở lầu ba, phòng 17. Anh gọi điện thoại lên cho đại tá, nói là có người quen muốn gặp ngay.

Y lắc đầu, vẻ mặt lo sợ:

- Đại tá đang bận việc. Tôi không dám gọi. Trái lệnh, tôi sẽ bị bỏ tù. Ít nhứt một tuần vào xà-lim. Tôi xin cô tha cho.

Quỳnh Ngọc quát:

- Nếu anh còn trù trừ, tôi sẽ bắn nát óc.

Nàng rút súng ra, lên đạn đánh soạch. Gã cao lớn run lẩy bẩy:

- Thưa cô là ai?

Nàng đáp, giọng hách dịch:

- Hêlen. Cứ trình với đại tá là có cô Hêlen. Đại tá sẽ không bỏ tù anh, trái lại còn thưởng tiền anh để đi coi thoát y vũ nữa.

Y lẩm bẩm:

- Hêlen. Hêlen.

Nàng giục:

- Mau lên. Tôi sửa soạn bắn đây này.

Ngón tay nàng đặt vào cò. Y lập cà lập cập, ấn phít điện thoại:

- Xin cô cất súng đi, em xin gọi.

Giọng nói gắt gỏng của Arun cất lên oang oang:

- Gì thế? Mày không biết tao đang bận à?

- Thưa….

Quỳnh Ngọc giằng lấy ống nói:

- Em đây, Hêlen đây.

Giọng Arun trở nên hiền khô:

- Hêlen đấy à? Trời, tôi tìm cô mãi. Cô bảo thằng gác đưa lên phòng tôi ngay.

Quỳnh Ngọc trèo cầu thang gỗ lên lầu ba. Tiệm cà-phê là một trong các trụ sở bí mật của mật vụ Thái. Arun đã lừa nàng lên phòng y một lần. Trong phòng Arun có một cái giường sắt nhỏ, sơn màu kaki, kiểu nhà binh, trải đệm cao-su dày một tấc. Arun định cưỡng ép nàng, song nàng nhứt định cự tuyệt, và nàng đã thắng.

Arun chờ nàng ngoài cửa phòng, vẻ mặt ngạc nhiên:

- Có việc gì gấp thế, Hêlen?

Nàng ngồi phịch xuống ghế bành, ném cái xắc lên bàn:

- Tôi đến để bắn anh đây.

Arun biến sắc:

- Hêlen loạn trí rồi. Tôi làm gì đâu mà cô đòi bắn?

Nàng thở dài, nhìn Arun bằng luồng mắt đầy khổ não. Arun cao một thước sáu, người béo thu lu, da ngăm ngăm đen, lông mày chổi xể, miệng cá ngão, răng vàng ệch, bám đầy chất nicotin. Y mặc sơ-mi ngắn, để lộ những bắp thịt mềm nhũn, chứng tỏ y chỉ ngồi trong phòng giấy, thích rượu chè, gái đẹp, và lười hoạt động.

Nàng dằn từng tiếng:

- Anh nói anh yêu tôi, anh sẵn sàng hy sinh tất cả vì tôi. Lời cam kết của anh chỉ là láo khoét. Arun, nếu thật tình anh yêu tôi, tại sao anh lại cho người theo bắt Môrít.

Hiểu ra, Arun cười tủm tỉm:

- Ồ, Hêlen lầm rồi. Bắt Môrít có can dự gì tới mối tình của tôi đối với Hêlen.

- Sao không can dự? Anh không biết tôi là nhân viên của Môrít hay sao?

- Biết lắm chứ. Môrít là cấp trên của Hêlen, có dính líu gì đâu tới mối tình của hai ta, trừ phi….

- Anh đừng ghen ngược. Anh dư biết giữa Môrít và tôi không có gì hết. Anh còn biết tôi ghét hắn ghê gớm. Chẳng qua anh là kẻ bạc tình. Anh lợi dụng tôi, đến khi không cần nữa thì vứt bỏ. Trói dại yêu anh, tôi mới khổ sở thế này. Tôi phải giết anh, giết anh rồi tự vẫn.

- Ô hay, ô hay, tôi xin thề với Trời là vẫn yêu Hêlen như hồi mới gặp. Hêlen quên rồi sao, tôi đã quỳ xuống lạy Hêlen, xin được ban một cái hôn mà Hêlen không chịu. Hêlen đẹp như tiên giáng trần, tôi phụ Hêlen sao được. Tôi thú nhận một phần là ghen tuông với Môrít, ghen tuông với kẻ có diễm phúc ở gần đệ nhất mỹ nhân, song phần chính Môrít bị theo bắt vì hắn phạm tội giết người.

- Anh quá ghen nên trông gà hóa cuốc. Căn cứ vào đâu anh đổ tội sát nhân cho Môrít?

- Hắn đã đánh nhân viên của tôi thập tử, nhứt sinh, hắn còn độc thủ làm một nhân viên bể lá lách mà chết.

- Anh nói dối.

Arun thở dài, ném xuống ghế một tập giấy đánh máy:

- Hêlen đọc hồ sơ này sẽ biết tôi nói dối hay không. Y sĩ đã ký giấy chứng nhận nạn nhân bị đá mạnh vào bụng. Hêlen ơi, tôi nói dối làm gì, vì nói dối thì mất Hêlen. Nếu Hêlen biết tôi dành những cảm tình sâu sắc nhứt cho Hêlen thì sẽ không dằn vặt tôi nữa. Đây này, Hêlen nhìn xem.

Arun lấy trong ngăn kéo ra một cái hộp cạt-tông lớn, rồi tiếp:

- Hêlen nhìn xem. Cái hộp này đựng giấy phạt xe của Hêlen trong vòng 3 tháng, 3 tháng mà hơn một trăm giấy phạt. Tôi phải nói khéo với bên cảnh sát giao thông, người ta mới làm lơ cho. Tuần trước, Hêlen đâm cả xe hơi ông bộ trưởng Ngoại Giao, tôi cũng phải mang đầu đi xin. Hêlen cần nước hoa, tôi phải điện sang Ba-lê, mua gởi về ngay bằng phi cơ. Hêlen….

Quỳnh Ngọc dậm chân, giọng rưng rưng:

- Còn gì, anh kể nữa đi. Anh có biết nổi khổ của tôi đâu. Môrít bênh vực tôi nên nhân viên của anh bị nạn. Nhân viên của anh toàn là một bọn hiếu sắc, thấy gái như mèo thấy mỡ. Anh có cho phép y đụng tới tôi không mà y dám trói tôi vào chân giường, rồi….

Một giọt nước mắt lăn trên gò má. Bị cảm xúc mạnh mẽ, nàng đẹp gấp bội. Arun xao xuyến đến cực độ, bàn tay hơi run run, y giục:

- Rồi sao?

- Rồi y xé áo em ra.

Arun hỏi dồn:

- Hêlen có việc gì không?

Nàng òa lên khóc:

- Không, vì Môrít về kịp.

Nàng mở xắc lấy cái áo rách đặt lên bàn Arun. Y nói, giọng buồn bã:

- Tôi không ngờ. Thôi, tôi xin lỗi Hêlen, tôi sẽ can thiệp cho Môrít được tự do. Để tôi hỏi xem hắn bị giữ tại đâu.

- Môrít chưa bị bắt. Tôi vừa gặp hắn xong. Hắn nhờ tôi xin lỗi anh về việc thiếu nhã nhặn với hai nhân viên mật vụ tới bắt hắn tại lữ quán Royal.

Arun la lên:

- Trời, hắn lại đánh nhân viên của tôi nữa. Như thế, tôi không nương tay được. Tôi phải….

- Anh vừa hứa không bắt Môrít kia mà….

- Nể Hêlen, tôi tha tội cho hắn, không tóm cổ, nhốt vào xà-lim. Nhưng tôi sẽ trục xuất hắn, không cho ở lại phút nào trên xứ Thái nữa.

Quỳnh Ngọc đứng dậy, giọng cầu khẩn:

- Arun, đã thương thì thương cho trót. Môrít là một gã lưu manh, không vừa đâu.

- Vì hắn lưu manh, tôi phải đuổi hắn về nước.

- Cũng như Arun, tôi mong hắn cút đi cho rảnh mắt. Nhưng anh ơi, tôi đã nói, hắn không vừa đâu. Lúc nãy, gặp tôi, hắn cất tiếng dọa làm tôi xanh mặt.

Arun sốt ruột:

- Dọa làm sao?

Quỳnh Ngọc lắc đầu:

- Thôi, chào anh, tôi đi đây. Gieo gió tất gặp bão, tôi không phàn nàn gì hết.

- Hêlen phải nói để tôi giúp cho. Kẻ nào chạm tới lông chân Hêlen, tôi sẽ vằm ra trăm mảnh báo thù.

- Anh không vằm nổi Môrít đâu. Gặp tôi, hắn dọa nếu bị mật vụ trục xuất, hắn sẽ phúc trình với ông Hoàng về việc tôi bỏ việc, chạy theo đại tá Arun.

- Không hề gì. Tôi sẽ thanh minh với ông Hoàng dùm cô. Ông Hoàng rất mến tôi.

- Ông Hoàng mến anh đã đành, song tôi sẽ bị đuổi.

- Hêlen sẽ làm việc với tôi.

- Anh nói dễ quá. Tôi là công dân Việt, Môrít chỉ dơ ngón tay lên là tòa đại sứ đòi thông hành lại, bắt tôi hồi hương.

- Cần gì. Tôi sẽ bảo đảm Hêlen nhập quốc tịch Thái.

- Khổ lắm. Môrít còn nhiều thủ đoạn bẩn thỉu hơn nữa. Tôi nói với hắn rằng tôi bất chấp, tôi sẽ từ chức, tôi sẽ bỏ Việt tịch thì hắn cười mà đáp: hà, hà, Hêlen nói dùm với thằng Arun của Hêlen rằng tôi sẽ gửi thư cho bà vợ.

Arun giựt nảy mình:

- Tôi sẽ cho vợ tôi biết đó là thư nặc danh, vô giá trị.

- Chao ôi, Môrít đã lén chụp được mấy bức hình tai hại. Anh còn nhớ cái đêm anh hẹn tôi trong khách sạn không? Hắn chụp được lúc anh cởi áo tôi. Hắn dọa chỉ một bức ảnh này là tôi mất việc, anh cũng bỏ đời.

Arun rít lên:

- Môrít, đồ chó má.

Nàng cũng rít theo:

- Hắn chó má như thế đấy. Theo tôi, anh nên nghe hắn là hơn.

- Hắn muốn gì?

- Ồ, hắn chỉ xin anh cho hắn được tự do, không bị bắt, không trục xuất.

Đại tá Arun thở dài sườn sượt:

- Thôi, Hêlen về đi. Tôi sẽ làm hắn thỏa mãn. Nhưng rồi hắn biết tay tôi.

- Em can anh. Môrít nói hễ hắn bị nạn ở Thái Lan, bạn hắn sẽ công bố những bức ảnh bí mật. Hắn bảo anh có bổn phận bảo vệ an ninh cho hắn.

Tức tối, Arun cầm cái dĩa gạt tàn thuốc lá, ném mạnh xuống đất. Quỳnh Ngọc cười thầm trong bụng, song bề ngoài nàng vẫn làm ra vẻ đau đớn. Nàng lại gần viên sĩ quan si tình, đặt bàn tay lên vai y. Y cầm tay nàng hôn. Nàng cúi xuống, hôn phớt trên trán y.

Arun ngây ngất:

- Bao giờ chúng mình gặp nhau? Đêm nay được không?

- Chưa được đâu. Đêm nay em còn phải gặp hắn để điều đình cho xong đã. Hẹn anh tối mai. À, tối mai em phải học võ. Tối mốt vậy. Em sẽ làm anh thỏa mãn.

- Đúng hẹn đấy. Hêlen.

Nàng hôn gió một cái thật kêu rồi mở cửa ra ngoài. Trong phòng, đại tá Arun bấm nút vô tuyến, ra lệnh:

- Alô, phân ban Hành Động phải không? Đại tá Arun đây. Hãy bãi bỏ các cuộc theo dõi và bắt bớ Môrít. Nghe không? Bãi bỏ hết. Nói với sứ quán Việt Nam rằng những chuyện vừa xảy ra chỉ là hiểu lầm. Môrít vẫn được ở lại Thái Lan.

***

Ngồi gác chân lên bàn. Văn Bình uống rượu như hũ chìm. Càng uống, mặt chàng càng tái, những tia sáng tóe lửa ra khỏi mắt. Môrít quay mặt vào tường, hì hục lau khẩu súng bị hóc đạn.

Đồng hồ dạ quang treo trên nóc tủ đã chỉ 9 giờ tối. Từ nãy đến giờ, hai người không nói với nhau nửa lời. Tâm trí Văn Bình để tất cả cho Quỳnh Ngọc, người con gái nhí nhảnh mà chàng có cảm tình tha thiết.

Chợt có tiếng xe đậu ngoài cổng. Hai người đều nói:

- Quỳnh Ngọc về.

Nàng xô cửa vào, trên môi nở nụ cười kiêu hãnh. Môrít đút khẩu súng vào thắt lưng:

- Arun bằng lòng cho tôi ở lại rồi, phải không?

Nàng giựt mình:

- Phải, sao anh biết?

Môrít cười:

- Trông nụ cười của cô là biết ngay. Vả lại, tôi đưa Văn Bình về đây là có dụng ý. Arun biết địa chỉ này từ lâu. Chúng tôi chờ mãi, không thấy nhân viên mật vụ tới, điều đó có nghĩa là Arun đã bại trận.

Quỳnh Ngọc khen:

- Anh giỏi thật.

Môrít nhún vai:

- Arun không phải là tay cà mèng. Hắn thua cô lần này, nhưng lần sau sẽ không thua cô nữa. Cô đi rồi, tôi cũng rút vào bí mật, nếu không, hắn sẽ tìm cách ném tôi xuống dòng Chao Phya, và dìm mất xác.

Ném điếu thuốc qua cửa sổ, Văn Bình hỏi:

- Chúng mình đi chưa?

Nhìn đồng hồ, Môrít nói:

- Mới 9g15, còn 10 phút nữa. Đúng 10 giờ, ta phải có mặt tại đường Prajathi-phatai. 11 giờ, lên đường rời Vọng-các. Bây giờ, tôi xin nhắc lại những điều tôi nói lúc nãy, những điều tôi làm đúng theo chỉ thị của ông Hoàng.

Chính phủ Thái không ưa Cộng Sản, nhưng vì lý do riêng không thể ra mặt công kích Bắc Việt. Thâm tâm người Thái là tìm cách tống khứ phần lớn dân Việt thân Cộng đang làm ung thối miền Đông-Bắc, sát Lào, được coi là đầu cầu thâm nhập nguy hiểm của Bắc Kinh và Hànội.

Một số Việt kiều đã được hồi hương về Hải Phòng. Một số khác không về, vì được tin những toán về trước bị nhà đương cuộc Bắc Việt đối xử tàn nhẫn, như tịch thu tiền bạc, nữ trang, phân tán tới các công trường lao động. Cộng sản bèn bí mật tiếp xúc với chính phủ Thái, xin cho một phái đoàn Việt kiều qua Hànội để điều tra hư thật.

Phái đoàn này gồm 10 người, toàn là phần tử thân cộng. Quỳnh Ngọc chài được tên trưởng đoàn là Phạm Bài. Trong số đoàn viên, có một người diện mạo và dáng dấp hao hao như Văn Bình. Đêm nay, ta sẽ đánh tráo cho Văn Bình gia nhập phái đoàn. Nếu Phạm Bài nghi ngờ, Quỳnh Ngọc sẽ tìm cách ru ngủ hắn.

Văn Bình cắt quãng:

- Arun không biết ư?

Môrít đáp:

- Arun không biết, vì việc này nằm trong thẩm quyền bộ Ngoại Giao mà sở tình báo lại cạnh tranh ráo riết với cơ quan mật vụ của Arun. Với sự sắp xếp của chính phủ Thái, phái đoàn sẽ đáp máy bay riêng, nói là đi Chieng Mai, kỳ thật bay thẳng ra Hànội. Tôi hy vọng kế hoạch trà trộn của ta sẽ thành công.

Nhiệm vụ tôi đến đó là hết. Tôi không biết anh sẽ làm gì và gặp ai ở Hànội. Đêm chủ nhựt sau, phái đoàn về, anh sẽ gặp tôi đúng 12 giờ tại đây. Nếu anh và cô không hỏi thêm gì nữa, thì chúng ta lên đường.

Quỳnh Ngọc tắt đèn, căn phòng tối đen như mực. Môrít ra trước, vào ga-ra lấy xe.

Chiếc DS 19 sơn đen phóng nhanh trên con đường vắng tanh. Qua một rạp xi-nê, Môrít dừng lại cho Quỳnh Ngọc xuống. Nàng nắm tay Văn Bình:

- Lát nữa, mình gặp nhau.

Rồi quay lại Môrít, nét mặt nghiêm trọng:

- Chào anh, em đi. Em gởi lời chào chị và "bà dì".

Một luồng khí lạnh bốc lên trong xương sống Môrít. Chàng sang số, chạy từ từ, tâm hồng bâng khuâng. Bỗng chàng thở dài:

- Lạ nhỉ? Chưa bao giờ Quỳnh Ngọc chào tôi một cách bịn rịn như thế. Nói ra là dị đoan, song tôi cảm thấy…

Chàng nín bặt.

Rồi chàng tiếp, giọng trầm trầm:

- Xin lỗi anh Văn Bình. Lẽ ra, tôi làm nghề nhà văn mới hợp. Nhiều khi, tình cảm vu vơ tràn ngập tâm hồn. Trước giờ lên đường, có thái độ bi quan là điều tối kỵ.

Văn Bình gạt đi:

- Anh muốn người gián điệp phải như hòn đá hay sao? Trong đời, tôi đã xuống tay hạ sát cả trăm người, đôi lúc tôi coi như không, nhưng cũng nhiều lần run tay, tâm thần xúc động. Chính tôi, khét tiếng là có trái tim bằng sắt mà đã rớt nước mắt. Với anh tôi chẳng giấu làm gì, nếu không vì ông Hoàng, vì say mê nghề nghiệp, tôi đã bỏ Sở lâu rồi.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:33 pm

Lúc nãy, anh bùi ngùi là đúng. Chúng mình không phải là kẻ lái ẩu, trên dốc phóng bừa xuống, bất kể sống chết, mà chính là tài tử đu bay hai mắt bịt kín, mười lăm thước bên dưới là sàn bê-tông, xảy tay là mất mạng. Hàng ngày, chúng mình biết chết mà vẫn phải biểu diễn cho khán giả ngồi xem. Một đêm kia….

- Trong một giây đồng hồ thiếu bình tĩnh, hoặc giây du bị đứt, chúng mình lao đầu xuống đất.

- Và tan ra từng mảnh. Chuyến đi này, tôi sẽ cố gắng hết sức để giây đu không đứt.

Môrít cười gượng:

- Tôi cũng mong như thế.

Xe hơi vòng một công viên, rồi tiến vào đại lộ Prajathiphatai. Đại lữ điếm Thai Hotel cao sáu từng - một công trình kiến trúc tân kỳ của thủ đô Vọng-các - đứng sừng sững giữa khu đất rộng, đèn thắp sáng trưng, như muốn thách thức với bầu trời đen kịt, loáng thoáng những ngôi sao yếu ớt và buồn ngủ.

Môrít lái sát lề. Đồng hồ tay Môrít chỉ đúng 10 giờ 1 phút rưỡi. Môrít chỉ tòa nhà đen thui bên trái:

- Tăng Minh ngụ trong bin-đinh này. Y là giáo sư đại học, thân cộng số một, vừa ở Pháp về. May cho anh, y về đây một mình, vợ đầm còn ở Ba-lê, y tính tình kênh kiệu, thích cô đơn, nên rất ít bạn, hoặc đúng hơn, không có người bạn nào. Y có tật mê gái, và Quỳnh Ngọc đã làm quen với y dễ dàng.

- Tăng Minh quen ai trong phái đoàn không?

- Không. Phạm Bài cũng không quen y. Vì điều kiện an ninh, các đảng viên cộng sản ở đây thường đeo mặt nạ che kín trong hội nghị. Phạm Bài chỉ biết Tăng Minh qua tấm hình. Vả lại, việc tuyển chọn phái đoàn là do chi bộ cộng sản Bắc Việt ở đây phụ trách. Họ tiếp xúc riêng từng người cử vào phái đoàn, gởi danh sách cho bộ Ngoại Giao. Phạm Bài không quen ai hết.

- Có thể Tăng Minh quen ai ở Hànội không? Qưen một bộ trưởng chẳng hạn?

- Tôi không biết. Cầu mong y không quen ai. Nếu quen thì nguy to.

Môrít ngưng bặt.

Từ cửa bin-đinh, một người đàn ông cao lớn vừa đi ra. Môrít nói:

- Y đấy. Anh trông giống không?

Tuy ở xa và tối, Văn Bình cũng nhận ra hình vóc và dáng đi của người lạ mặt. Một tay thọc túi quần, một tay đưa điếu thuốc lên miệng, chấm đỏ lập lòe trong đêm tối. Văn Bình đùa:

- Tôi ngửi thấy mùi bạc hà. Chắc y cũng nghiện Salem như tôi.

Tưởng bạn nói thật, Môrít nhổm người lên:

- Mũi anh thính quá. Tăng Minh là một tay nghiền Salem và rượu huýt-ky. Nghĩa là giống anh như đúc. À quên, còn bệnh mê gái nữa. Duy khác một điều: y chỉ giỏi ôm lưng đàn bà ném lên đệm cao su mút, hoặc xoay tròn trên sàn nhảy, chứ không biết bắn súng, phóng dao, thậm chí không biết đấm quả đìa-rét nữa.

- Y dạy ở đâu?

- Trường đại học Chulalongkorn. Nhưng y đã nghĩ rồi. Bị cưỡng ép từ chức, anh hiểu không? Y tuyên truyền nhiều quá, quên cả dạy, sinh viên làm rùm beng, bộ Giáo Dục phải cho y nghỉ hè dài hạn không lương. Y chuyên về tâm lý học. Về khoa này, chắc anh chẳng thua ai, chứ đừng nói là thua y. Có lẽ anh hơn y về tán dóc nữa.

Nhớ nhé, Tăng Minh có thói quen uống sữa buổi sáng. Uống sữa tươi, một ly to tướng, không súc miệng bằng huýt-ky, hoặc tiêu thụ hàng lít cà-phê đen như ông Z.28 đâu. Ra ngoài đó, sáng dậy đòi rượu thì hỏng bét. Trước khi phái đoàn lên đường, chi bộ ở đây đã gởi báo cáo tỉ mỉ cho Hànội biết lý lịch từng người, kể cả tính tốt và tật xấu.

Còn cái này nữa, anh nhớ nốt: Tăng Minh đau mũi kinh niên, suốt ngày phải dùng mù-soa.

- Còn món ăn thường ngày của y?

- Y thích nhậu nhẹt theo kiểu Ba-lê. Thích nói tiếng Pháp, Thích nhắc lại những kỷ niệm êm đềm trong thời gian du học tại Mạc-tư-khoa. Nhờ phúc ấm, anh cũng hoạt động ở Nga Sô, nên cũng biết mặt mũi phi trường Vờnucôvô[23], con sông Mótcôva[24] và đại lộ Gọtki ra sao.

- Có lẽ tôi còn thạo hơn y nữa. Tôi còn biết phi trường Vờnucôvô tối câm, không một ánh sáng, sợ gián điệp Tây phương chụp hình. Sông Mốtcôva buồn thiu, bờ tráng xi-măng, đại lộ Gọtki[25] - đường Tự Do của thủ đô Nga Sô - bề ngang sáu bảy chục thước, hai bên toàn nhà tám từng mới cất, cùng một kiểu, nhìn đau mắt. Đó là ban ngày, còn ban đêm….

- Tôi hỏi thật anh, anh đã nếm mùi ái tình ở Mạc-tư-khoa chưa?

- Rồi. Chán mớ đời, anh ạ. Con gái toàn đeo tạp-dề dài lê thê, đi ủng cao su, đầu quấn khăn to tướng. Họ mặc quần áo rộng thùng thình, không ai nhận ra đâu là ngực, đâu là bụng nữa. Ôi chao, các ổ thanh lâu đắt riền ra phết.

- Hừ, chuyến này có Quỳnh Ngọc đi kèm, chắc anh không dám mò xuống Khâm Thiên, hay Vạn Thái nữa.

- Anh nói đúng. Lần trước, tôi gặp nhiều ả khéo đáo để, song họ không còn ở Khâm Thiên, hay Vạn Thái nữa. Anh có thể tìm thấy ở Hàng Đào. Không nói dối anh đâu, tuần sau tôi mang về cho vài bộ ảnh, cũng tử 32 đến 64 kiểu, không kém gì anh mua trên đại lộ Rama ở đây, hoặc trong hành lang Eden ở Sàigòn vậy.

- Hà, hà….

Môrít nín lặng, hai mắt đăm đăm nhìn về phía trước.

Tăng Minh đứng trên lề đường,dưới ngọn đèn sáng, mắt liếc ngược xuôi. Một phút sau, biết chắc không bị ai theo, y rảo bước sang bên kia lề, đi nhanh về phía Môrít.

Môrít hích vai bạn:

- Cá sắp vào rọ rồi.

Chờ Tăng Minh tới gần xe, Văn Bình đẩy cửa. Khoảng đường này bị bóng cây che phủ nên Tăng Minh không thấy gì hết. Y bước lùi lũi, sát vào mái hiên, dường như sợ ánh đèn bắt gặp.

Y mặc com-lê màu sẫm, đội mũ phớt vành to, trên miệng còn nửa điếu thuốc cháy dở. Tiếng giầy đế da gắn cá sắt gõ cồm cộp trên lề đường vắng hoe.

Văn Bình móc túi lấy gói thuốc.

Tăng Minh còn cách chàng hai thước. chàng gọi:

- Này ông.

Y dừng lại, vẻ ngờ vực lóe trong đôi mắt sáng quắc. Văn Bình nói:

- Xin ông chút lửa.

Tấn kịch xin lửa này đã diễn ra hàng chục lần trong nghề điệp báo quốc tế. Gián điệp Sô Viết giả vờ xin lửa hút thuốc để bắt cóc bác sĩ Liusờ[26] tại Tây Bá Linh. Đến lượt gián điệp Việt giả vờ xin lửa.

Tăng Minh chìa điếu thuốc cháy dở cho chàng, rồi bước thẳng. Nhanh như chớp, chàng vung bàn tay trái vào mặt y. Ngón atêmi "đệ nhứt cao thủ" của chàng quật y ngã, êm như ru. Chàng bước tréo sang bên, hứng cây thịt nặng trên 70 kilô đang xỉu xuống, rồi lôi sềnh sệch về phía xe hơi, cửa sau há miệng đen ngòm.

Chiếc DS 19 thấp lè tè vọt ra khỏi lề.

Ngồi ở băng sau, Văn Bình lột quần áo Tăng Minh, mặc vào. Môrít hỏi vọng:

- Vừa không?

Văn Bình chắt lưỡi:

- Khổ quá. Đi giầy không vừa. Chân tôi 42, y chỉ độ 40 là cùng.

- Dùng tạm giầy anh vậy.

- Giày tôi đóng ở Sàigòn, có tên hiệu dưới gót. Thôi được, để tôi gỡ miếng da ra.

- Còn quần?

- Bề dài thì vừa vặn. Nhưng còn bụng. Tăng Minh ăn hút quá nhiều nên vòng bụng rộng hơn của tôi một gang tay.

- Phiền nhỉ. Mặc rộng sợ chúng nó nghi ngờ. Hay là…

- Anh muốn tôi tháo miếng vải thêu tên tiệm may rồi khâu vào bên trong vét-tông của tôi phải không?

- Đúng thế.

Văn Bình xé xoạt một tiếng. Chàng nhét mảnh vải vào túi trên, rồi lúi húi dốc hết đồ trong túi nạn nhân ra. Tăng Minh mang theo một ví tiền dầy cộm, và một xâu chìa khóa lớn. Chàng lẩm bẩm:

- Quái, bỏ chia khóa vào túi làm gì cho nặng!

Cầm chùm chìa khóa lên xem, chàng thấy ba cái dẹt, bốn cái tròn, hình thù quái dị. Một ý nghĩ khác thường thoáng qua óc, chàng định bàn với Môrít song lại nín lặng.

- Đến nơi chưa? Chàng hỏi.

Môrít tống mạnh ga xăng, chiếc DS chồm lên:

- Còn một cây số nữa. Tôi bỏ anh xuống gần rạp xi-nê Krung Kasem, chỗ Quỳnh Ngọc xuống hồi nãy. Anh nhớ địa chỉ chứ? Số 1045. Cầu thang bên trái. Lên đến lầu ba, quẹo sang tay mặt. Phòng số 19.

- Cám ơn anh, tôi nhớ.

- Chuẩn bị đi. Một phút nữa, tôi dừng xe.

Văn Bình thấy lòng nao nao. Nao nao không vì sợ hiểm nghèo - vì trong đời, cái chết là cơm bữa đối với Z.28 - mà vì chàng sắp được gần Quỳnh Ngọc.

Môrít nắm chặt bàn tay Văn Bình:

- Tuần sau, hai đứa mình gặp nhau. Tôi sẽ dẫn anh đi xem thoát y vũ. Thứ giựt gân hạng nhứt, hoàn toàn cởi hết, chứ không úp úp, mở mở như Sàigòn của anh đâu. Nếu anh cần, tôi giới thiệu với anh những cái mông thật tròn, thật cứng và thật tốt.

- Còn tôi, tôi sẽ biếu anh những xấp hình ly kỳ nhứt Bắc Việt.

Văn Bình bước xuống đường.

Một tích tắc sau, chiếc DS của Môrít đã biến vào bóng đêm mù mịt của đế đô Vọng-các.

Môrít lái ngược lên phi trường Đồn Mương. Được nửa đường, chàng rẽ vào một con đường đất. Chạy được một quãng, thấy hiện ra sừng sững một tòa biệt thự cổ, tứ phía tường cao kín mít. Cổng trại mở rộng, chàng phóng vào trong sân.

"Bà dì", thiếu phụ đứng tuổi, nhân viên ban Biệt Vụ, đợi chàng trước ga-ra, một ngôi nhà nhỏ lợp tôn uốn, nằm khuất dưới cây xi to lớn.

Môrít tắt đèn pha, thiếu phụ chạy tới. Chàng nói:

- Chào chị Hải.

Thiếu phụ đáp:

- Chào anh. "Nó" đâu?

Môrít mở cửa sau, lôi Tăng Minh xuống. Y bị đánh bất tỉnh, nằm thẳng đơ trên nền cỏ ướt. Môrít dặn thiếu phụ:

- Tôi bận độ 15 phút. Phiền chị pha cho tôi ly cà-phê. À, mình phải ở lánh trong trại độ một tuần, chờ họ về. Chị có mang đủ đồ hộp theo không?

Thiếu phụ gật đầu:

- Tôi chở đầy thùng xe Fiat, ăn nửa tháng cũng chưa hết.

Môrít khiêng Tăng Minh vào trong nhà xe. Chàng bật đèn, đóng kín cửa sổ, rồi lục trong góc ga-ra lấy ra một cái xẻng. Nền ga-ra bằng đất mềm, chàng đào loáng trong mấy phút được một cái hố sâu nửa thước, vừa đặt cái hòm.

Chàng gói Tăng Minh vào cái bạt ni-lông, sửa soạn ném xuống hố, đột nhiên một mùi kỳ lạ bắt chàng dừng tay.

Đó là mùi long não.

Mở bạt ra, chàng nhìn kỹ người chết. Phát atêmi thứ nhì của Văn Bình đã làm nạn nhân nghẹt thở, lưỡi lè ra, da mặt tím ngắt, một tia máu đen trào ra mép. Giáo sư đại học Tăng Minh có con mắt đa tình, đôi môi đĩ thõa, và khung mặt xinh trai chỉ còn là xác chết xám ngoẹt, tròng trắng mở ra trừng trừng, chứa đầy ngạc nhiên và tức tối, mớ tóc rối bù phủ trên cái trán sưng húp.

Mùi băng phiến từ bộ com-lê cũ kỹ của y toát ra. Bộ âu phục rẻ tiền, và sờn chỉ của Tăng Minh làm chàng ngạc nhiên. Tăng Minh vốn là kẻ ăn diện, áo quần đầy tủ, lẽ nào y ra Hànội với bộ com-lê xấu xí, vứt xó từ lâu trong tủ còn thơm mùi long não.

Môrít thừ người nghĩ ngợi.

Chàng lấp đất lại thật nhanh, chặn một miếng ván lên trên. Thiếu phụ bưng ly cà-phê nóng hổi xuống. Chàng uống cạn một hơi, rồi nói:

- Tôi phải về Vọng-các ngay bây giờ. Quá ba giờ sáng, nếu tôi chưa về, tức là bị nạn. Chị phải điện gấp cho ông Hoàng, sau đó hủy điện đài, và trốn vào tòa đại sứ, chờ chỉ thị Sàigòn.

Giọng "chị Hải" run run:

- Anh đi đâu?

- Tôi nghi trong vụ này có một vài bí ẩn. Tôi phải khám phá cho bằng được, nếu không, Văn Bình và Quỳnh Ngọc phải chết.

- Tôi sẽ đi giúp anh một tay.

- Chị phải ở đây. Nếu tôi không về, chị nhớ dặn nhà tôi vào sứ quán với chị. Biết thế này, tôi đã bắt chước Văn Bình không lấy vợ nữa. Chị dặn giùm nhà tôi giữ gìn cái thai trong bụng.

Mặt thiếu phụ tái đi:

- Ơ kìa, anh say rượu hay sao mà nói toàn chuyện gở thế. Hoạt động ở Vọng-các, đâu phải ở Hànội mà anh sợ?

Môrít cười nhạt:

- Tôi mến chị và trọng chị như chị ruột, song chị là đàn bà nông cạn, biết một không biết hai. Tôi không say đâu, tôi tỉnh lắm. Tôi đã hứa với thằng anh con Quỳnh Ngọc là bảo vệ em nó, dầu phải trả bằng sự hy sinh nào. Tôi có cảm tưởng vì tôi mà nó mang thân vào chỗ chết. Chính tôi giới thiệu nó vào ban Biệt Vụ, chị nhớ không? Cũng chính tôi đề nghị nó ra Hànội với Văn Bình. Và cũng chính tôi yêu cầu ông Hoàng đưa hai người vượt bức màn tre bằng đường Vọng-các. Tôi phải gánh hết trách nhiệm. Chào chị, tôi đi đây.

Môrít gài số hai, phóng tuột ra đường. Thiếu phụ thẫn thờ đưa bàn tay lên chùi mắt.

15 phút sau, chàng lái qua đường Prajathiphatai. Tòa nhà Tăng Minh chìm trong bóng đêm dày đặc. Sương khuya phủ trắng một vùng. Chàng đậu xe trong hẻm, rồi đi bộ lại.

Trước nhà, chàng không thấy ai.

Đó là một bin-đinh gồm nhiều phòng, cho thuê tháng. Người thuê đều có chìa khóa riêng mở cửa sắt bên dưới.

Chàng loay hoay trong một phút với xâu chìa khóa giả. Cánh cửa sắt được lau dầu thường xuyên mở ra không gây tiếng động. Chàng khép lại, thong thả trèo cầu thang xi-măng lên lầu.

Tăng Minh ở lầu 2, trong căn phòng cuối. Môrít tái mặt khi thấy ánh đèn trong phòng Tăng Minh hắt ra nhợt nhạt. Chàng vặn nhẹ quả nắm.

Bên trong không khóa.

Chàng đẩy mạnh vào.

Một người đàn ông lạ mặt đang lom khom trước tủ áo, vụt quay lại.

Thấy Môrít, y khựng người.

Môrít lưồn tay vào trong áo. Nhưng người lạ rút súng nhanh hơn. Y quát bằng tiếng Thái trọ trẹ:

- Đứng im. Hai tay giơ lên.

***

Văn Bình ngẩng nhìn số nhà.

1045. Đúng số Môrít dặn. Một ngọn đèn vàng ệch 30 oát được treo lủng lẳng bên cạnh bảng số. Cửa ra vào bằng gỗ sơn xanh, nhiều chỗ tróc hết sơn.

Đối với khách chơi đêm, số nhà 1045 là một ổ thanh lâu ấm cúng. Trên lầu hai, khách sẽ gặp những cô gái phục sức kỳ quặc: mặc toàn đồ voan đen, áo rộng thùng thình, phủ từ vai xuống mắt cá, mở sau lưng bằng một hàng cúc dài.

Trong sự kỳ quặc đã có sự thích thú, vì phía sau làn vải mỏng hơn giấy bóng, và có những lỗ mắt cáo, các cô gái không mặc thêm gì hết. Lối phục sức này làm người đàn bà khêu gợi hơn khỏa thân hoàn toàn. Khách có thể hút á phiện, đánh bạc, giải sầu, hoặc coi phim đặc biệt, coi những màn thoát y trắng trợn nhứt thế giới.

Lầu hai và lầu ba khác nhau một vực, một trời. Nếu lầu hai là sào huyệt mãi dâm thượng lưu sực nức mùi nước hoa, mùi bồ hôi, mùi da thịt trần truồng, mùi rượu mạnh, mùi thuốc sát trùng, suốt đêm ồn ào như ong vỡ tổ thì ngược lại một màn im lặng vô hình bao phủ lầu ba.

Lên hết cầu thang bên trái, Văn Bình có cảm giác lạc vào một tòa nhà vắng, chủ chết đã lâu, hiện không có người ở. Mạng nhện giăng đầy tường, màu vôi trắng loang lổ đã ngả sang màu vàng, một màu vàng khó tả.

Các cửa phòng đều đóng im ỉm. Ở hành lang - một hành lang sâu thăm thẳm, gió lạnh xoáy vào làm kẻ yếu bóng vía dựng tóc gáy - chỉ có một ngọn đèn vàng mười nến trần truồng, lắc lư cuối sợi giây đen lòng thòng, giống như thủ cấp của người bị treo cổ chao đi, chao lại trên thòng lọng.

Văn Bình dẫm lên tấm thảm ni-lông rêu phong kín mít. Gót giày của chàng bị lún xuống rêu. Chàng tưởng như một bàn tay bí mật giữ chân chàng lại.

Thái độ bình tĩnh, chàng đến phòng 19. Con số 19 được viết nguệch ngoạc bằng phấn trắng học trò trên nền gõ bẩn thỉu. Chàng đặt ngón tay vào chuông điện.

Một tiếng rè rè nổi lên bên trong. Không cần ngó quanh, chàng đã biết những cặp mắt vô hình đang theo dõi chàng từng bước.

Hai phút qua, cánh cửa mở ra nhè nhẹ.

Trong phòng tối om.

Chàng nghe tiếng người thì thào:

- Nund sarm hah[27].

Chàng đáp, giọng đủ nghe:

- Yee sib[28].

Đèn điện được bật lên. Chàng nhận ra Quỳnh Ngọc đang đứng với một gã gầy nhom, nét mặt giang hồ, đôi môi mỏng dính tương phản với cặp kiếng cận thị gọng đồi mồi to tướng, xập xuống dưới mũi. Chàng biết là Phạm Bài.

Quỳnh Ngọc cất tiếng, giọng nghiêm nghị:

- Chào đồng chí Tăng Minh. Đồng chí lại chậm ba phút.

Không nói lời nào, Phạm Bài xô cửa sang phòng bên. Tám người - năm đàn ông, ba đàn bà - đang ngồi trò chuyện nho nhỏ trên ghế sa-lông. Thấy Tăng Minh, mọi người quay lại, song không đứng dậy.

Phạm Bài nhìn đồng hồ tay:

- Còn năm phút nữa, chúng ta lên đường. Tôi xin nhắc lại nội quy của cuộc tham quan đặc biệt này: tôi là trưởng đoàn, các đồng chí được đặt hoàn toàn dưới sự điều khiển của tôi. Nữ đồng chí Thái Phượng làm phó trưởng đoàn - y vừa nói vừa chỉ Quỳnh Ngọc - yêu cầu các đồng chí triệt để tôn trọng kỷ luật. Sở sĩ chúng ta phải tuyệt đối thận trọng vì bộ Ngoại Giao Thái chấp thuận cho chúng ta ra Hànội, song một vài cơ quan khác không đồng ý.

Ngoài ra, phe địch cũng muốn phá hoại cuộc tham quan này. Chúng có thể bắn súng, ném lựu đạn bất thần (Văn Bình cười thầm). Khi nào phi cơ tới vùng trời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chúng ta mới tạm yên tâm. Các đồng chí cần hỏi thêm gì nửa không?

Không ai lên tiếng. Phạm Bài ra lệnh:

- Yêu cầu các đồng chí nộp hết giấy tờ căn cước trong mình cho nữ đồng chí phó trưởng đoàn.

Văn Bình chạm vào da Quỳnh Ngọc khi trao giấy tờ của Tăng Minh cho nàng. Nàng hơi run run, có lẽ vì khoái cảm. Văn Bình phải tránh luồng mắt của nàng, trong lòng lo ngại. Yêu nhau bậy thật, chàng nhủ thầm. Nếu nàng không chế ngự nổi cảm xúc, sớm luộn hai người cũng bại lộ. Nàng cần nhớ chàng là giáo sư Tăng Minh, không phải là Văn Bình tức điệp viên Z.28. Và nàng là tình nhân của đoàn trưởng Phạm Bài.

Lòng chàng se lại.

Phạm Bài khoát tay ra hiệu. Cả bọn - trừ một người đàn ông, tóc hoa râm - lùi lũi theo cửa riêng xuống đường bằng lối sau. Ngoài sân, một chiếc xe chở hàng kiểu Vônvaghen đã đậu sẵn. Phạm Bài trèo lên băng trước với Quỳnh Ngọc.

Tài xế lái lên trường bay Đồn Mương. Cách phi trường chừng nửa cây số, một chiếc cam-nhông bít bùng khác chạy ngược chiều, nháy đèn ra hiệu. Theo lệnh Phạm Bài, mọi người xuống xe, dồn lên cam-nhông. Năm phút sau, đoàn hành khách được đưa thẳng vào phi đạo, không phải qua quan thuế.

Một nhân viên bô Ngoại Giao Thái cầm đống căn cước mà mọi người nộp cho Quỳnh Ngọc, trèo lên phi cơ, đi qua các hàng ghế, hỏi tên họ và so với ảnh căn cước. Đến trước Văn Bình, y dừng giây lâu, nhìn đi nhìn lại. Y định hỏi gì song lại thôi. Văn Bình hú hồn. Nếu y là bạn của Tăng Minh thì kế hoạch hỏng bét.

Xong xuôi, y trao cho Phạm Bài một cái phong bì, trong đựng chiếu khán chung cho phái đoàn. Trước khi xuống phi cơ, y còn ngoái lại nhìn Văn Bình lần nữa, trên mặt hiện rõ vẻ ngơ ngác và băn khoăn. Văn Bình điềm nhiên châm thuốc lá.

Ngọn đèn đỏ trước phòng phi hành bật lên. "No smoking. Fasten your belt"[29] giòng chữ chàng đã đọc qua hàng ngàn lần lại hiện ra trước mặt. Chàng dụi tàn thuốc, kéo dây lưng, buộc lại. Quỳnh Ngọc ngồi phía trên, cạnh Phạm Bài. Mùi tóc nàng thơm thơm thoàng vào mũi chàng.

Máy bay cất cánh.

Thế là xong.

Xong màn đầu của vở trường kịch đùa rỡn với Thần Chết.

***

Nghe tiếng quát "dơ tay lên", Môrít tuân theo, nhưng không phải để đầu hàng.

Khẩu Colt Super 38, nòng sáng xanh, chĩa về phía chàng không làm chàng sợ. Vì chàng thấy ống hãm thanh đen sì, to tướng, nhô ra dài ngoằng ở đầu nòng. Địch dùng silencieux, điều này chứng tỏ không phải nhân viên Công An Thái. Y cũng ở trong làng gián điệp bí mật như chàng.

Chàng nhún vai:

- Ban đêm, anh vào phòng tôi làm gì? Ăn trộm chăng? Tôi báo trước là không có tiền.

Địch cười nhạt:

- Hừ, anh đóng kịch vụng quá. Anh không phải là Tăng Minh.

- Anh lầm đúng hơn. Nếu anh cần coi căn cước, tôi đưa anh xem ngay.

Y quát:

- Không được bỏ tay xuống. Mày không lừa nổi tao đâu. Đồ chó săn của chính phủ bán nước.

Môrít đoán biết y là ai rồi. Chàng chỉ sợ Arun chơi khăm. Một khi Arun dính vào, chàng khó thoát. Sàigòn với Vọng-các là bạn, Arun có thể giết chàng mà ông Hoàng phải khoanh tay, vì sợ làm mất lòng đồng minh Thái Lan.

Nhưng sự việc lại khác. Người lạ mặt tưởng chàng là Phản Gián Thái.

Y lắc nòng súng, vẻ mặt dữ tợn:

- Lùi vào tường, quay lưng ra.

Môrít nhếch mép ngạo mạn:

- Để anh tước súng phải không? Tôi có hai khẩu, mất khẩu dưới nách, tôi còn khẩu ở thắt lưng

- Câm miệng, không tao bắn nát lưỡi.

Môrít quay lưng lại. Chàng nín thở nghe tiếng giày người lạ dẫm lên thảm cói. Trong chớp nhoáng, chàng hình dung tướng mại của đối phương để tìm kế phản công: một thanh niên vạm vỡ, cao gần một thước bảy, nặng chừng 70 kilô - nghĩa là vào hạng gạo cội của làng đánh đấm - mắt đỏ như máu, lông mày dựng ngược, mũi cà chua, mồm mím lại, một cái thẹo chạy từ mép ra mang tai bên trái, cổ to như cột nhà, vai dày, đủ sức khiêng bổng một cái xe hơi, ngực nở sau làn vải ni-lông huyết dụ, cánh tay dài như vượn, ngón tay sần sùi, đặt lên cò súng một cách thành thạo.

Đối phương là kẻ có sức mạnh phi thường. Song Môrít nhận thấy y phản ứng chậm chạp, nặng nề, chưa phải là tay giết người chuyên nghiệp. Lưỡi dao bá phát bá trúng của chàng nằm ép dưới ngực toát ra hơi lành lạnh. Vốn ghét dùng súng, chàng chỉ chơi dao. Nếu chàng mang súng thì đâu đến nỗi bị dồn vào tường như bây giờ. Song chàng chưa tuyệt vọng. Chàng tin địch sẽ hớ hênh, tạo điều kiện ngàn năm một thuở cho chàng.

Tiếng giày đến gần đến gần thêm nữa. Giọng y sắc như dao cạo:

- Đứng yên, nghe không. Tao không chủ tâm giết mày đâu. Nhưng nếu mày cử động….

Không chờ địch nói hết, Môrít đã phản công. Địch đã phạm một lỗi lầm căn bản của phương pháp dùng súng khi tiến tới gần chàng. Nhanh như máy điện tử chàng quay ngược lại, chân phải phóng ra ngọn cước kinh hồn.

Y né đã nhanh, nhưng cái đá của Môrít xẹt tới như lằn chớp, trúng vào cườm tay cầm khí giới.

Khẩu súng bị đá văng vào trong tủ áo. Biết nguy, địch vớ ngay cây đèn bằng đồng nẵng chĩu để trên bàn. Y giựt một cái mạnh, sợi dây điện đứt lìa ra, cây đèn biến thành một võ khí tấn công cực kỳ nguy hiểm. Thấy Môrít bước lên, y xoạc chân ra như xuống tấn, vận sức vào hai cánh tay, giáng cây đèn vào đầu chàng. Với khối thịt 75 kilô, cây đèn có thể đập óc chàng nát ngướu, phương chi địch lại am tường phép đánh kiếm kenđô tinh vi của sõ sĩ Nhựt.

Không dám khinh thường, Môrít phải nhảy tréo sang bên để tránh, song địch đã chuyển cây đèn, phạt vào hông chàng. Lần này, chàng phải nằm lăn trên sàn nhà, cuộn tròn lại, dùng một thế nhu đạo cực hiểm, tống mũi giầy vào bụng y.

Mũi giầy của Môrít được gắn một miếng thép nhọn hình tam giác, khi xử dụng cũng ghê gớm như lưỡi dao. Miếng thép sắc lẻm cắm vào bao tử địch, ngọt sớt như xuyên qua đất sét. Y thét lên một tiếng, mùi máu làm y hăng đòn, mắt y đã đỏ lại đỏ hơn lên. Môrít bồi thêm một cái đá thứ hai vào mạng mỡ, địch vẹo người, quạt cây đèn vào chân chàng.

Suýt nữa, bàn chân của chàng bị dập bấy. Chàng không bị thương nặng nhờ tấm thảm cói bị kéo sộc sệch khiến địch loạng choạng, ngón đòn sát nhân trượt ra ngoài.

Môrít nhẩy bổ vào người y, tóm lấy bàn tay cầm đèn, bẻ gập xuống. Xương gẫy kêu răng rắc. Địch ngã ngồi trên thảm, thở hồng hộc như con heo bị thọc huyết. Môrít bẻ mạnh thêm nữa. Y rên lên:

- Đau quá, trời ơi.

Chàng tát vào mặt y:

- Mày là ai? Ai sai mày tới? Mày vào phòng Tăng Minh để làm gì? Nói mau không tao bẻ luôn xương chân.

Bồ hôi toát ra đầm đìa, pha lẫn với máu. Y van vỉ:

- Đau quá, anh tha cho tôi.

- Vậy thì khai đi.

- Tôi không biết gì hết. Người ta sai tôi đi.

- Đến đây làm gì?

- Để xem Tăng Minh có mặc bộ com-lê màu xanh sẫm không.

Môrít vụt hiểu:

- Trong bộ com-lê có gì?

Y Suýt soa:

- Tôi không biết.

- Ai sai mày tới?

- Tôi không dám nói. Người ta giết tôi mất.

Môrít nghiến răng:

- Thế thì được. Tao sẽ bẻ nốt tay trái.

Y run lên cầm cập:

- Vâng, tôi xin nói.

- Ai, nói mau.

- Saratiên.

Môrít bàng hoàng như bị ai đánh vào đầu. Chàng không lạ gì Saratiên. Y đứng đầu một tổ chức khủng bố bí mật. Tổ chức này liên lạc mật thiết với thủ tướng thân Cộng Pờrađi bị hất khỏi chính quyền, sau một cuộc đảo chính, hiện sống ở nước ngoài, và nuôi ảo vọng trở về. Ông Hoàng đã ra lệnh cho chàng theo dõi bọn Saratiên. Mật vụ Thái cũng muốn đè bẹp Saratiên.

Saratiên liên quan như thế nào với Tăng Minh? Tại sao Saratiên muốn Tăng Minh mặc bộ com-lê cũ ra Hànội? Chàng phải tìm ra manh mối.

Chàng nhìn thẳng vào mắt địch:

- Saratiên đợi mày ở đâu?

Y lắp bắp:

- Đúng 11 giờ rưỡi, trước lữ quán Trocadero, đại lộ Suriwongse.

- Khẩu hiệu?

- Không cần khẩu hiệu vì y biết mặt tôi. Saratiên đi xe Fiat màu vàng.

- Có mấy người?

- Saratiên ngồi sau. Phía trước có tài xế.

- Y dùng khí giới gì?

- Tôi không biết. Dường như trong xe có hai khẩu tiểu liên.

Môrít đứng dậy. Chàng nhìn đồng hồ. 11g15. Đi ngay bây giờ, Môrít có hy vọng gặp Saratiên. Chàng ngó tên nhân viên của Saratiên, tỏ vẻ thương hại. Chàng không muốn giết y, song y còn sống, kế hoạch của chàng sẽ hỏng. Phản Gián Thái tìm ra y, sẽ phăng ra Tăng Minh liên lạc với Saratiên. Văn Bình sẽ bị khó dễ.

Nhìn thấy tia mắt dữ dội của Môrít, y mếu máo:

- Tôi khai hết rồi, anh tha cho tôi.

Không đáp, Môrít cúi xuống, sống bàn tay của chàng phạt ngang vào yết hầu. Y ngã xuống tấm thảm, giãy lên đành đạch rồi tắt thở.

Môrít khóa trái cửa, thản nhiên xuống đường.

Còn hai phút tới 11 giờ rưỡi.

Nhận thấy một chiếc Fiat đậu sát lề. Môrít lững thững bước tới, một tay bỏ trong túi quần, nắm chặt khẩu súng Colt Super 38.

Đi qua cửa xe, còn cách hai thước, Môrít gọi to:

- Saratiên.

Người tài xế ló đầu ra. Môrít nã một phát trúng đầu. Chàng chĩa súng qua cửa sau nhả đạn. Gã đàn ông lực lưỡng ngồi trên băng gục xuống chết không kịp trối. Môrít tiến sát, bắn thêm một phát vào giữa mặt y.

Ba phát súng bắn qua ống hãm thanh chỉ gây tiếng động nhỏ, chung quanh không ai nghe thấy. Môrít trở lại xe DS, trên miệng nở nụ cười khoái trá.

Chàng vừa ngồi trước tay lái, chưa kịp mở máy thì cảnh hỗn loạn diễn ra.

Một chiếc xe hơi đen không biết từ đâu tới phóng vụt qua, tóe ra những tia lửa đỏ. Tacata… tacata…. tiếng súng tiểu liên. Cánh tay trái của Môrít bại đi. Biết trúng đạn, chàng nghiến răng ấn đề-ma-rơ, tống ga rượt theo.

Một tràng nữa bắn vỡ nát kiếng trước của chiếc DS. Mảnh kiếng văng tung tóe vào mặt chàng, khiến chàng mù tịt, không thấy gì nữa. Không chịu thua, chàng ấn lút ga xăng. Kim tốc độ chỉ trên một trăm. Chàng phóng nhanh hơn, bốn bánh xe nghiến ken két trên đại lộ Suriwongse vắng tanh.

Còn cách chiếc xe đen một quảng ngắn, chàng rút súng. Tay trái bị đạn, chàng giữ vô-lăng, tay phải nhả đạn. Viên đạn 9 ly bắn trúng lốp trái, phía sau. Chiếc xe lạng sang bên, chàng bắn phát nữa, trúng vỏ bên phải.

Chiếc xe loạng choạng đâm vào cột đèn rồi thắng gấp lại, trên xe nhảy xuống hai bóng đen.

Môrít hụp đầu xuống để tránh băng tiểu liên nã qua khung kiếng vỡ. Chàng mở cửa xe, lăn xuống đường nhựa. Mặc dầu toàn thân nhức nhối, chàng vẫn còn đủ sáng suốt nhận ra hai bóng đen quì trên vĩa hè, một đứa cầm súng lục, một đứa đang thay gắp đạn mới vào khẩu tiểu liên.

Bụp… bụp….

Môrít nã liền hai phát.

Hai bóng đen ngã sóng soài trên đất.

Chờ một phút không thấy gì, Môrít trèo lại lên xe, lái lên trường bay Đồn Mương.

Máu chàng chảy ra như xối, ướt sũng áo sơ-mi.

Tay trái bị liệt hoàn toàn, chàng phải cầm vô-lăng bằng tay phải. Mắt chàng hoa lên, song chàng cứ tiếp tục chạy trên 150 cây số một giờ.

Chàng phóng như điên vào trong trại.

"Chị Hải" rú lên khi thấy mình mẩy chàng đầy máu. Chàng lảo đảo bước xuống, vịn vào vai thiếu phụ, bước khập khiễng vào nhà. Vào đến sa-lông, chàng ngã lăn ra.

Thiếu phụ bật đèn, quỳ xuống coi vết thương. Nàng tái mặt khi thấy sơ-mi Môrít đen sì thuốc súng. Nàng hỏi, giọng lo lắng:

- Môrít, anh việc gì không?

Chàng đáp:

- Tôi không biết bị mấy viên đạn cả thảy. Nhưng tôi bị mất máu nhiều lắm.

- Anh chờ tôi một lát. Tôi lái xe đi tìm bác sĩ.

Môrít lắc đầu:

- Không kịp đâu, chị Hải.

Mắt thiếu phụ rơm rớm:

- Không có y sĩ, anh sống sao nổi.

Môrít cười gượng:

- Chị đừng sợ, tôi khỏe lắm. Chị xuống ga-ra, lấy bộ com-lê Tăng Minh lên đây cho tôi.

Khi thiếu phụ đặt bộ áo quần nhàu nát và dính đất lên ghế. Môrít nói:

- Chị lấy gối kê vào đầu tôi, và đỡ tôi dậy.

Chàng đau nhói ở ngực, song cố làm ra vẻ thản nhiên. Chàng xé toang vải bọc trong vét-tông ra, đưa cho thiếu phụ:

- Chị xem có gì không?

Nhìn kỹ một hồi, thiếu phụ đáp:

- Không.

Chợt nghĩ ra, chàng nói:

- Chị mang va-li đựng hóa chất cho tôi.

Thiếu phụ bưng ra một cái va-li da nặng, bên trong đựng đầy chai lọ. Chàng dốc một chai thuốc vàng lên vải. Không thấy gì. Chàng đổ luôn mấy chai thuốc khác.

Thiếu phụ la lên:

- Thấy rồi, anh ạ.

Ngay chỗ dán tên tiệm may mà Văn Bình xé bỏ. Môrít thấy hiện ra những giòng chữ li ti. Một bức thư bí mật! Lấy kiếng hiển vi đọc, chàng giựt mình sung sướng, quên mất những vết thương chí tử trong người.

Chàng nói với thiếu phụ:

- Thư của bọn Saratiên gởi mật vụ Bắc Việt, xin giúp đỡ để tiến hành cuộc đảo chính. Chị lấy máy chữ chép ngay ra giấy cho tôi.

Thiếu phụ nhìn chàng:

- Không, anh để tôi chở anh đi bệnh viện đã.

Môrít quắc mắt:

- Chị là thuộc viên của tôi, chị phải tuân lệnh. Tôi không chết được đâu. Nếu tôi chết nữa, cũng là chuyện thường. Bức thư này liên quan tới vận mạng của Quỳnh Ngọc và Văn Bình. Phải chết để cứu họ, tôi sẵn sàng chết, chị hiểu chưa?

- Thưa anh, tôi hiểu.

- Thì chị còn đợi gì chưa thi hành lệnh tôi?

- Tôi không thể thi hành lệnh anh được, dầu anh là cấp chỉ huy trực tiếp. Theo điều lệ, thuộc viên có quyền cãi lệnh thượng cấp, trong trường hợp thượng cấp mất sáng suốt hoặc ở trong trường hợp nguy ngập. Anh đang bị thương nặng. Tuân lệnh anh, thì anh phải chết. Tôi không muốn anh chết. Anh phải sống để phục vụ đất nước.

- Chị gàn dở quá.

- Tôi không gàn dở đâu. Nào anh ngồi dậy để tôi dìu anh ra xe.

- Chị Hải! Tại sao chị hy sinh đời chị, bỏ hết lạc thú gia đình, một gia đình nhà cao, cửa rộng vàng bạc đầy két, để lao đầu vào nghề tình báo bạc bẽo, cọ sát với tử thần? Tại sao chị không nghĩ đến lấy chồng? Tại sao chị không bắt chước các bạn gái của chị, mở nhà thuốc, khai thác mảnh bằng dược sĩ quốc gia mà chị tốt nghiệp ưu hạng trường đại học Ba-lê?

- Vì đất nước còn đau khổ.

- Đấy, vì đất nước còn đau khổ chị phải hy sinh. Tại sao chị không cho phép tôi làm giống chị?

- Tôi không muốn lý luận thêm với anh nữa, máu anh ra nhiều quá.

- Tôi cũng vậy. Nếu chị cố tình trái lệnh, tôi sẽ tự tử.

Môrít rút lưỡi dao trong áo ra, kề mũi vào tim. Thiếu phụ nghẹn ngào:

- Vâng, tôi xin nghe anh. Giờ anh muốn tôi làm gì?

- Chị chép bản mật thư ấy đi. À, xin chị cho tôi một phát mọt-phin.

Thiếu phụ thở dài, nước mắt trào ra hai bên gò má. Nàng nấu kim, chích mọt-phin cho Môrít xong, mang máy chữ lại, gõ lóc cóc. Môrít ngồi yên, lưng dựa vào đống gối bông. Chàng biết không còn sống lâu nữa. Nếu đi bệnh viện, chàng có hy vọng thoát chết, song ở Hànội, hai người bạn, thân của chàng sẽ chết.

Chàng đặt bàn tay trước ngực. Máu cứ trào ra. Phía bên trái của chàng không cử động được nữa. Chàng lâm râm khấn vái xin cho chàng được sống đến lúc liên lạc xong với ông Hoàng.

Chàng hỏi:

- Chị Hải xong chưa?

Thiếu phụ ngẩng đầu lên:

- Còn một giòng nữa.

- Đánh xong rồi, chị mang giấy bút cho tôi. Mang cả điện đài lại đây nữa.

Chàng loay hoay thảo bức điện mật mã. Trong khi ấy, thiếu phụ đã kéo ăn-ten lên khỏi máy, nối vào giây thép phơi quần áo bên ngoài. Chàng ném bức điện xuống ghế:

- Phiền chị đánh giùm tôi.

Sàigòn trả lời liền. Mặt Môrít bừng sáng. Chàng lẩm nhẩm lại phần cuối bức điện:

"Xin ông can thiệp ngay mới cứu nổi VB và QN. Bức mật thư này, tôi xin ông chuyển cho chính phủ Thái. Chắc họ không giận tôi nữa. Phút này, tôi kiệt lực rồi. Bị nhiều phát đạn vào ngực, tôi chỉ sống được mươi phút nữa thôi. Xin ông nói giùm với vợ tôi là ở bên kia cõi thế, tôi vẫn thương nàng. Trân trọng chào ông, chào VB và QN."

Phúc điện của ông Hoàng rất ngắn:

"Đã nhận được. Sẽ liên lạc ngay với nhân viên của ta ở Hànội để báo tin cho VB. Ra lệnh cho anh phải đi ngay bệnh viện. Bà Hải có nhiệm vụ săn sóc cho Môrít. Chúc bình phục".

Môrít cười đau đớn:

- Ông Hoàng thương tôi lắm, nhưng bây giờ thì muộn rồi.

Thiếu phụ đỡ chàng đứng dậy:

- Phiền anh ôm lấy vai tôi. Trong mươi phút nữa, người ta sẽ mổ gắp đạn ra cho anh.

Môrít lắc đầu:

- Chậm quá rồi chị ạ.

Thu tàn lực vào cánh tay, chàng xé toạc sơ-mi ra. Thiếu phụ rú lên khi thấy ngực chàng đen sạm thuốc súng, từ nhiều lỗ nhỏ máu tuôn ra đỏ lòm.

Môrít nói:

- Chị thấy không. Bọn Saratiên bắn đạn ghém. Tôi chỉ có hy vọng thoát chết, nếu tôi lái thẳng từ đường Suriwongse tới bệnh viện, và không về đây. Lúc tới trại, tôi quyết định rồi. Chị Hải ơi….

Giọng chàng yếu hẳn đi. Thiếu phụ quỳ xuống bên chàng.

- Chị Hải ơi! Tôi coi chị như chị ruột thịt song chưa bao giờ chị thổ lộ tâm tình cho tôi nghe. Tại sao chị lại bỏ anh ấy?

Giọng thiếu phụ ướt đẫm nước mắt:

- Cám ơn lòng tốt của Môrít. Tôi bỏ hứa hôn, trả nhẫn lại vì anh ấy chỉ có mảnh bằng cao cấp, bằng thạc sĩ y khoa, song lòng anh ấy, hồn anh ấy quá tầm thường. Suốt đời, anh ấy chỉ nghĩ đến tiền, đến trốn trách nhiệm làm người. Tôi sửa soạn vào nhà tu thì may thay tôi gặp ông Hoàng. Rồi tôi gia nhập ban Biệt Vụ.

- Anh ấy là ai?

Thiếu phụ lắc đầu:

- Môrít biết tên con người vô lại ấy làm gì?

- Không, tôi muốn biết. Chị không thỏa mãn ý muốn cuối cùng của kẻ lâm chung được sao?

Thiếu phụ thở dài, đau đớn:

- Môrít ơi, người ấy là anh ruột của Môrít.

Môrít lạnh người, trân trân ngó nàng, không chớp mắt. Chị Hải nói tiếp:

- Môrít giận anh nên mới xâm hình cô gái đợi tình nhân dưới gốc cây soài ở cánh tay, và bỏ nhà ra đi. Hồi còn nhỏ, Môrít đã xung đột với anh ấy nhiều lần. Môrít giận anh vì toàn gia đình đều phẫn nộ khi được tin tôi thoái hôn, vì anh quá tầm thường. Môrít chỉ nghe tên tôi mà chưa biết mặt. Nhà tôi là một trang trại soài rộng mênh mông.

Môrít ơi, tôi xin ông Hoàng sang Vọng-các để hoạt động với Môrít. Không lấy được anh của Môrít, tôi nguyện chăm nom cho Môrít được khỏe mạnh mãi. Vợ của Môrít là em con dì của tôi, chính tôi đã hỏi nàng cho Môrít, nàng biết rõ tâm sự tôi, song nàng không hé răng cho Môrít biết. Giờ đây tôi đã nói hết. Môrít tha thứ cho tôi.

Môrít vùng dậy, nắm chặt tay nàng:

- Thưa chị, tôi mãn nguyện lắm rồi. Xin vĩnh biệt chị….

Chàng ngoẹo đầu xuống gối, tắt thở nhẹ nhàng. Thiếu phụ gục đầu trên xác chàng, khóc nức nở.

Kim đồng hồ chỉ đúng nửa đêm.

--------------------------------

1


Tiền Thái, 20 bath là một đô-la Mỹ.

2


Vnucovo.

3


Moscova.

4


Gorky.

5


Bác sĩ Walter Liuse, chủ tịch Hội Luật Gia Tự Do, một tổ chức tình báo chống Cộng tư nhân, hoạt động ở Đức quốc.

6


Tiếng Thái, tức là 1, 2, 3.

7


Tiếng Thái: 20.

8

Không được hút thuốc, cột giây lưng lại.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:34 pm

VI. Nguy hiểm chết người

Suốt chuyến bay ra Hànội, Văn Bình ngồi thu hình trong một góc, không nhìn ngang, nhìn ngửa, theo thói quen, cũng không thốt một lời. Mùi tóc thơm thơm của Quỳnh Ngọc vẫn quạt vào mùi chàng. Chàng ngồi im, thưởng thức mùi hương kỳ diệu ngấm dần qua thớ thịt, tâm thần ngây ngất.

Phía trước, Phạm Bài trò chuyện như bắp rang với Quỳnh Ngọc. Thỉnh thoảng nàng lại ré lê, cười như bị đàn ông cù nách. Máu ghen trong lòng Văn Bình sôi lên. Nếu y không phải là trưởng đoàn, và chàng không phải là giáo sư Tăng Minh giả hiệu, chàng đã vùng dậy, tống vào giữa mặt y một quả đấm.

Ba người đàn bà ngồi ở hàng ghế phía sau chàng. Lúc lên máy bay, chàng chỉ liếc sơ qua đủ chụp được hình ảnh họ vào trong óc. Cả ba đều ăn mặc soàng sĩnh theo kiểu Thái, trên người không đeo nữ trang. Về nhan sắc, họ ở mực trung bình, tuy nhiên về thân thể cân đối, và chắc nịch, họ không đến nỗi thua kém những ả mỹ miều đã vào chung kết giải hoa hậu.

Người trẻ nhứt, có cái tên dịu dàng và thơ mộng, Thiên Nga, cũng là người có bộ ngực nở nhứt và cái eo đẹp nhứt. Nàng trạc hăm mốt tuổi, mớ tóc dài rủ xuống nửa vai, mặt dài không có nét nào đặc biệt, ngoại trừ cái miệng hay cười và đôi môi dày luôn luôn ướt, dường như vừa hôn đàn ông xong.

Thiên Nga là một cán bộ tuyên truyền từ miền Đông Bắc Thái Lan, được ban chỉ huy cử về Vọng-các để qua Hànội. Cũng như Văn Bình, nàng không nói chuyện với ai hết, nhưng hễ cất tiến là sặc mùi cán bộ chính trị.

Mấy người đàn ông ngồi sau không có điểm nào đặc sắc. Họ đều mặc com-lê, đeo kiếng cận thị và hút thuốc lá luôn miệng.

Văn Bình ngả lưng vào ghế, chúi mắt vào tờ tạp chí bằng hình trước mặt. Chàng đọc đi đọc lại cả chục lần, đến nổi nhớ cả tên chủ nhiệm và phóng viên nhiếp ảnh. Phạm Bài soắn suýt lấy người đẹp, quên hết phái đoàn. Văn Bình hy vọng y cứ quên mãi như thế, để chàng rảnh tay hoạt động ở Hànội.

Phi cơ tắt máy từ nãy.

Chàng biết là hoa tiêu sửa soạn đáp xuống.

Nhìn ra bên ngoài chàng không thấy gì hết. trời vẫn tối om. Bên dưới loáng thoáng những chấm sáng của phi trường.

Ngọn đèn "no smoking - Fasten your belt" lại bật sáng. Phạm Bài đứng lên, tì tay vào Quỳnh Ngọc để lấy thăng bằng, giọng oang oang:

- Đến nơi rồi. Tôi cần dặn các đồng chí một lần nữa. Trong thời gian tham quan ở Hànội,các đồng chí cần gì hãy liên lạc với tôi, trưởng đoàn. Từ ăn uống, đến đi ra đường, các đồng chí phải sinh hoạt tập thể. Ai muốn làm việc riêng, phải xin phép tôi, hoặc đồng chí phó trưởng đoàn.

Vừa nói, Phạm Bài vừa liếc Quỳnh Ngọc, vẻ mặt kiêu hãnh. Trong thái độ câng câng, Văn Bình muốn giựt cặp kiếng cận thị ra khỏi mắt y, rồi ném xuống đất để trêu tức. Chàng bỗng xấu hổ thầm khi thấy nàng đứng sát Phạm Bài, dáng điệu lạnh lùng dường như không nghe tiếng y nói.

Chiếc máy bay đảo một vòng rồi xà xuống phi trường Gia Lâm. Lén vào miền Bắc nhiều lần, lần nào cũng thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, Văn Bình không còn xúc động nữa khi đặt chân xuống đất địch. Tuy nhiên, lần này chàng cảm thấy nao nao.

Trong quá khứ, chàng ra Bắc bằng tàu ngầm, ghé Sầm Sơn, những đêm tối om, hoặc nhảy dù từ những phi cơ không mang số hiệu, sơn màu sám, giữa trời trăng sáng. Tới nơi là có người đón, đưa về chỗ an toàn, trong mình chàng lại mang võ khí đầy đủ từ lưỡi dao lò so, khẩu súng 9 ly, tới những cái bút máy đựng chất nổ cực mạnh và lát tích lựu đạn đặc biệt, giúp chàng đối phó và thoát thân nếu va chạm đối phương.

Lần này chàng đến Hànội bằng cửa trước, trên máy bay của địch, giữa đoàn người thân tín của địch, đặt chân lên phi trường Gia Lâm của địch, lính gác bốn bề, một con chim bay không lọt.

Nếu địch biết, chàng phải chết. Chàng không sợ chết, song sợ Quỳnh Ngọc vì chàng mà chết. Cặp mắt bâng khuâng, chàng nhìn nàng thoăn thoắt xuống cầu thang.

Trường bay Gia Lâm tối thui, không một ánh đèn. Mãi tới khi bước vào nhà ga, chàng mới thấy những ngọn đèn, chao, sơn đen, và những riềm cửa bằng vải dầy cộm. Chàng chợt nhớ ra Bắc Việt đang phải phòng thủ thụ động ban đêm, trước chiến dịch oanh tạc dữ dội của không lực Hoa Kỳ.

Nếu người ta không báo trước Gia Lâm, thì chàng không bao giờ dám nhận giãy nhà buồn tẻ, vắng tanh ấy là phi trường Gia Lâm, mạch máu của Hànội băm sáu phố phường. Trong phòng đợi, trước kia đông đúc và ồn ào, giờ đây chỉ là mấy bức tường quét vôi vàng trơ trẽn và hiu quạnh.

Mùi ét-xăng, mùi khí ép, mùi quen thuộc của các phi trường, cũng không có nữa, Văn Bình đâm ra nhơ nhớ. Lâu rồi, chàng được một cô bạn đưa ra trường bay Gia Lâm. Lần đó, chàng bắt đầu cuộc đời phiêu bạt trong hàng ngũ gián điệp OSS. Nàng kéo chàng vào góc phi cảng, ôm hôn lung tung, hai má đẫm lệ. Chung quanh chàng, nhiều cặp trai gái khác cũng tình tự với nhau trước giờ từ biệt. Từ bấy đến giờ, lao thân vào gió bụi. Miền Bắc đổi chủ, chàng không gặp lại cô bạn đa tình này nữa. Một nỗi buồn mênh mông dâng lên trong lòng chàng.

Chàng nhìn sang bên: Phạm Bài sánh vai Quỳnh Ngọc, tấm thân gầy guộc siêu vẹo dưới sức nặng của chiếc va-li. Phái đoàn tới Gia Lâm không kèn không trống: theo một yêu sách của bộ Ngoai Giao Thái, cuộc tham quan của phái đoàn phải được giữ kín, không có đón rước rầm rộ, thiếu nhi không được quàng hoa vào cổ, cán bộ không đọc diễn văn dài dằng dặc.

Một viên chức bắt tay Phạm Bài ở phi đạo, ngay khi máy bay đáp xuống. Song không có ai xách giùm va-li cho Phạm Bài. Kể ra, nếu không có đồ đoàn của Quỳnh Ngọc, va-li của hắn cũng không đến nỗi nặng chĩu. Văn Bình nhìn hắn khệ nệ, vừa đi vừa vấp mà thương.

Dưới ánh đèn tù mù, một chiếc xe ca chạy tời bên cửa đậu lại. Cả bọn trèo lên, không ai nói với ai một lời. Văn Bình ngồi đối diện Quỳnh Ngọc, trong bóng tối câm đặc, chàng vẫn nhận ra luồng mắt linh lợi và âu yếm của nàng. Mùi thơm da thịt nàng thoảng vào mũi, chàng có cảm tưởng như chỉ có riêng chàng ngửi được mùi hương kỳ dị ấy.

Mọi người dựa lưng vào thành xe để khỏi mệt sau mấy tiếng đồng hồ trên phi cơ bị sóc. Văn Bình vẫn khỏe khoắn như thường. Chàng ngó ra ngoài: tứ phía đồng không mông quạnh, gió mát tạt vào mặt chàng.

Xe ca phóng nhanh, hai lùm đèn pha yếu ớt lập lòe như ma trơi trên đường nhựa. Nghe inh inh phía dưới, chàng biết là qua cầu Long Biên. Hồi chàng đi học, tối tối chàng đạp xe qua cầu với bạn gái, hò hẹn vu vơ dưới trời trăng sáng. Lớn lên, chàng cũng đạp xe qua cầu buổi tối, nhưng không phải đi chơi với bạn gái ngây thơ, mà là kiếm thú tiêu khiển bên Gia Quất, bên cạnh những chai rượu nóng cháy ruột, và những thân hình nảy nở, dường như được thần Sắc Đẹp tạo ra để ôm ấp đàn ông chưa vợ.

Kỷ niệm ấy mờ rồi, giờ đây Văn Bình qua cầu Long Biên để dấn vào một cuộc vật lộn hiểm nghèo.

Tài xế dừng lại ở Bến Nứa. Từ phi trường tới đó, xe ca đã dừng bốn lần để trình giấy. Được lệnh trước, công an không hề mở cửa, đòi xét căn cước hành khách trong xe. Dưới ánh sáng màu vàng từ trong vọng gác hắt ra. Văn Bình nhận ra nét mặt người cán bộ Bắc Việt, cùng đi với đoàn từ Gia Lâm, đang ngồi bên tài xế. Trông mặt y, chàng ngờ ngợ.

Có lẽ chàng đã gặp y một lần.

Gặp ở đây, chàng không nhớ nữa.

Chàng đau nhói ở tim. Các kế hoạch tinh vi của Sở Mật Vụ có thể than thành mây khói nếu người lạ ngồi ở băng trước biết chàng. Hoạt động nhiều lần ở cố đô, chàng đã chạm trán với công an và phản gián. Họ đã giữ hồ sơ về chàng. Họ đã tóm được chàng, song chàng đã trốn thoát. Nhờ may mắn, nhờ tài giỏi….

Nhưng còn, lần này….

Văn Bình đã được sửa lại khuôn mặt trong một chuyến công tác năm ngoái. Song người quan sát giỏi vẫn có thể nhận ra. Vả lại, dấu tay chàng không thay đổi. Dáng đi ngang tàng, cái cười đĩ thõa, tia mắt sáng ngời chất thép pha trộn với lẳng lơ, cũng không thay đổi.

Người lạ đột nhiên quay về phía sau, nhìn chàng chăm chú. Y có đôi mắt lươn ti hí, song giữa hai mắt nhỏ tóe ra một lằn sáng soi mói, tưởng như chọc thủng màn tối, đâm vào da thịt chàng.

Nhìn chàng hồi lâu, người lạ không nói gì hết. Y nhận ra chàng rồi chăng? Văn Bình coó giữ thái độ thật bình tĩnh. Tài xế rồ máy, cho xe chạy về phía Tây thành phố. Tuy không sinh trưởng ở Hànội, Văn Bình đã là người Hànội một trăm phần trăm. Ban đêm, bịt mắt lại, ném chàng xuống đâu, chàng tìm ra tên phố tức khắc.

Đối với chàng, mỗi thị trấn, mỗi đường phố, đều có mùi vị riêng. Mùi bồ hôi đàn bà, mùi nước hoa, mùi phấn son, mùi rượu mạnh, mùi thuốc lá trộn lẫn với nhau thành một mùi đặc biệt, báo hiệu khu ăn chơi. Lê gót qua những xóm thanh lâu trên thế giới, chàng đã có nhiều dịp ngửi lại cái mùi nửa thanh nửa tục này. Qua khu ẩm thực, trừ khi tịt mũi, còn ai cũng ngửi thấy mùi mỡ béo ngậy, mùi thức ăn ngào ngạt, nếu là quán ăn Tàu thì có thêm mùi lạp xưởng gây gây, mùi hôi nách của mấy chú phổ ky cởi trần trùng trục, nhứt là của các ả múi mặc áo cánh cũn cỡn, mỗi lần đếm tiền là phô bày lông nách đen ngòm và một hương vị khó tả. Còn nếu là quán ăn Tây phương sang trọng thì bao giờ cũng phảng phất mùi huýt-ky, sâm banh, mùi nước hoa Ba-lê, mùi sáp môi Át-đen, mùi quần áo mới giặt, cổ hồ cứng đét của bồi, mùi thuốc lá Mỹ, mùi da thịt thèm muốn của cô gái ngồi két và của những người đàn bà mỗi tối đều tắm gội nước thơm để quàng vai đàn ông, say sưa đến ba, bốn giờ sáng.

Văn Bình nhắm mắt lại.

Chàng giựt mình. Hànội ban đêm đã mất hẳn những mùi vị quen thuộc. Mùi cốm vòng Hàng Than, mùi gà vịt và trái cây ven chợ Đồng Xuân, mùi thuốc đánh đồng ở khu Hàng Sắt, không còn nữa, chàng chỉ còn ngửi thấy một mùi ẩm mốc, chặn lấy cuống họng, hệt cái mùi lạ lùng từ dưới mộ dâng lên trong bãi tha ma rùng rợn.

Chàng liếc nhìn tài xế.

Loáng thoáng dưới ánh đèn táp-lô, chàng nhận thấy cái cổ tròn bạnh , vành tai xệ xuống của kẻ quen nghề đấm đá. Cặp mắt tóe lửa của y in vào kiếng chiếu hậu, làm chàng rợn người.

Trong bóng tối, chàng biết Quỳnh Ngọc đang âm thầm nhìn chàng và cũng có ý nghĩ như chàng.

Như cái máy, chàng quay mặt sang bên. Chàng lại bắt gặp tia mắt của tên cán bộ.

Dường như y nhìn trộm chàng đã lâu. Văn Bình ngạc nhiên không hiểu sao con người mắt lươn hấp háy kia lại có được vừng trán rộng của giai cấp trí thức, đôi lông mày sắc như nét mác, cái cằm vuông, bộc lộ tính tình quả cảm và cương nghị.

Y dựa cánh tay vào ghế, giọng lạnh lùng:

- Mời đồng chí hút thuốc.

Hừ, y giả vờ mời thuốc để bật lửa, nhận diện mình đây. Chàng nghĩ thầm. Thoạt tiên, chàng định từ chối, và rút Salem ra hút. Giáo sư Tăng Minh là tay ghiền Salem nổi tiếng kia mà. Song chàng nhận lời. Nhận lời, cho y biết là chàng không sợ. Muốn bắt chàng, y phải huy động ít ra một tiểu đội võ trang tận răng. Trong chớp mắt, chàng có thể ăn gỏi cả bọn trong xe.

Cử chỉ thản nhiên, pha lẫn ngạo nghễ, chàng cho điếu thuốc vào miệng. Bằng mắt, chàng muốn cho y biết:

- Phải, tôi là Văn Bình, tức Z.28 đây. Anh nhận được tôi rồi phải không? Có giỏi cứ ra tay đi. Coi chừng, Z.28 sẽ làm anh mất mạng.

Dáng điệu khệnh khạng, y cho tay vào túi áo trên, rút ra cái quẹt máy Trung cộng. Y bật lên, một bàn tay che gió, ngọn lửa bốc lên cao làm khuôn mặt Văn Bình hiện ra rõ từng nét. Chàng ngồi nghiêng, ghé miệng lấy lửa, luôn luôn thủ thế. Bàn tay che gió của y có thể vung ra, quạt vào họng chàng. Trúng đòn, chàng sẽ nghẹt thở.

Song le, người lạ không có cử chỉ gây hấn nào hết. Chờ Văn Bình hít một hơi dài, y mới nói, giọng đều đều:

- Thuốc lá Tam Đảo đấy. Dĩ nhiên, không ngon bằng Salem, nhưng nó đậm đà hơn.

Văn Bình ngồi dán xuống ghế. Hừ, y biết chàng hút Salem. Nghĩa là y đã nhận được chàng.

Xe ca dừng trước một tòa nhà bốn từng mới cất ở Hàng Mành. Trời còn tối. Thành phố Hànội đã trở dậy, những đoàn người dài lê thê, mặc áo thun, quần cộc, chạy thình thịch ngoài đường, xe bò chở nặng gõ lóc cóc, máy phóng thanh ồn ào từ trong nhà vọng ra, một hai, một hai, tiếng hô tập thể dục buổi sáng.

Văn Bình không sửng sốt khi thấy tòa nhà không phải là một lữ quán. Sự kiện này chứng tỏ nhà đương cuộc Hànội giữ kín chuyến đi của phái đoàn.

Người cán bộ bước xuống trước, bấm chuông.

Cánh cửa được mở hé, từng người bước vào trong. Đó là một căn phòng rộng, trần thiết giản dị, giản dị đến nỗi tạo ra cảm nghĩ trần truồng. Tường quét vôi trắng, không treo chân dung các lãnh tụ như thường lệ. Những đồ cần thiết như tấm lịch, hoặc đồng hồ quả lắc cũng không có.

Kê sát tường, Văn Bình thấy một dãy ghế gỗ dài, đánh si bóng loáng. Giữa nàng là cái bàn mộc, phía sau một người đàn ông, vẻ mặt lì lợm ngồi đọc sách. Y vụt đứng dậy, nói lí nhí với gã cán bộ. Văn Bình nghe không rõ.

Gã cán bộ đóng chặt cửa, mời mọi người ngồi xuống ghế, rồi nói, giọng nghiêm trọng:

- Hân hạnh được tiếp đón các đồng chí ở đây. Vì điều kiện đặc biệt, như các đồng chí đã biết, việc đón tiếp không thể mang tính chất công khai và rầm rộ. Căn nhà này dành riêng cho thượng khách, trên lầu có đầy đủ tiện nghi, không kém ở Vọng-các, tuy bên dưới sơ sài và nghèo nàn. Sở dĩ chúng tôi phải thận trọng vì sợ con mắt dòm ngó của địch.

Tay sai của địch hoạt động ở đây rất nhiều, tôi xin nhắc với các đồng chí lần nữa. Bây giờ xin mời các đồng chí lên gác nghỉ lưng. Sáng nay, sau khi điểm tâm, sẽ chưa làm gì hết, vì các đồng chí còn mệt. Lát nữa, tôi sẽ mang chương trình tới.

Y lặng lẽ bắt tay từng người. Phạm Bài ôm hôn vào má theo lối cộng sản. Y khẽ nghiêng đầu chào Quỳnh Ngọc; dáng điệu lễ phép. Nàng mỉm cười đáp lại.

Văn Bình đứng sau chót. Đến trước mặt chàng, y nhìn thẳng vào làn nhỡn tuyến sáng quắc, miệng nói từ từ:

- Tôi là Vũ Kính. Nghe tiếng bạn đã lâu, giờ mới được gặp mặt. Tôi có nhiệm vụ hướng dẫn phái đoàn đi các nơi. Phòng tôi mang số 16, tôi cùng ở đây với các bạn.

Văn Bình cảm thấy lạnh ở xương sống. Hừ, y không gọi chàng là đồng chí mà là bạn, tiếng bạn cộc lốc, trắng trợn, hăm dọa. Y nghe tiếng Z.28 đã lâu, tại sao chưa bắt? Phải rồi, y định áp dụng thủ đoạn "giây thừng dài", mặc cho chàng hoạt động, chờ chàng tiếp xúc với nhân viên của ông Hoàng rồi mới tóm trọn ổ.

Suýt nữa, chàng nói toạc với y chàng là Văn Bình. Song chàng nén lại, giọng điềm tĩnh:

- Chào đồng chí, tôi là Tăng Minh, giáo sư đại học Choulalongkorn.

Vũ Kính nheo một con mắt:

- Tôi biết. Tôi biết bạn nhiều lắm. Biết cả quá khứ và thành tích của bạn nữa. Thôi, tôi phải đi, nội ngày nay, mình sẽ gặp nhau.

Nói xong, y quày quả ra ngoài. Văn Bình lặng lẽ trèo lên lầu. Cầu thang bằng xi-măng bẩn thỉu tương phản với bức tường sạch sẽ không một vết bụi. Sự tương phản hiện ra rõ rệt khi chàng đặt chân lên tấm thảm cói ở lầu nhứt.

Bên dưới tồi tàn bao nhiêu thì bên trên sang trọng bấy nhiêu. Hai dãy phòng, cửa bọc da đỏ. Những cây đèn nê-ông sáng xanh, mơn man da thịt. Một cái độc bình Giang Tây đắt tiền đứng nghênh ngang trên cái bàn lợp phót-mi-ca xanh, gần cửa sổ, chứa những bông lê-dơn mới nở chúm chím, màu hồng, màu vàng và màu ngọc thạch.

Một thiếu nữ mặc đồng phục xanh, may chẽn, cúi đầu chào chàng và đỡ lấy chiếc va-li.

Nàng trạc hai mươi, lông mày nhổ gần hết, áo may rộng song người ngoài cũng thấy bộ ngực đồ sộ.

Một đoàn ba thiếu nữ mặc đồng phục tương tự túa ra. Văn Bình may mắn - biết là may hay rủi - được cặp kè với cô gái có duyên nhất đám.

Nàng nói:

- Thưa đồng chí, em là Lệ Mai. Đồng chí cần gì, xin bấm chuông kêu em. Giờ nào em cũng có mặt.

Chàng nhún vai:

- Cả ban đêm nữa chứ?

Không hiểu câu hỏi ví von của chàng, Lệ Mai tủm tỉm gật đầu. Phòng Văn Bình mang số 25 được bày biện diêm dúa đến nỗi chàng không ngăn được sửng sốt. Bàn ghế, giường tủ đều bằng gỗ trắng. Cái giường kiểu Tây phương thấp lè tè, choáng một góc. Chàng để ý nhiều tới cái "ga" trắng muốt, vừa được ủi xong, nhứt là cái gối màu hồng, dua đăng-ten, bên trên thêu hình hồ Hoàn Kiếm bằng chỉ ngũ sắc.

Lệ Mai ấn nút trong tường, cái tủ lạnh nhỏ xíu bật ra. Nàng mở tủ, giọng ngọt ngào:

- Em đã để sẳn nước ngọt và rượu cho đồng chí. Đồng chí muốn gì cũng có.

Chàng tiến lại gần thiếu nữ, ngó chăm chăm vào ngực nàng:

- Tôi muốn cái này được không?

Thiếu nữ ngơ ngác:

- Thưa đồng chí, cái gì ạ?

Chàng quàng tay ngang lưng nàng:

- Cô.

Chàng đinh ninh cô gái tát cho chàng một cái, hoặc ít nhất cũng gỡ ra, thái độ vùng vằng, khó chịu. Nhưng không, nàng vẫn ngọt ngào:

- Nếu đồng chí muốn, em xin vâng.

Văn Bình nóng bừng mặt. Chàng không ngờ cô gái lại dễ tính đến thế. Chắc nàng đã được chỉ thị đặc biệt của Phản Gián. Trước khi tặng cho chàng một viên đạn vào gáy, họ dùng mỹ nhân kế để moi móc bí mật của chàng.

Chàng hôn nhẹ vào mũi nàng:

- Bây giờ được không?

Nàng cười duyên dáng:

- Đồng chí mới xuống phi cơ còn mệt. Sau bữa cơm trưa, em xin tới.

Nàng vén tấm riềm màu hồ thủy sang bên:

- Đây là buồng tắm, có cả nóng và lạnh. Chai nước hoa Cologne để sẵn trên tủ, với bánh xà-bông Coty, mời đồng chí dùng tự nhiên. Đồng chí dùng món gì điểm tâm?

Chàng lại đùa:

- Xăng-uých caviar, dồi Franckfort, sâm-banh Mum.

Ba món caviar, dồi Đức Franckfort, và Mum là thực đơn tư bản, tay triệu phú ở Vọng-các vị tất tìm ra trong các đại lữ điếm, huống hồ chàng ở Hànội, một thành phố ăn khoai luộc và xôi đậu buổi sáng.

Song cô gái không tỏ vẻ sửng sốt. Hình như trước chàng, nhiều thực khách đã đòi những món đắt tiền, và khó kiếm hơn nữa. Nàng gật đầu lễ phép:

- Thưa vâng. Lát nữa, em sẽ mang lên cho đồng chí.

Văn Bình sướng rơn. Trong thời gian ở Hànội, chàng tha hồ ăn caviar, và nốc sâm-banh khỏi phải trả tiền. Nếu biết được ăn uống như tiên, các đồng nghiệp của chàng ở Sở Mật Vụ đã xếp hàng, rút thăm, tranh nhau ra Hànội. Thiếu nữ bỗng hạ thấp giọng:

- Em được lệnh khoản đãi đồng chí. Thứ nào ở đây không có, em sẽ liên lạc với câu lạc bộ sứ quán Liên Sô để lấy. Bây giờ, em xin chào đồng chí.

Cô gái ra rồi, Văn Bình bàng hoàng như vừa tỉnh mộng. Đúng rồi, trước khi bị hành quyết, tử tội thường được ăn một bữa phủ phê, đủ nem công, chả phượng.

Chàng tặc lưỡi:

- Mình cứ ăn cho khoái khẩu đã, đến đó hẳng hay.

Chàng vứt vét-tông xuống giường, vào buồng tắm rửa mặt. Chắc hẳn Quỳnh Ngọc đang ngồi bó gối trong phòng riêng, tơ tưởng đến chàng. Lau mặt xong, chàng trèo lên giường, tắt đèn. Chàng ngủ lúc nào không biết.

Trong giấc ngủ xáo trộn, chàng mơ thấy khuôn mặt lạ lùng của cán bộ Vũ Kính.

Thọc hai tay vào túi quần, y trừng mắt nhìn chàng. Chàng không còn được nằm trong căn phòng sang trọng, giường lò so, máy nước nóng và lạnh nữa. Giang sơn của chàng được thu hẹp vào cái xà-lim nhỏ xíu, tường bê-tông cốt sắt lạnh lẽo, sàn xi-măng ướt át, tù nhân cuộn tròn trong bao bố rách nát, rận rệp bò lổm ngổm.

Xà-lim thông hơi bằng một hàng rào song sắt to tướng đen sì, phía ngoài lắp một ống khóa lớn gấp rưỡi cuốn tự điển. Toàn thân chàng ê ẩm, mắt hoa lên, chàng không thấy gì hết, ngoài bộ mặt tiều tụy của Quỳnh Ngọc trong xà-lim đối diện.

Dưới ánh đèn nhợt nhạt, chàng nhận rõ những quầng thâm trên đôi mắt rất đẹp của nàng. Móng tay dài, dũa tròn, bôi màu hồng thật quyến rũ, đã bị nhổ gần hết. Chàng đã chứng kiến lúc nàng bị nhổ móng. Vũ Kính cười nhạt, ra lệnh cho đàn em.

Quỳnh Ngọc nghiến răng, chịu đau, nước mắt trào xuống má, nhứt định không rên la. Cái kìm trắng toát cắn lấy móng tay, tên cán bộ giựt mạnh, một mảng thịt văng theo, máu tuôn như xối. Nàng ngoẹo đầu, ngất đi.

Nàng cứ tỉnh lên, ngất xuống nhiều lần như thế. Văn Bình muốn bẻ gãy song sắt, chạy sang với nàng, nhưng sức lực kiệt rồi. Bỗng Vũ Kính mở cửa. Y bảo chàng:

- Mày chịu khai đi, tao sẽ tha con bé. Nếu không tao sẽ nhổ nốt mười móng chân, trước khi khoét vú, cắt tay, chọc mũi.

Đau đớn, chàng đáp:

- Anh tha nàng ra, tôi bằng lòng khai. Tha nàng ngay bây giờ. Anh muốn biết những bí mật nào tôi cũng khai hết.

Từ xà-lim đối diện, nàng thét lên, yếu ớt:

- Đừng anh. Đừng quá yêu em mà khai.

Nàng chưa hiểu mưu kế của chàng. Nàng được trả tự do, chàng sẽ không khai gì hết. Thu hết tàn lực, chàng sẽ hạ sát bọn thẩm cung rồi tự vận. Quỳnh Ngọc vẫn thét:

- Đừng, em van anh. Chào anh. Vĩnh biệt anh.

Nàng giãy đành đạch rồi nằm im, một giòng máu ri rỉ trên mép. Nàng đã cắn lưỡi quyên sinh.

Văn Bình đập mạnh vào chấn song:

- Ngọc, Ngọc! Trời ơi, vĩnh biệt em.

Một cái phát thật mạnh vào má làm chàng tỉnh dậy. Chàng ngơ ngác nhìn tứ phía.

Quỳnh Ngọc đứng bên giường, vẻ mặt bí mật. Giấc mộng hãi hùng làm chàng toát bồ hôi. Chàng định nói:

- Em không hề gì, may quá. Anh vừa mơ thấy em bị bắt.

Song chàng im ngay. Nàng đưa ngón tay lên môi. Nàng mở cửa buồng tắm. Hiểu ý, chàng vào theo. Nàng mở hết các vòi nước. Nước tuôn ra ồ ồ. Nàng ôm ghì lấy chàng:

- Trời ơi, nhớ anh quá.

Văn Bình vuốt tóc nàng:

- Anh vừa mơ thấy em bị bắt.

- Em nghe anh gọi tên em. Em phải đánh thức anh dậy. Phòng ngoài có mấy cái loa ghi âm, anh biết chưa?

- Biết rồi. Trong buồng tắm, mình cho nước chảy, có tài thánh cũng không thu thanh nổi. Em ở phòng nào?

- 17. Ở đầu hành lang, cạnh phòng Phạm Bài. Hắn đang ngủ như chết.

- Em tốt với hắn quá.

- Bậy nào. Cũng như anh, hắn ngáy o o vì bị đánh thuốc mê. Toàn thể phái đoàn đều bị đánh thuốc mê. Mấy cô chiêu đãi vào các phòng, lục lọi từng li từng tí.

- Chắc họ đã vào phòng anh?

- Cố nhiên. Hai sợi tóc nhỏ xíu anh dán vào khóa va-li đã rơi xuống đất. Họ lục giỏi lắm, quần áo còn y nguyên, không bị lộn xộn.

Văn Bình hứ một tiếng.

Quỳnh Ngọc nói tiếp:

- May cho em, em bị mệt nên không uống cà-phê. Vả lại, nếu khỏe, em cũng từ chối. Đàn bà chúng em có cái mũi bén nhậy lắm. Em ngửi thấy mùi là lạ. Em muốn báo cho anh biết, nhưng không có cơ hội. Em về phòng, giả vờ chui vào mền ngủ. Họ cũng vào phòng em. Cả thảy hai người. Chỉ huy là cô gái lông mày nhổ gần hết xách va-li cho anh hồi nãy.

- Tên cô ta là Lệ Mai.

- Hừ, anh có cái tài là tên cô gái nào cũng biết. Nếu em không lầm, anh đã tán tỉnh rồi. Anh coi chừng đấy. Lệ Mai không phải là bồi phòng tầm thường đâu. Em nghe cô bé cùng đi với nàng vào phòng em kính cẩn gọi nàng là "thưa đồng chí đại uý".

- Đại úy.

- Phải, đại úy mật vụ.

- Tại sao em sang phòng anh lúc này? Nhỡ họ biết thì nguy.

- Anh đừng ngại. Họ đinh ninh anh và em còn ngủ lâu mới dậy. Em nghe Lệ Mai nói với cô bé là đến 10 giờ hãy bưng điểm tâm lên.

Chàng nhìn đồng hồ tay. 9g30.

- Theo em, họ có nghi mình không?

Nàng đáp:

- Em thì không. Nhưng còn anh, em chưa rõ.

- Em nghĩ thế nào về Vũ Kính?

- Dường như y phăng ra anh. Trên xe, y nói nhiều câu úp mở, làm em lo quá.

Văn Bình cười:

- Anh chỉ lo cho em thôi. Em còn trẻ quá. Còn anh, anh quen với cái chết từ lâu rồi.

- Anh đừng khinh em. Em không sợ chết đâu.

Nàng ngừng bặt.

Có tiếng chân người ngoài hành lang. Đó là tiếng giầy đế kếp, tuy dẫm lên thảm cói rất nhẹ. Văn Bình cũng đoán ra đàn ông. Quỳnh Ngọc vừa tắt vòi nước, sửa soạn bước ra.

Chàng giữ tay nàng lại. Người lạ đến trước cửa phòng 25 dừng lại. Rồi bước lui.

Hai phút sau, y quay lại. Văn Bình trèo lên giường, kéo chăn trùm kín mít. Quỳnh Ngọc khép cửa buồng tắm, và kéo cái riềm màu hồ thủy.

Nằm trong mền, Văn Bình nghe rõ tiếng hơi thở dồn dập của người lạ.

Cánh cửa nhè nhẹ mở ra. Văn Bình đã rút chia khóa, để trên bàn đêm. Quỳnh Ngọc mở được cửa nhờ nàng theo học lớp huấn luyện kỹ thuật của sở gián điệp. Còn người lạ? Y phải là gián điệp, nếu không là nhân viên của lữ quán.

Qua lỗ mền, Văn Bình thấy rõ nét mặt người lạ. Chàng hơi giựt mình. Y là gã đàn ông lì lợm, lạnh lùng, ngồi đọc sách dưới nhà khi xe ca chở phái đoàn tới.

Y đóng cửa lại. Chàng nhận thấy y đeo găng tay, một điều khác thường. Trời không lạnh lắm để đeo bao tay bằng da. Trừ phi y không muốn để dấu tay lại trong phòng.

Y ngó chàng trong một phút. Dường như chưa biết chắc chàng ngủ hay thức, y tiến lại, mở chăn ra. Văn Bình ngáy đều đều. Người lạ nhoẻn nụ cười bù.

Nụ cười tắt ngúm khi y nhìn thấy bộ âu phục sang trọng của chàng vắt trên ghế. Y cầm áo vét-tông lên xem, rồi bật ra một tiếng nhỏ:

- Lạ nhỉ?

Mặt biến sắc, y mở va-li của chàng. Lục lọi một lát, không thấy vật định kiếm, y cúi xuống gậm giường, mở hộc tủ xem xét. Y lại thốt lên:

- Quái, hắn cất bộ ấy ở đâu?

"Bộ ấy"? Văn Bình biết y đến tìm một bộ quần áo, chắc là bộ âu phục cũ kỹ Tăng Minh mặc trong người.

Người lạ mân mê chùm chia khóa dẹt kỳ quặc của Tăng Minh trong tay rồi từ từ bỏ vào túi quần Văn Bình. Đoạn, y bước về phía buồng tắm.

Văn Bình có cảm giác đau nhói ở tim. Chàng không coi người lạ ra gì, chỉ một phát atêmi đủ quật y ngã gục xuống sàn gác. Song chàng không muốn bị lộ trước khi bắt tay vào việc.

Trong buồng tắm, Quỳnh Ngọc khựng người. Nếu kẻ lạ khám phá ra nàng, nàng phải đánh bài liều. Võ thuật của nàng có thể hạ, ba, bốn người đàn ông một lúc trong nháy mắt. Giả sử y giỏi hơn, nàng còn có Văn Bình giúp sức. Và nàng tin tưởng kẻ lạ không phải là đối thủ của Văn Bình, một tay chọc trời khuấy nước lừng lẫy.

Nàng nín thở, ngồi thụp xuống bồn tắm ướt át. Người lạ còn cách nàng nửa thước. Y chưa thấy nàng vì còn tấm màn hồ thủy. Y đặt tay vào giây thép, sửa soạn kéo ra. Quỳnh Ngọc vận sức vào mười ngón tay, móng dài, sắc. Nàng có thể đâm y mù mắt, và chẳng may y chạm vào người nàng…

Bỗng người lạ lẩm bẩm:

- Hay là….

Tiến đàn bà kêu nheo nhéo ở cầu thang vọng lên. Giựt mình, y rảo ra phòng ngoài. Văn Bình vẫn ngủ. Người lạ nhún vai mở cửa.

Hú vía.

Cửa vừa khóa, Văn Bình tung mền ngồi dậy. Quỳnh Ngọc mỉm cười với chàng:

- Em phải về phòng đây.

Văn Bình thò đầu ra ngoài. Một cô gái mặc đồng phục xanh, xô cửa phòng 17, phòng của Quỳnh Ngọc, và mất hút. Quỳnh Ngọc nhanh nhẹn dẫm lên thảm cói. Giờ ăn sáng đã tới. Đồng hồ chỉ đúng mười giờ kém năm.

Văn Bình ấn nút, mở tủ lạnh gắn trong tường. Chàng vớ lấy huýt-ky tu một hơi ồng ộc như uống nước lạnh.

Tiếng gõ cửa vang lên. Chàng cất tiếng:

- Ai đó, cứ vào.

Một giọng đàn bà dịu dàng đáp lại:

- Em, Lệ Mai đây.

Lệ Mai bưng một cái khay Nhựt bằng ni-lông, đựng thức ăn sang trọng làm chàng chóa mắt. Đủ hết, không thiếu thứ gì. Nàng đặt xuống bàn, ngoan ngoãn chờ lệnh. Chàng mãi ngắm chai sâm-banh đặc biệt dầm trong xô nước đá vụn, và đĩa xăng-uých caviar nên quên bẵng người đẹp.

Nàng ỏn ẻn:

- Xin mời đồng chí.

Sau bộ áo xanh, nàng khêu gợi lạ lùng. Dường như để chàng mê mệt thêm, nàng đã dùng sáp môi có mùi rượu do Mỹ chế tạo. Gò má được thoa phấn hồng nhiều hơn hồi sáng, nét chì xanh trên lông mày cũng đậm hơn, đĩ hơn.

Văn Bình bước lại. Lệ Mai cúi xuống khui rượu, cổ áo trễ ra, và không hiểu vô tình hay cố ý, nàng không gài nút ngực, nàng lại quên mặc đồ lót, làm chàng thấy hết. Tuy nhiên, vẫn chưa thõa mãn, chàng banh cổ áo thêm rộng, đẩy nàng xuống giường, và cho một tay vào trong nắn lấy trái lê căng nhực và mát rợi. Nàng ngồi yên, không kháng cự, hai mắt nhắm nghiền.

Chàng hôn vào cổ nàng, giọng êm ái:

- Em có bộ ngực đẹp quá.

Nàng vẫn nín thinh. Bất ngờ chàng hô to:

- Nghiêm.

Lệ Mai vụt tung ra, đứng dậy, thẳng tắp. Chợt biết bị lỡm, nàng thẹn chín người, nhìn chàng trân trố, giống như cô gái nhà lành lần đầu cởi trần truồng trước một đám sinh viên mỹ thuật. Hô "nghiêm" là một trong các mánh khóe thường dùng trong thế chiến thứ hai để khám phá quân nhân của địch cải trang làm thường dân.

Chàng cười nghịch ngợm:

- Ồ, em là quân nhân mà anh không biết.

Lệ Mai chỉ biến sắc qua rồi trấn tĩnh được ngay. Nàng nói:

- Anh đáo để ghê. Ở đây, phụ nữ được quân sự hóa nên em có thói quen đứng dậy khi ai hô nghiêm.

Quyết vào hang hùm bắt cọp con, chàng không e dè nữa. Chàng rót sâm-banh vào ly pha lê, bưng tận miệng Lệ Mai:

- Em uống chung cho vui.

Nàng lắc đầu:

- Sâm-banh dành riêng cho khách, bọn em không được uống.

Chàng cười nửa miệng:

- Đừng sợ, anh không lén bỏ thuốc mê vào đâu.

Mặt nàng lại tái xanh. Sự kiện này chứng tỏ nàng không phải là gián điệp chuyên nghiệp. Như cái máy, nàng mặc cho chàng xô xuống giường, và cởi áo. Văn Bình biết nàng quá sợ, chứ không đóng kịch mơn trớn như trước nữa. Tấm thân đều đặn và chắc nịch của nàng phô bày lồ lộ dưới ánh sáng vàng chói bên ngoài lọt vào. Nàng không đẹp lắm, song cũng đủ sức làm vừa ý những người đàn ông khó tính.

Chàng liên tưởng tới Quỳnh Ngọc. Nàng tốt nghiệp lớp mỹ nhân kế của ban Biệt Vụ, trong đời chắc phải có lần nàng thản nhiên cho người đàn ông lạ cởi bỏ quần áo. Chắc Lệ Mai đã học khóa ân ái của sở tình báo Hànội, nàng đã biết cách thoát y khêu gợi, làm thế nào chỉ vuốt ve vài ba cái mà đàn ông phát động dục tình, làm thế nào đánh lừa đàn ông trong khi ân ái, làm thế nào không bị có mang.

Trước chàng, có lẽ nhân viên của ông Hoàng đã sa vào cạm bẫy Lệ Mai. Và nàng đang diễn lại tấn trò yêu đương chết người ấy. Văn Bình đặt tay vă lưng quần nàng, đột nhiên nàng nhỏm dậy, van vỉ;

- Anh chưa ăn sáng.

Văn Bình lắc đầu:

- Anh no rồi.

- Song anh còn mệt.

- Em không chịu thì thôi, đừng viện cớ nữa.

Nàng thở dài, ai oán:

- Vâng, em xin chìu anh. Nhưng xin anh cho em 5 phút.

- Làm gì?

- Em về phòng sửa soạn lại cho đẹp.

Chàng không đáp, nhìn nàng mặc áo, xỏ đôi chân thon nhỏ vào dép cao-su Thái Lan màu vàng. Nàng hôn vào trán chàng, thỏ thẻ:

- Anh chờ em đúng 5 phút.

Chàng rộ lên cười, cái cười mai mỉa và kinh dị. Cô gái giật nẩy mình trước tiếng cười lạ thường.

Văn Bình nắm lấy tay cô gái, xoay nửa vòng. Nàng kêu ái, tỏ vẻ đau đớn. Chàng tát vào má nàng một cái đau điếng. Nàng loạng choạng suýt ngã vào chai rượu sâm-banh.

Chàng quát lên:

- Đồ nói dối.

Ôm má, nàng sụt sùi:

- Tại sao đồng chí đánh em?

- Cô là con nói dối.

- Thưa anh, thật đấy, em về phòng để thay đổi đồ lót cho sạch sẽ.

Chàng tát thêm cái nữa - lần này nhẹ hơn, cốt cho nàng sợ - dằn giọng:

- Hừ, cô không lừa nổi Tăng Minh này đâu. Giả vờ thay đồ lót để báo cho mấy đứa khác đặt máy chụp hình hả? Trong khi cô nằm tênh hênh, giở trò ân ái với tôi thì bên ngoài người ta thu hình vào phim nhựa. Cô là đại úy mật vụ, đừng chối nữa.

Mặt Lệ Mai tái mét, không còn giọt máu. Chàng nói tiếp, giọng đay nghiến:

- Cô bỏ thuốc mê vào cà-phê rồi lẻn vào phòng tôi lục soát hành lý. Tại sao cô làm thế? Không tin tôi phải không? Tôi sẽ mang chuyện này nói với báo chí Vọng-các.

Nàng nức nở:

- Em xin lỗi anh. Dầu sao anh cũng là đồng chí trong… Đảng. Em chỉ tuân lệnh của thượng cấp.

- Ai cho gắn loa thu thanh trong phòng này?

- Ở đây, phòng nào cũng có loa. Sở Công An gắn sẵn từ trước.

- Có ai ngồi nghe băng nhựa trong lúc này không?

- Không. Mỗi tối, em sẽ gỡ ra, mang về Sở.

- Mấy giờ em về?

- Thưa, tối nay, chừng 10 giờ.

- Cuộn băng ghi trong phòng này, em phải hủy đi.

- Thưa….

- Tôi cho cô biết, nếu cô không nghe lời tôi sẽ báo cáo với bộ Nội Vụ là cô lẻn vào phòng tôi lục soát. Nếu tôi không lầm, việc lục soát phải được giữ kín và bộ Nội Vụ sẽ thanh minh là không ra lệnh. Cô sẽ bị hy sinh. Mất việc. Trục xuất. Thà người ta hy sinh cá nhân Lệ Mai còn hơn làm mất lòng hàng vạn Việt kiều ở Thái.

- Vâng. Em xin nghe theo lệnh anh.

- Được. Bây giờ cô hãy nghe tôi. Tôi không cưỡng ép cô, nếu cô bằng lòng, cứ đến với tôi, và xin nhớ, không được dặn người núp ở ngoài chụp hình lén.

- Em không dám nữa.

- Tại sao hành lý của phái đoàn bị lục soát?

- Thưa, đó là thủ tục thông thường ở đây. Hành lý của các quan khách đều bị khám xét, không chừa một ai.

- Vũ Kính là cấp trên của em phải không?

- Không. Kính là thiếu tá công an. Em là nhân viên của Cục Tình Báo. Các chiêu đãi viên đều thuộc quyền em.

- Còn đồng chí gác cửa dưới nhà?

- À, đó là Sáu Ngọt, phụ trách an ninh của trạm.

- Trạm gì?

- Nhà này gọi là Trạm 4. Trạm chiêu đãi số 4.

Thấy mắt nàng rơm rớm lệ, chàng động lòng ôm hôn. Nàng rút đầu vào vai chàng:

- Một lần nữa, xin anh tha cho em. Thật ra, mới gặp anh, em đã có thiện cảm đặc biệt. Thú thật, từ ngày ở Mạc-tư-khoa về, em chưa gặp người đàn ông nào đẹp trai bằng anh. Đêm nay, em sẽ đến với anh. Anh cứ khóa cửa, em có chìa khóa riêng.

- Mỗi phòng có mấy chìa khóa?

- Chỉ có hai mà thôi, một cái do khách giữ, cái thứ hai trong văn phòng của em.

- Em là chỉ huy, tại sao lại phụ trách riêng anh?

- Thật ra, em không phải chiêu đãi. Nhiệm vụ của em là điều khiển chị em chiêu đãi trong trạm. Không hiểu sao gặp anh, em thấy lạ thế nào ấy…. Cho nên, em đã xung phong xách va-li cho anh. Anh còn nhớ chứ?

- Nhớ.

Lệ Mai định ra cửa, song vội quay lại:

- À, còn cái này nữa. Để em tắt máy ghi âm giùm anh.

Nàng nhấc cây đèn đêm lên, bấm vào cái nút nhỏ xíu dưới đế. Nàng nói tiếp:

- Nút này ăn thông với máy. Băng nhựa sẽ ngưng chạy. Căn nhà này được kiến trúc theo họa đồ riêng của KGB Sô Viết. Cách đây nửa năm, hai ký giả Pháp ngụ ở đây, tưởng vào buồng tắm, vặn nước chảy ào ào là tha hồ trò chuyện, ngờ đâu loại máy ghi âm này được chế tạo riêng, có thể phân biệt được tiếng người nói và tiếng nước chảy.

- Nghĩa là các cuộc nói chuyện mật của họ đều bị thu băng hết?

- Vâng. Kết quả là ngày hôm sau họ bị mời ra phi trường.

Văn Bình giựt mình đánh thót. Chàng hôn nàng lần nữa rồi hỏi:

- Máy ghi âm đặt ở đâu?

- Trong văn phòng em, ở tầng lầu trên.

- Anh lên được không?

Nàng cau mày nghĩ ngợi. Một phút sau, nàng đáp:

- Kể ra người lạ không được lên. Em còn bận tới thăm các phòng khác. Đây, chìa khóa phòng em. Anh nhớ nhé, lầu ba, phòng ở đầu, bên trái, ngoài cửa có dán một miếng giấy đỏ, trên đề một chữ O bằng mực xanh. Các nữ chiêu đãi còn bận tíu tít dưới bếp, không có ai trên đó dâu. Cái máy ghi âm kê ở góc, những cuộn băng đều mang số, từ 1 đến 30, phòng anh 25, tức là cuộn băng 25. Anh tháo ra, xóa hết đi. Bây giờ là 10g15. Đúng 10g25 anh phải xuống. Vì 10g30, thiếu tá Vũ Kính tới.

Nàng mở cửa phòng, cùng đi với Văn Bình đến cầu thang. Nàng chờ chàng lên khuất mới quay lại.

Chàng mừng như bắt được của. Nếu không gặp may, chàng và Quỳnh Ngọc đã bại lộ thảm thương. Chàng dè đâu vòi nước chảy không át được máy ghi âm tối tân của KGB.

Lầu ba được trần thiết một cách giản dị và lạnh lùng. Chàng tìm ra phòng O được ngay.

Căn phòng rất rộng được chia ra làm hai phần. Phần đầu ở ngoài là văn phòng, phía sau là buồng ngủ. Văn phòng chật ních bàn ghế và máy móc. Tủ đựng máy ghi âm đứng sừng sững ở góc. Chàng quan sát một lúc: trên tấm thép hình vuông, 30 cuộn băng ghi âm được đặt ngay ngắn, toàn thể đang quay, trừ số 25, số phòng chàng. Cuộn băng nhỏ như sợi tóc màu hung hung, có thể ghi âm một ngày một đêm mới hết.

Chàng nhấc cuộn băng ra, lắp vào máy bên cạnh. Cái máy ghi âm đồ sộ này do Nga Sô chế tạo, song chàng đã biết cách xử dụng nên không vấp váp.

Tiếng người nói phát ra. Đó là cuộc trò chuyện giữa chàng và Lệ Mai khi chàng mới vào phòng, hồi rạng đông. Chàng vặn cuộn băng chạy thật nhanh, cho ngừng, rồi quay từ từ. Chàng nghe tiếng nước chảy nho nhỏ, trước khi nghe tiếng người, tiếng nói của chính chàng. Chàng vội vặn thật nhỏ, chỉ mình chàng nghe được.

Băng nhựa thu lại không sót chi tiết nào. Chàng vội quay lộn lại, rồi bấm nút cho xóa hết. Xóa xong, chàng nghe lần nữa, cuộn băng chỉ còn phát ra âm thanh rè rè mà thôi.

Chàng trả cuộn băng vào số 25. Đồng hồ tay đã chỉ 10g24. Chàng lục ngăn kéo bàn làm việc của Lệ Mai, nhưng không tìm thấy tài liệu nào quan trọng.

Tặc lưỡi, chàng ra ngoài, thản nhiên xuống lầu. Chàng gặp Quỳnh Ngọc ở đầu hành lang, sánh đôi với Phạm Bài. Y nói với chàng:

- Đồng chí đi đâu, tìm không thấy. Bây giờ chúng ta qua phòng họp.

Phòng họp là hai căn phòng khít vách, tường ngăn đôi được phá bỏ. Thiếu tá Vũ Kính đợi phái đoàn quanh một cái bàn bán nguyệt đánh vẹt-ni bóng loáng.

Vũ Kính nhìn đảo một vòng rồi nói, giọng trịnh trọng:

- Từ giờ đến chiều, các đồng chí sẽ nghỉ lại đây cho khỏe. 5 giờ chiều, sẽ có cuộc tiếp xúc tại bộ Ngoại Giao với đồng chí bộ trưởng. Đêm nay, ca vũ nhạc tại rạp Hồng Hà. Sáng mai, tới thăm các kiều bào hồi cư hiện đang tham gia xây dựng thủ đô. Chiều mai, tiếp tân. Tối mai, chớp bóng thành tích của nước nhà tại rạp Hòa Bình.

Về ăn ở, có đồng chí nào thắc mắc không? Chúng tôi sẽ hết sức phục vụ, xin các đồng chí đừng e ngại.

Vũ Kính đứng dậy.

Mắt lươn ti hí của y chiếu vào mặt Văn Bình. Dáng điệu thản nhiên, chàng nhìn lại. Chàng biết giờ đụng độ sắp tới.

Bỗng y bước lại phía chàng. Chàng thọc tay vào túi, miệng phì phèo thuốc lá. Y nói, giọng khô khan:

- Tôi có chuyện cần nói với đồng chí.

Văn Bình nói:

- Tôi xin nghe.

Y lắc đầu:

- Về phòng tiện hơn.

Quỳnh Ngọc biến sắc khi thấy chàng ra ngoài với Vũ Kính. Dọc đường, hai người đều lầm lì. Văn Bình hít một hơi dài, cho không khí tràn đầy lồng ngực. Chàng cảm thấy sức lực toàn vẹn, đủ chống trả những đòn mãnh liệt của địch.

Y nhường cho chàng vào phòng trước. Y khoan thai quay lưng về phía chàng đóng cửa. Chàng ngắm cái gáy sâu trũng của đối phương. Một phát atêmi bất thần có thể giết y trong chớp mắt, không gây tiếng động.

Túi quần bên trái của y hơi cồm cộm, dĩ nhiên y có súng và đạn được lên nòng sẵn. Chàng không lo ngại vì tay không chàng dư sức đoạt súng của đối phương. Nếu Vũ Kính có cử chỉ khả nghi, chàng sẽ hạ thủ, rồi đưa Quỳnh Ngọc đi trốn.

Thái độ rềnh rang, Vũ Kính mở tủ lạnh lấy rượu. Y rót huýt-ky ra hai cốc, mời chàng uống. Chàng nhìn kỹ, không thấy y bỏ thuốc độc, bèn cầm lên.

Vũ Kính cho tay vào túi.

Tròng mắt tóe lửa, Văn Bình khựng người. Bàn tay của đối thủ vừa rút ra, chàng nghiêng mình sang bên, sửa soạn phản công.

Bỗng tiếng đập cửa nổi lên. Giọng nói oang oang của Sáu Ngọt, gã lì lợm đã vào lục soát trong phòng Văn Bình:

- Thiếu tá Vũ Kính. Có điện thoại gấp của Sở.

Vũ Kính rút ra bàn tay không. Có lẽ vì quá tự đắc, y không để ý tới sự thủ thế của Văn Bình.

Y nhìn thẳng vào mắt chàng, nói rõ từng tiếng:

- Chào anh. Lát nữa tôi lại.

Hú hồn, chàng nhếch mép chào y. Cửa mở, chàng thoáng thấy Quỳnh Ngọc đi vụt qua. Nàng đã bố trí sẵn để tiếp cứu chàng.

Trở vào phòng, nhìn khay điểm tâm còn nguyên, chàng đói cồn cào. Chàng uống hết một góc chai huýt-ky và nhai ngấu nghiến đĩa săng-uých đầy ắp.

Để luôn quần áo, chàng trèo lên giường. Chàng cần ngủ một giấc để lấy sức đối phó với Thần Chết.

***

Sau nhà pha Hỏa Lò, đường Hàng Bông Thợ Ruộm, đứng sừng sững một biệt thự lầu ba tầng quét vôi trắng xóa.

Đứng ngoài trông vào, người ta không thấy gì hết. Tường cao gần ba thước, bên trên còn có một hàng rào kẽm gai truyền điện 220 vôn suốt ngày đêm. Cổng ra vào bằng sắt, bịt kín bằng những tấm tôn dày sơn trắng. Mọi cánh cửa trên lầu đều đóng chặt. Thoạt nhìn, ai cũng tưởng chủ nhân đi vắng.

Thật ra, đó là một trong những cơ sở hoạt động mạnh nhứt Hànội, trong văn phòng gắn máy điều hòa khí hậu tối tân từ Nga Sô chở tới, lúc nào cũng có người.

Đó là tổng hành doanh Việt Nam của Smerch, cơ quan ám sát kinh khủng của điệp báo Sô Viết.

Lúc Văn Bình trèo lên giường ở Trạm chiêu đã số 4 đường Hàng Mành, đại tá Kamốp, trưởng đoàn Smerch vừa từ Mạc-tư-khoa đến mấy ngày trước, vặn đèn văn phòng lên, trầm ngâm ngồi trước đống hồ sơ cao ngất.

Kamốp trạc 45, người cao và gầy, mặt choắt lại, hàm răng bám đầy chất nicôtin vàng ệch, bàn tay sần sùi của kẻ quen dùng khí giới giết người. Mỗi khi Kamốp ngước mắt, người ta phải rùng mình vì lưồng nhỡn tuyến lạnh như nước đá, sắc như dao cạo.

Kamốp cúi gằm xuống một tập hồ sơ dày cộm, mang ngoài bìa nhiều giòng chữ Nga bí mật và chữ "Bôrin". Trán y nhăn lại, tỏ ra y suy nghĩ nhiều lắm. Kamốp bận suy nghĩ đến nỗi cái tẩu thuốc lá đã tắt ngúm, và tàn thuốc bắn tung tóe vào bộ quân phục vàng mà y không biết.

Vâng lệnh chỉ huy trưởng Smerch, tướng G., đại tá Kamốp đáp phi cơ riêng từ Mạc-tư-khoa tới Hànội, cùng thiếu tá Anáttát Bôrin và một phái đoàn chuyên viên Smerch. Ngay sau khi tới Hànội, Bôrin đã được mổ óc, kết quả mỹ mãn.

Bôrin được ngỉ dưỡng sức một tuần lễ, sau đó đã khai với các chuyên viên những điều mắt thấy, tai nghe, trong thời gian bị thẩm vấn và giam giữ trên đất Mỹ. Tất cả người lời khai của Bôrin, nội dụng của cuộn băng nhựa giấu trong óc y, và bản đúc kết của các chuyên viên đã hợp thành đống hồ sơ vĩ đại trên bàn giấy của Kamốp.

Tiếng chim hót lanh lảnh trong phòng.

Kamốp cầm lấy điện thoại.

Y ghét tiếng reng reng điếc tai của chuông điện thoại thông thường nên đã thay bằng tiếng chim hót. Tiếng hót êm tai đã được một hãng đồng hồ Đông Đức cử người vào rừng rậm Phi châu thu thanh các giống chim muôn và chọn khúc hay nhứt, chế thành chuông điện thoại cho Kamốp. Đi tới đâu, Kamốp mang cuộn băng ghi tiếng chim hót đi theo.

Y nói nhỏ nhẹ, như sợ người ngoài nghe được:

- Mời đồng chí ấy lên.

Năm phút sau, cửa phòng mở ra. Cánh cửa bằng thép mở ra êm ái như là cửa gỗ. Kamốp đứng dậy, chia tay ra:

- Chào đại tướng.

Người được Kamốp gọi là đại tướng trạc năm mươi, lùn, mập, mặt tròn xoe, mặc thường phục theo kiểu Trung cộng, áo bốn túi, gài kín cổ màu vàng, miệng phì phèo thuốc lá Mỹ. Đó là Võ Nguyên Giáp, đại tướng tổng tư lệnh kiêm tổng trưởng Quốc Phòng.

Bận thường phục, Giáp không khác cái hồi làm giáo sư Sử Địa ở Hànội hơn hai chục năm trước là mấy, vẫn nét mặt lì lợm, phẳng lì, chỉ khác là thân hình béo lẳn, chứng tỏ một cuộc sống sung túc. Bụng Giáp vượt ra đằng trước, không còn nhỏ như ngày ở chiến khu năm 1945.

Giáp ngồi xuống ghế, châm điếu thuốc lá mới:

- Lâu lắm mới gặp lại đại tá. Sợ đại tá chờ, tôi phải đến ngay. Tôi phải đi xe riêng, và mặc thường phục, như đại tá dặn.

Kamốp gật gù:

- Cám ơn đại tướng. Tôi mời đại tướng tới để bàn vụ Bôrin. Các chuyên viên Smerch đã nghiên cứu xong những cuộn băng ghi âm đặt giấu trong óc Bôrin. Đến phút này, tôi có thể đoán chắc một điều quan trọng, đó là sự phạm tội của Phan Mỹ.

Giáp giựt mình như châm giây điện:

- Có bằng chứng cụ thể nào không?

Giọng Kamốp đều đều:

- Nếu có bằng chứng cụ thể thì tôi đã bắt Phan Mỹ, không cần phải triệu đại tướng tới đây. Kế hoạch của tôi là cho người bám sát Phan Mỹ từng bước, kể từ hôm nay.

- Có thể là địch dùng mưu ly gián không?

Kamốp nghiêm sắc mặt:

- Đại tướng không hiểu được kỹ thuật điệp báo bằng tôi. Smerch bố trí đưa Bôrin sang Mỹ, địch chẳng biết gì hết. Smerch có những chuyên viên nổi tiếng khắp thế giới, chúng tôi không thể và không bao giờ lầm được.

Giáp dấu dịu:

- Tôi chỉ hỏi đồng chí thế thôi, chứ trong thâm tâm không dám coi nhẹ Smerch.

Kamốp cười ha hả:

- Đại tướng coi nhẹ sao được, vì Smerch là thầy học của đại tướng, là cha đẻ của đại tướng. Nếu không có Smerch, đại tướng vẫn chỉ là đảng viên thường, khó trèo lên tới Trung Ương, chứ đừng nói là tổng tư lệnh kiêm bộ trưởng Quốc Phòng nữa.

Giáp nuốt nước bọt, ngồi im như phỗng đá. Kamốp nói tiếp, dáng điệu kẻ cả:

- Tôi đã biết vì sao đại tướng lo ngại. Vì Phan Mỹ là tay chân thân tín của đại sứ Trung quốc. Song đại tướng thừa rõ chúng tôi không chịu lép vế ai hết, và quyết ở lại đây. Tôi càng có thêm lý do để ngờ vực Phan Mỹ vì các tài liệu bị mất cắp đều liên quan tới hoạt động ngoại giao của Liên Bang Sô Viết nhằm thương thuyết với Hoa Kỳ. Tòa đại sứ Trung quốc và phe Phan Mỹ đang tìm cách hất cẳng chúng tôi ra khỏi Bắc Việt. Tôi vời đại tướng đến đây để hỏi dứt khoát: đại tướng dứng về phe nào?

Giáp đưa một tay lên trời:

- Cố nhiên, là đứng về phe các đồng chí.

Kamốp đóng tập hồ sơ trước mặt:

- Nếu thế thì cuộc nói chuyện có thể kết thúc được rồi. Cám ơn đại tướng. Tôi chỉ cho người theo dõi, nhưng chưa bắt. Khi nào nắm được đầu mối cụ thể, tôi sẽ báo tin cho đại tướng.

Kamốp nhìn Võ Nguyên Giáp bước ra ngoài thang máy, không chìa tay ra bắt.

Đoạn nhấc điện thoại, quay số tòa đại sứ Sô Viết.

***

Về đến phòng, Văn Bình mệt nhoài, song không dám đi ngủ. Sự việc xảy ra từ tối đến giờ đã làm mắt chàng mở rộng, không sao nhắm lại được nữa.

Đã nửa đêm.

Nửa đêm đối với các thị trấn quốc tế là giờ thần tiên, xe cộ nối đuôi nhau trên những đại lộ sáng trưng như ban ngày, những người đẹp bằt đầu xuất hiện trên sàn nhẩy, trong phòng riêng khách sạn. Nhưng nửa đêm ở Hànội lại im lặng vắng vẻ khác thường. Văn Bình tưởng như dân chúng đã rút hết về quê, đường xá quạnh hiu, đèn phố lập lòe, tiếng người rao phở cũng không có nữa. Hồi chiều, một cái xe ca lớn chở phái đoàn Việt kiều tới bộ Ngoại Giao. Cuộc tiếp tân không có gì là đặc sắc. Phái đoàn đưởc nghỉ xả hơi một lát trước giờ đi dự ca vũ kịch nên chàng lợi dụng ra ngoài đường.

Theo lệnh ông Hoàng, chàng sẽ tiếp xúc với một nhân viên của Z.62 tại bờ hồ Hoàn Kiếm. Chàng không quen Z.62, chàng cũng không biết nhân viên của Z.62 là ai.

Bách bộ khỏi Hàng Mành, đến khi vào phố Hàng Bông, chàng giựt mình đánh thót.

Chàng nhớ rõ mồn một lời tuyên bố của Phạm Bài và thiếu tá Vũ Kính. Trong thời gian ở Hànội, nhân viên phái đoàn phải sinh hoạt tập thể, nghĩa là ăn chung, đi chung. Tại sao Sáu Ngọt, phụ trách an ninh của Trạm, không ngăn lại khi chàng xuống cầu thang? Phải rồi. Họ đã giăng bẫy bắt chàng. Họ chờ chàng tiếp xúc với tổ chức của ông Hoàng rồi mới ập tới.

Đi được một quãng, chàng dừng lại dưới một cây lớn. Chưa đến giờ gặp. Đèn quanh hồ lù mù, khiến chàng kiểm soát phía sau được dễ dàng. Quả chàng đoán đúng, một gã đàn ông nhỏ thó hút thuốc lá phì phèo đang lẽo đẽo theo chàng.

Chàng quẹo ra đường Hàng Khay, y cũng rượt theo. Chàng nhảy lên tàu điện, chỉ một phút sau, chàng thấy y co chân vọt vào toa. Chàng gọi xe kéo lên chợ Đồng Xuân. Tới phố Hàng Chiếu, chàng bước xuống, lững thững quay xuống Hàng Đường. Qua cửa kiếng, chàng nhận rõ gương mặt của kẻ đi theo.

Y trạc 25, ăn mặc tần thường, răng khấp khểnh, mũi cà chua, cổ nhẳng, tay chân khẳng khiu.

Chàng có thể cho y ăn bụi, hoặc tặng y một bài học nhu đạo, song sợ lộ chuyện. Sau một phút suy nghĩ, chàng lẳng lặng về Hàng Mành. Sáu Ngọt ngồi đọc sách dưới nhà, không thèm ngẩng lên, và không thèm hỏi chàng một tiếng.

15 phút sau, phái đoàn lên xe ca đi xem ca vũ nhạc kịch.

Trong hơn ba tiếng đồng hồ, bó gối trong rạp hát đông nghẹt, Văn Bình nhìn lên sân khấu, song không thấy gì hết. Chàng bận nghĩ tới kế hoạch phải thực hiện đêm nay để thoát khỏi nanh vuốt mật vụ. Cuộc tiếp xúc có thể hoãn lại 24 giờ, đêm mai, chàng sẽ gặp lại nhân viên của Z.62. Đêm nay, chàng phải rời lữ điếm. Chàng băn khoăn không biết nên mang Quỳnh Ngọc đi theo không.

Tiếng vỗ tay làm chàng điếc tai. Chàng cảm thấy nóng bức, muốn cởi bỏ quần áo, nhảy xuống sông dầm một lúc cho khỏe. Sự nóng bức này một phần do rạp hát đông người mà ra, nhưng phần nàno cũng vì luồng nhỡn tuyến của Vũ Kính thỉng thoảng lại hắt vào mặt chàng. Chàng không tránh tia mắt thách thức của y, đôi khi chàng trả lại, điệu bộ bướng bĩnh.

Đã nửa đêm.

Theo thói quen những ngày hoạt động trong lòng địch, chàng không thay quần áo ngủ. Chàng hút thuốc lá và uống rượu liên miên. Các phòng dọc hành lang đã tắt đèn từ lâu. Chàng cũng tắt đèn, ngồi thu hình trong bóng tối, tin tưởng một việc bất thường phải xảy ra trong đêm nay.

Một giờ sáng.

Chàng nghe tiếng chân người sau cánh cửa. Điếu Salem cuối cùng đã tắt ngúm.

Nhếch nụ cười bí mật, chàng chui vào chăn.

Cửa mở ra nhè nhẹ.

Kẻ lạ mặt bước vào, trên tay lăm lăm một lưỡi dao sáng loáng.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:35 pm

VII. Xác chết trong bồn tắm

Ánh dao lập lòe trong căn phòng tối om. Nhờ nhỡn tuyến tinh tế, Văn Bình đã nhận ra người lạ. Đó là Sáu Ngọt, phụ trách an ninh của Trạm. Hồi trưa, y đã lẻn vào phòng chàng lục lọi một lần. Song lần ấy, Sáu Ngọt không mang khí giới.

Hơi thở dồn dập và mùi rượu mạnh của y quạt vào giác quan chàng. Chàng đinh ninh Sáu Ngọt tiến lại giường, chém xuống một nhát, nhưng không, y chỉ đứng nhìn chàng trong bóng tối. Nằm trong chăn, Văn Bình chuẩn bị sẵn. Nếu y cử động cánh tay cầm dao, chàng sẽ tung người lên, ném cái mền vào mặt y.

Dáng điệu khoan thai, Sáu Ngọt vặn đèn lên. Y lấy cán dao đập nhẹ vào chăn, miệng gọi:

- Tăng Minh.

Văn Bình giả vờ ú ớ, rồi cựa mình, mặt ngoảnh vào tường. Sáu Ngọt thốt ra một câu tục tĩu:

- Mẹ kiếp, ngủ đếch gì say thế.

Y kéo tấm mền, vứt sang bên, miệng hô lớn:

- Tăng Minh. Dậy đi.

Văn Bình mở choàng hai mắt, ngó quanh quất một phút rồi ngồi lên. Khi thấy Sáu Ngọt, chàng giả vờ sửng sốt. Sáu Ngọt gằn giọng:

- Dậy mau. Tôi có chuyện cần nói với anh.

Văn Bình vuôn vai:

- Mệt quá. Không đợi đến sáng mai được sao?

- Cần lắm, không đợi được.

- Ừ thì dậy. Mấy giờ rồi đồng chí?

- Hơn một giờ sáng.

- Hừ, một giờ sáng mà xô cửa vào phòng, dí dao vào người, đòi nói chuyện cần, thú thật tôi không hiểu anh tí nào hết. Nếu tôi không lầm, anh là Sáu Ngọt, phụ trách an ninh của Trạm.

- Phải, tôi là Sáu. Sở dĩ thiên hạ thêm tiếng Ngọt ở sau, vì tôi dùng dao ngọt sớt, không thấy tôi vung dao mà đối thủ đã bị thương, và tôi đã ra tay thì giỏi đến mấy cũng mất mạng.

- Tôi có làm gì đâu mà anh phải dùng dao đe dọa.

Sáu Ngọt lắc đầu lia lịa:

- Không, tôi không dọa anh. Tôi chỉ muốn nói chuyện thân mật với anh thôi.

Rồi hạ giọng:

- Bộ com-lê cũ màu xanh của anh đâu?

Chàng vụt hiểu. Song chàng giả vờ ngây ngô:

- Bộ com-lê nào?

Sáu Ngọt liếc lưỡi dao vào gan bàn tay:

- Bộ com-lê mà Saratiên dặn anh mặc lên phi cơ ấy.

Chàng buông thõng:

- Tôi bỏ quên ở Vọng-các rồi.

Sáu Ngọt trợn mắt:

- Nói láo. Anh đưa cho ai rồi, nói mau.

- Tôi là một đại trí thức. Tôi không thích ai nghi tôi nói láo. Đêm khuya rồi, mời anh ra khỏi phòng tôi.

Sáu Ngọt quắc mắt:

- Nói dễ nghe nhỉ. Tôi chỉ ra khỏi phòng sau khi anh nộp bức thư cho tôi.

- Bức thư nào?

- Đừng đóng kịch ngu si nữa. Bức thư viết bằng mực bí mật trong áo com-lê, chứ còn gì nữa.

- Thú thật với anh, tôi không biết.

- Mày phải khai thật, nếu không tao chém chết.

Thấy Sáu Ngọt dở giọng đểu cáng, chàng biết tấn trò không kéo dài lâu nữa. Chàng nhún vai, giọng lạnh lùng:

- Cấm anh không được ăn nói láo xược. Sáng mai, tôi sẽ báo cáo với đồng chí Vũ Kính.

Sáu Ngọt cười ngạo mạn:

- Hừ, Vũ Kính! Mày định báo cáo với Công An hả? Khi cần đến, tao có thể nghiến nát như tương. Vả lại, mày đã nhận tiền ở Vọng-các để mang mật thư của Saratiên ra Hànội cho sứ quán Trung Hoa. Lộ ra, mày sẽ chết trước tiên.

Văn Bình ngây người. Chàng bắt đầu hiểu rõ sự thật. Sáu Ngọt và Vũ Kính là hai người khác nhau. Sáu Ngọt là nhân viên bí mật của Trung cộng, còn Vũ Kính là thiếu tá công an.

Sáu Ngọt khoa dao trước mặt chàng, mắt lườm lườm:

- Tao không có thời giờ chờ đợi mày nữa. Đếm từ một đến mười, nếu mày không chịu thú tội, tao sẽ xin mày tí huyết.

Văn Bình ngửa mặt cười:

- Mày đếm tới ba có mau hơn không?

Tức giận, Sáu Ngọt cất tiếng chửi thề rồi vung dao quét vào tóc chàng. Bản tâm của y là hớt một mảng tóc cho chàng sợ. Nhưng chàng thản nhiên, chờ lưỡi dao gần tới mới né sang bên. Chàng phóng chân trái vào bụng đối thủ.

Khinh địch, chàng tưởng y là tay mơ nên không nặng đòn. Sáu Ngọt bắt được bàn chân chàng, bẻ ngược theo một thế nhu đạo. Chàng phải uốn mình, nhảy vọt lên để khỏi gãy xương. Thấy chàng biết võ, Sáu Ngọt cũng không dám coi thường. Y thủ dao trong tay phải, bước lên, chém mạnh vào bả vai chàng.

Chàng phải ngã người ra sau. Sáu Ngọt thu võ khí lại, lần này bổ từ trên xuống, định chặt chàng ra làm đôi. Văn Bình tránh thật nhanh, đồng thời xử dụng một thế võ tuyệt kỹ, đoạt lấy dao và quật ngã đối phương xuống sàn gác.

Sáu Ngọt lộn nhào xuống giường. Văn Bình tiến theo, bồi một trái đấm ghê hồn vào giữa mặt. Một tia máu đỏ ri rỉ trên miệng, Sáu Ngọt nằm lịm đi.

Chàng lôi y dậy, giựt tóc mai cho tỉnh, rồi hỏi:

- Ai sai mày tới?

Sáu Ngọt thở dài, thiểu não:

- Tao đã nói rồi, mày không nhớ sao? Tòa đại sứ Trung Hoa sai tao đến. Mày lường gạt tòa đại sứ, mày sẽ mất mạng.

- Yên tâm. Mày sẽ chết ngay bây giờ.

Tưởng dọa chết, y sẽ run sợ, trái lại, y nhìn chàng bằng cặp mắt kiêu ngạo:

- Có giỏi cứ giết tao đi.

Văn Bình còn trù trừ, chưa định hạ sát hay chỉ đánh ngất thì y đã bất thần vùng dậy, thu tàn lực chồm vào người chàng, mười ngón tay chĩa ra tua tủa, chọc vào mắt. Miễn cưỡng, chàng phải gạt y ngã. Sáu Ngọt gầm lên, ôm lấy vai áo chàng, khuỷu tay hoành ra, định hạ chàng bằng atêmi.

Đánh atêmi là sở trường của chàng, nên chàng nhẹ nhàng đưa một tay đỡ, còn tay kia phạt ngang cuống họng Sáu Ngọt. Nạn nhân lăn kềnh, chết không kịp trối.

Cuộc xung đột diễn ra trong vòng hai phút đồng hồ. Chàng phải giải quyết thật nhanh, sợ có người tới.

Vừa khi ấy, chàng nghe có tiếng chân người ngoài hành lang. Vội vàng, chàng ôm xác Sáu Ngọt vào buồng tắm, đặt năm dài trong bồn nước.

Cửa phòng 25 mở toang.

Người buớc vào là thiếu tá Vũ Kính, hai tay thọc túi quần, dáng điệu nghiêm trọng.

Biết không lùi được nữa, Văn Bình vén riềm buồng tắm đi ra. Chàng đã thủ thế sẵn, nếu cần sẽ giết luôn Vũ Kính.

Giọng khô khan, y hỏi chàng:

- 2 giờ sáng rồi, anh chưa ngủ ư?

Chàng nhận thấy y không gọi chàng là "đồng chí" nữa. Chàng đáp:

- Còn anh? Đã hai giờ rồi, sao anh còn thức?

Văn Bình hạ thấp giọng:

- Anh chưa biết tôi là ai phải không? Nhưng tôi biết anh. Anh đừng ngại.

- Tôi không hiểu anh nói gì hết.

Y nhìn giữa mắt chàng, nói từ từ:

- Hôm nay, trời nóng tới 32 độ.

Văn Bình giựt mình. Nhìn lại, chàng nhận ra Vũ Kính mặc sơ-mi trắng, quần trắng, bàn tay trong túi rút ra cầm một đôi guốc Huế sơn đỏ nhỏ xíu, chưa đóng quai, ở tay trái lủng lẳng cái bị màu xanh, đan sợi mắt cáo, bên trong có đôi dép xe hơi sơn đen.

Y phục trắng, guốc Huế sơn đỏ, bị màu xanh, giép lốp sơn đen là những vật giúp chàng nhận diện nhân viên của Z.62 ở Hànội, và câu "hôm nay trời nóng tới 32 độ" là mật hiệu liên lạc.

Văn Bình đáp luôn:

- Đồng chí lầm rồi, hàn thử biểu của tôi chỉ có 27 độ.

Vũ Kính nói tiếp:

- Mời đồng chí lên Cầu Gỗ ăn cốc kem cho vui.

Đó là ám ngữ thứ hai, Văn Bình cười rộ:

- Hừ, 2 giờ sáng mới ăn kem. Nhưng "ăn kem thì còn gì bằng".

Đời rõ oái oăm. Người tưởng là thù thật ra là bạn. Vũ Kính không phải là kẻ muốn giết chàng mà là chiến hữu với chàng, Văn Bình à một tiếng rồi nói:

- Không ngờ nhân viên của Z.62 lại là thiếu tá Vũ Kính của Sở Công An Hànội.

Vũ Kính cười:

- Thật ra, tôi không có nhiệm vụ tiếp xúc với anh. Vào giờ chót, Z.62 cử tôi, sau khi nhận được khẩn lệnh của ông Hoàng từ Sàigòn. Vì một éo le bất ngờ, anh đã bị lộ. Ông Hoàng cho biết Tăng Minh được phe cựu thủ tướng Thái Pờradi nhờ mang một mật thư ra Hànội, yêu cầu viện trợ để tổ chức đảo chánh. Thế nào họ cũng tiếp xúc với anh. Biết anh là Tăng Minh giả hiệu, họ sẽ gây chuyện.

- Họ đã tiếp xúc rồi.

- Tôi biết. Lúc Sáu Ngọt vào phòng anh, tôi núp ở ngoài.

- Tại sao Sáu Ngọt chống anh?

- Giản dị lắm. Các sở gián điệp cộng sản bằng mặt mà không bằng lòng nhau. Sáu Ngọt bí mật làm gián điệp cho Trung cộng, tất đố kỵ công an.

- Còn Lệ Mai của cục Tình Báo?

- Lệ Mai ấy à? Anh tài quá, mới đến mà đã chinh phục trái tim người đẹp. Cục Tình Báo được đặt dưới quyền của Smerch Sô Viết.

- Anh biết tôi làm quen làm sao với Lệ Mai chưa?

- Tôi biết. Tôi đã đặt lén máy ghi âm trong phòng anh.

- Lại máy ghi âm?

- Phải. Máy khác, không phải máy của Lệ Mai đâu. Anh lầm to khi tin Lệ Mai đã phục tòng anh. Nàng là con cưng của Smerch. Sớm muộn, nàng sẽ báo cho họ.

- Nguy quá. Anh đã đối phó với nàng chưa?

- Rồi. Lệ Mai đang ngủ vùi trong phòng. Nếu tôi không lầm, anh đã hạ Sáu Ngọt. Lát nữa, tôi sẽ khiêng y lên phòng nàng. Cho cả hai nốc nhiều rượu vốt-ka, cởi hết quần áo, rồi đặt nằm chung giường. Say rượu và ăn nằm với người đẹp thường bị "thượng mã phong" phải không anh?

- Liệu họ có nghi ngờ không?

- Đừng lo. Anh để mặc tôi xử trí.

- Nếu Lệ Mai trung thành với Cục Tình Báo, tại sao nàng cho tôi lên phòng, xóa băng nhựa thâu thanh?

- Nàng tưởng cuộn băng này không có gì hết.

- Con người phồng nhựa sống như nàng chết thật tội nghiệp.

- Anh lầm rồi. nàng không còn xuân sắc như anh tưởng. Nàng là chiêu đãi viên chuyên nghiệp của Trạm. Chiêu đãi ở đây có nghĩa là thỏa mãn quan khách về cả vấn đề sinh lý.

- Nàng là đại úy mật vụ.

- Không, đại úy chiêu đãi. Nàng tốt nghiệp lớp tình dục của Cục Tình Báo. Việc thăng cấp tùy theo thành tích thu lượm được trong nam giới. Ra trường, thì được đeo lon thiếu úy. Cứ mười người đàn ông si tình bị cho vào xiếc, nữ cán bộ tình dục được thăng lên một cấp. Từ ngày ra trường đến giờ, ít nhứt Lệ Mai đã đánh ngã hơn hai chục cậu con trai si tình rồi.

Văn Bình lặng thinh. Chàng nhớ lại câu nói sống sượng của nàng khi chàng ôm ngang lưng đòi nàng thỏa mãn, "nếu anh muốn, em xin vâng. Anh mới xuống phi cơ còn mệt, hẹn sau bữa cơm trưa".

Người phương Tây, nhứt là con cháu của hoàng đế đa tình Nã-phá-luân thường có thói quen ân ái sau bữa cơm trưa, khác với các dân tộc Á đông. Chắc Lệ Mai đã vướng phải thói quen này trong thời gian theo học ở Mạc-tư-khoa.

Vũ Kính nói:

- Anh cần gì, tôi xin cố gắng giúp. Tôi không được biết anh ra ngoài này làm gì, song tôi được lệnh xếp bỏ mọi việc để hỗ trợ anh.

Văn Bình đáp:

- Cám ơn anh. Tại sao anh không tiếp xúc sớm hơn với tôi. Suýt nữa tôi giết lầm một chiến hữu.

- Khó tiếp xúc lắm. Lệ Mai và Sáu Ngọt có mặt suốt ngày ở Trạm. Vả lại, trong thâm tâm tôi cũng muốn trì hoãn, đợi đối phương xuất đầu lộ diện. Hồi tối, Sáu Ngọt mặc cho anh ra phố để đi theo. Hắn chỉ có nhiệm vụ giữ an ninh trong Trạm, không được phép hoạt động bên ngoài. Việc này do tôi đảm trách. Cho người đi theo anh, điều này chứng tỏ hắn là đồng chí của bọn Saratiên.

À, bắt đầu từ sáng mai, chương trình tham quan được tổ chức rất nặng. Tôi đề nghị anh nên có mặt. Còn ban đêm, anh muốn đi đâu tùy ý. Tôi sẽ ở lại Trạm, chờ anh về.

- Ngoài tôi ra, anh còn được lệnh giúp đỡ ai nữa?

- Cô Thái Phượng, phó trưởng đoàn.

Văn Bình không hỏi nữa. Vũ Kính chỉ biết Thái Phượng, chứ không biết Quỳnh Ngọc với Thái Phượng chỉ là một. Có lẽ Kính cũng không biết chàng là Z.28.

Thấy chàng tần ngần, Vũ Kính mỉm cười:

- Thôi, chào anh Z.28.

Chàng giựt mình:

- Anh cũng biết tôi ư?

- Ai lại không biết anh? Tôi có cả hồ sơ đầy đủ về anh ở nha Công An Hànội. Anh nên nhớ là thủ cấp của anh đáng giá một triệu đô-la. Các sở gián điệp cộng sản đều trả tiền nhân viên ở hải ngoại bằng đô-la Mỹ, chắc anh không lạ gì. Họ đã treo thưởng để bắt sống hoặc giết anh. Nhưng anh yên tâm. Trừ phi tôi chết, tôi còn sống phút nào sẽ không cho họ động tới anh.

- Anh ra đây lâu chưa?

- Không. Tôi ở lại Hànội, sau hiệp định Gơ-neo, theo lệnh của Sở.

Văn Bình nhìn Vũ Kính bằng cặp mắt cảm mến. Trong đời, có lẽ chưa có công tác nào nguy hiểm bằng công tác ở lại trong vùng địch, từng giờ, từng phút cọ sát với Thần Chết.

Chợt Vũ Kính nhìn đồng hồ tay:

- Đến giờ rồi, tôi phải liên lạc với Z.62. Phiền anh lo giùm vụ Sáu Ngọt - Lệ Mai.

- Nếu vì lẽ nào đó, anh phải xa tôi, tôi phải tiếp xúc với Z.62 theo thể thức nào?

- Tôi báo cáo với Z.62. Nội ngày mai sẽ tin anh biết.

- Vào giờ này có ai ngoài hành lang không?

- Bọn nữ chiêu đãi ngủ hết rồi. Dưới nhà có người gác, song y không được phép lên lầu.

Vũ Kính nheo mắt chào chàng rồi ra ngoài. Văn Bình vén tấm màn hổ thúy trong buồng tắm. Sáu Ngọt nằm co quắp trong bồn nước, mắt trợn ngược, da mặt bầm tím.

Chàng xốc y lên vai, trèo lên lầu ba.

Đèn điện tắt gần hết vì tiết kiệm. Chàng mò mẫm mấy phút mới tới phòng Lệ Mai.

Nàng nằm ngửa trên giường kê sát vách tường, cây đèn đêm màu xanh để trên bàn ngủ hắt vào mặt nàng một luồng sáng nhợt nhạt. Chàng biết Vũ Kính cố tình đùn cho chàng làm cái việc tàn nhẫn này. Không phải lần đầu tiên chàng giết người, đặc biệt là giết đàn bà, song trong nghề gián điệp ít khi chàng giết kẻ thù không khí giới.

Phương chi nạn nhân là một thiếu phụ ngủ say dưới áp lực thuốc mê.

Chàng đặt Sáu Ngọt xuống đất, lẳng lặng cởi bỏ quần áo xác chết. Chàng ngắm Lệ Mai một giây rồi đặt bàn tay lên cúc áo nàng. Đột nhiên, nàng cựa mình, ú ớ. Nàng quay mặt ra phía ngoài, hơi thở đều đều, chứng tỏ nàng còn ngủ say.

Cái áo màu xanh được cởi ra từ từ, bên dưới nàng không mặc gì hết. Bộ ngực được tập luyện và xoa thuốc nhiều nên vẫn tròn trịa và cứng chắc. Văn Bình thở dài, kéo quần tuột xuống. Lệ Mai nằm trần truồng, đầy vẻ khêu gợi.

Chàng vắt y phục của hai người lên ghế rồi bắt đầu cuộc dàn cảnh. Biết công an và mật vụ sẽ điều tra tỉ mỉ, chàng không bỏ sót chi tiết nào để tỏ ra Sáu Ngọt chết vì "thượng mã phong" và trước khi tắt thở, vô tình hoặc hữu ý, y đã bóp mạnh vào yết hầu Lệ Mai khiến nàng thiệt mạng luôn.[30]

Lệ Mai tiếp tục ngáy đều, Văn Bình nghiến răng ấn vào tim nàng: ngón atêmi lạ lùng này giết người không lưu lại dấu vết. Nạn nhân bị đứng tim trong khoảnh khắc. Sau đó, chàng lấy bàn tay của Sáu Ngọt đặt quanh cổ Lệ Mai, bóp chặt lại. Chàng nghe tiếng xương gẫy.

Chàng tắt đèn đêm, rón rén về phòng.

Kinh ngạc xiết bao lúc chàng trèo lên giường, chàng chạm phải một làn da mát.

Quỳnh Ngọc đợi chàng không biết từ bao giờ. Thấy nàng, chàng khoát tay:

- Họ biết thì khốn.

Nàng cười nhỏ nhẹ:

- Anh sợ ư? Phạm Bài ngủ đến sáng mới tỉnh. Anh còn thương Lệ Mai nên không muốn nằm với em phải không?

Chàng giựt mình:

- Em biết chuyện Lệ Mai ư?

- Sao lại không. Em còn biết anh vừa giết người xong.

Chàng không đáp, hỏi lại:

- Hừ, em gặp Vũ Kính khi nào?

- Nửa đêm. Sau khi ở rạp hát về.

- Em không quen, cũng không được lệnh tiếp xúc với Kính. Tại sao em biết hắn là người của mình?

- Em vừa về phòng thì Kính bước vào, chìa ra một nửa tờ bạc 5 đồng. Lúc em rời Vọng-các, Môrít đưa cho em một nửa tờ 5 đồng. Dấu cắt ăn khít với nhau. Biết Kính không phải là kẻ thù, em mừng quá. Anh ấy dặn em đi sát với Phạm Bài vì y là nhân viên bí mật của Cục Tình Báo. Rồi sang chuyện Lệ Mai.

- Em lập mưu để anh tự tay hạ sát Lệ Mai phải không?

- Đúng. Em muốn anh tự tay giết nàng. Tuy nhiên, anh chưa phải là sát nhân thực thụ. Nếu anh không giết, nội đêm nay nàng cũng chết. Vì em cho nàng uống gấp đôi thuốc độc.

- Không ngờ em ghen như thế.

- Rồi anh sẽ thấy. Lệ Mai chết là phải, vì nàng sẽ báo cáo Cục Tình Báo. Trong tương lai, người đàn bà nào dính đến anh, dầu không phải là gián điệp địch, cũng bị em giết. Em muốn anh thuộc về em hoàn toàn. Chết, em sẽ mang hình ảnh anh xuống suối vàng.

- Đừng nói bậy.

- Thế thì anh nằm lại gần em. Anh ôm em đi.

Nàng hôn vào cặp môi mở hé. Ông Hoàng từng dặn không nên đùa bỡn với phụ nữ, nhứt là phụ nữ làm gián điệp. Chàng rùng mình. Quỳnh Ngọc tắt ngọn đèn đêm.

***

Ông Hoàng áp điện thoại vào tai. Ở đầu giây là tiếng nói của ông tổng trưởng:

- Chào ông. Khuya rồi, ông còn thức à? Người ta đồn ông làm việc mỗi ngày 20 tiếng, bây giờ tôi mới thấy đúng. Hội Đồng Nội Các sẽ họp bất thường sáng mai. Vấn đề chính được cứu xét là đường lối và chiến thuật áp dụng đối với Hànội. Theo sự nhận xét của ông, các đại sứ của ta ở nước ngoài đã có thể tấn công hòa bình được chưa?

Ông Hoàng đáp:

- Bây giờ, còn sớm. Tôi xin ông tổng trưởng một tuần hoặc 10 ngày là chậm nhứt. Nhân viên của tôi đã có mặt ở Hànội, và bắt đầu kế hoạch ly gián đối phương..

- Liệu có thành công không?

- Hiện nay, tôi chỉ bảo đảm được 60 phần trăm. Hai ngày nữa, tôi sẽ trình rõ hơn.

- Cám ơn ông. Gần sáng rồi, ông đi nghỉ đi. Làm việc quá sức, nhỡ rụp xuống thì nguy cho quốc gia.

- Thưa ông tổng trưởng, tôi già lắm rồi, tôi tự biết không còn sống bao lâu nữa. Đêm khuya là giờ hoạt động của nhân viên tôi trong vùng địch. Lẽ nào họ thức, tôi lại ngủ, huống hồ họ bị sự chết chóc luôn đe dọa. Vả lại, tôi phải thức để liên lạc vô tuyến với họ. Chắc ông tổng trưởng đã biết điện đài chỉ hoạt động ban đêm.

Không để ý tới tiếng thở dài ái ngại của ông bạn già tổng trưởng, ông Hoàng gác điện thoại. Nguyên Hương đã đứng bên, với ấm cà-phê đặc sịt như hắc ín, và tờ giấy màu vàng. Nàng nói:

- Thưa, Z.62 vừa điện về.

Vẻ mặt hân hoan, ông Hoàng cầm lấy bức điện. Nội dung như sau:

… Z.62 kính gửi HH.

1) Tuân lệnh ông, tôi bãi bỏ cuộc tiếp xúc dự định với Z.28 trước Bưu Điện Bờ Hồ và đã cử Z.91 gặp Z.28 hồi quá nửa đêm nay. stop. Việc dùng Z.91 có cái lợi là đầy mạnh công tác, song có thể làm Z.91 bị bại lộ. stop. Vậy xin HH cho biết: trong trường hợp bị bại lộ, Z.91 phải xử trí ra sao?

2) Đã trừ khử được nhân viên của Saratiên. stop. Tuy nhiên, đối phương vẫn có thể phăng ra Z.28 bất cứ lúc nào. stop.

3) Bôrin đã về nhà với vợ là Vương Lệ, sau khi được mổ óc và khai thác. stop. Ngôi nhà của Phan Mỹ đã bắt đầu bị canh chừng. stop. Xin chỉ thị để chuyển cho Z.28 thi hành.

Ông Hoàng ném tờ giấy vàng xuống bàn, suy nghĩ. Một phút sau, ông choàng dậy, đọc cho Nguyên Hương ghi tốc ký:

… HH gởi Z.62.

Phúc đáp điện số…

1) HH trao toàn quyền quyết định cho các nhân viên của Z.62 trong trường hợp bị bại lộ. stop. Nhứt yếu: bảo vệ tổ chức và bí mật triệt để. stop. Áp dụng mọi biện pháp để ru ngủ địch, vì nếu địch biết là ta dính vào, toàn bộ kế hoạch sẽ sụp đổ. stop. Thứ yếu: bảo vệ nhân mạng. stop.

2) Thành thật khen ngợi. stop. Phải tìm cách nào cho Z.28 không bại lộ, ít ra là trong giai đoạn đầu. stop.

3) Báo cho Z.28 biết thời gian hoạt động chỉ được thu hẹp trong 72 giờ đồng hồ. stop. Không được kéo dài thêm nữa. stop. Yêu cầu báo cáo thường xuyên. stop.

HH.

Ông Hoàng ngẩng đầu lên, dặn Nguyên Hương:

- Liên lạc ngay với bộ Tổng Tham Mưu, cho tôi biết rõ kế hoạch oanh tạc miền Bắc trong 72 giờ sắp tới. Gọi điện thoại cho đại tá tư lệnh Hải Quân, mượn cho tôi một tiềm thủy đỉnh nhẹ, có thể lên đường bất cứ lúc nào kể từ 0 giờ đêm mai. Nếu bị bại lộ, Z.28 chỉ có thể thoát thân bằng tàu ngầm.

- Thưa, từ sáng đến giờ, ông chưa ăn gì cả.

- Thế à? Quái, sao tôi không đói.

- Anh vệ sĩ sắp bưng cơm vào.

- Thôi. Tôi còn bận. Sáng mai, ăn một thể. Lê Diệp đâu rồi? Bảo Lê Diệp vào đây.

Đột nhiên, ông Hoàng nhìn Nguyên Hương. Mặt cô thư ký chuyển sang màu xanh tái. Ông Hoàng hỏi, giọng thương hại:

- Cô muốn đi theo phải không?

Nàng gật đầu, mắt rơm rớm:

- Thưa vâng.

Ông tổng giám đốc lắc đầu:

- Đại sự trên hết. Cô phải ở nhà với Triệu Dung.

Ông Hoàng lại cúi đầu xuống đống hồ sơ. Ngoài đường Nguyễn Huệ, nhân viên vệ sinh đã bắt đầu lê cái chổi dài trên mặt lộ đầy rác.

***

9 giờ sáng.

Trời Hànội âm u như sắp nổi cơn bão. Trước kia, trong tháng mưa giá rét, người Hànội mong nắng bao nhiêu, bây giờ ghét nắng bấy nhiêu. Vì nắng to, máy bay Mỹ sẽ bay nhiều, còi báo động kéo liên tiếp, mọi người phải chạy xuống hầm tối om, chật chội và ướt át.

Đèn điện trong trụ sở bộ Ngoại Giao vẫn bật sáng. Nhân viên cao cấp đi làm từ rạng đông. Xế chiều, họ sẽ làm đến khuya. Buổi trưa, văn phòng vắng tanh, vi phòng thủ thụ động.

Trong một căn phòng rộng gắn máy điều hòa khí hậu, Phan Mỹ, trưởng ban Tình Báo ngồi bâng khuân trước tấm hình một thiếu phụ mảnh mai, có đôi lông mày thanh tú, cái miệng nhỏ, môi đỏ như thoa son. Nàng là Vương Lệ, thư ký của bộ.

Y thở dài ngó bức chân dung nửa người của vợ, trong cái khung vàng, dựng trên bàn giấy, cạnh cuốn tự vị Nga-Việt. Y thở dài vì vợ y sánh với Lệ khác nhau một vực một trời. Lệ người gầy thì vợ y béo mập, da dẻ dày cộm, tay chân thô tháp, khuôn mặt bầu bĩnh thiếu mỹ thuật lại kèm thêm cái miệng rộng hoác, đôi mắt tầm thường, cái cổ tròn nung núc mỡ, chân đi chữ bát.

Vợ y rất xấu, song lại có cái tên rất đẹp. Thùy Dương. Y cưới nàng từ thưở là giáo sư trung học, trước ngày vào đảng, lăn lưng trong khói lửa kháng chiến, và trèo lên nấc thang cao nhứt của bộ Ngoại Giao: trưởng ban tình báo, chức vụ quan trọng hơn cả bộ trưởng. Phan Mỹ được nể vì, vì y là con cưng của tòa đại sứ Trung Hoa nhân dân. Ngược lại, Phan Mỹ không được lòng các cơ quan gián điệp Sô Viết ở Hànội, GRU, Smerch và KGB.[31]

Cũng như nhiều thủ lãnh do thám khác, y mắc một tật xấu nghiêm trọng: chơi bời. Rượu, y uống không bao giờ say, á phiện, hút mấy chục điếu cũng chưa hết thèm, song về gái đẹp thì lúc nào cũng được, bao nhiêu cũng được, chưa khi nào chán mệt, chưa khi nào y chịu mỏi chân trong cuộc tìm kiếm đàn bà.

Cuốn an-bom dán toàn hình mỹ nhân, y cất sẵn trong ô kéo. Bên trong, y đã dán được hơn một trăm bức ảnh, hầu hết là khỏa thân. Thường lệ, sau cơn ân ái, y lấy luôn máy ảnh đem theo mình - một cái Canông của Nhựt thật tốt, kiếng 0,9, chụp trong nhà không cần đèn - bấm lia lịa một hồi.

Ban đêm, y chụp bằng hồng ngoại tuyến, người đẹp nằm tô hô trên giường, không biết. Y lại mê phim màu, nên hình nào cũng đẹp. Song cái đẹp của tấm ảnh có lẽ do y khéo chụp mà ra, người đàn bà nằm nghiêng, tay gối dưới tóc, ưỡn ngực, thót bụng, toàn phía trước từ đầu xuống chân được thu vào phim nhựa.

Phan Mỹ chụp hình để làm kỷ niệm, nhưng cũng để làm hồ sơ nghề nghiệp nữa. Y mất hàng giờ ngồi nghiên cứu một bức hình bằng kiếng hiển vi, xem có bao nhiêu vết thẹo, bao nhiêu nét nhăn, hầu sau này làm mồi cho công tác gián điệp.

Vương Lệ có bộ mặt dễ coi, không đáng liệt vào giai nhân, song về thân thể, nàng có thể chiếm ưu hạng. Thật ra, Phan Mỹ chưa có cơ hội làm chủ xác thịt nàng. Mỗi lần nàng ôm hồ sơ vào phòng, y chỉ cầm tay, vuốt ve mười ngón xinh xinh, hôn bừa lên má hồng hồng, chứ chưa dám động tới cúc áo của nàng. Sở dĩ y biết Vương Lệ có thân hình cân đối toàn mỹ, là do một nữ mật báo viên, bạn thân của nàng, trình lên.

Vả lại, hoa đã có chủ.

Chủ là Anáttát Bôrin, thiếu tá lai Việt của sở ám sát Smerch.

Đột nhiên mặt y đỏ bừng. Y bấm chuông gọi thư ký. Một thiếu phụ dứng tuổi mở cửa vào (vợ y không cho phép y dùng thư ký còn trẻ), Phan Mỹ hất hàm:

- Kêu đồng chí Vương Lệ.

Thiếu phụ vâng một cách kính cẩn rồi bước ra, khép cửa nhè nhẹ. Vương Lệ mặc đồ đầm, may khít người, tôn hẳn giá trị của đôi chân dài thon thon. Phan Mỹ chợt nhớ câu thơ xưa "trường túc bất chi lao". Nàng khép nép đứng trước bàn giấy.

Y khoác tay:

- Lệ ngồi xuống.

Nàng vén xiêm ngồi vào chiếc ghế bành bọc nhung trắng. Phan Mỹ cau mặt:

- Tôi đã mua vé sẵn, sao Lệ không đi xem? Tôi ngồi chờ mãi trong rạp Hồng Hà.

Nàng thở dài:

- Thưa đồng chí, Bôrin ghen lắm.

- Tôi không thích Lệ gọi là đồng chí. Dùng tiếng anh thân mật hơn.

- Em không dám.

- Tôi mời Lệ đi ăn tối nay, Lệ bằng lòng không?

- Khi nào em cũng bằng lòng. Được anh chiếu cố là một vinh dự, tuy nhiên, Bôrin dọa giết em, nếu em….

- Bôrin có biết việc Lệ hay gặp tôi không?

- Thưa không. Vả lại, anh cũng chưa làm gì hết.

- Bây giờ, tôi muốn… làm gì, thì sao?

- Em sợ lắm. Bôrin có khẩu súng lớn lắm.

- Lớn bằng chừng nào?

- Bằng rưỡi khẩu súng của anh vẫn để trong ô kéo.

Phan Mỹ cười vang. Lát sau, y nói:

- Về súng, không cứ gì lớn mới tốt. Để tôi cho Lệ xem một thứ súng mới, do xưởng công binh ở Thượng Hải chế tạo, dành cho nhân viên hải ngoại.

Y rút ở túi trên ra một cái bật lửa, bề ngoài trông như bật lửa Ronson của Anh quốc, cũng xinh xắn, vừa tay, cũng mạ một nước sơn vàng bóng loáng.

Y nhìn quanh quất trong phòng tìm mục tiêu. Chợt nhớ ra, y ngoắc tay:

- Ra ngoài này mà xem.

Vương Lệ theo y ra ngoài hành lang. Y mở một cánh cửa: giữa căn phòng rộng rãi, thoáng khí, có một cái cũi gỗ lớn, trong có ba con chó. Giống chó săn lông ngắn này được mua riêng từ Đông Đức gửi về bộ Ngoại Giao để tập dượt. Huấn luyện xong, chúng được chuyển tới các tòa đại sứ và lãnh sự ở ngoại quốc để gác ngày đêm tủ sắt đựng tài liệu mật.

Ba con bẹt-giê, thân hình tròn lẳn, lông vàng chấm đen, tai dài lê thê, đuôi ngắn cũn cỡn, mở mắt thao láo nhìn Phan Mỹ. Y kéo Vương Lệ lại gần, chĩa bật lửa vào chuồng.

Một tiếng bụp nho nhỏ.

Con thứ nhứt - một con đực thật đẹp - nằm lăn trên sàn gỗ. Rồi con thứ hai.

Vương Lệ níu áo Phan Mỹ:

- Thôi anh, em biết rồi. Em sợ lắm.

Y cười ha hả:

- Em sợ là đúng. Ai thấy súng này cũng sợ như em. Đó là súng lục thuốc độc xi-a-nuya. Kẻ nào chống lại tôi cũng sẽ chết một cách nhanh chóng và êm thắm như hai con bẹt-giê.

- Em có dám chống lại anh đâu.

- Vậy tối nay em đi ăn với tôi.

- Thưa, tối nay Bôrin ở nhà.

- Khi nào đi?

- Thưa, anh ấy được nghỉ mấy ngày.

Phan Mỹ ôm cằm suy nghỉ. Chuông điện thoại reo vang. Cầm lên nghe, y tái mặt. Ở đầu giây, giọng nói của ông bộ trưởng không còn vẻ thân mật và chiều chuộng như thường lệ:

- Phan Mỹ đấy à? Đã tìm ra manh mối vụ mất tài liệu chưa?

Y đáp:

- Thưa chưa. Tuy nhiên, tôi xin hứa chỉ một thời gian ngắn nữa là tìm ra được.

- Thời gian ngắn là bao nhiêu?

Phan Mỹ trù trừ:

- Ba hoặc bốn tuần.

- Lâu quá. Tôi không thể chờ được nữa. Tôi vừa nhận được khiển trách chính thức của phủ Thủ Tướng. Một mới tài liệu quan trọng khác vừa được lọt vào tay địch.

Phan Mỹ sửng sốt:

- Lạ nhỉ? Tôi không biết gì hết.

- Bận chơi như anh còn thời giờ nào rỗi nữa mà biết.

- Thưa ông bộ trưởng, đàn ông ai lại không tiêu khiển. Riêng tôi, tôi làm việc rất mẫn cán và đắc lực. Không tin, ông hỏi lại phủ Thủ Tướng.

- Tôi hỏi rồi. nếu không có sự bảo lãnh của tòa đại sứ Trung quốc, người ta đã cất chức anh rồi. Anh hiểu giùm cho, tôi không muốn làm mất lòng anh.

- Người ta cất chức tôi? Thưa ông, người ta là ai?

- Thủ Tướng chứ còn ai nữa.

- Giả sử tôi bị cất chức, các bạn của tôi sẽ không để yên. Người ta không thể cất chức tôi vì lý do chính trị.

- Hừ, tôi với anh đều theo một phe, anh chẳng lạ gì. Song tôi cảm thấy không thể bảo vệ anh được nữa. Vì người ta cất chức luôn tôi.

- Tôi sẽ phản kháng đến cùng.

- Anh can đảm đấy. Nhưng lần này, tôi e anh không phản kháng đến cùng được đâu. Vì người ta đã nắm được tài liệu cụ thể. Cách đây ba tháng, đồng chí ngoại trưởng Liên Sô sang Hànội có đến thảo luận riêng với tôi tại văn phòng của bộ. Cuộc thảo luận liên quan đến một số bí mật ngoại giao. Không hiểu sao C.I.A. lại tóm được.

- Tóm được tài liệu ư?

- Không phải. Họ tóm được một vào chi tiết quan trọng đã được đề cập trong cuộc thảo luận. Hồ sơ này được cất trong két sắt, chỉ có tôi, đồng chí đổng lý và anh có chìa khóa.

- Như vậy có nghĩa là một trong ba chúng ta là gián điệp cho địch.

- Phủ Thủ Tướng chưa kết luận giản dị như thế, nhưng anh thừa rõ tôi ít bị nghi hơn anh.

- Hừ, hay là người ta bịa ra để hạ tôi cho dễ.

- Tôi không biết nữa. Tôi nói trước để anh chuẩn bị.

- Ông có biết ai đưa tin cho phủ Thủ Tướng không?

- Không rõ. Có lẽ là Smerch.

Phan Mỹ rít lên:

- Smerch. Thảo nào đại tá Kamốp có mặt ở Hànội.

Giọng ông bộ trưởng hạ thấp, dường như sợ một vành tai bí mật nghe trộm:

- Kamốp thế lực lắm, anh không hạ nổi đâu.

- Tôi cũng không đến nỗi cô độc. Tôi sẽ báo cho Kamốp biết y không thể lợi dụng cuộc tranh chấp ý thức hệ giữa các đồng chí Trung quốc và phe xét lại Cút-sép mà bôi nhọ tôi được.

- Hai ta là chỗ thân tình, tôi thành thật khuyên anh.

- Cám ơn lòng tốt của đồng chí bộ trưởng.

Phan Mỹ ném điện thoại đánh rầm xuống bàn. Ngoảnh sang bên, y giựt mình thấy Vương Lệ đứng yên, hai tay khoanh trước ngực nở nang, da mặt tái xanh. Trong cơn lo lắng, nàng bỗng đẹp khêu gợi hẳn lên.

Nàng hỏi, giọng từ tốn:

- Anh bị người ta kiếm chuyện phải không?

Phan Mỹ cười kiêu ngạo:

- Hừ, tôi không phải là cán bộ trung cấp để thiên hạ muốn làm gì cũng được. Tôi chỉ sợ Vương Lệ kiếm chuyện với tôi thôi.

Nàng bật cười:

- Thôi được, để tối nay em đi với anh. Em gặp anh ở đâu?

- Đúng 8 giờ. Đường Nguyễn Thái Học, trước cửa hợp-tác-xã thủy tinh cao cấp Dân Chủ, số nhà 154. Anh lái xe qua, đón em.

Nàng chìa bàn tay trắng muốt ra. Phan Mỹ cầm lấy, đưa lên môi hôn. Nàng lặng yên, trong lòng rạo rực. Từ ngày Bôrin ở Mỹ về, nàng không còn những cảm giác rạo rực như cái thưở yêu nhau ở Mạc-tư-khoa nữa. Đời sống nguy hiểm, nhứt là thời gian giam cầm trong khám tử hình Sing Sing đã biến chàng nàng là con người khác.

Bôrin là đàn ông, song là đàn ông bất lực.

Nàng thở dài, một giọt nước mắt long lanh. Nàng cảm thấy Bôrin xa xôi, lạ lùng quá. Nàng thèm sống những đêm dài tràn ngập ân ái, nhưng Bôrin đã mất hẳn khả năng mang lại hạnh phúc. Nàng không yêu Phan Mỹ,, tuy nhiên, nàng khó thể dững dưng nếu y cho nàng sống lại chuỗi này tân hôn thần tiên với Bôrin.

Vương Lệ rút khăn lau mắt. Phan Mỹ nhìn theo nàng, cánh mũi phập phồng trong sự sung sướng vô biên.

***

Bôrin gấp cuốn sách lại, ném xuống đất, dáng điệu tức tối. Trong một giờ đồng hồ, y không đọc hết một trang chữ lớn. Không hiểu sao mắt y hoa lên, cơn nhức đầu quái lạ nổi phừng phựt làm y choáng váng.

Y mắc bệnh nhức đầu từ ngày sang Mỹ. Các y sĩ của Smerch cho biết y đau óc kinh niên, cần giải phẩu mới bình phục. Trước kia, y không hề đau óc, nhưng Smerch đã ra lệnh, y phải tuân theo. Mổ óc xong, y đâm ra thờ thẫn, mất một phần trí nhớ, và đặc biệt là mất một phần sức lực đối với đàn bà.

Đó là một sự thiệt hại lớn lao và đau khổ vì Bôrin vốn là đệ tử trung thành của khoái cảm xác thịt.

Từ nhà lao Sing Sing, y được đưa tới sứ quán Sô Viết, rồi đáp phi cơ riêng về Mạc-tư-khoa. Y không được gặp tướng G. Một nhân viên cao cấp cho y biết y được đi Hànội để xum họp với vợ. Y vừa vui, vừa buồn, vui vì được gặp lại người bạn đầu gối, tay ấp, từng làm y thỏa mãn, buồn vì không hiểu có còn đủ sức làm nàng thỏa mãn nữa không.

Chân ướt, chân ráo tới Hànội, Bôrin được dẫn vào trình diện đại tá Kamốp. Bằng giọng nhát gừng, y thuật lại những việc đã làm trong thời gian ở Hoa Kỳ, và không quên nhấn mạnh tới sự thay đổi trong thân thể cường tráng của y.

Kamốp gật gù:

- Chắc bệnh óc của đồng chí chưa khỏi hẳn nên bộ phận sinh dục bị thương tổn.

Bôrin phản đối:

- Thưa đại tá, tôi chưa bao giờ bị đau óc. Có lẽ các y sĩ đã lầm.

Kamốp nhăn mặt:

- Y sĩ của Smerch không thể lầm. Và Smerch cũng không thể lầm. Thiếu tá vừa phạm nội qui của Sở. Một sự phạm thượng không thể tha thứ được.

Mặt Bôrin tái mét:

- Thưa đại tá…

Kamốp gạt phắt:

- Tôi vừa hỏi các y sĩ xong. Họ nói là trong thời gian bị giam giữ, thiếu tá kém can đảm, lại sợ chết, nên thần kinh bị yếu kém như cũ. Nếu thiếu tá biết coi thường ghế điện như các nhân viên xứng đáng của Smerch thì đâu đến nỗi.

Vì nghĩ đến công lao của thiếu tá, tướng G. đã can thiệp ráo riết cho thiếu tá được tự do. Một triệu đô-la, 5 tù binh Mỹ được phóng thích, đó là cái giá mua sự tự do cho thiếu tá. Thiếu tá cần cảm tạ Smerch, cảm tạ tướng G.

- Thưa, tôi không khi nào dám quên.

- Tướng G. lại cho thiếu tá về Hànội với vợ. Lệ thường, nhân viên Smerch yếu tinh thần là bị bỏ tù, tống đi Tây-bá-lợi-á, hoặc giản tiện hơn, tặng một phát đạn vào gáy dưới hầm lao thất Lubiănka, chứ chưa bao giờ được biệt đãi như thiếu tá.

- Thưa, tôi biết.

- Xét thấy thiếu tá là nhân viên trung thành, tướng G. đã ra lệnh cho tôi tìm cách chữa khỏi bệnh thần kinh, giúp thiếu tá lấy lại phong độ cũ.

Kamốp mỉm cười ý nhị:

- Phong độ ấy, thiếu tá cần lắm phải không?

Bôrin nín thinh.

Kamốp nói từ từ:

- Thiếu tá sẽ được giải phẫu lần nữa.

- Thưa, mổ óc lần nữa?

Bôrin định thét lên "không, không, tôi không muốn giải phẫu nữa, tôi không đau óc, thà vợ tôi ngoại tình, thà đàn bà lánh xa tôi", nhưng luồng mắt nghiêm nghị của Kamốp làm y cứng họng. Kamốp nói tiếp:

- Tôi báo cho thiếu tá biết, đây là lệnh của tướng G. Hoặc thiếu tá được bình phục hoàn toàn, hoặc bất lực hẵn. Thiếu tá phải tuân lệnh thượng cấp.

Bôrin choáng váng, ngất luôn trên ghế.

Trong ba ngày, ba đêm liên tiếp, y phải tường trình mọi chi tiết nghe, thấy, trong ban thẩm cung của công an Mỹ. Ngày thứ tư, y bị đưa tới phòng mổ.

Một tuần sau, Bôrin được dẫn về nhà riêng, một ngôi nhà khang trang ở đường Chợ Hôm. Gặp vợ, y mừng rú như được của. Nàng lặng người trong một phút, rồi ôm chầm lấy chồng, hôn lấy, hôn để.

Nhưng chỉ nửa giờ sau, tiếng cười của nàng tắt ngúm. Căn phòng im lặng một cách thê thảm.

Y vùng dậy, vứt cái gối thêu xuống đấtn dẫm lên trên, bông tung ra tản mát. Vương Lệ nằm trên giường, nước mắt tràn trề. Nàng không ngờ sự thật lại phũ phàng đến thế. Bôrin cũng khóc rống lên. Trong một giây loạn trí, y căm thù tướng G., căm thù các y sĩ giải phẫu, căm thù Smerch.

Rồi y bó gối nhìn vào khoảng không.

Bôrin lượm cuốn sách lên, cố đọc hết trang.

Những giòng chữ màu đen múa nhảy trước mắt, Bôrin lại nhức đầu. Tê tái, Bôrin nằm phịch xuống giường.

Đồ lót mình bằng ni-lông mỏng dính của vợ treo lủng lẳng trên mắc. Bôrin không quên được cái áo ni-lông đắt tiền này,y đã đích thân mua cho Vương Lệ tại Mạc-tư-khoa, trong tuần trăng mật nên thơ. Y mường tượng tấm thân trắng trẻo, đều đặn của nàng, thấp thoáng sau làn vải ấm áp.

Mặt y nóng bừng.

Y giựt cái áo, hít một hơi dài. Rồi như người điên, y nghiến răng xé toạc, vùi mảnh áo xuống đệm.

Bôrin giựt mình vì có tiếng xe hơi ngoài đường.

Từ nhiều năm nay, thành phố Hànội vắng tiếng xe hơi, xa xí phảm dành riêng cho chính quyền và chuyên viên ngoại quốc. Bôrin là công dân Sô Viết, có nhà riêng và xe hơi riêng.

Tiếng động cơ xe hơi quen thuộc như nhát búa giáng vào đầu Bôrin. chiếc Tatra xinh xắn này, y mua ở Mạc-tư-khoa và Vương Lệ đã mang về Hànội.

Nàng đi làm về.

Nhìn đồng hồ, Bôrin tái mặt. Từ bộ Ngoại Giao đến Chợ Hôm, nhiều nhứt là 5 phút trên con đường rộng thênh thang và vắng ngắt, thế mà Vương Lệ lái mất nửa giờ. Nửa giờ! 25 phút kia nàng đi đâu? Bôrin nhớ rõ nét mặt ngơ ngác và đau khổ của vợ buổi trưa đầu tiên hai người ái ân trong phòng. Nàng lẳng lặng mặc quần áo, ra nhà ngoài, ngồi bên chai rượu vốt-ka. Trong một phút, nàng uống luôn ba ly đầy ắp, hai má đỏ bừng.

Bôrin giằng lấy ly rượu thứ tư, nàng cưỡng lại, chiếc ly pha lê tụt xuống, vỡ tan tành. Vương Lệ bưng mặt khóc nức nở.

Đêm đến, Bôrin thí nghiệm lần nữa, và cũng như hồi trưa, y thất bại ê chề. Cáu tiết, y ném chiếc giầy vào tấm gương vỡ toang. Rồi đập cổ chai mai quế lộ, uống ừng ực. Vương Lệ lại lủi thủi ra nhà ngoài, chong đèn suốt sáng, hai mắt đỏ ngầu phần vì rượu, phần vì hờn tủi.

Chiếc Tatra nhỏ bé 4 mã lực chạy từ từ vào trong sân. Trên xe bước xuống, cái xắc tòn ten trên vai tròn, Vương Lệ vui như chim sơn ca. Nghĩ tới vẻ mặt đưa đám của vợ buổi sáng, Bôrin nổi cơn ghen. Y lẩm bẩm:

- Vừa ngửi hơi đàn ông có khác.

Đang vui, Vương Lệ khựng người. Nàng nhớ tới thái độ giận dữ của chồng mỗi khi thất vọng trong phòng the. Như cái máy, nàng xô cửa bước vào.

Định nhoẻn miệng chào "Anáttát, em về đây", nàng ngừng bặt. Tia lửa trong mắt Bôrin tóe ra như sắp gây ra hỏa hoạn.

Y đứng dậy, cục xương yết hầu lòi hẳn ra ngoài, giữa những đường gân xanh lè, sần sùi:

- Lệ, sao em về chậm thế?

Nàng về chậm vì Phan Mỹ giữ lại trong phòng để tâm tình vụn. Nàng chống chế:

- Sáng nay, ở sở có nhiều việc quá.

Bôrin tiến lại, vung tay ra:

- Cô đi đâu, phải nói thật với tôi.

Vương Lệ mở to mắt nhìn chồng:

- Tính tình anh thay đổi lạ lùng, em không hiểu nổi. Về chậm là thường, anh không biết sao?

- Phải, tính tôi thay đổi lạ lùng! Song sự thay đổi của cô còn lạ lùng hơn nữa. Cô lạnh nhạt với tôi vì tôi vì tôi không còn là người đàn ông sung mãn như trước. Cô là một đứa khát tình. Giả vờ đi làm, cô hẹn hò với người khác. Với những thằng đàn ông khỏe mạnh hơn chồng cô.

- Anh đừng ghen ngược.

- Ghen, ghen? Tôi không ghen bóng, ghen gió như ai đâu. Nay tôi báo cho cô biết. Tôi sẽ bắn nát thây nếu cô ngoại tình.

Vương Lệ cười khẩy:

- Anh hay gây sự quá. Nếu có chứng cớ rành rành, anh mới có quyền ghen, bằng không….

Bôrin nắm lấy cổ áo sơ-mi trắng của vợ:

- Rồi tôi sẽ đưa bằng chứng.

Nàng gỡ ra, giọng lạnh lùng:

- Khi nào có bằng chứng hẵn ghen. Giờ anh cho em được tự do, để em ăn cơm và nghĩ trưa. Làm việc sáng nay mệt quá.

Nghe vợ kêu mệt, Bôrin lồng lộn:

- Phải, bê tha suốt buổi sáng làm gì không mệt.

- Em đã yêu cầu anh đừng ghen ngược mà.

- Còn tôi, tôi yêu cầu cô không được đi làm nữa.

- Anh loạn óc rồi. Đảng có thể bắt tôi nghỉ việc, anh chỉ là chồng, anh không có quyền gì hết, dưới chế độ này.

- Câm miệng, không tôi đánh bây giờ.

- Hễ anh mó vào mình tôi, tôi sẽ xin ly dị anh liền.

- À, à, cô kiếm cớ bỏ tôi để sống với người khác. Coi chừng, cô không lừa được tôi đâu. Nếu cô xin ly dị, tôi sẽ giết cô. Giết cô như giết con ruồi.

Bôrin cầm gói thuốc lá Tam Đảo để trên bàn, bóp bẹp ra rồi vứt xuống đất.

Vương Lệ lạnh người. Nàng biết Bôrin nói là làm. Y sẽ băm vằm nàng ra trăm mảnh nếu bắt được tang chứng giữa nàng với Phan Mỹ. Đành rằng giữa nàng và trưởng ban tình báo chưa có sự ăn nằm mờ ám, Bôrin vẫn không tha. Y đã mất hết lý trí và trở thành kẻ thù nguy hiểm của nàng sau khi không được thỏa mãn tình dục.

Nàng bèn dấu dịu:

- Giận em làm gì, Ánátát. Mai em sẽ về đúng giờ cho anh vui lòng.

Bôrin sướng rơn, kéo vợ vào lòng. Nhưng đến khi hôn vợ, y lại thấy ruột đau như thắt. Trong cánh tay lực lưỡng của chồng, nàng không run rẩy vì khoái lạc như thường lệ. Nàng thản nhiên như bức tượng đá ngoài công viên.

Cơn giận trong lòng Bôrin bùng lên. Điên cuồng, y xô nàng ra, đập đầu vào tường.

Vương Lệ giữ tay chồng lại. Bôrin vùng vằng, rồi đứng thẳng người, quát to:

- Đồ ngoại tình.

Nàng chưa kịp đáp thì Bôrin xấn tới kéo cái áo nàng rách toạt.

Vương Lệ lùi vào tường, Bôrin rượt theo giựt một cái nữa. Cái xú chiêng ni-lông tuột xuống, để lộ đôi nhũ hoa tròn trịa, phập phồng. Run run, y níu lấy lưng quần nàng, định xé nữa. Song nàng vùng ra kịp, chạy thật nhanh ra xe hơi.

Tới sân, sắp mở cửa xe, nàng sực nhớ ra nửa người trên trần truồng, và chạy lộn vào. Mắt đỏ như tóe máu, Bôrin túm lấy tóc vợ, quật ngã xuống.

Vương Lệ đau ê ẩm cả người. Bôrin xòe bàn tay xương xẩu ra, định bóp cổ nàng, nhưng mắt y lại hoa lên, đầu nhức như búa bổ. Y nằm vật trên sàn gạch hoa, bọt trắng xùi ra mép.

Một niềm thương hại vô biên dân lên trong lòng, Vương Lệ quỳ xuống bên chồng, nước mắt tràn trề. Bôrin ngất đi. Vương Lệ hốt hoảng nắm tóc mai chồng giựt mạnh. Bôrin mở choàng mắt. nhận ra vợ, y ré lên khóc như đứa trẻ. Vương Lệ cũng khóc.

Tiếng khóc của cặp vợ chồng trẻ bất hạnh bi thảm trong tiếng máy phóng thanh vừa cất lên oang oang ở nhà bên.

***

Văn Bình rẽ thật nhanh vào đường Lãn Ông. Hànội đã bắt đầu lên đèn.

Chàng mừng thầm vì dưới ánh đèn phòng thủ thụ động, thành phố Hànội trở nên tối om, sương mù hoàng hôn lại đổ nhiều, đi xa nhau mười thước không nhận rõ mặt.

Sau một ngày tham quan mệt mỏi, hết khu Việt kiều cư trú đến nhà máy dệt kim Đông Xuân, công trình xây cất Ba Đình, phái đoàn trở về Trạm Hàng Mành nghỉ ngơi một lát rồi sửa soạn đi dự tiếp tân, ca nhạc. Nhờ sự thu xếp của Vũ Kính, chàng có thể cáo ốm ở lại, và mọi người vừa lên xe, chàng đã lẻn ra cửa sau - một lối riêng do Vũ Kính chỉ dẫn - trà trộn vào đám người đông đúc đi làm về.

Chàng phục sức giống như người dân Hànội nên không bị để ý. Tuy nhiên, chàng vẫn thận trọng, chốc chốc dừng lại, giả vờ ngắm hànghóa bày trong tủ kính, hoặc đọc một tờ bích chương to tướng, in chữ lòe loẹt dán trên tường, để liếc lại phía sau.

Đến khi biết chắc không bị ai theo, chàng mới lên tàu điện xuống phố Huế.

Qua rạp xi-nê, chàng nhảy xuống, tản bộ sang bên phải rồi đứng đợi dưới một gốc cây lớn.

Một toán công an viên võ trang đạp xe lướt qua. Văn Bình điềm nhiên châm thuốc Salem.

Một cái xe hơi nhỏ sơn đen, cũ kỹ đậu sẵn bên lề đối diện, vặn pha lên, rồi vòng qua đường về phía chàng. Tài xế tắt đèn, phì phèo thuốc lá, trước khi mở cửa xe, cúi xuống nhìn lốp trước dường như để kiểm điểm xem bánh có bị xẹp lốp không.

Đứng cách ba thước, Văn Bình huýt sáo bài "Diệt phát-xít", bài ca thịnh hành năm 1945, hiện được đài bá âm Hànội dùng đoạn đầu làm tín hiệu.

Nghe tiếng huýt sáo, tài xế trèo lên xe. Văn Bình tiến lại gần, và lên tiếng trước:

- Chào anh. Có phải xe hơi của đồng chí Liêm không?

Tài xế - một thanh niên gầy gò, nét mặt lì lợm - ném mẫu thuốc lá xuống đường, đáp:

- Không phải, đây là xe riêng của bác sĩ Minh.

Chẳng nói, chẳng rằng, Văn Bình mở cửa trước, chui vào. Tài xế chìa tay ra bắt:

- Z.62 dặn tôi chờ anh ở đây. Chiếc Moskwich này tuy nhỏ, máy lại rất mạnh. Tôi đã gắn một bình xăng riêng, có thể chạy 150 cây số một giờ. Anh cần tôi đi theo không?

- Không. Cám ơn anh. Anh nói lại giùm với Z.62 rằng, nội đêm nay, tôi sẽ để xe ở vườn hoa Cửa Nam.

- Vâng. Tôi sẽ làm theo ý anh.

- Trong thùng còn bao nhiêu xăng?

- Mới đổ hồi chiều đầy ắp. Ở đây không có cây xăng tư nhân. Phải có phiếu mới mua được. Anh có thể chạy ba trăm cây số mới hết. Ở băng sau, còn hai cái bi-đông, mỗi cái hai chục lít, anh tha hồ dùng. Hànội có ít xe, anh lái chiếc Moskwich này, công an tưởng anh là cán bộ cao cấp, không dám chặn lại xét giấy tờ đâu.

- Số xe thật hay giả?

- Dĩ nhiên là giả. Trong thùng sau, còn có 5 bảng số giả nữa. Anh chỉ bấm một cái nút là tấm bảng tuột ra, thay số chỉ mất ba giây đồng hồ thôi.

- Còn võ khí?

- Dưới chân, gần cái thắng, có một khẩu Nagan. Anh cần gì nữa không?

- Đủ rồi. Chào anh.

Người lạ xuống xe. Văn Bình rồ máy, biến vào bóng tối. Vừa lái, chàng vừa khen thầm tài tổ chức chu đáo của ông Hoàng. Với chiếc Moskwich này, chàng có thể nổ tung Hànội mà địch không tài nào phăng ra thủ phạm.

Mỡi lần công tác ở Hànội, chàng thường bực mình về vấn đề xe cộ. Kiếm được một cái xe hơi riêng là điều rất khó, có lẽ còn khó hơn tư nhân mua máy bay ở Sàigòn. Đến khi xoay được xe rồi, chàng vẫn chưa hết bực mình. Loại xe chế tạo ở Nga Sô rất kém về tốc độ, chàng lại có thói quen phóng nhanh. Ngồi trước vô-lăng, chàng lười gài số một, cho máy nổ từ từ rồi sang số hai, mà là nhảy thót lên số hai, xả hết ga xăng, làm hộp số kêu ken két, như muốn vỡ tung. Hộp số xe hơi Nga cứng đét, lại hay bị hóc, khiến Văn Bình không thể làm trò quỷ quái.

Qua khỏi Chợ Hôm, chàng lái xe qua đường Thái Phiên. Gần đến nơi rồi. Dọc đường, chàng ôn nhẩm lại những việc xảy ra và phải làm.

Cái chết của Sáu Ngọt và Lệ Mai đã được giữ kín hoàn toàn. Vũ Kính thông báo với công an, rạng sáng, trong lúc mọi người đang ngủ say trong phòng, một chiếc xe đen ập tới, một toán người mặc thường phục trèo lên lầu, dưới sự hướng dẫn của Vũ Kính, không gây ra tiếng động khác nào kẻ trộm.

Lên đến nơi, người đi đầu giựt mình, tay che lấy miệng để khỏi bật ra tiếng kêu. Hai cán bộ trung cấp Sáu Ngọt và Lệ Mai nằm trần truồng trong một tư thế dâm dật. Rờ tim, cả hai chết cứng không biết tự bao giờ. Người ta phải gỡ Lệ Mai ra khỏi vòng tay tham lam của gã đàn ông.

Thi thể hai người được gói vào tấm mền mỏng rồi khiêng lén xuống nhà, tống lên xe hơi. Công an không chụp hình, không thẩm cung, cũng không lưu lại trong ngôi nhà quá năm phút đồng hồ. Trước khi ra về, người chỉ huy dặn dò Vũ Kính:

- Phiền quá, tôi không ngờ họ lại đốn mạt đến thế. Lệ Mai đã có vị hôn phu, còn Sáu Ngọt vợ con đề huề. Yêu cầu thiếu tá giấu kín vụ này, không cho phái đoàn kiều bào biết. Tôi sẽ thu xếp riêng với thượng cấp.

Vũ Kính cười thầm. Sáng dậy, chàng nói lại với Văn Bình. Một nhân viên công an đến thay Sáu Ngọt. Văn Bình đi theo phái đoàn thăm viếng trong thành phố.

Chập tối, Vũ Kính đẩy cửa phòng, bước vào, đưa tận tay chàng một cái phong thư nhỏ. Mở ra, chàng thấy một tờ giấy đánh máy. Đó là nguyên văn bức điện ông Hoàng đánh ra Hànội, nhờ Z.62 chuyển cho chàng. Bức điện được viết theo một kiểu mật mã hiểm hóc, chỉ một mình Văn Bình dịch được.

Nội dung bức điện như sau:

"HH gởi Z.62, nhờ chuyển hỏa tốc cho Z.28.

Do một đảng viên nhị trùng, ta đã tiết lộ cho phủ Thủ Tướng Hànội biết là một tài liệu về Ngoại Giao của Phan Mỹ vừa lọt vào tay ta. stop. Việc này sẽ làm Phan Mỹ bị nghi ngờ thêm. stop. Trên thực tế, ta chưa lấy được gì trong văn phòng Phan Mỹ. stop. Z.28 phải đánh cắp nội đêm nay bất cứ tài liệu nào của Phan Mỹ rồi chuyển cho Z.62 hầu Z.62 trao cho đảng viên nhị trùng làm bằng chứng. stop. Cẩn thận. Z.28 có thể bị lộ bất cứ lúc nào. stop. Gặp trường hợp nguy biến, Z.28 hãy tuân theo chỉ thị. stop. Hết."

Bức điện này, Văn Bình đã đốt ra than, ném vào ống nước. Trước giờ lên đường ở Sàigòn, chàng đã được ông Hoàng dặn dò những việc phải làm, tuy nhiên, không hề có việc đánh cắp tài liệu của Phan Mỹ. Có lẽ ông Hoàng đổi một phần kế hoạch để rút ngắn thời gian hoạt động của chàng ở Hànội.

Chàng đã bị lộ, điều đó chàng không lạ gì. Song le, chàng đã loại được Sáu Ngọt và Lệ Mai, hai chướng ngại vật quan trọng. Vậy còn trở lực nào nữa? Còn ai có thể khám phá ra chàng?

Văn Bình tống thêm ga xăng.

Chàng lái vòng quanh một hồi rồi tắt máy. Tứ bề vắng tanh. Chàng đút khẩu súng vào túi, rồi lững thững đi vào bóng đêm dày đặc.

Một tòa nhà lớn sừng sững bên trái, hàng rào thấp, phủ đầy dâm bụt. Nhảy qua tường vốn là biệt tài của chàng, phương chi đây chỉ là một bức tường thấp bằng cây lá, nên chàng không phải vận sức.

Đèn trong vườn tắt hết.

Đây là một ngôi nhà lầu, nằm gọn giữa một khu vườn rộng, gần nơi đóng binh cũ của người Pháp. Văn Bình nhìn kỹ: chiếc xe hơi Tatra xinh xắn trơ vơ trước cửa ga-ra.

Điều này có nghĩa là Nàng ở nhà.

Nàng ở nhà, song còn hắn, hắn đi đâu?

Chắc lưỡi, chàng mở cửa phòng khách, ngang nhiên như chủ nhà.

Cửa sổ đều kéo riềm nên ánh sáng không lọt ra ngoài. Một thiếu phụ, thân hình mảnh mai, ngồi quay lưng lại phía cửa, nên không thấy chàng vào, vả lại, bản lề mở ra rất nhẹ, nhẹ đến niỗi thính tai như chàng cũng không nghe tiếng động nào hết.

Văn Bình rón rén lại gần.

Nàng ngồi bâng khuâng trước tập âm nhạc mở rộng. Ngón tay búp măng của thiếu phụ bắt đầu lượn thoăn thơát trên phím ngà. Tiếng nhạc dìu dặt vang lên.

Văn Bình đặt chân lên cầu thang. Thiếu phụ vẫn say sưa với đàn dương cầm.

Lên tới trên, Văn Bình thấy ba cánh cửa. Vặn cánh cửa thứ nhứt: khóa chặt. Cánh cửa thứ nhì: mở. Bên trong không có người, vì là phòng sách. Cánh thứ ba: buồng ngủ. Trên giường có một người đàn ông quen mặt.

Ông Hoàng đã cho chàng nghiên cứu kỹ lưỡng khôn mặt người lạ trên hàng chục tấm hình khác nhau, và chàng đã khắc sâu vào trí nhớ đôi lông mày thưa, mắt sâu thũng như người mất ngủ kinh niên, xương gò má nhô lên, và yết hầu lộ ra ngoài, báo hiệu chết yểu.

Người lạ đang ngủ say.

Mỉm nụ cười bí mật, Văn Bình tiến tới gần, dơ cao bàn tay, sửa soạn chém xuống.

Phía sau, một giọng nói vang lên:

- Ai đó? Ông định làm gì thế?


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:37 pm

VIII. Một đêm bạc triệu

Văn Bình buông tay xuống, bước tréo sang bên thủ thế. Tiếng nói của người lạ không làm Văn Bình sửng sốt. Chàng đã biết là ai rồi.

Chàng quay lại, mỉm cười:

- Chào cô Vương Lệ.

Vương Lệ chĩa khẩu súng cán ngà xinh xắn vào ngực chàng, đôi môi cong lại, khiến sức thèm muốn tăng lên:

- Ông là ai?

- Tôi là bạn của cô và của Bôrin.

- Tên ông là gì? Ông vào đây đêm hôm với mục đích gì?

- Gớm, cô hỏi nhiều quá. Cô không cho Bôrin ngủ sao?

- Nhà tôi còn ngủ say. Ông là ai? Nếu ông nói thật, miễn cưỡng tôi phải gọi điện thoại cho nhà chức trách.

- Nếu cô quên số giây nói, để tôi nhắc. Số 3070 phải không cô?[32]

Thiếu phụ giựt mình.

Dưới ánh đèn đêm, Văn Bình thấy nàng có bộ ngực và cặp giò tuyệt đẹp. Vẻ mặt khôi ngô và thân hình cân đối của Văn Bình cũng làm nàng xao xuyến không ít.

Tuy nhiên, nàng giựt mình vì chàng vừa nhắc đến số điện thoại 3070. Số điện thoại của Phan Mỹ.

Chàng nhìn vào giữa mắt nàng:

- Bây giờ cô còn muốn gọi điện thoại cho công an nữa không?

Nàng thở dài sườn sượt:

- Ông muốn gì, nói đi. Tại sao ông lại lẻn vào nhà tôi, và ám hại Bôrin?

Chàng đáp:

- Cô lầm rồi. Tôi không định giết Bôrin, mặc dầu Bôrin chết sẽ có lợi nhiều cho cô. Tôi chỉ muốn Bôrin ngủ một giấc dài, để tôi được tự do nói chuyện riêng với bà. Song tôi biết rồi. Tôi biết Bôrin còn lâu mới dậy.

- Tại sao?

- Tại bà đã cho chồng uống thuốc ngủ.

Không hiểu sao Văn Bình lại gọi nàng là bà, sau khi dùng tiếng "cô" ngọt sớt. Tiếng bà có lẽ làm nàng khó chịu. Chàng nói tiếp:

- Nhìn cái miệng, đôi mắt, cách nằm, và nghe hơi thở, tôi biết ngay. Tôi còn ngửi thấy mùi thuốc ngủ nữa. Phải không cô Vương Lệ?

Thiếu phụ đưa móng tay lên miệng cắn, không nói gì hết. Ngón tay của nàng đẹp lạ lùng. Thảo nào nàng học đánh dương cầm, cốt cho đàn ông chiêm ngưỡng mười ngón tay tháp bút, trắng phau phau, không một vết nhăn, không một hột bụi.

Biết tâm trạng nàng đang bấn loạn, Văn Bình giáng thêm một đòn tâm lý nữa:

- Đêm nay, chắc cô bận nhiều nên không cho Bôrin uống bạcbitan, amitan, hoặc evipan[33], vì những thứ thuốc ngủ này chỉ công dụng từ 6 đến 2 giờ thôi, phải không cô? Tôi ngửi thấy một mùi quen quá, thứ thuốc cô cho Bôrin uống, dân anh chị bên Mỹ thường đổ vào rượu để đầu độc nhau.

Vương Lệ hét lên:

- Tôi van ông. Ông muốn gì, nói đi?

Chàng kéo dài giây phút bấn loạn bằng giọng nói từ từ, ngạo nghễ:

- Tôi chẳng muốn gì hết.

- Vậy mời ông ra ngay, tôi bận việc.

- Hừ, cô bận việc nên cho chồng uống hyđờrát cờlo[34].

Giọng nàng run run, chứa đầy sợ sệt:

- Trời, ông là ma xó, cái gì cũng biết.

- Cái mùi hăng hăng ấy, ai chả biết. Tôi còn biết thêm hyđờrát cờlo là một chất màu trắng, dễ trộn với rượu, nhứt là huýt-ky thì người uống không nhận ra được. Trong vòng 15 phút, Bôrin nặng mí mắt, và ngủ lăn ra như khúc gỗ. Vào máu, chất hyđờrát cờlo biến thành thuốc mê, thứ thuốc mê người ta chụp vào mũi bệnh nhân trong phòng mổ ấy mà… Song cô nên thận trọng, vì ưống quá liều, Bôrin có thể đứng tim mà chết.

Nước mắt ràn rụa, nàng lại thét lên:

- Em van ông, em lạy ông, ông làm gì em cũng chịu. Ông đừng đay nghiến em nữa.

Chàng cười nửa miệng:

- Cô nói khẽ chứ. Tuy bị mê, Bôrin có thể bị tiếng ồn đánh thức dậy bất cứ lúc nào. Hyđờrát cờlo khác thuốc ngủ thông thường, cô quên rồi sao?

Nàng rút mù-soa lau mắt:

- Vâng, em mời ông sang phòng bên. Phòng ngủ của em.

Văn Bình thản nhiên bước vào căn phòng bày biện sang trọng: một cái giường thấp trải ga màu hồng, gối thêu một người đàn bà khỏa thân, một cái tủ áo bằng gỗ trắng, hai cái ghế dựa lợp nhung vàng, trên tường treo la liệt chân dung Vương Lệ mặc áo tắm hai mảnh nhỏ xíu.

Nàng ngồi bệt xuống giường:

- Em xin nghe ông.

Văn Bình châm thuốc lá:

- Cô hẹn mấy giờ với Phan Mỹ?

Đột nhiên mặt nàng biến sắc:

- Ông là ai? Ông là nhân viên phủ Thủ Tướng hay là của đại tá Kamốp?

- Yêu cầu cô trả lời tôi. Tôi là ai, cô không cần và không nên biết.

- Em chưa thất thân với Phan Mỹ, xin ông đừng nghi lầm. Giữa Bôrin với em, hố cách biệt đã sâu lắm rồi.

- Cô có hẹn mấy giờ với Phan Mỹ?

Nàng òa lên khóc:

- 8 giờ. Tại sao ông chỉ muốn biết giờ em hẹn mà không chịu tìm hiểu nguyên nhân xa cách giữa em và Bôrin. Vả lại, em cũng chưa hẳn yêu Phan Mỹ.

- Không yêu tại sao lại hẹn?

- Bôrin ghen tuông vô lý, em không chịu được. Bôrin lại….

Nàng lặng thinh. Văn Bình mỉm cười:

- Tôi biết rồi. Bôrin bất lực, không thỏa mãn được đòi hỏi của cô, nên cô tìm đến Phan Mỹ. Nhưng tôi tin rằng Phan Mỹ cũng chưa thỏa mãn được cô. Nói đúng hơn, chưa biết cách.

Nàng rùng mình ớn lạnh.

Văn Bình nghiêm nét mặt:

- Qua 8 giờ rồi, sao chưa đi gặp Phan Mỹ?

- Trưa nay, em cãi lộn với Bôrin. Anh ấy giận em, lên lầu ngủ đến chiều. Em pha thuốc mê cho Bôrin để đi tối cho dễ. Nhưng đến khi thấy chồng ngủ say, em lại hối hận. Em gọi giây nói cho Phan Mỹ khất đến hôm khác.

- Y trả lời ra sao?

- Phan Mỹ cũng bận đến 11 giờ. Anh ấy đòi em phải đi với anh ấy đêm nay.

- Y không sợ Bôrin ư?

- Anh ấy biết chồng em đã ngủ say.

- Y đã đưa hyđờrát cờlo cho cô?

- Vâng.

- Khi nào y đến?

- Sau mười một rưỡi.

Văn Bình lẳng lặng lại bàn, rót đầy hai ly vốt-ka, đưa cho nàng một ly. Chàng cụng ly, giọng thân mật:

- Mời cô uống cạn với tôi.

Nàng uống một hơi hết sạch. Mặt đỏ bừng hơi men, nàng nhắc lại:

- Ông muốn em làm gì?

Văn Bình nói:

- Tôi muốn cô điện thoại cho Phan Mỹ, hẹn gặp tại bộ Ngoại Giao. Trong văn phòng của y.

- Có ông đi cùng không?

- Dĩ nhiên là có, song tôi núp trong thùng xe.

- Trời ơi, em không thể giúp ông giết Phan Mỹ.

- Tôi chỉ nhờ cô đưa tôi lọt lên lầu, qua khỏi các vọng gác.

- Để làm gì?

- Cô tò mò quá. Cô tha hồ hú hí, tôi sẽ đứng ngoài. Khi về, cô lại cho tôi vào thùng xe. Ra đường, ta sẽ từ biệt.

- Thôi tôi hiểu rồi, ông định ăn trộm tài liệu. Ông đừng mong tôi làm đồng lõa trong việc bất nhân ấy.

- Tội chồng chung vợ chạ còn bất nhân hơn nhiều.

- Mời ông ra ngay. Tôi không sợ đâu.

- Ồ, cô đuổi tôi ư? Cô không sợ tôi báo cho Bôrin biết sao?

Nàng cười hiểm độc:

- Mời ông tự tiện. Ông quên tôi là công dân Liên Bang Sô Viết. Chế độ cộng sản cho phép tôi được tự do ly dị.

- Cô muốn thảo luận chủ nghĩa mác-xít nữa ư? Năm 1924, Lênin ra lệnh cấm đa thê, song cộng cuộc tập thể hóa đã làm hàng triệu gia đình tan vỡ nên sau khi Lênin chết, đạo luật hôn phối 1927 cho phép tự do ly dị. Chồng muốn bỏ vợ chỉ cần báo tin cho sở hộ tịch là được ăn ở với người đàn bà khác. Vợ cũng vậy, người vợ có quyền ngủ với nhân tình và tự do bỏ chồng.

- Ông nói đúng đấy. Tôi sẽ dựa vào luật 1927 để bỏ Bôrin.

- Cô còn quên đạo luật 1936 của Sít-ta-lin. Luật này chỉ cho phép ly hôn nếu hai bên thỏa thuận. Luật 1944 còn nghiệt ngã hơn, ai muốn ly dị phải ta tòa án nhân dân, và nộp phạt hai ngàn rúp, một số tiền khá lớn.

- Đối với tôi, hai ngàn rúp không có nghĩa gì.

- Nhưng chồng cô sẽ không thỏa thuận ly dị.

- Phan Mỹ có nhiều thế lực hơn Bôrin. Và tôi sẽ được thỏa mãn.

- Vương Lệ, cô gan thật. Song tôi có thể báo tin cho vợ Phan Mỹ biết nữa.

- Càng tốt. Tôi càng được ăn ở dễ hơn với Phan Mỹ.

Văn Bình trợn mắt:

- Cô là một con hồ ly.

Vương Lệ nhún vai:

- Còn ông, ông là quỉ sứ.

Chàng điềm nhiên dứng dậy:

- Chào cô, tôi đi đây

Vương Lệ không thèm để ý đến thái độ bỡn cợt của chàng. Nàng chỉ mong chàng đi cho rảnh mắt. Ra đến cửa, chàng quay lại:

- Chào cô nhé. À, còn điều này nữa, quên mất. Côrê có lời hỏi thăm cô.

Chàng khép cửa từ từ. Quả chàng đoán đúng, Vương Lệ chồm lên, hỏi gấp:

- Côrê? Côrê? Ông là bạn của Côrê phải không? Trời ơi!

Côrê là một thanh niên Đông Đức, làm gián điệp cho Tây phương, đã trốn sang Mỹ năm 1959 một năm trước khi Vương Lệ thành hôn với Bôrin ở Mạc tư khoa.

Côrê là một trong những người yêu lạ lùng của nàng. Văn Bình rút ví đưa cho nàng tấm hình. Nàng cầm lấy, mặt tái không còn hột máu.

Tấm hình chụp một lũ nam nử trần như nhộng bên cạnh đống chai ly lổn nhổn. Trong hình Vương Lệ đứng cạnh Côrê. Người đàn ồng ôm ngang lưng nàng, trong một cử chỉ vô cùng dâm dật.

Nàng buông mình xuống nệm, nước mắt lại trào ra. Trong một giây đông hồ, nàng nhớ lại rõ rệt những đêm vui thú với Côrê và bè bạn trong một cái hầm rượu bỏ trống ở Đông Bá linh.

Hồi ấy, nàng là sinh viên trường Hành chính Phong trào bit-ních[35] lan rộng trong giới sinh viên. Nàng gặp Côrê trong một tiệc rượu bí mật đo đám sinh viên hưởng lạc trong trường tổ chức.

Côrê là sinh viên thật đẹp trai, nhiêu tiền, và lịch lãm. Nàng yêu y liền. Y dẫn nàng tới những cuộc vui khác.

Nơi nàng thường đến mỗi đêm là cái hầm rộng mênh mang của một tòa nhà cũ bị oanh tạc trong thế chiến còn bỏ hoang.

Bên trên, cửa hầm được chấn bằng một phiến bê tông lớn. Ban đêm, cả bọn hì hục khuân phiến bê tông sang bên. Một cánh cửa gỗ lợp cao su được gắn vào để che ánh sáng và ngăn tiếng động.

Cái hầm ở trong một khu vực vắng vẻ, không canh gác, nên cả bọn tha hồ truy hoan.

Tổng cộng 15 sinh viên, 5 nam, 10 nữ. Muốn nhập bọn, trai phải nuôi tóc dài đến gáy, hoặc cắt lởm chởm như tù nhân, áo quần sặc sỡ, quần chật ống, áo bờ lu dông da đen đánh bóng loáng, khóa thắt lưng to tướng bằng sắt, giầy nhọn đóng cá, mắt đeo kiếng đen ngày cũng như đêm, còn gái thì tóc xõa không uốn, có đứa dài quá mông, áo len chật, quần din, môi thoa son đỏ chót, quầng mắt vẽ tím, lông mi giả dài thườn thượt, quần phu la trắng.

Cả bọn lần lượt đến hầm, đồ ăn, thức uống được lo liệu từ trước. Côrê có biệt tài xoay sở: phải tháo vát lắm mời tìm được, hộp cá khoanh dăm bông, chai vốt-ka ở Đông-bá-linh, thế mà Côrê lại có đầy đủ, nhiều khi thừa nữa.

Mỗi lần đi "bum", Côrê mang tới hàng kilô dăm bông loại tốt nhứt, hàng chục chai rượu mạnh, hàng tút thuốc lá thơm. Mãi sau này, Côrê bỏ trốn, Vương Lệ mới biết y là gián điệp Tây phương.

Việc đầu tiên khi xuống hầm, đóng cửa lại, là lột bỏ hết quần áo. Đêm thứ nhứt, nàng thẹn thò còn e ấp chiếc áo tắm hai mảnh màu đen. Bọn con trai ùa lại giựt xuống và xé nát.

Trai gái trần truồng ôm nhau nhảy cuồng loạn theo nhịp điệu man rợ của những đĩa hát lạ lùng do Côrê mang tới.

Nhảy chán rồi ăn, rồi uống. Uống say mèm lại ôm nhau nhảy. Dưới ánh sáng lung linh của ba ngọn bạch lạp, cả bọn quên hết thực tại. Trai thiếu gái thừa nên con gái thường nhảy với nhau.

Quá nửa đêm, cả bọn mệt nhoài, nằm sóng sượt trên, sàn hầm, tha hồ ân ái.

Bọn họ yêu nhau không lựa chọn, may ai thì được, nhiều khi trách nhau, bọn gái cấu xé và chửi rủa như lính lê dương trong các cuộc hành quân trừng phạt ở thuộc địa.

Vương Lệ đã chụp hình trần truồng với đám trai gái khát tình trong hầm. Và bức ảnh kinh tởm đang nằm trong tay nàng.

Nàng ngó Văn Bình, cặp mắt van lơn:

- Anh là bạn của Côrê phải không? Bây giờ Côrê ở đâu?

Chàng đáp:

- Côrê đang ở Pháp. Côrê dặn tôi đến tìm em. Cố nhiên, em không bao giờ muốn tấm hình này lọt vào tay công an Hànội. Thật ra, tôi không có ý hại em, mà chỉ xin được điều đình với em. Mặt khác, tôi còn có thể giúp em sống lại những phút thần tiên như hồi với Côrê.

Vương Lệ buông tấm ảnh xuống, chống tay lên nệm, nhìn chàng trân trân. Mỉm cười bí mật, chàng tát một cái. Nàng ngã lộn nhào, năm ngón tay in rõ trên má. Nàng thét đau đớn:

- Trời ơi, sao ông đánh em?

Chàng nắm cánh tay nàng, kéo giựt lại trong một cữ chỉ tàn bạo. Rồi hôn thật mạnh vào môi. Nàng dãy dụa rồi nhũn người ra. Chàng nghe rõ tiếng rên nho nhỏ của nàng.

Song chàng đã xô thiếu phụ xuống và tát thêm cái nữa. Tiếng rên của nàng trở nên to hơn. Văn Bình nhìn quanh quất, thấy gần bàn phấn một cái phất trần.

Vương Lệ nằm ngửa dưới đất, mắt mở lớn, toàn thân không động đậy.

Văn Bình dơ cao phất trần, song không vụt xuống. Đột nhiên, nàng rên rỉ:

- Đánh em đi, đánh em đi, anh ơi!

Chàng tứm lấy vạt áo, xé ngược lên, nửa thân trên hiện ra lồ lộ. Bộ ngực của Vương Lệ nhỏ nhắn nhưng rắn chắc. Bụng nàng lép kẹp, không một vết nhăn.

Chàng đánh tréo xuống. Một vệt đỏ nằm ngang trên vú. Thiếu phụ la lên:

- Đau quá, trời ơi, sướng quá! Sướng quá, anh đánh thêm nữa, thêm nữa.

Văn Bình tuột hết quần áo của nàng, lật nàng nằm nghiêng, quất liên tiếp vào mông.

Vút, vút, trên chục ngọn roi giáng xuống, một bên đít bị tóe máu. Nàng không còn kêu đau nữa, chỉ rên khừ khừ. Rồi lồm cồm bò dậy, nhào vào người Văn Bình:

- Anh ơi, anh ơi, em yêu anh lắm, anh ơi! Trời ơi, năm sáu năm nay mới có một người hiểu được lòng em….

Văn Bình lấy gót chân tắt ngọn đèn đêm. Căn phòng chìm trong bóng tối.

Phía dưới, thiếu phụ rên như sắp nghẹt thở. Tâm trí chàng vẩn sáng suốt. Chàng ân ái với thiếu phụ một cách thản nhiên, như người lực sĩ rướn mình chạy nhanh tới đích.

Trước khi ra Hànội, chàng đã nghiên cứu đời tư, nhứt là đời tình của Vương Lệ.

Nàng lao đầu vào cuộc sống cuồng dâm với Côrê hồi còn đi học, vì Côrê đã khám phá ra bí mật của nàng. Không hiểu vì một lệch lạc thần kinh nào, nàng mắc bệnh masôsít[36] - một biến thái về tình dục, có bị hành hạ đau đớn thân thể thì mới hưởng lạc được - và Côrê đã dùng roi da đánh nàng trong mỗi cuộc truy hoan.

Vương Lệ ôm cứng lấy chàng, như sợ chàng biến mất:

- Anh ơi, anh là ai? Chưa bao giờ em được như đêm nay.

Văn Bình ghé miệng vào tai nàng:

- Em chịu đưa anh tới bộ Ngoại Giao không?

- Anh muốn gì, em cũng bằng lòng. Em không yêu Phan Mỹ đâu, y ghê tởm lắm.

- Còn anh?

- Đêm nay, anh phải ở lại với em.

Vương Lệ đứng lên, lấy khăn lông quấn quanh người, cầm điện thoại. Giọng rè rè của Phan Mỹ vẳng ra:

- Em đấy à? Bây giờ mới mười giờ rưỡi. Trong vòng một giờ nữa, anh tới. Hắn ngủ say rồi chứ?

- Rồi. Em muốn tới bộ, tiện hơn.

Phan Mỹ suy nghĩ một giây. Rồi đáp:

- Càng hay. Để anh dặn lính gác đưa em lên phòng.

- Không. Anh cho chúng nó về đi.

- Về cả sao được. Nhỡ đứa nào ám sát anh thì sao? Lại còn tài liệu của bộ nữa. Thôi được, nếu em muốn, anh đuổi bọn gác ra ngoài cổng hết. Em lái xe vào sân sau. Anh sẽ tắt đèn ở cầu thang, em lên gác khỏi ai nhìn thấy.

Vương Lệ quay lại nhìn Văn Bình vẻ mặt kiêu hãnh. Ái ngại, chàng vuốt ve bộ ngực của nàng bị phất trần để lại những vết đỏ chằng chịt. Nàng mỉm cười:

- Không hề gì đâu. Thịt em lành lắm, chỉ tắm nước nóng một lần là lặn hết.

Văn Bình chỉ sợ nàng vặn hỏi tông tích, song nàng đã mở tủ lấy áo, mặc vào. Nhìn đồng hồ, nàng nói:

- Đi chứ anh.

Nàng hôn chàng vào má, rồi dắt xuống gác. Chàng biết đã chinh phục được nàng. Bọn masôsít có thể quỳ mọp trên đất, van xin tình yêu nếu gặp người nắm được yếu điểm. Đã lâu Vương Lệ xa Côrê. Đã lâu nàng như đứa trẻ bị bỏ đói, chợt thấy gói kẹo bèn vồ lấy, nhai nuốt vội vàng.

Chàng bỗng thương hại Bôrin và Smerch. Nếu tướng G. của Smerch khám phá ra dĩ vãng của Vương Lệ. Bôrin sẽ không được thành hôn với nàng. Dục tình biến thái là mối nguy lớn nhứt trong nghề điệp báo. Một đại tá Áo, giám đốc Phản Gián, trở thành phản quốc, làm giám đốc cho Nga vì mắc bệnh đồng tính ái, lỡ yêu một thiếu niên 16 tuổi. Hai nhà toán học Mỹ trốn sang Mạc-tư-khoa với nhiều bí mật quốc phòng cũng do dục tình biến thái mà ra.[37]

Thật ra, Côrê, tình nhân của Vương Lệ, không phải là gián điệp thật thụ của Tây phương. Tình cờ C.I.A. phăng ra Côra và đám sinh viên hưởng lạc. Kết quả là Côrê ăn cắp tài liệu trao cho C.I.A..

Khi sắp bại lộ, y trốn sang Tây-bá-linh, nhà chức trách cộng sản mở cuộc điều tra, song không tìm ra manh mối. Vương Lệ thoát nạn, sang Nga học lớp tu nghiệp rồi gặp Bôrin.

Chiếc Tatra nhỏ xíu, chàng phải nằm cong queo nắp thùng xe mới sập xuống được. Cho chàng được thoáng khí và có chỗ cử động. Vương Lệ nhích băng sau ra phía trước. Sự đụng chạm xác thịt đã làm nàng vui như chim sơn ca, và trò chuyện với chàng thân mật như đã yêu nhau từ lâu lắm.

Lái xe từ từ ra đường, nàng đùa với chàng:

- Anh dễ tin thật. Em phản thùng, nộp anh cho công an thì sao?

Chàng cười ròn rã:

- Đánh cuộc ngàn ăn một với em, anh cũng không dám phản thùng. Giữa hai đứa mình đã có nhiều sự liên hệ, nhứt là liên hệ xác thịt. Anh bị bắt bị giết, ai sẽ mơn trớn em?

Nàng rùng mình, ớn lạnh.

Chàng nói đúng. Nếu chàng không còn nữa, không biết nàng sẽ ra sao. Có lẽ nàng chết dần chết mòn trong cô độc và lạnh lẽo. Bôrin bất lực đã đành, Phan Mỹ cũng chưa hiểu nàng và trong tương lai khó tìm ra một người đàn ông tế nhị, khôn ngoan và tài ba như chàng.

Vương Lệ dừng xe, lái qua vọng gác. Tiếng người lính cất lên:

- Ai đó?

Nàng đáp, giọng hách dịch:

- Tôi đây.

Nhận ra nàng, người gác tháo sợi xích chắn ngang cổng sắt, và mở rộng cửa.

Nàng phóng thẳng vào trong, và theo lời dặn của Phan Mỹ, nàng đậu ở sân sau, gần cầu thang.

Ngọn đèn dưới ban-công đã tắt. Phan Mỹ đã giữ đúng lời hứa. Chắc không phải lần đầu y hẹn đàn bà tới phòng.

Trông tứ phía không có ai, Vương Lệ gõ nhẹ vào thùng xe. Văn Bình đẩy lên, rồi lăn mình nhảy xuống, nhẹ như lá rụng. Cầu thang tối om, nàng đi trước, Văn Bình cách sau ba bước.

Từ trên, Phan Mỹ hỏi vọng xuống:

- Lệ phải không?

Nàng đáp:

- Thưa anh, em đây.

Đèn bên trên bật sáng, Văn Bình phải nép sang bên cho Phan Mỹ khỏi nhìn thấy. Cũng may, giá một người gác nào đi vào, chàng sẽ bị lộ và mất mạng như chơi.

Phan Mỹ uống rượu mặt đỏ gay. Y nắm tay Vương Lệ kéo lên. Nàng nhõng nhẻo:

- Chết, sao lại vặn đèn?

Vừa nói, nàng vừa tắt đèn. Văn Bình mừng thầm. Vương Lệ đã tỏ ra trung thành với chàng.

Thế mới biết, xác thịt mạnh thật. Trong 15 phút, chàng đã phá vỡ được phòng tuyến kiên cố nhứt của địch.

Phan Mỹ đóng cửa, giọng âu yếm:

- Trời đêm nay lạnh ghê! Có em bên cạnh, anh ấm hẳn lên.

Phan Mỹ vén tấm riềm ngăn văn phòng làm đôi sang bên, để lộ một cái giường trải ga trắng toát. Y ngồi xuống ghế, giọng nói sặc sụa rượu vốt-ka:

- Em uống với anh một ly nhé.

Sau cuộc ân ái, trong lòng lành lạnh, nàng bỗng thèm rượu hơn bao giờ hết.

Nàng uống một hơi ba ly đầy ắp. Rượu vào, má nàng đỏ hây hây như cô gái đêm động phòng hoa chúc. Phan Mỹ ngây người ngắm nàng.

Nàng ngồi xuống giường, cử chỉ ngượng nghịu. Phan Mỹ ôm bừa lấy nàng, và xô đầu nàng xuống gối. Những lần khác, nàng kháng cự quyết liệt, song lần này nàng để yên, hai tay buông thõng, mắt lim dim. Tâm trí nàng đang tơ tưởng tới chàng thanh niên cường tráng, khôi ngô vừa mang nàng vào động Thiên Thai.

Nàng cũng nhớ đến lời dặn của chàng: Phải hết sức chiều chuộng con yêu râu xanh Phan Mỹ, phải làm cách nào cho hắn mê mệt.

Phan Mỹ cọ râu vào má nàng, giọng say đắm:

- Lệ ơi, anh yêu em nhứt đời. Em yêu anh không?

Câu tỏ tình khách sáo này, y đã nhắc lại cả trăm lần trên cái giường lò so êm ái. Nàng không đáp lại vì tai nàng đã ù, nàng chẳng nghe gì hết. Tưởng nàng bằng lòng, Phan Mỹ giựt phăng cúc áo của nàng.

Đột nhiên nàng choàng dậy.

Một luồng khí lạnh rợn người chạy khắp xương sống nàng. Ái ân thiếu hành hạ bằng roi vọt đối với nàng là một sự thất bại ê chề. Vì kỷ luật, nàng đã kéo dài sự thất bại ê chề trong 5 năm dài đăng đẳng với thiếu tá Bôrin.

Nàng nói, giọng lạnh lùng:

- Tắt đèn đi anh.

Căn phòng tối om, tiếng máy điều hòa khí hậu chạy rè rè.

Vương Lệ không để ý tới thân thể đang bị Phan Mỹ dầy vò. Nàng đã quên hẳn tiếng thở hổn hển của gã đàn ông thèm khát. Nàng lại nghĩ đến chàng. Tên chàng là gì, nàng chưa hỏi. Chàng ở đâu, làm gì, nàng cũng chưa biết.

Vả lại, nàng không quan tâm đến hoạt động của chàng. Nàng không nên tò mò, vì biết rõ thêm hại.

Nàng là đảng viên cộng sản, song gần như bị bỏ rơi. Giả sử nàng là người khác thì những mảnh bằng chuyên môn cao cấp ở Đông-bá-linh và Mạc-tư-khoa đã nâng nàng lên địa vị chủ sự hoặc trưởng ban. Song nàng vẫn giữ chức thư ký tầm thường.

Sự lãnh đạm của Đảng đối với nàng cho phép nàng được lãnh đạm lại. Nàng không thiết tha tới Đảng, tới chế độ.

Nàng cũng không thiết tha tới sự tranh chấp thường xuyên giữa các cơ quan ở Hànội. Chàng là nhân viên phủ Thủ Tướng, nhân viên Smerch, hay là nhân viên C.I.A. nữa, chi tiết ấy không can dự đến nàng.

Nàng chỉ cần yêu, yêu đúng phương pháp, đúng theo đòi hỏi của sinh lý. Chàng đã biết cách thỏa mãn nàng. Đối với nàng, chàng là Đảng, là vũ trụ, là Thượng Đế.

Vương Lệ thở dài.

Phan Mỹ sửng sốt:

- Kìa, đang yêu anh, sao lại thở dài?

- Thế à? Em thở dài à anh?

Như kẻ mất hồn, nàng thở dài mà không biết. Nàng biết thành viên bột vô tri giác, ai muốn nắn bóp, nhào nặn ra sao tùy thích.

Bỗng Phan Mỹ kêu lên:

- Lạ nhỉ, sao em lạnh thế này?

Nàng đáp cộc lốc:

- Em vẫn lạnh.

Ở phòng ngoài, Văn Bình bàng hoàng. Lúc nàng yêu cầu tắt đèn cũng là lúc chàng lén mở cửa. Một phút sau, chàng đã chế ngự được ổ khóa tối tân và bước vào, đặt chân lên tấm thảm cói êm ái.

Chàng định thần một lát trước khi tiến lên. Sở dĩ chàng dè dặt, vì rút kinh nghiệm các ổ khóa cửa thường được gắn liền với một cơ quan bắn đạn tự động. Người lạ chạm vào ổ khóa sẽ làm khẩu súng máy nổ cò.

Vào được trong rồi, chàng nằm rạp sát đất một lúc.

Ngoài bộ phận súng máy bí mật, căn phòng các thủ lãnh gián điệp còn được trang bị một "con mắt thần" đặc biệt. Con mắt này là một ống ảnh điện tử, dùng tia hồng ngoại có thể chụp được mọi vật cử động trong phòng, ban ngày cũng như ban đêm.

Chàng bớt băn khoăn vì Phan Mỹ không thể không đóng "mắt thần" trước khi tiếp đón người đẹp.

Chàng lia cái đèn bấm nhỏ như bút máy lên bàn.

Giấy tờ bừa bộn, hồ sơ chồng cao đầu người, một dãy điện thoại. Văn Bình không mó tới đồ đạc trên bàn giấy. Lát nữa, sau cuộc truy hoan, trở lại công việc. Phan Mỹ sẽ khám phá ra tài liệu bị mất.

Chuông điện thoại reo. Phan Mỹ càu nhàu:

- Hừ, giờ này còn kêu. À, không khéo tòa đại sứ Trung quốc gọi anh. Em chờ anh một phút được không?

Giọng Vương Lệ sắc như dao cạo:

- Trên thế giới, có lẽ anh là người đàn ông đầu tiên phũ phàng với đàn bà. Trong lúc này, bom nổ trên mái nhà cũng mặc kệ, huống hồ một cú điện thoại. Nếu anh coi em là cái máy ân ái thì mời anh ngồi dậy nghe tòa đại sứ của anh. Bằng không….

- Thì thôi. Anh thử lòng em, em phản đối là đúng.

Vương Lệ cười dòn tan:

- Giá có kẻ gian nào lợi dụng anh hú hí với em lẻn vào phòng giấy ăn cắp tài liệu thì sao?

- Kẻ gian nào lọt được trong bộ Ngoại Giao! Tường cao quá đầu người, đêm ngày đều có giây kẽm truyền điện 220 vôn, đụng phải bổ ngữa, chân tường bên trong lại được chôn mìn, bước vào là tan xác. Nghĩa là muốn đột nhập, phải qua cổng lớn, và cổng này được canh gác nghiêm mật. Bốn người thường trực ngoài cổng, cộng với sáu người đi tuần quanh hàng rào là mười. Mười khẩu tiểu liên K-50 với ba chục bì đạn, 20 lựu đạn, hai chục khẩu súng lục chưa đủ bảo vệ hay sao?

- Nhưng nếu kẻ gian lọt nổi vào đây thì sao?

Phan Mỹ cười hô hố:

- Lọt vào cách nào được? Trừ phi em giấu người trong thùng xe.

Nàng lại đùa dai thêm nữa:

- Anh đoán đúng đấy. Em đã chở lén một người trong thùng xe.

Phan Mỹ chậc một cái. Cứ bỡn cợt mãi. Hôn anh đi. Ôm chặc lấy anh.

Hoản hồn, Văn Bình chiếu đèn bấm lên tủ đựng hồ sơ. Chàng không sợ Phan Mỹ. Năm người lực lưỡng hơn y, chàng cũng đánh ngã như chơi. Chàng chỉ sợ lộ chuyện, phải ra tay hạ Phan Mỹ, làm kế hoạch mà ông Hoàng lao tâm khổ trí chuẩn bị, bị thất bại.

Tia đèn bấm của chàng không thể lọt vào giường phía trong, vì ngoài tấm màn dày cộm, còn một tủ áo đồ sộ nữa. Chắc Phan Mỹ đã ngăn đôi một cách chu đáo để được ấm cúng và tự do vói người đẹp.

Đây là một loại tủ sắt, gồm nhiều ô kéo, khóa cái trên là mọi ô khóa khác đều đóng chặt. Chàng hân hoan vì cC.I.A. khóa còn nằm trong ổ. Có lẽ Phan Mỹ đang bận xem hồ sơ thì Vương Lệ vào.

Ngăn kéo tuột ra từ từ. Dưới ánh đèn màu xanh, Văn Bình suýt reo lên. Chàng đọc thấy một hàng chữ lớn viết trên bia cứng, bên trong chứa tài liệu: "nhận xét về các giàn tên lửa Sam II của Liên Sô tại nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Theo nguyên tắc do thám, chàng phải chụp lại rồi cất hồ sơ vào chỗ cũ. Song thời giờ gấp rút, chàng đành rút luôn tập tài liệu mật, gập đôi lại, nhét vào túi quần sau.

Chàng rón thêm một tập hồ sơ về "những khuyết điểm của nền tình báo Sô Viết" mở áo ra bỏ dưới thắt lưng. Tủ sắt của Phan Mỹ gồm toàn tài liệu liên quan tới hoạt động của Nga Sô tại Bắc Việt, chứng tỏ y có liên quan mật thiết với sứ quán Trung cộng, và ngập đến cổ vào cuộc tranh chấp Nga-Hoa.

Chàng định mở coi một số hồ sơ khác, song Phan Mỹ đã la lên:

- Kìa, người em lạnh quá! Lạ nhỉ, sao em lại xô anh ra thế này?

Tiếng Vương Lệ trở nên gay gắt:

- Chiều chuộng đến thế, anh vẫn chưa bằng lòng sao? Nếu vậy thì thôi, em về đây.

Văn Bình nghe rõ tiếng cây thịt của gã đàn ông bị hất xuống giường, lò xo kêu ọt ẹt, rồi tiếng người đàn bà ngồi vụt dậy, bất thần vặn đèn lên.

Vương Lệ đã quên lời chàng dặn.

Lúc ngồi trên xe, chàng đã ân cần dặn nàng cố thủ trong 15 phút, và khi nào nghe tiếng chuột rúc hãy bật đèn, đòi về. Có lẽ những cữ chỉ âu yếm không đúng chỗ của Phan Mỹ làm nàng nhột nhạt và bực bội. Cũng có lẽ nàng giận chàng. Nàng không phải là con điếm để chàng ép nằm với khách. Trong cơn tủi nhục, nàng cảm thấy tức tối, hất hủi Phan Mỹ để xuống nhà mắng Văn Bình một trận.

Nhanh như cắt, chàng lùi ra cửa, mở cửa nhẹ nhàng.

Không quen vị trí đồ đạc, chàng vướng một quyển sách, rơi xuống thảm kêu bộp một tiếng.

Bản năng gián điệp chuyên nghiệp thức dậy trong trí Phan Mỹ. Y la to:

- Ai đó?

Sực nhớ đến người bạn trai ở ngoài, Vương Lệ càu nhàu:

- Chuột chứ còn ai nữa.

Phan Mỹ gắt:

- Phòng này gắn máy lạnh, cửa đóng kín, chuột vào sao được. Không khéo….

Nàng đột ngột tắt đèn, Phan Mỹ lại bật lên. Nàng sẵn giọng:

- Anh chưa chán hay sao mà cứ vặn đèn lên ngắm mãi. Tắt đi cho em mặc quần áo. Trần truồng trước mặt người lạ, em xấu hổ lắm.

Phan Mỹ ngoái tay xuống gầm giường vớ khẩu súng, lên đạn đánh soạch. Nàng thét lớn:

- Anh giết em ư?

Y khua chân tìm giày:

- Không. Anh phải ra ngoài, khóa tủ đựng hồ sơ. Mất tài liệu thì chết.

Nàng vùng dậy, nắm lấy cánh tay đầy bồ hôi của Phan Mỹ:

- Mặc quần áo vào đã. Lính gác trông thấy, em còn thể thống nào nữa.

Kế mọn của nàng đã giúp Văn Bình thoát hiểm. Ra ngoài hành lang, chàng nhẹ nhàng khóa cửa lại.

Phan Mỹ bấm một cái nút riêng, mọi ngọn đèn trong phòng vụt sáng.

Cái quần đùi cũn cỡn màu xanh sọc trắng che đôi chân mập, sần sùi đầy lông lá, dưới cái bụng bự, mỡ nhày nhèo, tạo cho viên trưởng ban tình báo một phong cách trào lộng.

Y cầm súng chạy ra. Vương Lệ tất tả theo sau.

Không thấy ai, nàng mới hoàn hồn và ngồi xuống ghế, nâng chai vốt-ka lên miệng tu ừng ực.

Phan Mỹ đẩy ngăn kéo tủ sắt vào, rút chìa khóa ra. Uống xong, nàng quay lại:

- Rõ báo hoảng. Anh làm em suýt hụt hơi.

Phan Mỹ cười chữa thẹn:

- Thôi, anh đền thêm cho.

Nàng lắc đầu:

- Em phải về. Khất anh lần khác. Bôrin sắp dậy rồi.

Liếm mép tiếc rẻ, Phan Mỹ nói:

- Để anh đưa em xuống.

Văn Bình đi men dọc hành lang tối om.

Đột nhiên, một cánh cửa mở tung, đèn sáng quắc, một gã đàn ông lực lưỡng xách tiểu liên ở trong bước ra, nện giầy cồm cộp.

Thấy chàng, y dừng lại, miệng há hốc. Chàng tiến tới, giọng thân mật:

- Chào đồng chí.

Khi ấy, y nhận ra chàng là người lạ nên lùi lại, giơ họng súng lên.

Chàng không ngờ bị xô vào một tình trạng tiến thoái lưỡng nan.

Giết tên cầm súng là chuyện dễ, song giết y, Phan Mỹ sẽ phăng ra. Tha y cũng không được. Chàng đành phóng ra ngọn atêmi quen thuộc. Tên cầm súng bị tấn công bất ngờ, không kịp tránh, bị ngón đòn quái ác chém vào cuống họng.

Y ngã chúi vào trong phòng.

Chàng rượt theo, đá thật mạnh vào tim. Y nằm thẳng đơ trên sàn gạch hoa. Chàng khiêng xác y vào buồng tắm, ngẫm nghĩ một giây, đoạt rút giây lưng nạn nhân, chế thành sợi thòng lọng. Sáng mai, người ta sẽ khám phá ra một vụ tự tử.

Chàng hy vọng nạn nhân không bị giải phẫu, vì y sĩ sẽ tìm ra nguyên nhân: y thiệt mạng trước khi đút đầu vào thòng lọng. Sợ liên lụy đến Vương Lệ, chắc hẳn Phan Mỹ sẽ giấu nhẹm vụ này.

Chàng phóng mình xuống cầu thang vừa lúc tiếng giầy cao gót của Vương Lệ từ phía sau vẳng tới.

Bên dưới, đèn điện vẫn tắt, theo lệnh Phan Mỹ.

Chiếv Tatra nằm sát bực cấp, chàng mở "cốp" chui vào, nằm khoanh tròn.

Phan Mỹ đưa nàng tới tận xe. Y hôn phớt vào má nàng:

- Mai nhé.

Nàng nhún vai:

- Nếu Bôrin ngủ say như đêm nay.

- Anh sẽ đưa em một viên thuốc mạnh hơn. Ngủ ít nhất 12 tiếng đồng hồ.

Nằm trong thùng xe, Văn Bình nghe rõ hai người hôn nhau chùn chụt.

Bỗng Vương Lệ nói đùa:

- Anh mở thùng xe xem em chở lậu kẻ gian nào không?

Phan Mỹ cười:

- Em cứ bông đùa mãi.

Y ngừng bặt, rồi đổi giọng:

- Ừ, em nói đúng. Biết đâu kẻ gian chẳng lợi dụng, chui vào xe em, lẻn lên văn phòng anh. Để anh gọi lính gác tới.

Y quay ra sân gọi lớn:

- Lính đâu.

Hai tên vệ sĩ mặc đồ kaki vàng sồng sộc chạy tới. Một tên đứng nghiêm:

- Thưa, ông kêu chúng em.

Vương Lệ kéo tay Phan Mỹ, hờn dỗi:

- Anh nghi em tư thông với địch hẳn? Thôi, tình nghĩa đôi ta đến đây là dứt. Chìa khóa "cốp" đây, anh đưa cho bọn vệ sĩ.

Phan Mỹ chết điếng người. Y tần ngần giây lâu rồi xua tay:

- Anh không cần các em nữa.

Vương Lệ nổ máy. Nằm trong thùng xe, Văn Bình cất khẩu súng vào túi dưới nách. Chỉ một tí nữa là hỏng bét. Đàn bà đáng sợ thật!

Xe chạy được một quãng, nàng quay lại:

- Xong rồi, anh xô cái băng sau mà ra.

Ngồi yên vị, Văn Bình trách:

- Gớm, em làm máu anh đông lại. Suýt nữa thì mất mạng.

Nàng trề môi:

- Ồ, còn em đấy, ai dám mở thùng xe.

Ban đêm, đường phố Hànội vắng ngắt như chùa Bà Đanh.

Ngọn gió lạnh từ sông Hồng thổi lại, giựt hàng loạt lá vàng ném xuống mặt lộ, bánh xe nghiến xào xạt.

Vương Lệ gạt mớ tóc lòa xòa trên trán:

- Đêm nay, anh về đâu?

- Em thả anh xuống gần nhà em.

- Bap giờ chúng mình gặp nhau?

- Nếu có thể, đêm mai.

- Anh đến với em nhé. Đừng bắt em nằm một mình tội nghiệp. Em không biết anh là ai, song có cảm tình đặc biệt với anh. Anh muốn em làm gì, em cũng tuân theo. Em muốn đi trốn với anh, anh bằng lòng không?

- Thong thả. Anh còn vài việc phải lo.

Chàng định nói thêm, song lại ngậm miệng sững sờ.

Qua kiếng hậu, chàng thấy một cái vét-pa phóng vùn vụt. Lúc rời bộ Ngoại Giao, chàng cũng thấy cái vét-pa ấy.

Nàng hỏi:

- Anh nghĩ gì thế?

- Không. Dường như có ai theo sau.

- Anh đừng sợ. Xe Tatra của em chạy nhanh lắm. Em sẽ cho họ ăn bụi.

- Có phải Phan Mỹ cho nhân viên theo dò không?

- Em không rõ. Có lẽ là Phan Mỹ, cũng có thể là người khác. Đại tá Kamốp của cơ quan Smerch chẳng hạn. Còn anh? Anh chống Phan Mỹ, em biết rồi, song anh cũng chẳng ưa gì Kamốp, đúng không?

- Đúng.

Nàng thở dài:

- Anh là ai?

Chàng thở dài theo:

- Rồi em sẽ biết. Hiện giờ, anh chưa muốn nói. Em có thể tin chắc một điều: anh không hại em đâu.

- Em hiểu lắm. Nhưng dầu anh giết em nữa, em cũng không nuối tiếc. Gần anh một đêm, em thấy hạnh phúc hơn 5 năm sống với Bôrin.

Chiếc vét-pa phóng đến gần xe hơi.

Trời quá tối. Văn Bình không nhận được mặt người ngồi vét-pa. Cả thảy hai người. Họ đều cao lớn lực lưỡng.

- Em chạy nhanh thêm nhé.

Nàng tống hết ga, trong khoảnh khắc, kim tốc độ vượt qua con số 100. Chiếc vét-pa mất hút. Nàng chạy chậm lại, một phút sau, hai người lạ mặt lại lẽo đẽo phía sau. Nàng hỏi:

- Anh tính sao?

Chàng đáp:

- Em vòng ra bờ Sông. Ngoài ấy tối hơn, anh sẽ liệu.

Gió sông thổi vù vù. Gần Phà Đen, chàng ra lệnh cho nàng quẹo bên phải. Con đường phía trước không còn một ánh đèn. Nàng rẽ sang trái, thắng lại cho chàng nhảy xuống. Chàng dặn vói:

- Em chờ anh ở góc đường.

Chàng cuộn tròn trên vệ cỏ, và đứng dậy ngay. Rút ống hãm thanh, chàng vặn vào nòng súng. Chiếc vét-pa vọt qua, chàng lia một phát.

Tên lái xe hự một tiếng. Viên đạn trúng màng tang làm y chết tức khắc.

Chiếc vét-pa không người điều khiển chạy vọt lên lề, đâm vào một gốc đại thụ.

Mọi việc xảy ra trong mười giây đồng hồ. Phát đạn chỉ gây ra tiếng bụp khô khan. Văn Bình ngồi im, chờ địch cựa quậy là nhả đạn tiếp, song tên thứ nhì đã ngã quay trên đất bất động.

Lại gần chàng nghe tiếng rên nho nhỏ. Mặc dầu không trúng đạn - vì chàng bắn có một phát để triệt hạ rên lái xe - nạn nhân vẫn bị thương nặng khi chiếc vét-pa đâm vào gốc cây hất y ngã xuống rất mạnh.

Chàng quỳ một chân, nâng đầu y lên. Y nói trong sự đau đớn:

- Gẫy xương… chở tôi đi bệnh viện.

Chàng hỏi, giọng nhã nhặn:

- Ai ra lệnh cho hai anh theo cô Vương Lệ ,

Y thều thào:

- Đại tá Kamốp.

- Ngoài hai anh ra, còn ai nữa?

- Còn một đồng chí túc trực trước nhà.

- Hai anh đi theo từ khi nào?

- Từ khi cô Lệ ra khỏi nhà.

- Đã báo cáo về cho đại tá chưa?

- Chưa. Tôi chết mất. Phiền anh đưa tôi tới bệnh viện.

Mắt chàng phát ra tia lửa dữ tợn. Chàng ấn vào xương yết hầu của địch. Nạn nhân giãy lên đành đạch rồi tắt thở.

Vương Lệ đậu xe chờ chàng ở chỗ hẹn. Nàng hỏi rối rít:

- Họ đâu cả rồi? Anh giết rồi phải không?

Giọng chàng thản nhiên:

- Rồi. Em lái về nhà đi. Trước nhà em đang còn một nhân viên của Kamốp nữa. Để anh giải quyết luôn cho khỏi hậu hoạn.

Từ bờ Sông về đến Chợ Hôm, nàng không nói lời nào nữa. Hai mắt nàng bâng khuâng nhìn vào khoảng không đen ngòm. Cách nhà Vương Lệ hơn một trăm thước, chàng ra lệnh:

- Cho anh xuống đây.

Nàng bỏ tay lái, vít đầu chàng xuống, hôn lung tung vào mặt. Một giọt nước mắt nóng hổi rơi vào má chàng. Chàng hỏi:

- Sao em lại khóc?

- Em sợ chúng mình không gặp nhau nữa.

Chàng cười an ủi:

- Dị đoan quá. Đêm mai anh tới với em.

- Nhớ nhé. Đừng bỏ em, anh nhé.

Nàng đi rồi, Văn Bình còn bâng khuâng, chưa thấy người nào thay đổi mau chóng như nàng. Nàng là địch, nhưng 15 phút ân ái đã biến thành bạn. Nàng còn thân hơn bạn nữa. Nàng cảm thấy cần chàng như con người cần dưỡng khí. Trong cơn nghĩ miên man, chàng liên tưởng tới Quỳnh Ngọc.

Nàng trung thành với Sở, trung thành với chàng, điều đó không ai dám phủ nhận. Một đêm kia, trong cánh tay chắc nịch của một gã đàn ông có thiên tài về mơn trớn, liệu Quỳnh Ngọc còn trung thành nữa không?

Văn Bình không có thời giờ luận cổ suy kim nữa vì cách chàng một quảng, thấp thoáng trước hành rào dâm bụt, chàng nhận ra một bóng đen to lớn.

Chắc bóng đen chưa thấy chàng nên đứng thẳng lên không giữ gìn.

Chàng men hàng rào đi về phía y. Giép cao-su của chàng không gây tiếng động khiến chàng đến sát sau lưng mà người lạ không biết. Đến khi y quay lại thì đã muộn.

Bàn tay phải của chàng xòe ra giáng một atêmi.

Chàng không ngờ đối phương cũng là võ sĩ nhu đạo có hạng. Y vẹo người sang bên để tránh, ngón đòn ác độc trượt xuống vai làm y đau nhói. Nhưng y vẫn đứng nguyên, không ngã.

Văn Bình tống vào hàm y một cú đìa-rét bằng tay trái.

Y hoành cánh tay lực lưỡng lên đỡ. Chàng đánh mạnh nên y lạng người. Chàng bồi thêm một quả đấm móc, địch lại thót bụng chịu đòn.

Văn Bình xoay ra tai-kwan-đo, sóng bàn tay chàng biến thành lưỡi dao sắc bén, quạt vào hông địch.

Bóng đen đỡ đòn, tê dại cả hai tay. Y rú lên một tiếng đau đớn rồi lảo đảo muốn té.

Văn Bình tiến lên, đặt một ngọn cước vào giữa bụng. Lần này, y mới chịu nằm dài trên đất.

Chàng tát vào má y:

- Đại tá Kamốp sai mi đến đây làm gì?

Y nhổ một bãi nước bọt:

- Làm gì mặc tao. Mày đừng lục vấn vô ích.

Chàng tặng cho y một trái thôi sơn vào giữa miệng.

Mấy cái răng gẫy theo nước miếng đỏ lòm văng ra. Chàng dằn từng tiếng:

- Hai thằng bạn mi tao đã giết rồi, chỉ còn mi nữa thôi. Mi khai ra thì sống. Kamốp chờ mi ở đâu?

Bóng đen cười ha hả:

- Chết đến đít rồi còn loạn ngôn.

Văn Bình giựt mình.

Một chiếc xe hơi tắt đèn đang chạy lại từ từ. Không lỡ một giây, chàng đè cuống họng của địch.

Nạn nhân cố vùng ra, nhưng chiếc kềm tay cứng như sắt nguội của chàng đã làm y ngạt thở. Y ngoẹo đầu sang bên, thở hắt ra.

Chiếc xe tắt đèn - một chiếc xe chở hàng bít bùng - đậu lại. Từ cửa trước, một cái đầu đổi mũ kết thò ra:

- 32.

Văn Bình không đáp. Giọng lúc nãy lại cất lên, hách dịch:

- 32. Đi đâu rồi?

Qua bóng tối, chàng nhận ra hai người ở băng trước.

Tên thứ hai còn để tay trên vô-lăng. Chàng chĩa súng bóp cò. Một tiếng "bụp" khô khan. Một tiếng rú thảm thiết "ối chao". Một cây thịt gục xuống.

Cửa xe đượng tông ra, một bóng đen nhảy xuống. Văn Bình nã phát thứ hai. Viên đạn xuyên qua yết hầu, y chết không kịp trối.

Không nghe tiếng động nào nữa, chàng biết là trên xe chỉ có hai người.

5 nhân viên của đại tá Kamốp bị thiệt mạng trong một đêm. Lẵng lẽ, chàng khiêng ba cái xác còn nóng lên xe.

Lục soát trong người nạn nhân, chàng không tìm thấy giấy tờ nào hết, ngoài một tấm lắc tròn bằng đồng, trông giống như đồng bạc hoa xòe cũ.

Dưới ánh đèn bấm, chàng thấy ở trên có một cái lỗ nhỏ tiếp đến những chữ số khắc sâu vào kim khí.

Ba tấm lắc manh những chữ số khác nhau, 032, 017, 065…. Đó là số hiệu của nhân viên Smerch. Giữa tấm lắc, được khắc, nét tinh vi, một cái sọ người, hai xương tréo, một lưỡi dao nhọn và một cái búa.

Văn Bình cất ba tấm lắc vào trong túi. Những huy hiệu này sẽ rất có lợi cho nhân viên của Sở hoạt động tại Bắc Việt.

Chàng vặn đề-ma-rơ, động cơ chiếc xe hàng cũ kỹ rú lên đều đều. Chàng lái ra đường bờ Sông.

Đến hẽm tối lúc nãy, chàng vẫn còn thấy chiếc vét-pa nằm lỏng chỏng trong bóng tối, bên cạnh hai thi thể co quắp.

Chàng lại khiêng hết lên xe, chất gần đầy phía sau.

Chàng lau tay cho hết máu, rồi đánh diêm châm thuốc Salem. Càng về khuya, trời càng lạnh. Chàng kéo cái bạt bằng vải dầu xuống che phía sau.

Bổng chàng khựng người.

Một trong năm xác chết đã nhỏm dậy không biết từ lúc nào. Tuy trời tối, chàng nhìn thấy khẩu súng lăm lăm trên tay. Y còn sống nhăn, không phải quỷ nhập tràng.

Y quát - giọng quát yếu ớt, có lẽ vì vết thương mất máu -:

- Dơ tay lên.

Văn Bình nói:

- Máu anh ra gần hết rồi, còn bắt tôi dơ tay làm gì nữa. Nếu anh biết điều, tôi sẽ buộc vết thương giúp anh, rồi chở anh vào nhà thương.

Y cười ghê rợn:

- Mày đừng phỉnh tao nữa. Tao biết không còn sống lâu nữa đâu. Mày đánh lừa chở vào bệnh viện dể giữa đường hạ thủ tao một cách hèn nhát. Đừng quên con ạ, tao chỉ bóp nhẹ vào cò là một viên đạn phọt ra cắm vào tim mày.

Song tao chưa bắn, tao chỉ bắt mày dơ tay lên, vì muốn bắt sống mày, để các đồng chí của tao tra khảo xem mày là ai. Nào, có chịu tuân lệnh không thì bảo.

- Cái gì thì dơ tay lên trời thì tôi lại rất sẵn lòng. Đây này, tôi giơ tay rồi đấy, anh bằng lòng chưa? Nhưng tôi muốn hỏi anh, không lẽ anh dí súng, tôi giơ tay đến sáng ư?

- Mày yên tâm. Tao còn đủ sức lực, đủ trí khôn để tính toán mọi việc. Bây giờ mày quay lưng lại, mau lên, và không được xỏ xiên. Tao bắn vào hạng cừ khôi. Chỉ một cử chỉ nhỏ của mày cũng đủ cho mày ăn một viên kẹo đồng mất mạng.

Văn Bình quay lưng lại từ từ.

Chàng nghe tiếng động trong xe. Tên gián điệp Smerch đang xô xác chết đồng đội sang bên để trèo lên băng trước. Chàng nghe tiếng rè rè.

Chàng sực nhớ ra: địch đang gọi vô tuyến về trung ương. Chàng bèn nghĩ ra mưu đối phó. Tiếng nói của y vang lên:

- 017… 017…. gọi 520… báo cáo quan trọng…

Văn Bình đi lùi. Bỗng chàng nghe quát:

- Không được nhúc nhích.

Chàng đứng yên như cũ. 017 tiếp tục gọi:

- 017… 017…. gọi 520… báo cáo quan trọng….

Một giọng nói khàn khàn hắt ra:

- 520 đây, báo cáo đi.

017 nói một hơi:

- Bốn nhân viên của ta vừa bị hạ sát. Tôi đã lừa bắt được hung thủ. Hiện tôi bị thương nặng. Yêu cầu trung ương cho người đến ngay. Địa điểm cuối đường 211.

- Biết hung thủ là ai chưa?

- Chưa.

- Được, sẽ cho một xe hơi đến ngay với ba nhân viên. Cẩn thận, phải giữ kín chuyện này.

Văn Bình cười thầm. Họ phải giữ kín vì đây là một cuộc thanh toán nội bộ giữa các cơ quan tình báo Nga Sô và Trung cộng.

Máy vô tuyến im lặng. Văn Bình lùi một bước. Lại một tiếng quát:

- Đứng lại. Khôn hồn thì nghe lời, trong năm phút nữa có người đến, anh sẽ được đối xử tử tế. Bằng không, tôi phải bắn anh.

5 phút nữa… Chàng không được phép trù trừ, vì trù trừ là chết, phản công cũng chết, thà phản công may ra có hy vọng lật ngược thế cờ. Chàng bèn bổ nhào xuống đất.

Song địch đã bóp cò kịp thời.

Tiếng súng nổ chát chúa.

Văn Bình cảm thấy đau nhói ở lưng, song vẫn đủ sức cuộn tròn, lăn ra khỏi tầm bắn của địch. Chàng núp bên hông xe, nín thở. Tay chàng sờ vào chỗ đau nhói.

Phát đạn của địch nhắm trúng mạng mỡ của chàng, nhưng ở đó chàng đã giắt tập hồ sơ dầy cộm gấp làm hai. Những tờ giấy xếp chồng lên nhau biến thành một tấm áo giáp hữu hiệu, viên đạn không thể xuyên qua được.

017 lên tiếng:

- Đâu rồi. Mày đã trúng đạn. Muốn sống, bò lại đây, tao rịt vết thương cho.

Y không ngờ Văn Bình còn lành lặn, và núp cạnh xe. Chàng rướn mình lên, phóng kềm tay chụp lấy khẩu súng, luôn tiện lôi luôn đối phương xuống đất.

Y lộn nhào vào người chàng.

Chàng né một bên, cây thịt nặng nề rớt xuống đường nhựa, gây ra một tiến ồn khô khan. Chàng bước theo giáng một phát atêmi.

Xong xuôi, chàng rút túi lấy một con dao nhíp nhiều lưỡi thật sắc, rồi chui xuống gầm xe. Chàng vận toàn lực đâm mũi dao vào thùng chứa xăng. Phụp một tiếng, lưỡi dao cắm phập vào tôn, xăng tuôn xuống ồng ộc.

Chàng lục trong xác chết, tịch thu hai quả lựu đạn mãng cầu, mở sẵn kíp, nằm phục sát bờ rào chờ đợi.

Đúng năm phút sau, một chiếc xe hơi dài ngoằng phóng tới. Trên xe bước xuống hai người. Hai xe hơi đậu cách nhau một thước. Mùi ét-xăng xông lên nực mũi. Một tên đứng lại, giọng lo lắng:

- Có mùi xăng sống. Lạ nhỉ?

Tên khác cất tiếng gọi:

- 017? 017 đâu?

Không nghe trả lời, cả bọn chột dạ. Chúng rút súng ra khỏi vỏ, thận trọng mở cái bạt sau xe. Giây phút quyết định đã tới: Văn Bình nghiến răng quăng trái lựu đạn vào vũng xăng lênh láng.

Oác… oác…. Tiếng nổ điếc tai của lựu đạn không át nổi tiếng kêu cứu và rên xiết. Hai nhân viên Smerch bị tan xác. Tên thứ ba ngồi trong xe bị thương vì miễng lựu đạn. Ngọn lửa gặp ét-xăng gây ra một đám cháy lớn.

Văn Bình tung trái lựu đạn thứ hai. Tên thứ ba gục đầu trước vô-lăng. Đám cháy lan rộng sang hai xe, sáng rực một vùng.

Văn Bình rảo bước sang bên kia đường.

Siổ chiến công của chàng đêm nay ghi được tám xác chết nhân viên gián điệp Smerch. Chàng mở cửa xe Moskwich, gài số hai, ấn lút chân ga. Chiếc xe nhỏ xíu bắn vọt lên phía trước.

Chàng lái về trung tâm thành phố. Liền khi đó, vang rền tiếng xíp-lê cảnh sát và tiếng kèm toe toe thảm thiết của xe cứu hỏa.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:38 pm

IX. Chiếc chìa khóa bí mật

Văn Bình vòng vào đại lộ Lý Thường Kiệt rồi lái từ từ ra vườn hoa Cửa Nam.

Chương trình đêm nay của chàng tạm xong, chàng định trả xe rồi về phòng kéo một giấc ngủ đến sáng. Tiếng máy êm ái của chiếc Moskwich làm chàng bằng lòng. Mặc dầu có bốn máy và 1358 phân khối, và bốn tốc lực như chiếcc Simca của Pháp, chiếc Moskwich của Z.62 lại chạy rất nhanh như xe đua.

Đến trước cửa hàng mậu dịch quốc doanh ở vườn hoa, chàng đậu lại, cất chìa khóa công-tắc xuống dưới chân, sửa soạn bước xuống. Bỗng chàng nhận ra một bóng đen từ vĩa hè tiến lại.

Chàng khựng người, đặt tay vào khẩu Nagan. Nhưng người lạ đã cất tiếng:

- Chào đồng chí Liêm. Bác sĩ Minh đây.

Câu nói này là một phần ám ngữ hồi tối chàng trao đổi với nhân viên của Z.62 mang xe cho chàng ở chợ Hôm. Người đàn ông gày gò, nét mặt lì lợm mở cửa xe, chui vào phía tay lái, giọng nhỏ nhẹ:

- Tôi đây. Gớm, đợi anh hơn một tiếng đồng hồ.

Văn Bình ngồi xê sang bên:

- Anh dặn tôi đậu xe ở đây ồi về nhà kia mà.

- Vâng. Nhưng Z.62 lại ra lệnh cho tôi chờ anh để đưa anh tới trụ sở.

- Z.62 muốn gặp tôi?

- Vâng. Có chuyện gấp.

- Gặp ở đâu?

- Tôi không biết. Tôi chỉ có nhiệm vụ chở anh tới hẻm Gia Ngư.

Văn Bình ngồi yên, lặng lẽ hút thuốc lá.

Chàng thầm khen Tổ Chức của Z.62. Vũ Kính cũng không liên lạc trực tiếp với Z.62, và người này cũng vậy. Đề phòng bại lộ, Z.62 đặt ra một hệ thống trung gian, mỗi nhân viên dưới quyền chỉ được biết một phần công việc.

Xe chạy đến giữa hẻm Gia Ngư thì đâu lại.

Tứ phía tối om.

Văn Bình thấy phía trước một cái xe hơi đen, đèn đỏ đằng sau nháy lên hai cái rồi tắt.

Người lạ nói với chàng:

- Thôi, chào anh. Hẹn anh lần khác. Chiếc Vônga đậu phía trên xe đưa anh tới trụ sở bí mật.

Chàng tiến nhanh lại chiếc Vônga, cửa sau đã mở sẵn. Tài xế chờ chàng đóng cửa, rồi lái đi, không hề nhích mép.

Đã quen với xe hơi phía sau bức màn sắt, chàng nhận ra đây là chiếc Vônga M-21[38] một loại xe khá lớn, 2448 phân khối - nghĩa là bằng Métxêđét 250 của Đức - sang số tự động, được ráp tại xưởng Gọtki, Nga Sô.

Xe chạy gần năm phút, đã hết đường Cửa Đông mà tài xế vẫn câm như thóc, chàng bèn gợi chuyện:

- Đi đâu hả anh?

Tài xế cất tiếng đáp làm chàng giựt mình:

- Tôi không phải là "anh" mà là "cô".

Thì ra tài xế là phụ nữ. Giọng nàng êm êm như tiếng ru ngủ của các cô gái phòng trà thanh lịch ở Đông Kinh. Văn Bình ồ lên một tiếng, để tỏ ra sự kinh ngạc.

Chàng gạ gẫm:

- Ồ, tôi không ngờ ở Hànội lại có đàn bà lái xe giỏi như thế!

Nàng phì cười:

- Em nghe danh anh từ lâu rồi. Z.62 dặn em không được trò chuyện với anh.

- Vì sao?

- Vì anh là tay tán gái nguy hiểm nhứt.

- Chắc Z.62 lại ghen rồi.

- Anh lầm.

Chàng định phản đối thì nghe tiếng còi huýt. Tài xế thắng lại. Xe hơi vừa qua bót cảnh sát Hàng Dậu.

Từ trên xe díp đậu sát lề, một nhân viên công an nhảy xuống, chạy tới, trên tay lăm lăm khẩu tiểu liên Tiệp-Khắc K-50. Văn Bình chột dạ, chuẩn bị phản công.

Người công an hỏi:

- Xe ai đấy?

Tài xế đáp, ỏn ẻn:

- Các anh điên rồi sao? Thử nhìn bảng số xem xe của ai rồi hãy chặn lại.

Người công an nói:

- Tôi nhìn rồi. Đây là xe của đại sứ quán Trung quốc.

Thiếu nữ nhún vai:

- Vậy anh đứng xê ra cho tôi chạy. Anh có biết chặn xe của đại sứ quán Trung quốc lại sẽ xảy ra hậu quả nào không?

Người công an liếm mép:

- Xin lỗi đồng chí.

Rồi y tiu nghỉu như mèo cắt tai, trở về xe díp. Thiếu nữ tống ga, lên đường Hàng Thao. Văn Bình hỏi nàng:

- Có thật xe của tòa đại sứ Trung cộng không cô?

Nàng cười:

- Nó cũng thật như tên anh là Tăng Minh và tên em là Nguyệt Thanh vậy.

- Nhỡ họ chặn liều lại thì sao?

- Không dám đâu. Tòa đại sứ Trung cộng là ông trời con ở đây. Công an sợ họ như hét. Vả lại, em đã mang sẵn giấy tờ. Họ đã chặn em nhiều lần rồi, lần nào họ cũng xin lỗi em.

- Cô nói giọng lơ lớ, chắc không phải người Hànội. Cô ra đây từ bao giờ?

- Bí mật nghề nghiệp.

- À, cô ở lại sau hiệp định Giơ-neo phải không?

- Em đã bảo bí mật nghề nghiệp mà. Anh hỏi lôi thôi lắm. Để em mách với Z.62.

- Hừ, lát nữa tôi sẽ tặng cho y một quả đấm.

Nàng cười ngây thơ:

- Em chỉ sợ anh không dám dơ tay lên thôi.

- Cô có đánh cuộc với tôi không?

- Đánh cuộc thế nào?

- Nếu tôi đấm Z.62 một cái, cô sẽ phải cho tôi….

- Em biết anh muốn gì rồi. Được, em sẽ bằng lòng cho anh hôn.

- Vào môi.

- Dĩ nhiên. Chẳng lẽ lại hôn vào mũi.

- Hôn hai cái, cô chịu không?

- Hai, chứ năm cái, em cũng bằng lòng. Nhưng nếu anh thua?

- Tôi sẵn sàng ăn đòn.

- Anh giỏi võ lắm, đánh anh chỉ tổ đau tay em.

- Vậy cô muốn gì?

- Em muốn anh hôn con mèo tam thể của em. Một con mèo cái. Nó xinh lắm.

- Ồ, tưởng gì khó khăn, chứ giản dị như thế thì tôi xin ký cả hai tay.

- Anh đừng vội cho là giản dị. Nhục lắm, anh ạ. Nếu các cô ở Sàigòn biết chuyện anh hôn mèo cái, thì cả đời anh sẽ không dám tán tỉnh nhăng nhít nữa. Thôi, em không muốn hạ nhục anh. Em bằng lòng cho anh rút lại lởi cam kết.

Văn Bình bực mình hết sức. Hồi ở Sàigòn, Quỳnh Loan đã xỏ chàng một vố suýt chết, suốt đêm nằm còng queo trong một bót quận III với muỗi rệp. Bọn con gái trong ban Biệt Vụ đã cười chàng có lẽ đến thế kỷ sau mới hết. Lẽ nào chỉ đấm Z.62 rồi được ôm hôn mỹ nhân mà chàng chịu thua. Trừ phi Z.62 là một võ sĩ vô địch thế giới về hạng nặng, kiêm thêm chức vô địch nhu đạo.

Xét ra chàng không đến nỗi tồi về võ thuật. Dầu Z.62 ba đầu sáu tay, và am tường cả chưởng phong, chàng cũng đấm y được một cái. Chà, đấm xong, rồi kéo người đẹp vào lòng, cho đôi nhũ hoa áp vào vai, trước khi từ từ xúi xuống, hôn thật mạnh vào cặp môi hàm tiếu.

Bất giác, chàng nhìn vào gương chiếu hậu.

Nửa khuôn mặt trái xoan của Nguyệt Thanh in lên trên, đôi mắt to và sáng long lanh dưới làn mi dài cong vút, cái mũi dọc dừa như nặn, và cái miệng (chao ôi, miệng của nàng đẹp đến nỗi một cuốn thường thiên lục bát như Kim Vân Kiều, một thi bá như Nguyễn Du cũng tả không hết) lúc nào cũng hé ra như muốn đòi hôn.

Nàng mặc áo kín cổ nên chàng không thấy gáy và vai, song chắc nàng có thân hình trắng trẻo và đều đặn. Nàng phải là nhân viên cừ khôi của ban Biệt Vụ.

Nguyệt Thanh lái vào một con đường tối gần nhà máy điện Yên Phụ.

Văn Bình nhận ra một biệt thự mênh mông. Nàng phóng qua cửa cổng mở rộng vào trong.

Chàng hỏi:

- Khiếp, ngôi nhà lớn quá.

Nàng cười:

- Không phải của Z.62 đâu. Đây là nhà công của chính phủ Hànội.

Xe chạy thẳng vào ga-ra. Chàng thấy ba cái xe khác đậu sẵn. Nguyệt Thanh mở một cửa hông trong nhà xe.

- Mời anh.

Chàng giựt mình khi thấy một con đường hầm. Nguyệt Thanh nói:

- Bậc đá hơi trơn, xin anh cẩn thận. Em không thể bật đèn sợ lộ. Bên cạnh là một trại lính. Cả thảy có 17 bậc. Z.62 cho làm 17 bậc để nhắc nhân viên nhớ tới vỹ tuyến 17, chia đôi hai miền Nam Bắc.

Văn Bình bước xuống. Nguyệt Thanh bấm một cái nút bí mật, cánh cửa nhẹ nhàng đóng kín lại. Lúc ấy nàng mới vặn đèn, tuy nhiên, ngọn đèn quá yếu, chỉ tỏa một ánh sáng mờ mờ.

Một tiếng nói vọng lên:

- Ai đó?

Nguyệt Thanh đáp:

- Mùa thu.

Một ngọn đèn khác bật lên. Văn Bình đặt chân xuống nền gạch khô ráo.

Chàng nhận ra một nhà hầm lớn, tường đúc bê-tông. Một người đàn ông để râu mép, mặc binh phục Bắc Việt, cầm tiểu liên, chạy lại. Thấy chàng, y chìa bàn tay:

- Chào anh, Z.62 đang đợi anh trong phòng.

Y đứng sang bên cho Văn Bình và Nguyệt Thanh bước qua một cánh cửa hình tròn.

Bên trong là một căn phòng nhỏ, có ghế ngồi, tứ phía toàn máy móc kỳ dị. Nguyệt Thanh kéo ghế:

- Mời anh chờ một phút. Em vào báo cáo xong rồi đưa anh vào.

Văn Bình bắt chân chữ ngũ, phì phèo điếu Salem. Tuy ở dưới hầm, không khí vẫn dễ thở. Nguyệt Thanh bước ra, thấy chàng hút thuốc bỗng tái mặt:

- Chết. Ở dưới này không hút thuốc được đâu. Anh dụi đi, kẻo nguy to.

- Cô sợ hỏa hoạn hả?

- Vâng. Phòng này đựng toàn chất nổ và vật dễ bắt lửa. May quá, nếu anh đãng trí tung tàn thuốc vào góc phòng thì đã nổ toang cả rồi.

Văn Bình dẫm lên trên mẫu thuốc cháy dở. Ngoan ngoãn, chàng theo Nguyệt Thanh vào phòng trong. Chàng trù định khi gặp Z.62 sẽ đấm nhẹ một cái vào bụng, nếu y ngạc nhiên thì sẽ cười trừ và nói:

- Xin lỗi anh.

Nụ cười tren môi chàng tắt ngúm khi chàng được đối diện Z.62. Nguyệt Thanh lôi áo chàng, diễu cợt:

- Z.62 đấy. Anh đấm đi.

Văn Bình chết đứng như Từ Hải. Một lần nữa, chàng đã bị con bé 18 tuổi cho vào xiếc. Trên đời, chàng có thể đấm mọi người, song không thể đấm Z.62.

Vì Z.62 là đàn bà.

Một thiếu phụ già da mặt nhăn nheo, tóc bạc phơ.

Bà già đang cầm trên tay khẩu súng lục vội đặt xuống bàn, một cái bàn mộc xiêu vẹo, trên để một cái máy vô tuyến và ba quả lựu đạn. Thiếu phụ nheo đôi mắt sau làn kính dày cộm:

- À, Z.28. Chào anh.

Văn Bình chôn chân, miệng cứng lại, như bị gắn hàm thiếc. Chàng lúng búng:

- Chào bà… Z.62…. Thú thật, tôi không ngờ.

Thiếu phụ nói, giọng hiền hậu:

- Anh không ngờ Z.62 là đàn bà chứ gì? Anh thua cuộc rồi. Rõ con Nguyệt Thanh đáo để thật.

Văn Bình nhìn thẳng vào mắt thiếu phụ:

- Thưa, cô Thanh đã trình với bà phải không? Tôi xin chịu thua.

Nguyệt Thanh xen vào:

- Ồ, ông phải hôn con mèo cái của em rồi.

Thiếu phụ quát:

- Con nhãi, mày phá vừa vừa chứ! Mày có chịu tạ tội với ông bạn của tao không nào.

Văn Bình ngơ ngác không hiểu sao thì thiếu phụ tiếp:

- Con dại, cái mang, xin ông thể tình cho. Nó là con gái ruột của tôi và nghịch như quỷ sứ.

Rồi bà thở dài:

- Không biết trời cho tôi sống bao lâu nữa. Tôi chỉ còn mụn con cuối cùng này thôi. Sinh được bốn đứa, ba trai một gái, thì ba đứa trai bị chết vì công vụ.

Chợt nhớ lại một mẩu tâm sự mà ông Hoàng nói với chàng cách đây đã lâu, Văn Bình tần ngần:

- Thưa bà, phải chăng bà là Hoa, bạn thân của ông Hoàng hồi còn trẻ?

Mắt bà lão trở nên mơ màng:

- Phải, tên thật của tôi là Hoa. Huyền Hoa. Tên thật của ông Hoàng bắt đầu bằng chữ Ng, chắc ông đã biết. Hoa và Ng là Hoang, thêm dấu Huyền là Hoàng. Ông ấy lấy bí danh là Hoàng như là món quà biếu người bạn cố tri gần nửa thế kỷ trước.

- Thưa, ông Hoàng năm nay đã trên sáu mươi rồi.

- Tuổi thật 65. Ông ấy hơn tôi 7 tuổi. Năm nay tôi 58. Tôi với ông Hoàng là người đồng hương. Quê chúng tôi ở Cái Bè, trên đường Mỹ Tho, xứ sản xuất cam rất ngọt, anh đã biết. Hồi nhỏ, chúng tôi đi học cùng trường, cả hai đều giỏi toán. Chúng tôi lên Sàigòn tiếp tục trung học.

Trong thời gian này, ông Hoàng đưa tôi gia nhập một Tổ Chức chống thực dân, đòi độc lập. Ông Hoàng phụ trách ban tình báo, tôi là phụ tá, chúng tôi có khiếu tình báo từ nhỏ. Đại chiến thứ nhứt xảy ra, Tổ Chức bị vỡ, ông Hoàng xuống tàu trốn sang Âu châu. Chúng tôi hẹn nhau gá nghĩa trăm năm, song vì hoàn cảnh gia đình tôi phải lấy chồng. Khi ông Hoàng trở về, tôi đã thành gia thất.

Từ đó, ông Hoàng phiêu bạt khắp bốn phương trời. Sau đó, tôi được tin vợ ông đã bị hạ sát trong một vụ thanh toán quốc tế tại Ba-lê. Rồi ông Hoàng về nước, điều khiển ngành gián điệp. Nhà tôi cũng tạ thế., nhưng chúng tôi đã lớn tuổi, công việc quốc gia lại nặng nề, nên không dám nghĩ tới chuyện vợ chồng nữa. Triệu Dung được gọi về Sàigòn, tôi bèn xin ra ngoài này, lãnh đạo phong trào. Từ bao năm nay, tôi không hề thổ lộ đời tư cho cộng sự viên biết. Anh là người đầu tiên, vì ông Hoàng coi anh như con.

Tôi ở Hànội, bị địch vây tỏa tứ bề, song vẫn hoạt động được. Con Thanh làm thư ký riêng cho tôi, cũng như cô Nguyên Hương đối với ông Hoàng.

- Thưa, cô Thanh bao nhiêu tuổi?

- 25. Trông nó trẻ như con gái 18. Nó phải cái tính nghịch tinh thôi, còn công việc thì giỏi lắm. Về võ nghệ, nó vào hạng khá, nhiều phen không có nó đi theo thì tôi đã mất mạng.

Thiếu phụ cầm khẩu súng lên ngắm nghía:

- Thôi, chuyện hão mãi, mất thời giờ. Sở dĩ tôi cho mời anh đến đây vì có việc cần. Lẽ ra, khi anh đến Hànội, tôi cho nhân viên tới gặp anh ở Bờ Hồ, song vì một chuyện bất ngờ xảy ra ở Vọng-các, chương trình tiếp xúc phải bãi bỏ. Môrít đã tử nạn rồi, anh biết không?

Văn Bình bàng hoàng:

- Thưa bà không.

- Vào phút chót, trước khi anh lên phi cơ, Môrít khám phá ra việc Saratiên lợi dụng Tăng Minh để mang một mật thư ra Bắc Việt. Anh ấy hạ sát Saratiên và bị trúng đạn. Nếu Môrít chịu vào bệnh viện gắp đạn thì không chết, đằng này, lại cố về nhà đánh điện báo cáo tự sự với ông Hoàng. Vì Môrít sợ trì chậm, địch sẽ phăng ra anh ở Hànội.

Văn Bình ngồi im, nét mặt buồn rầu. Trong đời gián điệp, chàng đã mất nhiều người bạn thân nhưng cái chết của Môrít đến quá đột ngột, và đau sót. Thiếu phụ nói tiếp, giọng đều đều:

- Biết địch bố trí người chờ anh ở Trạm 4 để lấy tài liệu, tôi phải ra lệnh cho Vũ Kính tiếp xúc thẳng với anh. Kết quả là Sáu Ngọt và Lệ Mai bị loại trừ. Đêm nay hay ngày mai, tôi tin là địch còn tới nữa, tôi báo anh biết để liệu đối phó.

Hai cái chết xảy ra trong một đêm làm địch bối rối. Tôi lo Vũ Kính sẽ bị lộ, nên từ phút này Kính không liên lạc với anh nữa.

- Rầy rà quá. Việc gì phải trá làm Tăng Minh, đáp máy bay từ Vọng-các ra Hànội, để gặp bao nhiêu phiền phức. Giá ông Hoàng cho tôi nhảy dù xuống có tiện hơn không.

Thiếu phụ nhấc mục kỉnh:

- Có lẽ ông Hoàng chưa cho anh biết phần cuối của kế hoạch. Hiện nay, ta có một số người cần đưa về Sàigòn. Khi phi cơ từ giả Hànội, người của ta sẽ giả làm nhân viên phái đoàn. Việc đánh tráo rất dễ vì Vũ Kính được chính quyền Bắc Việt cử ra để đảm trách an ninh cho phái đoàn. Nhất cử lưỡng tiện, ta vừa đưa được người về, vừa thủ tiêu được một số nhân viên của địch. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận là khi đề ra kế hoạch kể trên, ông Hoàng không ngờ có vụ Saratiên. Việc phiến loạn Thái nhờ Tăng Minh chuyển mật thư ra Hànội đã làm kế hoạch của ta bị đảo lộn. Chính vì thế ông Hoàng đã ra lệnh cho anh phải hoàn thành công tác trong vòng 72 giờ đồng hồ. Nội đêm mai, ông Hoàng sẽ chờ anh ngoài khơi trong tàu ngầm, đề phòng anh bại lộ.

- Ngoài này đã có nhiều nữ nhân viên giỏi, việc gì phải đưa thêm Quỳnh Ngọc ra nữa?

- À, cô Ngọc có hai nhiệm vụ. Thứ nhứt, tiếp tay với anh trên đường về, thứ hai, ru ngủ trưởng phái đoàn Phạm Bài, một kẻ khá nguy hiểm. Phạm Bài đã hạ sát một số nhân viên của ta ở Thái Lan. Một mũi tên bắn hai con chim, ta sẽ nhân cơ hội bắt y hoặc giết y.

Văn Bình vuốt mớ tóc xõa xuống trán:

- Tôi bắt đầu hiểu rõ rồi. Bây giờ bà muốn tôi làm gì?

Thiếu phụ nói:

- Tài liệu anh lấy được đâu, đưa cho tôi.

Văn Bình đặt lên bàn hai tập hồ sơ. Mắt thiếu phụ sáng lên:

- Sáng mai, phủ Thủ Tướng sẽ nhận được bản sao của tài liệu này. Đó là bằng chứng cần thiết để loại trừ Phan Mỹ.

- Nếu họ không bắt Phan Mỹ thì sao?

- Anh yên tâm. Hai phe thân Tàu và thân Nga chống nhau dữ dội lắm, có thể ăn tươi nuốt sống nhau được. Dưới áp lực của đại tá Kamốp, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp phải cho bắt Phan Mỹ.

- Nếu Phan Mỹ bị bắt?

- Thì Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh và sứ quán Trung cộng sẽ ra mặt phản đối, hoặc ít ra cũng đá ngầm phe thân Nga. Sở dĩ ông Hoàng cử anh ra đây, vì anh là tay bắn giỏi nhất Sở. Anh có nhiệm vụ hạ sát một số nhân vật thuộc hai phe để đổ thêm dầu vào lửa.

- Đêm nay, tôi vừa giết 8 nhân viên Smerch rồi.

- Tôi biết.

- Thưa, tại sao bà biết?

Thiếu phụ cười:

- Tôi đã cho nhân viên theo anh. 8 người của Smerch bị giết, thế tất Kamốp sẽ nghi Phan Mỹ. Nội ngày mai, họ sẽ ra lệnh bắt y. À, ông Hoàng vừa cho tôi biết anh bắn súng tài hơn trước nhiều. Đó là điều may.

Văn Bình ngồi nghe, toát bồ hôi. Thảo nào ông Hoàng sai Quỳnh Loan lái xe cán chàng để xem phản ứng, và bắt chàng biểu diễn tác xạ.

Thiếu phụ quay lưng, kéo tấm riềm màu xám cùng màu với tường, để lộ ra cái tủ lớn, không có cửa, bên trong để toàn súng. Súng ngắn, súng dài, súng tiểu liên đủ cỡ của Nga Sô và Trung cộng.

Thiếu phụ bưng hai khẩu súng trường đặt lên bàn, và hỏi Văn Bình:

- Anh biết súng gì không?

Chàng quan sát kỹ 2 khẩu súng chế tạo tại Nga Sô, khẩu nào cũng dài ngoằn và gắn ống viẽn kính để bắn xa.

- Thưa, một khẩu MN và một Tôkarếp[39].

Thiếu phụ xoa tay có vẻ mãn nguyện:

- Tài lắm. Chỉ có anh mới biết xử dụng các loại súng do phe cộng sản chế tạo. Anh em ở đây chỉ ở vào mức trung bình thôi. Súng đã lạ, mục tiêu lại cách xa một, hai trăm thước, lại chỉ được bắn một phát thôi, phi anh, không ai có thể làm nổi. Anh định dùng khẩu nào?

Chàng lắc đầu:

- Loại súng trường này có cái lợi là dễ nhắm, và bắn xa được, bì đạn chứa 5 viên, to và dài, trúng vào người là mất mạng, song tôi thấy cồng kềnh và chậm chạp lắm. Mặt khác, hai khẩu này đã được chế tạo từ hơn một phần tư thế kỷ trước, không sánh nổi các võ khí hiện thời. Súng trường của bộ binh Sô Viết được coi là kém nhất thế giới. Nếu có thể, xin bà cho tôi một khẩu tiểu liên nhỏ.

Thiếu phụ bưng 5 khẩu tiểu liên để trước mặt Văn Bình:

- Anh tha hồ chọn. Tôi còn có cả trung và đại liên. 5 khẩu tiểu liên này đều bắn đạn 7,62 ly , khẩu 34/38, chứa 25 viên, khẩu PPD 1940[40] băng đạn tròn chứa 71 viên, khẩu PPSh 1941[41], chứa 71 viên, khẩu Sudarếp PPS 1942[42], cán gập, băng đạn chứa 35 viên, và sau cùng khẩu PPS 1943.

Không suy nghĩ, chàng đáp ngay:

- Tôi xin lãnh một trong hai khẩu sau cùng. Các khẩu kia có tầm bắn xa, từ 50 đến 500 thước, xa gấp đôi khẩu PPS, song lại nặng tới 4 kílô, lại hơi dài. Súng PPS không có báng gỗ, có thể giấu trong người. Giữa hai kiểu PPS 1942 và 1943, tôi chọn loại sau.

- Súng PPS 1943 tiện đây, song theo tôi, nó hơi dài. Các khẩu PPD và PPSh tuy dài thật, báng lại bằng gỗ, có thể cắt ngắn. Cả nòng và báng dài 0m75, cắt nửa cái báng đi, còn lại nửa thước. Anh nghĩ thế nào?

- PPS là súng của binh chủng nhảy dù Sô Viết, bắn rất chính xác. Tôi có thể cưa cho ngắn đi 20 phân.

- Thế thì được. Tôi cho lau dầu lại, và đưa cho anh khi cần đến. Bao giờ anh gặp lại cô Vương Lệ?

Văn Bình sửng sốt:

- Trời, sao bà biết?

- Anh đừng quên tôi là phụ tá của ông Hoàng. Tính mạng của anh rất quý, ông Hoàng đã ra lệnh cho tôi đình chỉ mọi công việc, dốc toàn lực vào việc bảo vệ và giúp đỡ anh.

Chàng thở dài nhè nhẹ:

- Thưa bà, Vương Lệ hẹn tôi đêm mai.

Thiếu phụ đứng dậy:

- Có lẽ tôi còn có dịp trò chuyện với anh nữa. Thôi anh về, Nguyệt Thanh lái xe cho anh.

Văn Bình cảm thấy phải hỏi một câu để thỏa mãn tính tò mò cố hữu:

- Thưa, ngôi nhà này của ai?

- Của ủy ban thành phố. Người ở trong nhà là một viên chức cao cấp trong Đảng và Nhà Nước. Họ đi Đồ Sơn nghỉ mát cuối tuần rồi. Họ có hai gia nhân. Gia nhân đều là nhân viên thân tín của tôi. Chiếc Vônga anh đi lúc nãy là của Nhà Nước. Tôi cho thay bảng số luôn luôn. Trong xe có một thùng thuốc nổ cực mạnh. Chỉ ấn nút ở táp-lô là xe nổ tung.

Nguyệt Thanh đã đứng ở ngưỡng cửa.

Ngắm nàng, Văn Bình tê tái cả lòng. Bộ ngực căng cứng của nàng chứng tỏ nàng là con gái chưa hề bị đàn ông tàn phá. Tuy nhiên, trước mặt bà mẹ, chàng không dám giương đôi mắt hau háu để bóc trần thân thể cân đối, nõn nàng của cô con gái rượu.

Hai người đi sát nhau ra ngoài.

Mùi hương da thịt của nàng thơm thơm như có chất men. Lúc Văn Bình lên tới nhà xe, tứ phía vẫn đen ngòm và vắng tanh. Chàng hỏi nàng:

- Quái, nhà của viên chức cao cấp sao không có người gác thế này?

Nàng cười ngây thơ:

- Có chứ, anh không thấy họ đấy thôi. Họ đều núp trong bụi rậm. Ngoài ra còn có ba con bêt-giê kinh khủng nữa. Chúng chạy thật nhanh mà không gây ra tiếng động, khi nghe được thì cuống họng đã bị cắn đứt lìa.

- Bẹt-giê ở đâu?

- Người gác nhốt lại rồi. Anh là thượng khách nên không muốn bọn bẹt-giê làm phiền.

- Người gác là nhân viên của mình à?

- Dĩ nhiên. Nếu không anh đã được ăn một băng đạn tiểu liên. Ồ, họ bắn tài lắm, cách xa 20 thước có thể bắn tắt ngọn nến.

Gió đêm trên đê Yên Phụ quạt nhè nhẹ vào da thịt chàng. Nàng lái từ từ, dáng điệu khoan thai như người dạo mát. Chàng phàn nàn:

- Giá tôi được ngồi cạnh cô thì vui biết mấy.

- Không được đâu. Em phải làm tài xế. Vả lại, má em đã dặn kỹ. Em sớ rớ đến anh, bà đánh chết.

- Mẹ nào đánh chết con được.

- Hừ, anh chưa biết đấy thôi. Má em giỏi nhu đạo lắm. May anh không đấm bà ấy, chớ lơ mơ thì gãy xương tay. Em nghe tiếng anh giỏi nhu đạo, song má em đã học được nhiều miếng kỳ lạ. Ôi chao, khi má em nổi xung, phát cho một cái vào mông thì cả tuần phải nằm sấp.

- Để tôi xoa mông cho đỡ đau.

- Xấu hổ chưa, ai cho phép anh đụng vào mông em.

- Thì cô cho vuốt má vậy.

- Lại nguy hơn nữa. Má em dặn nếu son trên môi bị nhạt, nghĩa là em hôn anh, sẽ phải ăn đòn. Anh biết không? Son phấn ở đây chỉ bán chợ đen, dân thường không tài nào mua được. Mọi ngày, má vẫn cho em dùng tự do. Từ chiều nay, bà ấy cất thỏi son đi.

Xe hơi đã chạy hết đường Cửa Đông. Nàng đậu lại:

- Chỗ này tối, anh xuống đi bộ về Hàng Mành.

Lợi dụng trời tối, chàng nhỏm dậy, vòng tay qua cổ nàng, giọng thân mật:

- Nguyệt Thanh phải đền tôi đi.

- Đền gì anh?

- Lúc nãy cô làm nhục tôi, giờ đây cô phải cho tôi hôn đền.

Nàng giẫy nẫy:

- Chết, anh đừng hôn vào môi em.

- Tôi hôn vào cổ nhé. Cô có cái cổ đẹp quá.

Nàng ngửa cổ, cười khúc khích.

Chàng hôn vào, nàng co rúm người lại trong khoái cảm vô biên. Chàng kéo toạc hàng cúc bấm, vạt áo trước của nàng mở toang, bên dưới nàng không mặc gì hết.

Qua bóng đêm mờ mờ, da thịt nàng hiện ra trắng như tuyết. Chàng ôm ghì lấy nàng. Song nàng gỡ ra:

- Từ trước đến nay, anh làm như vậy mấy trăm lần rồi?

Chàng sững sờ, không thốt được một tiếng. Nàng tiếp, giọng âu yếm:

- Thú thật, từ thuở cập kê đến giờ, em chưa gặp người con trai nào đáng yêu như anh. Em đã 25 rồi, không còn con nít nữa. Nếu má em không căn dặn, em đã ngã vào lòng anh, mặc anh làm gì tùy ý. Nhưng anh ơi, em sợ ăn phải bùa mê tình ái của anh rồi dứt không ra nữa. Em lai sợ cô nào đó tặng cho viên kẹo đồng vào ngực.

- Tôi đã làm gì có vợ.

- Nhưng anh có nhiều người yêu.

- Làm người giữa thế kỷ nguyên tử này, ai chẳng có người yêu.

- Riêng anh, anh đã hứa hôn.

- Trời.

- Đúng hơn, anh bị hứa hôn. Vị hôn thê của anh nguy hiểm lắm, cô ấy có thể làm mất mạng như chơi.

- Ai thế?

- Anh cứ đùa mãi. Cô Nguyên Hương chứ còn ai nữa! Má em cho biết cô Hương là con nuôi của ông Hoàng. Em coi ông Hoàng như dượng tuy má chưa phải vợ chính thức. Nguyên Hương và em là hai chị em. Lẽ nào em lại cướp người yêu của chị? Cho anh hôn một cái là đủ lắm rồi, anh đừng đòi hỏi thêm nữa.

Văn Bình đắng họng, buông nàng ra. Nàng nói:

- Anh đừng nghĩ lầm về em, tội nghiệp. Em yêu anh lắm, họa là phỗng đá mới dững dưng trước một người đàn ông vẹn toàn như anh. Nhưng anh ơi….

Chàng lặng lẽ mở cửa xe.

Từ ít lâu nay, Nguyên Hương đâm ra ghen lạ lùng. Nàng đã lập kế làm chàng thất điên bát đảo ở Sàigòn. Con mắt vô hình của nàng lại theo chàng ra tận Hànội. Câu nói của nàng ở trong bin-đinh Nguyễn Huệ ở Sàigòn, trước khi chàng lên đường, còn văng vẳng bên tai pha lẫn hờn trách và đe dọa quyết liệt:

- Em sẽ cho người theo anh từ bây giờ cho đến khi anh từ giả Sàigòn. Anh không giữ lời hứa thì chết với em nghe chưa? Em đã trình với ông Hoàng rồi. Nếu anh còn lăng nhăng, em sẽ bắt anh phải cưới em làm vợ ngay khi anh trở về. Em sẽ nhốt anh trong phòng này không cho đi đâu hết.

Tới gần Hàng Mành, Văn Bình rẽ vào đường hẻm.

Hẻm này ăn thông với cửa sau của Trạm trú ngụ. Lối đi nhỏ vừa tối, vừa khuất, nên chàng không sợ bại lộ.

Chàng tra chìa khóa vào ổ, cánh cửa gỗ mở ra êm như ru.

Chàng rảo qua một cái sân lớn, mở cánh cửa thứ hai, rồi trèo cầu thang riêng, giành cho nhân viên cứu hỏa.

Đèn hành lang đã tắt hết. Mọi người đã ngủ một giấc say sưa, và sắp trở dậy, vì trời đã gần sáng.

Vào phòng, việc thứ nhứt của chàng là cởi bỏ quần áo, vặn nước rửa mặt. Bụi và bồ hôi dính đầy người, chàng vẫn có thói quen dội thật nhiều nước trước khi lên giường.

Chàng lại tức tối khi thấy nước chảy ri rỉ từng giọt, vàng khè, ngửi sặc mùi phèn. Chàng chỉ kịp rửa cái bàn chải đánh răng là vòi nước tắt tịt.

Thở dài, chàng đi ra ngoài, nằm vật xuống giường, vắt tay lên trán, bâng khuâng nhớ đến những buồng tắm đủ nước lạnh và nóng sực nức mùi hoa và sà-phòng đắt tiền. Lê chân qua khắp thế giới, ngủ đêm trong hàng trăm lữ điếm, chàng rất sợ khi phải hoạt động phía sau bức màn sắt.

Tại Mạc-tư-khoa, nhiều khi vòi nước cũng nghẹt cứng. Nhiều đêm ở Đông-bá-linh, chàng thức dậy, vặn đèn kên đọc sách thì điện tắt, vì nhà đương cuộc tiết kiệm hơi thắp. Chả bù với những ôten cao chọc trời ở Nữu-ước, Ba-lê, chỉ cần đạt chân xuống Miami, Vọng-các, Đài-bắc cũng đủ thưởng thức những tiện nghi sang trọng.

Chàng không quên được khung cảnh thơ mộng của lữ điếm Koxankian ở khu Tây Nam Đông-kinh, gần núi Phú-sĩ hùng vĩ, 170 căn phòng tối tân, tràn đầy ánh nắng ban mai và màu xanh cây cỏ. Có lần Văn Bình mặc kimônô ngồi xếp bằng trên chiếu tatami, uống rượi sakê với gà quay - món ăn đặc biệt của khách sạn - bên cạnh một cô gái có sắc đẹp mê hồn.

Muốn lên cao thì ngụ tại khách sạn Đại-sứ[43] ở Hồng-kông, cao đúng 19 tầng, gồm 375 phòng, nhìn thẳng ra biển, hoặc khách sạn Mỹ[44] gồm một ngàn phòng đẹp như động tiên. Văn Bình lại biết những ô-ten cao hơn, như Vương-điếm[45], cao 22 tầng, 275 phòng, với những ngọn đèn kỳ lạ, khiến du khách có cảm tưởng lạc chơi non bồng, nước nhược, ở giữa thủ đô Đan-mạch.

Những quốc gia chậm tiến như Thổ-nhĩ-kỳ, Ai-cập, Li-băng, Libéria, Do-thái, Mã-lai cũng có những khách sạn đồ sộ như lâu đài, bên trong đầy đủ tiện nghi một ngàn một đêm lẻ.

Khách sạn Hiutơn[46] ở Thổ đứng sừng sửng bên bờ đại dương, ở Li-băng, khách sạn Phượng-hoàng[47] 14 tầng, rực rỡ màu xanh của bờ biển Địa-trung-hải… ở Ai-cập, khách sạn Hiutơn 12 tầng, 400 phòng, bên giòng sônG Nin[48] huyền bí, với những cô hầu gái tuyệt đẹp và học giỏi và phần đông đã kết hôn với du khách từ phương xa lại….

Văn Bình không thể nào quên được những ngày thần tiên ở Cactơn[49] trên đảo Bétmuýt[50], phòng nào cũng mở rộng ra biển, ngày nào chàng cũng mặc đồ nhái lặn xuống nước để bắn cá, hoặc rủ những cô gái đẹp, bơi ra xa, trèo lên mỏm đá, cởi bỏ hai mảnh bikini nhỏ xíu trên mình ra nằm ngửa tắm nắng và hưởng lạc.

Thích cô đơn thì tìm tới Mễ-tây-cơ, thuê một ngôi nhà riêng trong khách sạn Hiutơn[51]. Có 62 nhà riêng mà những 41 hồ tắm đặc biệt. Còn nếu muốn trốn tránh cuộc đời ô trọc thì đi Ba-tây, ở giữa rừng núi bao la, gần thác nước trắng xóa[52], cách thủ đô gần ngàn cây số, không có điện thoại trong phòng, cũng không có tiệm bán đồ.

Năm ngoái, nhân được nghỉ xả hơi giữa hai công tác hiểm nghèo, Văn Bình đã lén đi Ba-tây, ở lì với một cô bạn gái Nam-Mỹ, người căng phồng như cao-su, bụng vừa trét tay, miệng và tóc thơm phức. Chàng khóa kín cửa suốt một tuần lễ, hai người ăn toàn đồ hộp, ăn xong lại nằm, cho đến khi mệt nhoài chàng mới lên phi cơ trở về.

Văn Bình lại thở dài.

Mình mẩy ngứa ngáy, chàng nằm mãi không ngủ được. Chàng ngồi dậy móc túi lấy thuốc lá. Chùm chia khóa dẹt của Tăng Minh tuột ra khỏi túi rơi xuống đất kêu keng một tiếng. Tiếng kêu hơi khác thường của chùm chìa khóa làm chàng nghĩ ngợi.

Chàng nhặt lên ngắm nghía: ba cái dẹt, bốn cái tròn hình thù quái dị. Lúc còn ở Vọng-các, chàng đã tần ngần khi cất chùm chia khóa to tướng vào túi. Ra Hànội, chàng quên bẵng, ném xuống dưới đệm nằm chận lên trên. Tình cờ chàng tìm ra và bỏ lại vào túi.

Chàng thả chùm chia khóa xuống sàn lần nữa. Âm thanh do các chìa khóa gây ra không đều. Chàng sực nhớ tới đồng xu kền Mỹ mà công an liên bang F.B.I. bắt được, nhờ một chú bé bán báo. Một hôm tung đồng xu chơi, chú bé nhận thấy tiếng kêu không dòn, chứng tỏ đồng xu rỗng ruột, và sau đó F.B.I. khám phá ra bên trong một cuộn phim nhỏ xíu của gián điệp Sô Viết.

Văn Bình không thể lầm được: trong bẩy cái chìa khóa, ít ra một cái rỗng ruột. Chàng móc con dao đặc biệt ra, dùng một cái lưỡi cong, nậy đầu cái chìa lớn nhất hình tròn. Chàng hì hục gần nửa tiếng đồng hồ, bồ hôi toát ra như tắm mà cái chìa vẫn trơ trơ.

Tuy nhiên, chàng không nản trí. Chàng biết bên trong có sự lạ. Nếu có cây đèn xì, chỉ một phút là xong. Ngọn lửa cực mạnh phun vào, sắt chảy ra, đầu khóa bị bật tung dễ dàng.

Văn Bình suýt reo lên một tiếng. Quả chàng đoán đúng: cái chìa khóa bị rỗng ruột. Chàng dốc ngược, một sợi tóc nhỏ li ti cuộn tròn tuột ra. Đó là một cuộn phim vi ti. Không có dụng cụ để coi phim, chàng đành giấu sợi tóc vào buồng tắm cùng cái chìa khóa mà chàng không bít lại được, rồi trèo lên giường.

Lần này, chàng ngủ được liền. Có lẽ chưa bao giờ chàng ngủ mê như đêm nay. Trời lại gần sáng, thời khắc thuận tiện nhứt một đêm cho giấc ngủ say. Chàng ngủ say đến nỗi cửa phòng mở ra, một bóng đen khoan thai bước vào mà chàng không biết. Lệ thường, chỉ một tiếng động khác thường là chàng được linh tính đánh thức.

Bóng đen thản nhiên vặn đèn lên. Ánh đèn đột ngột làm chàng chói mắt. Song chàng vẫn còn ngái ngủ. Chàng quay mặt vào tường gát:

- Gì thế? Có cho người ta ngủ không?

Bóng đen - một người cao lớn, nắm tay to bằng quả phật thủ, mặc đồ kaki vàng, dáng điệu cứng nhắt như quân nhân chuyên nghiệp - nhìn Văn Bình nằm trên giường bằng cặp mắt trừng trừng. Y cần nhìn thật lâu để tìm yếu huyệt.

Văn Bình lại trở mình. Cái huyệt dưới vú lộ ra. Huyệt này ăn thông với thần kinh hệ, làm nạn nhân bất tỉnh tức khắc, nếu bị đánh trúng. Văn Bình kêu "hự" một tiếng rồi ngoẹo đầu sang bên. Chàng thiếp đi luôn.

Bóng đen mở cửa, kêu hai người khác vào. Họ gói Văn Bình vào cái mền rồi khiêng lên vai xuống đường bằng cửa hậu, cánh cửa lúc nào cũng khóa chặt mà Văn Bình đã mở hồi tối. Một chiếc xe hơi dài ngoằng đậu sát lề.

Trời tối sầm lại. Đó là giây phút chuẩn bị cuối cùng trước rạng đông của ban đêm.

Nước lạnh vã vào mặt, Văn Bình tỉnh dậy. Một ngọn đèn sáng quắc chiếu vào giữa mắt chàng.

Chàng nhắm nghiền mắt, định thần trong một phút. Thì một tiếng quát chói tai vẳng lên:

- Tăng Minh?

Tiếng quát dữ dội không làm chàng lo sợ, trái lại, chàng càng yên tâm hơn trước. Chàng đã đoán ra bọn bắt cóc chàng là ai. Chắc họ đưa chàng về một trụ sở bí mật để tra khảo về vụ bộ com-lê và chùm chia khóa đựng tài liệu.

Chàng yên tâm vì biết chưa bị bại lộ. Họ còn tin chàng là giáo sư Tăng Minh. Chàng còn có hy vọng thoát hiểm. Tiếng quát chát chúa lại cất lên:

- Tăng Minh, tại sao anh phản?

Chàng giả vờ giựt mình sửng sốt:

- Phản? Phản ai mới được chứ? Tôi không hiểu anh nói gì hết.

Ngọn đèn hơn năm trăm nến làm mắt chàng chói lòa. Chàng chỉ thấy lờ mờ bóng người phía trước. Họ cố tình dùng đèn thật sáng để chàng mệt mỏi, mất tinh thần, và để chàng không nhận diện được ai.

- Đừng vờ vịt nữa. Tại sao anh lại phản Saratiên?

Chàng nhỏm dậy, phản đối:

- Trước khi trả lời, tôi muốn biết đây là đâu, các anh là ai? Tôi là tân khách của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và là một nhân vật biết tiếng trong giới Việt kiều ở Thái-lan. Sự coi thường luật pháp của các anh sẽ đưa tới hậu quả tai hại. Công an Hànội sẽ không để các anh yên đâu.

Một tràng cười ròn rã chứa đầy ngạo mạn trả lời chàng. Rồi người lúc nãy tiếp:

- Công an, công an, ha ha…. anh đừng hy vọng hão huyền, công an không tài nào tìm ra, và tìm ra nữa, cũng chẳng làm gì được chúng tôi. Chúng tôi còn là cha công an Hànội nữa, anh biết không?

- Hừ, bọn cướp đường, bọn tai sai đế quốc.

Văn Bình giả vờ dùng miệng lưỡi thân cộng để dò xét phản ứng đối phương. Thì họ đáp ngay:

- Anh mới là tay sai đế quốc.

Chàng chồm lên:

- Tôi cấm anh không được hỗn xược. Tôi là yếu nhân của chi bộ cộng sản hải ngoại.

Tiếng cười vụt tắt, một giọng nói nghiêm nghị khác nổi lên:

- Anh là yếu nhân cộng sản, sao lại phản Saratiên?

Chàng lắc đầu:

- Các anh lầm rồi. Tôi không bao giờ phản ai cả. Chính Saratiên đã đánh lừa tôi.

- Đánh lừa thế nào?

- Tôi không nói. Đó là một bí mật, sống để dạ, chết đem đi.

- Chúng tôi có cách bắt anh nói.

- Muốn làm gì, tùy ý, tôi không sợ.

Chàng dọa già vì biết bọn họ không dám làm mạnh. Dầu sao chàng cũng là nhân viên trong phái đoàn tham quan Việt kiều. Nếu muốn thủ tiêu chàng, họ phải đợi tới khi chàng về Vọng-các mới ra tay. Chàng nhắm mắt lại. Ánh điện năm trăm nến làm chàng bắt đầu đau sói vào óc.

Tiếng ra lệnh lúc nãy lại vang lên:

- Đưa nó sang phòng tra tấn.

Tra tấn! Trong đời, Văn Bình đã nghe tiếng này cả trăm lần. Chàng đã chịu mọi hình thức tra tấn kinh khủng của nghề gián điệp, và chưa bao giờ hé răng.

Chàng bị lôi vào một căn phòng bẩn thỉu tường quét vôi trắng đã cũ, đầy vết máu khô. Sát tường là một bể nước hình vuông, chứa hai phần ba một thứ nước đen đen, xông lên mùi hôi thối nồng nặc. Trên một cái bàn sắt lớn, chàng thấy đủ binh cụ. Chàng tưởng như lùi lại thời tiền sử với cảnh khoét mắt, xẻo tai, lột da nhồi trấu và lăng trì.

Bên tai chàng rú lên một giọng cười ghê rợn:

- Mày đã nếm mùi tra tấn của Dét-ta-pô[53] chưa? Ai đã vào Dét-ta-pô đừng hòng trở về với cuộc sống loài người. Thế mà ở đây chúng tao còn tàn nhẫn hơn Dét-ta-pô một bậc. Tăng Minh, nếu mày chưa muốn chết, chưa muốn mất hết móng tay, móng chân, chưa muốn cắt đứt bộ phận sinh dục thì khai đi, thành thật khai đi. Tài liệu của Saratiên, mày để đâu?

Văn Bình nính thinh. Chàng không lạ gì kỹ thuật thẩm vấn thần sầu quỷ khốc của mật vụ quốc xã. Chàng đã nếm một lần trong thời gian phục vụ trong hàng ngũ OSS ở châu Âu trong đại chiến thứ hai. May thay, chàng vượt ngục trốn thoát, nếu không, chàng đã mất mạng, hoặc nếu còn sống thì cũng thân tàn ma dại.

Trong một phần trăm giây đồng hồ, cuốn phim tra tấn rùng rợn của thời quốc xã xa xưa được chiếu lại trong óc chàng. Những người yêu nước bị bắt còng tay, xiềng chân suốt ngày đêm và nhốt trong những căn phòng nhỏ xíu ngạt thở. Mười ngày sau khi bị bắt, họ bị dẫn tới phòng khảo cung.

Nạn nhân phải quỳ trên một cái ghế hình tam giác, một nhân viên mật vụ đứng trên vai nhún xuống. Hoặc tay chân trói còng queo bằng giây kẽm, và treo tòng teng vào chấn song, vào móc thịt, cho đến khi bất tỉnh. Răng, móng tay, móng chân, bị nhổ ra bằng kềm sắt. Vú và chỗ kín bị châm thuốc lá cháy đỏ vào. Nhiều khi Dét-ta-pô còn dùng đèn xì để đốt nữa.

Tra điện là một hình thức thông thường: một đầu giây cột vào mắt cá chân, đầu kia dính vào vú hoặc bộ phân sinh dục. Gan bàn chân bị cắt nát bằng dao cạo, sau đó nạn nhân phải bước vào muối. Ngoài ra còn có những miếng bông tẩm ét-xăng được nhét vào kẽ tay và kẽ chân rồi châm lửa cháy xèo xèo.

Hình thức "đi tàu ngầm" được coi là khiếp đảm nhất. Nạn nhân bị còng tay ra sau lưng, dìm đầu vào bể nước lạnh 4 độ, pha lẫn nước tiểu và xú uế, cho đến khi bụng trương lên và ngộp thở. Khi ngất đi, nạn nhân được lôi tóc cho tỉnh dậy, rồi tiếp tục uống nước nữa.

Như cái máy, Văn Bình ngồi xuống cái ghế siêu vẹo, đối diện bàn đựng hình cụ. Lỏng chỏng trong một cái thau nhôm, chàng đếm được 10 cây kềm đủ cỡ lớn nhỏ bê bết máu. Móng tay, móng chân, răng hàm còn dính thịt lổn nhổn vứt la liệt trên bàn.

Một tiếng quát điếc tai:

- Chìa tay ra.

Văn Bình lặng lẽ tuân theo.

- Nhổ tay trái trước.

Văn Bình cố nghĩ đến một cô gái đẹp, một chai huýt-ky hảo hạng và một bịch thuốc Salem thơm mùi bạc hà. Uống hết nửa chai, chàng nhìn người đẹp cởi bỏ áo quần rồi ôm nàng vào lòng. Trong căn phòng mát rợi, chỉ còn một ngọn đèn đêm màu hồng dịu dàng. Văn Bình muốn kéo dài giây phút tưởng tượng thần tiên ấy mãi. Chàng hy vọng quên được phần nào nỗi đau đớn về thể xác dưới cây kềm sắt.

Miệng kềm đã cắn vào móng ngón cái của chàng, kèm theo giọng nói vỗ về:

- Tăng Minh, anh nói thật đi, chúng tôi không muốn anh thành kẻ tàn phế. Đời đẹp lắm, anh quên rồi ư? Mất hết móng, mất hết răng, anh không còn bảnh trai như trước nữa. Con gái đẹp sẽ không thèm ngó ngàng đến anh. Chúng tôi biết anh rất thích đàn bà. Anh có nhiều nhân tình, cô nào cũng đẹp và nẩy nở. Một đoàn thoát y vũ nổi tiếng vừa ghé Vọng-các. Mấy ngày nữa, anh được xem rồi. Chết trong lúc này, chết không đáng chết, uổng quá. Nghĩ lại đi, Tăng Minh. Chúng tôi sẽ cho anh thật nhiều tiền. Nếu anh cần gái đẹp, chúng tôi sẽ đưa anh hàng tá, tha hồ chọn lựa. Đàn bà Hànội đẹp lắm, anh biết không? Họ trắng như trứng gà bóc chứ không ngăm ngăm như ở Thái-lan đâu.

Văn Bình vẫn ngồi yên. Chàng giả vờ run rẩy:

- Tôi đã khai thật mà các anh không tin. Phút chót, Saratiên chẳng đưa gì cho tôi cả.

Văn Bình bị tát mạnh vào mặt. Chàng ngã chúi xuống đất. Tiếng chửi nổi lên:

- Láo khoét. Mất mấy móng tay rồi mày phải nói.

Văn Bình bị đạp thêm một cái vào ngực nữa. Thường lệ chàng đã vùng dậy, tặng cho đối phương một bài học về nhu đạo. Song chàng chợt nhớ ra Tăng Minh là một thanh niên chơi bời, trói gà không chặt. Chàng đành mím môi chịu đòn.

Một giọng lạ mà quen - lạ vì mới cất lên lần đầu từ khi Văn Bình được đưa tới nhà giam bí mật, quen vì chàng đã nghe hồi tối - ngọt ngào rót vào tai chàng:

- Tăng Minh, anh bướng bĩnh như vậy làm gì, tổ thiệt thân mà thôi. May tôi đến kịp nếu không anh đã tàn phế. Thôi các đồng chí, đừng tra tấn nũa, để tôi dùng lời thuyết phục Tăng Minh. Trời đã khuya rồi các đồng chí nên đưa Tăng Minh về Trạm.

Văn Bình không tỏ vẻ sửng sốt. Giọng nói ngọt ngào này là của Phan Mỹ, trùm gián điệp của bộ Ngoại Giao. Nếu Phan Mỹ khám phá ra chàng là người lập mưu lẻn vào văn phòng đánh cắp tài liệu, y sẽ không ngọt ngào nữa. Việc chàng bị Phan Mỹ bắt cóc đã làm sáng tỏ thêm những vấn đề đang làm kế hoạch của ông Hoàng chậm lại.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:38 pm

Rủi mà may, như Tái Ông mất ngựa, vụ Saratiên xô chàng vào một tình trạng khó khăn dễ bại lộ, mặt khác, lại giúp chàng khám phá ra nhiều bí mật động trời. Ngoài bức thư quan trọng Môrít đoạt được ở Vọng-các, viết bằng mực riêng vào ve áo vét-tông, ông Hoàng còn có cuốn phim tí hon giấu trong chiếc chìa khóa hình tròn nữa. Văn Bình nhủ thầm sẽ tìm cách liên lạc cấp tốc với bà Huyền Hoa, tức Z.62, để chuyển cuốn phim về Sàigòn cho ông tổng giám đốc.

Văn Bình chưa kịp đáp thì một cái bao bố dầy cộm được chụp vào đầu chàng. Chàng để yên không phản kháng. Chàng biết là sắp được tự do. Phan Mỹ ra lệnh chụp bao bố để chàng không nhận ra địa chỉ nhà giam.

Bao bố quá dầy, chàng không còn thấy gì nữa. Đèn đóm bỗng tắt ngúm. Phan Mỹ nắm bàn tay chàng, thân mật:

- Anh Tăng Minh, Saratiên đưa cho anh mấy cái chìa khóa?

Văn Bình đáp liều:

- Tôi không nhận được gì cả.

Phan Mỹ mân mê chùm chìa khóa trong tay:

- Anh có cả thảy mấy chìa?

- Sáu chìa. Ba cái dẹt, ba cái tròn.

Vừa trả lời, chàng vừa lo ngại. Chiếc chìa khóa dẹt chàng đã giấu trong phòng tắm cùng với cuộn phim. Nếu đàn em Phan Mỹ lục lọi trong phòng tắm, chàng sẽ mất mạng.

Phan Mỹ lại hỏi, vẫn bằng giọng đều đều:

- Sáu chìa này, anh dùng để mở tủ nào?

- Trong văn phòng của tôi.

- Lạ nhỉ. Tôi chưa hề thấy loại chìa nào kỳ cục như của anh. Này anh Tăng Minh, nếu anh có điều gì chưa dám nói, anh cứ nói ra, tôi không làm phiền anh đâu. Tôi long trọng cam kết giữ kín những điều anh tiết lộ. Về tiền, anh cần bao nhiêu, tôi cũng đủ sức cung cấp cho anh. Nhưng thôi, tôi chưa muốn anh quyết định ngay bây giờ. Để anh về phòng ngủ cho lại sức. Đêm mai, tôi sẽ mời anh tới đây lần nữa. À, tôi chỉ cần dặn anh một điều. Cấm anh không được hé môi với ai về những việc xảy ra đêm nay. Tôi rất tốt nhưng rất ác đối với những kẻ coi thường lệnh tôi. Anh tâm sự với ai, tôi cũng biết, và khi ấy tôi sẽ tàn nhẫn hết sức. Anh đừng hy vọng công an Hànội sẽ giúp anh. Vì tôi còn mạnh hơn công an Hànội nữa. Anh nhớ chưa?

Văn Bình đáp:

- Vâng, tôi nhớ.

Chàng được dìu qua một hành lang lạnh toát rồi trèo đúng hai chục bậc thang lên trên. Tiếng động cơ xe hơi từ xa vọng lại cho chàng biết gian phòng tra tấn được ăn sâu dưới đất. Nghe tiếng bánh xe cán sỏi lạo xạo và tiếng hô quen thuộc của người gác, chàng khấp khởi mừng thầm: căn nhà bí mật là hầm bộ Ngoai Giao.

Xe hơi chạy được một quãng, Văn Bình bỗng đau nhói ở bắp đùi. Tay chân chàng bỗng nhiên tê dại. Chàng vận dụng nghị lực để chống chọi với sự thèm ngủ đang xâm lấn thân thể, song sức chàng chỉ có hạn. Thuốc mê được tiêm vào thịt chàng có tác dụng vô cùng ghê gớm. Chàng ngoẹo đầu vào nệm xe, ngủ mê man.

Chàng tỉnh dậy thì trời đã sáng từ lâu. Nhìn tứ phía, chàng nhận ra căn phòng quen thuộc ở Hàng Mành. Ánh nắng vàng hoe lọt vào cửa sổ chiếu vào cái giường chăn mền xô lệch. Chàng ngáp dài, khua chân tìm dép. Miệng chàng khô đắng như hồi khuya vừa uống nhiều rượu mạnh. Đầu chàng nặng chĩu một cách lạ lùng.

Chàng vụt nhớ mọi việc xảy ra.

Những phút trong tổng hành doanh dưới đất của bà Huyền Hoa, cánh tay phải của ông Hoàng ở miền Bắc.

Những phút trong tổng hành doanh dưới đất của Phan Mỹ, cánh tay phải của tòa đại sứ Trung Hoa cộng sản.

Những phút say sưa với Vương Lệ, vợ hờ của Bôrin, tình nhân của Phan Mỹ.

Nhất là những phút dị thường với Nguyệt Thanh, cô con gái rượu của Z.62, có khuôn mặt như nặn, tấm thân nõn nàng, và làn hơi thơm mát.

Văn Bình thở dài. Chàng vừa nhớ lại lời nói của Phan Mỹ. Đêm nay, hắn sẽ cho người tới đây nữa.

Chàng không sợ tra tấn, cũng không sợ thần Chết, song cảm thấy bị dồn vào tình trạng cá chậu chim lồng. Phan Mỹ còn nghi ngờ nên giả vờ ngọt ngào cho chàng về, và sai người theo dõi. Đàn em của hắn sẽ không rời chàng phút nào. Chắc Phan Mỹ có đàn em trong Trạm Hàng Mành nên chàng bị bắt cóc và trả về mà không ai biết.

Muốn hoạt động hữu hiệu, chàng phải rời Trạm Hàng Mành. Chàng quyết định báo tin cho Quỳnh Ngọc biết.

Chàng vừa mặc quần áo xong thì tiếng đằng hắn ngoài cửa. Tiếng đằng hắng của một người đàn bà. Tiếp theo tiếng sột soạt. Rồi một tờ giấy được luồn qua khe cửa vào phòng.

Nhanh như cắt, chàng vặn khóa, mở cửa. Hành lang vắng tanh. Người đàn bà bí mật đã biến đâu mất.

Văn Bình lượm mảnh giấy lên đọc. Bên trong chỉ có một giòng chữ nguệch ngoặt bằng bút chì:

"Đúng mười một giờ, phố Hàng Gai".

8.

Văn Bình hiểu liền. 6 cộng với 2 là 8. Z.62 vừa gửi thư cho chàng. Như vậy có nghĩa là Z.62 gài được cộng sự viên trong Trạm. Chàng nhìn đồng hồ: 10.45.

Còn 15 phút nữa.

Vào giờ này, phái đoàn kiều bào đã đi hết. Chương trình tham quan còn hai ngày nữa thì kết thúc, phái đoàn sẽ từ giả Hànội về Vọng-các. Chàng cũng còn nhiều nhất là hai ngày nữa để hoàn thành kế hoạch của ông Hoàng.

Chàng đang băn khoăn không biết làm cách nào ra đường mà không bị nhân viên của địch theo dõi thì đột nhiên một hồi còi rú lên.

Còi báo động phi cơ Mỹ.

Từ ngày chàng ra Bắc, đây là lần đầu có báo động. Chàng không tin cuộc báo động này là ngẫu nhiên. Chắc bà Huyền Hoa đã can thiệp với ông Hoàng. Vì có báo động, mọi người đua nhau xuống hầm trú ẩn, bà mới có thể gặp chàng dễ dàng trên đường phố ngày thường đông đúc, đầy rẫy tai mắt của địch.

Tiếng còi rú lên thê thảm như hàng triệu con heo bị chọc tiết.

Còi báo động được đặt ở nhà Bưu Điện Bờ Hồ và Cửa Đông, gần Hàng Mành nên Văn Bình nghe rõ mồn một.

Dường như tiếng còi trốn phi cơ oanh tạc có ma lực làm bầu trời Hànội đang nắng chang chang, và trong vắt không một chút gợn, bỗng tối sầm lại một màu tang tóc ảm đạm. Thành phố Hànội đang ồn ào đột nhiên câm họng, như thành phố của những người chết.

Quả chàng đoán đúng, bọn cán bộ trong Trạm chiêu đãi đã bỏ chạy xuống hầm ở đầu đường, để lại căn nhà trống trải, rộng mênh mông.

Người gác thường trực gần cầu thang cũng không còn nữa.

Văn Bình đốt thuốc Salem thản nhiên xô cửa ra ngoài đường. Tiếng còi vừa dứt. Ngoài đường đang còn đông người. Mặt ai nấy cũng đượm vẻ hốt hoảng. Mỗi người mặc một thứ y phục khác nhau: kẻ có y phục chỉnh tề, người ở trần bận quần cụt, hầu hết phụ nữ đều chạy chân đất, song người nào cũng xách nơi tay hoặc đeo sau lưng một cái bị đựng gia tài điền sản.

Văn Bình suýt đụng phải nhiều người chạy ngược chiều. Họ không có thời giờ xin lỗi và cũng không để ý đến chàng.

Một thiếu nữ trạc hai mươi từ trong nhà chạy vụt ra suýt ôm chầm lấy chàng. Chàng kéo luôn nàng vào lòng, đặt cái hôn nhẹ lên môi. Buông ra thấy một người đàn ông lạ, thiếu nữ bẽn lẽn bỏ chạy mất vào đám đông lôi thôi lếch thếch.

Văn Bình ra đến đường Hàng Gai.

Chàng giả vờ nép vào hàng hiên, liếc lại phía sau.

Chàng không ngăn được bực bội vì một tên chó săn đang lẽo đẽo theo chàng, cách chừng năm chục thước. Không hiểu hắn cố ý cho chàng thấy hay hắn là nhân viên kém kinh nghiệm. Tuy nhiên, trong lúc này, chàng không muốn ai đi theo hết. Chàng phải tìm cách cho hắn ăn bụi mới được.

Văn Bình bách bộ trên đường Hàng Gai.

Đường sá sắp sửa vắng tanh rồi, nếu chàng không gặp bà Huyền Hoa, chàng không thể đi một mình lù lù trên vĩa hè thế này trong khi toàn thể dân Hànội đã chui xuống hầm trú ẩn.

Bà Hoa dặn chàng tới đường Hàng Gai, nhưng không nói rõ tới chỗ nào.

Bỗng chàng giật mình.

Biết đâu không phải thư của Z.62. Biết đâu Phan Mỹ lập mưu đưa chàng vào xiếc. Văn Bình đứng lặng một giây đồng hồ. Chàng thường làm việc theo linh tính. Linh tính của chàng ít khi bị lầm. Chàng tin chắc là thư của bà Huyền Hoa.

Một hồi còi thứ nhì kéo lên rền rĩ.

Loạt còi này báo hiệu phi cơ Mỹ sắp tới không phận Hànội. Trong một hay hai phút nữa, mọi người đều phải xuống hầm. Ngoài đường chỉ còn một số ít nhân viên phòng thủ thụ động và xe hơi cứu thương.

Quái, bà Hoa đợi chàng ở đâu?

Trước hết, chàng phải đối phó với tên tay sai của Phan Mỹ lẽo đẽo phía sau.

Chàng tạt vào mái hiên, hút thuốc lá chờ hắn tới. Lạ lùng xiết bao, vừa khi ấy, một chiếc xe mang dấu hiệu chữ thập đỏ bên hông và trên mui - xe cứu thương - từ đường Hàng Mành chạy tới, đậu xịch ngay cạnh tên đi theo.

Cửa xe mở ra, trong chớp mắt, hắn trèo lên. Văn Bình giựt mình. Có lẽ Phan Mỹ lợi dụng tình trạng báo động để bắt cóc và thủ tiêu chàng.

Trông trước, trông sau, Văn Bình bố trí đường lối thoát thân. Cách chàng hai thước là một bức tường thấp, chàng nhún lên là có thể vượt qua. Đường Hàng Gai có ngõ hẻm quanh co bên trong. Chàng lại thuộc làu, bắt được chàng không phải dễ trừ phi chúng có nhiều người.

Nhưng nếu người ta có súng tiểu liên trong xe?

Một họng súng đen ngòm chĩa ra, chàng không thể nhảy tường được nữa, vì trong vòng ba bốn thước, súng máy có thể giết chết một con ruồi.

Chàng bèn cho tay vào túi lấy dao. Phó mặc cho may rủi, nếu địch chậm tay trong vòng một phần mười tích tắc đồng hồ, chàng có thể phóng lưỡi dao lá liễu vào ngón tay bóp cò của tên cầm súng.

Chiếc xe cứu thương sơn trắng đã đậu lại. Giờ phút quan trọng đã đến.

Như chàng dự tính, cửa trước mở ra, Văn Bình nghiêng mình sang bên, lưỡi dao mỏng dính nhảy vào lòng bàn tay.

Tacata… Tacata….

Tacata… Tacata….

***

Trước đó mấy giờ đồng hồ, khi Văn Bình còn ngủ mê mệt, tòa biệt thự 3 tầng quét vôi trắng sau nhà pha Hỏa Lò, đường Hàng Bông Thợ Ruộm đã hoạt động ồn ào. Đó là tổng hành doanh Smerch ở Hànội.

Chiếc ZIM đồ sộ sơn đen của đại tá Kamốp vượt qua cánh cổng lớn bịt kín bằng tôn dầy sơn trắng. Một quân nhân Sô Viết, cổ áo không đeo huy hiệu cấp bực, chờ Kamốp trên thềm, nét mặt đăm chiêu.

Bước xuống xe, Kamốp giựt mình:

- Chào thiếu tướng.

Người quân nhân không đeo lon là thiếu tướng Hôlếp, tùy viên quân sự tòa đại sứ Nga Sô tại Hànội, kiêm giám đốc trú sứ các cơ quan gián điệp Sô Viết[54].

Hôlếp chỉ độ 40 là cùng. Y thuộc vào "đợt sóng mở" của ban lãnh đạo mật vụ Sô Viết và là bồ bịch của Sêmisátni[55], trùm do thám Nga Sô. Nếu Kamốp gầy, cao, mặt choắt, hàm răng bám chất nicôtin vàng ệch, bàn tay sần sùi, nhỡn tuyến lạnh như nước đá, sắc như dao cạo, thì ngược lại, thiếu tướng Hôlếp có một thân hình tầm thước, đậm bề ngang, răng trắng như ngà, bàn tay mềm mại như bàn tay của nhạc sĩ dương cầm, và đôi mắt, dịu dàng, ấm áp, loại mắt mà đàn bà thích nhất.

Tuy nhiên, cái mã ngoài hiền lành và đĩ điếm ấy lại chứa đựng một bộ óc kinh khủng của nghề do thám. Hôlếp giết người như ngóe, mười ngón tay tháp bút xinh xắn kia đã am tường những miếng nhu đạo bí hiểm nhất thế giới, và chỉ cần đụng vào người là đối phương chết không kịp trối.

Ít khi Hôlếp thân chinh đến văn phòng của đại tá Kamốp, trừ phi có công việc vô cùng quan trọng. Bắt tay Kamốp, thiếu tướng Hôlếp nói, giọng nhỏ nhẹ:

- Tôi vừa nhận được điện thoại của phủ Thủ Tướng.

- Về vụ gì, thưa thiếu tướng?

Hôlếp hạ thấp giọng:

- Vụ Phan Mỹ.

Kamốp khựng người:

- Xin mời thiếu tướng vào trong này.

Cánh cửa bằng thép mở ra êm như ru. Hôlếp ngồi xuống ghế bành, Kamốp đặt cái tẩu thuốc lá cháy dở xuống bàn. Y vốn biết tính của Hôlếp: tính ghét thiên hạ hút thuốc trước mặt. Hôlếp khoát tay:

- Đồng chí cứ hút đi. Dân nghiện mà…. Chúng mình sắp có nhiều việc phải làm.

Nhặt cái tẩu lên, Kamốp nói:

- Xin lỗi thiếu tướng.

Hôlếp nói giọng đều đều:

- Phủ Thủ Tướng đã nắm được bằng chứng cụ thể về việc Phan Mỹ tạo phản.

- Tôi đã tiên đoán việc này từ nhiều ngày nay. Tuy nhiên, tôi đang băn khoăn chưa biết xử trí ra sao. Trừ khử được Phan Mỹ không phải là dễ. Tòa đại sứ Trung quốc sẽ làm rùm beng lên.

Hôlếp lắc đầu:

- Họ làm gì, kệ họ. Phủ Thủ Tướng sẽ đối phó với hắn, ta chỉ dứng ngoài mà thôi. Sở dĩ tôi đích thân gặp đại tá vì Phan Mỹ đã cung cấp cho địch một hồ sơ quan trọng nhan đề là "những khuyết điểm của nền tình báo Sô Viết".

- Trời!

- Tôi muốn đại tá bố trí bắt Phan Mỹ nội trong ngày nay. Đêm qua, hắn giết một loạt tám nhân viên của ta, tôi không thể tha thứ được.

- Thưa, nếu bắt không được?

- Tùy đại tá lo liệu, tôi không cần biết rõ chi tiết. Đại tá nhớ chưa? Bắt đầu từ phút này, tôi không muốn nghe ai nói đến tên Phan Mỹ nữa. Tên hắn phải được gạch khỏi sổ bộ bằng bất cứ cách nào.

Hôlếp xô ghế đứng dậy:

- Nội ngày nay, đại tá phải báo cáo kết quả cho tôi.

Kamốp định đưa Hôlếp ra tận xe, nhưng Hôlếp gạt đi:

- Tôi ra một mình cũng được. Thời giờ gấp trút lắm, đại tá phài làm ngay mới kịp. Sáng mai, Phan Mỹ đã đi Bắc Kinh rồi.

Kamốp tái mặt. Hôlếp chỉ đích thân điều khiển những công tác quan hệ và hiểm nghèo. Hôlếp đã ra lệnh là phải thành công. Ngay đến ông đại sứ cũng sợ Hôlếp như cọp. Kamốp mới vinh thăng đại tá được ba tháng, nếu công việc thất bại, lon đại tá có thể bị bốc hơi như chơi mặc dầu y là một nhân viên nồng cốt và có uy thế của cơ quan ám sát Smerch.

Chờ cho Hôlếp ra khỏi phòng, Kamốp ấn chuông. Một nhân viên bận thường phục xô cửa vào. Kamốp hất hàm:

- Vào phút này, Phan Mỹ đang ở đâu?

Tên nhân viên đáp như máy:

- Thưa, toán X19 vừa báo cáo về xong. Phan Mỹ đang ở bộ Ngoại Giao. Bên phủ Thủ Tướng gọi sang có chuyện cần nhưng hắn cáo bận không tới. Hắn vừa gọi điện thoại cho ông bộ trưởng.

- Bọn họ nói với nhau những gì?

- Thưa, điện thoại của Phan Mỹ được gắn dụng cụ an toàn[56] do Liên Sô cung cấp nên nghe trộm không được.

Kamốp sẵn giọng:

- Cơ quan nào cung cấp dụng cụ an toàn cho hắn?

- Thưa Smerch. Chính đại tá đã ký giấy chấp thuận, năm ngoái.

Kamốp thở dài:

- Hừ, gậy ông đập lưng ông. Anh em đã bố trí sẵn sàng chưa?

- Thưa rồi. Phan Mỹ cũng phòng vệ chu đáo lắm. Từ mấy hôm nay, đi đâu hắn cũng mang hai toán vệ sĩ đi theo. Xe hắn đi giữa, một chiếc díp mở đường, chiếc thứ hai chạy sau. Trên mỗi xe đều có 4 nhân viên trang bị tiểu liên K-50. Xe hơi của Phan Mỹ lúc nào cũng quay kiếng kín mít. Tưởng cần báo cáo thêm với đại tá là xe hắn được lót bằng tôn dầy 5 ly, đạn thường bắn không thủng. Kiếng xe cũng được chế riêng tại Mạc-tư-khoa, có thể ngăn lằn đạn. Xe hơi khóa bên trong, bên ngoài không tài nào mở được. Loại xe này Hànội chỉ có 4 cái.

Kamốp gát:

- Biết rồi. Tao biết rồi. Mày đừng dậy tao nữa. Chiếc xe của Phan Mỹ được ráp tại xưởng Gọt-ki. Tao đã nghiên cứu kỹ lưỡng, bề ngoài nó là một pháo đài bằng thép, nhưng bên trong nó có một vài yếu điểm. Tuy nhiên, tao có cần mày ném lựu đạn hoặc bắn vào xe Phan Mỹ đâu mà bàn đến chuyện này. Tao chỉ muốn mày bắt sống hắn. Bắt sống hắn một cách êm thắm.

Tiếng chim hót vang lanh lảnh trong căn phòng điều hòa khí hậu. Đó là tiếng chuông điện thoại. Kamốp áp ống nghe vào tai, vẻ mặt đăm chiêu. Da trán y nhíu lại. Ở đầu giây là tiếng nói của một người Việt, dùng Nga ngữ thông suốt nhưng giọng chưa sõi.

Kamốp nhếch mép:

- Chào đại tướng. Tôi vừa gặp đồng chí Hôlếp xong. Vụ Phan Mỹ sẽ được hoàn tất nội ngày nay.

Người Việt được Kamốp gọi là đại tướng nói:

- Đồng chí thủ tướng và tôi đã kêu Phan Mỹ tới văn phòng để bào chữa, song hắn thoái thác không tới. Chúng tôi định lừa hắn qua phủ Thủ Tướng rồi giữ lại luôn. Nhưng hắn là con cáo già nên đánh hơi thấy liền. Hồi 9 giờ, đồng chí Trường Chinh và đại tướng Nguyễn Chí Thanh gặp tôi và yêu cầu xếp bỏ vụ Phan Mỹ lại. Họ nói rằng vụ Phan Mỹ là một âm mưu ly gián của địch, hoặc ít ra cũng là một kế hoạch bẩn thỉu của bọn phản động trong tòa đại sứ Sô Viết. Tôi đã nặng lời với họ. Tôi hỏi họ bọn phản động này là ai thì họ cho biết sẽ triệu tập đại hội Trung Ương Đảng, và sẽ dùng đa số áp đảo, loại trừ chúng tôi ra ngoài. Họ nói thật, không dọa đâu. Hiện nay, họ đang nắm đa số trong Trung Ương Đảng. Đại tá nghĩ sao?

- Tôi không thể trì hoãn thêm nữa. Phan Mỹ là cái gai đâm vào mắt, để chậm ngày nào, hư mất thêm ngày ấy.

- Nhưng bây giờ không thể lừa bắt được đâu.

- Tôi có cách khác.

- Nếu vậy thì còn gì bằng. Tuy nhiên, tôi xin báo đại tá biết là vụ Phan Mỹ phải được thi hành một cách kín nhẹm, nếu để tùm lum ra, vị trí anh em tôi trong Trung Ương sẽ bị nguy ngập. Chỉ còn ngày nay nữa thôi, đúng 5 giờ sáng mai, hắn sẽ đáp máy bay đi Bắc Kinh, và hắn ở lì bên Trung quốc cho tới khi Trung Ương nhóm họp. Diệt được hắn trong lúc này sẽ làm phe hắn mất tinh thần, đa số của Trung Ương sẽ ngả về phía anh em tôi. Trăm sự tôi trông cậy vào Smerch, vào tướng Hôlếp, vào sự lãnh đạo cừ khôi của đại tá.

Kamốp mỉm cười:

- Cám ơn. Đồng chí đừng lo, cứ ăn no ngủ kỹ, mặc tôi hành động.

Kamốp gác điện thoại.

Một tiếng chim hót khác lại nổi lên.

Mặt Kamốp vụt tươi tỉnh. Một nhân viên báo cáo về:

- Thưa đại tá. Phan Mỹ sửa soạn rời bộ Ngoại Giao.

- Hắn đi đâu?

- Thưa, đi tới tòa đại sứ Trung quốc.

- Có biết khi nào hắn về văn phòng không?

- Thưa, đến trưa.

- Được. Mày cứ túc trực ở đó chờ lệnh.

Kamốp quay ra phía tên nhân viên mặc thường phục đợi trong phòng:

- Kêu Bôrin tới đây gặp tôi ngay có việc cần.

- Thưa, thiếu tá Bôrin?

- Phải, thiếu tá Anáttát Bôrin. Tôi cần gặp Bôrin nội buổi sáng này.

- Thưa, Bôrin còn đau.

- Mặc kệ. Nếu y không đi được thì vực lên cáng, khiêng về đây.

- Thưa, Bôrin đâu đến nỗi phải nằm băng-ca. Hai hôm nay, y ghen với cô vợ nên nằm mọp trong phòng.

Kamốp lẩm bẩm:

- Ghen! Hừ, ghen vậy mà hay.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tacata… Tacata….

Tiếng súng máy nổ dòn. Nhưng đó không phải từ trong xe Hồng-thập-tự phát ra. Hàng loạt phát đại liên nữa nổ tiếp. Có lẽ giàn cao xạ ngoài bờ sông Hồng Hà đang bắn lên không. Tuy nhiên, không có tiếng phi cơ nào.

Lưỡi dao mỏng dính sắp được phóng ra bỗng chùn lại. Văn Bình vừa nhận ra một khuôn mặt quen thuộc. Người lái xe cứu thương là một bà già tóc bạc phơ.

Bà Huyền Hoa tức Z.62, cánh tay phải của ông Hoàng ở Bắc Việt. Sau làn kiếng trắng dày cộm, cặp mắt bà Hoa vụt sáng một cách dị thường. Hiểu ý, Văn Bình nhảy lên xe. Chiếc Rờnô cũ kỹ lách ra khỏi lề, phóng một mạch trên con đường vắng tanh.

Bà Hoa mỉm cười:

- Chào anh. Tên nhân viên của địch đi sau anh đã bị con Nguyệt Thanh hạ thủ.

Chàng hỏi:

- Tại sao hắn lại dại dột trèo lên xe như thế?

Nguyệt Thanh ló mặt ra khung cửa hình chữ nhật ngăn phòng lái với phía sau xe, nhí nhảnh:

- Anh nổi tiếng là đệ nhất điệp viên mà khờ khạo quá!

Bà Hoa mắng át con:

- Con quỷ sứ! Mày thử bớt hỗn một chút xem nào. Mày phải xin lổi đi nếu không lát nữa tao đánh đòn.

Văn Bình xen vào:

- Cô Thanh nói đúng đấy. Xin bà tha lỗi cho cô.

Nguyệt Thanh reo lên:

- Đấy, "cụ" thấy chưa. Anh ấy xin lỗi cho con rồi. Anh Văn Bình ơi, sở dĩ thằng nhân viên của Phan Mỹ trèo lên xe vì hắn thấy em dơ tay vẫy. Trời ơi, em đâu đến nỗi xấu. Được một thiếu nữ đẹp gọi đến, phỗng đá cũng phải chạy lại, huống hồ là một anh đàn ông quèn.

Văn Bình định đáp bằng một câu "nịnh đầm" nhưng sực nghĩ tới bà mẹ nghiêm khắc ngôi bên, chàng đành nín lặng. Bà Hoa vừa sang số, vừa nói:

- Phan Mỹ không thể biết được nhân viên của hắn đi đâu vì lát nữa, tôi sẽ ngâm xác chết vào thùng át-xít. Trong 24 tiếng đồng hồ, thân thể sẽ tan ra nước.Tôi không ngờ một thanh niên lực lưỡng, được huấn luyện về do thám, mà không chịu nổi một ngón đòn tầm thường của con Thanh.

Nguyệt Thanh cười dòn tan:

- Con đánh trúng vào huyệt tử của hắn. Hắn chết không kịp ngáp.

Bà Hoa nói:

- Con để yên cho mẹ bàn chuyện với Z.28.

Rồi ngoảnh sang phía Văn Bình:

- Lẽ ra, đêm nay hay ngày mai tôi mới liên lạc với anh, nhưng tôi đổi ý kiến vì tình thế biến chuyển quá nhanh. Hồi khuya, anh bị Phan Mỹ bắt đưa về bộ Ngoại Giao, tôi cho người đi theo. Tôi biết họ chưa dám làm gì anh nên không ra tay can thiệp. Nhưng dầu sao anh cũng sắp sửa bị lộ. Phan Mỹ là một người thông minh và có biệt tài gián điệp, sớm muộn hắn sẽ phăng ra.

Vụ này quá quan trọng nên mẹ con tôi phải đích thân làm lấy, không thể giao cho anh em cộng sự viên biết. Biết gặp anh ban ngày rất khó, tôi phải điện cho ông Hoàng xin một phi đội phản lực bay vào vùng trời Hànội. Dân chúng Hànội rất sợ báo động. Nghe tiếng còi rú, người nào người nấy đều bỏ hết mọi việc, chạy bán sống bán chết xuống hầm. Những cuộc oanh tạc kinh khủng ở Thanh Hóa, Nam Định và Lạch Tray đã làm họ xuống tinh thần rất nhiều. Trong khi thiên hạ nhốn nháo, anh có thể ra đường dễ dàng. Tôi cũng có thể gặp anh dễ dàng.

Văn Bình ngắt lời:

- Xe cứu thương này thật hay giả, thưa bà?

Bà Hoa đáp:

- Thật một trăm phần trăm. Chắc anh chưa biết tôi là bác sĩ của bệnh viện Phủ Doãn. Bác sĩ cũng thật một trăm phần trăm, cũng như Triệu Dung ngày trước. Làm nghề bác sĩ, đi lại được dễ dàng, không bị công an để ý. Tôi lại ở trong ban cứu thương phòng thủ thụ động. Mỗi lần báo động, tôi tha hồ xách xe chạy rong trong thành phố. Bắt ai, giết ai, lúc này là tiện nhất.

Văn Bình hỏi:

- Thưa, bây giờ bà cần làm gì?

Bà Hoa nheo mắt:

- Cần cái tài bách bộ xuyên dương của anh?

- Thưa, bắn ai?

- Một yếu nhân của địch. Khẩu tiểu liên PPs, anh chọn hồi hôm tôi đã cho cưa báng, anh có thể giấu vào trong người. Bây giờ là mười một giờ mười lăm. Còn 45 phút nữa.

- Bắn Phan Mỹ hay Kamốp?

- Cần gì ám sát hai người ấy. Phan Mỹ llà đứa nham hiểm, để hắn sống thì cuộc tranh chấp giữa hai phe thân Nga và thân Tàu ở đây mới xâu xé nhau quyết liệt. Giết Kamốp thì Smerch mất một tay đa mưu túc kế. Phải có hai hổ đồng cân, đồng lạng thì cuộc vật lộn mới luôn luôn gay cấn và thích thú. Vả lại, trong lúc này, ám sát được Phan Mỹ và Kamốp chẳng phải dễ. Vì vậy tôi đã nghĩ đến một mục phiêu khác. Phải giết một người nào mà hai phe gầm gừ nhau thêm. Người đó là Hôlếp.

- Thiếu tướng Hôlếp?

- Phải. Hắn là thiếu tướng RU. Bề ngoài hắn chỉ là tùy viên quân sự sứ quán Sô Viết, nhưng thật ra hắn là tay quan trọng nhất, phụ trách việc điều hợp hoạt động của các cơ quan điệp báo Sô Viết ở đây như RU, KGB và Smerch. Kể ra, hắn kiểm soát cả RUMID, cơ quan gián điệp thuộc bộ Ngoai Giao, nhưng lại vướng Phan Mỹ. Hắn lôi Phan Mỹ về nhiều lần không được, nên giữa hai người đã có sự thù hằn. Hôlếp bị ám sát, mặc nhiên dư luận phải nghi ngờ Phan Mỹ.

- Thưa, kế hoạch hành động ra sao?

- Tổng quát, các yếu nhân điệp báo ở Hànội đều được phòng vệ hết sức thận trọng. Xe hơi của họ đều bọc sắt. Sắt bên hông dầy 5 ly, còn sắt dưới sàn xe dầy những 10 ly, nổ bom dưới gầm xe không thể làm người ngồi trong xe bị tử thương. Kiếng cửa cũng được chế bằng vật liệu riêng, trừ phi đạn bắn chiến xa mới xuyên qua nổi. Tuy nhiên, tôi vẫn trù tính việc ám sát Hôlếp bằng cách bắn vào xe hơi.

- Thưa, Hôlếp đi xe loại nào?

- Như anh đã biết, các yếu nhân ở đây đều dùng xe Zil. Xe của Hôlếp là loại Zil III, thứ được chế tạo đặc biệt. Lòng máy của nó tương đương với xe Hoa-kỳ cỡ lớn, nghĩa là trên 6.000 phân khối, tốc lực tối đa 170 cây số một giờ. Nó cũng cồng kềnh như xe Mỹ, dài trên sáu thước, rộng trên hai thước. Trong xe có đủ tiện nghi tối tân: một cái tủ lạnh đựng đồ uống, hai máy thu thanh âm thanh nổi, một máy điện thoại siêu tần số liên lạc với tổng hành doanh, một bàn viết, ghế ngồi có thể biến thành giường ngủ êm ái.

- Còn võ khí?

- Ở phía trước, cạnh tay lái, có một cái nút riêng, ấn vào, bốn quả tạc đạn sa mù nổ cùng một lúc. Trong một tích tắc đồng hồ, cả khu vực sẽ bị sa mù che kín, không thể nhìn thấy gì hết. Khi bị tấn công bất ngờ, tài xế sẽ ấn nút nổ tạc đạn, và sau đó đeo một cái kiếng riêng vào mắt, lái xe ra khỏi vùng nguy hiểm, hoặc nhìn thấu qua làn sương tìm ra kẻ tấn công.

Còn võ khí thi trong xe có ba khẩu đại liên tự động, tương tự như súng máy gắn trên phi cơ Mig-19. Hẳn anh đã biết loại Mig-19 này đeo ở mũi hai khẩu đại bác 37 ly và hai khẩu khác 23 ly ở hai cánh. Tóm lại, xe hơi của Hôlếp được võ trang như một chiến xa hạng nặng.

- Thưa trong xe có mấy người?

- Phía trước là tài xế và người phụ. Còn ở băng sau là Hôlếp và một vệ sĩ.

- Lạ nhỉ, một vệ sĩ thì Hôlếp ngồi ở đâu?

- Anh thắc mắc rất đúng. Lệ thường, hai vệ sĩ phải ngồi kèm hai bên, biến thành cái mộc chắn đạn. Nhưng Hôlếp lại mắc một chứng bệnh kỳ quặc: hắn không thể vào nơi đông người. Hễ đông là hắn ngộp thở. Cũng vì sợ ngộp thở nên hắn không muốn vệ sĩ ngồi ép hai bên. Hắn có thói quen ngồi sát cửa.

- Nếu xe chạy chậm lại, tôi có thể bắn trúng được. Nhược bằng….

- Thong thả. Hôlếp mặc trong người một cái áo giáp khá dày, loại áo bằng ni-lông mà binh sĩ Hoa Kỳ mặc trong cuộc chiến tranh Cao-ly ấy mà. Loại áo này dày hơn, bằng bẩy lớp chỉ ni-lông đặc biệt, đạn thường khó thể xuyên qua.

- Vì vậy tôi sẽ nhắm vào đầu.

- Đúng. Anh chỉ có thể bắn vào màng tang. Và chỉ có thời gian bắn một phát.

Bà Hoa lái xe vào một ngõ hẻm mà Văn Bình không biết tên ở khu Cửa Đông. Chiếc xe cứu thương chạy lọt vào trong sân một ngôi nhà rộng cửa cổng vừa mở.

Bà ra lệnh cho Văn Bình:

- Anh xuống trước đi. Mời anh vào phòng khách, tôi sẽ đưa bản đồ cho anh nghiên cứu.

Văn Bình bước vào một căn phòng trang trí theo lối cổ với bộ trường kỷ gỗ mun khảm xa cừ, với cái sập chân quỳ chạm long phượng, và những cái thống Giang Tây cao lớn in các đoạn trong truyện Tam-quốc-chí.

Bà Hoa mời chàng ngồi, đoạn nói:

- Rượu huýt-ky để sẵn trên bàn, mời anh dùng tự nhiên. Tôi không biết uống rượu.

Chờ Văn Bình cạn một hơi ba ly rượu đầy ắp, bà Hoa nói, giọng thản nhiên như người kể chuyện:

- Hôlếp là một biệt tài về do thám, song y đã phạm phải hai khuyết điểm. Khuyết điểm thứ nhất mà anh đã biết là bệnh ngộp thở. Còn khuyết điểm thứ hai khả dĩ giúp chúng ta thực hiện kế hoạch được dễ dàng là sự tôn trọng giờ giấc đến cực độ. Thật vậy, đức tính căn bản của nghề do thám là sinh sống không chừng mực, mỗi lúc một khác, mỗi ngày một khác, không có giờ giấc nào nhất định, khiến đối phương không biết được ta ăn giờ nào, ngủ khi nào, và ăn ngủ ở đâu. Hôlếp lại sống như một cái máy tốt. Buổi sáng, đúng 7 giờ hắn thức dậy, tập thể dục đúng mười phút, đến 7 rưỡi hắn dùng điểm tâm và bữa nào hắn cũng uống một ly sửa và ăn một mẩu bánh mì phết bơ, kẹp dăm-bông. 8 giờ, hắn ra vườn, lên xe đi tới tòa đại sứ. Dầu bận việc đến đâu, đúng 12 giờ rưỡi hắn cũng về nhà. Nhà hắn là một tòa biệt thự lớn, phòng thủ kiên cố ở đại lộ Lý Thường Kiệt. Xe hơi của hắn về đến cổng vừa đúng 1 giờ kém 5 phút.

Vào đến sân, hắn xuống xe, ôm vợ hắn hôn rồi đùa một hai phút với bầy chó Đan-Mạch. Tưởng anh cần biết vợ hắn còn trẻ, rất trẻ, chỉ trên hai mươi là cùng, và hắn cưng vợ vô cùng. Thời gian anh có thể hành động là khoảng từ 1 giờ kém 4 phút đến 1 giờ đúng. Tuy nhiên….

- Có phải bà muốn nói là chung quanh không có căn nhà nào cao để núp bắn phải không?

Bà Huyền Hoa trải một tấm bản đồ thành phố Hànội lớn bằng cái chiếu xuống đất:

- Đúng thế. Muốn bằn trúng Hôlếp, phải núp một vị trí cao hơn, hoặc trên cây, hoặc trên sân thượng một nhà đối diện. Trên đại lộ Lý Thường Kiệt có nhiều cây me và cây bàng xum xuê, song tôi không tin là anh trèo lên được vì nhân viên công an gác nhan nhản. Về nhà thì chỉ có biệt thự của Hôlếp là cao nhất trong khu vực.

- Tường nhà Hôlếp cao bao nhiêu?

- Gần bốn thước, chưa kể hàng rào giăng bên trên.

Văn Bình nhún vai:

- Thế thì khó lắm. Bà nghĩ xem dọc đường Hôlếp có dừng lại đâu, hoặc tài xế phải chậm lại ở ngã tư nào không?

Bà Hoa mỉm cười:

- Tôi đã nghĩ đến rồi. Anh còn nhớ vụ Hêđờrích[57] bị kháng chiến Tiệp-Khắc ám sát chứ?

- Thưa nhớ.

- Kế hoạch của tôi không khác gì họ mấy. Bao giờ Hôlếp cũng qua đường Hàng Lọng để về Lý Thường Kiệt. Từ hôm qua, ở góc đường Hàng Lọng có một chỗ công nhân thủy điện đào xuống sửa chữa. Theo chỗ tôi biết, chiều nay họ mới làm xong.

Bà Hoa lấy bút chì mầu đánh một cái dấu chữ thập đỏ vào bản đồ. Văn Bình gật gù:

- À, tôi nhận ra rồi. Nơi này gần đường xe lửa, và đối diện với một nhà ngủ ba tầng.

- Phải, nhà ngủ này đã được trưng dụng cho nhân viên của bộ Ngoại Giao ở.

- Nhân viên của bộ Ngoại Giao?

- Phải. Nói rõ hơn nhân viên của Phan Mỹ. Từ lầu nhất, anh có thể bắn trúng Hôlếp khi xe hắn chậm lại một vào giây đồng hồ.

- Tôi vào nhà bằng cách nào?

- À, đó là một chung cư nên đi vào không bị để ý. Có người gác nhưng vào giờ ấy y còn bận tắm rửa. Anh có thể trèo cầu thang và vào thẳng căn phòng đã định.

- Có những ai trong phòng, thưa bà?

Bà Huyền Hoa thở dài:

- Thú thật với anh là tôi chưa biết. Lệnh của ông Hoàng ban ra gấp quá, tôi không có đủ thời giờ đi sâu vào chi tiết. Vả lại, xin anh hiểu cho là tôi đang thiếu người.

Văn Bình gạt đi:

- Thiết tưởng cũng không quan trọng lắm. Nếu Hôlếp cho xe chạy chậm lại trong một giây đồng hồ, tôi sẽ có thể hạ sát hắn dễ dàng.

Chàng đứng dậy. Bà Hoa nhìn đồng hồ:

- Đúng 12 giờ. Ta lên đường thì vừa.

Nguyệt Thanh đặt lên bàn một cái hộp đàn vĩ cầm màu đỏ đẹp mắt. Nàng mở nắp đàn, lấy ra khẩu súng máy PPs Sô Viết, nheo mắy nhì chàng một cách ý nhị.

Văn Bình quan sát kỹ càng nòng súng, thử lảy cò, cho bì đạn vào và cầm súng gọn trong tay, giả vờ nhắm bắn. Khẩu tiểu liên này khá thích hợp. Chàng chỉ cần bắn một phát. Nhiều lắm là hai phát.

Bà Hoa nói:

- Báo động đã hết từ nãy. Bây giờ Nguyệt Thanh lái xe đưa anh tới gần Hàng Lọng và chờ anh ở ngoài. Thôi, chúc anh may mắn.

Bà Hoa đi thẳng vào bên trong. Văn Bình thầm phục tài tổ chức của bà Hoa khi thấy Nguyệt Thanh giấu xe cứu thương vào trong ga-ra và nổ máy một chiếc Citroen sơn đen cũ mèm.

Nàng vừa vặn đề-ma-rơ vừa nói:

- Anh đừng khinh cái xe cà tàng này. Vị tất xe đua của anh đã chạy kịp nó.

Văn Bình cười:

- Sao em biết anh có xe đua?

Nàng trề môi:

- Ối chao, ai lại không biết. Anh là ông vua xe đua ở Sàigòn. Xe nào, anh cũng dùng một năm là bán lại, mua xe khác.

- Biết anh là vua xe đua, sao còn dám coi thường?

- Vì chiếc Citroen này của em có một bộ máy đặc biệt. Lệ thường, xe Citroen có hai loại, 11 và 15 mã lực, xe của em thuộc loại 11, có thể chạy tới 145 cây số một giờ. Nhưng anh ơi, bên trong không còn là máy Citroen nữa mà là máy xe đua Ferrari, 23 ngựa, trọng lượng gần bốn ngàn phân khối, nghĩa là lớn bằng máy xe Hoa Kỳ. Tốc độ bao nhiêu anh biết không?

Văn Bình làm thinh, Nguyệt Thanh nói:

- Ba trăm cây số một giờ. Còn nhanh hơn cả Mercédès 300SL nữa.

Văn Bình mỉm cười:

- Đường sá Hànội chỉ chạy đến một trăm một giờ là lật xe rồi, cần gì phải ba trăm.

Nguyệt Thanh nhăn mặt, phụng phịu:

- Anh không thích thì thôi, việc gì phải công kích em.

Xe hơi đã ra khỏi hẻm. Trông mặt dễ thương của Nguyệt Thanh, chàng muốn ôm ghì lấy, ngoạm một miếng vào má, song chàng sực nhớ đang ở Hànội, và ban ngày ban mặt.

Như đọc được ý nghĩ xấu trong đầu chàng, nàng dơ ngón tay trỏ lên:

- Anh định làm liều phải không? Anh coi chừng đấy, em cho xe hơi vào cột điện.

Nàng lái một tay, và lơ đễnh trong một phần trăm giây đồng hồ nên chiếc Citroen từ bên phải chạy sang bên trái, loạng choạng như say rượu. Một cam-nhông quân sự từ phía trước phóng nhanh tới. Chiếc Môlôtôva sơn màu xám, che lưới ngụy trang để tránh máy bay oanh tạc, sửng sững như đầu máy xe lửa đang xả hết tốc lực, có lẽ đến trăm cây số một giờ.

Khi ấy Văn Bình mới thấy tài lái xe cừ khôi của cô gái nhí nhảnh. Nhanh như điện, nàng bẻ hết vô-lăng về bên hữu rồi trả lại, chiếc cam-nhông khổng lồ vụt qua, cách xe hai người một gang tay. Văn Bình liếc nhìn Nguyệt Thanh.

Trên khuôn mặt tươi như hoa nở của nàng, không hề hiện ra một nét sợ hãi. Nàng vẫn giữ thái độ thản nhiên như hồi nãy dùng atêmi hạ sát nhân viên của Phan Mỹ ở đường Hàng Mành. Nổi tiếng là điệp viên bình tĩnh nhất Sở, Văn Bình lại thấy nàng bình tĩnh không kém, có lẽ còn hơn nữa, nếu nàng là đàn ông.

Ngoảnh mặt về phía chàng, Nguyệt Thanh tủm tỉm cười:

- Anh sợ chúng mình tan xác phải không? Anh đừng lo, ngày nào em cũng lái xe hú tim như thế. Em đã bảo rằng chiếc Citroen cà khổ này chạy nhanh hơn xe đua thượng thặng mà anh không tin. Giờ đây, anh đã thấy chưa?

Văn Bình thở phào ra:

- Anh mất đến một lít máu rồi. Em đừng chơi đùa như vậy nữa.

- Thôi được. Em tạm tha cho anh. Chừng nào em vào Sàigòn, sẽ thi lái xe trên xa lộ Biên-Hòa với anh một bữa. Em cam đoan một ăn mười là anh sẽ thua em.

- Ừ, anh chịu thua.

Chàng bỗng nhớ ra từ nãy giờ xưng hô quá thân mật với nàng. Trong giây phút, chàng quên bẵng Quỳnh Ngọc, quên bẵng những người đàn bà xinh như mộng đang mỏi mắt chờ đợi ở Sàigòn, hoặc ở khắp nơi trên trái đất. Bàn tay hơi run, chàng bật lửa châm thuốc Salem.

Nguyệt Thanh lái loanh quanh một hồi rồi hướng về đường Hàng Lọng.

Đồng hồ trên xe chỉ đúng 12 giờ 45 phút. Nàng lái xe sát lề, đậu lại:

- Em chờ anh ở đây. Trong vòng 30 phút nữa, Hôlếp sẽ qua chỗ anh núp. Nghĩa là vào lúc 12g45. Xong xuôi, anh xách túi đàn đựng súng lại đây. 12g50 hoặc 12g55, chúng mình về được rồi.

Mặt Nguyệt Thanh bỗng trở nên nghiêm trọng. Nàng đưa cái hộp hình bầu dục bên trong đựng tiểu liên cho chàng. Trong giây phút này, đột nhiên Văn Bình cảm thấy tâm hồn lạnh lẽo lạ thường. Chàng muốn ôm ghì nàng vào lòng.

Một ý nghĩ tương tự cũng nhú lên trong đầu Nguyệt Thanh. Từ khi gặp chàng, nàng đã nôn nao trong dạ. Nhưng nàng đã tuân theo lời dặn của mẹ. Chàng như cái bóng, hoạt động một thời gian ngắn ở Hànội rồi biến đi nơi khác, bà Hoa không muốn nàng trở thành cô gái thất tình đêm ngày chờ đợi hạnh phúc không bao giờ thành tựu.

Nàng phải vận dụng hết nghị lực để khỏi trái lời mẹ. Song mỗi lần được ở gần chàng, nàng cảm thấy sớm muộn nàng sẽ ngã vào lòng người thanh niên đầy quyến rũ ấy. Linh tính phụ nữ đột ngột báo cho biết một sự bất tường sắp xảy ra.

Văn Bình ngoảnh lại nhìn nàng.

Nàng vội quay mặt ra chỗ khác. Nếu không nước mắt sẽ ràn rụa trên má, và nàng sẽ thét lớn:

- Ở lại với em, đừng đi nữa. Em sợ lắm.

Lần thứ nhất trong đời nguy hiểm, nàng biết sợ. Sợ gì nàng không biết.

Tiếng kêu rè rè từ táp-lô xe hơi vảng ra. Nàng giật mình, bồ hôi toát đầm. Đó là tiếng kêu của máy walkie-talkie[58] bí mật liên lạc giữa nàng và mẹ. Bà Huyền Hoa chỉ kêu vô tuyến cho con mỗi khi gặp trường hợp khẩn cấp.

Nổi tiếng bình tĩnh nhất mà nàng bỗng run run. Ngón tay run run của Nguyệt Thanh ấn vào nút nghe.

Ngoài xe hơi, ánh nắng vẩn vàng lóe trên con đường nhựa lồi lõm, trên những máu tôn màu xám ảm đạm. Văn Bình vừa đi khuất sau một thân cây lớn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:39 pm

X. Vỏ quýt dày…

Đồng hồ tay của Z.62 chỉ đúng 12g5 phút khi chiếc Citroen cọc cạch của Văn Bình ra khỏi ngõ hẻm, phóng nhanh trên con đường đầy nắng.

Bà Huyền Hoa - tức Z.62 - chậm rãi đứng dậy. Phần quan trọng của công việc đã xong. Bà tin vào tài thiện xạ của Văn Bình. Hôlếp bị bắn chết, nút thòng lọng cuối cùng sẽ xiết chặc vào cổ Phan Mỹ. Văn Bình có thể quay về Sàigòn. Vả lại, đêm nay, phái đoàn Việt kiều cũng đáp máy bay trở lại Vọng-các.

Bà Hoa xoa bàn tay ra vẻ bằng lòng. Bà lại bàn rót một ly nước lạnh uống rồi mở cửa xuống nhà xe. Chiếc xe cứu thương sơn trắng đã được Nguyệt Thanh lái vào từ nãy. Đúng 12 g19, bà Hoa sẽ nổ máy từ từ ra đường.

Tuy nhiên, bà còn phải xử trí với xác chết xám ngoẹt nằm còng queo trong xe.

Bà kéo xác chết xuống đất, rồi dùng khăn ướt lau sạch sàn xe. Xong xuôi, bà bấm một cái nút bí mật trong ga-ra.

Nút này ăn thông với một cánh cửa hình tròn xuống hầm. Bà hì hục khiêng hai thùng đựng đầy khoai ở góc nhà xe sang bên. Trông bà già nua, tóc bạc phơ, da dẻ nhăn nheo mà khỏe mạnh khác thường.

Phía dưới là một vòng tròn nhỏ bằng sắt, gắn liền vào phiến đá - nền nhà được lót toàn bằng đá hình vuông. Bà xoay vòng tròn theo chiều cây kim đồng hồ rồi nhấc phiến đá lên, nhẹ như bằng giấy. Tấm cửa bí mật này là một công trình chế tạo khôn ngoan của bà, rút theo kinh nghiệm nước ngoài. Lệ thường, muốn mở một con ốc, người ta phải vặn từ tả sang hữu, ngược với chiều kim đồng hồ. Bà đã làm trái lại. Thỏi son đựng phim vi ti, cán dù chứa đạn thuốc độc của các gián điệp cũng được chế tạo cách này, nghĩa là muốn mở ra phải vặn trái cựa.

Phiến đá nhấc lên, để lộ cái miệng đen ngòm của nhà hầm. Bà Hoa vác xác chết lên vai, bước xuống. Bà bật đèn lên, mở nắp một cái thùng kẽm lớn chứa quá nửa một thứ nước sền sệt. Loại thùng này trước kia được dùng để đựng ét-xăng. Giờ đây, bà Hoa dùng để tiêu hủy xác chết.

Kê sát tường, cả thảy có 5 thùng đậy nắp kín mít, bên trong là cường toan. Một số nhân viên của địch mất tích bí mật trong thành phố. Không ai tìm ra dấu vết vì kẻ mất tích được dìm vào thùng át-xít, trong vòng 24 tiếng đồng hồ, chỉ còn trơ lại vài khớp xương và mảng răng bịt vàng. Một thời gian nữa, những mẫu xương cuối cùng tan ra nước.

Dáng điệu thận trọng, bà Hoa thả xác chết vào thùng cường toan rồi đậy nắp lại. Phản gián của địch không tài nào tìm ra, vả lại nếu họ tìm ra, họ cũng không mảy may hy vọng bắt sống được bà. Dưới căn nhà bề ngoài cổ xưa, hiền lành, đã được chôn sẵn một số thuốc nổ cực mạnh. Chỉ cần kéo con dao điện lên là tòa nhà phát nổ. Bà Hoa đã nghiên cứu kỹ địa thế: bên cạnh là kho vật liệu của báo Nhân Dân, không có người ở.

Lên trên, bà Hoa đóng cửa hầm lại, mở ga-ra, sửa soạn lái xe ra.

Gài số de, bà ngoái cổ lại phía sau và chợt nhận ra một xái quẹt máy nằm lọt trong kẽ ghế. Bà nhặt lên ngắm nghía.

Bỗng bà rùng mình ớn lạnh. Đó là một cái bật lửa Trung cộng mạ kền còn mới nguyên, ánh kền lập lòe trong bầu không khí tranh tối tranh sáng của nhà xe. Bà Hoa mở nắp ra, bật thử. Bánh xe của bật lửa nằm lì ở một chỗ. Không phải vì quẹt máy hết đá lửa, mà vì bánh xe được hàn luôn vào thân quẹt máy.

Một cái quẹt máy giả.

Thoạt trông, ai cũng bị lầm. Song con mắt chuyên môn của bà Hoa không thể lầm được.

Bà lật phía dưới lên xem. Lệ thường phía này để hở, nhồi bông để đổ xăng. Nhưng nó lại kín như bưng. Bà Hoa đưa tay lên lắc mấy cái.

Bây giờ, bà đã biết rõ. Chiếc quẹt máy là một dụng cụ phát tuyến đặc biệt. Nó phát ra những tiếng tè tè tạch tạch riêng, bỏ vào túi một nhân viên công tác trong thành phố, trung ương có thể biết từng giây từng phút y ở đâu.

Bà Hoa không ngờ Phan Mỹ lại bắt nhân viên mang dụng cụ phát tuyến trong người. Bà đinh ninh hắn là thằng ngốc. Rốt cuộc, hắn không ngốc chút nào hết. Có thể hắn tiên liệu Văn Bình sẽ ra đường để bắt liên lạc và Văn Bình sẽ triệt hạ tên nhân viên đi theo. Trong khi tên nhân viên hớ hênh bị đánh bất tỉnh, Văn Bình ung dung dựa lưng vào nệm xe cứu thương, trò chuyện với bà Hoa thì ở phía sau - có thể là cách một quãng khá xa - một chiếc xe hơi khác, gắn ăn-ten vô tuyến dài lê thê lặng lẽ rượt theo. Trong xe, chuyên viên trắc giác của Phan Mỹ thản nhiên hút thuốc lá, đeo mũ nghe vào đầu. Xe cứu thương của bà Hoa đi đâu, họ cũng biết.

Và dĩ nhiên như hai với hai là bốn, họ đã biết bà Hoa lái xe về trụ sở bí mật trong đường hẻm vô danh ở Cửa Đông. Văn Bình đi ra Hàng Lọng, tất Phan Mỹ đã phái người tới ám sát. Kế hoạch hạ thủ Hôlếp sẽ thất bại. Văn Bình sẽ bị bắt cùng với Nguyệt Thanh.

Nghĩ đến lúc con gái duy nhất và quí yêu của mình bị sa vào tay địch, đưa vào phòng tra tấn, chịu những trận đánh dã man, bà Huyền Hoa rùng mình.

Tuy nhiên, bà vẫn giữ thái độ bình tĩnh. Mặt bà chỉ hơi tái rồi thản nhiên như cũ. Bà đã quen với nếp sống thần kinh căng thẳng từ bao năm nay.

Bà Hoa lẩm bẩm:

- Phan Mỹ giỏi thật.

Song Z.62 cũng không tầm thường. Trong xe Citroen, bà đã lắp một máy vô tuyến cực mạnh, được sản xuất tại Tiệp-Khắc. Dáng điệu từ tốn, bà rút trong cái túi đựng đồ ở băng trước xe ra một cái hộp vuông màu đen.

Bà Hoa ấn nút, cái ăn-ten nhỏ xíu từ trong máy vươn ra dài gần nửa thước. Bà ấn một cái nút khác. Máy walkie-talkie này dùng một tần số bí mật, Phản Gián Hànội không biết. Tiếng máy kêu rè rè, bà Hoa cất giọng đều đều:

- 1, 2, 3, 4… Long Biên kêu Cầu Giấy. 1, 2, 3, 4, alô, alô, Long Biên kêu Cầu Giấy.

Cùng khi ấy, tiếng rè rè nổi lên trong xe Citroen. Nguyệt Thanh cúi xuống nghe giọng nói quen thuộc và can trường của mẹ. Nàng đáp:

- Cầu Giấy đây, Long Biên nói đi.

Giọng nói hiền từ của bà Hoa từ máy walkie talbie tuôn ra:

- Z.28 xuống chưa?

Nguyệt Thanh đáp:

- Thưa rồi. Xuống cách đây một phút.

- Hỏng rồi. Bãi bỏ kế hoạch đã định. Con phải phóng xe lại tận nơi đưa Z.28 đi ngay. Địch đã phăng ra trụ sở của mẹ và đang theo sát con.

- Vâng, con đi ngay.

- Nếu không kịp, con phải bỏ lại Z.28.

- Nguy cho anh ấy lắm.

- Con không được cãi lệnh. Tính mạng của một người quan trọng thật đấy, song không quan trọng bằng tính mạng của một Tổ Chức. Này con, mẹ cũng không muốn ép con làm gì, tùy con định liệu. Chào con, chúc con may mắn. Mẹ đang bố trí thoát vòng vây đây. Thế nào mẹ cũng thoát. Còn con, con hãy coi lại cái nhẫn ở ngón tay xem. Mẹ thương con, nên không muốn con bị địch tra tấn. Hôn con nhé.

Tiếng nói quen thuộc câm bặt.

Bất giác, Nguyệt Thanh nhìn ngón tay đeo nhẫn ở bàn tay trái. Nàng chưa đính hôn với người nào. Cái nhẫn bạch kim chạm trổ tinh vi này thật ra chỉ là dụng cụ chứa thuốc độc xi-a-nuya. Nàng được lệnh cắn vỡ con sư tử bằng ny-lông ở giữa cái nhẫn và nuốt độc dược. Mẹ chẳng nói xi-a-nuya tác động rất nhanh và rất êm, trong vòng mấy giây đồng hồ là xong hết. Nguyệt Thanh bậm môi để khỏi òa lên khóc như đứa trẻ.

Tuy giỏi võ, giàu kinh nghiệm hoạt động trong vùng địch, Nguyệt Thanh vẫn là phụ nữ, đúng hơn một thiếu nữ thơ ngây, từ nhỏ đến lớn quấn quít cạnh mẹ. Con người gián điệp phớt tỉnh, tàn bạo bỗng nhiên nhường bước cho con người đầy tình cảm và ẻo lả.

Nhưng chỉ một giây sau, nàng trấn tĩnh lại được. Mắt nàng quắc lên như sửa soạn giết ai. Như cái máy, nàng mở đề-ma-rơ. Từ chỗ nàng đậu xe đến chung cư của nhân viên bộ Ngoại Giao, nơi Văn Bình mai phục để bắn thiếu tướng Hôlếp, nàng chỉ cần hai phút. Nàng sẽ lên gác kéo chàng xuống. Trong thành phố, bà Hoa có nhiều trụ sở kín đáo, nếu bỏ rơi được bọn theo sau, nàng và chàng sẽ thoát hiểm.

Nàng lái xe giỏi, Văn Bình lại là tay thần xạ. Họ mang một cam-nhông đầy nhóc lính chạy sau cũng vị tất chặn được bàn tay cầm súng bá phát bá trúng của chàng.

Một tia hãnh diện lóe lên trong mắt. Tiếng động cơ nổ dòn. Nguyệt Thanh đặt bàn chân xuống ga, sửa soạn phóng lên.

Nàng nghe một tiếng động khô khan. Nàng thò tay vào túi rút súng nhưng không kịp.

Bốn cửa xe đều mở toang ra một lúc.

Bốn họng súng đen ngòm chĩa vào người nàng. Nhìn sang tả, sang hữu, quay lưng lại, nàng đều thấy súng. Bốn người đàn ông này đều mặc đồng phục màu xám, gài kín cổ treo kiểu Trung quốc.

Ba người đứng ngoài, đóng cửa lại đánh sầm. Người thứ tư trèo lên xe, ngồi gần nàng, giọng nhỏ nhẹ:

- Chào cô. Cô bỏ dùm tay ra khỏi túi. Dầu cô bắn giỏi đến mấy cũng không diệt được cả bốn chúng tôi đâu. Vả lại, chúng tôi đều là tay súng cừ khôi cả.

Nguyệt Thanh buông thỏng:

- Không dám. Ông muốn gì?

Người lạ bỏ khẩu súng của nàng vào túi quần rồi hỏi:

- Hắn đâu rồi?

Nàng quắc mắt:

- Hắn là ai?

Người lạ mặt cười điểu giả:

- Là cái thằng cùng ngồi với cô, tay xách cái đàn ấy.

Nguyệt Thanh bàng hoàng. Song nàng vẫn thản nhiên:

- Tôi không biết.

Người lạ mặt nghiến răng:

- Rồi cô sẽ biết. Tôi đã cho người theo hắn rồi. Sở dĩ tôi hỏi cô là để xem cô có thật tình hay không? Bây giờ, tôi cho cô một hy vọng lập công chuộc tội nữa: bạn cô đi đâu? đi gặp ai? gặp về chuyện gì?

Nguyệt Thanh mừng thầm. Địch chưa biết Văn Bình đi giết Hôlếp. Nàng bèn nhún vai, tìm kế hoãn binh:

- Ông tìm hắn mà hỏi có hơn không?

Người lạ mặt nói:

- Đây này, để tôi nói cho cô biết. Cô lái xe đưa hắn đến đây rồi ngồi đợi, tất hắn chỉ vắng mặt một lát rồi quay lại. Cô đừng tưởng chúng tôi đến đây là chuyện tình cờ. Chúng tôi đã theo cô từ đường Hàng Mành lên Cửa Đông. Nếu cô chịu giúp, chúng tôi có thể tóm hắn mà không phí một viên đạn. Chúng tôi biết hắn mang súng trong người. Hắn kháng cự, buộc lòng chúng tôi phải nổ súng, và một chọi bốn, thế tất hắn sẽ chết, nếu không cũng trọng thương. Mục đích của chúng tôi là bắt sống. Nếu tôi không lầm, cô là người yêu của hắn. Cô không muốn hắn còn sống để tiếp tục yêu cô sao?

- Còn sống? Ông tưởng tôi là trẻ con sao? Các ông sẽ đưa chúng tôi vào phòng tra tấn. Tra tấn chưa chết, chúng tôi sẽ chết trong nhà giam, hoặc bị đem đi hành quyết.

Người lạ mặt vẫn cười đanh ác:

- Cô biết một mà không biết hai: Bị tra tấn, bị hành quyết là việc thường xảy ra trong nghề gián điệp, song đã có nhiều kẻ bị bắt mà không bị giết. Cuộc đời của cô, của người đàn ông yêu cô, tùy thuộc vào thái độ của cô lúc này. Lát nữa, về trụ sở, cô còn có dịp chứng minh lần nữa. Nếu cô chịu khai hết, chịu làm với chúng tôi, cô sẽ được sống, và có thể sẽ được tự do nữa.

Nguyệt Thanh thở dài:

- Ông muốn tôi làm gì?

Vẻ mặt đắc thắng, người kia hỏi:

- Khi nào người yêu cô trở lại?

- Anh ấy dặn chừng 15 phút đến nửa giờ.

- Đi đâu?

- Tới đầu Hàng Lọng.

- Làm gì?

- Gặp một người bạn.

Người kia dặn nàng:

- Bây giờ, tôi để cô ngồi một mình trong xe, anh em tôi sẽ rút vào ngồi trong quán nước đối diện. Thấy người yêu lại, cô đừng tỏ vẻ lo sợ gì hết, nghe chưa. Cô cứ để hắn trèo lên. Rồi chúng tôi sẽ tới. À, tôi cần khuyên cô một điều: hai tay cô phải để ngay ngắn trên vô-lăng. Nếu không, tôi sẽ nổ súng. Thôi, chào cô.

Hắn mở cửa xuống vỉa hè. Trước khi xuống, hắn không quên rút chìa khóa công-tắc bỏ túi. Giá còn chìa khóa, Nguyệt Thanh có thể thừa cơ phóng ra khỏi lề. Xe hơi của họ, dầu thuộc loại cừ khôi, cũng không có hy vọng đuổi theo chiếc Citroen cà tàng của nàng. Mất chìa khóa, nàng có thể nối hai đầu giây điện cho máy nổ, song hắn đã bắt nàng để tay trên vô-lăng, không được rút xuống.

Vừa khi ấy, chiếc xe dài ngoằng bệ vệ của Hôlếp phóng qua.

Nguyệt Thanh nhắm mắt lại. Nàng không dám nghĩ đến những việc sẽ xảy ra nữa.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Bà Hoa lặng người trong một giây đồng hồ. Bà vừa ra lệnh cho Nguyệt Thanh dùng độc dược để quyên sinh nếu chẳng may rơi vào tay địch. Từ ngày đưa con gái vào đường hoạt động nguy hiểm, bà đã dặn con nhiều lần, song chưa lần nào bà nhận thấy quyết liệt bằng lần này, vì địch là kẻ vô cùng xảo quyệt.

Trong đời gián điệp, bà Hoa đã thấy nhiều đồng nghiệp đưa ngón tay lên miệng, hoặc cắn vỡ răng giả. Mặc dầu trái tim đã trui lại, bà cũng xót xa, phương chi nạn nhân sắp tới lại là đứa con gái duy nhất của bà, là nguồn hy vọng duy nhất và cuối cùng của bà.

Bà Hoa lắc đầu nhè nhẹ để xua đuổi những tư tưỏng ủy mị ra khỏi óc. Mất con gái, bà mất gần hết cuộc đời, song không vì quyền lợi cá nhân mà là quên sứ mạng. Nguyệt Thanh cũng là một điệp viên dưới quyền bà, như hàng chục, hàng trăm điệp viên vô danh khác, nếu Thượng Đế, nếu tổ quốc muốn nàng hy sinh, bà vẫn phải dặn nàng sẵn sàng.

Bà Hoa lên nhà trên, mở tủ lấy ra một khẩu tiểu liên PPD 1940[59], băng đạn tròn, chứa 7 viên đạn. Với khẩu súng này, bà sẽ quét ngã một tiểu đội của địch trước khi tử thương. Bà cho viên đạn đầu tiên vào nòng, nâng súng lên ngang vai, ngắm bắn, rồi lặng lẽ tiến lại cửa sổ, nhìn ra hẻm.

Cánh cửa đóng kín, bà áp tai vào nghe. Bên ngoài vẫn không có tiếng động nào khả nghi. Có lẽ địch bao vây chứ chưa bắt. Hoặc có lẽ địch bắt Văn Bình và Nguyệt Thanh trước rồi tấn công trụ sở này sau.

Bỗng bà Hoa nghe tiếng chân người lệt sệt. Bà khựng người chĩa họng súng vào cửa lớn. Bà nghe tiếng ho, tiếng ho quen thuộc của người đồng chí già tàn tật sau cửa

- Gì thế, bác Tư?

Già Tư nói vào:

- Bà mở cửa cho tôi.

Bà Hoa mở khóa và them cửa. Tấm cửa lim dày 5 phân đủ sức cản lằn đạn trung liên, chưa kể hai cái khóa Yale và một then cửa bằng sắt. Muốn phá cửa vào, địch phải mất từ 5 đến 10 phút. Cửa ga-ra còn khó phá hơn, vì nó toàn sắt bên trên chông nhọn hoắt, trừ phi địch dùng ba-dô-ka bắn xụp tường.

Già Tư rón rén bước vào. Đó là một ông già trên 55, quần áo rách rưới, bẩn thỉu, trông như hành khất. Già Tư đội một cái nón lá, tuột vành đen sì, và dận một đôi dép lốp cao-su kiểu Bình-Trị-Thiên. Móng tay, móng chân bám đầy đất và dầu mỡ, bộ râu muối tiêu dài lê thê, dường như không bao giờ được sửa gọt. Tuy nhiên, nhìn kỹ, người ta thấy cái cằm vuông, bộc lộ sự cương nghị, vầng trán cao thông minh và quả cảm, nhất là cặp mắt, một cặp mắt rộng và sáng, lúc quắc lên như bắn ra tia điện.

Đóng cửa lại, già Tư hỏi:

- Họ vây kín rồi, bà biết chưa?

Bà Hoa gật đầu:

- Biết rồi.

- Sao bà chưa trốn đi?

Bà Hoa cười:

- Trốn sao được. Tôi phải đợi bác về đã. Định ra ngoài hẻm gọi thì bác về.

- Bà lôi thôi lắm. Bổn phận tôi là gác bên ngoài bảo vệ bà.

- Bổn phận tôi là đảm bảo cho những đồng chí trung kiên và tài ba như bác khỏi sa vào tay địch.

Già Tư thở dài:

- Chỉ 5 phút nữa, họ sẽ ùa vào đây. Mời bà đi ngay cho.

Bà Hoa cũng thở dài:

- Bác cùng đi với tôi, may ra có thể thoát hiểm.

- Không được đâu. Phải có người ở lại kháng cự để nghi binh. Vả lại….

Giọng già Tư trở nên nghẹn ngào:

- Tôi chắc cô Thanh đã bị họ bắt. Bị bắt tất cô Thanh sẽ tự vận. Bà phải sống để trả thù. Bà phải sống để lãnh đạo anh em.

- Cám ơn lòng tốt của bác. Nhưng tôi đã quyết rồi. Tôi chẳng còn sống bao lâu nữa. Bác là đàn ông lại ít tuổi hơn, bác phải ở lại dìu dắt anh em thanh niên.

- Nếu bà chấp nê, địch vào đây, bà và tôi đều chết. Chết một cách ngu xuẩn. Chết một cách vô ích. Tổ chức sẽ kết tội bà, lịch sử sẽ kết tội bà. Không có bà trong giờ phút nghiêm trọng này, Tổ Chức sẽ như con rắn mất đầu, anh em sẽ phân tán, sứ mạng do Tổ Chức và ông Hoàng giao cho sẽ thất bại.

Bà Hoa cúi đầu suy nghĩ. Đoạn bà ngửng đầu, giọng sắc như dao:

- Tôi chỉ bằng lòng ra đi với hai điều kiện.

- Mời bà nói đi. Nếu là điều kiện hợp lý thì tôi chấp thuận.

- Hai điều kiện, xin bác nhớ cho. Thứ nhất, rút thăm, đúng tên ai, người nấy phải ở lại. Thứ hai, nếu chẳng may là bác, tôi sẽ ở lại cầm cự một thời gian, đến khi gần hết đạn, tôi mới đi.

Già Tư nói:

- Bà bướng bĩnh thật. Ông Hoàng nói vậy mà tôi không tin, giờ đây tôi mới thấy rõ ràng. Vâng, bà đã muốn, tôi xin vâng.

Nói xong, già Tư lại bàn, lấy giấy ra viết. Già đưa cho bà Hoa một mảnh giấy:

- Bà viết tên bà đi, còn tôi viết tên tôi.

Bà Hoa nắn nót chữ Z.62, rồi gấp tư mẩu giấy lại, trao cho già Tư. Già Tư cho vào cái nón lá xóc một hồi rồi nói:

- Mời bà rút thăm.

Tim đập hồi hộp, bà Hoa rút miếng giấy phía trên và mở ra đọc. Bà tái mặt, già Tư mỉm cười:

- Tên bà phải không?

- Không, tên bác.

- Tôi đã bảo mà… Ông Trời có mắt, không bao giờ lầm cả. Thế là xong, tôi xin ở lại.

Ngần ngừ một giây,, bà Hoa nói:

- Còn tờ thứ hai, phiền bác mở ra coi.

Già Tư cười:

- Khổ quá, có hai miếng giấy, cái đề tên bà, cái đề tên tôi, bà đã rút tên tôi rồi thì cái còn lại phải mang tên bà. Tôi không ngờ bà chị lại lẩn thẩn như thế.

Bà Hoa vụt đứng dậy, và lấy mẩu giấy còn lại trong nón, già Tư giật lại không kịp. Già Tư ngồi phịch xuống ghế, mắt đỏ hoe. Quả bà Hoa đoán đúng: miếng giấy thứ hai cũng đề chữ Z.64, bí hiệu của già Tư.

Bình sinh, già Tư là người giỏi quỷ thuật. Hồi còn trẻ, già Tư lang thang đây đó, trổ tài biến giấy ra trứng, nặn bột thành chim để kiếm tiền độ nhật. Chống Pháp bị bắt, đầy ra Côn Đảo, bác kết bè vượt biển trốn về. Sau một tuần lênh đênh trên biển khơi, hai bạn đồng hành chết khát phải ném xác xuống nươc, bác dạt vào đất Thái. Nhờ dân địa phương có cảm tình - và có lẽ cũng nhờ bác thạo tiếng Thái - bác thoát khỏi màng lưới của thực dân, và từ đó bác tá túc ở nước ngoài, tiếp tục sứ mạng giải phóng đất nước. Bác gặp ông Hoàng, gia nhập Tổ Chức gián điệp dưới bí hiệu Z.64, rồi ra Hànội phục vụ dưới quyền bà Huyền Hoa. Bác coi bà Hoa như chị cả, và nhiều lần vào sinh ra tử, đi sát bà Hoa như hình với bóng, bác đã cứu bà Hoa khỏi nanh vuốt của kẻ địch.

Bà Hoa nói:

- Tôi biết mà…

Già Tư lắc đầu:

- Tôi giỏi nghề quỷ thuật, chắc bà chị không lạ gì. Nhưng thôi, tôi quyết ở lại, bà không lay chuyển được tôi đâu.

Bà Hoa định nói: "Tôi cũng quyết ở lại" song vội im bặt. Tiếng chân người chạy thình thịch trong hẻm vang lại. Đến trước cửa trụ sở của bà Hoa, toán người dừng lại.

Rồi một tiếng quát vang lên:

- Mở cửa.

Tiếp theo là tiếng báng súng đập vào cửa:

- Mở cửa. Công an.

Già Tư lên tiếng:

- Các ông đòi mở cửa làm gì?

Tiếng bên ngoài trở nên gắt gỏng:

- Mở cửa để xét nhà.

Già Tư nói:

- Ông chủ đi vắng rồi. Lát nữa mời các ông lại, tôi không có chìa khóa.

- Đừng ỡm ờ nữa. Con mẹ chủ đang ở trong nhà. Mày là đứa giả ăn mày ngồi ngoài ngõ phải không? Khôn hồn thì mở ngay, nếu không chúng tao sẽ nã đạn vào, chết không kịp ngáp.

Già Tư rít lên:

- Phải, lão là đứa giả hành khất ngoài hẻm đây. Các ông có bao nhiêu đạn cứ bắn vào đây, lão sẵn sàng trả lời.

Ngoài hẻm, một chiếc xe díp gắn máy thu phát thanh đã đậu sẵn. Bốn người đàn ông mặc đồng phục xám kéo nhau sang kho chứa vật lệu bên cạnh để bàn bạc. Người chỉ huy nói:

- Chúng có súng. Anh em nghĩ sao?

Có tiếng đáp:

- Tôi đề nghị phá cửa vào. Phía sau đã bố trí xong. Chúng không thoát được đâu.

- Chúng có mấy đứa?

- Tôi không biết. Ít ra là hai, mụ già và thằng ăn mày giả hiệu. Hai đứa già này không kháng cự được bao lâu đâu.

Cả bọn trở lại trước cửa nhà bà Hoa. Người chỉ huy cao giọng:

- Tôi cho những người trong nhà ba phút để suy nghĩ. Sau ba phút nếu không mở cửa và đầu hàng, tôi sẽ ra lệnh bắn nát cửa và ném lựu đạn vào.

Bà Hoa ra hiệu bằng mắt cho già Tư, hai người đều im lặng. Già Tư mân mê khẩu tiểu liên trong tay, tia mắt sáng như điện. Bà Hoa hé cửa sổ nhìn ra sân. Chắc chắn địch phải trèo lên mái nhà bên, rồi truyền xuống sân, hoặc vượt tường nhảy vào

Bà Hoa đoán không sai. Một cái đầu vừa nhô lên khỏi bức tường. Bà định lảy cò, song già Tư chặn lại. Một người mặc đồ xám nhảy vọt lên đỉnh tường, sửa soạn tuột xuống. Khi ấy già Tư mới nhả đạn. Bác chỉ bắn một phát khô khan. Người áo xám ngã nhào xuống sân.

Bên ngoài có tiếng kêu:

- Đồng chí Mạnh bị chết rồi. Anh em, xung phong vào.

Già Tư nhún vai, ra vẻ khinh bỉ. Một loại tiểu liên nổ dòn. Cánh cửa lim vẫn đứng vững. Lại một loạt nữa, tacata, tacata…. Bà Hoa ghé súng qua chấn song sắt ra sân. Một bóng người nhô lên tường, bà Hoa thản nhiên nhả đạn. Một tên khác bò lồm cồm trên mái nhà, già Tư tặng cho hắn một phát văo giữa óc. Hai xác chết đẩm máu lăn long lóc xuống sân.

Tacata… tacata….

Cánh cửa lung lay. Tacata…. Cánh cửa bật tung, một tràng đạn tuôn vào.

Bà Hoa và già Tư đã rút vào phòng trong. Bắn một hồi không nghe phản ứng, bọn công an ùa vào. Hai khẩu PPD cùng khạc lửa ra một lượt. Tốp đi đầu nằm xuống như sung rụng.

Trong khi ấy, hai công an viên khác đã nhảy lọt xuống sân. Già Tư chĩa súng ra, song cả hai đều cuộn mình núp vào góc. Bà Hoa đóng chặt cửa ăn thông ra phòng ngoài. Một loạt đạn từ ngoài sân nổ ran làm nát cánh cửa sổ, mảnh gỗ bắn tung tóe vào vai già Tư. Bà Hoa bắn trả rồi khom lưng đi luồn vào trong.

Ngôi nhà gồm 5 phòng và một ga-ra. Địch đã vào đến phòng ngoài và sửa soạn tông cửa vào phòng thứ nhì. Hai công an viên ngoài sân sắp sửa phá cửa ga-ra.

Bà Hoa kéo già Tư vào phòng thứ tư. Đó là căn phòng kiên cố nhất, tường bằng bê-tông cốt sắt, và không có cửa sổ. Ra vào bằng một cửa lớn, ngoài là gỗ lim, trong là tôn dày.

Già Tư nói:

- Thôi, bà đi đi. Tôi có thể cản chúng được 5 phút nữa.

Tiếng súng vẫn nổ dòn, xen lẫn tiếng quát ra lệnh quăng súng đầu hàng. Hai tiếng oang oác nổ lên. Bà Hoa giật mình: địch bắt đầu dùng lựu đạn cay mắt. Với khí giới trong tay, bà có thể chống cự không lùi, nhưng bà không có mặt nạ phòng hơi ngạt.

Già Tư húng hắng ho. Gian phòng được gắn máy điều hòa không khí, đóng chặt cửa, hai người còn cầm cự được lâu nữa. Nhưng địch đã cúp điện. Đóng cửa thì ngộp thở, còn mở cửa thì hơi cay lọt vào làm đau mắt và rát họng.

Tứ phía, khói trắng bay mù. Già Tư nắm lấy tay bà Hoa:

- Bà đi đi.

Bà Hoa lắc đầu:

- Không, tôi ở lại với bác.

Già Tư quắc mắt:

- Khổ quá, tôi nói mãi mà bà không chịu nghe. Bà đừng hy vọng trôi cùng trốn với bà, vì nếu cả hai cùng trốn, địch sẽ phăng ra. Bà Hoa….

Vừa nói, già Tư vừa chĩa súng xuống chân bắn một phát. Bà Hoa rú lên:

- Trời ơi, bác Tư!

Già Tư mĩm cười kiêu hãnh:

- Bà đã thấy chưa. Bây giờ tôi què rồi, bà muốn mang tôi đi cũng không kịp nữa. Nếu bà trù trừ, tôi sẽ bắn nốt chân kia. Bà đi đi. Sau khi bà đi khỏi, tôi sẽ đóng chặt cửa phòng này lại. Trừ phi chúng dùng cốt mìn, hoặc súng ba-dô-ka, họ không vào nổi đâu. Tôi sẽ bắn cho đến viên đạn cuối cùng, sau đó tôi giật mìn cho nổ, nổ tung, nổ hết.

Nước mắt ràn rụa - phần vì hơi cay, phần vì xúc động tới cao độ - Bà Hoa cúi đầu vái già Tư:

- Bác Tư, xin vĩnh biệt bác.

Già Tư ngồi phịch xuống ghế, máu dưới chân chảy lênh láng:

- Kính chào bà chị.

Đeo khẩu súng lên vai, bà Hoa hỏi:

- Bác muốn dặn lại điều gì không?

Già Tư lắc đầu:

- Tôi là kẻ tứ cố vô thân từ một phần tư thế kỷ nay, không vợ, không con, không họ hàng, thân thích, thi có ai mà nhắn nhủ. Nếu Trời phò hộ cho bà còn sống, về Sàigòn có dịp gặp ông Hoàng thì nói giùm với lão già ấy là thằng Tư vẫn nhớ nó, vẫn phục vụ nó cho đến phút cuối cùng trong đời.

Bà Hoa nghẹn ngào:

- Vâng, tôi xin nói.

Một tràng đạn chát chúa cắt đứt câu chuyện của hai người. Già Tư nhặt khẩu tiểu liên, tra thêm bì đạn khác. Bà Hoa lặng lẽ đến bên tường, bấm nút.

Cánh cửa bí mật trong tường mở ra. Bà bước xuống một địa đạo ăn ngầm từ trụ sở, xuyên qua kho vật liệu của báo Nhân Dân. Mùi ẩm mốc xông lên mũi. Từ lâu, bà Hoa chưa xuống địa đạo này.

Tiếng súng bên trên nhỏ dần rồi im bặt. Bà Hoa bấm đèn chiếu sáng đường hầm. Trước kia, đó là một ống cống lớn được đào dưới thời Pháp thuộc. Bà Hoa cho đào rộng thêm, và mở nhiều đường nhỏ, tỏa ra tứ phía.

Trần hầm được chống bằng những cây gỗ lớn, nền hầm lót tôn, nhưng trời mưa luôn nên nước ngấm vào ngập đến mắt cá chân. Một con dơi cánh lớn bằng nửa cái quạt bay vù vù ngang mặt bà Hoa. Đến chỗ rẽ, bà dừng lại nghe ngóng.

Bên trên là kho vật liệu. Hầm ăn thông qua đường cái, tới một ngôi nhà bỏ trống. Ngôi nhà này của một người Tàu phú thương vào Nam tị nạn sau hiệp định Giơ-neo, để lại cho con gái ở. Nhiều đêm, vợ chồng người con gái giật mình thức dậy thấy một con ma mặc đồ trắng xõa tóc đứng dưới bếp cạnh hồ nước, hoặc tiếng khóc nỉ non nho nhỏ trong bếp vọng ra. Hoảng sợ, họ bèn ngăng nhà ra làm hai, bỏ trống dưới bếp, chỉ ở nhà trên. Họ không thể nào biết được con ma mặc đồ trắng là Nguyệt Thanh, và tiếng ma nỉ non là từ một băng nhựa ghi âm vẳng ra.

Biết vợ chồng chủ nhân tin ma quỷ, bà Hoa đã lập mưu chiếm cái bếp, đào đường hầm tới đó. Đến nơi, bà Hoa nghỉ một giây cho lại sức, rồi vận toàn lực vào hai vai, nâng phiến đá lên.

Bên trên, tối om như hũ nút. Vợ chồng chủ nhà đã dùng nhiều tấm tôn lớn, đóng vào cửa sổ cho con ma thất tình khỏi lang thang ra ngoài.

Bà Hoa cởi quần áo ngoài, lục trong cái bồ đựng giấy vụn kê ở góc lấy ra một bộ y phục Trung Hoa. Bà lau chân cho khô rồi xỏ vào đôi giày Tàu. Xong xuôi, bà mở cửa. Những cái đinh lớn đóng vào tấm tôn đã được gỡ ra từ trước. Cửa này nhìn ra một cái hẻm nhỏ, đi vừa lọt hai người, ngày xưa được dành cho phu vệ sinh.

Bộ điệu thản nhiên, bà Hoa đi ra khỏi hẻm tới phố Hàng Đồng.

Thoát nạn.

Cách bà một quãng, một chiếc xe díp đậu ngang đường, giữa những chướng ngại vật. Khu phố Cửa Đông đã bị công an chặn lại. Họ không ngờ người chủ mưu mà họ ruồng bắt lại là thiếu phụ Tàu, đầu trùm khăn chỉ hở nửa mặt, một chân bị thọt, rềng rang tiến về phía chợ Đồng Xuân. Một giọt lệ long lanh trên mắt thiếu phụ. Bà Hoa khựng người.

Một tiếng nổ long trời lở đất làm bà choáng váng. Tiếng mìn nổ trong trụ sở: già Tư vừa bấm nút hy sinh.

5 phút trước, già Tư lặng lẽ nhìn bà Hoa xuống địa đạo. Chờ bà Hoa đi khuất, già Tư bình thản đứng dậy, trên môi phảng phất một nụ cười lạ lùng. Rốt cuộc, bà Hoa chịu thua. Già Tư lẩm bẩm một mình:

- Mình ở lại là phải.

Một loạt đạn bắn vào tung tóe. Già Tư nằm rạp xuống đất. Đoạn bò lại sát cửa.

Bên ngoài có tiếng thét:

- Hàng đi thì khỏi chết.

Già Tư đáp lại bằng nửa băng tiểu liên. Lại một tốp công an viên ngã xuống, già Tư rú lên cười sằng sặc. Tiếng người chỉ huy quát lớn:

- Nó ở ngay cửa buồng. Bắn mạnh vào.

Già Tư không cười thêm được nữa. Hơi cay làm bác mù mắt, không còn thấy gì hết. Bác phải vận dụng nghị lực mới khỏi phát lên tiếng ho, làm đích cho địch bắn vào.

Bác có thể đóng chặt cửa rồi bấm nút cho mìn nổ. Song bác chưa muốn. Bác cần đợi cho bà Hoa sang đến đường hẻm bên kia, mặc y phục thiếu phụ Tàu, lẻn ra đường Hàng Đồng, rồi thi hành ý định cũng chưa muộn. Bác hình dung trong trí một người đàn bà Tàu trăm phần trăm - bà Hoa đúng là đàn bà Tàu trăm phần trăm, vì bà từng ở bên Tàu, nói tiếng Quảng Đông rất thạo, mặc áo sườn xám màu xanh thẫm, quấn khăn che nửa mặt, dận đôi giày ban đen, thoăn thoắt đi giữa đám người ngơ ngác và run sợ gần chợ Đồng Xuân.

Xế cửa chợ là một trụ sở khác, có một đồng chí túc trực. Bà Hoa sẽ tới đó thay quần áo khác, rồi lên xe - một chiếc xe hơi đeo bảng số của bộ Quốc Phòng - về một tổng hành doanh ở Yên Phụ. Lát nữa,bà Hoa sẽ ngồi trước điện đài, kêu ông Hoàng ở Sàigòn. Ông già lù khù đeo kính cận thị dầy cộm, nổi danh khắp năm châu về điếu xì-gà Ha-van và bộ com-lê bạc màu, chật ních, tuột đường chỉ, chắc sẽ giật nảy người khi cầm bản dịch của bức điện trong tay.

Già Tư chết! Nếu có người bạn già nào được ông Hoàng thương nhiều nhất, sẵn sàng tha thứ nhiều nhất, người ấy phải là già Tư. Hai người quen nhau từ lâu, từ thuở già Tư là tên tù vượt khám Côn Đảo sau khi giết chết hai cặp-rằng Pháp độc ác, còn ông Hoàng là một thanh niên giang hồ, ném dao, bắn súng khét tiếng trên các bến tàu quốc tế, giang hồ với mối thù quốc phá gia vong chưa trả được. Bí danh là Tư, lại già trước tuổi - một mái tóc bạc phơ từ năm chưa bốn mươi - nên người ta gọi là già Tư.

Già Tư chết! Chắc ông Hoàng sẽ nhớ lại những đêm luân lạc phải kiếm đủ tiền cho thằng em vong mạng uống rượu. Mà uống đâu ít! Không uống thì thôi, đã uống thì từ hai chai huýt-ky vuông trở lên, uống suốt ngày không say. Nhiều lần già Tư làm bậy, ông Hoàng sẵn sàng tha thứ cho rằng ngựa hay thường đá chủ. Cho đến khi ông Hoàng về nước điều khiển ngành tình báo và gián điệp. Già Tư theo về, và trong những giờ phút gay go nhất đã vâng lời ra Hànội, phụ tá bà Hoa, người đàn bà đáng kính trước kia là bạn đường thân thiết của ông Hoàng.

Tacata, tacata…

Già Tư phải lăn mình núp sau tường, giòng tư tưởng trong óc cũng đứt quãng. Áp lực của toán người xung phong đang lên tới cao độ nhất.

Vừa nép vào tường tránh đạn, già Tư vừa kiểm điểm lại vị trí phòng thủ và đạn dược. Trong lúc này, địch chưa thể bắn trúng, vì tường bê-tông chỉ có một cửa ra vào, tuy nhiên,, chắc họ sẽ ném lựu đạn. Khi ấy, già Tư đóng chặt cửa. Có phá được cửa cũng mất 5 phút, và ít nhất là một tiểu đội tử thương. Trong khẩu PPD, già Tư còn gần nửa bì đạn. Với 30 viên, bác có thể quét ngã những tên nóng ruột muốn lập công đầu. Lại còn lựu đạn nữa. Già Tư vừa buộc vào giây lưng hai trái lựu đạn Nga RGD. Loại lựu đạn này có thể làm hàng chục công an viên tan xác.

Già Tư tủm tỉm cười một mình. Bác vẫn có thói quen cười một mình như thế. Hồi hoạt động ở hải ngoại, ông Hoàng thường nói với bác:

- Già Tư ơi, có lẽ trước khi chết, chú cũng cười.

Phải, trước khi chết, bác vẫn cười. Oác… oác… Một trái lựu đạn miễng F1 vừa được quăng vào, bàn ghế trong phòng đối diện vỡ nát. May bác không hề gì. Tiếp theo một loạt đạn. Già Tư giật bắn người. Đó là trung liên G-13, với băng đạn dài dằng dặc 250 viên, hết băng này có thể thay băng khác trong chớp mắt[60]. Sự lâm trận của trung liên G làm tan rã hy vọng cầm cự của người anh hùng đơn độc.

Già Tư nín thinh, không bắn trả. Trung liên G. khạc đạn một hồi cũng câm bặt. Mọi tiếng ồn khác cũng nín theo. Một sự im lặng khác thường, báo hiệu cho thần Chết đè xuống ngôi nhà siêu vẹo, bàn ghế đổ nát, ngói rớt đầy sân.

Lát sau có tiếng người nói:

- Chúng bị đạn rồi. Tiến lên, anh em.

Già Tư nắm chặt trong tay quả lựu đạn RGD. Chờ cho tên thứ nhất gần tới, bác tung ra. Phát nổ làm tường bê-tông rung chuyển tưởng như đổ sập xuống. Những tiếng kêu thất thanh vẳng ra. Toán xung phong bị giết không còn một mống. Già Tư thản nhiên quăng trái thứ hai, rồi đứng dậy.

Giây phút trọng đại nhất đời đã đến. Bác đặt khẩu súng lên ghế, rồi quỳ xuống lâm râm đọc kinh. Tuy sống ngang tàng, bác là người sùng đạo, ít chủ nhật nào vắng mặt ở nhà thờ. Đọc kinh xong, bác ngồi ngay ngắn, châm thuốc lá hút phì phèo, như kẻ nhàn tản.

Một loạt đạn chát chúa nữa. Tiếng viên chỉ huy:

- Mày chịu hàng không?

Già Tư nói to:

- Chịu hàng.

- Vứt súng xuống đất rồi đi ra ngoài, hai tay để lên đầu.

Già Tư cười ha hả:

- Hết đạn rồi, đừng sợ.

- Mày không ra, chúng tao sẽ ném lựu đạn vào.

- Ném đi, tôi không sợ.

Một giọng nói ngọt ngào:

- Được, nếu anh không muốn ra thì vứt súng xuống thật mạnh, chúng tôi sẽ vào. Này, tôi báo trước, chúng tôi đông lắm, anh không lừa nổi đâu. À, còn bà già…

- Trúng đạn rồi.

Một tiếng "ồ" đáp lại. Già Tư biết họ cần bắt sống để khai thác nên chịu tổn thất sinh mạng. Song bác đã quyết ở lại vĩnh viễn trong ngôi nhà quen thuộc này.

Tiếng giầy đến trước cửa dừng lại:

- Anh ở đâu, lên tiếng cho biết.

Khói súng tỏa mù, gần nhau không thấy gì hết. Già Tư đáp:

- Tôi đây, tôi ở trong góc.

- Tiến ra gần cửa.

- Bị thương nặng, không đi được.

Một tia đèn bấm xuyên qua vùng khói. Hai người đứng ở ngưỡng cửa. Già Tư nghiến răng bóp cò. Rồi chạy đến gần cửa chĩa súng ra ngoài khạc đạn liên tiếp. Viên đạn cuối cùng đã ra khỏi nòng, già Tư hậm hực vứt súng xuống, lùi lại một bước.

Tay bác nắm lấy cái vòng sắt gắn vào tường bê-tông. Bác vận toàn lực rút mạnh ra. Bác vặn một cái đinh ốc bằng kền óng ánh: nút nổ. Bác đến nhẩm trong miệng, 1, 2, 3, 4, 5, 6,…. Một tiếng nổ kinh thiên động địa làm bác bắn lên trần nhà rồi vật xuống. Căn phòn tan ra làm triệu mảnh. Toàn ngôi nhà bị đổ sụp. Kho vật liệu báo Nhân Dân trong phút chốc biến thành đám cháy lớn.

Trừ tốp nhân viên công an đứng ngoài đường, tất cả những người ở trong trụ sở bí mật của bà Hoa đều bẹp dí dưới đống gạch vụn. Trong căn phòng bê-tông, một sự kỳ lạ đã xảy ra: không một món đồ nào còn nguyên vẹn, kể cả khẩu tiểu liên sặc mùi thuốc đạn, già Tư văng vào góc phòng, chân tay gãy nát, mà gương mặt không hề suy xuyển.

Mặt bác Tư vẫn tươi tỉnh, pha chút ngạo nghễ như khi còn sống. Và đặc biệt là nụ cười. Đầu bác lìa khỏi cổ mà nụ cười tiếp tục nở trên cái miệng cương nghị. Đúng như ông Hoàng đã nói, già Tư vẫn cười đến khi chết, cười khinh miệt cuộc sống, khinh miệt bạo lực và súng đạn.

***

Dáng điệu bình thản, tay xác túi đàn vĩ cẩm đựng súng, Văn Bình bước rảo lại chung cư của nhân viên bộ Ngoại Giao ở đường Hàng Lọng.

Ánh nắng xiên khoai buổi trưa làm chàng chói mắt. Vừa đi chàng vừa nhớ tới cái nhìn đầy ý nghĩa của Nguyệt Thanh. Chàng phải thu hết nghị lực nếu không hồi nãy chàng đã kéo nàng vào lòng, quên mất phận sự. Phận sự trên hết, chàng nhủ thầm.

Trước mặt chàng, hiện ra tấm bảng của ty công chính. Như bà Hoa nói, công trường ăn ra đến giữa đường, làm xe cộ chạy chậm lại. Đường Hànội ít xe hơi, song lại nhiều xe đạp. Hơn 12 giờ là giờ tan sở, một thác người cưỡi xe đạp đổ ùn về đường Hàng Lọng ra ngoại ô. Nếu xe hơi của Hôlếp chạy qua, bắt buộc tài xế phải thắng lại, và trong thời gian một giây đồng hồ, Văn Bình có thể thi hành ý định.

Bỗng chàng thấy nong nóng sau gáy. Cảm giác lạ kỳ này chàng thường có mỗi khi bị theo sau. Ai theo sau? Văn Bình bàng hoàng. Nếu có người theo sau, tất chàng đã bị lộ. Và mẹ con Nguyệt Thanh cũng bị lộ. Tất nhân viên của địch đã ập vào xe hơi Nguyệt Thanh và bắt nàng rồi.

Văn Bình nảy ra tư tưởng muốn quay lại để giải cứu cho nàng. song chàng vội đổi ý kiến. Phận sự trên hết.

Chàng giả vờ đứng lại mua thuốc lá. Đặt túi đàn xuống đất, kẹp giữa hai chân, chàng khoan thai bóc gói Tam Đảo, và châm lửa. Trong một thoáng, chàng nhận ra hai người lùi lũi theo sau. Thấy chàng đứng, họ cũng đứng lại.

Cặp mắt Văn Bình phóng ra một tia lửa ghê gớm. Được, chàng sẽ cho bọn theo sau một bài học đắt tiền. Chàng cầm túi đàn, lặng lẽ tiến lại chung cư. Đó là một ngôi nhà lầu mới cất, sơn phết sạch sẽ, trên lầu có ban-công nhìn ra đường. Không ngần ngừ, Văn Bình đi thẳng vào. Theo kinh nghiệm, chàng không ngần ngừ khi đột nhập một căn nhà lạ. Thái độ đàng hoàng sẽ làm người trong nhà tưởng là bạn quen.

Dưới nhà là căn phòng rộng, có hai lối lên gác. Giữa hai cầu thang bằng xi-măng là một cái bàn mộc. Đúng với dự định của bà Hoa, người gác đã ra sau tắm rửa. Văn Bình trèo thang gác.

Chàng không dừng ở lầu nhất mà trèo thẳng lên lầu nhì, rồi tựa lan can nhìn xuống. Một trong hai gã đàn ông theo chàng ngoài đường thoăn thoắt chạy lên. Trong một phần trăm giây đồng hồ, chàng đã nhận rõ tướng mạo hắn. Trạc 30, râu mép lún phún, tay chân khẳng khiu, cặp mắt chậm chạp, hắn chưa phải là đối thủ đồng cân đồng lạng của chàng. Đối với ngữ "dài lưng tốn vải" này, chàng chỉ cần khoèo chân nhẹ là ngã lăn ra đất, khỏi phải xử dụng atêmi nữa.

Trông bộ điệu hớt hải của hắn, chàng biết hắn là tay mơ, được cấp trên phái đi theo rồi về báo cáo. Hạng nhân viên có quyền bắt bớ phải có những cử chỉ bình tĩnh và nhanh nhẹn hơn.

Vào giờ ngủ trưa nên lầu nhì vắng ngắt, ngoại trừ ở cuối hành lang có mấy đứa trẻ đánh đáo với nhau. Văn Bình bước xuớng cầu thang và đụng đầu người lạ ở thềm lầu nhất. Chàng mỉm cười:

- Anh đi đâu vội thế?

Người lạ lúng búng như ngậm hột thị:

- Khôôông.

Văn Bình tiến lại cánh cửa thứ nhì hé mở. Lúc nãy dưới đường chàng đã quan sát địa thế. Từ ban-công phòng này, chàng có thể ngắm bắn Hôlếp dễ dàng.

Chàng xô cửa vào, khoan thai như chủ nhà. Cũng may trong phòng không có ai. Tên có râu mép rảo bước qua, chàng nhoài ra nắm lấy áo hắn, kéo mạnh vào. Chàng chưa cần dụng võ mà người lạ đã bổ chửng trên sàn nhà.

Văn Bình xốc hắn lên, đánh một atêmi vào mặt. Hắn nằm mọp xuống, không cửa quậy nữa. Vừa khi ấy, cửa vào bếp mở tung ra, Văn Bình thấy hai người, có lẽ là cặp vợ chồng, Văn Bình mừng thầm vì không thấy con nít. Sự hiện diện của trẻ em sẽ ngăn cản phần nào công việc của chàng, một công việc tàn nhẫn và độc ác. Vì nếu có con nít, chàng không thể cho chúng tự do trong khi chàng sửa soạn ám sát Hôlếp. Nhưng nếu bắt chúng im đi, chúng lại la thét ầm ĩ, trừ phi đánh cho một cái chết ngất, điều chàng không bao giờ muốn. Vả lại, bình sinh Văn Bình cố tránh phải vũ phu với đàn bà, phương chi là con nít.

Người chồng cởi trần để lộ bắp thịt tay cuồn cuộn. Hắn cao hơn chàng một cái đầu, mặt vuông, mũi bẹp dí, có lẽ là võ sĩ quyền Anh. Người vợ há miệng nhìn chàng không thốt ra lời nào. Văn Bình nghiêng đầu:

- Xin lỗi.

Giọng người chồng hách dịch (có lẽ hắn là công chức cao cấp):

- Cái gi thế?

Văn Bình nhã nhặn:

- Thằng này lẻn vào ăn cắp. Tôi đuổi hắn lên đây và vừa quật hắn ngã.

Người chồng khuỳnh cánh tay lực sĩ:

- Anh là ai?

Chàng buột miệng một câu hớ hênh:

- Nhân viên công an.

Người chồng dằn giọng:

- Công an, công an. Công an ở đâu? Anh biết tôi là ai không?

Văn Bình bước lại gần người chồng. Có lẽ tin vào bắp thịt rắn chắc của mình nên hắn đứng nguyên, không thèm giữ thế. Người chồng lại nói:

- Nhân viên công an hả? Anh đưa chứng minh thư tôi coi?

Văn Bình đáp:

- Thưa đây.

Chàng cho tay vào túi áo. Người chồng cúi xuống. Văn Bình rút ra bàn tay không, và bàn tay vô địch này đã phạt vào cuống họng đối phương. Người chồng tinh mắt, định lùi lại đỡ, nhưng không kịp nữa. Ít ai tránh được cú đánh bất thần của Văn Bình. Người chồng loạng choạng rồi ngã gục vào tường.

Cô vợ rú lên:

- Trời ơi.

Văn Bình tát trái vào má thiếu phụ. Chàng cố tình đánh thật nhẹ, song năm đầu ngón tay của chàng đã in lằn trên cái má trắng nõn. Thiếu phụ ngã ngồi xuống ghế.

Chàng nhìn đồng hồ. Còn 5 phút nữa, Hôlếp mới tới. Chàng vực tên có râu mép dậy, tát vào má cho hắn tỉnh. Hắn mở mắt ra, chàng căn vặn:

- Ai sui mày theo tao?

Mặt hắn tái mét như gà cắt tiết. Hắn ngó chàng rồi nhắm mắt lại. Văn Bình giật tóc hắn:

- Nói mau. ai sai mày?

Hắn lắp bắp:

- Bộ.

- Bộ Ngoại Giao phải không?

- Phải.

- Phan Mỹ sai mày hả?

- Phải.

- Mày theo từ ở đâu?

- Từ hẻm Cửa Đông.

Văn Bình choáng váng. Từ Cửa Đông, nghĩa là Phan Mỹ đã phăng ra trụ sở bí mật của bà Hoa. Nghĩa là lưỡi hái của Thần Chết đã giáng xuống đầu chàng.

Chàng bấm vào xương vai hắn:

- Mày theo tao làm gì?

Hắn kêu lên:

- Ái, ái, đau quá, ông tha cho tôi. Tôi chỉ được lệnh theo ông, còn những người khác đợi dưới xe.

- Ở đâu?

- Chỗ cô bạn gái của ông đợi xe.

Văn Bình à một tiếng:

- Còn người cùng đi với mày?

- Y chờ dưới nhà.

- Có lên đây không?

- Trong 5 phút, nếu tôi chưa xuống thì y lên.

Văn Bình đã biết những điều cần biết. Chàng giáng vào thái dương hắn một atêmi. Lần này hắn giãy lên đành đạch và tắt thở.

Chàng mang túi đàn ra ngoài ban-công, đặt xuống một cái ghế đẩu. Đường Hàng Lọng vẫn đầy ắp xe đạp, xe xích-lô và xe bò. Chàng cho viên đạn thứ nhất lên nòng, và cầm súng để thử nặng nhẹ. Đoạn chàng kéo ghế lại sát lan can. Lâm sự, chàng chỉ cần cúi xuống, nạng khẩu tiểu liên lăn, dựa vào lan can và bóp cò.

Tiếng kêu xe hơi toe toe đặc biệt vang lên. Xe hơi của thiếu tướng Hôlếp.

Kèn này kêu mỗi lần ba tiếng liên tiếp, có thể làm phụ nữ yếu bóng vía phải giật mình. Đó là một hớ hênh của con cáo già gián điệp Hôlếp. Vì kẻ ám sát chỉ cần nghe tiếng kèn là tìm ra.

Văn Bình nhìn về phía hữu. Chiếc Zil III sơn đen bóng lộn có thể soi gương được đang phóng nhanh bỗng thắng lại và đi từ từ. Sát lề đường lúc ấy là hai cái xe bò chở đầy gạch do người đẩy ì ạch và ba cái xe đạp đi cùng hàng. Thấy xe Zil bệ vệ, người lái xe đạp vội lách vào trong, chạm xe bò. Một người ngã xuống.

Tài xế xe Zil lại ấn còi toe toe toe.

Đứng tì lan can nhìn xuống. Văn Bình thấy rõ cổ và đầu của Hôlếp. Y ngồi sát cửa xe, dáng điệu đăm chiêu, dường như không quan tâm đến cảnh kẹt xe. Cạnh y, ngồi sát cửa đối diện là một tên vệ sĩ người to như hộ pháp, hai tay đặt xuống nệm, dường như thủ sẵn khẩu tiểu liên. Phía trước chỉ có một mình tài xế mặc đồng phục trắng, đội kết trắng, đang dán mắt vào khúc đường hẹp bị xe bò án ngữ.

Toe, toe, toe….

Bà Hoa đã nói cho Văn Bình biết đầy đủ về kế hoạch hạ sát Hôlếp, song cố tình quên một điều. Đó là sự hiện diện vào phút chót của một thiếu nữ đi xe đạp vụng về. Thiếu nữ này đậu xe ở đường vòng, khi thấy chiếc Zil dài ngoằng của thiếu tướng Hôlếp hiện ra đằng xa mới trèo lên xe đạp lại chỗ công nhân lục lộ đặt chướng ngại vật. Sự vụng về của thiếu nữ đã làm nghẽn giao thông trong một tích tắc đồng hồ. Bà Hoa không cho chàng biết chi tiết này, phần vì sợ sự sắp đặt bị hỏng vào phút quyết định, phần khác, vì không muốn chàng ỷ vào thiếu nữ đi xe đạp để bắn hụt.

Toe, toe, toe…

Thiếu nữ mặc áo trắng đã rướn lên phía trước. Hai chiếc xe bò sát lề, xa phu đứng lại lau bồ hôi, ngước nhìn chiếc Zil sang trọng ra vẻ kính nể.

Văn Bình chỉ còn nửa giây đồng hồ nữa. Như cái máy, chàng nắm lấy khẩu tiểu liên, đặt lên lan can của ban-công và bóp cò.

Đoàng.

Mặc dầu miệng súng được gắn ống hãm thanh riêng, phát nổ cũng vang dội. Chàng chỉ bắn một phát rồi đặt súng xuống, nhìn xuống đường.

Chàng thấy rõ Hôlếp gục đầu vào cửa xe. Tên vệ sĩ ngước lên, dường như phăng ra chàng. Song chàng đã nã thêm phát thứ hai, tên vệ sĩ ngã luôn bên chủ. Tên tài xế thắng gấp lại, rồi oác, oác, bốn tiếng nổ cùng một lúc. Lựu đạn sa mù trong xe vừa được bắn ra. Trong một phản ứng tự động, tài xế bấm nút phóng lựu đạn sa mù để bảo vệ cho Hôlếp.

Một màn sương trắng che kín chiếc Zil III. Sương mù lan ra thật nhanh, khiến Văn Bình không thấy gì nữa. Chàng rút khăn tay lau báng súng, để xóa hết dấu tay, đoạn mang súng vào, đặt vào tay tên công an viên nằm chết giữa nhà.

Vừa ra đến hành lang, chàng chạm phải tên công an thứ nhì. Sau 5 phút, chưa thấy bạn xuống, hắn mò lên. Gặp Văn Bình, hắn lính quýnh định rút lui, song chàng đã tiến lên phóng một ngọn cước vào mạng mỡ hắn.

Hắn ngã lộn xuống cầu thang. Tiếng nhốn nháo ngoài đường vọng vào.

Văn Bình chạy xuống nhà, thản nhiên ra cửa. Dân chúng xô nhau chạy như bị máy bay thả bom. Liếc nhìn phía xa, Văn Bình nhận ra chiếc Citroen của Nguyệt Thanh vẫn đậu nguyên chỗ cũ. Mắt chàng tóe ra một tia lửa căm hờn. Chàng biết địch đang mai phục để chờ chàng đút đầu vào thòng lọng.

Tiếng súng nổ và tiếng tạc đạn sa mù làm 4 công an viên gác xe Citroen thay đổi kế hoạch. Hai tên xách súng chạy lại. Hai tên còn lại tiến ra xe, dí súng bắt Nguyệt Thanh mở cửa, trèo lên băng sau. Một tên nhìn chừng, tên kia lúi húi rút còng, định khóa tay nàng.

Hắn không dè cô gái ẻo lả kia lại là một nữ võ sĩ nhu đạo cừ khôi. Cái còng sắt vừa tra vào cổ tay tròn trĩnh và trắng trẻo, Nguyệt Thanh đã vung ra, hắt vào giữa mặt hắn. Hắn ngồi xuống. Nàng sắp đoạt được súng thì tên thứ hai đứng ngoài lên đạn đánh soạch kèm theo tiếng quát giết người:

- Ngồi yên, không tan óc.

Bị vướng xe chật, nàng không thi thố tài năng được. Tên cầm súng ra lệnh:

- Để hai tay xuống nệm.

Hắn mở cửa sau, dơ báng súng định giáng cho nàng một cái. Vừa may, Văn Bình tới. Lưỡi dao trong tay chàng loáng lên rồi cắm vào gáy đối phương. Nạn nhân khựng người, khẩu súng lục rơi xuống vỉa hè.

Nhanh như cắt, Nguyệt Thanh trèo lên băng trước, nối giây công-tắc. Hai tên lúc nãy nghe súng nổ vội vã quay lại. Đoàng, đoàng. Chúng ở quá xa nên bắn không trúng. Cả hai co chân chạy về chiếc xe Citroen.

Quang cảnh đường Hàng Lọng hỗn độn không thể tả. Sương mù do tạc đạn phát ra vẫn giăng đầy một khoảng đường. Tài xế xe Zil III bắt đầu ấn còi cấp cứu, tiếng kêu thê thảm như còi xe chữa lửa vang thét giữa buổi trưa nắng gắt.

Các cửa hiệu gần nơi xảy ra án mạng đều đóng cửa kín mít. Xe đạp, bộ hành vội vã chạy về nhà ga Hàng Cỏ, khúc đường xe Zil đậu trở nên vắng tanh. Một hồi còi cấp cứu nữa ré lên. Xe díp công an từ đầu Hàng Lọng phóng tới, thắng lại kêu ken két.

Hai tên công an cầm súng còn cách xe Citroen chừng 10 thước. Nguyệt Thanh đã nối xong công tắc, máy nổ dòn. Nàng định vào số cho xe chạy, Văn Bình vội nói:

- Thong thả một phút, để anh hạ thủ hai thằng này đã.

Hai phát súng lục nổ chát chúa. Chúng ngắm bắn Văn Bình và Nguyệt Thanh qua kính xe phía trước. Một phát trúng vào kính xe, phát kia trật ra ngoài. Nguyệt Thanh cúi xuống tránh còn Văn Bình vẫn ngồi yên, trong cử chỉ chờ đợi. Khi hai công an viên còn cách chàng 5 thước, lọt vào tầm súng lục, chàng mới nhả đạn. Mỗi viên một nạn nhân. Văn Bình tặng cho mỗi tên viên kẹo đồng vào giữa mặt.

Trong khi đó, Nguyệt Tanh lái xe, vòng chữ U về ga Hàng Cỏ. Chiếc Citroen dưới tay nàng lướt nhanh như tên bắn. Văn Bình nhìn vào kính chiếu hậu.

Mặt chàng hơi tái. Một chiếc xe hơi lạ đang bám riết chiếc Citroen. Hànội không phải là Ba-lê hoặc Nữu-Ước để có thể đuổi bắt kinh khủng bằng xe hơi xả tốc lực trên trăm cây số một giờ, và có thể trốn thoát. Con đường dài nhất trong thành phố Hànội không quá ba cây số, và trừ những đại lộ ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm, phố xá đều nhỏ bé, không phải nơi đua tài của xe hơi.

Tuy nhiên, Nguyệt Thanh vẫn phóng nhanh. Nàng lái trên đại lộ Lý Thường Kiệt với một tốc độ khiếp đảm, ít nhất trên 120 cây số một giờ. 120 cây số một giờ, giữa những xe bò, xe đạp, trên một con đường lồi lõm: quả Nguyệt Thanh là một tay đua có tài. Vừa lái, nàng vừa hỏi chàng:

- Họ còn rượt theo nữa không anh?

Văn Bình đáp:

- Còn. Có lẽ mình phải hạ thủ luôn bọn này.

Nguyệt Thanh nói:

- Không được đâu. Họ đã gọi vô tuyến khắp nơi, thế nào cuối đường Lý Thường Kiệt, họ cũng chặn lại.

- Anh hiểu rồi. Bây giờ em thử giảm bớt tốc lực xem sao.

Nàng giảm ga xăng. Lạ lùng xiết bao, chiếc díp theo sau cũng chạy chậm lại. Nguyệt Thanh phóng nhanh, nó cũng rượt theo.

Văn Bình nghiến răng tức tối:

- Hừ, chúng nó muốn chơi trò ú tim với mình. Thôi được, em đưa vô-lăng cho anh. Em hãy trèo ra băng sau. Anh sẽ lái vòng qua nhiều con đường hẻm. Đến đoạn nào không thấy chiếc díp phía sau, em sẽ nhảy xuống và tìm cách thoát thân.

- Còn anh?

- Anh sẽ liệu kế thoát thân sau. Thành phố Hànội nhiều hẻm lắm, anh thuộc lòng như cháo, khi có cơ hội anh sẽ bỏ xe lại, tối nay mình sẽ gặp nhau.

- Không được đâu. Theo em, chỉ có một cách: bắn chết bọn đi theo. Cuối đường Lý Thường Kiệt, chắc chắn họ sẽ chắn ngang đường, chi bằng ra tay từ bây giờ. Gấp lắm rồi, anh nên nghe em. Khẩu tiểu liên, em giấu dưới đệm xe, anh nhấc đệm lên, bấm nút ở dưới, nắp bật lên trong đó có súng và 5 băng đạn, anh tha hồ dùng.

Trong nháy mắt, khẩu K-50 quen thuộc đã nằm gọn trong tay chàng. Chiếc díp màu xanh còn cách xe Citroen năm chục thước. Với khoảng xa này, tiểu liên K-50 có thể bắn nát một con chim. Văn Bình lên đạn, thò đầu ra ngoài cửa xe, bắn tràng đầu tiên. Chàng lia súng từ dưới lên trên, rồi từ trên xuống dưới, cốt bắn vào hai lốp trước và bắn xuyên qua kính lái.

Chiếc díp loạng choạng rồi đâm vào gốc cây bên đường. Một giây đồng hồ sau, nó biến thành một đám cháy. Nguyệt Thanh định lái vào một con đường hẻm, nhưng một chiếc xe đen không rõ từ đâu tới đã quay ngang đường, từ trong có nhiều loạt đạn bắn ra chát chúa. Nguyệt Thanh thắng gấp rồi quay đầu lại. Một viên đạn vèo qua cửa xe cắm vào cánh tay trắng nuốt của nàng.

Nàng nghiến răng chịu đau, vòng lại đường cũ, bàn chân đạp lút ga xăng. Văn Bình xả hết băng đạn thứ nhì vào chiếc xe đen. Máu loang ra đầy áo Nguyệt Thanh. chàng ngồi sát lại người nàng, đỡ lấy vô-lăng, trong khi nàng trèo ra băng sau, xé vải buộc vết thương. Chiếc xe đen đang rồ máy đuổi theo. Chiếc Citroen đã vào đến ngõ Nam Ngư. Văn Bình ra lệnh cho Nguyệt Thanh:

- Em còn đủ sức nhảy xuống được không? Nhảy đi.

Nàng ngần ngừ:

- Trong hẻm này có căn nhà của Sở. Em chắc chắn thoát được. Còn anh?

Văn Bình gắt:

- Nhảy xuống đi. Xe chúng nó chưa tới.

Nguyệt Thanh tông cửa xe nhảy phắt xuống vỉa hè. Văn Bình chờ nàng chạy khuất vào một ngõ hẻm nhỏ, đưa tay vẫy, mới xả hết ga phóng ra đường lớn. Chàng định lái qua vườn hoa Cửa Nam rồi thoát ra đường hẻm gần chợ Hàng Da, song chiếc xe đen đã rượt gần tới. Một kế hoạch táo bạo nổi ra trong trí, Văn Bình nghiến răng phanh xe lại giữa đường, lượm lấy khẩu súng, lăn mình xuống vệ cỏ. Vừa cuộn tròn mình lại gần hàng rào dâm bụt xum xuê, chàng vừa nhả đạn liên tiếp.

Không may cho chàng, chàng chỉ bắn được nửa băng thì kẹt đạn. Từ chiếc xe đen nhảy xuống hai người đàn ông bận âu phục xám, cả hai đều cầm tiểu liên. Kỳ lạ thay, thấy chàng kẹt đạn, họ không bắn mà chỉ núp sau thân xe chờ đợi. Văn Bình muốn chồm dậy nhưng toàn thân bị ê ẩm. Có lẽ vì chàng nhảy vội nên bị sái một bên vai. Chàng đành thản nhiên chờ chết. Dọc ngang mãi rồi, bây giờ bị chết chàng không tiếc nuối nữa. Vả lại, chàng đã cứu được nàng. Thế là đủ rồi.

Tiếng súng kết liễu đời Văn Bình vẫn không chịu nổ. Chàng đứng dậy, ném khẩu K-50 vô dụng xuống đất:

- Các anh còn đợi gì nữa?

Một tiếng đáp nhẹ nhàng:

- Dơ tay lên, tiến lại đây.

Chàng lặng lẽ tuân theo. Một người mở cửa đẩy chàng lên. Phút này chàng mới nhận ra chiếc Zim, một trong các loại xe đắt tiền nhất, chỉ dành cho nhân vật cao cấp. Chàng ngồi giữa hai tên cầm tiểu liên, thân thể đồ sộ như tủ đựng quần áo.

Họ không thèm ngó chàng, họ cũng không thèm nói với chàng nửa lời. Câm như thóc, tài xế xả ga, phóng vào trung tâm thành phố ngập nắng.

Sau những ngày tung hoành, Văn Bình đã trở thành một tử tội.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:40 pm

XI. Đêm cuối cùng của tử tội

Bôrin gài số hai cho xe vượt như tên bắn khỏi cánh cổng đồ sộ của trụ sở Smerch. Nhìn cái tháp canh hình tròn của nhà pha Hỏa Lò đứng ngạo nghễ ở góc đường Hàng Bông Thợ Ruộm, Bôrin cảm thấy trái tim đau nhói. Bệnh nhức đầu đột nhiên trở lại làm mắt hoa lên.

Chòi gác của khám đường trung ương vừa đánh thức trong lòng Bôrin những kỷ niệm đau đớn. Hắn sang Mỹ, lao đầu vào công tác nguy hiểm, để lại Vương Lệ một món tiền thưởng lớn lao, tưởng vợ hắn thủy chung, ngờ đâu đã bỏ hắn theo nhiều người đàn ông khỏe mạnh và xinh xắn khác.

Ruột gan Bôrin sôi lên. Hắn vừa nói chuyện với đại ta Kamốp. Ngồi sau bàn giấy, Kamốp nhoẻn miệng cười thân mật khi Bôrin tới:

- Chào thiếu tá. Anáttát vẫn mạnh giỏi chứ?

Bôrin trịnh trọng nâng ly Vốt-ka do Kamốp rót lên môi. Chắc có việc quan trọng Kamốp mới cho mời hắn đến gấp. Thoạt tiên, hắn tưởng bị khiển trách, nhưng khi thấy Kamốp đối xử nồng hậu hắn cảm thấy yên dạ. Kamốp chìa thuốc lá mời, giọng nhẹ nhàng:

- Tôi kêu thiếu tá đến đây để cho thiếu tá biết là thiếu tướng Hôlếp đã đề nghị với trung ương ban tặng huân chương Lênin cho thiếu tá để tưởng thưởng những nỗ lực phục vụ ở Hoa Kỳ.

Bôrin choáng váng cả người. Huân chương Lênin là phần thưởng quý báu nhất đối với con người cán bộ Sô Viết. Miệng hắn khô lại, hắn muốn thốt lời cảm tạ nhưng tiếng nói bị vướng trong cổ họng. Kamốp đứng lên:

- Chỉ có thế thôi. Thiếu tá có thể trở về nhà nghỉ. Trong vài ba tuần nữa sẽ có hồi âm của trung ương. Về đời sống vật chất, thiếu tá còn cần thêm gì nữa không? Đồng chí Hôlếp ra lệnh cung cấp đủ mọi tiện nghi cho thiếu tá.

Bôrin sướng run lên, giọng lắp bắp:

- Thưa đại tá, tôi đã đủ rồi.

Lúc ra đến cửa, chợt Kamốp hỏi:

- Dạo này, Vương Lệ đã khá hơn trước chưa?

Bôrin giật mình:

- Thưa….

- Té ra thiếu tá chưa biết. Thôi, thiếu tá còn mệt, đừng quan tâm tới lời tôi vừa nói nữa.

Bôrin trợn tròn mắt kinh ngạc:

- Thưa đại tá, tôi biết, tôi biết lắm. Lợi dụng tôi đi công cán xa, vợ tôi đã ngoại tình với người khác. Tôi đội ơn đại tá nếu cho tôi biết đứa dâm phu là ai.

Kamốp thở dài:

- Bôrin, tôi thương đồng chí rất nhiều. Tôi đau đớn khi được tin gia đình đồng chí cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Không nói thi ấm ức, nói ra thì đồng chí cũng chẳng làm gì được.

- Tôi sẽ giết chết kẻ nào ngoại tình với Vương Lệ.

- Thôi, đồng chí không giết được hắn đâu. Hắn là nhân vật có thế lực ở đây. tình địch của đồng chí là Phan Mỹ, trưởng ban RUMID của bộ Ngoại Giao.

Bôrin xây xẩm mày mặt, phải dựa vào tường để khỏi ngã. Kamốp rót thêm một ly vốt-ka:

- Đồng chí uống cho lại sức.

Mắt đỏ ngầu, Bôrin uống một hơi hết sạch. Uống xong hắn xin ly nữa, rồi ly nữa, đến khi chai vốt-ka cạn hai phần ba, hắn dằn mạnh cái ly pha-lê xuống bàn, giọng đầy căm hờn:

- Nếu đại tá cho phép, tôi sẽ giết hắn ngay bây giờ.

Kamốp vỗ vai Bôrin:

- Theo tập quán, người Nga có danh dự không khi nào để kẻ khác cướp vợ mình. Kẻ nào lăng nhăng với vợ tôi, tôi sẽ băm vằm ra hàng trăm mảnh, vì thế tôi thông cảm nổi khổ tâm của đồng chí. Tôi sẵn sàng giúp một tay cho đồng chí, miễn hồ đồng chí hành động nhậm lẹ và hữu hiệu.

Nói đoạn Kamốp rút ngăn kéo, đưa cho Bôrin một tấm hình. Cầm xem, Bôrin tái mặt: trong hình, Vương Lệ đang ngồi trên ghế, mặt ngước lên cho Phan Mỹ hôn, một tay Phan Mỹ luồn dưới áo mân mê bộ ngực tròn trịa. Khốn nạn, nếu Bôrin biết là hình ghép thì sẽ không nghiến răng, quắc mắt, đấm tay thình thịch vào ngực. Một lát sau, Bôrin trở nên bình tĩnh. Hắn nhìn thẳngvào mắt Kamốp:

- Xin đại tá cho tôi mượn khẩu súng xi-a-nuya.

Giọng Kamốp nghiêm nghị:

- Nếu xảy ra chuyện gì, đồng chí đừng nói là súng của tôi, nghe chưa. Đồng chí lấy cái xe nhỏ trong ga-ra mà đi, chiều nay trả lại cho Sở.

Quên cả chào thượng cấp, Bôrin chạy tuốt ra sân, trèo lên chiếc Warburg nhỏ xíu, phóng như bay.

Xe hơi đến bộ Ngoại Giao. Lính gác cản lại, Bôrin thò đầu qua cửa xe, giọng hách dịch:

- Có việc gấp. Còn đợi gì mà chưa mở cửa.

Thấy bộ quân phục thiếu tá Hồng Quân, tên lính hoảng sợ, vội dạt sangbên. Bôrin chạy thẳng vào sân sau. Tắt máy vội vàng, Bôrin trèo lên gác. Người lính ở cầu thang đứng nghiêm chào, Bôrin hất hàm đặt chân lên hành lang trải nệm êm ru.

Một người lính nữa cầm tiểu liên trước văn phòng của Phan Mỹ. Chẳng nói chẳng rằng, Bôrin tiến lên quạt một quả đìa-rét vào giữa mặt. Tên lính ngã chúi vào tường. Bôrin xô cửa bước vào.

Bản năng gián điệp chuyên nghiệp thức dậy trong lòng. Bôrin trở nên điềm tĩnh một cách lạ thường. Một phép lạ mầu nhiệm đã làm hắn khỏi bệnh nhức đầu. Hắn đút một tay vào túi, làn da chạm vào cái bật lửa xinh xẻo bằng vàng tây, bên trong chứa ba viên đạn xi-a-nuya nhỏ xíu, mỗi viên trong vòng ba thước có thể giết chết một con tê giác khổng lồ.

Bôrin đã gặp Phan Mỹ một lần tại Mạc-tư-khoa. Giáp mặt lần đầu, hắn đã tỏ ra khó chịu trước cái nhìn đĩ điếm và trịch thượng của viên trưởng ban tình báo bộ Ngoại Giao. Hắn còn nhớ rõ cái bắt tay lạnh lùng của Phan Mỹ tại trụ sở trung ương Smerch. Hắn không ngờ còn gặp Phan Mỹ lần thứ hai, và có thể là lần cuối cùng trong đời. Vì Phan Mỹ phải chết. Chết vì dám ngoại tình với người vợ đầu gối tay ấp của hắn.

Hắn sửa soạn một nụ cười khinh miệt để chào Phan Mỹ. Chào xong, hắn dự định kéo ghế ngồi xuống rồi rút khẩu súng xi-a-nuya dơ lên ngang ngực tình địch, kèm theo những lời kết tội đanh thép và rùng rợn:

- Phan Mỹ, anh ngoại tình với Vương Lệ, tôi phải giết anh. Anh muốn trối trăng điều gì không? Tôi dành cho anh một phút trước khi từ giã cõi đời.

Nụ cười khinh miệt vừa nở trên môi Bôrin bỗng tắt ngúm như ngọn đèn dầu tù mù trước cơn gió cuồng bạo, Bôrin đứng sững trên ngưỡng cửa.

Phan Mỹ đã chờ hắn không biết từ bao giờ. Chờ hắn với một khẩu súng 9 ly, đầu gắn ống hãm thanh dài ngoằng và đen sì. Phan Mỹ dựa lưng vào bàn giấy đầy ắp hồ sơ, khẩu súng quái ác thủ sẵn trong tay đeo găng trắng, dưới chân là hai con chó mát-típ lông ngắn màu đen, mõm lọ nồi, mặt vuông, đuôi vểnh, tai cụp, loại chó săn được huấn luyện đặc biệt cho các công tác gián điệp.

Phan Mỹ lắc mũi súng, giọng đều đều:

- Chào bạn Anáttát Bôrin, tôi đợi bạn từ lâu.

Bôrin nói:

- À ra anh biết tôi đến.

- Cố nhiên. Xe hơi anh vào đến cổng tôi đã biết rồi. Vì tôi ra lệnh cho lính gác nên anh được tự do lên đây. Nếu không anh đã tan xác ngay từ khi đặt chân lên thang lầu. Hừ, anh đáo để thật, dám đánh ngã tên vệ sĩ của tôi ngoài hành lang. Bôrin, anh đến thăm tôi về việc gì?

- Anh là kẻ lòng lang dạ thú đã cướp đoạt vợ tôi. Tôi đến đây để tặng anh một viên đạn.

- Hà, hà, anh lạc quan quá. Anh rút giùm bàn tay ra khỏi túi. Chắc anh đã biết hai con mát-típ này. Chính trung ương Smerch đã huấn luyện giùm tôi tại Mạc-tư-khoa. Tôi chỉ suỵt nhẹ một tiếng là chúng cắn anh nát ngứu. Bây giờ, mời anh ngồi xuống ghế, chúng ta sẽ đàng hoàng trò chuyện với nhau. Dầu sao, chúng ta cũng là người trí thức, đúng hơn là những nghệ sĩ trong nghệ thuật giết người.

- Anh đừng tưởng tôi sợ. Tạm thời, tôi thua anh vì anh có súng trong tay, nhưng lát nữa hoặc mai đây, cán cân lực lượng sẽ nghiêng về tôi, và tôi sẽ giết anh. Giết anh về tội ngoại tình.

- Bôrin, anh ngu lắm. Ngoại tình là danh từ trong từ điển của những thằng đàn ông hèn nhát. Sở dĩ người đàn bà chán chồng đi tìm thú vui với kẻ khác là vì anh chồng bất tài. Vương Lệ không yêu anh nữa, lẽ ra anh nên lấy làm hổ thẹn, anh nên nghiên cứu xem nàng bỏ anh vì sao, còn như ghen tuông xuẩn động, mang súng đến đây đòi giết người không phải là giải quyết vấn đề.

Tôi không dấu anh là có cảm tình với Vương Lệ. Song tôi coi nàng cũng như hàng trăm người đàn bà khả ái khác đã gặp trong đời. Bông hồng mới nở còn đẹp và thơm, tôi là khách yêu hoa, hái về cắm vào bình. Trong một tuần lễ, hoa hồng tàn tạ, tôi sẽ vứt vào sọt rác.

Phan Mỹ cười rít lên một cách khoái chí:

- Anh tin hay không tùy ý. Tuy nhiên tôi sẵn lòng mời anh coi cuốn an-bom người đẹp của tôi. Mời anh dở ra xem có hình vợ anh chưa? Chưa, trăm phần trăm chưa. Làm đến chức vụ cao cấp như tôi thiếu gì đàn bà, lai đeo đẳng một người đàn bà có chồng.

Bôrin ngồi ngây ra như tượng. Phan Mỹ vẫn giữ nụ cười đắc ý trên làn môi xám xịt:

- Anh lầm rồi. Lầm to rồi. Người ta đã lợi dụng anh để nhổ một cái gai đâm vào mắt.

Bôrin chống chế:

- Không ai lợi dụng tôi cả. Vương Lệ ngoại tình, tôi muốn giết kẻ tình địch, thế thôi.

Phan Mỹ đổi giọng nghiêm nghị:

- Bôrin, anh đừng chối cải nữa. Tôi đã biết. Cái gì, tôi cũng biết. Kamốp đã lợi dụng anh. Kamốp thù tôi song không giết nổi tôi nên mới bày ra tấn trò ghen tuông để hạ thủ tôi. Ha, ha…. Phan Mỹ không đến nỗi khờ khạo như đại tá Kamốp lầm tưởng.

Bôrin đứng phắt dậy:

- Chào anh, tôi về.

Phan Mỹ khoát tay:

- Đâu dễ như thế được. Mời anh ngồi yên trên ghế. Tôi đã sai người dọn phòng cho anh rồi.

Chuông điện thoại reo vang. Cầm lên nghe, Phan Mỹ đột nhiên biến sắc. Hắn nói:

- Phải rượt bắt cho kỳ được. Bắt sống, không được bắn chết, nghe chưa? Xong xuôi, mang hắn về đây ngay.

Đoạn Phan Mỹ quay về phía Bôrin ngơ ngác:

- Tôi báo cho anh biết một tin quan trọng, vô cùng quan trọng. Thiếu tướng Hôlếp vừa bị ám sát trên đường Hàng Lọng, và tôi đã biết được kẻ chủ mưu.

Mặt Bôrin tái xanh như tràm đổ. Hắn lắp bắp:

- Thiếu tướng Hôlếp bị giết….

- Phải, tướng Hôlếp. Người chủ mưu là ai, anh biết không? Là đại tá Kamốp.

Bôrin há miệng toan phản đối, song Phan Mỹ khoát tay:

- Tôi biết anh sẽ gân cổ cãi giùm cho Kamốp. Anh ngu lắm. Anh chỉ là con cờ trong tay Kamốp. Hắn bố trí ám sát Hôlếp để đổ tội cho tôi. Song tôi đã nắm được bằng cớ cụ thể. Tôi là nhân vật có thế lực. Mặc dầu anh là thiếu tá Hồng Quân, nhân viên của Smerch, tôi vẫn có thể giết anh như giết một con ruồi. Nhưng anh là người vô tội. Vì thương hại anh, vì không muốn vợ anh phải góa bụa, tôi sẵn sàng tha chết cho anh. Với một điều kiện…

Bôrin lặng thinh. Phan Mỹ bấm chuông, hai vệ sĩ to như hộ pháp hiện ra ở cửa hông bí mật. Hắn chậm rãi ra lệnh:

- Dẫn thiếu tá xuống phòng A-8.

Rồi quay về phía Bôrin:

- Tối nay, tôi sẽ cho anh biết điều kiện.

Bôrin vùngvằng:

- Anh không có quyền bắt giữ một sĩ quan Sô Viết cao cấp.

Phan Mỹ cười ha hả:

- Tôi cứ bắt, anh làm gì tôi.

Bôrin lùi lũi bước ra cửa. Một tên vệ sĩ níu lấy áo hắn, giật mạnh. Bôrin hoành tay, đánh một đòn nhu đạo cực hiểm. Nhưng một quả phật thủ đã giáng vào đầu. Bôrin loạng choạng một giây rồi ngã gục xuống. Tên vệ sĩ xốc hắn lên vai, nhẹ như nhái bén, rồi chạy thoăn thoắt ra ngoài hành lang.

Một nữ thư ký từ cửa hông bước vào trao cho Phan Mỹ một tờ giấy màu xanh lá cây. Hắn hất hàm:

- Dấu tay của hung thủ phải không?

Người thư ký cung kính dạ một tiếng. Vừa đọc qua giòng chữ thứ nhất. Phan Mỹ giật mình:

- Trời ơi, lại hắn nữa.

Hắn ngoảnh lại tên vệ sĩ:

- Xuống phòng giam giải hung thủ lên đây. Phải xiềng hai chân lại và còng tay ra sau lưng, nghe chưa. Hắn là đứa nguy hiểm lắm đấy. Nguy hiểm số một ở Đông-Nam-Á.

Một mình trong phòng, Phan Mỹ chắp tay sau đít, miệng lẩm bẩm:

- Hừ, Z.28. Phen này liệu mày còn trốn thoát được không?

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .



Văn Bình không ngạc nhiên khi thấy tài xế lái vào bộ Ngoại Giao và chạy thẳng vào sân sau. Chàng được dẫn vào một căn phòng nhỏ, cửa đóng kín mít, có lối đi xuống hầm. Chàng được biết phần lớn cơ sở của Phan Mỹ đều ở dưới hầm, một cái hầm rộng, đào sâu năm thước, trang bị đủ tiện nghi.

Nhà hầm thắp đèn nê-ông sáng như ban ngày. Chàng ngồi xuống ghế sắt nét mặt bình thản. Chàng thừa biết số phận địch dành cho chàng. Tra tấn. Khai thác. Hành quyết. Sau nhiều lần hoạt động nghênh ngang ở Hànội, chàng là tử thù của các cơ quan an ninh, chàng bị bắt và đã trốn thoát trong đường tơ kẻ tóc, lần này chắc họ không để chàng trốn thoát nữa. Vì vậy chàng vẫn điềm tĩnh. Điểm tĩnh chờ cái chết. Điềm tĩnh chờ cơ hội cao bay xa chạy.

Một thiếu phụ đứng tuổi mặt lạnh như tiền bưng một cái hộp sắt hình vuông đến bên chàng. Nắp hộp mở ra, Văn Bình hơi giựt mình. Bên trong là dụng cụ lấy dấu tay.

Thiếu phụ cầm bàn tay của Văn Bình đè lên một tấm kính phết mực màu đen. Năm ngón tay của chàng được in rõ ràng lên giấy trắng. Trong vòng mười phút, những dấu tay này sẽ được đưa xuống phòng căn cước, và nhân viên của Phan Mỹ chỉ cần nửa giờ là phăng ra chàng.

Tống Văn Bình, tức Z.28 bị bắt! Phan Mỹ sẽ mở yến tiệc ăn mừng. Z.28 sa lưới, cơ quan an ninh Hànội từ nay được ăn no ngủ kỹ.

Lăn tay xong, thiếu phụ còng tay chàng lại như cũ. Mùi bồ hôi nồng nặc từ người thiếu phụ tỏa ra làm chàng lộn mửa. Bộ ngực vĩ đại của thiếu phụ - một thành tích vẻ vang về kích thước cũng như về mũi nhọn không kém thua các cô đào nguyên tử - phập phồng sau làn vải mỏng, không gây được xúc động nào trong lòng chàng, không phải vì chàng rầu rĩ - vì Z.28 là con người độc nhất vô nhị có thể vui như Tết giữa pháp trường - mà vì mùi hôi khó tả. Ngạt thở, chàng quay mặt ra nơi khác. Dường như đọc được tư tưởng của chàng, thiếu phụ nguýt chàng một cái thật dài.

Chợt có tiếng giày lộp cộp. Một người đàn ông cao lớn, mỗi bên hông tòn ten một khẩu súng sáu to tướng, hùng hổ bước tới, kèm theo tiếng quát hách dịch:

- Tư đâu?

Người được gọi là Tư là tên lính giải chàng xuống hầm. Hắn đang chúi vào góc rít trộm một điếu thuốc lào. Nghe kêu, hắn giật nảy người, đứng nghiêm:

- Dạ, em đây.

Người đeo hai súng dõng dạc:

- Sao mày chưa xiềng chân phạm nhân lại?

Tên lính còn trù trừ thì tiếng quát thứ hai tiếp theo:

- Lấy cái xích sắt đeo quả tạ 25 cân, nghe chưa?

25 cân mỗi bên, vị chi cái xiềng nặng 50 cân. Chẳng nói chẳng rằng, Văn Bình đưa chân cho tên lính xiềng lại. Thấy chàng phớt tỉnh, tên lính văng tục rồi nói:

- Hừ, đóng trò khéo lắm. Liệu lát nữa mày còn giữ được vẻ mặt xấc láo như bây giờ nữa không?

Văn Bình nhún vai không thèm đáp. Tên lính trợn mắt, tát chàng một cái cháy má. Không chịu được nữa, chàng đứng vụt dậy, giáng cái còng vào mặt hắn. Miệng hắn bị đánh nát bét, máu tuôn ra ồng ộc. Hắn rú lên một tiếng đau đớn rồi rút súng, lên đạn đánh soạch:

- Tao sẽ bắn mày què chân.

Người đeo hai súng khoát tay:

- Tư, đừng lộn xộn. Có cất súng đi không nào.

Tư mếu máo:

- Thưa trung úy, nó đánh em gẫy mất ba cái răng.

- Kệ xác mày. Nhanh lên, đồng chí Phan Mỹ đang chờ. Nếu đồng chí Phan Mỹ cho phép, mày tha hồ trả thù. Tao sẽ bằng lòng cho mày nhổ sáu cái răng của nó.

Người đeo hai súng ra lệnh cho Văn Bình:

- Đi.

Văn Bình lắc đầu:

- Nặng lắm, đi không được.

- Nặng cũng phải đi.

Văn Bình cười nhạt:

- Tôi không đi, các anh làm gì tôi. Đây này, tôi bảo cho biết, mặc dầu bị còng tay và xiềng chân, tôi còn thừa sức ăn gỏi các anh. Dầu sao tôi cũng chết về tội ám sát thiếu tướng Hôlếp. Tôi giết hai anh rồi cũng bị bắn mà thôi. Các anh hãy lên báo cáo với Phan Mỹ rằng tôi không thích bị xiềng chân. Hoặc muốn tôi lên khỏi hầm, hai anh phải bưng quả tạ cho tôi khỏi nặng.

Người đeo súng sáu nghiến răng:

- Được. Chúng tôi sẽ bưng quả tạ cho anh.

Văn Bình thản nhiên đi trước, hai nhân viên của Phan Mỹ khệ nệ bưng hai quả tạ nặng 50 kilô theo sau.

Phan Mỹ đón chàng ngoài cửa phòng giấy, vẻ hớn hở hiện rõ trên mặt.

Văn Bình ngồi phịch xuống ghế bành bọc nỉ trắng toát. Người đeo súng quắc mắt:

- Ai cho phép anh ngồi xuống đây?

Văn Bình cười nửa miệng:

- Tôi là thượng khách của Phan Mỹ, anh không biết sao?

Phan Mỹ nghiêm sắc mặt:

- Thôi, cho hai anh ra ngoài.

Sau khi đóng cửa kỹ lưỡng, Phan Mỹ đứng yên ngắm chàng như ngắm con hổ vừa bị bắt trong rừng già, đưa đến vườn bách thú. Hắn cười, nhe răng vàng:

- Chào anh Z.28.

Văn Bình ngước mắt nhìn hắn:

- À, anh đã biết tên tôi. Phải, tôi là Z.28, tức Văn Bình, cộng sự viên số một của ông Hoàng.

Phan Mỹ cười nửa miệng:

- Anh còn quên chưa giới thiệu thêm Z.28 là Tăng Minh, đảng viên cộng sản, giáo sư trường đại học Chulalongkorn ở vô cùng, nhân viên phái đoàn Việt kiều Thái-Lan qua Hànội tham quan.

Vừa nói hắn vừa quan sát Văn Bình để dò la phản ứng. Văn Bình không ngạc nhiên. Khi bị lấy dấu tay, chàng biết là vai trò của chàng sẽ bị lộ vì các cơ quan an ninh ở Hànội đều có hồ sơ về chàng. Vả lại, nếu ngạc nhiên chàng cũng không tỏ ra ngoài cho địch biết.

Tuy vậy, chàng phập phồng lo ngại. Trước khi đi, chàng được ông Hoàng dặn kỹ là tìm đủ cách che dấu cho khỏi bị lộ. Một khi địch phăng ra căn cước của chàng, kế hoạch ly gián do ông Hoàng lao tâm khổ trí vạch ra sẽ tan thành mây khói.

Phan Mỹ gật gù:

- Nghe tiếng anh đã lâu, giờ mới được gặp mặt. Tiếng đồn về anh quả không ngoa chút nào. Tôi thành thật khen ngợi thái độ bình tĩnh của anh.

Văn Bình không đáp. Phan Mỹ tiến lại bên chàng, rút chìa khóa trong túi ra mở còng và mở xiềng. Trong lúc đối phương cúi xuống, chàng có thể đánh hắn bất tỉnh, song chàng không dám. Chàng biết hắn đã đề phòng chu đáo. Dường như đọc được tư tưởng của chàng. Phan Mỹ đứng dậy giọng thân mật - một sự thân mật giả tạo:

- Anh định hạ tôi rồi thoát thân phải không? Tôi mong anh đừng nghĩ tới việc đó. Nếu anh tấn công tôi trong lúc cúi xuống mở xiềng, anh sẽ bị ăn đạn ngay. Không tin anh nhìn lên tường xem… Anh thấy tấm ảnh Hồ chủ tịch chứ? Đó là ảnhgiả, phía sau tôi đã gắn một ống kính riêng, vệ sĩ của tôi túc trực ở phòng bên sẵn sàng nhả đạn nếu thấy qua ống kính tôi bị anh uy hiếp.

Văn Bình vẫn ngồi im không nói. Chàng duỗi chân cho khỏi tê. Phan Mỹ rót huýt-ky mời chàng:

- Biết anh là bợm huýt-ky, tôi đã dành sẵn một chai hảo hạng mời anh. Trên bàn, tôi đã để cho anh một gói Salem, mời anh tự nhiên.

Không đợi địch mời lần thứ hai, chàng cầm ly rượu đầy ắp, uống cạn một hơi, và bóc gói Salem mới toanh, lấy một điếu. Phan Mỹ bật lửa châm thuốc cho chàng.

Thở khói lên trần, Văn Bình hỏi hắn:

- Chắc anh có chuyện muốn điều đình với tôi phải không?

Phan Mỹ giật bắn người. Hắn lừ mắt nhìn chàng thanh niên lực lưỡng, xinh trai, mớ tóc quăn lòa xòa, da mặt xạm nắng, miệng cười ngạo nghễ, ngồi điềm nhiên trong ghế bành bọc nỉ trắng. Văn Bình đã đi guốc trong bụng hắn. Quả hắn muốn điều đình. Văn Bình rót thêm một ly huýt-ky nữa, miệng nói:

- Tôi sẵn sàng bàn chuyện với anh nếu anh muốn.

Đột nhiên, Phan Mỹ đổi sắc mặt. Hắn nhìn chàng, cười gằn:

- Anh lầm rồi. Anh tưởng mở còng và mở xiềng cho anh là tôi có chuyện muốn điều đình. Chẳng qua là tôi đối xử nhân đạo với anh đấy thôi.

- Cám ơn lòng tối của anh.

- Anh đừng rễu cợt. Tôi đối xử với anh một cách tuyệt đối thành thật. Là kẻ ở trong nghề đã lâu, anh thừa hiểu tội anh là tội chết. Anh đã ám sát tướng Hôlếp, nhân vật tình báo quan trọng nhất của Liên Sô ở Bắc Việt. Riêng tội này đã đưa anh ra pháp trường hàng chục lần rồi, phương chi từ ngày đội lốt Tăng Minh đến đây, anh đã nhúng tay vào nhiều vụ phá hoại và án mạng.

Tuy tôi là kẻ thù không đội trời chung của anh, tôi luôn tôn trọng truyền thống cao thượng của nghề điệp báo, ấy là sẵn sàng khoan hồng, sẵn sàng đối xử nhân đạo đối với kẻ thù dưới ngựa.

Văn Bình ném điếu Salem vào cái đựng tàn:

- Anh cho phép tôi nói sự thật này với anh. Bước chân vào nghề điệp báo, tôi cũng như anh, đều coi cái chết là thường. Các anh thèm giết tôi từ lâu. Nhiều lần tôi bị các anh bắt, và nhiều lần tôi đã thoát thân trong đường tơ, kẻ tóc. Riêng anh, tôi biết anh chưa muốn giết tôi trong lúc này. Chúng ta đều là tay lão luyện cả, anh cần thương nghị gì, xin cứ nói ra, bằng không, xin anh cho tôi một viên đạn, tôi lên đường xuống âm phủ cho sạch nợ.

- Nhân viên của tôi còn tra khảo anh, bắt anh cung khai rồi đưa ra tòa án trước khi anh bị bắn.

- Dọa nhau làm gì, anh Phan Mỹ? Anh thừa rõ tra tấn đối với tôi là thường. Anh cắt tai, xẻo mũi, khoét mắt tôi vị tất tôi hé răng chứ đừng nói là nhổ móng tay, tra điện, dí lửa vào da thịt, như các anh thường làm nữa. Tôi cũng như mọi người khác, tài chịu đau không phi thường đâu, tuy nhiên, tôi hiểu rõ rằng nếu tôi khai, tôi cũng chết, không khai tôi cũng chết, bởi vậy ngậm miệng là hơn. Vả lại, thiếu gì phương pháp quyên sinh hả anh? Dầu anh còng tay, xiềng chân, tôi vẫn có thể tự tử dễ dàng. Anh đừng quên tôi là Văn Bình, Z.28.

- Hừ, anh giỏi chịu đòn, song không kháng cự nổi huyết thanh sự thật đâu.

- Mời anh chích mét-xa-lin cho tôi. Rồi anh xem tôi có khai không.

Tợp một ly huýt-ky, Văn Bình nói tiếp:

- Anh Phan Mỹ. Đừng ỡm ờ nữa. Anh muốn gì, nói ra, nếu có thể được, tôi xin nghe.

Phan Mỹ đi đi, lại lại trong phòng, dáng điệu suy tư. Đột nhiên, hắn ngồi xuống ghế, ấn một cái nút trên bàn. Văn Bình mỉm cười:

- Anh tắt máy ghi âm phải không?

Phan Mỹ khựng người, trố mắt nhìn Văn Bình. Lát sau, hắn nói:

- Anh có cặp mắt tinh đời thật. Đáng tiếc anh không phải là đồng chí của tôi. Anh nói đúng, tôi tắt máy vi âm vì tôi muốn câu chuyện giữa chúng mình được hoàn toàn giữ kín, và nhân viên của tôi ở phòng bên không nghe được.

Như anh đã biết, làm nghề gián điệm bị địch bắt chỉ còn cách thoát thân, hoặc chết. Anh thoát thân nhiều lần rồi, lần này tôi đã bố trí cẩn thận, trừ phi anh hóa thành con muỗi như Tề Thiên Đại Thánh mới có hy vọng trốn khỏi bộ Ngoại Giao. Nghĩa là sớm muộn anh phải chết.

Nói cho đúng, người tài như anh hàng trăm năm mới có, nếu giết thì uổng vô cùng. Song không giết cũng không được, vì anh sẽ gây ra nhiều khó khăn cho chúng tôi trong tương lai. Dỗ dành anh qui thuận càng không được nữa, và tôi biết anh thà chết chứ không bao giờ phản bội ông Hoàng. Tuy nhiên, giữa những người gián điệp chuyên nghiệp với nhau, vẫn có thể tìm ra một sự thỏa thuận. Tôi bằng lòng xét lại số phận anh, nếu anh cho tôi biết chuyến này anh đội lốt Tăng Minh ra Hànội với công tác gì.

Văn Bình lắc đầu:

- Anh đừng hỏi, mất thời giờ vô ích, tôi không nói đâu.

Phan Mỹ cười hềnh hệch:

- Ồ, tôi hỏi chơi anh đấy thôi. Anh không nói, tôi cũng biết. Ông Hoàng phái anh ra đây để gây chia rẽ trong hàng ngũ điệp báo Trung quốc và Liên Sô. Thú thật với anh, mới đầu tôi không biết, song từ khi thấy anh ám sát Hôlếp tôi phăng ra liền. Tôi không chối cãi là Kamốp muốn thịt tôi, song họ giết tôi không phải dễ. Họ muốn nắm hết các cơ sở do thám và Phản Gián ở Hànội, nhưng tôi cương quyết chống lại. Họ bèn bịa ra chuyện tài liệu mật bị đánh cắp. Nếu tôi không lầm, RU và Smerch đã mượn tay C.I.A. và ông Hoàng để hạ bệ tôi. Văn Bình, anh là người quân tử, anh có xác nhận điều ấy không?

Văn Bình nín thinh. Phan Mỹ hỏi tiếp:

- Chính anh đã giết chết 8 nhân viên Smerch của Kamốp để đổ tội cho tôi, rồi cũng chính anh giết Hôlếp để thúc đẩy tòa đại sứ Liên Sô đánh lá bài quyết liệt. Song anh không ngờ tôi cho người theo sát anh từng bước.

Văn Bình nhìn giữa mắt Phan Mỹ:

- Bây giờ anh muốn gì?

Phan Mỹ nhún vai, cười dòn tan:

- Muốn anh hợp tác với tôi.

- Tôi đã nói rõ rồi. Anh đừng hy vọng tôi đầu hàng.

- Không, tôi không buộc anh đầu hàng. Tôi chỉ muốn anh hợp tác với tôi để triệt hạ Kamốp.

- Nếu tôi từ chối?

- Tôi không tin anh từ chối. Anh nổi tiếng khôn ngoan, chắc chắn anh nhận lời. Vì anh chẳng thiệt gì cả.

- Nếu tôi nhận lời?

- Giản dị lắm. Tôi chỉ cần anh ra làm chứng cho tôi. Nội ngày nay, sẽ có một phiên tòa đặc biệt của Trung Ương đảng Lao Động để xét xử vụ tranh chấp giữa tôi và Kamốp.

- Số phận tôi sẽ ra sao?

- Tôi sẽ trả tự do cho anh.

- Như thế nào?

- Ồ, tòa án sẽ kết tội anh chung thân hoặc tử hình về vụ hạ sát Hôlếp. Nhưng tôi đã lãnh anh về đây. Và đêm nay, tôi sẽ bố trí cho anh trốn thoát. Anh thừa hiểu rằng tôi không nuốt lời.

- Tôi không nghi anh đâu, song muốn nói với anh điều này: nếu tòa xử anh thắng Kamốp, anh sẽ vọt lên ngôi vị lãnh tụ số một về tình báo ở đây, mặt khác, ảnh hưởng Sô Viết sẽ bị suy sụp. Thành ra anh lợi nhiều quá.

- Vậy, anh đòi gì nữa? Anh cần tiền ư? Bao nhiêu tiền tôi cũng đưa.

- Anh cho phép tôi nghĩ ngợi một lát. Trên nguyên tắc, có thể coi như tôi đã chấp thuận đề nghị của anh.

Phan Mỹ tươi hẳn lên, bắt tay Văn Bình. Chàng nắm lấy bàn tay mềm mềm của địch. Chàng lộ vẻ mừng rỡ như bắt tay một người bạn thiết.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Bà Huyền Hoa ngồi im như pho tượng. Nguyệt Thanh thẫn thờ nhìn mẹ, mắt nàng rưng rưng như muốn khóc. Thật ra nếu bà Hoa không nghiêm khắc, nàng đã gục vào lòng bà khóc nức nở. Nàng cảm thấy xúc động trước cử chỉ hy sinh đẹp đẻ của Văn Bình. Thấy mẹ nhìn qua cửa sổ ra sân - một cái sân rộng thênh thang đầy cây trái - nàng đánh bạo hỏi:

- Thưa mẹ, vì con mà anh ấy bị bắt.

Bà Hoa quay lại phía con gái, giọng dịu dàng:

- Con lầm rồi. Con đừng tưởng Văn Bình yêu con. Anh ấy vẫn sẵn sàng chịu chết thay cho mọi người. Từ nãy đến giờ mẹ buồn không phải vì sợ Văn Bình chết. Sa vào tay địch, chết là chuyện thường, phương chi Văn Bình là người đã cọ sát với tử thần nhiều lần trong đời.

- Trời ơi, con không ngờ trái tim mẹ lại sắt đá như vậy.

- Không phải đâu. Tim mẹ cũng biết xúc động như con. Mẹ đã ứa lệ khi trốn khỏi trụ sở Cửa Đông, để bác Tư ở lại. Nghe tin Văn Bình bị bắt, ruột mẹ nát như tương. Mẹ thương Văn Bình như con, con biết không? Song mẹ còn phải nghĩ đến Sở, đến tính mạng của anh em trong Tổ Chức, đến sứ mạng phải hoàn thành, đến tiền đồ của tổ quốc. Thương Văn Bình chỉ là tình riêng, ở vào địa vị chỉ huy như mẹ không được phép đặt tình riêng lên trên nhiệm vụ.

- Mẹ ơi, nếu mẹ không ra tay tất Văn Bình phải chết.

- Mẹ đang nghĩ đây. Tuy nhiên, mẹ phải chờ lệnh ông Hoàng.

- Lúc nào mẹ cũng nói chờ lệnh ông Hoàng. Đến khi ông Hoàng biết tin thì Văn Bình đã chết.

- Ông Hoàng hiện đang ở trong một tiềm thủy đỉnh ngoài khơi, trực tiếp ra chỉ thị cho mẹ.

Nguyệt Thanh vùng vằng đứng dậy:

- Muộn rồi, mẹ ạ, con không đợi được nữa, con nóng ruột như lửa đốt. Con đi cứu Văn Bình đây.

- Con cứu bằng cách nào?

Nguyệt Thanh nín lặng. Quá yêu Văn Bình, nàng muốn cứu chàng, song chưa biết sẽ cứu bằng cách nào. Bà Hoa đặt bàn tay răn reo lên vai con gái, giọng hiền từ:

- Con đi nghỉ một lát cho khỏe. Tối nay, sẽ có nhiều việc quan trọng phải làm. Mẹ sẽ cần tới tài bắn súng và nhu đạo của con.

Nguyệt Thanh chưa kịp trả lời thì tiếng chuông reo nhè nhẹ trên bàn. Chuông này ăn thông ra cổng, có một nhân viên bí mật ngồi gác. Y bấm chuông vào báo hiệu công an tới nhà.

Bà Hoa tiến lại cửa sổ đóng kín. Qua một lỗ hổng khoét trong gỗ, bà nhìn ra đường. Một chiếc xe díp sơn xanh vừa đậu lại, bốn người đàn ông mặc thường phục nhảy xuống, một tay thọc túi quần. Bà Hoa trao khẩu tiểu liên K-50 cho con gái:

- Con gắn ống hãm thanh vào. Nếu họ lên đây con sẽ lãy cò. Mẹ muốn con giết luôn bốn người một lúc.

Bà Hoa xách cái cặp da đầy ắp giấy tờ quan trọng, mở cửa tủ áo, chui vào trong. Biệt thự này là của một viên chức cao cấp, vợ đau phổi nằm trong bệnh viện, chồng xuất ngoại vì công vụ, ở nhà chỉ có một người gác, và người này là nhân viên của bà Hoa. Việc công an ập vào khám xét không làm bà Hoa ngạc nhiên: biệt thự này đã bị lộ khi một nhân viên liên lạc đã bị bắt. Nhưng bà đành ở lại vì trời chưa tối, không thuận tiện cho việc di chuyển, hơn nữa, bà phải chờ Nguyệt Thanh. Theo thông lệ, mổi lần thoát hiểm nàng đều về biệt thự này trước.

Nguyệt Thanh hỏi mẹ:

- Cả bốn người đều vào à mẹ?

Bà Hoa đáp:

- Cả bốn người. Họ đang bắt chú Ba mở cổng cho xe chạy vào. Như vậy càng hay.

Tiếng xe díp rồ máy rồi đậu lại dưới sân. Chú Ba - nhân viên của bà Hoa - nói lớn cốt cho trên lầu nghe tiếng:

- Ông tổng giám đốc đi Trung quốc rồi, tuần sau mới về. Mời các ông tuần sau lại.

Một người công an quắc mắt:

- Anh còn bướng nữa tôi sẽ bắn cho vỡ óc.

Chú Ba gắt lại:

- Mời anh bắn thử.

Một người khác xen vào:

- Anh là người gác nhà, không được phép can thiệp vào việc của chúng tôi. Ngoài ra, tôi cũng cần nói anh biết là anh phải theo chúng tôi về Sở.

Chú Ba lặng thinh. Một công an viên nói:

- Yêu cầu anh đi trước, dẫn chúng tôi lên lầu.

Nguyệt Thanh nghe rõ tiếng chân người trèo thang gác. Nàng hé mở cửa, núp sau, ngón tay đặt lên cò súng, dáng điệu bình tĩnh lạ thường. Bọn công an đều rút súng cầm tay, mặt đầy sát khí. Thấy cửa mở, một tên nói:

- Ta vào phòng này trước.

Nguyệt Thanh nép sát vào tướng. Cánh cửa bị đạp tung ra. Bốn tên công an sồng sộc bước vào. Nguyệt Thanh lia một loạt đạn. Cả bọn ngã rạp xuống như lá rụng. Tiếng tiểu liên nổ rất nhẹ, tựa như tiếng nút chai sâm-banh.

Chú Ba đứng ở ngưỡng cửa, lau bồ hôi trán. Bà Hoa xô cửa tủ bước ra, miệng nói:

- Lộ hết rồi, chúng ta đi thôi.

Chú Ba là một thanh niên trạc ba mươi, thân thể gày gò, lông mày chổi xể, cái miệng nhỏ xíu, mỗi khi cười lộ ra hai cái răng cời. Y hỏi bà Hoa:

- Thưa bà, tôi có đi không?

Bà Hoa đáp:

- Chú cũng đi. Ở đây, người ta sẽ đến bắt chú.

Nguyệt Thanh gói khẩu tiểu liên vào một tấm vải lớn, đoạn cắp ngang nách lững thững xuống cầu thang, bà Hoa xách cặp tài liệu theo sau.

Xuống nhà dưới, chú Ba hỏi:

- Thưa bà, bây giờ đi đâu?

- Về trụ sở bí mật.

Nguyệt Thanh lái chiếc Tatra từ nhà xe ra. Bà Hoa mở cửa trèo lên. Bỗng chú Ba nói:

- Chết. Tôi còn để quên cái ví đựng tiền. Xin bà hai phút.

Bà Hoa đáp, giọng điềm tĩnh:

- Được, chú cứ vào lấy.

Năm phút sau, chú Ba trở ra. Nguyệt Thanh lái bon bon ra ngoài đường, phóng một mạch dọc Bờ Sông. Tuy ngồi vào một góc, bà Hoa vẫn chăm chú nhìn vào kính chiếu hậu. Lát sau, qua viện Bảo Tàng, bà ra lệnh cho con gái:

- Con lái xuống đường Láng.

Nguyệt Thanh ngạc nhiên, trụ sở bí mật ở khu Yên Phụ, không phải ở Láng. Vả lại, ở Láng không có nhân viên nào ở. Song le, nàng ngoan ngoản tuân theo lệnh của mẹ.

Chạy được một quãng, đến một khúc đường vắng, bà Hoa đập vào vai Nguyệt Thanh:

- Đậu lại con.

Đã ngạc nhiên, Nguyệt Thanh càng ngạc nhiên thêm. Tứ phía là cánh đồng vắng ngắt. Bà Hoa nói:

- Dường như có xe rượt theo.

Chú Ba đáp:

- Bà lầm rồi. Tôi không thấy xe nào cả.

Bà Hoa cười, giọng gay gắt:

- Tôi không lầm. Anh lầm thì đúng hơn.

- Thưa bà….

- Anh lầm vì tưởng tôi già rồi, tôi không biết. Nhưng anh quên rằng tôi già tuổi mà trí còn sáng suốt. Tôi đã thấy rõ những việc anh làm. Tôi còn thấy rõ những điều anh nghĩ.

Mặt gã đàn ông đột nhiên tái mét. Nguyệt Thanh quay phắt lại trố mắt nhìn mẹ.

Bà Hoa vẫn nói, giọng đều đều:

- Hồi nãy, anh vào trong nhà làm gì?

- Thưa bà…

- Anh định nói vào trong nhà lấy ví tiền phải không? Hừ, tôi biết anh đã gọi giây nói cho họ.

Gã đàn ông khựng người, toan cho tay vào trong bọc. Bà Hoa lắc đầu:

- Anh rút súng làm gì, vô ích. Bì đạn tôi đưa anh hồi trưa toàn là đạn giấy, bắn ruồi không chết.

Hắn buông tay ra, đặt lên đùi, toàn thân run run, bồ hôi vã ra như tắm, giọng lẩy bẩy:

- Thưa bà… xin bà tha cho tôi.

Bà Hoa ngó thẳng vào mắt hắn:

- Anh điện thoại cho họ rằng tôi đi về trụ sở bí mật phải không?

- Thưa, vâng.

- Họ ra lệnh cho anh ra sao?

- Thưa, bảo đi theo.

Nguyệt Thanh hỏi, giọng sửng sốt:

- Thưa mẹ, chú Ba phản mình à?

Bà Hoa cười:

- Phải. Chú Ba làm việc cho Phản Gián Hànội.

Nguyệt Thanh mở gói lấy khẩu súng:

- Mẹ cho phép con bắn hắn một phát.

Bà Hoa xua tay:

- Con nóng nảy quá! Để yên cho mẹ hỏi.

Gã đàn ông chấp tay lạy:

- Tôi cắn rơm cắn cỏ lạy bà. Người ta bắt tôi phải làm, nếu không, giết vợ giết con tôi. Trong một phút mềm yếu, tôi đã nhận lời, nhận lời một cách hèn hạ và nhục nhã.

- Sao anh không trình với tôi?

- Tôi sợ lắm.

- Người ta dặn anh những gì?

- Thưa, họ giả vờ cho công an tới khám nhà, buộc bà phải giết họ, và mang tôi theo đến trụ sở bí mật. Tôi đã van vỉ họ, cho họ biết bà là người có cặp mắt thần thông, nhìn thấu tâm can thiên hạ, song họ nhất định bắt tôi phải tuân lệnh. Thưa bà, tôi có ba đứa con, hai trai một gái, đứa lớn nhất mới lên 5. Tôi chết đi, chúng sẽ thành mồ côi, và lâm vào cảnh đói rét.

- Song nếu anh sống, tiếp tục làm nghề mật thám cho địch, hàng ngàn hàng vạn trẻ em khác sẽ mồ côi, sẽ đói rét, cha mẹ chúng sẽ bị bỏ tù, bị giết chết.

- Thưa bà, tôi biết tội rồi. Bà vẫn được tiếng là sáng suốt và nhân từ, xin bà tha chết cho tôi. Rồi bà sai gì tôi cũng làm.

- Nếu anh tuyệt đối tuân theo lệnh tôi, kể từ phút này, tôi sẽ tha tội chết cho anh.

Nguyệt Thanh phản đối:

- Mẹ.

Bà Hoa gạt đi:

- Con biết gì mà nói.

Rồi quay sang phía gã đàn ông:

- Anh thừa hiểu tôi không bao giờ thất hứa. Song tôi chỉ tha anh nếu anh hoàn toàn nghe lời tôi. Hoàn toàn, anh nhớ chưa?

- Thưa, nhớ.

Bà Hoa phóng tay nhanh như chớp vào màng tang gã đàn ông. Hắn gục đầu xuống nệm bất tỉnh. Bà Hoa ra lệnh cho con:

- Con lái về chợ Hôm.

Cho xe chạy, nàng hỏi mẹ:

- Sao không về trụ sở đường Yên Phụ?

- Về sao được. Đó là trụ sở quan trọng nhất của ta, địch khám phá ra thì hết chỗ nương thân.

- Mẹ biết chú Ba phản bội từ lâu chưa?

- Lâu rồi, song mẹ vẫn để yên. Nói cho đúng, trước kia mẹ chỉ nghi ngờ hắn, nhưng chưa tìm ra bằng chứng cụ thể. Đến khi biết chắc hắn là tay sai của địch, mẹ mới bố trí cho hắn ở gần mẹ, tạo cho hắn cơ hội phản bội. Vì thế, sau khi trốn khỏi trụ sở cửa Đông, mẹ về đó chờ con.

- Giả sử địch tới bắt ngay thì sao?

- Ồ, bắt như vậy trái ngược với nguyên tắc nghề nghiệp, con ạ. Bao giờ người ta cũng đợi tóm trọn ổ. Họ thừa rõ nếu mẹ bị bắt, mẹ sẽ tự vận liền. Bắt một xác chết là việc hoàn toàn vô ích. Mẹ chết đi, người khác lại lên thay mẹ. Tốt hơn là chờ cho mẹ về tổng hành doanh để ập bắt, nắm lấy hồ sơ mật. Con thấy họ khôn ngoan không? Họ hy sinh bốn nhân viên để mẹ bắt buộc phải mang chú Ba về trụ sở trung ương. Hừ, họ tưởng mẹ là một bà già gần kề miệng lỗ… Phen này, họ sẽ thấy.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:41 pm

Chiếc Tatra trở lại trung tâm thành phố. Chợt Nguyệt Thanh hỏi lại bà Huyền Hoa:

- Mẹ định dùng chú Ba làm cái chìa khóa để mở cửa nhà giam cứu Văn Bình phải không?

Bà Hoa cười:

- Con đoán đúng. Tuy nhiên, con gái của mẹ ăn nói bóng bẩy quá, mẹ chịu không hiểu nổi.

Nghe mẹ nói, Nguyệt Thanh thẹn đỏ mặt. Nàng tống ga xăng, chiếc Tatra phóng nhanh như tên bắn.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Buổi chiều đổ xuống một cách vội vàng. Quỳnh Ngọc ngồi bên cửa sổ, ruột nóng như lửa đốt.

Nàng ngồi đợi thiếu tá Vũ Kính. Kính mới gặp nàng cách đây nửa giờ mà nàng tưởng như nửa năm. Vì Kính cho nàng biết Văn Bình đã bị bắt.

Tin chàng bị bắt như sét đánh ngang tai nàng. Nàng lặng người trong một phút. Nổi tiếng gan dạ và bình tĩnh, nàng bỗng trở nên mềm yếu, xao xuyến. Nàng hỏi dồn

- Bị bắt ở đâu? Bắt về chuyện gì? Hiện giam ở đâu?

Vũ Kính lắc đầu:

- Tôi chưa biết. Phiền cô đợi tôi đến tối. Vả lại, đêm nay phái đoàn phải về Vọng-các, tôi phải có mặt ở đây để thúc giục mọi người sửa soạn.

Vũ Kính đi rồi, Quỳnh Ngọc cảm thấy trống trải lạ thường. Trong những ngày ở Hànội, nàng ít có dịp gần Văn Bình, tuy nhiên thỉnh thoảng gặp nhau ở ngoài hành lang, nàng nhìn chàng đắm đuối và chàng cũng nhìn lại, như muốn dùng tia mắt bảo nàng:

- Quỳnh Ngọc ơi, anh yêu em lắm.

Có lần, nàng lén vào phòng chàng. Hai người đoàn tụ với nhau không được lâu, song một phút ôm ấp chàng là một tháng hạnh phúc của nàng. Gần đàn bà, chàng có một sức lôi cuốn kỳ lạ, người nào ngã vào vòng tay chàng là không thể gỡ ra được nữa.

Bây giờ Văn Bình bị bắt!

Bị bắt trong lúc sắp sửa lên phi cơ trở về đất Thái.

Nàng thở dài nhìn qua cửa sổ. Bỗng nàng nhận ra bóng dáng quen thuộc của thiếu tá Vũ Kính. Chàng vừa xuống xe, vội vã vào trong lữ quán.

Nàng mở hé cửa chờ chàng. Nàng chột dạ khi thấy vẻ mặt long trọng của Vũ Kính. Chàng lẳng lặng đóng cửa, tắt máy ghi âm bí mật giấu trong ngọn đèn đêm, đoạn nói giọng đủ nghe:

- Tôi vừa nhận được chỉ thị của Z.62. Cô sẽ phụ trách việc loại trừ Phạm Bài và nhân viên khác của địch trong lữ quán. Đúng ba rưỡi sáng, phi cơ sẽ cất cánh.

- Còn anh ấy?

- Z.28 ấy à? Tôi chưa nhận được tin tức gì thêm. Z.62 cho biết ông Hoàng vừa đánh điện ra lệnh công tác cứ tiếp tục như thường.

- Nghĩa là phái đoàn lên máy bay không đợi Z.28 nữa.

Vũ Kính nhún vai, vẻ mặt buồn buồn:

- Tôi không biết. Nhiệm vụ của tôi là mang lệnh của ông Hoàng và Z.62 cho cô, thế thôi. Còn Z.28 về hay không, việc này ở ngoài phạm vi của tôi.

- Phiền anh đưa tôi đến gặp Z.62.

- Không thể được.

- Lạ nhỉ, tại sao anh lại giấu cả tôi.

- Tôi không dám giấu cô. Sở dĩ tôi không mang cô đi gặp Z.62 được vì lẽ giản dị tôi không biết Z.62 ở đâu, và Z.62 là ai nữa.

- Trời ơi!

- Sự thật là thế. Cô còn lạ gì, tôi là sĩ quan công an có thể bị địch lột mặt nạ bất cứ lúc nào, Z.62 không muốn tôi biết nhiều sợ có hại cho tôi, nếu chẳng may tôi bị lộ.

- Anh tiếp xúc với Z.62 bằng cách nào?

- Qua trung gian.

- Anh có điện đài liên lạc thẳng với Sàigòn không?

- Không. Z.62 phụ trách việc này.

- Anh có cách nào liên lạc với Z.62 ngay bây giờ không?

- Không.

- Liên lạc khẩn cấp?

- Trong trường hợp liên lạc khẩn cấp, phải 24 giờ sau tôi mới gặp được nhân viên trung gian.

Quỳnh Ngọc đứng dậy, vẻ mặt sầu muộn:

- Z.62 còn dặn anh điều gì nữa không?

- Dặn nói lại với cô rằng Tổ Chức đang tìm cách cứu Văn Bình.

- Mấy giờ người của mình tới?

- Lát nữa tôi mới biết.

Quỳnh Ngọc mở ngăn kéo, lôi ra một con dao sáng quắc. Nàng liếc cái lưỡi vào gan bàn tay. Trong cơn lo âu giận dữ, nàng đẹp lên một cách dị thường. Vũ Kính đứng yên nhìn nàng. Một lát sau, nàng nói:

- Dầu biết là vi phạm kỷ luật, tôi cũng đi cứu Z.28. Tôi không thể nào để anh ấy chết một mình. Cứu được Z.28, tôi mới chịu về Vọng-các, nếu không tôi sẽ ở lại.

- Chị phải nghĩ đến nhiệm vụ, đến Tổ Chức. Chị quên mất lời thề long trọng khi gia nhập rồi ư?

Nghe Vũ Kính nhắc lại lời thề "trung thành với Tổ Chức, để phục vụ quyền lợi tối cao của tổ quốc, sẵn sàng hy sinh hết quyền lợi riêng", Quỳnh Ngọc xao xuyến cõi lòng. Một giọt lệ long lanh trong khoé mắt nàng. Nàng khóc.

Quỳnh Ngọc, nữ nhân viên ban Biệt Vụ của sở gián điệp Việt Nam, nữ xạ thủ hữu danh, nữ võ sĩ nhu đạo đai đen, đã khóc. Nàng khóc vì tình. Nàng khóc vì trót nặng lòng với Văn Bình, người con trai lạ lùng có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với phụ nữ.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Trong khi Quỳnh Ngọc ngồi tư lự ở Hàng Mành, Văn Bình được đưa ra xe bít bùng, giải đến một tòa nhà rộng lớn gần Hồ Tây.

Chiếc xe sơn đen vượt qua hàng rào binh sĩ cầm súng lưỡi lê tuốt trần đứng gác.

Trời đã tối hẳn. Giữa hai công an viên mặc đồng phục, Văn Bình được điệu vào một căn phòng lớn trên lầu.

Căn phòng quét vôi trắng, trống trơn, ngoại trừ tấm chân dung đồ sộ của Hồ Chí Minh trên tường. Dưới bức ảnh lồng khung sơn son thếp vàng là một cái bục dài trên đặt cái bàn chữ nhật. Bên dưới, đối diện cái bục là nhiều dãy ghế gỗ.

Đèn điện sáng trưng.

Trong khoảnh khắc, Văn Bình thấy xe hơi đậu lố nhố ngoài sân, binh sĩ hô nghiêm dõng dạc và lách cách bồng súng chào, rồi nhiều người lặng lẽ vào phòng ngồi trên ghế, vào chỗ đã định sẵn. Mọi cánh cửa đều đóng chặt, ngoại trừ hai cửa ra vào có lính gác.

Một lát sau, thiếu tá Bôrin bị giải tới, tay bị còng. Hắn được đẩy xuống ghế cạnh Văn Bình. Phan Mỹ và đại tá Kamốp tới sau, nét mặt đăm chiêu, mỗi người ngồi yên một góc.

Bỗng một tiếng hô "nghiêm". Mọi người trong phòng đứng thẳng dậy.

Phiên tòa bắt đầu.

Bốn người đàn ông đứng tuổi xuất hiện từ một cánh cửa hông, khoan thai trèo lên bục, ngồi nghiêm chỉnh sau bàn chữ nhật. Người ngồi giữa trạc năm mươi, mặt răn reo đầy vết thẹo, đeo kính cận thị gọng vàng, mặc áo cổ đứng bằng hàng kaki ngoại hóa, đứng dậy, giọng long trọng:

- Nhân danh Trung Ương đảng bộ đảng Lao Động, tôi long trọng khai mạc phiên tòa đặc biệt này. Phiên tòa đặc biệt này được triệu tập do quyết nghị của ban Thường Vụ trung ương, nhóm họp khẩn cấp vào hồi ba giờ chiều nay.

Đúng ra, đây không phải là một phiên tòa, cũng không phải là một vụ xử đúng nghĩa của nó mà chỉ là một phiên nhóm đặc biệt để cứu xét một lời khiếu nại nghiêm trọng của đảng viên Phan Mỹ phụ trách tình báo tại bộ Ngoại Giao.

Như các đồng chí đã biết, thiếu tướng Hôlếp, tùy viên quân sự trong tòa đại sứ liên bang Sô Viết ở Hànội, đã bị kẻ gian ám sát bằng súng tiểu liên trưa nay tại đường Hàng Lọng. Ngay sau khi án mạng xảy ra, tòa đại sứ Liên Sô, qua sự đại diện của đại tá Kamốp, trưởng phái bộ tình báo Smerch tại nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đã gởi một kháng thư khẩn cấp lên chính phủ và Trung Ương Đảng. Vì tính cách tối mật và tối khẩn của nội vụ. Trung Ương Đảng và Hội Đồng chính phủ đã nhóm họp lập tức và cũng lý do kể trên này không thể đem ra thảo luận công khai. Kháng thư của sứ quán Liên Sô cho biết đồng chí Phan Mỹ đã chủ mưu trong việc ám sát thiếu tướng Hôlếp.

Đồng chí Phan Mỹ đã gởi một bức thư trần tình lên ban Thường Vụ Trung Ương, bác bỏ lời buộc tội của đại tá Kamốp. Phiên nhóm hôm nay được triệu tập để xét xem ai phải, ai trái, và sau đó sẽ đúc thành một bản kết luận đệ lên Trung Ương, hầu quyết định biện pháp trừng phạt. Bây giờ, tôi nhường lời cho đại tá Kamốp.

Viên chánh thẩm cất tiếng:

- Đồng chí Kamốp.

Kamốp mặc quân phục đại tá Hồng Quân bước ra. Chánh thẩm nói:

- Yêu cầu đồng chí trình bày tự sự cho Tòa biết.

Kamốp nói bằng tiếng Nga. Giọng hắn dõng dạc và lanh lãnh như tiếng chuông

- Thưa các đồng chí đại diện cho Trung Ương, thưa toàn thể các đồng chí có mặt ở đây hôm nay. Sở dĩ tòa đại sứ Liên Sô gởi kháng thư là vì đã nắm được chứng cớ cụ thể Phan Mỹ toa rập với địch, làm ly gián hàng ngũ, làm gián điệp cho đế quốc và âm mưu hạ sát thiếu tướng Hôlếp.

Tôi xin lưu ý phiên tòa về tính tình xảo quyệt của Phan Mỹ. Hắn dám ngang nhiên bắt cóc thiếu tá Anáttát Bôrin, sĩ quan Smerch, và giải ra tòa, tay bị còng, như một tên phạm nhân. Lát nữa, tôi biết rõ hắn sẽ tìm cách ngậm huyết phun người, song tôi tin là quý tòa có đủ sáng suốt để vạch trần thủ đoạn đê tiện của Phan Mỹ.

Thứ nhất, Phan Mỹ đã tư thông với tình báo đế quốc. Vừa làm trưởng ban tình báo tại bộ Ngoại Giao, vừa làm cho C.I.A.. Phan Mỹ quả là một tên đại gian ác, đáng bị tử hình.

Nói đoạn, Kamốp mở cặp, lấy ra hai tập tài liệu. Đó là bản in hai hồ sơ Văn Bình lấy trộm được trong văn phòng của Phan Mỹ, về vị trí các giàn tên lửa SAM II và những khuyết điểm trong nền tình báo Sô Viết tại Bắc Việt.

Cử tọa rì rào. Viên chánh thẩm đập búa gỗ xuống bàn:

- Yêu cầu tuyệt đối im lặng.

Nhìn Kamốp trình Tòa hai tập tài liệu. Phan Mỹ hơi tái mặt song chỉ một giây đồng hồ sau, hắn đã lấy lại bình tĩnh.

Kamốp nói thật chậm, cốt gây xúc động trong cử tọa:

- Tôi xin nói rõ là các tài liệu này do phủ Thủ Tướng chuyển tới cho tôi, nhờ điều tra. Trên tài liệu được ghi rõ xuất xứ: Phòng Nghiên Cứu, bộ Ngoại Giao. Theo tin của phủ Thủ Tướng, tài liệu này đã được Phan Mỹ bán cho C.I.A., và nhân viên nhị trùng của phe xã hội chủ nghĩa đã tìm cách chụp lại, gởi về Hànội. Nếu cần tôi sẽ trình thêm một số bằng chứng khác về việc Phan Mỹ làm gián điệp cho đế quốc.

Đó là tội thứ nhất. Thứ hai là tội phá hoại cơ quan Smerch, bằng cách giết 8 nhân viên dưới quyền tôi và bố trí vụ ám sát thiếu tướng Hôlếp của tòa đại sứ Liên Sô.

Viên chánh thẩm quay sang phía Phan Mỹ:

- Đồng chí được Tòa cho phép bào chữa.

Phan Mỹ đảo mắt nhìn Tòa, rồi nói, giọng từ tốn:

- Thưa các đồng chí, tôi rất buồn khi phải ra đây hôm nay, tôi càng buồn hơn nữa khi được nghe một kẻ phá hoại, phản bội phe xã hội chủ nghĩa lên mặt thầy đời. Kẻ đốn mạt ấy là Kamốp. Những tài liệu hắn vừa trình trước Tòa hoàn toàn là tài liệu giả tạo. Hắn bịa ra để hạ tôi cho dễ.

Hắn sợ tôi còn sống sẽ phanh phui tội ác của hắn với nhân dân Liên Sô, nhân dân tiến bộ toàn thế giới. Nếu hắn nắm được hồ sơ là tôi liên lạc với địch, sao hắn không mang tôi ra Tòa lại bí mật sai người ám sát tôi. Tôi xin đưa ra một nhân chứng. Người này là nhân viên thân cận của đại tá Kamốp. Thiếu tá Bôrin.

Viên chánh thẩm đằng hắng rồi gọi:

- Thiếu tá Anáttát Bôrin.

Bôrin khựng người đứng dậy, lên ghế nhân chứng. Viên chánh thẩm nói:

- Nhân danh đại diện Trung Ương đảng Lao Động, tôi yêu cầu thiếu tá khai sự thật, không được giấu diếm một chi tiết nào, dẫu là cỏn con.

- Tôi xin khai sự thật.

- Thiếu tá là cộng sự viên của Kamốp phải không?

- Phải. Tuy nhiên, tôi bị đau sau chuyến công tác ở Mỹ nên được nghỉ phép.

- Phan Mỹ nói rằng thiếu tá vâng lệnh Kamốp lẻn vào bộ Ngoại Giao tìm cách ám sát phải không?

Kamốp phản đối:

- Phan Mỹ nói láo.

Viên chánh thẩm gắt:

- Tòa không hỏi đồng chí. Yêu cầu toàn thể giữ trật tự.

Rồi quay sang hỏi Bôrin:

- Thiếu tá thuật lại cho Tòa nghe.

- Thưa, tôi nhìn nhận lọt vào bộ Ngoại Giao hôm nay, vào tận phòng Phan Mỹ.

- Để bắn hạ Phan Mỹ.

- Vâng.

- Tại sao lại bắn một nhân vật cao cấp?

Bôrin lặng thinh. Không khí trong phòng bỗng khó thở. Mọi người đều nhìn miệng Bôrin.

- Kamốp ra lệnh cho thiếu tá thủ tiêu Phan Mỹ phải không?

Đột nhiên Bôrin phá lên cười như điên. Viên chánh thẩm quắc mắt:

- Mưu giết một nhân vật cao cấp có thể bị tử hình. Thiếu tá thích chết hay sao mà cười?

Bôrin đáp:

- Vâng, tôi thèm chết lắm.

- Thèm chết. Thiếu tá điên ư?

- Tôi không điên chút nào. Tôi vẫn tỉnh táo như đồng chí. Mọi người đều lầm, cả Tòa cũng lầm.

- Thiếu tá không được hàm hồ.

- Vậy đồng chí cũng không được dọa tôi. Tôi là công dân Sô Viết, chỉ có tòa án Sô Viết được quyền kết tội tôi.

- Đây không phải tòa án tư pháp, mà là Tòa án của Đảng. Tòa đại sứ Liên Sô đã chấp thuận cho phiên Tòa này được triệu tập. Tôi yêu cầu lần nữa thiếu tá phải trả lời nghiêm chỉnh.

- Tòa muốn tôi khai những gì?

- Khai tại sao thiếu tá mưu giết Phan Mỹ?

Bôrin lại cười ha hả. Toàn thể cử tọa đều ngạc nhiên. Cười chán, Bôrin òa lên khóc. Trong phòng hoàn toàn im lặng. Lát sau, Bôrin thở dài:

- Tôi thành thật xin lỗi các đồng chí. Tôi muốn cười lớn để vơi bớt đau khổ, song chỉ có thể cười ra nước mắt mà thôi. Phải, tôi nhìn nhận mưu giết Phan Mỹ, nhưng vụ này không liên quan đến đại tá Kamốp, đến đảng, hoặc đến ai hết. Vụ này chỉ liên quan đến vợ tôi.

- Vợ đồng chí?

- Phải, liên quan đến Vương Lệ, vợ tôi. Tôi mưu giết Phan Mỹ vì hắn ngoại tình với vợ tôi.

Lời nói của Bôrin như gáo nước lạnh dội xuống cử tọa. Viên chánh thẩm trợn tròn mắt trong sự kinh ngạc. Phan Mỹ phản đối:

- Thưa, Bôrin nói láo.

Bôrin lồng lên:

- Mày là kẻ lòng lang, dạ thú. Mày đã đoạt vợ tao mà không dám thú nhận. Tao sẽ băm vằm mày ra hàng trăm mảnh.

Viên chánh thẩm đập xuống bàn ra lệnh im. Bôrin ngồi ghế, mặt buồn rười rượi. Viên chánh thẩm gọi to:

- Nhân chứng Vương Lệ.

Nghe gọi tên vợ, Bôrin giật mình. Văn Bình cũng giật mình, Vương Lệ có mặt trong phòng khi nào mà chàng không biết. Nàng mặc bộ áo đầm may chật, lộ cái mông no tròn và bộ ngực nẩy nở khiến cử tọa xì xào.

Viên chánh thẩm hỏi:

- Đồng chí có xác nhận lời nói của Bôrin là đúng không?

Vương Lệ nghẹn ngào:

- Thưa, Bôrin đã mất trí sau cuộc công tác ở Hoa Kỳ. Bôrin ghen với tất cả mọi người, và trong nhiều vụ cãi lộn, tôi đã yêu cầu được ly hôn.

- Tôi chỉ cần biết Bôrin nói sai hay đúng.

- Thưa sai. Tôi không phạm tội ngoại tình.

Bôrin lại lồng lên. Nếu không bị hai người lính giữ lại, hắn đã hành hung vợ. Vương Lệ quay lại, nhìn hắn bằng cặp mắt khinh bỉ. Viên chánh thẩm xua tay:

- Cám ơn đồng chí.

Trên ghế bị cáo, Phan Mỹ nở nụ cười đắc thắng. Kamốp ngồi im, mặt đỏ vì tức giận. Tòa lại gọi:

- Hung thủ đâu?

Hung thủ là Văn Bình. Tay bị còng, chàng được dẫn tới đối diện quan tòa.

- Tên anh là gì?

- Nguyễn văn Lập.

- Bao nhiêu tuổi?

- 34.

- Ngày sinh, tháng đẻ?

- Ngày 3 tháng 9 năm….

- Cha mẹ?

- Mất.

Viên chánh thẩm gắt:

- Trước Tòa, anh phải giữ lễ độ.

- Vâng.

- Anh làm việc ở đâu?

- Với Smerch.

Kamốp chồm dậy:

- Hắn không phải là nhân viên của tôi.

Viên chánh thẩm lại đập bàn:

- Nếu đại tá còn ngắt lời, bắt buộc tôi sẽ mời ra ngoài.

Kamốp ngồi phịch xuống, mặt cau có:

- Anh có giấy tờ gì chứng tỏ là nhân viên Smerch?

- Phan Mỹ đã tịch thu chứng minh thư của tôi.

Viên chánh thẩm lục hồ sơ, lấy ra một tấm thẻ lát-tích. Kamốp lại phản đối:

- Thưa, đó là chứng minh thư giả.

Không thèm để ý đến Kamốp, viên chánh thẩm hỏi Văn Bình:

- Tại sao anh ám sát thiếu tướng Hôlếp?

- Kamốp ra lệnh cho tôi.

Kamốp xô cái ghế ngã lăn ra đất, giọng dữ dằn:

- Đây là một vụ dàn xếp bẩn thỉu. Tôi sẽ phản đối với đại sứ quán Liên Sô.

Viên chánh thẩm gằn giọng:

- Mời đại tá ra ngoài mà phản đối.

Hai quân cảnh đưa Kamốp ra ngoài. Trong phòng ai nấy đều nín thở.

- Kamốp ra lệnh ra sao?

- Dặn tôi mai phục ở Hàng Lọng bắn xả vào xe của Hôlếp, rồi tẩu thoát. Không may tôi lại bị bắt.

- Kamốp còn dặn gì nữa?

- Dặn nếu bị bắt thì đừng khai cho Smerch, mà đổ tội cho Phan Mỹ.

- Anh có biết ám sát một nhân vật cao cấp như tướng Hôlếp thì sẽ bị tội gì không?

- Kamốp cam kết sẽ bảo vệ cho tôi bằng cách đưa tôi về giam trong nhà lao của Smerch rồi bố trí vượt ngục, đưa tôi qua Liên Sô.

Viên chánh thẩm "hừ" một tiếng. Phan Mỹ cười tươi như hoa nở. Văn Bình giả vờ giọng nói run run, da mặt tái xanh. Viên chánh thẩm ra lệnh:

- Đồng chí Phan Mỹ. Tòa giao hung thủ Nguyễn văn Lập cho đồng chí giam giữ, và lập hồ sơ đưa ra tòa án. Phiên nhóm đến đây là hết, tòa sẽ tường trình tức khắc lên ban thường vụ trung ương. Kết luận của phiên tòa là đồng chí Phan Mỹ vô tội, người gây ra mọi việc là đại tá Kamốp. Số phận Kamốp sẽ do chính phủ Liên Sô định đoạt chiếu theo đề nghị của Trung Ương đảng Lao Động và Hội Đồng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Mọi người răm rắp đứng dậy chào. Phan Mỹ đã đứng kề bên Văn Bình. Hai nhân viên áp giải Văn Bình ra xe bít bùng. Trước khi lên xe về khám, Văn Bình nhận thấy luồng mắt thiết tha của Vương Lệ.

Bóng đêm bao phủ thành phố Hànội.

***

Khóa cửa sắt rỏn rẻn, Văn Bình bị đẩy vào sà lim và cửa sắt nặng nề đóng lại.

Đàn muỗi đói bay lên vù vù trong bầu không khí nghẹt thở toàn mùi mốc meo và xú uế. Phan Mỹ ngồi xuống bục xi-măng dùng làm giường, trên có miếng chiếu rách, rút thuốc lá mời chàng. Văn Bình xua tay:

- Cám ơn anh. Bao giờ tôi được tự do?

Phan Mỹ cười vui vẻ:

- Tôi cám ơn anh mới đúng. Anh đóng trò khéo quá. Nội đêm nay, tôi sẽ bố trí cho anh trốn khỏi khám. Lát nữa, tôi đích thân mang họa đồ khám đường cho anh đúng giờ đã định, anh được tháo cũi sổ lồng.

- Yêu cầu anh cho tôi một khẩu súng.

- Đồng ý. Anh bị giam dưới hầm, chỉ có một lối lên duy nhất. Từ sà lim ra cầu thang lên trên, có ba vọng gác cá nhân. Anh sẽ triệt hạ ba nhân viên của tôi, trèo lên ga-ra, lái xe ra đường. Tôi sẽ cho anh biết khẩu hiệu.

- Tôi được phép giết người không?

- Dĩ nhiên. Nếu không có án mạng, người ta sẽ nghi ngờ tôi. Vả lại, đêm nay tôi sẽ kiếm cớ di vắng. Thôi, tôi lên đây, anh ráng đợi một lát.

Văn Bình nghe tiếng giầy của kẻ thù nhẹ dần, nhẹ dần, ngoài hành lang xi-măng. Sà lim của chàng là một căn phòng đúc bê-tông, ngang dài bằng nhau hai thước, trần ba thước, phía trước là chấn song sắt. Có lẽ chàng là tù nhân duy nhứt bị giam dưới hầm kiên cố này, vì chàng không nghe tiếng người. Tứ phía vắng lặng, thậm chí nghe được tiếng muỗi bay vo vo, thậm chí nghe cả tiếng động do con thiêu thân đâm vào ngọn đèn nê-ông ngoài hành lang gây ra.

Phan Mỹ hứa sẽ thả chàng. Thật ra, chàng đã giúp Phan Mỹ đắc lực bằng cách nhận là nhân viên Smerch, đổ mọi tội lên đầu đại tá Kamốp. Song chàng không bao giờ tin Phan Mỹ giữ đúng lời cam kết. Sở dĩ chàng đứng về phe hắn, vì chàng muốn kéo dài thời giờ. Kamốp bị loại, ông Hoàng bớt được một đối thủ nguy hiểm. Phan Mỹ không thể giết chàng trong lúc này vì Trung Ương Đảng, nhất là sứ quán Sô Viết sẽ ngờ vực hắn. Hắn cũng không thể cho chàng sống lâu, vì nếu lời khai của chàng được duyệt lại, người ta sẽ khám phá ra chàng nói láo.

Lối thoát độc nhất cho Phan Mỹ là bố trí cho chàng bỏ trốn rồi tìm cách hạ sát.

Tuy vậy, chàng cũng bỏ trốn. Đêm nay, phái đoàn kiều bào sẽ lên đường về Vọng-các, Quỳnh Ngọc không thể hành động một mình. Chàng vững tin ở số mạng. Nếu vận chàng đã hết, chàng không tránh khỏi. Còn nếu chàng chưa đến số chết, Phan Mỹ chưa có thể hại chàng.

Là người trong giang hồ, không tin gì hết, ngoài khối óc và võ thuật của mình, Văn Bình lại tin tướng số. Trong những ngày lênh đênh ở Trung Hoa, chàng đã học tử vi. Ông Hoàng, tổng giám đốc sở Mật Vụ, cũng là tay diệu toán về tử vi. Nếu ông Hoàng bỏ nghề tình báo, về mở cửa hàng đẩu số, chắc chắn sẽ kiếm được hàng triệu. Hồi đầu năm, ông Hoàng đã chấm lại số cho chàng và tiên đoán chàng còn gặp may.

Chàng thở dài lẩm bẩm:

- Biết đâu!

Biết đâu đêm nay chẳng là đêm cuối cùng trong đời chàng, đêm cuối cùng của tử tội. Đêm cuối cùng của thiếu tá Bôrin trong khu tử tội Sing Sing, hắn còn nuôi hy vọng thoát thân. Còn chàng, chàng không hy vọng ông Hoàng điều đình với chính quyền Hànội. Trên giấy tờ, Sở Mật Vụ của ông Hoàng không hề có. Vả lại, nhà đương cuộc Bắc Việt sẽ từ chối nếu ông Hoàng thương thuyết, vì họ chẳng dại gì thả hổ về rừng lần nữa . Bắt được chàng, họ phải giết chàng…

Chàng chợt nhớ ra cái răng vàng trong miệng….

Trước giờ chàng lên đường, ông Hoàng đã sai gắn vào răng hàm của chàng một cái A-16.

A-16 là loại máy phát tín hiệu tối tân nhất của Sở Mật Vụ. Chàng cắn mạnh vào răng là máy chạy. Một dụng cụ thu thanh riêng đặt trong đường kính ba cây số sẽ bắt được bịp bịp do nó phát ra, và nhờ phép trắc giác, người ta sẽ phăng ra chỗ chàng bị giam.

Song, người ta là ai?

Là Nguyệt Thanh? Bà Huyền Hoa? Quỳnh Ngọc? Thiếu tá Vũ Kính? Hay một nhân viên bí mật nào khác? Ông Hoàng không cho chàng biết.

Văn Bình cho tay vào miệng: cái răng phát tuyến vẫn nằm ở chỗ cũ. Chàng bấm vào cái nút nhỏ, đẩy cái vỏ bằng vàng nhô lên, rồi cắn thật mạnh. Chàng nghe một tiếng động nhỏ, rồi miệng chàng tê đi, như bị truyền điện nhẹ. Một phút sau, cảm giác tê tê bị biến mất. Máy A-16 bắt đầu hoạt động.

***

Quỳnh Ngọc lắng tai nghe động tĩnh.

Nhân viên phái đoàn được phép tự do ra phố để mua sắm trước khi ra trường bay. Ngôi nhà rộng rãi chìm trong bầu không khí im lặng. Thiếu tá Vũ Kính cũng đi đâu từ nãy. Phạm Bài, trưởng phái đoàn, rủ nàng đi dạo, song nàng từ chối. Nàng muốn được ngồi một mình trong phòng để tưởng tới Văn Bình.

Chợt nàng nghe tiếng chân người nhè nhẹ dừng trước cửa phòng.

Rồi tiếng gõ cửa, cũng nhè nhẹ.

Lấy tờ báo Nhân Dân phủ kín con dao sắc như nước, để trên bàn trong tầm tay, Quỳnh Ngọc ra mở cửa phòng.

Nàng vô cùng ngạc nhiên khi thấy khách lạ là một thiếu nữ đẹp tới mức độ khác thường.

Từ nhiều năm nay, Quỳnh Ngọc vẫn tự hào chỉ có nàng là có nhan sắc khuynh quốc, khuynh thành. Nàng tự hào chỉ có nàng là đủ ma lực quyến rũ những người đàn ông có trái tim bằng thép. Thật ra, nàng rất đẹp.

Sắc đẹp của nàng đã làm nam giới ở Vọng-các xiểng liểng. Nàng nhoẻn miệng cười, đại tá Arun của Sở Phản Gián Thái đã vội vàng quỳ xuống chân, dâng hiến nàng tất cả những bí mật tày trời. Môrít đã ví nàng với hậu thân của Tây Thi và Dương quý phi tổng hợp với bộ ngực nguyên tử của diễn viên màn ảnh thượng thặng Hoa-lệ-ước.

Đứng trước Nguyệt Thanh, Quỳnh Ngọc lạnh người.

Vì thiếu nữ là Nguyệt Thanh, con gái của bà Huyền Hoa, chỉ huy phân sở ở miền Bắc.

Mặt Nguyệt Thanh tỏa ra một sức hấp dẫn dị kỳ: hấp dẫn vì đôi mắt đen láy luôn luôn mở rộng, hấp dẫn vì cặp lông mày thạnh tú, hấp dẫn nhiều nhất vì cái miệng vừa vặn, với hàm răng đều đặn trắng muốt, và làn môi trái tim, hơi cong, và hơi dầy, lại hơi ướt và đỏ chót, hình như vừa hôn đàn ông xong và đòi hôn nữa.

Bộ ngực tròn trịa của Nguyệt Thanh tố cáo nàng còn con gái. Nàng hơn Quỳnh Ngọc ở chỗ có nhan sắc già dặn, song vẫn còn lại hương vị thanh tân của người xử nữ, chưa hề chăn gối với đàn ông.

Quỳnh Ngọc ngây người ngắm nàng, quên cả trao đổi khẩu hiệu. Nguyệt Thanh cũng đứng sững một giây đồng hồ. Niềm hãnh diện đệ nhất hoa khôi của nàng tan dần, tan dần... Lần đầu nàng đã gặp một người đàn bà không đến nỗi thua kém nàng...

Nguyệt Thanh nói trước:

- Chào chị. Có phải chị là Phong Liên không?

Quỳnh Ngọc đáp:

- Không, tôi là Thái Chân.

Đó là mật hiệu liên lạc. Lúc rời Vọng các nàng được Mồrít dặn học thuộc mật hiệu này, báo hiệu người đến gặp là nhân viên quan trọng của ông Hoàng ở Hà nội.

Quỳnh Ngọc nói:

- Em chờ chị đã lâu.

Nguyệt Thanh đưa một ngón tay lên môi:

- Gấp lắm. Mời chị theo em.

Hai người đàn bà đẹp sánh vai nhau xuống nhà dưới. Hai người công an trố mắt nhìn bộ ngực của mỹ nhân, quên không hỏi Quỳnh Ngọc đi đâu.

Ra đên đường, Quỳnh Ngọc hỏi hạn:

- Chị vào tận đây, đưa em ra không sợ lộ à?

Nguyệt Thanh cười:

- Mục đích của em là cốt cho địch biết.

- Cốt cho địch biết?

- Vâng. Để địch phái người đi theo.

- Trời ơi.

- Nếu không, chúng ta sẽ không thể cứu Văn Bình được. Đêm nay, chắc chắn anh ấy bị giết.

- Văn Bình bị giam ở đâu?

- Em chưa biết. Vì thế, em phải dùng chị làm cái mồi.

- Bây giờ chung ta đi đâu?

- Đen trụ sở gặp mẹ em.

- Xin lổi, bà cụ là ai?

- Em quên khuấy đi mất. Mẹ em là Z.62.

- Z. 62 là một bà già.

Nguyệt Thanh cười:

- Không riêng gì chị, Văn Bình cũng sửng sốt khi gặp mẹ em. Anh ấy đinb ninh Z. 62 phải là một người đàn ông lưng heo, hàm én, cân nặng một tạ, nhu đạo đệ thất đẳng, có thể giết người trong trăm thước như lấy đồ trong túi.

Nguyệt Thanh mời nàng lên một chiếc Citroen cũ kỹ. Quỳnh Ngọc hỏi:

- Sao chị không cho Vũ Kính biết?

- Mẹ em dặn không nên cho anh ấy biết sợ lộ. Em bị lộ rồi, em nên ra mặt là hơn.

- Chị đã nhìn thấy địch núp ở đâu chưa?

- Chúng gác nhan nhản ở bên ngoài. Sở dĩ Văn Bình bị bắt vì địch đặt người ngoài đường và đi theo.

Nguyệt Thanh lái băng băng trên đường đầy xe đạp và xe bò chở nặng hàng hóa. Tuy lái xe giỏi, Quỳnh Ngọc phải thầm phục tài lái xe của cô bạn gái mới quen.

Thốt nhiên, Nguyệt Thanh la lên:

- Có xe chạy sau.

Quỳnh Ngọc ngồi nghiêng sang bên, nhìn lại đằng sau. Tuy xe sau tắt hết đèn, nàng cũng nhận ra. Nguyệt Thanh lái vào một con đường vắng vẻ và tối om. Quả nhiên, chiếc xe lúc nãy cũng quẹo theo. Nguyệt Thanh mỉm cười, bảo bạn:

- Nhiệm vụ của em đã thành công phần đầu.

- Còn phần sau?

- Em chưa biết. Còn tùy theo thái độ của địch.

- Chúng ta về đâu?

- Về chợ Hôm chờ địch tới.

Nguyệt Thanh đáp lại bằng giọng bình thản như nói đùa. Quen với Thần Chết, Quỳnh Ngọc cũng rợn người.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Canh bạc ở Hànội đã đến hồi "tháu cáy", nên bà Huyền Hoa quyết định thi hành kế hoạch táo bạo của ông Hoàng.

Ông tổng giám đốc đang lập tổng hành doanh trên tàu ngầm bí mật ngoài khơi.

Bức điện đánh cho ông Hoàng báo tin Văn Bình bị bắt, và đưa ra "tòa án", vừa được chuyển đi, 5 phút sau đã có hồi âm. Ông Hoàng ra lệnh dốc toàn lực đánh ván bài "tháu cáy".

Bà Hoa đã gặp Vương Lệ và trò chuyện khá lâu với nàng. Nàng yên lặng ngồi nghe, đoạn lại đàn dương cầm dạo một bản nhạc cổ điển. Bà Hoa nghe nàng tấu nhạc, không thốt một tiếng. Một lát sau, Vương Lệ ngừng tay, ôm mặt khóc rưng rức.

Bà Hoa vuốt tóc nàng:

- Tôi biết là việc này rất khó khăn. Tính mạng của người đàn ông quen cô, và tính mạng của nhiều người khác hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ của cô.

Vương Lệ ngẩng đầu nhìn bà Hoa, giọng đẫm nước mắt:

- Thưa bà, tôi xin nhận lời.

Bà Hoa lái xe ra khỏi biệt thự của Vương Lệ, vòng đường chợ Hôm lên nhà pha Hỏa Lò, rồi rẽ sang đường Hàng Bông Thợ Ruộm. Đến trước tòa nhà đồ sộ dùng làm trụ sở của Phản Gián Smerch, bà đậu lại.

Một tên lính Nga đeo tiểu liên chạy ra, giọng hách dịch:

- Bà hỏi ai?

Bà Hoa đáp:

- Tôi có hẹn với đại tá Kamốp.

Bà Hoa được mời vào liền. Lần đầu tiên vào Smerch, nghĩa là vào giữa hang hùm với hai bàn tay không, bà Hoa không để lộ trên mặt một nét lo âu hoặc sửng sốt nào.

Kamốp ngồi sau bàn, thấy bà Hoa vào không thèm đứng dậy, cũng như không thèm mời khách ngồi. Hắn nhìn tận mắt bà, giọng gay gắt:

- Có phải bà vừa gọi điện thoại cho tôi phải không? Bà có biết tới đây là ký tên vào bản án tử hình không?

Thiếu phụ cười khinh miệt:

- Tôi không ngờ một yếu nhân tình báo Sô Viết lại tuyên bố một cách khờ khạo như thế. Khi gọi điện thoại cho ông, tôi đã nghĩ đến những hậu quả có thể xảy ra.

- Bà muốn nói chuyện gì với tôi?

- Ở nước tôi, đàn bà thường được trọng vọng. Ít ai để đàn bà đứng giữa phòng mà không mời ngồi. Tôi du lịch đã nhiều, được nghe đàn ông Nga rất lịch thiệp đối với phái yếu. Tôi đã lầm.

Kamốp tái mặt. Hắn định bấm chuông, gọi vệ sĩ vào, tống thiếu phụ xuống xà-lim, nhưng chợt nghĩ đến nội dung những lời úp mở hồi nãy trong điện thoại, hắn vội dằn cơn giận.

Hắn đứng dậy, đổi vẻ tươi cười:

- Xin lỗi bà, tôi bận quá nhiều việc nên tính tình thay đổi luôn. Mời bà ngồi xuống ghế rồi ta nói chuyện.

Bà Hoa nói:

- Tôi hiểu rõ nên không giận ông. Mục đích tôi đến đây là thương thuyết với ông.

- Bà là ai?

- Ông chóng quên quá. Tôi là bà Huyền Hoa, tức Z.62, chỉ huy phân sở của ông Hoàng ở Hànội.

- Bà nói láo. Tôi chưa hề nghe nói đến bà. Theo tin tức của tôi, Z.62 là đàn ông. Vả lại, dầu bà là Z.62 đi nữa, một nhân vật điều khiển không dại gì mang thân vào miệng địch.

- Ông tin hay không tùy ý. Chả lẽ tôi phải trình chứng minh thư cho ông. Thật ra, tôi chỉ huy một Tổ Chức bí mật nên trong người không có chứng minh thư như ông, chỉ huy Smerch. Ông nói đúng, yếu nhân tình báo như tôi không bao giờ mang thân vào miệng địch, song ông quên rằng tôi đến đây với tư cách đồng minh với ông.

- Đồng minh với tôi? Bà điên rồi. Thôi, tôi nể bà già nua, nên rộng lòng nhân đạo tha chết cho bà. Mời bà ra ngay, kẻo lát nữa tôi đổi ý kiến, ra lệnh cho thuộc viên giết bà.

Bà Hoa cười lớn:

- Cám ơn ông đã có lòng nhân đạo với tôi. Nhưng thưa ông, tôi không cần cái lòng nhân đạo ấy. Còn ông muốn giết tôi, ông cứ ra lệnh giết. Tôi già rồi, lại mang đầy bệnh trong người, được chết bằng súng đạn, nhất là súng đạn của địch, còn sướng hơn chết trên giường bệnh. Đại tá Kamốp ơi, tôi không điên, chính ông mới điên. Vì nếu ông không hợp tác với tôi, ông sẽ bị Phan Mỹ triệt hạ. Triệt hạ một cách nhục nhã.

Kamốp ngồi yên trong sự kinh ngạc. Giọng nói sang sảng của thiếu phụ làm hắn chột dạ.

Thiếu phụ đã có cặp mắt thông thiên nhìn thấu ruột gan hắn. Quả thật Kamốp đang ở vào tình thế gần như tuyệt vọng. Bản phúc trình của "phiên tòa" đặc biệt đã được nộp cho Trung Ương đảng Lao Động và sứ quán Liên Sô. Nếu hắn không tìm ra chứng cớ để lột mặt nạ Phan Mỹ, hắn sẽ bị chính phủ Sô Viết thanh trừng, mặc dầu trong thâm tâm không ưa gì Phan Mỹ, tay sai của Trung quốc, mặc dầu các cơ quan tình báo Sô Viết vẫn theo đuổi kế hoạch bóp nghẹt Phan Mỹ.

Nhìn sự thay đổi trên mặt Kamốp, bà Hoa nói tiếp:

- Tôi xin hỏi ông lần nữa. Ông muốn hợp tác với chúng tôi không? Chúng tôi sẽ giúp ông triệt hạ Phan Mỹ.

- Nếu bà giúp tôi giết hắn, bà đòi gì tôi cũng bằng lòng.

- Ồ, tưởng phải dùng mưu, chứ nếu dùng sức thì dễ. Nội đêm nay, tôi sẽ giúp ông tự tay giết Phan Mỹ.

- Bà đòi bao nhiêu tiền?

- Tiền ấy à? Tuy nghèo, chúng tôi không cần tiền. Chúng tôi chỉ yêu cầu ông phóng thích ngay ba người.

- Ba người nào?

- Ba nhân viên của tôi bị Smerch bắt tuần trước.

- Chúng tôi lấy khẩu cung chưa xong.

- Ông đừng hòng bắt họ khai. Nhân viên của tôi sẽ ngậm miệng cho đến chết.

- Tôi không thể tha được vì họ là người quan trọng.

- Trời ơi, ai lại dám đánh lừa giám đốc Smerch? Vả lại, sự hiện diện của tôi cạnh ông kể từ phút này đủ bảo đảm rồi.

- Bà sẽ đi với tôi?

- Vâng, tôi sẽ dẫn ông tới nơi phục kích giết Phan Mỹ.

- Bà coi chừng! Bà không phỉnh gạt được tôi đâu. Nếu bà vâng lệnh Phan Mỹ đến đánh lừa tôi thì mất mạng.

Bà Huyền Hoa cười:

- Ông đa nghi quá. Xin ông mang vệ sĩ theo.

Kamốp thọc tay vào túi quần:

- Được, tôi chấp thuận.

Kamốp ra trước. Đến phòng khách, bỗng hắn quay lại hỏi bà Hoa, giọng thân mật:

- Thú thật, trong đời tình báo của tôi từ đông sang tây, mấy chục năm nay, tôi chưa gặp người nào can đảm bằng bà. Tôi xin hỏi bà: nếu bị tôi bắt, bà sẽ tính sao?

- Ồ, ông tưởng tôi sẽ trả lời là nuốt độc dược tự vẫn chứ gì? Không đâu. Nuốt xy-a-nuya trong nửa phút là yên, song một yếu nhân tình báo như ông sẽ không khi nào chậm chạp để tôi có đủ thời giờ lấy độc dược xử dụng. Ông đã có đủ phương tiện khoa học để khám phá những nơi giấu độc dược trên người.

Tôi xin nói thẳng để ông biết rằng nếu bị bắt, tôi sẽ chịu tra tấn, chứ không uống xy-a-nuya.

Kamốp trợn mắt kinh ngạc:

- Tôi rất kính phục sự gan dạ của bà, song chúng tôi đã có hàng trăm mánh khoé tra tấn bắt người can đảm nhất phải hé miệng.

- Ông nói đúng. Tôi không dám khinh thường nghệ thuật thẩm vấn của ông. Tôi biết rõ không ai vào đây mà ngậm miệng được mãi. Nhưng, thưa ông, nhiều nhân viên của tôi đã bị bắt, bị tra tấn chết đi, sống lại hàng chục lần, tôi là cấp chỉ huy, mưa không tới mặt, nắng không tới đầu, tôi có bổn phận nếm trải sự đau đớn để có thể đánh giá được mực độ hy sinh của nhân viên dưới quyền. Vì thế, tôi sẵn sàng chịu tra tấn. Chịu tra tấn đến chết.

Đại tá Kamốp ơi, đại tá đùa mãi. Tôi chết thì đại tá cũng chết. Phan Mỹ sẽ không tha đại tá.

Kamốp lại nín thinh. Đến bậc tam cấp, hắn hỏi bà Hoa:

- Bà dẫn tôi đi đâu?

Bà Hoa đáp:

- Về trụ sở bí mật của tôi.

Nhận thấy Kamốp trù trừ, bà Hoa tiếp:

- Tại đó, tôi sẽ gọi điện thoại vô tuyến cho Phan Mỹ. Khi hắn tới, tôi sẽ giao hắn cho sự quyết định của đại tá.

Kamốp ngoắt một vệ sĩ. 4 nhân viên cao lớn, mặc đồng phục, đeo súng tiểu liên chạy ra xe. Bà Hoa lắc đầu:

- Ông làm thế này, Phan Mỹ biết mất. Vệ sĩ của ông nên mặc thường phục, và ông cũng không nên dùng công xa. Nếu tôi không lầm, nhân viên của Phan Mỹ đứng gác ở đầu đường Hàng Bông Thợ Ruộm.

Kamốp lầm lì trèo lên chiếc Citroen đen, mang bảng số giả. Hắn không tin thiếu phụ. Nhưng hắn phải đến tận nơi cho biết.

Kamốp ra lệnh cho tài xế:

- Lái sau xe của người đàn bà. Phải hết sức cẩn thận, nghe chưa?

Bóng đêm phủ đầy thành phố Hànội. Gió đông thổi vù vù.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Phan Mỹ giật mình như bị điện giật. Trong đời, ít khi hắn được chiêm ngưỡng những người đàn bà đẹp như thế này. Thật vậy, hai người đàn bà chụp trong ảnh có một nhan sắc phi thường, khiến hắn nhìn ngắm nửa giờ rồi không chán.

Đó là tấm ảnh chụp bằng phim hồng ngoại tuyến, chụp qua màn tối, không cần đèn riêng. Trong ảnh, hai người đàn bà - đúng hơn, hai thiếu nữ, trạc 23, 24 - đang sánh vai đi với nhau trên đường.

Con yêu râu xanh họ Phạm đã thưởng thức hàng ngàn sắc đẹp khác nhau, thuộc mọi niên kỷ, và thuộc mọi màu da, song lần đầu tiên hắn được thấy hai mỹ nhân hơ hớ.

Cả hai đều có những nét đều đặn và gợi tình như nhau, kẻ nửa cân, người tám lạng. Mặt người nào cũng nặn hình trái xoan, miệng nhỏ, môi chúm chím như sắp ngửa ra nhận một cái hôn đắm đuối. Cái eo nhỏ một cách lạ lùng, và lạ lùng hơn là những đường tròn trên ngực, một bộ ngực căng cứng, như muốn đâm rách mắt đàn ông đa tình.

Phan Mỹ quay lại hỏi viên thư ký:

- Bây giờ họ ở đâu?

Viên thư ký đáp:

- Thưa, họ vào một ngôi nhà lớn, gần Chợ Hôm. Nhân viên của ta đang canh gác bí mật ở ngoài.

Phan Mỹ tiến lại máy ghi âm Akai đặt ở góc phòng. Một cuộn băng nhựa vừa được mắc vào. Viên thư ký nói:

- Thưa, đây là những lời báo cáo của mật viên AX.

Sự nhớ ra, Phan Mỹ nhoẻn miệng cười:

- À, thế thì công viêẹc sắp xong rồi. Chúng mình sửa soạn mở tiệc ăn mừng.

Viên thư ký trố mắt:

- Thưa, ta sắp triệt hạ được Kamốp?

Phan Mỹ múa tay:

- Còn quan trọng hơn nữa. Ta sắp phá tan được hệ thống do thám của lão Hoàng ở phía bắc vĩ tuyến 17.

Băng ghi âm bắt đầu chạy dè dè. Những tiếng khàn khàn nổi lên:

- Thưa AX xin báo cáo… Nhân viên công an đi xe díp đến đều bị hạ sát… Tôi đang theo Z.62 tới tổng hành doanh bí mật. Tới nơi, tôi sẽ gọi vô tuyến về ngay… Alô, AX…

Tiếng nói im bặt.

Viên thư ký nói:

- Thưa còn bản báo cáo thứ hai nữa. Vừa tới cách đây 90 phút. Trong khi ông đi vắng, tôi đã cho thi hành đúng chỉ thị.

Máy ghi âm lại vẳng ra giọng nói khàn khàn quen thuộc:

- Alô, AX xin kính cẩn báo cáo…. Hiện thời, tôi đang ở trong tổng hành doanh của Z.62 đặt trong biệt thự số 75 đường Thái Phiên… xin trân trọng nhắc lại, biệt thự số 75 đường Thái Phiên… Cửa ra vào bao giờ cũng khóa, chúng tôi vào bằng cửa hông, còn xe hơi đậu ở ngoài, cách một quãng xa, trên đường chợ Hôm….

Alô, trong nhà hiện có Z.62 tức bà Huyền Hoa và cô con gái duy nhất tên là Nguyệt Thanh…. Alô… Họ đang còn bàn chuyện với nhau trên lầu, tôi không nghe được vì cửa lim quá dầy, họ lại nói rất nhỏ…. Tuân theo mệnh lệnh, tôi không dáp áp tai vào lỗ khóa, sợ họ biết….

Alô… họ đang xuống dưới nhà. Xin phép được ngưng một lát, xin báo cáo tiếp.

Băng nhựa vẫn quay từ từ. Giọng nói im một phút rồi tiếp tục:

- Alô, AX xin báo cáo tiếp… Hai mẹ con bà Huyền Hoa dặn tôi coi nhà rồi mỗi người trèo lên xe hơi riêng, giấu trong ga-ra, phóng ra đường. Tôi không biết họ đi đâu. Trong biệt thự chỉ còn tôi với một tên vệ sĩ thân tín của bà Huyền Hoa. Thừa cơ hắn ngồi hút thuốc lá trong phòng khách, tôi lẻn xuống ga-ra báo cáo bắng walkie-talkie về trung ương.

Trân trọng xin trung ương cho chỉ thị mới.

Phan Mỹ hỏi viên thư ký:

- Anh đã ra chỉ thị mới cho hắn chưa?

Viên thư ký đáp:

- Thưa rồi. Tôi đã dặn hắn giữ thái độ tuyệt đối bình tĩnh, sau này sẽ trọng thưởng. Đồng thời, tôi còn ra lệnh cho hắn báo cáo đầy đủ chi tiết. Biệt thự ở đường Thái Phiên rất rộng. AX chỉ cần lánh vào một xó xỉnh nào đó, nói nhỏ vào máy vô tuyến là ta nghe được. Mụ Huyền Hoa không thể phăng ra.

- Nhân viên của ta đã đến đường Thái Phiên chưa?

- Thưa, họ đã bố trí xong từ lâu. Bản phúc trình mới nhất của toán theo dõi cho biết Nguyệt Thanh lái xe tới trạm chiêu đãi số 4 ở Hàng Mành. Nàng vào trong và lát sau trở ra cùng với một người đàn bà khác.

Theo chỗ chúng tôi biết, người đàn bà này là Thái Phượng, phó truởng đoàn Việt kiều vừa từ Vọng-các tới Hànội tham quan tuần trước, hiện ngụ tại trạm chiêu đãi số 4.

Chúng tôi đã chụp hình hai người và cho gởi phim hỏa tốc về. Xe của chúng tôi chạy sau rất xa, bọn họ không hề hay biết….

Phan Mỹ ra lệnh cho viên thư ký tắt máy ghi âm và cầm lấy tấm hình đặt trên bàn, mắt sáng lên một sự thèm muốn vô tả.

Viên thư ký chỉ tay vào ảnh, giải thích:

- Người thấp, gầy ở phía trái là Thái Phượng, còn người kia là Nguyệt Thanh, con gái bà Huyền Hoa…

- Ta có hồ sơ về họ không?

- Thưa, tôi đã cho lục rồi. Thư khố của ta không có hồ sơ nào về Thái Phượng. Còn về Nguyệt Thanh…

- Anh đưa cho tôi coi.

- Thưa, chẳng có gì quan trọng cả. Trong hồ sơ,tên nàng không phải là Nguyệt Thanh. Mà là tên Tàu. Ta chỉ biết lờ mờ nàng hát rất hay, đánh đàn cũng rất hay, thế thôi.

Phan Mỹ đứng yên giờ lâu.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 6020
Points : 8069
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   Fri May 12, 2017 5:41 pm

Bỗng cửa phòng mở toang. Một cộng sự viên tất tả chạy vào, giọng run run:

- Thưa, có báo cáo gấp của toán B.

Phan Mỹ chạy sang phòng bên. Ba nhân viên đội mũ nghe, đang ngồi chăm chú trước máy liên lạc vô tuyến. Một người đứng dậy chuyển mũ nghe cho Phan Mỹ.

- Alô, alô, toán B phải không? Hoành Sơn đây, có gì báo cáo đi.

"Hoành Sơn" là bí danh của Phan Mỹ trong việc điều khiển công tác theo dõi ở ngoài.

- Alô, toán B xin báo cáo với Hoành Sơn. Chúng tôi theo bà Huyền Hoa đến đường Hàng Bông Thợ Ruộm. Bà Hoa lái xe vào trụ sở Smerch.

- Trụ sở Smerch? Anh có thể xác định một trăm phần trăm không?

- Thưa, trăm phần trăm. Tôi lái xe sau bà Hoa chừng 15 thước. Vì tôi không mở đèn nên bà Hoa không nhìn thấy. Trong khi bà Hoa lái qua trụ sở Smerch, tôi đậu lại, gần nhà pha Hỏa Lò, và dùng ống nhòm theo dõi. Bà Hoa vào trụ sở Smerch một cách tự nhiên, dường như có hẹn từ trước.

- Anh cứ túc trực ở đấy, tôi sẽ cho người tới phụ lực. Cẩn thận, khi nào có chi tiết mới, anh phải báo cáo ngay cho tôi.

Phan Mỹ xoa tay vào nhau lẩm bẩm:

- Z.62 lại gặp Kamốp. Hừ, lạ thật! Lạ thật! Phen này rồi bọn bay chết hết!

Từ máy vô tuyến, vẳng ra lời báo cáo của toán C:

- Alô, toán C xin báo cáo với Hoành Sơn. Từ nãy đến giờ, Nguyệt Thanh và Thái Phượng ở luôn trong biệt thự đường Thái Phiên không ra nữa.

Phan Mỹ nói:

- Các anh gác ở đâu?

- Thưa, ở hai đầu đường và một ở căn nhà kế cận, nhìn sang biệt thự.

- Biệt thự có đèn sáng không?

- Thưa không.

- Có chó bẹt-giê không?

- Thưa không.

- Ngoài hai người đàn bà và AX của ta, trong biệt thự còn ai nữa không?

- Hình như còn một người đàn ông lực lưỡng, luôn luôn đeo kính râm to tướng, vệ sĩ của bà Huyền Hoa.

- Thôi được. Các anh cứ đóng ở vị trí cũ, đợi tôi ra lệnh.

Tiếng nói của toán C vừa tắt thì toán B tiếp theo:

- Alô… toán B xin báo cáo với Hoành Sơn. Chiếc Citroen của bà Hoa vừa rời trụ sở Smerch. Lúc nãy bà Hoa đi một mình, giờ đây thêm một người khác nữa, một người đàn ông…

- Anh nhìn rõ mặt hắn không?

- Thưa, xe Citroen vừa phóng vút qua. Tôi nhận ra rồi, trời ơi… người đàn ông này là đại tá Kamốp.

Tuy giọng nói rõ ràng khúc triết, Phan Mỹ vẫn tưởng nghe lầm. Hắn hỏi lại:

- Anh nói sao? Kamốp ngồi cùng xe với Z.62 ư?

- Vâng. Ngồi cùng xe.

- Ai lái?

- Bà Huyền Hoa.

- Có thể bà Hoa bị Kamốp giải đi không?

- Thưa không. Kamốp dựa cửa xe, ung dung hút thuốc lá.

- Có ai đi sau không?

- Thưa, một cái xe riêng của Kamốp, trên có 4 vệ sĩ mặc thường phục.

- Đi sau có xa không?

- Thưa, gần trăm thước.

- Anh đã cho nhân viên lái theo chưa?

- Thưa rồi. Xin ông cho lệnh tiếp.

- Anh cũng đi theo xem Kamốp và bà Huyền Hoa về đâu.

Im lặng trong 5 phút. Rồi tiếng nói quen thuộc lại nổi lên:

- Alô… toán B xin báo cáo với Hoành Sơn. Bà Hoa đang lái xe vào trong sân biệt thự đường Thái Phiên. Cửa sắt vừa được đóng lại…

Phan Mỹ buông máy nghe, hối hả lại bàn giấy. Hắn chụp cái mũ dạ vành mềm lên đầu, khoác áo măng-tô vào người, rồi ra lệnh cho đám thuộc hạ:

- Nào, chúng ta lên đường.

Sương đêm lành lạnh phủ kín thành phố Hànội.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đại tá Kamốp, trưởng ty phản gián Smerch ở Hànội, bước vào nhà khách, cùng 4 vệ sĩ.

Đội vệ sĩ của Kamốp là một rặng núi đồ sộ, tên nào cũng cao xấp xỉ hai thước và nặng trên một trăm ký. Cả 4 người đều mặc áo bành tô, bên trong đeo súng lục Tôkarếp, bút máy bắn đạn hơi ngạt chế tạo tại Hung-gia-lợi, và một khẩu tiểu liên Sô Viết, báng gập, dài 30 phân, dành riêng cho nhân viên do thám.

Vào nhà, bọn vệ sĩ vẫn lầm lì đút tay trong túi quần. Họ có thể bắn qua quần áo, không cần rút tay ra. Tên bắn kém nhất có thể bắn đứt một cái nút chai trong vòng 10 thước. Tên giỏi võ nhất có thể bẻ cong song sắt 16, bàn gỗ lim chỉ đấm xuống là bể nát.

Bà Huyền Hoa chỉ ghế:

- Mời các ông ngồi.

Riêng Kamốp chịu ngồi, còn vệ sĩ chia nhau gác bốn góc phòng. Kamốp giục bà Hoa:

- Bao giờ Phan Mỹ đến đây?

Bà Hoa cười:

- Nếu tôi không lầm, Phan Mỹ sắp đến rồi. Tuy nhiên, muốn chắc ăn hơn, xin đại tá đợi tôi một phút, nhân viên của tôi sẽ gọi vô tuyến, đánh lừa Phan Mỹ tới đây.

- Tôi bận nhiều việc, không thể ở lại lâu.

- Không riêng gì ông bận việc. Tôi cũng thế. Bây giờ xin nhắc lại điều kiện: ông ra lệnh phóng thích ba người của tôi, rồi tôi sẽ gọi cho Phan Mỹ.

- Tôi sẽ trả tự do cho họ tức khắc. Nếu Phan Mỹ không đến, miễn cưỡng tôi phải bắt bà.

Bà Hoa đáp:

- Vâng, tôi xin thỏa thuận.

Kamốp quay ra nói nhỏ với một tên vệ sĩ. Hắn vội vã đi ra ngoài. Kamốp nói với bà Hoa:

- Trong vòng 5 phút nữa, 3 nhân viên của bà sẽ được chỡ tới đây.

- Vậy trong vòng 6 phút nữa, tôi sẽ gọi vô tuyến cho Phan Mỹ.

Kamốp ngước nhìn bà Hoa, vẻ mặt ngạc nhiên:

- Thú thật tôi không hiểu bà là ai mà đánh lừa được con cáo già Phan Mỹ .

Bà Hoa cười:

- Phan Mỹ là con cáo già đối với đàn ông, song lại là con cừu đối với đàn bà. Đàn bà, nhất là đàn bà đẹp, bảo gì, Phan Mỹ cũng làm. Không giấu gì ông, tôi đã dùng mỹ nhân kế dụ hắn đến đây.

Bà Huyền Hoa vỗ tay một cái.

Cánh cửa bên hông được mở ra. Nguyệt Thanh và Quỳnh Ngọc uyển chuyển bước vào. Kamốp sững sờ:

- Trời ơi!

Bà Hoa bảo con gái:

- Con rót rượu mời đại tá sơi cho ấm bụng. Kamốp xua tay:

- Cám ơn, tôi không uống.

Nguyệt Thanh nhí nhảnh:

- Đại tá sợ em bỏ xy-a-nuya vào rượu chứ gì? Em không thèm giết người một cách khiếp nhược như vậy đâu. Dầu sao, trong phút này đại tá là đồng minh của em. Mai kia, trở lại kẻ thù bất cộng đái thiên, nếu cần em sẽ thách đại tá đấu súng, hoặc đấu võ.

Kamốp nhún vai:

- Tôi hy vọng được cô chỉ bảo trong tương lai.

Bà Hoa quát con:

- Không được hỗn với khách quý của mẹ.

Nguyệt Thanh kéo Quỳnh Ngọc ngồi xuống ghế, không nói nửa lời. Cửa ra sân mở: ba người đàn ông mặc đồ xám bước vào. Trông thấy bà Hoa, họ đứng sững, vẻ mặt sửng sốt. Bà Hoa đứng dậy:

- Chào các anh. Tôi vừa điều đình với đại tá Kamốp để trả tự do cho các anh. Giờ đây, Nguyệt Thanh dẫn các anh lên lầu ngồi đợi.

Kamốp nói:

- Con đường Thái Phiên đã được tôi cho người bao vây chặt chẽ. Các anh chỉ có thể ra khỏi sau khi công việc của tôi hoàn thành. Vậy, tôi yêu cầu các anh ở trên lầu, đừng đi đâu hết. Nhân viên Smerch đã nằm trên các nóc nhà, nếu các anh lởn vởn ra ngoài, bị bắn chết, đừng trách tôi không nói trước.

Ba người đàn ông lầm lì ra ngoài, không thèm quan tâm tới lời nói của Kamốp. Viên đại tá Smerch phải gọi giật lại:

- Các anh có nghe tôi nói không?

Một người dừng lại, quắc mắt nhìn Kamốp:

- Giọng nói của anh oang oang như lệnh vỡ, người điếc cũng nghe, huống hồ chúng tôi, đã có vành tai rất thính sau những năm hoạt động bí mật, ngày đêm chờ bọn anh đến bắt. Vâng, tôi đã nghe lời anh nói, song anh hiểu cho rằng, chúng tôi không nhận lệnh của anh. Dầu sao, anh là kẻ thù của chúng tôi.

Kamốp tức tràn lên họng:

- Dĩ nhiên, chúng ta vẫn là thù địch. Nhưng trong phút này, tôi là đồng minh tạm thời của các anh.

Bà Huyền Hoa khoát tay:

- Thôi các bạn. Đại tá Kamốp nói đúng. Phiền các bạn lên lầu, đừng đi đâu cả.

Kamốp nói với bà Hoa:

- Họ cứng đầu thật.

Bà Hoa cười:

- Nhân viên nào của tôi cũng cứng đầu cả. Cứng đầu là đức tính của kẻ hy sinh thân mình để tranh đấu cho tổ quốc. Ông coi, họ cứng đầu như vậy, song tôi bảo gì họ cũng nghe liền. Sở dĩ Tổ Chức chúng tôi được tồn tại và phát triển mạnh mẽ ở đây là vì có những nhân viên cứng đầu với kẻ thù và tuyệt đối tôn trọng kỷ luật nội bộ.

- Hừ, cũng có ngày tôi bắt được bà. Để xem khi ấy bà còn cứng đầu nữa không.

- Ông cứ về nhà cầu nguyện đi. Khi ấy, ta mang lại câu chuyện hôm nay ra bàn cãi cũng chưa muộn. Nhưng đại tá Kamốp ơi, yêu cầu đại tá bình tĩnh lại. Tôi sắp cho gọi Phan Mỹ đây.

Một người đàn ông ngồi thu hình ở góc phòng đứng lên. Hắn là "chú Ba" cộng tác viên của Phan Mỹ. Bà Hoa chỉ hắn, giới thiệu với đại tá Kamốp:

- Phan Mỹ đã gài một người bên cạnh tôi. Người này liên lạc thẳng với Phan Mỹ bằng vô tuyến. Nếu tôi không lầm, Phan Mỹ đã cho bố trí sẵn sàng, đợi đại tá và tôi ra thì bắt.

Kamốp bĩu môi:

- Mời bà cứ gọi cho hắn.

"Chú Ba" rút walkie-talkie trong túi ra, gọi:

- Alô…. AX gọi Hoành Sơn.. AX gọi Hoành Sơn…

Có tiếng đáp ngay:

- Hoành Sơn đây… AX báo cáo đi…

"Chú Ba" ngước mắt nhìn bà Huyền Hoa rồi nói một hơi - bài nói hắn đã học thuộc từng dấu chấm phết -:

- Alô, alô, AX xin báo cáo với Hoành Sơn… Đại tá Kamốp của Smerch đang họp bàn bí mật với bà Huyền Hoa ở đây… Xin Hoành Sơn cho chỉ thị…

- Alô… AX đang ở đâu trong biệt thự?

- Thưa, trong ga-ra.

- Nói trong ga-ra, địch nghe được không?

- Thưa, họ đều ở trên lầu, tôi có phận sự canh gác bên dưới.

- Kamốp đến một mình, hay với những ai?

- Thưa, với một vệ sĩ.

- Tên vệ sĩ này đứng đâu?

- Thưa, ở dưới nhà, ngay cầu thang lên lầu.

- Liệu AX hạ thủ được hắn không?

- Tuy hắn to lớn, tôi vẫn có thể hạ thủ được, song tôi sợ bại lộ. Vả lại, hắn có súng tiểu liên…

- Đừng ngại. Hoành Sơn sẽ lo liệu cho. Nguyệt Thanh và Thái Phượng ở đâu?

- Thưa, Thái Phượng là ai?

- Là cô gái cùng đi với Nguyệt Thanh về biệt thự ấy.

- Thưa, cả hai cũng ở trên lầu.

- Phòng nào?

- Thưa, phòng lớn nhất, nhìn ra đường. Cửa sổ đều đóng kín.

- AX có chắc là Kamốp chỉ mang theo một vệ sĩ không? Nhân viên lưu động vừa cho biết Kamốp mang theo 4 đứa. Những tên này ngồi xe sau và đều vào nhà cùng với Kamốp một lượt.

"Chú Ba" liếc nhìn bà Hoa. Kamốp thản nhiên hút thuốc lá. "Chú Ba" nói tiếp:

- Thưa, trong nhà chỉ có một tên. Tôi không thấy tên nào nữa. Có thể họ gác ở ngoài chăng?

- Được, cứ bình tĩnh, để Hoành Sơn xem lại. Đây này, AX phải nghe cho kỹ, trong vòng từ 10 đến 15 phút nữa, lực lượng của ta sẽ ập vào. Cẩn thận, khi nghe tiếng chim hít-cô kêu, nhớ chưa, chim hít-cô kêu ba tiếng thì lẻn ngay lên nhà trên, hạ sát tên vệ sĩ ở cầu thang, AX phải làm cách nào để hắn không kịp kháng cự lại, và không kêu được tiếng nào. Nếu hắn kêu lên, công việc sẽ hỏng bét. AX phải nhớ là xong vụ này được thưởng công hậu hĩ, tuy nhiên, nếu thất bại sẽ bị lôi thôi, vô cùng lôi thôi, và gia đình AX cũng bị lôi thôi không kém.

Giọng "Chú Ba" run run:

- Thưa Hoành Sơn, tôi xin nhớ.

"Chú Ba" cất cái walkie-talkie vào trong người. Bà Hoa nói:

- Chú dùng một chút rượu cho khỏe.

Đại tá Kamốp đứng dậy:

- Bà định theo kế hoạch nào?

Bà Huyền Hoa lắc đầu:

- Tôi chẳng có kế hoạch nào cả. Mục đích của tôi là đánh lừa Phan Mỹ lên đây cho đại tá tùy nghi xử dụng.

Kamốp vứt điếu thuốc cháy dở xuống đất, đi đi lại lại quanh phòng, ra dáng suy tư, 4 tên vệ sĩ khổng lồ vẫn đứng như pho tượng ở góc phòng, tay thọc túi quần, nét mặt lì lợm.

Từ lúc rời trụ sở Smerch đến giờ, Kamốp bắt đầu lo sợ. Vì hắn là tay gián điệp lành nghề nên nỗi lo sợ này được giữ kín trong lòng, không để lộ ra ngoài mặt. Hắn bắt đầu sợ bà Huyền Hoa.

Ngay từ khi nhận lời bà Hoa, Kamốp đã nẩy ra một kế hoạch tàn bạo. Hắn sẽ cho Phan Mỹ một bài học, sau đó bắt bà Hoa và trọn ổ gián điệp của ông Hoàng. Nhưng thái độ bình tĩnh đến lạnh lùng của bà Hoa cho hắn thấy thực hiện kế hoạch không phải dễ.

Có thể bà Hoa lập mưu giết luôn hắn lẫn Phan Mỹ. Song nếu muốn giết hắn thì mang Nguyệt Thanh và Thái Phượng đến làm gì. Hắn không biết rằng bà Hoa dùng hai thiếu nữ đẹp để làm mồi câu con cá háu ăn Phan Mỹ. Thấy gái đẹp, Phan Mỹ sẽ quên hết nguy hiểm và mò đến.

Kamốp soát lại trong óc hệ thống an ninh của Smerch: ngoài toán vệ sĩ theo hắn từng bước, còn hai toán khác túc trực ở hai đầu đường, chưa kể một đại đội võ trang súng nặng đợi sẵn ở gần Chợ Hôm đợi lệnh ứng phó.

Tất cả những lời nói trong phòng đều được bí mật thu thanh bằng 5 cái máy nhỏ xíu giấu trong túi Kamốp và túi 4 vệ sĩ. 5 cái máy này chuyển âm ra ngoài, được thu vào băng nhựa đặt trong một cái xe vô tuyến điện, đậu cách tòa biệt thự hai trăm thước. Nếu có chuyện gì bất trắc, nhân viên Smerch sẽ ập vào biệt thự sau đó hai phút.

Trong khi đó, Phan Mỹ cũng thừ người suy nghĩ trên xe đang phóng nhanh về đường Thái Phiên.

Cũng như Kamốp, Phan Mỹ bắt đầu lo ngại. Song hắn không cho là bị lừa.

Hắn đinh ninh là đối phương bị lừa. Hy sinh 4 nhân viên để gài AX vào trụ sở bí mật của bà Huyền Hoa, hắn đã đánh một nước cao, thí chốt để bắt xe.

Duy hắn lo ngại tại sao Kamốp lại liên kết với Huyền Hoa. Tại sao? Hắn chịu không trả lời nổi. Có thể Kamốp khám phá ra hung thủ giết tướng Hôlếp là nhân viên của ông Hoàng, và Phan Mỹ đã tạm thời liên minh với ông Hoàng để diệt Smerch nên lập mưu quật lại. Nghĩa là Kamốp liên kết với bà Hoa, đại diện của ông Hoàng ở Hànội để giết hắn. Đúng ra để bàn cách giết hắn. Song họ không ngờ hắn đã biết hết.

Bỗng hình dáng khêu gợi của hai cô gái mũm mĩm, đầy hương thơm thanh tân, hiện ra trước mắt. Hai cô gái của lão Hoàng đẹp hơn Vương Lệ một trời một vực. Đã lâu, hắn chưa được tận hưởng lạc thú tuyệt trần với mỹ nhân. Người đẹp ở Hànội, mỗi ngày một khan hiếm. Toàn là đàn bà khô khan, da dẻ răn reo, bộ ngực lép kẹp, ăn mặc lam lũ. Toàn là đàn bà quê mùa, quên cả phương pháp trang điểm tối thiểu, và chưa bao giờ được cầm trong tay những đồ lót mình bằng ni-lông mỏng như giấy bóng, và lọ nước hoa Ba-lê, rắc một giọt lên tóc ba ngày cũng còn thơm một cách quyến rũ.

Thái dương Phan Mỹ nóng ran. Từ xưa đến nay, hắn vẫn thích đàn bà đẹp. Câu châm ngôn éăn để mà sống, không phải sống để mà ăn" đối với hắn phải được sửa lại là "ăn để mà sống, sống để yêu đàn bà". Thật vậy, nếu không có đàn bà, Phan Mỹ sẽ không tài nào sống được. Hắn cần đàn bà như người nghiện nặng, sáng, trưa, chiều, phải kéo vài ba điếu á phiện mới khỏi bải hoải chân tay. Hơn một lần, hắn đã xuất bạc vạn để mua gái đẹp còn nguyên ở Hồng-Kông.

Xe hơi đã qua Chợ Hôm.

Phan Mỹ không ra lệnh cho tài xế rẽ vào đường Thái Phiên mà là chạy thẳng. Đến một cái hẻm, hắn xuống xe, đi bộ. Cùng đi với hắn là 2 vệ sĩ đệ tam đẳng đai huyền đen. Hắn không cần mang theo nhiều người: 2 vệ sĩ này đủ sức đối phó với 2 đại đội của địch, hoặc bằng tay không, hoặc bằng khí giới. Phần lớn lực lượng của Phan Mỹ đều đi sau, và phân tán ra làm nhiều đơn vị, sẵn sàng ứng chiến, nếu được gọi tới.

Phan Mỹ không ập vào cửa trước của biệt thự đường Thái Phiên, bên trong có bà Huyền Hoa, đại tá Kamốp, Nguyệt Thanh và Quỳnh Ngọc. Hắn đi vòng lối sau, qua nhà của vợ chồng Vương Lệ.

Vào giờ này, một chiếc xe hơi sơn đen, rèm che kín mít phía sau - công xa của Phan Mỹ - chạy vào đường Thái Phiên, rồi dừng lại cách biệt thự 100 thước. Trên xe, một người hao hao như Phan Mỹ. Người này ngồi ở băng sau với ba vệ sĩ. Đó là kế mọn của Phan Mỹ: trong khi Phan Mỹ giả ngồi trong xe trrên đường Thái Phiên, Phan Mỹ thật trèo tường, vượt mái, lẳng lặng đột nhập vào biệt thự bí mật.

Hắn vừa ngảy êm ru như lá rụng vào vườn căn nhà của Bôrin và Vương Lệ. Bôrin bị giam dưới hầm bộ Ngoại Giao, chỉ còn Vương Lệ ở nhà một mình. Do một sự tình cờ hi hữu, nhà của Vương Lệ chỉ cách tòa biệt thự bí mật một ngôi nhà nhỏ.

Vương Lệ đã ngủ say.

Phan Mỹ ung dung mở cửa nhà dưới bằng chìa khóa riêng. Hắn ra lệnh cho vệ sĩ chờ hắn bên dưới rồi tất tả lên lầu.

Cửa phòng Vương Lệ không khóa.

Bên trong tỏa ra một ánh điện màu xanh lờ mờ. Vương Lệ nằm trên giường, một chiếc chăn mỏng che bụng, toàn thân trần truồng. Nàng đã tập thói quen ngủ trần truồng của đàn bà phương tây. Phan Mỹ ngây người, miệng khô lại.

Hắn cúi xuống hôn nàng. Nàng giật mình tỉnh dậy. Thấy hắn, nàng kêu nho nhỏ:

- Anh. Anh lên đây bằng cách nào?

Phan Mỹ hôn vào ngực nàng:

- Bằng chìa khóa của em. Em đưa cho anh hồi tối, em quên rồi sao?

Nàng ôm lấy hắn:

- Em lạnh lắm. Anh ở lại với em.

Hắn gỡ tay nàng ra:

- Anh bận đi giết Kamốp.

Nàng giật mình:

- Giết Kamốp? Phiên tòa của Đảng đã xử hắn thua anh rồi, anh còn muốn gì nữa?

- Bị xử thua, hắn sẽ phải về nước. Hắn không là công dân Việt nên anh không thể đưa ra tòa án thường xử tử hình.

- Vậy anh giết hắn sao được?

- Anh sẽ bắt hắn quả tang tư thông với địch.

- Trời ơi!

- Em thức dậy đợi anh. Trong vòng 15 phút nữa, anh sẽ quay lại. Em tắt hết đèn đi, ngồi chờ anh trong ga-ra và chuẩn bị lái xe cho anh. 5 phút nữa, em xuống xe, rồ máy cho nóng sẵn. Hễ anh tới là em phóng liền về bộ Ngoại Giao vì anh sợ địch đuổi theo ráo riết.

Vương Lệ hôn vào môi Phan Mỹ, dáng điệu say sưa:

- Vâng, em xin tuân lệnh anh.

Nàng vứt cái chăn đơn, uyển chuyển xuống giường. Trông người đẹp kiều diễm uốn éo trước mắt, hoàn toàn khỏa thân, Phan Mỹ run lên. Nếu không bận công tác quan trọng, hắn đã vật nàng xuống giường và ở lại với nàng đến sáng mới về.

Hạ thủ Kamốp là công tác quan trọng, không những cho riêng hắn, mà còn cho cả tòa đại sứ Trung quốc nữa. Phải hạ thủ Kamốp mới làm lu mờ được áp lực của Liên Sô…

Phan Mỹ hối hả xuống vườn.

Hai vệ sĩ cầm tiểu liên K-50 kèm bên. Phan Mỹ trèo lên nóc ga-ra, nhìn sang biệt thự của bà Huyền Hoa. Ánh đèn leo lét chiếu ra ngoài cho hắn thấy những thân cây lớn và những cánh cửa đóng kín.

Hắn nhảy xuống.

Còn một bức tường thấp nữa là đến tòa biệt thự bí mật.

Phan Mỹ rút trong túi ra một cái xíp-lê đặc biệt. Hắn cho lên miệng thổi. Tiếng kêu não nuột của chim hít-cô nổi lên. Hắn thổi lại lần nữa.

Hắn lờ mờ nhìn thấy AX từ dưới nhà chạy lên, chân vận xăng-đan không gây tiếng động. Phan Mỹ tuột xuống vườn, rồi nép mình vào bụi rậm.

Tứ phía im lặng như tờ.

Phan Mỹ chạy vào cửa sau, dẫn vào cầu thang. Hắn bắt gặp AX đang chùi lưỡi dao dính máu vào riềm cửa. Miệng hắn nở một nụ cười thỏa mãn. Kamốp chết đến nơi rồi. Không một quyền lực nào cứu sống được nữa.

Hành lang tối om.

Đến căn phòng giữa, nhìn ra sạn trước, hắn đứng lại, ra hiệu cho hai vệ sĩ. Một tên ghé vai vào cánh cửa xô một cái thật mạnh. Tấm cửa lim bật vào trong. Hai khẩu tiểu liên hiện ra cùng một lúc.

Một tiếng nói quen thuộc cất lên:

- Buông súng xuống, không mất mạng.

Hai khẩu tiểu liên nổ ròn. Vệ sĩ của Phan Mỹ bắn trước, hòng đoạt ưu thế, song đạn không trúng người vì căn phòng trống không. Tiếng nói vừa cất lên là do máy khuếch âm phát ra.

Biết bị lừa, Phan Mỹ hối hả quay lại, song không kịp nữa. Hai tên vệ sĩ gục ngã dưới một băng đạn trung liên từ cuối hành lang bắn tréo lại. Phan Mỹ đứng chôn chân như tượng đá.

Lại giọng nói quen thuộc, giọng nói của đại tá Kamốp:

- Phan Mỹ, lẽ ra tôi đã tặng anh một băng đạn như hai vệ sĩ của anh rồi, nhưng dầu sao chúng ta cũng là địch thủ thượng lưu. Tôi cho phép anh chọn cái chết trong vinh dự. Chết bằng cách đấu võ hoặc đấu súng với tôi. Anh được một phút đồng hồ để quyết định.

Phan Mỹ nhìn tứ phía. Không thấy Kamốp đâu cả. Chắc hắn đang núp trong phòng bên. Phan Mỹ tự biết là số mình đã tận. Hắn đinh ninh hạ được kẻ thù không đội trời chung Kamốp, và ngang nhiên làm chủ hai mỹ nhân, ngờ đâu lại đem thân vào miệng kẻ thù. Võ thuật và tác xạ không phải là sở trường của Phan Mỹ. Hắn không lạ gì Kamốp một đai huyền đen khét tiếng về nhu đạo, một tay súng cừ khôi, hễ rút súng ra là đối phương mất mạng.

Song Phan Mỹ không còn lối thoát nào nữa, nhận lời thách thức của Kamốp là chết, nhưng thà nhận lời để kéo dài thời giờ, chờ cơ hội lật ngược thế cờ.

Vì vậy, hắn cố giữ vẻ mặt bình tĩnh:

- Được, tôi sẵn sàng đấu súng với anh.

Cửa phòng đối diện Phan Mỹ mở toang, đại tá Kamốp đi ra. Gặp hắn, Kamốp mỉm cười sâu độc:

- Trong đời, biết ai hơn ai, phải không đồng chí? Bây giờ, mời đồng chí vào đây.

Như kẻ mất hồn, Phan Mỹ theo Kamốp vào phòng. Đồ đạc trong phòng đã được dọn sạch, chỉ còn trơ lại mấy cái ghế kê sát trong góc. Nhìn thấy 2 vệ sĩ khổng lồ của Kamốp dựa lưng vào tường, Phan Mỹ nói:

- Tôi chỉ đấu súng với anh nếu tinh thần thượng võ được tuyệt đối tôn trọng. Anh giết được tôi thì chẳng nói làm gì, nhược bằng tôi bắn hạ anh, các vệ sĩ của anh sẽ báo thù.

Kamốp cười nửa miệng:

- Anh muốn người của tôi tránh ra xa chớ gì? Tôi sẵn lòng. Nếu tôi không lầm, nhân viên của anh đã gác đầy đường Thái Phiên, và một số đang đứng ngoài biệt thự, đợi anh ra lệnh để xổ vào. Tôi sẽ cho vệ sĩ của tôi xuống nhà ngay bây giờ. Họ chỉ nổ súng nếu đàn em của anh nhảy vào biệt thự. Còn ở trên này chỉ có mình tôi với anh. Anh Phan Mỹ ơi, tôi cần nói trước là anh sẽ chết. Anh sẽ chết như con muỗi bẹp dí dưới gót giày tôi vậy. Giết anh xong, tôi sẽ lên phi cơ về Liên Sô. Vụ sắp xếp đê hèn của anh trước Tòa để hãm hại tôi không đi đến đâu. Vì tôi đã nắm được bằng chứng cụ thể anh bắt tay với lực lượng của lão Hoàng.

- Cỏn anh cũng bắt tay với mụ Huyền Hoa, tay sai của lão Hoàng, để thủ tiêu tôi và tòa đại sứ Trung quốc.

Kamốp hừ một tiếng:

- Anh nói đúng. Nhưng anh sẽ không còn sống trên cõi đời này nữa để khiếu nại. Trong 3 phút, anh sẽ xuống âm phủ.

Ngoảnh lại phía vệ sĩ, hắn ra lệnh:

- Xuống dưới nhà, 10 phút nữa lên đây, nhặt xác Phan Mỹ.

Hai tên vệ sĩ lùi lũi đi ra ngoài.

Trong khi ấy, một biến chuyển quan trọng xảy ra trong phòng khách rộng mênh mông dưới nhà. Kamốp chỉ bằng lòng lên lầu chờ Phan Mỹ, với điều kiện bà Hoa và toàn thể nhân viên tập họp trong sa-lông dưới sự canh chừng của 2 vệ sĩ Kamốp. Còn 2 vệ sĩ theo hắn lên gác.

Vào những lúc Thần Chết gần kề, người ta mới thấy quyền lực của sắc đẹp. Bà Hoa đã dùng mỹ nhân kế kéo Phan Mỹ tới biệt thự gặp Kamốp, một lần nữa, bà Hoa lại dùng mỹ nhân kế lung lạc 2 tên vệ sĩ khổng lồ của Smerch.

Thoạt tiên, chúng ngồi trên ghế ở cửa ra vào, nét mặt lầm lì, khẩu súng đặt trên đùi, sẵn sàng nhả đạn. Song chỉ một phút sau, trước nụ cười tươi như hoa nở của Nguyệt Thanh và Quỳnh Ngọc, chúng đã bớt khó chịu. Cặp mắt xanh biếc của hai gã đàn ông Nga đột nhiên đỏ ngầu.

Nguyệt Thanh thản nhiên rót vốt-ka uống. Hơi men làm má nàng hây hây như trái đào mới chín.

Bỗng nàng đứng dậy, nghiêng người, nhìn ra vườn. Ánh đèn chênh chếch làm tăng những đường cong uyển chuyển trên ngực và vai nàng. Tên vệ sĩ cao gần 2 thước ngó theo nàng, miệng mím lại. Rồi hắn buông một tiếng Nga tục tĩu. Bạn hắn quắc mắt:

- Đừng làm bậy.

Nhưng hắn không nghe lời khuyên của bạn. Hắn khệnh khạng đứng dậy, tiến về phía Nguyệt Thanh. Nàng giả vờ thét lên, rồi đi lùi, đi lùi ra cửa. Phía sau là một hành lang dài tối om.

Tên vệ sĩ khổng lồ cứ bước theo trong khi Nguyệt Thanh cứ lùi. Ra đến hành lang, nàng vùng bỏ chạy. Hắn quát lớn:

- Đứng lại, không bắn.

Nàng chạy vòng vào phòng ăn. Tên vệ sĩ chạy theo. Hắn không ngờ rằng Nguyệt Thanh đã thủ sẳn một con dao nhọn hoắt trong tay. Tên vệ sĩ vừa ló đầu vào, nàng đã phóng lưỡi dao ra. Trúng cuống họng, hắn loạng choạng một giây rồi ngã gục.

Thấy bạn chưa vào, tên thứ hai sốt ruột, tiến ra cửa, song không quên chĩa khẩu tiểu liên vào mọi người trong phòng. Hắn nghe tiếng kêu của Nguyệt Thanh. Trong một giây đồng hồ thiếu bình tĩnh hắn chạy tới. Quỳnh Ngọc mở ngăn kéo lấy một lưỡi dao khác. Không thấy bạn, tên vệ sĩ vội chạy vào.

Soẹt một tiếng. Lưỡi dao cắm giữa tim, cây thịt trăm cân húc vào tường, rồi trở thành cái xác không hồn.

Toàn thể mọi người đều vụt dậy như máy. Phan Mỹ đã lên lầu từ nãy. Bà Huyền Hoa mở tủ buýp-phê, lôi ra hai sợi dây điện, nối đầu vào nhau. Trong vòng 5 phút, biệt thự sẽ nổ tung, dưới sức mạnh của một khối lát-tích chôn ngầm ở cầu thang.

Quỳnh Ngọc rút cầu chì. Toàn căn nhà chìm trong bóng tối. Bà Hoa dẫn đường, mọi người chạy vút ra sân trèo tường, vượt sang biệt thự của Vương Lệ.

Hai tên vệ sĩ của Kamốp vừa ra đến cầu thang thì đèn tắt. Biết là có biến, chúng vội vàng quay lại. Đèn tắt giữa lúc Kamốp và Phan Mỹ rút súng. Chưa ai kịp bắn thì một tiếng nổ kinh thiên động địa xảy ra. Trong chớp mắt, ngôi nhà đồ sộ đổ xụp, gạch ngói bay tan tác.

Ngoài đường, súng máy lác đác nổ. Nhân viên của Kamốp và Phan Mỹ bắt đầu xung đột. Trước khi bị một thanh sắt bay vèo trúng đầu, vỡ nát thái dương, Kamốp còn nhả được một viên đạn vào giữa tim Phan Mỹ. Tay ôm vết thương chí tử, khẩu súng văng xuốn sàn nhà, Phan Mỹ gục vào tường. Bức tường đổ sụp, hai thủ lãnh tình báo lọt xuống vườn, dưới hàng tấn gạch đá, toàn thân nát ngướu không kịp kêu lên một tiếng.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Trên chiếc xe nhỏ xíu, cả thãy có 8 người, 3 người đàn ông vừa được Kamốp trả tự do, "chú Ba", người đóng vai trò quan trọng trong âm mưu đánh lừa Phan Mỹ mang thân vào hang cọp, Nguyệt Thanh, Quỳnh Ngọc, Vương Lệ và bà Huyền Hoa.

Vụ nổ kinh hồn và cuộc chạm súng trước biệt thự đã tạo cơ hội thuận tiện cho 8 người thoát khỏi vòng vây. Chạy được một quãng, xe dừng lại. Một chiếc xe hơi đeo số bộ Ngoại Giao đậu sẵn bên đường. Nguyệt Thanh và Quỳnh Ngọc ngồi chung xe với Vương Lệ, còn 5 người sang xe hơi mới.

5 phút sau, Vương Lệ lái vào bộ Ngoại Giao. Lính gác cản lại, Vương Lệ thò đầu ra cửa xe, đưa chứng minh thư. Nhận ra Vương Lệ, lính gác không hỏi gì nữa.

Xe đậu lại, Vương Lệ tiến vào cầu thang sau. Một tên lính mặc đồ trận giơ súng đuổi nàng. Bụp một tiếng, viên đạn qua đầu súng hãm thanh bằng cao-su trúng giữa trán, tên lính vứt khẩu tiểu liên, chúi vào thang gác.

Vương Lệ mở cửa xuống hầm.

Nàng không ngờ có người gác, núp sau cánh cửa. Một viên đạn vèo qua mặt nàng. Suýt nữa nàng mất mạng. Quỳnh Ngọc chĩa súng vào góc. Tên lính rú lên một tiếng đau đớn.

Trong khi đó, Nguyệt Thanh đặt một cái hộp to bằng nửa cái va-li lên sàn nhà. Nàng đeo mũ nghe vào tai. Tiếng bịp bịp vẳng ra rõ ràng. Nàng đi ra cửa, tiếng bịp bịp giảm bớt. Ghé xuống miệng hầm, tiếng bịp bịp gia tăng cường độ.

Nàng bỏ mũ nghe, ngẩng đầu lên:

- Đúng rồi. Anh ấy bị giam dưới hầm.

Nguyệt Thanh cầm tiểu liên, mai phục bên cửa. Quỳnh Ngọc theo Vương Lệ xuống hầm. Đèn dưới hầm được bậc sáng trưng. Tuy nhiên, không có người gác nào. Quỳnh Ngọc gọi lớn:

- Văn Bình.

Đang ngồi bó gối trong xà-lim, Văn Bình vùng dậy. Thấy chàng sau song sắt, Vương Lệ rú lên:

- Trời ơi, anh.

Nàng chạy bổ lại, nắm lấy tay chàng, đưa lên môi hôn. Quỳnh Ngọc lặng người như bị sét đánh. Văn Bình nhìn thấy sự thay đổi trên mặt nàng.

Quỳnh Ngọc đưa súng cho chàng. Chàng xả một loạt đạn vào cửa. Cánh cửa nặng nề mở ra. Cả ba chạy ra cầu thang.

Bỗng có tiếng gọi khẩn thiết:

- Vương Lệ, Vương Lệ.

Đó là tiếng gọi của Bôrin, Vương Lệ đứng khựng lại. Nàng lặng lẽ chĩa súng vào ổ khóa. Khi nhận lời đi cứu Văn Bình, nàng quên bẵng Bôrin, chồng nàng.

Nhưng Bôrin không quên nàng. Hắn đợi nàng từ lâu. Trong giấc mơ, hắn thấy nàng xuống hầm, khoác vai một người đàn ông lạ. Máu ghen sôi lên, hắn ôm chặt lấy nàng. Vương Lệ rú lên. Cái muỗng bằng nhom được mài nhọn như lưỡi dao đã xiên qua họng nàng. Nàng buông chồng ra, gục chết trên nền xi-măng ướt át.

Như người điên, Bôrin túm lấy áo Văn Bình. Trong lúc bất thần chàng tránh không kịp, mũi nhọn đâm ngập vào vai chàng. Chàng lảo đảo, dựa vào tường. Bôrin rượt theo, chàng phóng ngọn cước vào mặt hắn. Bị bắn vào cửa sắt, hắn toan bò dậy thì Quỳnh Ngọc đã nổ súng. Viên đạn 9 ly làm miệng hắn vỡ nát.

Lúc hai người lên đến miệng hầm thì nhiều tiếng súng nổ vang. Chiếc xe tiếp ứng của bà Huyền Hoa đậu ngoài đường bị phát lộ. Văn Bình chạy vội lên xe, Nguyệt Thanh lái phăng phăng ra cửa. Một viên đạn cắm vào kính trước, nàng cúi rạp xuống vô-lăng, phóng vào đêm tối mù mịt.

Từ xe bà Hoa, nhiều tia lửa đỏ ối vụt ra. Trong chớp mắt, vọng gác trước bộ Ngoại Giao im bặt tiếng súng.

Văn Bình hỏi Nguyệt Thanh:

- Chúng mình đi đâu?

Nàng đáp:

- Ra phi trường, về Vọng-các.

Trời gần sáng, đường sá vắng tanh. Đến đường Hàng Vôi, Nguyệt Thanh thắng lại, nàng quay về phía Văn Bình:

- Chúng mình ở đây đợi Vũ Kính.

Hai tiếng "chúng mình", nàng nói bằng giọng vô cùng âu yếm. Quỳnh Ngọc nhìn hai người trong sự sửng sốt vô biên. Nàng đinh ninh Văn Bình chỉ biết mình nàng. Nàng không ngờ còn hai người đàn bà khác nữa.

Một lùm đèn pha từ đầu đường chiếu tới. Nguyệt Thanh nói:

- Anh cứ ngồi yên trong xe. Mẹ em đã thu xếp xong xuôi rồi.

Ngang xe bà Hoa, lùm đèn pha dừng lại rồi tắt ngúm. Văn Bình thấy một đoàn người lố nhố trèo lên chiếc cam-nhông-nét. Mọi việc xảy ra quá nhanh, Văn Bình không kịp theo dõi chi tiết. Bà Hoa đã đến bên chàng không biết khi nào. Dưới ánh sáng mờ mờ, bà trông như nữ lão tướng đang chỉ huy trận địa. Bà nói với Văn Bình:

- Chúc anh thượng lộ bình an.

Chàng ngạc nhiên:

- Thưa bà, xong rồi à?

- Xong rồi. Không ai ngăn cản ở phi trường nữa đâu. Kamốp và Phan Mỹ đã chết. Tôi đã thay 5 người trong phái đoàn bằng 5 người của ta. Con Nguyệt Thanh cùng đi với anh. Tôi nhờ anh trông nom nó. Trông nom như người anh ruột đối với em gái khờ dại. Nếu có chuyện gì, anh chết với tôi.

Nguyệt Thanh phản đối:

- Mẹ làm như con là con nít lên ba ra đường sợ mẹ mìn bắt ấy.

Bà Hoa nghiêm sắc mặt:

- Sự đời còn nhiều lắt léo, con chưa hiểu được đâu, vì thế mẹ mới căn dặn anh Văn Bình. Thôi, đến giờ rồi, thiếu tá Vũ Kính sẽ đưa phái đoàn lên phi cơ.

Văn Bình nói:

- Vũ Kính có phải rút vào bí mật không?

- Lát nữa, sau khi phi cơ cất cánh, Vũ Kính sẽ đi Sầm Sơn, xuống tàu ngầm của ông Hoàng. Ông Hoàng cho biết là công việc đã hoàn tất mỹ mãn: hai tòa đại sứ Trung cộng và Nga Sô còn đánh nhau hàng năm nữa chưa hết.

Bỗng Quỳnh Ngọc xen vào:

- Thưa bà, tôi xin được ở lại.

Bà Hoa mỉm cười:

- Tôi đã biết tại sao cô đòi ở lại. Song giá cô cùng về với Văn Bình thì hơn. Sở dĩ tôi cho con Thanh tới mời cô dự cứu Văn Bình là để cô thu thập thêm một kinh nghiệm nghề nghiệp. Tôi không muốn nói rõ hơn sợ cô buồn, vì tôi biết con gái tôi cùng ở vào hoàn cảnh như cô.

Quỳnh Ngọc nín thinh. Bà Hoa lái xe trở về trung tâm Hànội. Trên mắt Nguyệt Thanh long lanh một giọt lệ. Song miệng nàng mỉm cười. Nàng khóc vì xa mẹ, nhưng lại cười vì được ở gần chàng thanh niên khôi ngô và tài tuấn. Quỳnh Ngọc bặm môi để khỏi bật ra tiếng khóc. Thiếu tá Vũ Kính ra lệnh cho tài xế lái lên cầu Long Biên.

Văn Bình ngồi yên trong góc. Ba giờ nữa, chàng sẽ có mặt ở Vọng-các. Vết thương ở vai làm chàng đau buốt, nhưng trái tim chàng còn đau buốt hơn. Đương đầu với những con cáo gioà như Kamốp và Phan Mỹ chàng không hề run sợ. Nhưng thái độ của những thiếu nữ hơ hớ xuân tình lại làm chàng run sợ lạ thường.

Gió lạnh quạt vào mặt chàng. Chàng ngâm nho nhò:

- Yêu là chết trong lòng một ít.



o0o



[1] Smerch là Smiert Spionam (tử hình đối với gián điệp), cơ sở sát nhân ghê gớm của gián điệp Sô Viết, đóng tổng hành doanh tại số 13, đường Stretenska Ulitsa. Mạc Tư Khoa , có 40.000 nhân viên nam nữ hoạt động khắp thế giới.

[2] Đó là tướng Grubozaboyschikoc. Tướng Grubo hiện vẫn là tổng giám đốc Smerch.

[3] Tức là Kuchino, trường huấn luyện do thám thâm nhập, ở vùng phụ cận thủ đô Nga Sô, Mạc Tư Khoa.

[4] V. Ch. Là Vysokochastoty, điện thoại siêu tần số. Mạc Tư Khoa có chừng năm chục máy điện thoại siêu tần, liên lạc giữa các viên chức cao cấp, mọi điện đàm đều được thâu thanh, song không ai nghe trộm được.

[5] Hudson.

[6] Moskwa-Volga, một thứ thuốc lá thơm của Nga Sô.

[7] S.S. là viết tắt của danh từ Sovershennoz Sekrelno, tức là tối mật.

[8] Dean Rush.

[9] Tức Valentin Gubishev, nhân viên Sô Viết tại Liên Hiệp Quốc, bị bắt quả tang nhận tài liệu mật của Judith Coplon, nhân tình người Mỹ.

[10] Tức đại tá Abel, trùm do thám Sô Viết tại Mỹ.

[11] Tức đại úy không quân Gary Powers, lái chiếc U-2 thám thính bị bắn rơi trên đất Nga, bị lên án 10 năm tù, sau được đổi với đại tá Abel.

[12] Neurone.

[13] Bác sĩ Fukutomé.

[14] Bác sĩ M.B. Delgado, của đại học đường Yale, Hoa Kỳ. Bác sĩ V.H. Mart, đại học đường Havard, Hoa Kỳ đã áp dụng phương pháp trên, để làm tiêu tan nỗi đau đớn và khổ cực của các bệnh nhân ung thư hấp hối. Các bác sĩ Mỹ Theodore Reik, William E. Rusk (trung tâm Rockefeller). W. Wetzel (đại học đường Michigan) đang tiếp thục thí nghiệm trong địa hạt này. Tại bệnh viện Massachusetts General Hospital (Boston - Mỹ), và Viện Pavlov (Léningrad - Liên Sô) người ta đang thí nghiệm thay đổi tính tình trên súc vật và đạt được kết quả mỹ mãn.

[15] Électrodes.

[16] Là Smith and Wesson 38 special.

[17] Theo thứ tự, những súng này là Military and Police 38 special. K-Masterpiece 38 special, Combat Masterpiece 221.R 38 special, 38/44 Heavy Duty, 38 Bodyguard, 38 Terrier, 38/44 Outdoorman, Military and Police, Airweight 38 special, Chief's special Airweight, 38 Centennial, Chief's special.

[18] 44 Magnum special (Smith and Wesson).

[19] Huyết thanh sự thật là sérum de la vérité, bằng chất scopolamine được dùng để chích vào người bị can để lấy cung. Dưới áp lực của nó, bị can phải khai hết những điều giấu trong tiềm thức.

[20] OSS tức là Office of Strategic Services của Mỹ, trong thời chiến, OSS đã được giải tán và thay thế bởi trung tâm tình báo Central Intelligence Agency.

[21] Tướng Gehlen, chỉ huy điệp báo Tây Đức, người được mệnh danh là "ông tướng không mặt" khét tiếng trong làng do thám quốc tế.

[22] Tiền Thái, 20 bath là một đô-la Mỹ.

[23] Vnucovo.

[24] Moscova.

[25] Gorky.

[26] Bác sĩ Walter Liuse, chủ tịch Hội Luật Gia Tự Do, một tổ chức tình báo chống Cộng tư nhân, hoạt động ở Đức quốc.

[27] Tiếng Thái, tức là 1, 2, 3.

[28] Tiếng Thái: 20.

[29] Không được hút thuốc, cột giây lưng lại.

[30] Các cơ quan gián điệp đã có thể dàn cảnh "thượng mã phong" với những tang chứng tài tình, bác sĩ luật y không tài nào khám phá ra. Tác giả không thể thuật lại vì không muốn trình bày những chi tiết kém tao nhã, xin bạn đọc hiểu ngầm và lượng thứ.

[31] GRU là phòng Nhì của Hồng Quân. KGB là công an mật vụ. Smerch là cơ quan ám sát bí mật. Nga Sô còn một tổ chức khác, RUMID, chuyên về do thám ngoại giao.

[32] Điện thoại ở Hà Nội gồm 4 số, chứ không 5 số như ở Sàigòn.

[33] Barbital, amytal, evipal, thuốc ngủ.

[34] Hydrate de chlore (choral hydrate) một thứ thuốc mê cực mạnh, do nhà bác học Liebig phát minh ra năm 1832.

[35] Beatnik, lớp người theo nếp sống cuồng loạn ở tây phương.

[36] Masochisme, một chủ thuyết về tình dục. Người ta dùng danh từ masochiste để chỉ kẻ nào đòi bị hành hạ trong khi ân ái. Masochiste viết theo tên của Léopold von Sacher-Masoch, người Áo, sinh năm 1836. Masoch xuất bản năm 1870, một tập đoản thiên, mô tả những cảnh đàn bà đánh đàn ông trong khi ân ái. Đặc biệt là truyện "Vệ Nữ khoác áo lông" thuật lại vụ nàng Wanda trói tình nhân Serepin rồi đánh bằng roi da trước giờ ân ái.

[37] Đại tá này là Alfred Redl, còn hai nhà toán học là William Martin và Bernon Mitchell, nhân viên của NASA. Cục an ninh quốc gia Mỹ. Muốn biết rõ thêm, xin đọc Gián điệp quốc tế đã xuất bản, cũng của tác giả NTT.

[38] Volga M-21. Loại xe này trông hao hao như Chevrolet của Mỹ, đời 1950.

[39] MN là Moisin-Nagant. Moisin là tên đại tá Sergeivanovich Morin. Tôkarếp là súng do tướng Tôkarev sáng chế.

[40] PPD 1940 do tướng Degtuarov chế tạo vào năm 1940.

[41] Năm 1941, súng PDSh ra đời do Shpaghin vẽ kiểu, nên có chữ Sh ở sau.

[42] Hai loại súng PPS này do Suradev chế tạo trong năm 1942 và 1943. Tiểu liên Suradev được trang bị cho binh sĩ nhảy dù Sô Viết. Vì là súng tốt nên Nga Sô chỉ gởi một số rất ít cho các quân đội chư hầu.

[43] Tất cả những khách sạn mà Văn Bình vừa nhớ lại đều mới được cất xong. Đây là khách sạn Ambassador, xây mất 5 triệu mỹ-kim, hàng năm, trên 25.000 du khách tới, trong số có Z.28.

[44] American

[45] Royal Hotel

[46] Hilton, ở Istamboul, trên bờ biển Bosphore

[47] Hotel Phoenica, ở Beyrut

[48] Khách dạn Hilton, bên dòng sông Nil, 27 cô gái hầu bàn đã tìm được chồng trong đám du khách

[49] Carlton beach, tiền phòng từ 6 đến 8 ngàn bạc VN một ngày.

[50] Bermudes

[51] Hilton Hotel ở Las Brisax (ngọn gió mát) Acapulco, tiền phòng từ 5 ngàn đến 17 ngàn bạc VN một ngày, phòng nào cũng có tủ lạnh riêng chứa đầy trái cây tươi.

[52] Hotel des Cataralas tại thác nước Iguacy mất 15 năm mới hoàn thành, xung quanh toàn kỳ hoa dị thảo - Điệp viên Văn Bình đã lê thân khắp thế giới, và những ô-ten kể trên mới là những phần trăm những nơi Z.28 ngụ lại.

[53] Tức là Gestapo, Die Geheime Staatspolizei. Tiếng Đức, Geheime là bí mật. Die Geheime Staatspolizei là công an mật vụ quốc gia, gọi tắt là Gestapo.

[54] Giám đốc trú sứ là đại diện gián điệp tại một nước hải ngoại.

[55] Tức là Vladimir Y. Semichastny, trên ba mươi tuổi. Semichasrny thay thế Aleksandr N. Shelepin, một người cũng mới trên tứ tuần. Hiện Nga Sô đang trẻ trung hóa ngành do thám công an.

[56] Dụng cụ an toàn: một thứ máy riêng gắn liền vào điện thoại mà công dụng là ngăn không cho người ngoài nghe trộm, hoặc lắp trộm máy ghi âm. Nó trị giá trên một ngàn mỹ kim. Ở Sàigòn hiện có dụng cụ an toàn.

[57] Vụ ám sát này là mẫu mực của thể thức ám sát người đi xe hơi. Người bị ám sát là Hêđờrích (Heydrich), thống đốc bảo hộ nước Tiệp-Khắc, cựu tổng giám đốc mật vụ Đức-quốc-xã. Năm 1942, quân đội quốc-xã thắng như chẻ tre. Tiệp-Khắc bị chiếm đóng và biến thành bảo hộ. Dưới sự thống trị của Hêđờrích, nhân dân Tiệp gia nhập kháng chiến đông đảo, và một nhóm ba thanh niên được huấn luyện tại Anh quốc trở về xứ ám sát Hêđờrích. Nạn nhân ngồi cạnh tài xế, ở băng trước xe Mercédes, đến một chỗ đường giốc phải chậm lại, một thanh niên chạy ra bắn một loạt đạn, thanh niên thứ hai lăn một quả bom tới xe và nổ tung. Sau này, bị bao vây trong một nhà thờ, các thanh niên ái quốc này kháng cự đến người cuối cùng.

[58] Walkie-talkie là loại máy vô tuyến bỏ túi, thứ nhỏ nhất bằng gói thuốc lá có thể liên lạc giữa hai người trong đường kính một cây số. Loại máy của cảnh sát Sàigòn có tầm hoạt động rộng hơn. Hiện nay, các sở do thám đã chế tạo một thứ walkie-talkie chỉ nhỏ bằng phân nửa gói thuốc Bastos mà có tầm liên lạc xa 5 cây số, và nghe rõ như điện thoại trong thành phố.

[59] Đó là súng máy Sô Viết Degtyarov, cỡ 7,Z.62 ly, nặng độ 4 kilô, tầm bắn từ 50 đến 500 thướcx. PPD 1940 là một trong những súng máy bắn rất nhạy của Hồng Quân Sô Viết.

[60] Tức Goryunov 1943, cỡ đạn 6,Z.62 ly. Loại trung liên này được coi là rất chính xác và nguy hiểm, vì nó xử dụng dễ và nhẹ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám   

Về Đầu Trang Go down
 
Đêm Cuối Cùng Của Tên Tử Tội - Người Thứ Tám
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Nhanbkvn 2017 :: THƯ VIỆN SÁCH TRUYỆN :: Truyện Trinh Thám-
Chuyển đến