Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh

Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 11322
Points : 14781
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh   Thu May 11, 2017 5:15 pm



Chương 01

Cũng như những thành phố khác ở miền nam nước Việt, thành phố Châu Đốc vào mùa nắng như bị thiêu đốt dưới ánh mặt trời và khoác thêm một lớp bụi làm mờ mắt. Nhưng tôi không khó chịu, bởi vì tôi sinh ra ở đó. Trong ký ức, hình ảnh khu vườn và xưởng dệt vải của cha tôi đã làm tôi sống lại những ngày sung sướng trong thời thơ ấu.

Hồi đó, cha tôi, Ông Xếp – ai cũng gọi như vậy -- rất giỏi về kinh doanh. Người giúp việc trong nhà tôi là bà An thường kể cho tôi nghe rằng hôm tôi chào đời lại đúng cái hôm cha tôi bận việc giao dịch buôn bán ở một tỉnh xa. Ông được tin tôi mới sinh cùng một lúc được tin có một khách hàng ở Bạc Liêu quỵt nợ một số bạc hơn bốn trăm ngàn đồng. Thực khó mà hiểu tâm trạng của ông lúc ấy. Không biết ông vui với cái tin có thêm thằng bé Lênh Đênh -- tức là tôi – hay là buồn vì bị khách hàng bỏ trốn. Tôi thương cho cha tôi quá, nhưng thương mà không biết biểu lộ bằng cách nào !

Tôi như một kẻ sinh ra để chứng kiến những rủi ro xảy đến cho gia đình tôi.

Mà thực vậy, sau vụ người khách hàng ở Bạc Liêu ẵm mất số bạc to lớn đó thì tiếp đến nhà tôi bị hai lần hoả hoạn, chú tôi là ông Ba Tiết lại bỗng sinh mối bất hoà với cha tôi. Sau nữa, cha tôi bị mấy người buôn thuốc nhuộm kiện ra toà. Và cuối cùng, thời cuộc đã làm ngưng trệ công việc làm ăn.

Từ ấy, xưởng dệt của cha tôi như một người bệnh đã kiệt sức, những hoạt động cứ mỗi ngày một bế tắc cho đến hai năm sau phải đành dẹp bỏ và để gìn giữ cái gia sản đổ nát này, cha tôi mướn người gác cổng tên Cốm, cho người ấy ở căn nhà cạnh góc sân của xưởng với đứa con trai bé bỏng của ông ta tên là thằng Cu Nghé.

Bấy giờ, tôi được sáu, bẩy tuổi gì đó, nhưng cha mẹ tôi vẫn không cho tôi đến trường, có lẽ tại tôi thường đau yếu. Mẹ tôi dạy cho tôi biết đọc, biết viết, biết một vài khoa học thường thức khác. Thành thử, tuy đã lớn, mà tôi hãy còn lẩn quẩn trong nhà, và nhờ đó, tôi biết rõ từng cảnh tượng đau buồn của gia đình tôi. Có điều, biết mà không thông cảm được nỗi đau buồn đến mức độ nào, tôi chỉ xem sự đau buồn như một sự thay đổi đồ chơi nên không lấy gì làm khó chịu cho lắm.

Tôi nói với thằng Cu Nghé :

- Mày biết tại sao tao có quyền chạy nhảy trong xưởng bất kể giờ giấc không ?

Cu Nghé tần ngần rồi lắc đầu.

Tôi tiếp :

- Có vậy mà mày không hiểu. Vì xưởng này đã thuộc về tao rồi. Mày thấy không, ngày trước tao còn nhỏ nên chỉ được chạy nhảy trong xưởng vào ngày chủ nhật, ngày lễ mà thôi.

Cu Nghé chớp chớp mắt như cố nhớ lại sự kiện đó.

- Ừ nhỉ ! Cu Nghé nói.

Tội nghiệp cho nó và cả cho tôi. Trí óc non nớt của chúng tôi đã suy luận sự khánh tận một xưởng dệt bằng những ý nghĩ ngây ngô nhất và cũng dại dột nhất.

Trong khi đó, cha tôi đâm ra thay đổi tính nết, lúc nào cũng gắt gỏng, la rầy lớn tiếng khiến ai cũng khiếp sợ. Ấy vậy mà, cha tôi lại không hề lưu ý đến những tiến triển chung quanh bởi ông chỉ nghĩ đến một việc là sự nghiệp đã tiêu tan và tiếc nuối.

Ông luôn luôn mang vẻ mặt lầm lì nên không ai dám đến gần, và cũng chẳng ai dám hỏi han.

Tất cả trong nhà đều nín câm. Nếu có muốn nói, chúng tôi phải nói thầm hoặc kê miệng vào tai thủ thỉ, nghe tiếng được, tiếng mất.

Nhìn cha tôi, mọi người đều xúc động.

Mỗi bữa ăn, khi cha tôi ăn xong và lầm lũi bước đi là không một ai có thể cầm nước mắt được.

Hình dáng tiều tụy của ông đã làm chúng tôi đau xót : Mẹ tôi khóc, bà An khóc, anh Giác tôi khóc, tôi khóc và cả đến anh Cả của tôi, một tu sĩ, thỉnh thoảng về thăm nhà, cũng khóc. Thế rồi khóc hoài thành vô nghĩa hình như rốt cuộc chỉ có mẹ và anh Cả tôi là đau xót thật tình mà khóc. Còn bà An thì có lẽ thấy mẹ tôi khóc nên phải cố mà khóc theo. Còn tôi và anh Giác – anh ấy chỉ lớn hơn tôi có hai tuổi – thì chắc là muốn khóc vào cho đông đủ, cho có phần góp với mọi người cho vui bởi vì tôi biết rõ anh Giác hơn ai hết.

Anh Giác quả là một đứa bé nhiều nước mắt một cách rất đặc biệt. Anh khóc rất dễ dàng như người ta nhổ nước bọt, muốn khóc lúc nào cũng được -- Buổi mai, buổi chiều, ban đêm anh đều khóc được.

Có lần, thấy anh khóc, người ta hỏi :

- Sao vậy ?

Anh Giác sụt sùi :

- Dạ, không sao cả !

Mà thực, anh ấy đã nói thực, nhưng khổ nỗi người ta lại ngẩn ngơ.

Đôi khi, cha tôi bực mình, bảo mẹ tôi :

- Bà hãy xem, kìa đôi mắt thằng Giác lúc nào cũng đỏ thế là thế nào ? Người với ngợm gì mà như trái mít ướt thế hở ?

Mẹ tôi ôn tồn trả lời. Nghe giọng bà, người ta có cảm giác êm ả như đang an ủi cha tôi sau một lần buôn bán thua lỗ.

- Thôi mà ông, biết làm sao bây giờ. Cha mẹ sinh con, Trời sinh tánh, lớn chắc nó hết tánh đó, chắc cũng như tôi, hồi nhỏ tôi cũng dễ khóc như nó vậy…

- Trời ! Cha tôi kêu lên, nhưng không có nghĩa phản đối gì hết. Có lẽ ông cũng tin ở lời mẹ tôi.

Ngược lại. Anh Giác càng lớn càng khóc nhiều hơn.

Anh ấy đúng là đứa bé thực kỳ cục. Nguồn nước mắt của anh thật vô tận và lúc này, lúc mà gia đình tôi khánh tận này chính là một cơ hội tốt cho anh tha hồ khóc suốt ngày này qua ngày khác mà không hề bị ai chú ý hoặc quở trách.

Riêng tôi, tôi nghĩ, nếu tôi không khóc thành tiếng thì sẽ lộ chân tướng đang sung sướng nhờ sự khánh tận mà khỏi bị kiềm giữ nên tôi khóc.

Do đó, khóc xong là tôi đi chơi với thằng Cu Nghé, vào khắp các phòng máy trống rỗng, vắng vẻ. Những bước chân chúng tôi khua động như khua động trong một đền đài rộng lớn và chạy nhảy ở đó chán, chúng tôi lại ra sân cỏ múa may.

Chúng tôi đặt ra những trò chơi thích thú và thằng Cu Nghé đúng là mẫu người bạn lý tưởng của tôi. Nó mới mười hai tuổi mà mạnh như bò nhưng lại lùn như vịt và có tánh trung thành như con chó. Đã thế, nó lại có nhiều biệt tài và rất duyên dáng. Ông Cốm, cha nó đặt tên là Cu Nghé hẳn phải có một lý do chắc không ngoài lý do đầu nó trùi trụi như đầu con trâu con. Tôi thường cùng Cu Nghé chơi trò Tạc Dăng. Tôi làm Tạc Dăng. Nó làm thú dữ. Nó có thể giả tiếng thú dữ gầm thét, không biết ai dạy nó, đôi lúc nghe như thật, đến phát sợ.

Lẽ dĩ nhiên, người điều khiển trò chơi Tạc Dăng là tôi. Tôi làm Tạc Dăng dù chỉ biết độc mỗi tiếng hú mà mới nghe người ta tưởng chó điên tru ; còn Cu Nghé thì lúc làm cọp, lúc làm khỉ… nói chung là làm những con vật trong rừng và đôi khi nó vẽ mặt vằn vện để làm mọi.

Cứ thế, cả hai chúng tôi say sưa đùa chơi.

Chúng tôi muốn làm thực giống Tạc Dăng, thực giống mọi như tôi đã đọc trong sách vào những buổi tối. Kể ra trí óc tưởng tượng của tôi cũng phong phú lắm. Tôi cùng thằng Cu Nghé đã tự lột hết áo quần rồi lấy lá chuối khô đeo tòn ten dưới háng : như vậy, thoạt nhìn chẳng khác nào quấn khố da thú.

Tôi cũng đã tưởng tượng rằng khu vườn quanh xưởng thợ là một vùng thâm sơn cùng cốc và mỗi cái nhà là một hang động hoang vu.

Thằng Cu Nghé khâm phục tôi ra mặt. Nó vâng lời và kính trọng tôi y như là được vâng lời, kính trọng một kẻ siêu phàm. Tôi bắt nó làm gì nó cũng làm, dù là bắt nhận lãnh một nhiệm vụ hài hước nhất : Cỡi trên lưng nó, khớp cương vào miệng nó… Tôi là Tạc Dăng mà. Phải đóng vai bá chủ chứ. Phải tỏ mình có biệt tài… Nhưng thằng Cu Nghé lại cũng chẳng chịu kém. Nó đã làm tôi phát sợ mỗi khi cất tiếng gầm thét, không biết nó học ở đâu mà giống tiếng thú đến thế.

- Này, đừng làm giống thực quá tao ghê lắm. Tôi bảo nó. Vậy mà nó vẫn làm già. Nó nổi hứng dùng nhiều tiếng mà tôi chưa hề nghe, nhưng tôi cũng nói theo, lâu dần thành quen miệng cùng một lúc tính tình cũng thay đổi. Tôi bạ đâu nói đấy, lấc ca lấc cấc như những đứa trẻ lêu lổng ngoài đường phố. Và rồi một hôm – hôm đó đang ngồi trong bàn ăn – tôi buột miệng thốt ra nhiều câu tục tằn làm cả nhà sửng sốt. Mọi người đều quay lại nhìn tôi như nhìn một hiện tượng vô cùng quái gở.

- A… cái thằng này !

- Ai dạy mày thế hở ?

- Thôi nguy rồi. Quá lắm rồi. Phải gửi cho anh nó dạy nó mới được…

Và sau hôm đó, cha tôi đưa tôi đến anh Cả tôi, vị tu sĩ mà tôi rất kính mến.

- Này ! Anh Cả tôi bảo. Điều trước nhất là phải rửa tội. Em phải xưng tội, kể hết lỗi lầm đã mắc phải. Em hiểu chưa ? Em lớn rồi. Em đã đến tuổi có trí khôn rồi…

Thế là phải đến nhà thờ, một việc làm mà ai cũng cho là quan trọng. Riêng tôi, tôi cho đây là biến cố.

Tôi run run đặt chân vào phòng xưng tội và quỳ xuống. Tôi tưởng có thể chết đi được vì xấu hổ và vì sợ sệt.

Từ đó, ý nghĩ cần xa lánh thằng bạn Cu Nghé đến với tôi. Tôi quyết định không chơi với nó nữa. Tôi so sánh nó với quỷ sứ trong Thánh Kinh và khi về nhà gặp nó, tôi bảo :

- Tao thù mày lắm. Hãy đi đi. Tao không muốn thấy mặt mày. Đừng hòng rủ rê tao phạm lỗi nặng như vừa rồi…

Tội nghiệp, câu nói ấy đã làm Cu Nghé buồn. Nó đứng tiu nghỉu ở cửa, ánh mắt vừa van xin, vừa phân trần. Trong thâm tâm, tôi không dám nhìn nó, ấy vậy mà tôi vẫn nhìn, mà cứ mỗi lần nhìn thì nó lại cất tiếng giả tiếng thú rừng như điên, như dại, cốt để kêu gọi tôi, để tôi sẽ xoá bỏ ý định xa lánh nó, sẽ chơi lại với nó, nó cố gắng tác động tinh thần tôi bằng những tiếng gầm thét ấy, nhưng tôi không còn đủ can đảm tiếp tục trò chơi Tạc Dăng. Tôi lờ mờ thấy rằng hãy còn nhiều hình phạt nghiêm khắc khác đang chờ, nếu tôi cả gan tái phạm những lỗi cũ.

Tuy nhiên, thằng Cu Nghé thì vẫn tiếp tục gầm thét mãi. Nó gầm thét đến nỗi cha nó hết chịu nổi và để khỏi ồn ào trong nhà, ông liền gửi nó đi học nghề sửa chữa máy móc.

Mất trò chơi Tạc Dăng, mất thằng Cu Nghé, tôi như mất cả linh hồn, thực tuyệt vọng. Tôi không biết rồi đây sẽ kiếm đâu ra nguồn vui khác để quên đi sự buồn này. Chơi một mình thì chán quá. Đọc sách lại càng chán hơn và tôi băn khoăn, những băn khoăn lẩn quẩn không lối thoát.

Cuối cùng, không biết làm gì, tôi đành chơi với con két của chú Ba Tiết cho tôi.

Sở dĩ chú Ba Tiết cho tôi con két này vì nó học nói léo nhéo suốt ngày làm chú đâm bực, nhiều lúc đến nổi cáu.

Bây giờ, con két đã thế được thằng Cu Nghé, nhưng từ khi về tay tôi, nó lại không học nói nữa.

Suốt ngày, tôi cố gắng tập cho nó nói, nó vẫn không nói, thế có dễ ghét không, tức chết đi được.

Nhìn bộ tịch khinh khỉnh của nó trong chiếc lồng đẹp đẽ, tôi có cảm giác rằng nó cho tôi là con nít không biết gì.

Tôi lập đi lập lại câu “Hỡi Tạc Dăng đáng thương !” thì nó lại ngoảnh mặt đi chỗ khác, ra cái điều không tin là tôi đã từng làm Tạc Dăng đến thằng Cu Nghé phải khâm phục.

- Két ! Két ! Tôi sừng sộ với con két. Tao nói cho mày biết, chỉ cần cái búng tay của tao là mày sẽ chết không kịp ngáp con ạ !

Ấy vậy mà nó vẫn im lặng.

Thái độ im lặng của nó làm tăng sự ngột ngạt, lạnh lùng của những ngày tẻ nhạt mà tôi đang sống.

Thế rồi, một hôm, tôi dậy thực sớm, lặng lẽ bước ra khỏi nhà để dạo quanh khu vườn mà tôi đã từng gọi là thâm sơn cùng cốc. Những kỷ niệm bỗng sống dậy trong tôi. Tôi vừa đi vừa nhớ lại những lúc đùa giỡn, chạy nhảy với thằng Cu Nghé.

Bụi cỏ này, lùm cây này… Tất cả đều có bước chân chúng tôi giẫm qua.

Nhưng ngày ấy không còn nữa, tôi tiếc muốn khóc.

- Thôi nhé, vĩnh biệt !

Bất giác tôi thở dài. Câu nói đó tạo thành âm vang não lòng và tôi muốn quay về nhà. Tôi định chạy thật nhanh về nhà, nhưng mới dợm bước thì bất thình lình ở trước mặt có một tốp người xuất hiện. Họ toàn là người lạ làm tôi đâm hoảng. Tôi lật đật trốn trong lùm cây bông giấy để chờ họ đi qua và may là họ đi qua mà không thấy tôi.

Người hướng dẫn tốp người lạ mặt này là ông Cốm, gác cổng.

- Lạ nhỉ, ông Cốm đưa những người ấy đến đây làm gì ? Tôi tự hỏi.

Thắc mắc ấy trong tôi mỗi lúc mỗi lớn dần vì bọn người này lùng lội khắp nơi. Họ xem xét mọi vật kỹ lưỡng như những anh lái bò mua giống. Họ đã khuấy động cái thế giới huyền bí riêng tư của Tạc Dăng, của tôi. Thỉnh thoảng họ gật đầu ra chiều ưng ý lắm, nhưng tôi vẫn không hiểu họ muốn gì và nghĩ dại : hay là họ lùng kiếm mình ?

Tôi sợ quá. Tôi cố gắng nín thở, nằm im thin thít, mắt không ngớt theo dõi bọn người lạ lùng đó và thực là may mắn, cuối cùng họ bỏ ra về, không hề biết tôi có mặt ở đây.

Chiều lại, khi vừa ngồi vào bàn ăn, với giọng buồn buồn, cha tôi cho biết là cơ xưởng đã bán được rồi ; gia đình tôi, tháng sau, sẽ lên Saigon kiếm cách sinh sống.

Tin ấy đến với mọi người hình như không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng với tôi, kinh khủng quá. Tôi có cảm giác như đất trời sụp đổ. Tôi không tin đó là sự thật -- có thể tôi nghe lầm –

- Thưa cha, cha nói gì lạ thế ? Tôi hỏi lại.

- Hồi nãy giờ mày không nghe gì cả ? Xưởng mình có người mua được giá, tao bán rồi. Giọng ông gằn gằn.

Bây giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi sực nhớ đến bọn người khi sáng và đã hiểu tất cả.

- Trời ơi ! Trong thâm tâm tôi thảng thốt. Giang sơn của Tạc Dăng đã bị kẻ khác xâm chiếm ! Kỷ niệm ở đây còn nhiều quá ! Làm sao không luyến tiếc được. Tôi sẽ vĩnh biệt từ lùm cây, bụi cỏ trong vườn, từ viên gạch, từ kẹt cửa… trong những xưởng thợ, những nơi mà một thời đã được tôi đặt tên là rừng hoang, là hang động để làm cảnh cho vở kịch do tôi với Cu Nghé đóng vai chính : Vở kịch Tạc Dăng !

Tôi muốn nói một lời từ giã với tất cả : “Từ đây, chúng mình không thấy mặt nhau nữa !” vì thấy tất cả đều mang vẻ ủ rũ, đau xót.

Tôi nghĩ, chắc những kỷ niệm thân yêu ấy đang nói với tôi những lời thống thiết nhất bằng ngôn ngữ riêng và những ngày tôi chưa rời khỏi nơi đây, hẳn chúng nó thích được an ủi – Tôi là Tạc Dăng mà – Do đó, suốt ngày tôi lảng vảng khắp nơi. Tôi thì thầm với chúng nó như đối diện với lũ bạn thân.

Tôi lại nghĩ, trường hợp tôi hôm nay giống trường hợp Tạc Dăng viết trong truyện. Thỉnh thoảng Tạc Dăng cũng phải rời bỏ núi rừng và chịu đựng nỗi buồn trước cảnh chia ly. Tôi phải có thứ can đảm đó. Thế nào rồi cũng phải đi. Nhưng bên cạnh nỗi buồn này tôi bắt đầu lờ mờ hình dung rằng : Saigon sẽ cho tôi những khung cảnh hấp dẫn.

Gia đình tôi sẽ lên Saigon bằng tàu thủy. Đường thủy từ Châu Đốc đến Saigon chắc có nhiều điều mới lạ, chưa thấy, chưa biết vì lần đầu tiên tôi mới được đi xa như thế này. Tự nhiên, tôi đâm ra trông ngày ấy chóng đến.

Trong khi đó, cha tôi đã đến Saigon trước một tuần lễ. Ông đi trước để thu xếp nơi ăn, chốn ở và chở trước những đồ vật kềnh càng. Còn lại mẹ tôi, anh Giác, bà già An. Còn anh Cả tôi thì không đi, nhưng hôm chúng tôi đi, anh tôi cũng như ông Cốm đều tiễn đưa đến tận bến tàu. Ông Cốm đẩy một cái xe ba gác chở cả đống khăn gói, va ly, rương, thùng… từ nhà ra bến tàu và anh Cả tôi thì dìu mẹ tôi. Mọi người đều tỏ vẻ sầu não, chỉ có anh Giác tôi là khóc sướt mướt. Anh ấy đi dưới bóng dù của bà già An. Trông anh, tôi biết chắc là anh rất thích Saigon, ấy vậy mà anh vẫn khóc, thực kỳ cục.

Chúng tôi càng đi xa, nhìn lại càng thấy khu cơ xưởng như càng vươn cao, như muốn vẫy tay về phía chúng tôi và tôi không dám nhìn nữa. Tôi lẽo đẽo theo sau mọi người, xách kè kè cái lồng két với những thương tiếc ngậm ngùi. Tôi sẽ không thường gặp anh Cả tôi như những ngày qua nữa. Người anh quý mến ấy làm sao tôi quên được. Anh luôn luôn cho tôi tình thương đậm đà và sẵn sàng tha thứ tất cả.

Với trí óc non nớt của tôi, tôi không thể nào hiểu nổi tâm trạng của kẻ ở người đi, nhất là người lớn.

Tôi nhìn từng bộ mặt trong đoàn người di cư này vẫn không tìm thấy một thay đổi nào rõ rệt. Tất cả lầm lì, yên lặng như khó chịu về cái nắng oi bức làm nhễ nhại mồ hôi.

Riêng tôi, tôi vừa có cái băn khoăn cho số phận cơ xưởng của tôi bắt đầu vào tay chủ mới, vừa có cái háo hức sắp tới xứ lạ.

Tâm trạng của tôi là thứ tâm trạng buồn vui lẫn lộn giống như có lần chỗ tôi ở bị lụt, ai cũng trông nước mau rút; ngược lại, tôi thích trận lụt kéo dài để nước tràn vào vườn, tràn vào nhà, tràn vào khắp ngõ ngách, suốt ngày mọi người ngồi ru rú trên giường với chó với gà và tôi thì thả ghe giấy.

Lần đi này cũng vậy, xa những kỷ niệm thân yêu, tôi có buồn thực, nhưng khi thấy mọi người lăng xăng thu dọn đồ đạc, tôi lại vui. Không khí rộn ràng đó giá cứ tiếp tục xảy ra mãi thì tôi tha hồ chạy chơi mà không hề bị ai quở phạt. Đã thế, mọi người lại hình như có vẻ chìu chuộng, rộng rãi, cưng kiu tôi hơn. Tôi có thể được thoả mãn mọi đòi hỏi miễn là đừng làm phiền đến công việc của mọi người đang làm.

Ấy vậy mà, sự thương tiếc trong tôi vẫn có.

Tôi không tưởng tượng được khi mất hẳn những kỷ niệm thân yêu thì đau khổ đến mức nào, nhưng mơ hồ thấy rằng không gần gũi nó nữa chắc sẽ mất hết hứng thú, chắc tôi sẽ bơ vơ như bị bạn bè bỏ rơi kiểu thằng Cu Nghé hò hét một mình vì không được tôi hưởng ứng.

Rồi đây, khi đã đặt chân lên đất Saigon thì chắc là sự cô độc này sẽ rõ ràng hơn. Lạ cảnh, lạ người, không bạn bè, không thân thích, tôi sẽ thui thủi một mình và nhớ không sót một chuyện nhỏ nhặt nào đã xảy ra ở chung quanh cái thế giới Tạc Dăng ấy. Chắc tôi sẽ có dịp nghiền ngẫm những cử chỉ ngây ngô và ân hận về những hành động dại dột.

Bây giờ tôi mới hiểu rằng không có cuộc chia ly nào lại không buồn.

Mọi việc xảy ra dồn dập, không kịp để suy nghĩ, chúng tôi xuống tàu và kéo dài cuộc hành trình đến những ba ngày lênh đênh trên mặt sông với cái náo nhiệt trên tàu : đoàn thuỷ thủ, hành khách, tiếng động cơ, tiếng còi máy, viên thuyền trưởng tên Lê Niên, người đầu bếp tên Lý Mạc… Những thứ đó xoáy sâu vào cảm giác tôi, có lẽ đến chết vẫn còn nhớ.

Tôi ngồi tại mũi tàu -- Suốt ngày tôi ngồi ở đó, trừ giờ ăn và giờ ngủ -- gần chiếc dây neo, gần chỗ treo cái chuông báo hiệu mỗi khi tàu vào bất cứ thành phố nào, và ngồi giữa một đống dây chất ngổn ngang để nhìn cảnh vật chung quanh.

Tôi đặt cái lồng chim két vào giữa hai đầu gối và nheo mắt nhận định bóng lờ mờ của hai bờ sông.

Dòng An Giang quá rộng, nhưng không thoả mãn, lòng tôi vẫn ao ước nó rộng hơn nữa, rộng lớn như đại dương để có cảm tưởng mình là Kha Luân Bố đi tìm Tân thế giới.

Tôi ngửa mặt đón gió mát.

Những con thuyền xuôi gió chạy rẽ nước như mũi dao bén nhọn rạch tấm thảm xanh, và sóng nước nhấp nhô như những ngón tay dài trên dương cầm.

Một vài con thuyền băng ngang sông chở mấy người trai đánh cá giơ tấm lưng trùng trục tắm nắng, đôi cánh tay trần, bắp thịt nổi từng cuộn, vừa chèo, vừa hát hò, vô tư…

Thỉnh thoảng, con tàu mang chúng tôi lại phải chạy dọc theo một cồn đất giống như một hoang đảo, cây cối um tùm.

- Trời ơi ! Tôi buột miệng. Không chừng giang sơn này là của Tạc Dăng.

Và cứ như thế, tôi bị trời nước bao la cuốn hút. Tất cả đều mới lạ, đều hấp dẫn, say mê.

Đối với tôi, đó là chuyến đi cho tôi nhiều thích thú nhứt, những thích thú bất ngờ vì cái gì cũng làm tôi ngạc nhiên.

Thế rồi, cuối ngày thứ ba, trời đang sáng bỗng nhiên sương mù giăng dầy đặc, trước mũi tàu một ngọn đèn dầu rất lớn được thắp lên để soi lối đi. Cảnh tượng ấy thoạt nhìn như có vẻ huyền bí đến phát sợ và làm tôi hoang mang.

- Đến Saigon rồi bà con ơi ! Tiếng reo đó vang bên tai tôi cùng một lúc tiếng chuông rung liên hồi.

Thì ra, con tàu đã vào thành phố. Và tôi bắt đầu lấy lại bình tĩnh.

Tôi nhìn qua lớp sương mờ có ánh đèn chiếu lập loè dọc hai bên bờ sông.

- Chắc đó là Saigon . Tôi lẩm bẩm.

Lòng tôi bấy giờ nghe rộn rã lạ thường.

Trên tàu, mọi người chen nhau tìm hành lý, lao xao, ồn ào như chợ vỡ và các thuỷ thủ thì làm việc không ngừng. Họ vừa lăn mấy cái thùng tô nô vào một góc tối, vừa điều khiển ống khói hạ thấp xuống mỗi khi tàu chui qua một gầm cầu, nhả từng luồng khói đen đặc, nghẹt thở, gắt cổ đến phát ho. Tất cả hỗn độn không tưởng tượng được. Đã vậy, tự nhiên, trời lại nổi cơn mưa.

Tôi vội vã đi kiếm mẹ tôi.

Tôi phải khổ cực lắm mới đến được mũi tàu phía bên kia vì mẹ tôi đang đứng ở đó với anh Giác, bà già An và đúng lúc ấy thì tàu cập bến.

Chúng tôi xúm xít nhau dưới cái dù của bà già An, ngơ ngác chưa biết phải làm gì khi hành khách đã lũ lượt lên bờ.

Tôi định hỏi mẹ tôi “mình cũng lên chứ mẹ ?”. Nhưng chưa kịp hỏi thì có tiếng cha tôi gọi, không biết ông đi đón từ lúc nào.

- Mẹ con nó ơi ! Tiếng gọi ấy không khác nào vị cứu tinh. Chúng tôi mừng ra mặt.

Cha tôi len lỏi giữa đám người đang rời con tàu để tiến về phía chúng tôi.

- Mệt không ? Đó là câu hỏi đầu tiên của ông khi ôm nhẹ chúng tôi vào lòng.

- Thôi, về nhà rồi hãy nói chuyện. Này… hãy đi theo tôi. Cha tôi nói với mẹ tôi, với bà An, rồi một tay nắm tay anh Giác, một tay nắm tay tôi mà dắt đi. Coi chừng trợt đấy !

Mà thật, cầu tàu trơn ướt, chúng tôi đi thực cực nhọc, và trời lại tối, mỗi bước đi thỉnh thoảng lại vướng phải mấy cái thùng để bừa bãi.

- Này… Phải cẩn thận kẻo té ! Cha tôi lại ra lệnh.

Đàn ông có khác, tôi nghĩ, hành động đàn ông bao giờ cũng đáng tin cậy, những ý nghĩ này bỗng bị đứt quãng vì tiếng kêu réo ở trên tàu.

- Tạc Dăng ! Tạc Dăng !

Tôi giựt mình. Đúng là tiếng một con chim học nói, con két của tôi. Tôi cố rút tay ra khỏi tay cha tôi để chạy lại tìm nó. Khổ nỗi, ông tưởng tôi trợt chân nên càng giữ chặt tôi hơn và tiếng kêu réo đó lại dữ dội hơn.

- Tạc Dăng ! Tạc Dăng ! Hỡi Tạc Dăng đáng thương !

- Trời ơi, con két của tôi. Tôi bỏ quên con két. Bây giờ thì tôi không thể im lặng được nữa. Tôi vùng khỏi bàn tay cha tôi và la to lên như thế.

- Hả ? Bữa nay nó biết nói rồi hả ? Anh Giác tôi cũng quýnh lên, anh hỏi dồn với đôi mắt mở lớn.

- Làm cái gì ồn thế ! Cha tôi rầy át đi rồi trấn an. Mai hãy lại tìm nó. Đồ đạc bỏ quên trên tàu không bao giờ mất đâu mà sợ. Cha tôi nói chắc phải đúng, tôi tin vậy. Hơn nữa, viên thuyền trưởng Lê Niên đã ra lệnh thuỷ thủ nhổ neo gấp và chúng tôi cũng đã đi khỏi bến tàu quá xa rồi.

Ấy vậy mà, tôi vẫn khóc sướt mướt. Linh tính cho tôi biết không bao giờ còn gặp con két ấy nữa.

Mà thực, con két ấy đã vĩnh biệt tôi thực.

Sáng hôm sau trở lại tìm nó, không thấy nó đâu cả, tôi đau khổ vô cùng.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 11322
Points : 14781
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh   Thu May 11, 2017 5:16 pm

Chương 02

Từ một đứa bé đang sống trong một ngôi nhà bốn từng, một cái vườn rộng, một khu xưởng thợ to lớn -- một nơi đã từng được tôi tưởng tượng là thế giới riêng rẽ của Tạc Dăng -- đến hôm nay lại phải chui rúc ở căn nhà chật hẹp, ẩm thấp, tối tăm, dơ bẩn nằm trong con hẽm của đường Năng-xy này, tôi biết không còn gì hy vọng giữ lại những nguồn vui đã qua.

Thằng Cu Nghé đã xa tôi, bây giờ đến lượt con két xa tôi, còn ai nữa mà chơi với tôi chứ ?

Tôi đã xa tất cả và tất cả đã xa tôi.

Cha tôi đưa chúng tôi về căn nhà đó, tất cả đều có cảm tưởng như bị xô đẩy vào ngục tù.

Bộ mặt tráng lệ của Saigon đã che đậy những ổ chuột và nhà tôi là một trong những ổ chuột đó. Cái sân sũng nước, cái gác ọp ẹp, vách ván, mái tôn, không cửa hậu, không cửa sổ, ra vào chỉ độc có cửa chính như chui qua cửa hang. Người hàng xóm ở đối diện là anh thợ đóng giày, mình mẩy lúc nào cũng nhầy nhụa mồ hôi ; và bên cạnh là tiệm chạp phô ở đối diện với cái giếng bơm nước… Thực là kỳ cục, sự sắp đặt nhà cửa trong xóm này không hề theo một tổ chức, trật tự nào cả, ai muốn làm gì thì làm. Nhiều cái nhà lấn hết nửa con hẻm, thành thử con hẻm càng ngày càng chật và quanh co.

Hôm mới đến, cảm giác đầu tiên của tôi là như lạc vào mê hồn trận. Tôi băn khoăn không biết làm sao nhớ hết những lối đi ngoằn ngoèo và những số nhà phức tạp, dài dòng, chồng chất số này trên số kia.

Mấy đứa trẻ quanh xóm, thấy chúng tôi, mắt đứa nào đứa nấy thao láo, miệng mồm há hốc, đứng ở cổng nhìn vào như nhìn một đoàn xiếc dạo… Ôi, kể làm sao cho hết những nỗi bực mình. Đã thế, khi bà già An dọn dẹp dưới bếp, bỗng hét lên :

- Ối ! Ối ! Gián !

Bà làm như cháy nhà đến nơi không bằng, nhưng cả nhà chỉ nghe hét chứ không nghe nói vì tiếng hát ở máy thu thanh khắp nơi đã làm át đi. Tôi không hiểu họ thưởng thức âm nhạc bằng kiểu gì mà lạ vậy ? Ở đâu cũng mở máy lớn, léo nhéo suốt ngày, chỗ thì vọng cổ, chỗ thì tân nhạc, chỗ thì nhạc ngoại quốc,,, Đúng là một cuộc đại hòa tấu “Tả-Pí-Lù”, đinh tai, nhức óc và điên đầu.

Tuy nhiên, những thứ ấy, lâu dần rồi cũng quen đi, chứ không như loài gián, cái loài thực khó chịu, bay đáp vào mặt, vào tay , nhột nhạt bắt rởn da.

Và đúng như bà già An đã phát giác, nhà tôi bị nạn gián khủng khiếp ấy. Chúng nó xuất hiện khắp các ngõ ngách, trên tường, trong hộc tủ, trên bếp, trên cũi đựng đồ ăn, mặc dù bà An đã cố gắng đập chết rất nhiều và nhét kín lỗ then cửa là nơi chúng nó trú đóng để làm những cuộc hành quân phong toả qui mô. Nhưng vô ích, chúng nó chỉ chịu thua một hôm. Hôm sau chúng nó vẫn tái diễn, vẫn kiếm cách bò ra và bay lung tung, không một ai trị được.

Cứ thế, chúng tôi bỗng trở thành những tay sát sinh rất cừ, thấy gián là giết, ấy vậy mà chúng nó vẫn còn, không hiểu chúng nó kéo nhau từ đâu đến mà nhiều đến thế. Tôi ước gì có một bầy thạch sùng để nghinh chiến với chúng nó.

Tôi nghĩ, loài người thường tự hào đóng vai bá chủ nhưng không diệt được loài gián là nghĩa làm sao ? Tôi bắt đầu có ác cảm với Saigon vì loài gián ấy và từ đấy tôi có ấn tượng xấu về Saigon vì dân Saigon thường chế giễu chúng tôi nói con cá rô ra con cá “gô”. Họ bất lịch sự quá. Họ đã làm chúng tôi thay đổi nếp sống xưa cũ. Buổi sáng mới 5 giờ đã om sòm tiếng rao quà vặt và tối lại họ thức quá khuya, xe cộ chạy ầm ĩ, guốc dép khua động ồn ào, chó sủa suốt đêm. Tội nghiệp nhất là bà già An, mỗi khi đi chợ đều bị trả hớ. Họ nói thách không biết đâu mà mò giá cả.

Tôi luôn luôn có cảm giác là mọi người đang rình rập để hại nhau. Mỗi người đều mang một bộ mặt xa lạ, đáng ghét. Có lẽ họ biết chúng tôi ở dưới quê mới lên và vì thế mà chúng tôi buồn.

Chúng tôi sống trong sự cô độc đó. Thỉnh thoảng, gia đình chúng tôi rủ nhau xuống bờ sông Saigon hóng gió, đi dọc theo bờ sông và hướng về phía Châu Đốc.

Mẹ tôi buồn bã nói :

- Chỉ có xuống đây mới thấy gần gũi quê hương mình trong chốc lát mà thôi. Nhưng thực ra, những lần đi chơi như vậy cũng chẳng đem lại thú vị gì cho ai cả.

Mẹ tôi vẫn giữ nét buồn bã.

Cha tôi thì mang thái độ hằn học.

Anh Giác tôi thì khóc, không biết anh ấy khóc vì nhớ nhà hay vì sợ đám đông đang vây bọc chung quanh, toàn là người lạ.

Còn tôi thì muôn đời vẫn lủi thủi nối gót theo sau mọi người, không dám ngước mặt lên – không hiểu sao ở đây, mỗi khi ra đường tôi cảm thấy thèn thẹn. Tôi mang cái mặc cảm chúng tôi đều dốt nát, quê mùa và nghèo hèn. Cái gì đối với tôi cũng bí mật, nhưng không dám tò mò hỏi ai cả. Tôi sợ hỏi ra chẳng những không được giải thích mà còn bị chế riễu kiểu bà già An hỏi mua chai bia liền bị người chủ quán hỉnh mũi lên cười, ý hẳn người chủ quán chỉ biết la-ve chứ không biết bia, trừ thứ bia-lây. – Ôi, thật là nhiêu khê, đến cái tên món đồ cũng không biết gọi thế nào cho đúng.

Thôi thì đành im lặng vậy.

Nhưng im lặng rồi cũng nguy hiểm như lần tôi vào tiệm hớt tóc, người thợ hỏi : - Cậu muốn hớt kiểu gì ?

Tôi lúng túng và không trả lời.

Cuối cùng người thợ cũng phải chịu khó hớt xong cái tóc của tôi và kết quả là đầu tôi trọc như một anh lính Nhựt.

Tôi ngượng chín cả người.

Thế rồi, một tháng sau, bà già An bỗng lâm bệnh. Khí hậu ở Sàigòn hình như không phù hợp với những người già cả và bà già An bệnh mỗi ngày mỗi nặng, ai cũng sợ bà chết, nhưng không phải sợ bà chết rồi sẽ không kiếm đâu ra người giúp việc, chúng tôi chỉ sợ là không có đất để chôn.

Ở Sàigòn này, sống cũng khổ mà chết cũng khổ. Người sống kiếm không ra nhà ở, có nhiều gia đình phải ở chung một nhà với những gia đình khác. Mỗi lần nhìn vào một cái nhà được ngăn làm nhiều căn phòng bằng những tấm vải nhựa, trong ấy lúc nhúc trẻ con, người lớn, đồ vật chồng chất ngổn ngang, tôi có cảm tưởng loài người vẫn còn sống ở thời kỳ bán khai. Tuy nhiên, thế vẫn còn sướng hơn người chết. Mỗi lần có người chết là y như mỗi lần phải chạy áp-phe để tìm một lỗ huyệt, bất kể tốt xấu, nhiều khi đào huyệt đúng ngay cái mả cũ, ván hòm hãy còn nguyên nên mùi tử khí hãy còn xông lên hăng hắc.

Trường hợp này đã làm tôi tủi thân vì nghĩ một ngày nào đó mình cũng phải chịu rơi vào số phận đó, và chắc mọi người cũng đều nghĩ như tôi vậy nên tức tốc chở bà già An về quê mặc dù bà ta rất mến mẹ tôi.

Hôm đưa bà An xuống tàu về Châu Đốc, bà cứ nằng nặc đòi ở lại và hứa sẽ không chết. Bà An làm như sự chết sống đều do bà quyết định không bằng. Ấy vậy mà bà An không chết thực, dù bà không được ở lại với chúng tôi và về đến Châu Đốc được ít lâu thì bà có chồng. Nghe đâu vợ chồng bà An phải sống chật vật lắm. Nghe vậy, tôi càng thương bà ta nhiều hơn.

Lúc nào tôi cũng nhớ đến bà An. Sự vắng mặt của bà An trong gia đình chúng tôi không như tôi phải xa thằng Cu Nghé nên ai cũng luyến tiếc, nhắc nhở. Vả nữa, bà An đi rồi là mẹ tôi phải lo việc nấu nướng, suốt ngày quanh quẩn trong bếp, tay chân đen đủi, không còn thì giờ săn sóc tôi nữa. Còn anh Giác thì phải đảm đang công việc lặt vặt trong nhà. Cha mẹ tôi sai bảo anh đủ chuyện, giao cho anh cái thúng nho nhỏ, bảo bưng đi mua thứ này thứ nọ và lẽ dĩ nhiên là anh vừa đi vừa khóc. Tôi trông anh đần độn thêm ra và bắt đầu từ đó, chắc chắn là anh không có một phút vui sướng nào.

Cha tôi thấy anh sụt sùi mãi lại đâm bực. Ông gắt gỏng, đánh đập anh y như đối với một đứa con ghẻ trắc nết nên bị hất hủi.

- Giác ! Giác ! Ông hét lên. Ngu ơi là ngu. Sao mày ngu thế ? Đồ vô tích sự…

Do đó, mỗi khi thấy cha tôi là anh đã khiếp sợ, tìm cách lẩn trốn, cố giữ nước mắt không trào ra, nhưng càng cố gắng như thế trông anh càng thiểu não hơn và trở nên lừng khừng, thảm hại.

- Này Giác ! -- Một hôm mẹ tôi gọi. Hôm đó mọi người đang ngồi vào bàn ăn khi trong bình chưa chế nước – Con chịu khó chạy xuống bếp xách ấm nước chế vào bình để tí nữa ăn xong có nước uống, đi con !

Anh Giác sốt sắng :

- Dạ !

Nhưng cha tôi vội cản lại :

- Bảo thằng Giác đi xách ấm là nó đập ấm cho mà coi.

- Cái ông này… Ý hẳn mẹ tôi muốn trách cha tôi sao quá nghiêm khắc, rồi quay sang anh Giác, ôn tồn :

- Nhớ cẩn thận, nghe con !

Cha tôi cười chế riễu :

- Vô ích, dù bà có năn nỉ đừng làm bể, nó vẫ làm bể như thường.

- Thế nghĩa là ba muốn con làm bể ? Anh Giác đứng lại và ngớ ngẩn hỏi.

- Sao mày ngu thế hở ? Cha tôi lại quát. Tao có nói muốn mày làm bể cái ấm bao giờ đâu ? Tao chỉ sợ mày làm bể cái ấm thôi ! Ông nhấn mạnh và kéo dài câu này.

- Dạ, con hiểu ! Anh Giác trả lời. Giọng anh run run. Chắc trong anh đang mang ý nghĩ : “Ừ, quả mình ngu thực. Cha mình đã sợ tức biết trước sau gì mình cũng làm bể cái ấm… “. Nhưng vẫn xuống bếp. Anh lửng thửng như người mất hồn và hai phút… năm phút… mười phút… anh ở biệt luôn dưới.

- Lạ chưa ! Mày làm gì ở chết dưới ấy hở Giác ? Mẹ tôi cũng bắt đầu đâm bực.

- Thì tôi đã bảo, còn không nghe. Bà xuống dưới xem nào… Mà thôi, để tôi đi cho.

Tôi biết, tuy nói vậy, nhưng cha tôi cũng nóng ruột. Có lẽ chẳng những ông sợ anh Giác đập bể ấm mà còn sợ anh ấy bị phỏng nước sôi nữa là đằng khác.

Trên nét mặt ông, tôi bắt gặp thoáng chút hối hận.

Ông vội vã xô ghế đứng dậy rồi đi thẳng về phía bếp.

- Giác ! Giác ! Cha tôi gọi.

- Dạ… Tiếng “Dạ” ngập ngừng phát ra từ kẹt cửa.

- Thế nào, mày làm bể ấm rồi hả ?

- Dạ ! Anh Giác lại dạ.

- Ra đây tao bảo !

- Dạ ! Anh Giác riu ríu vâng lời.

Tôi tưởng lần này anh Giác sẽ bị trận đòn đau ; ngược lại, cha tôi chỉ nhìn anh như xem xét một đồ vật rồi lắc đầu ngao ngán :

- Bà thấy không, tôi nói không sai… Ông nói với mẹ tôi. May là nó không bị phỏng nước sôi.

Và câu chuyện này bỗng thành một huyền thoại trong nhà.

Cứ thế, gia đình chúng tôi ở Sàigòn với nhịp điệu buồn tẻ ấy, không ai biết chúng tôi là ai. Ở đây hình như mọi người chỉ biết có tiền. Cựa đến cái gì cũng tiền. Đồng tiền trên cửa miệng. Đồng tiền trên tay. Đồng tiền ở khắp các ngõ ngách. Đến nỗi ai mà nói đến chuyện nhân nghĩa đều bị coi là kẻ dại dột nhất.

Do đó, tuy lên Sàigòn đã hai tháng mà cha mẹ tôi vẫn chưa đề cập đến việc cho tôi và anh Giác đi học. Sàigòn có nhiều chuyện tréo cẳng ngỗng như vậy đó. Đáng lẽ chỗ đô hội, văn minh có nhiều phương tiện, nhất là phương tiện học vấn cho con em thì ngược lại, vô trường công phải có đủ điều kiện tuổi tác, hoàn cảnh gia đình, nộp đơn sớm v.v… toàn những phiền phức rắc rối, nên chẳng mấy ai được hưởng quyền lợi đó. Đã thế, trường công lại ít. Có trường lại không có đủ phòng để chứa học sinh nên mới có cảnh nhiều lớp phải học chung một phòng bằng cách chia ra nhiều “suất”, kể cả suất trưa. Ai mà có con em đi học suất trưa là kể như phải lo thuốc trước vì mất ăn, mất ngủ, đi dưới nắng trưa từ nhà đến trường làm sao trẻ nhỏ không bệnh ? Còn vào trường tư thì tương đối được dể dãi hơn, vệ sinh hơn nhưng phải đóng học phí và phần đông lại nhằm mục đích thương mại hơn là giáo dục.

Cuối cùng, một giải pháp rất thích hợp được cha mẹ tôi nghĩ đến và thực hiện là gửi tôi cùng anh Giác vào ký nhi viện.

Lẽ dĩ nhiên, ký nhi viện không phải là trường học. Suốt ngày chúng tôi chỉ tập hát, được dạy bảo một vài phép tắc xã giao, lễ độ thông thường rồi chơi. Thực không có gì sướng cho bằng, tôi nghĩ vậy. Trong trí óc non nớt của tôi, tôi mong rằng được ở đây suốt đời để khỏi bị nhét vào đầu những chữ nghĩa rắc rối, những con toán khúc mắc, nhưng khổ nỗi ước muốn ấy lại bị cắt đứt nửa chừng ! Một nguời bạn của cha tôi làm hiệu trưởng một trường trung học, không biết đã can thiệp bằng cách nào mà gửi thư cho biết vừa giành một học bỗng tại trường công lập Sàigòn để giúp đỡ tôi hoặc anh Giác.

Được tin này, cha mẹ tôi mừng lắm.

Cha tôi quyết định. Ông nói :

- Học bỗng này cho Lênh Đênh hưởng.

- Còn thằng Giác ? Mẹ tôi phân vân.

- Thằng Giác hả ? Ồ… thằng Giác ngày trước đã có tới trường chút đỉnh rồi mà. Vả nữa, bây giờ tôi cần nó ở nhà giúp đỡ công việc. Nó vậy chớ xem ra có khiếu thương mại đấy. Tôi sẽ huấn luyện nó trở thành một nhà doanh thương…

- Ông nói sao ? Mẹ tôi mở tròn mắt, ngạc nhiên. Thằng Giác mà có khiếu thương mại ?

- Chớ còn gì nữa ? Bà cho tôi nói bậy à ? Tự nhiên giọng cha tôi hơi gắt.

- Ờ nhỉ ! Mẹ tôi đâm hoảng vì ý nghĩ đã chạm đến tự ái cha tôi. Kỳ thực bà không hiểu cha tôi xét đoán thế nào mà tuyên bố như vậy.

Còn tôi, tôi lại nghĩ chắc tại anh Giác nhiều nước mắt và chắc nước mắt có nghĩa tương tự với hai chữ thương mại nên thay vì nói có khiếu nước mắt, cha tôi nói có khiếu thương mại. Và chuyện ấy không dính dấp gì đến tôi. Điều mà tôi đang lo là phải đến trường với cái áo bà ba và quần đùi. Ở Sàigòn, trẻ con đến trường đều mặc sơ-mi, quần soọc; chỉ có bọn đánh giày, bán cà rem hay trẻ con lang thang ngoài đường mới ăn mặc lôi thôi. Khổ nỗi, ngoài bộ đồ ấy, tôi lại không còn một bộ đồ nào khác lành lặn hơn. Thế là, dù có lo lắng đến đâu cũng không có cách gì để khỏi mặc cái áo bà ba với cái quần đùi kỳ cục ấy. Khi vào lớp, học trò đã nhìn tôi như nhìn một hiện tượng quái gở. Tôi biết là tôi đã thành một đề tài ly lỳ, đáng khai thác.

- Kìa nó mặc áo túi ! Chúng nó khúc khích, thầm thì với nhau. Cả đến ông thầy, trong ánh mắt ông hình như cũng nói lên câu đó. Tôi chắc ông đã thấy sự nghèo khó của gia đình tôi qua chiếc áo nên không dấu được cái nhăn mặt chua xót. Và ông giám thị thì lại luôn luôn tỏ vẻ khó chịu, nếu không nói là có ác cảm. Lúc nào ông cũng gọi tôi : “Ê ! Chú kia ! Chú bé Lểnh Đểnh”, Mặc dù tôi đã cố gắng nhiều lần, lễ phép thưa : “Dạ thưa thầy, con tên là Lênh Đênh !”

- Lênh Đênh hả ? Ông nói lại rồi cười hô hố. Lênh Đênh, Lểnh Đểnh cũng rứa, có gì mà cải chính.

Do đó, học trò đều gọi tôi là “Chú bé Lểnh Đểnh”. Tôi nghĩ mà giận cho cái áo túi. Vì cái áo túi nên mới có cái tên xấu xí ấy !

Đã thế, tôi lại còn có nhiều khác biệt với học trò ở đây nữa. Chúng nó đứa nào cũng mang cặp da, xách bình mực có quai, sách vở mới tinh. Còn tôi không có cặp da chỉ có miếng vải dầu bọc sách vở và bình mực là cái chai nhỏ, thấp, miệng rộng do anh Giác tôi kiếm cho. Thêm vào đấy, sách vở tôi đều rẻ tiền. Vở thì giấy đã ngả màu, mua ở mấy hàng bán “xôn”. Sách cũng vậy. Sách mua ở những nơi người ta bày bán dưới hè phố, rách nát, mốc meo, hôi hám, long gáy, có quyển thiếu cả mấy trang chắc đã bị xé hoặc rụng mất -- Về nhà anh Giác chịu khó đóng lại bìa cứng nên dùng được nhưng vì những cái bìa cứng ấy do anh Giác dán mà lại dán quá nhiều hồ thành thử trông thô kệch, thảm hại. Về sau anh còn dán cho tôi cả một cái cặp có nhiều ngăn y như cái các-táp, nhưng lại cũng dán quá nhiều hồ nên những bìa sách và cái cặp của tôi hoá ra chỗ dự trữ lương thực cho loài gặm nhấm. Thỉnh thoảng, không biết chuột hay dán cứ móc từng mảnh giấy lớn làm anh Giác tôi phải đi khuấy hồ dán lại và công việc này biến anh ấy thành một người thợ mã. Dần dần, anh có cả một bộ đồ nghề gồm kim, chỉ, kéo, giấy và một số chai đựng hồ đặt trước bếp lửa. Anh đã làm công việc này ngoài những giờ cha tôi sai đem hàng ra phố hoặc bắt biên chép việc thu chi, lời lỗ, nợ nần vào sổ tay và mẹ tôi sai đi mua thức ăn hoặc mua đồ dùng trong nhà. Tội nghiệp cho anh ấy. Suốt ngày, ít khi tôi thấy anh rảnh tay. Có lẽ đó cũng là một cách cha tôi huấn luyện để anh Giác trở thành nhà doanh thương tương lai. Và bây giờ khiếu thương mại của anh được phát hiện bằng công việc dán bìa. Như một thói quen, lúc nào anh cũng dán bìa như anh đã thường khóc một cách dễ dàng. Tôi nghĩ vậy.

Còn tôi không được cái may mắn như các bạn học thì phải làm một cái gì nổi bật để người ta khỏi chế giễu gọi tên “Chú bé Lểnh Đểnh”. Cuối cùng tôi quyết định : Phải học thật giỏi ! Phải cố gắng học thực nhiều !

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 11322
Points : 14781
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh   Thu May 11, 2017 5:16 pm

Chương 03

Cha tôi thường bảo rằng “chiếc áo không làm nên ông thầy tu” rồi giảng nghĩa hàng giờ về phương ngôn ấy.

Bây giờ đem trường hợp của tôi gán ghép vào đó, thực không có gì đúng hơn.

Bọn học trò đã chế diễu chiếc áo túi của tôi, nhưng chắc chắn chúng sẽ khâm phục khi biết sau lớp áo túi ấy có một con người luôn luôn cố gắng học hành và học giỏi.

Mà thật, tôi đã cố gắng học không kể đến giờ giấc, không nghĩ đến chuyện vẩn vơ. Tôi đã có can đảm thức khuya, chống lại cơn buồn ngủ bằng xác chè đắp lên mắt và chống lại muỗi Sàigòn nhiều như cát vãi -- bằng cách cuộn chân trong mền dù tiết trời nóng bức.

Mẹ tôi nhìn tôi cười hài lòng, ngồi xuống bên cạnh :

- Nực không con ?

- Dạ không ! Dạ quen rồi !

Và tôi nghe tiếng thở dài của bà.

Tôi chắc bà đang tiếc nuối những ngày sung sướng đã qua và nghĩ đến quê hương, nghĩ đến một ngày nào đó tái lập được sự nghiệp sẽ trở về thành phố Châu Đốc nhỏ bé, thân yêu.

Nói đến mẹ, tôi tin rằng người mẹ nào cũng có nét dịu hiền, đáng kính bất diệt.

Trong một bài nào đó có đoạn nói về tình yêu mẹ “… Ta yêu mẹ hầu như không thấy được. Tình yêu ấy rất bao la, chỉ khi mẹ ta mất đi mới thấy nó to lớn dường nào…” Ai viết bài đó, tôi không nhớ, người ấy quả đã có một nhận xét sâu sắc cũng như người đã viết nên bài thơ “Cảnh vui nhà nghèo” có hình ảnh mẹ với vẻ đẹp thần thánh :

Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa

Mẹ trông con đứa đứa về lần

Xa xa con đã tới gần

Các con về đủ quây quần bữa ăn,

Cơm dưa muối khó khăn mới có

Của không ngon nhà khó cũng ngon…

Và mẹ tôi cũng đã thể hiện được hình ảnh ấy bằng hành động. Bà thường đón tôi tận ngoài ngõ vào những giờ tan học.

Nhưng rồi một hôm, hôm ấy sau khi tan học tôi bị mấy thằng bạn rủ chơi mải mê nên về trễ. Tôi phải cắm đầu chạy như điên, sách vở dắt trong lưng quần, bình mực bỏ túi, vành mũ cắn chặt giữa hai hàm răng rồi chạy một mạch về nhà với hy vọng sớm được chút nào hay chút ấy để nếu có bị quở mắng thì cũng quở mắng ít thôi. Và khi chạy tọt vào đầu thang gác, tôi mới sực nhớ hôm nay không có mẹ tôi đón ở ngõ như mọi lần.

Tôi đâm hoảng. Linh tính cho biết đã có biến cố xảy ra. Cùng một lúc, tôi lo lắng về việc chưa bịa ra được lý do về trễ để giải thích với cha tôi – Tình thế bắt buộc phải nói dối mà – Có điều phải nói dối thế nào cho có lý. Tôi loay hoay mãi với vấn đề đó nhưng vẫn không tìm ra một chuyện có lý thì cha tôi hiện ra ở khung cửa và thật là lạ lùng, thay vì la rầy, ông nhìn tôi buồn buồn :

- Hôm nay sao con về trễ vậy ? Ông trách móc nhẹ nhàng rồi ôm tôi vào lòng nựng nịu rất lâu. Ông nói : Lênh Đênh ơi ! Anh Cả con bệnh nặng. Mẹ và anh Giác về dưới thăm rồi…

- Trời ơi ! Anh Cả con bệnh nặng à ? Tôi thảng thốt kêu lên. Bệnh thế nào cha ? Tôi gỡ vòng tay ông và hỏi dồn dập.

- Cũng không nặng lắm đâu. Ông trấn an tôi. Chắc ông thấy tôi run rẩy, mặt biến sắc. Tin tức thì vậy nhưng cha đoán có lẽ chỉ cảm xoàng và vì nhớ mẹ nên nói cho to chuyện để mẹ con về dưới gần anh con ít bữa, thế thôi.

Tuy vậy, tôi cũng chưa yên tâm. Hình ảnh anh ấy chập chờn trong trí óc và tôi thấy nhớ mẹ. Tôi ân hận đã về trễ. Nếu tôi về sớm có thể là được tiễn bà ra bến xe. Kỳ thực tôi không biết bà đi lúc nào. Tâm trạng của tôi bây giờ vô cùng hoang mang. Mới vắng mẹ một hôm mà như thấy bị đánh mất một cái gì quý báu nhất trong đời.

Ngồi lại bàn ăn nhìn về phía mẹ tôi ngồi, lòng tôi bỗng quặn thắt, thường ngày bà vẫn ngồi đó và gắp thức này thức kia cho tôi, cho anh Giác.

Có bà trong nhà, không khí gia đình ấm cúng rất nhiều. Những tiếng nói, những bước chân, những dáng điệu mềm mại, những cử chỉ săn sóc của bà như dòng suối mát trưa hè.

Tôi thường nằm bên cạnh mẹ tôi để nghe bà kể chuyện đời xưa, chuyện bà thuở còn bé. Giọng bà đều đều, dịu ngọt như lời ru. Sau đó, tôi đã ngủ bình yên trong lòng bà, ngoan ngoãn, hiền lành hơn bao giờ hết.

Tự nhiên, một so sánh ngộ nghĩnh đến với tôi : lúc này tôi như đứa trẻ vừa bị bỏ bú, ngẩn ngơ và buồn bã.

Ấy vậy mà, khi có bà ở nhà, tôi lại chẳng bao giờ nghĩ đến điều ấy và bây giờ nghĩ nếu bà chết chắc tôi có thể chết theo được ! Cuộc đời tôi trong tay bà. Một lời an ủi, một tiếng khen, một câu trách móc… tất cả tuy tầm thường, vẫn làm tôi xúc động, cho tôi niềm tin và nghị lực.

Bây giờ, bà đi rồi, tôi hoàn toàn cô đơn và cầu mong anh Cả tôi mau mạnh để bà kết thúc chuyến đi thực sớm…

Cứ thế, tôi nghĩ lung tung, quanh quẩn, những ý nghĩ không thành vấn đề cho đến mãi khi ăn cơm xong thì trời cũng vừa tối, đèn được thắp lên. Trông ánh đèn vàng vọt tỏa trong căn nhà nhỏ càng làm tăng cảm giác nực nội, khó chịu. Ở Sàigòn, những xóm lao động, như xóm tôi ở, có điện như thế là may mắn. Có nhiều xóm không có điện, thắp đèn dầu leo lét, thứ đèn dễ gây hoả hoạn ấy đã bắt nhiều người chịu cảnh màn trời chiếu đất chỉ vì một phút bất cẩn -- rọi bắt một con muỗi hoặc để hớ hênh, chuột chạy làm ngã đổ -- Đã thế, thỉnh thoảng xóm tôi lại bị khổ với cái nạn cúp điện mặc dù đọc báo có thấy đăng bố cáo của nhà đèn, nhưng đọc mà vẫn không biết nhà mình sẽ bị cúp điện vì trong bố cáo chỉ ghi những mã số của từng khu vực mà chỉ nhà có công tơ, có biên lai nhà đèn mới biết, còn những nhà xin câu điện của những người ấy thì biết thế nào được. Đó là chưa kể những người ấy nổi hứng cúp không cho điện từ nhà họ đến mình chỉ vì những nguyên do giản dị nhất : Cái pít-cúp, cái vô tuyến truyền hình cần điện cao thế, hay có tiệc tùng, có mở “ban”, mở “bum” cần thắp nhiều đèn trong nhà họ… Thời đại kim tiền mà. Đúng như cha tôi nói, có tiền muốn gì cũng được và ai cũng phục vụ cho kẻ có tiền. Tôi ở đây ba trăm năm sau không biết có được cấp công tơ hay không ? Nếu tôi là Nguyễn Du, chắc câu nói này sẽ có giá trị thực tiễn hơn câu “không biết ba trăm năm sau có ai khóc Tố Như hay không ? Nghe đâu nhà đèn này là của Tây được thầu, ký hợp đồng gần một trăm năm và ai muốn xin công tơ phải hội đủ những điều kiện mà trong đó điều kiện tiền là tiên quyết. Vậy thì nghèo là đừng mong có công tơ để được trả giá một ký điện theo giá chánh thức thay vì giá chợ đen, trường hợp này, có lần ngồi nhẩm tính, tôi thấy bị kẻ có công tơ bóc lột quá dã man. Một ký điện giá chính thức 5đ chẳng hạn, nhưng mình phải chịu 10đ, và một công tơ có thể cho 20 nhà câu, mỗi nhà một tháng thắp 10 ký vị chi người có công tơ kiếm lời cả ngàn bạc rất ư là khoẻ khoắn. Và cứ thế, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm nọ, số lời ấy là cả một lợi tức đáng kể. Đó là chưa kể muốn câu phải thế chưn hai ngàn.

Bây giờ nỗi lo lắng trong tôi cũng bị tăng theo với cảm giác nực nội, khó chịu vì ánh đèn vàng vọt.

Tôi ngồi bên cạnh bàn nhớ đến anh Cả tôi, nhớ những câu chuyện anh kể mỗi khi về thăm cơ xưởng, nhớ ngày anh được làm lễ rửa tội đầu tiên… Tôi hình dung chiếc áo dòng của anh phất phơ khi bước gần cái hồ nước trong vườn.

Tôi nhìn lên bàn ăn còn mấy cái vỏ chuối, cha tôi để quyển sổ nhỏ gần đó, miệng lầm bầm tính toán.

Tôi buồn quá, đến tựa cửa nhìn bâng quơ vào bóng đêm, nghe tiếng cười nói ở những nhà bên cạnh, tiếng súng xa xa vang lại -- chắc của một đồn bót nào đó – và tôi lại nhớ đến anh Cả tôi.

Tôi nhớ hồi tôi mới 5, 6 tuổi gì đó, anh Cả tôi học lớp Nhất nội trú nên thỉnh thoảng mới được về thăm nhà. Mỗi lần như vậy, tôi mừng lắm, còn mẹ tôi thì lo cho anh ăn những bữa ăn đặc biệt hơn thường lệ như muốn để đền bù những bữa ăn tập thể trong trường. Có một lần, mẹ tôi chiên một con cá lóc, món mà anh Cả tôi thích nhất, nhưng vì nhà đông người, và vì mẹ tôi tiết kiệm nên chiên xong bà lại đem dằm mắm để ăn được đủ bữa, thế là anh Cả tôi không nuốt nổi và mẹ tôi ân hận. Về sau, bà thường đem chuyện này nói với chúng tôi như một huyền thoại thú vị nhất. Anh Cả tôi lại có cái biệt tài vẽ chân dung, nhưng không phải truyền thần mà chỉ vẻ rập theo mẫu có sẵn. Anh vẽ các danh nhân và vẽ thật nhiều để cho bà con hàng xóm dán lên vách như những bức tranh trang trí. Đôi khi, anh nổi hứng đòi vẽ cả tôi và anh Giác, nhưng vẽ xong tôi lại thấy giống mấy thằng bé in ngoài những tập vở 50 trang, 100 trang. Thì ra anh ấy bắt chước những hình vẽ ấy. Ấy vậy mà tôi phục anh vô cùng. Tôi cất cái hình ấy như người lớn cất chiếc ảnh kỷ niệm. Đứng trước anh, lúc nào tôi cũng thấy như đứng trước một kẻ học rộng, tài cao. Tôi không biết anh bắt chước ai mà mỗi lần nghỉ hè anh thường cặm cụi làm những bản in bằng nước cơm. Anh viết chữ ngược trên miếng giấy dày để thoa nước cơm, đoạn dùng một miếng giấy mỏng dán với miếng giấy dày ấy rồi gỡ ra, thế là anh có một bản in bằng nước cơm. Ngoài ra, anh còn sáng tác nhạc và sáng tác một cách rất kỳ cục, bằng cách trở ngược bản của các nhạc sĩ để chép, thành thử bản nhạc ở các nhạc sĩ ghi nốt đồ thì ở bản nhạc anh thành nốt lá, nốt rề thành nốt sốn, nốt mi thành nốt phá, nốt pha thành nốt mí, nốt sôn thành nốt rế, nốt la thành nốt đố v.v… Và anh tự soạn lời nghe cũng du dương lắm…

Do đó, nhiều lúc tôi nghĩ, anh đi tu có lẽ không hợp với năng khiếu của anh.

Và chuyện mà mỗi lần nhớ lại, không thể nào nhịn cười được là hồi đó cha tôi có nuôi một con bò để lấy sữa, chưa kiếm được người chăn nên bắt chúng tôi chăn. Anh Cả, anh Giác và tôi đuổi bò ra cánh đồng gần nhà và mỗi lần như thế anh Cả thường bảo tụi mình như cái cảnh tam chiến Lữ Bố. Lẽ dĩ nhiên, anh Giác và tôi chẳng hiểu anh ấy nói gì, đòi giải nghĩa, nhưng anh lại kể chuyện Tam Quốc, chúng tôi nghe khoái quá, quên cả chăn bò, để bò ăn lúa, bị chủ ruộng lấy nón, năn nỉ đến muốn lạy họ cũng không tha, sau phải nhờ đến cha tôi đứng ra can thiệp bằng cách bồi thường thiệt hại. Thế là về nhà bị cha tôi rầy. Khổ nỗi, giống bò lại thích ăn lúa, chúng tôi sợ bị rầy, càng chăn giữ nó bao nhiêu thì nó tỏ ra cứng đầu bấy nhiêu. Hễ lơ đễnh một tí là nó chạy chỗ khác như tên tù lúc nào cũng sẵn sàng kiếm cách vượt ngục. Và để đối phó với tình trạng này, anh Cả tôi ra lệnh cho chúng tôi triệt để im lặng theo dõi hành động của bò, nếu thấy bò ăn lúa thì bảo với anh bằng mật hiệu “Ăn” hoặc thấy nó sắp chạy thì bảo là “Chờ”. Anh Cả tôi làm như bò có thể nghe tiếng người nên cẩn thận không tiết lộ sự theo dõi mà chúng tôi đã thực hiện đó. Ngược lại, con bò cũng không vừa, nó luôn luôn nhìn chúng tôi bằng cặp mắt thách thức và luôn luôn có hành động chờ chực phút sơ hở của chúng tôi. Lẽ dĩ nhiên, đã là người ai lại chẳng có những sơ hở đáng tiếc, do đó, đối thủ của chúng tôi đã gây sóng gió không phải là ít y như một tên gián điệp đại tài, mỗi lần nó co giò chạy, chúng tôi đuổi theo đến hụt hơi và anh Cả tôi trở thành lực sĩ điền kinh nước rút Ma-ra-tông. Anh vừa chạy vừa la “dò, dò”, tiếng bảo bò đứng lại, và nuớc mắt chảy trên má, mồ hôi chảy trên trán. Trong anh, chắc đang hậm hực một sự trả thù ghê gớm nếu bắt được nó, nhưng khi bắt được nó anh lại không còn sức nào để đánh đập, hành hạ ; tay chân anh rã rời như vừa qua một cơn bệnh nặng và trái tim như muốn nhảy tung ra ngoài.

- Này, tao nói cho mày biết… Anh Cả tôi hào hển vừa thở, vừa nói với con bò… Hà, hà ! Tao đã có cách trị mày rồi. Tao sẽ đeo tróng vào cổ mày.

- Tróng là cái gì anh ? Tôi hỏi.

- Mày hỏi làm gì ? Anh quát chúng tôi. Chúng mày chẳng được cái tích sự gì cả.

Tôi quay sang anh Giác thầm thì :

- Đúng là giận cá chém thớt.

- Mày hỗn đấy hả Lênh Đênh ?

Tôi chối, tôi hy vọng anh chạy đến bùng tai nên chưa nghe gì hết.

- Dạ, đâu có ! Tụi em bàn về cái tróng mà !

- Có cái tróng mà cũng không biết. Anh Cả tôi vẫn lớn tiếng như cố giữ cái phong độ giận dữ chưa nguôi dù có thể là anh đã thấy sự lố bịch khi đối phó với hành động một con bò. Anh tiếp : cái tróng là cái cây buộc tòn teng dưới cổ để nó vướng chân.

Định nghĩa ấy làm tôi bật cười thành tiếng. Có thế mà cũng la lối um sùm, tôi nghĩ, rõ ràng là chúng tôi thua một thằng chăn bò ở nhà quê, có nhiều đứa coi sóc cả một đàn bò năm sáu con vừa bò đực, bò cái, bò con… Nhưng anh Cả tôi nghe cười lại đâm tức, sẵn cầm roi trong tay anh quất tôi rồi quất luôn cả anh Giác, và hôm đó về nhà tất cả chúng tôi đều bị mắng là đồ ngu.

Về sau, kỷ niệm ấy được nhắc lại, anh Cả tôi cười hì hì để che dấu sự ngượng ngập và điều mà anh ngượng nhất có lẽ khi nhớ đến mỗi lần bò phóng qua một con mương nhỏ, anh phải cổi quần lội qua vì anh bấy giờ không đủ sức phóng như bò. Lúc ấy trông anh vừa thảm hại vừa buồn cười như thằng hề đánh rơi xiêm y.

Tự nhiên, tôi thấy tiếc đời anh phải đi tu quá sớm. Giá anh còn chung sống với chúng tôi chắc sẽ còn nhiều kỷ niệm vui vẻ, êm đềm. Tôi không hiểu cha mẹ tôi có nghĩ như thế không, hay chỉ biết đó cũng là một cách chọn tương lai cho con và anh Cả tôi đã chấp nhận như số phận một món đồ chịu sự đặt để của cha mẹ. Trường hợp này, nếu là tôi, tôi sẽ phản đối vì tôi thích tự do, nhất là tự do tư tưởng. Tôi nhớ trong một quyển sách nào đó có nói : Trong các quyền tự do mà con người được hưởng thì quyền tự do tư tưởng lại không có mấy ai sử dụng đến ! Thực vậy, người ta đã chạy theo những đòi hỏi phù phiếm và bỏ quên giá trị thực tiễn về bản chất con người ; cũng như những quan niệm và định thức cho nếp sống được đặt ra mỗi ngày mỗi đi xa cái tính vốn thiện. Do đó, tôi muốn làm một đứa trẻ muôn đời.

Bây giờ, tôi tưởng tượng anh cả tôi ở dưới Châu Đốc, nằm trên giường với đôi mắt lờ đờ, mệt mỏi vì bệnh mỗi lúc mỗi thêm trầm trọng – Linh tính cho tôi biết như thế -- Cùng một lúc, trong đáy lòng tôi hình như vừa có một thứ tiếng khiển trách từ đâu đó, mơ hồ dấy lên : Này, nếu mày là thằng bé khôn ngoan thì hãy cầu nguyện cho anh mày và bề trên sẽ chấp nhận. Nhưng phải thành tâm, mày đừng có nói láo như đã nói láo với cha mày. Nếu không ham chơi, mày đã được theo mẹ về thăm anh mày rồi, lỡ một giây là ân hận suốt đời, Lênh Đênh ạ !

- Tôi xin chừa mà ! Trời ơi ! Không, không đời nào tôi dám dại dột như thế nữa ! Tôi đau đớn, lẩm bẩm, nước mắt ràn rụa và giữa lúc ấy, người phát thư đạp chiếc xe đạp cọc cạch từ đầu hẻm tiến về phía nhà tôi.

- Điện tín ! Điện tín ! Có ai đấy không ?

- Hả ? Điện tín của ai ? Nghe hai tiếng điện tín, tôi đâm bối rối. Ngược lại, người phát thư vẫ giữ thái độ bình thường.

- Nhà này là nhà ông Xếp phải không ?

- Dạ.

- Cậu là con ổng hả ?

- Dạ.

- Ra đây mà nhận điện tín. Trời, sao đứng đấy ? Mau lên chứ ! Cậu biết bây giờ là mấy giờ rồi không ? Tại có cái điện tín này nên tôi phải đi cả trong giờ nghỉ… Ông ta lải nhải kể công khó, nhưng tôi không còn bình tĩnh để nghe gì hết. Tôi run run đặt bút ký vào sổ và cầm cái điện tín như cầm cái đuôi con thạch sùng, những ngón tay tê lạnh, mất hết cảm giác.

- Lênh Đênh, gì vậy con ? Cha tôi từ trong nhà hỏi vọng ra.

- Dạ đâu có gì ! Tôi trả lời.

- Cha nghe con nói chuyện với ai mà.

- Dạ… Dạ… Tôi ấp úng, đợi người phát thư quay xe đi. Có người ăn xin ! Rồi giấu tờ điện tín trong áo, tôi dọn bộ mặt thản nhiên, trở vào để cha tôi khỏi nghi.

- Một người ăn xin hả ?

- Dạ ! Tôi dạ như một cái máy vì tâm trí đang bận với cái điện tín : Có thể đây là một tin chẳng lành, tuy chắc không có gì mới mẻ hơn linh tính của tôi, nhưng tôi lại không muốn nghĩ đến điều đó, và từ đó không dám cử động mạnh, tôi ôm cứng tờ giấy màu xanh vào ngực, cố tìm một lý lẽ khác để trấn tĩnh : Tại sao không có thể là một tin vui ? Tin anh Cả tôi lành bệnh chẳng hạn.

Cuối cùng, tôi lên gác, bật vội ngọn đèn, hai tay rút nhanh cái điện tín hấp tấp mở ra xem.

“Nó đã chết !” Hàng chữ ấy trên điện tín nhoè nhoẹt vì nước mắt của tôi, nhưng tôi vẫn đọc đi đọc lại cả hàng chục lần, xoay qua xoay lại đủ chiều, tôi hy vọng đã đọc lầm, cái điện tín ấy biết đâu không phải của mẹ tôi gửi cho cha tôi, đến nỗi đứng mãi ở trên gác và khóc sướt mướt mà vẫn chưa tìm được một chi tiết nào phù hợp với hy vọng ấy.

Sau đó, tôi trở xuống nhà dưới, lau mặt thật kỹ, tay vo chặt tờ giấy đáng nguyền rủa ấy và đến bên cha tôi khi ông đã gấp quyển sổ lại, kêu con chó đến vuốt ve. Dưới ánh đèn trông ông hiền từ, tươi tắn, thỉnh thoảng mỉm miệng cười với con chó đang lăng xăng, quấn quít mừng rỡ mà lòng tôi đau nhói. Tôi buồn bã nhìn cha tôi mãi, muốn nói với ông đừng cười. Cha đừng cười như thế. Nhưng chưa nói thì bỗng ông ngửng đầu lên bắt gặp đôi mắt của tôi và giựt mình, mặt biến sắc :

- Anh con chết rồi phải không ? Ông thảng thốt kêu lên, chụp lấy vai tôi. Tôi ngã lăn vào cánh tay ông, thả rơi bức điện tín, rồi cả hai ôm nhau cùng khóc.

Cha tôi kể lể, não ruột :

- Trời ơi ! Con ! Con ! Cha không ngờ. Cha không xứng đáng là cha. Chỉ tại cha bất lực. Đáng lẽ thì cha phải nuôi con, phải để con sống trong gia đình. Cha biết là cha đã lầm khi đưa con ra ở riêng, nhưng biết thì đã muộn. Như thế chẳng khác nào cha đã chạy trốn một trách nhiệm…

Và bây giờ tôi mới lờ mờ hiểu ra rằng việc gửi anh Cả vào nhà tu không do lòng tín ngưỡng mà do vấn đề sinh kế thúc bách, do quyền lợi, cha tôi chắc đã nghĩ đó cũng là một cách giải quyết sự túng quẩn – Anh Cả tôi có nơi ăn, chốn ở và được giáo dục là đỡ một mối lo – Nhưng nếu vậy thì tội không phải ở cha tôi mà tại ở hoàn cảnh vì lẽ dĩ nhiên, cha mẹ nào cũng không muốn con mình bị khổ sở với cuộc đời nghèo nàn.

Tôi nghĩ mà thương cha tôi, ông đã chịu đựng sự đau khổ phải xa rời một đứa con những mười lăm năm nay và bây giờ là vĩnh biệt. Anh Cả tôi đã về bên kia thế giới, đã đi trước cha mẹ tôi khi đáng lẽ những người già như cha mẹ tôi phải làm cái việc ấy ; thực là bất công, thượng đế đã để người già cúi xuống khóc cho người trẻ. Nhìn cha tôi khóc, tôi có cái xót xa rồi một mai ông nằm xuống, anh cả tôi sẽ không được khóc cho ông và đó là một cái tội : tội bất hiếu ! Tội lớn nhứt trong các tội của người con, nhưng lại được mọi người tha thứ bằng tình thương bao la và sự đau khổ tuyệt đỉnh. Và nữa, đứng trước cái chết, kẻ còn lại đã hoàn toàn chịu nhận sự bất lực trong cuộc giành giựt với tử thần về hơi thở và mạch máu một cách thảm hại. Ngược lại, tôi không muốn thế. Tôi muốn anh Cả tôi phải sống. Tôi liên tưởng đến những chuyện thần tiên và tự hỏi phải chăng phép mầu là những biểu tượng cho một mớ ước vọng quá sức con người hay phép mầu là sự thật chưa được khám phá ?


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 11322
Points : 14781
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh   Thu May 11, 2017 5:17 pm

Chương 04

Sáng hôm sau, hai cha con tức tốc về Châu Đốc bằng xe đò, chuyến 5 giờ, trời hãy còn tờ mờ.

Con đường từ Sàigòn về Châu Đốc trong những năm ly loạn này là cả một đe doạ cho hành khách. Tin tức trên mặt báo không ngày nào là không có những chuyến xe bị mìn đặt trên những quốc lộ, tỉnh lộ, nổ tung. Tự nhiên, tôi đâm lo. Tôi nghĩ đến những người chết không toàn thây, mất đầu, mất tay, mất chân, như người con trai con bà hàng xóm đi lính được nửa năm thì tử trận, lãnh về chôn chỉ lãnh cái bọc ni-lông, bọc trong đó nắm xương cháy đen và mớ đất. Tuy vậy, trí óc non nớt của tôi vẫn chưa hiểu chiến tranh là gì.

Dọc đường có rất nhiều xe nhà binh xuôi ngược, những chiếc xe bọc sắt kêu inh tai, tung bụi mù mịt cả một quãng đường và cả những người lính cổi trần, đội nón sắt ngồi bên khẩu súng có nòng nhiều lỗ.

Hai bên đường là đồng ruộng trống vắng, tôi có cảm tưởng mọi sinh hoạt chung quanh đều ngưng lại, chỉ có chiếc xe là cử động, dằn xóc với tốc độ và ổ gà.

Anh Cả tôi chắc chắn là vĩnh viễn không còn thấy những thứ ấy trên đời này, tôi nghĩ, chết là một giấc ngủ dài và nếu đúng là một giấc ngủ thì chết hẳn phải sướng, khỏi mệt óc, mệt xác. Nhưng hãy cho tôi chết như anh Cả tôi, xin Thượng đế hãy phù hộ cho cha con tôi được bình yên trong chuyến đi này. Tôi cầu nguyện vì quá sợ hãi. Tôi nhìn dáng ngồi ủ rũ, mỏi mệt của cha tôi, một lần nữa linh tính lại cho tôi biết sắp có tai hoạ. Mà thật, Xe vừa rời khỏi Phú Lâm chừng năm, sáu cây số thì dừng lại vì gặp mô đất đắp chận giữa đường.

- Chết rồi, đường này đi sớm thường bị vậy đó !

Mọi người trên xe nhao nhao. Một vài người trên xe bảo người tài xế hãy quay xe trở về Sàigòn.

- Bà con yên chí, không sao đâu. Người lơ xe ra vẻ thành thạo. Đợi lính mình tới dò mìn rồi bang ụ đất ra là xong.

Nhưng hắn vừa nói hết câu thì bỗng có một tốp người vận quần áo bà ba đen, kẻ cầm súng, kẻ cầm dao từ hai bên đường xông tới, có lẽ họ nằm núp bên lề đường từ lâu.

- Mời đồng bào xuống xe ! Một người trong bọn vận quần áo bà ba đen ấy, dắt súng lục lủng lẳng bên lưng, vừa đi vòng quanh chiếc xe, vừa nói.

Thế là ai nấy đều nghe lời răm rắp.

Tôi hỏi cha tôi :

- Họ bảo xuống xe làm gì vậy cha ?

Cha tôi lườm tôi mà mặt tái xanh :

- Suỵt !

Tôi lờ mờ hiểu là đã gặp cướp. Tôi nhìn mọi người không ai còn bộ tịch chững chạc, tất cả lom khom, co rúm một cách thảm hại như những con tôm rim trong dĩa sứ.

- Đồng bào hãy đi theo chúng tôi. Ai bất tuân bắn ngay ! Người đeo súng lục lại lên tiếng và lẽ dĩ nhiên, chẳng ai dám bất tuân lệnh ấy cả. À, còn chú bé này… Người ấy quay lại nhìn tôi, thoáng chau mày. Chú ở lại đây đi. Đừng đi theo. Xa lắm. Chốc nữa họ sẽ ra với chú.

- Dạ con tôi đó. Cha tôi nói. Xa thì tôi cõng…

- Thì nó ngồi đây chờ cũng rứa. Có sao.

- Thôi con leo lên xe đi ! Cha tôi bảo sau một lúc ngần ngừ và cố nén tiếng thở dài.

Sự việc xảy ra kỳ lạ quá làm tôi luống cuống, không còn một phản ứng mạnh nào. Tôi gật đầu, nhìn theo cha tôi và trong lòng thì run sợ đến nỗi định nói : “Lỡ họ bắt cha luôn rồi làm sao ?” vẫn không nói được.

Bây giờ, tôi mới nhận ra chỉ có tôi là đứa trẻ độc nhất trong đám hành khách -- Tất cả đang băng đồng hướng về một xóm gần đó – Nhưng không biết trong đó chứa đựng những bí mật gì và tại sao người ta lại bắt hành khách lớn tuổi. Ý nghĩ cho bọn người đó là cướp không còn trong tôi nữa. Nhất định họ là giặc, tôi gào lên : “Cha ! Cha !” và hình như ông có ngoái nhìn lại. Lúc đó chắc ánh mắt ông tuyệt vọng ; còn tôi thì oà khóc. Tôi khóc mãi cho đến khi có lính mình tới hỏi và tôi khai không thiếu một chi tiết nào. Cuối cùng họ đưa tôi về Hội Dục Anh để chờ thân nhân tới lãnh mặc dù tôi đã khẩn khoản xin họ cho về Châu Đốc để gặp mẹ tôi.

Ở Hội Dục Anh, tôi gặp nhiều đứa bé trang lứa, nhỏ hoặc lớn tuổi hơn tôi chút đỉnh, phần đông bị đi lạc được gởi tới cũng đợi thân nhân lãnh về, nhưng có nhiều đứa đợi mãi vẫn không thấy ai đến.

Bây giờ tôi lại hiểu thêm rằng hàng ngày trên Radio vẫn có tin trẻ lạc và tin tức đó phần nhiều liên quan với những đứa trẻ ấy. Tuy nhiên, điều tôi thắc mắc mãi là tại sao chúng nó có thể đi lạc. Tôi lân la làm bạn một vài đứa để được thoả mãn thắc mắc này thì mỗi đứa cho biết mỗi hoàn cảnh và hoàn cảnh nào hình như cũng có những nguyên nhân sâu xa có từ ảnh hưởng chiến tranh.

Một đứa kể cho tôi nghe chuyện nó đi lạc thế này : Ba nó lên Sàigòn nói là để kiếm công ăn, sở làm, nhưng đi đã ba tháng rồi mà không thấy về, cũng không có tin tức gì cả. Hỏi thăm ra, có người nói ông đã có vợ bé ; má hắn bán tín bán nghi, nhưng cuối cùng không thể chịu đựng nổi những đau khổ đành phải lên Sàigòn tìm ông như tìm bóng chim, tăm cá. Thế rồi một hôm, hôm đó cũng là hôm nó đi lạc, mẹ hắn bắt gặp cha hắn đèo một cô gái trên xe gắn máy, và vội vã kêu tắc xi đuổi theo, quên cả hắn. Nói đến đây, hắn khóc hu hu…

Một đứa khác lại kể một chuyện khác về hắn, giọng rành rõi như người lớn : Tao thì chẳng đi lạc bao giờ. Hắn thầm thì. Tao cũng chẳng có cha mẹ, sống lông bông đầu đường xó chợ, muốn có tiền thì đi móc túi. Nhưng mấy lúc nay, bị đau luôn nên đành giả vờ là đi lạc để Cảnh sát gởi tao về đây. Dù sao thì ở đây cũng hơn ở vỉa hè, thêm vào đấy có người săn sóc thuốc thang cho mình. Hắn cười hì hì…

Hoàn cảnh mỗi đứa mỗi khác, tôi nghĩ, nhưng đứa nào cũng đáng thương. Chuyện thằng có người cha theo vợ bé làm tôi liên tưởng đến những ngày cha tôi suýt bỏ mẹ tôi để lấy con gái ông thợ hớt tóc ở dưới Châu đốc. Những ngày ấy, cha tôi hầu như không biết đến gia đình là gì nữa. Suốt ngày ông lầm lì và đi vắng thất thường. Mẹ tôi gạn hỏi, ông cau có trả lời là do công việc làm ăn. Lúc ấy, bỗng tôi đâm bệnh nặng, có lẽ là tôi đã bị trúng gió vào lúc nửa đêm. May là đêm ấy có ông ở nhà. Nhưng ông chỉ săn sóc qua loa, cho tôi uống thuốc rồi ngủ, chứ không như mấy lúc, mỗi lần tôi bệnh xuống là ông thức trắng đêm canh chừng từng nhiệt độ tăng giảm trong người tôi. Ấy vậy mà mẹ tôi cũng không dám nói gì. Sự có mặt của bà trong nhà lúc nào cũng khiêm nhường đóng vai phụ trong một cuốn phim dài do cha tôi đạo diễn, đó là cuốn phim sinh hoạt gia đình. Chẳng bao giờ mẹ tôi có một ý kiến gì phản đối về những quyết định của cha tôi, nên khi tôi bệnh nặng quá, phải đem vào bệnh viện mẹ tôi cũng không được đi theo săn sóc, chỉ ở nhà lo nấu cơm, nấu cháo gởi vào cho tôi và cha tôi. Lần bệnh ấy, tôi tưởng không còn hy vọng gì cứu sống được, bởi vì cơn sốt làm tôi lên cơn kinh phong vào buổi chiều. Đó là buổi chiều sau đêm tôi phát bệnh, và cha tôi lại không có ở nhà, mẹ tôi luýnh quýnh, trông thật thảm hại, chưa gì nước mắt bà đã ứa ra, miệng mếu xệch, run run gọi tôi : “Con ! Con ! Trời ơi, sao con tôi thế này ?” rồi nhờ ông Cốm kêu xe chở tôi đến bác sĩ làm như ông Cốm là bà con ruột thịt không bằng. Tôi cứ thắc mắc mãi là tại sao bà không đi với tôi. Sau này rõ ra là bà sợ đi bỏ nhà, cha tôi biết được sẽ rầy. Bà sợ cha tôi đến như vậy đó. Nhưng rồi bà vẫn bị cha tôi rầy vì khi về đến nhà, nghe nhờ ông Cốm đưa tôi đi bác sĩ là ông đã hét vang lên : Con mình, mình không lo để hàng xóm lo là nghĩa làm sao ? Và như thế mẹ tôi cũng không biết phải làm thế nào mới vừa lòng ông được. Tôi nghĩ rằng nếu tôi không bệnh thì có lẽ khó mà ông bỏ người con gái con ông thợ hớt tóc vì bệnh của tôi mỗi ngày mỗi thêm biến chứng nguy kịch và có lẽ ông đã nghĩ nếu tôi chết là lỗi do ông không lo săn sóc tôi ngay từ lúc bệnh mới phát. Trông ông, ánh mắt như tránh cái nhìn yếu ớt của tôi và ông buồn buồn như đang bị những ân hận ray rứt, giày vò. Ông trải giấy báo trong căn phòng tôi nằm ở bệnh viện nhưng ông chỉ ngồi chứ không dám đặt lưng xuống nghỉ. Mỗi lần tôi tỉnh dậy đều có mặt ông bên cạnh. Tôi cũng biết là ông đang cố ngăn những giòng nước mắt, ông sợ tôi chết không biết lúc nào. Người chung quanh thấy ông bơ phờ đều ái ngại vì ở trong bệnh viện đó chẳng có người nuôi bệnh nào là đàn ông. Ngược lại, ông không cần biết đến điều đó. Ông chỉ biết có tôi và bác sĩ, y tá săn sóc tôi. Ông luôn luôn cố tạo mối thiện cảm và lòng biết ơn với tất cả nhân viên trong bệnh viện. Chắc ông có ý nghĩ làm như thế, người ta sẽ tận tình chữa trị bệnh cho tôi hơn. Nhưng khổ nỗi, bệnh của tôi là thứ bệnh kỳ quặc. Tôi bị tiêu chảy liên miên. Bác sĩ bảo là tôi sốt xuất huyết đã qua thời kỳ trầm trọng. Cứ ba hoặc năm phút, tôi lại bị tiêu chảy một lần, cha tôi phải thay quần và chùi rửa cho tôi. Thường ngày, ông là một người rất kỹ lưỡng, sạch sẽ, thế mà những lúc ấy chẳng thấy ông tỏ ra gìn giữ vệ sinh gì cả, cúi xuống ngửi phân và lấy cây bươi ra xem có những gì khác lạ để khai với bác sĩ. Thật chưa có bao giờ tôi thấy ông lo lắng, khổ sở như vậy.

Nếu bảo rằng hoàn cảnh đã tạo nên điều kiện là đúng thì chính tôi bệnh nặng là một dịp kéo cha tôi trở về ý thức trách nhiệm và bổn phận với gia đình.

Người con gái, con ông thợ hớt tóc, có lẽ bực tức về việc cha tôi đột ngột không lui tới thăm nàng nên đánh liều tìm đến nhà tôi, gặp mẹ tôi khai hết sự thật giữa nàng và cha tôi có gian díu với nhau. Nghe tin này, mẹ tôi run rẩy như con vật bị thương, mặt tái xanh nhưng vẫn cố giữ can đảm để khỏi phải khóc trước người con gái nhỏ tuổi ấy. Bây giờ, tôi đã hết bệnh rồi – Ông xoa đầu tôi, nhưng lại nói như nói với mẹ tôi :

- Chẳng ai bằng con tôi cả, phải không con ?

Tuy nhiên, dù vậy, uy tín của ông cũng đã giảm sút một phần lớn trong gia đình.

Tôi nhớ lại những ngày qua ấy, lòng đã buồn lại càng buồn hơn, nước mắt chảy dài trên má và bỗng một ý nghĩ táo bạo đến với tôi : Phải trốn khỏi nơi này để về gấp với mẹ ! Chắc giờ này bà đang trông cha tôi, đang trông tôi. Và tôi thực hiện : suốt đêm không ngủ, nằm trong bóng tối cố vểnh tai để nghe động tĩnh chung quanh, chờ mọi người yên giấc, tôi len lén thoát ra cửa và chui qua rào, thực mạo hiểm. Có lẽ suốt đời tôi khó mà quên cái giây phút căng thẳng thần kinh đến tột độ ấy, nhưng khi đã rời Viện Dục Anh tôi lại lo sợ hơn. Tôi bắt đầu ân hận đã làm một việc điên rồ và băn khoăn không biết làm cách nào để có tiền đi xe, có tiền ăn dọc đường. Trí óc của tôi moi móc lung tung vẫn không thấy một giải pháp thoả đáng nào cho tình trạng ấy cả. Chưa bao giờ tôi tuyệt vọng đế thế, tuy nhiên, như một kẻ phóng lao phải theo lao, không thể lùi thì phải tiến, tôi cắm đầu chạy về phía phố xá có ánh đèn với hy vọng may ra gặp người tốt bụng tôi sẽ kể hết hoàn cảnh bi đát của tôi để họ thương mà giúp đỡ. Tôi cũng biết rằng như thế chẳng khác nào những người ăn xin vì lỡ độ đường và tôi tìm vào một tiệm ăn vì tin ở đó chỉ có những thực khách mới có đủ thì giờ ngồi nghe tôi trình bày nỗi thống khổ mà tôi đang gặp.

Tôi lẩm bẩm :

- Nơi đây được rồi ! Tôi ngước nhìn tấm bảng treo trước một cửa hiệu với những chữ “Đồng Tháp” rồi do dự một vài phút mới rụt rè bước vào.

Lúc ấy, tiệm ăn vắng khách, chỉ có một người đàn ông chắc là chủ quán, mập ú ù ngồi trong quầy rượu, đang kê mũi vào một tờ báo và ngủ gục.

- Phải ông chủ đó không ? Tôi cố đi mạnh chân và lên tiếng hỏi để khỏi ai nghi ngờ đã lén vào, nhưng người đàn ông vẫn ngáy đều đều như nằm trên giường.

- Gớm, ngủ gì mà ngon thế… Tôi lại lên tiếng một lần nữa và thấy cần phải làm như thế mới chứng tỏ được tôi là người ngay chứ không phải kẻ gian rồi dợm bước định trở ra.

- Dạ ! Dạ ! Bỗng có tiếng đàn bà ở phía sau tiệm ăn vọng tới. Tôi hoảng hốt. Bà chủ tiệm lên thấy mình chắc là chửi om sòm, tôi nghĩ và muốn chuồn thật lẹ nhưng chưa kịp chuồn thì bà ta đã hiện ra ở khung cửa.

- Trời ! Cậu Lênh Đênh !

- Á, bà An ! Tôi mừng quá, kêu to, chạy sà vào vòng tay bà.

- Cậu đi đâu một mình khuya khoắt thế này ?

- Chớ bà về đây bao giờ ? Tôi không trả lời câu hỏi của bà già An mà chỉ hỏi lại vì tôi quá ngạc nhiên. Bà về đây lâu chưa ? Sao không ghé thăm nhà tôi ? Tôi hỏi lung tung rồi bệu bạo. Bà ơi, cha tôi bị giặc bắt rồi…

- Hả, hả ? Cậu nói sao ? Bà An sửng sốt, chụp vai tôi như muốn hối tôi phải khai cho ra mọi lẽ. Còn bà ? Còn cậu Giác ?

Lúc ấy, không cầm giữ được nước mắt, tôi khóc oà lên, vừa khóc vừa kể lể tất cả những biến cố dồn dập đã đến với gia đình tôi.

Bây giờ, người đàn ông ngủ gục ở quầy rượu, nghe ồn ào mới cựa mình thức dậy.

- Đứa nhỏ nào thế ? Ông cau mày khó chịu.

- Cậu Lênh Đênh đây mà ! Bà An giải thích.

- A… Cậu Lênh Đênh ! Nét mặt ông rạng rỡ ra ngay.

Bà An giới thiệu :

- Ổng dó ! Ý bà muốn nói chồng của bà đó.

- Hân hạnh ! Tôi bắt chước hai tiếng cha tôi đã nói sau những lời giới thiệu, nhưng trong óc đang liên tưởng đến những mối tương quan giữa cái tên bảy Bụng với cái bụng như thùng nước lèo của chồng bà An.

- Thế thì chắc cậu chưa ăn cơm ? Ông Bảy bụng bắt đầu săn sóc tôi.

- Vâng, tôi chưa ăn gì cả. Tôi chùi nước mắt và ngượng ngùng khi đã thú thật điều ấy.

- Trời, tội chưa ? Bà An lật đật chạy xuống bếp. Ông Bảy bụng dìu tôi lại ghế ngồi :

- Vợ chồng tôi định tìm đến thăm ông già, bà già cậu và mấy cậu, ông nói, nhưng vợ tôi lại quên số nhà cậu, quên tên đường… Bà ấy mà có nhớ cái gì. Tôi tức quá, cự nự.Bà ấy bảo tại hồi đó lên ở chưa được một tháng thì bệnh rồi phải về quê ngay nên có biết gì đâu. Đúng là cù lần…

- Còn ông, sao không giỏi kiếm nhà ổng bả đi ? Lúc ấy bà An cũng vừa bưng cơm lên cho tôi, nghe ông Bảy Bụng chê bà nên bà kiếm cách hỏi vặn.

- Thì… thì…

- Thì sao ?

- Thì trước sau gì tôi cũng kiếm ra.

- Xí, còn lâu ! Bà An trề môi, ra cái điều không tin ông Bảy Bụng có thể làm cái việc, mà theo bà, quá khó khăn ấy, rồi quay lại tôi : Kìa, mời cậu ăn đi chứ ! Bà bới cơm ra chén và tôi bắt đầu ăn không một chút ngại ngùng.

Tôi vừa ăn vừa kể tiếp những chuyện của gia đình tôi trong những ngày bà An đã đi rồi.

Tôi hỏi bà An bây giờ có thể giúp tôi về Châu Đốc để gặp mẹ tôi không ?

Bà gật đầu :

- Được chứ ! Cậu không bảo tôi cũng phải giúp. Để mai tôi với cậu cùng đi. Nhân thể cũng là để về tiễn đưa linh hồn cậu Cả. Thật tôi không ngờ người hiền lành như cậu ấy… Rồi bà sụt sùi.

- Phải đấy, bà phải đi mới được ! Ông Bảy Bụng góp vào.

Thế là, sáng sớm hôm sau, bà An và tôi về Châu Đốc, nhưng về đến nơi thì đám táng anh Cả tôi đã cử hành, xong xuôi rồi.

Mẹ tôi vừa thấy tôi ở ngõ đã chạy ùa ra ôm cứng tôi vào lòng với đôi tay run rẩy :

- Con, con ! Sao con về được đây ? Mẹ nghe nói cha con – con bị bắt cả rồi…

- Ai ? Ai nói mà mẹ biết ?

- Mấy người đi xe sau chứ ai ? Còn cha con đâu ?

Chắc là mẹ tôi tưởng cha tôi cũng được thoát nạn, nhưng chỉ mới nghe hỏi vậy là tôi đã khóc rống nên bà An phải giải thích mọi chuyện. Còn anh Giác chẳng cần nghe gì cả mà đã nức nở rồi.

Anh Giác kêu : Cha ơi, cha hỡi ! Làm như cha tôi đã chết không bằng.

Sau đó, mẹ tôi lại lâm bệnh nặng, bà đã bệnh vì quá đau khổ, tôi với anh Giác phải lo săn sóc bà vì bà An ở lại được ít hôm đã trở về Sàigòn, sợ ông Bảy Bụng trông.

Mẹ tôi bệnh như thế cả tháng mới mạnh, nhưng vừa mới mạnh thì Châu Đốc bị nạn lụt, nước mỗi ngày mỗi dâng cao, chúng tôi phải rời khu nhà thờ -- Lúc ấy chúng tôi được ông cha đạo cho ở trong kho chứa đồ khu nhà thờ -- Chúng tôi đi bằng ghe. Đó là cái ghe của người đánh cá trên sông nên quá nhỏ mà người chạy lụt thì quá đông thành thử chạy được một quãng thì chìm. Thực là hoạ vô đơn chí. Tôi bấy giờ chỉ vừa thấy chiếc ghe tròng trành là đã bị nước phủ lên đầu, định chụp lấy tay mẹ nhưng không kịp nữa, không còn biết gì nữa. Tôi muốn kêu mẹ tôi, kêu anh Giác nhưng không thể nào ngoi đầu lên được. Lồng ngực tôi như muốn vỡ ra vì nước chảy tràn vào mũi mỗi lúc một nhiều và hiểu là khó mà thoát chết dù vẫn hy vọng có người tới cứu, dù cố gắng ngậm miệng để khỏi bị uống nước. Tôi cũng nhớ là hình như trong giây phút thập phần tử nhứt phần sanh ấy bỗng những chuyện nhỏ nhất xảy ra trong gia đình tôi hiển hiện trước mắt với khung cảnh nhà máy, ngôi nhà ở Nancy cùng nhiều khuôn mặt thân yêu : cha tôi, mẹ tôi, anh Cả, anh Giác, bà An, ông Bảy Bụng, ông Cốm, thằng Cu Nghé, con Két, chú ba Tiết… Và sau cùng là bóng tối dày đặc, nhầy nhụa, lạnh lẽo…
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 11322
Points : 14781
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh   Thu May 11, 2017 5:19 pm

Chương 05 (hết)

Tôi tỉnh dậy trong căn nhà đầy ắp người nằm la liệt trên những giường bố nhà binh kê sít nhau, nhưng người đầu tiên tôi nhìn thấy là cô y tá đang cúi xuống, hỏi tôi :

- Cậu nghe trong người thế nào ?

- Dạ… dạ… Tôi luống cuống không biết trả lời ra làm sao nữa, chỉ cảm thấy bần thần như vừa trải qua một cơn ác mộng và bỗng sực nhớ chuyện chìm ghe, tôi hoảng hốt :

- Mẹ tôi đâu ? Mẹ tôi đâu ?

Cô y tá cười :

- Mẹ cậu nằm bên cạnh đấy chớ đâu.

Tôi lật đật quay mặt về phía giường bên cạnh, cùng lúc ấy mẹ tôi cũng nhìn lại.

- Trời ơi ! Mẹ ! Mẹ ! Tôi mừng quá tung chăn, đến ôm chầm lấy bà. Còn anh Giác… Anh Giác đâu mẹ ?

- Nó kìa ! Mẹ tôi đưa đôi mắt mệt nhọc về phía giường gần đó.

- Anh Giác ! Anh Giác ! Tôi định chạy lại anh ấy, nhưng cô y tá đã nhẹ nhàng kéo tôi trở về giường.

- Hãy nằm nghỉ cho thật khoẻ đã…

Mà thật, tôi đã mừng quá quên cả đang nhức đầu, tay chân mỏi rã rời và giọng nói khan khan như vịt đực…

Sau này, mỗi lần mẹ tôi nhắc lại chuyện này bà thường khen tôi : Cái thằng thế mà có sức. Và từ đó, tôi cũng tự thấy là đã lớn, đã có thể giúp ích được cho bà nên khi mọi tai biến đã qua, mẹ tôi quyết định về ở chợ Bù Chét để buôn bán thì tôi đã trở thành một tay phụ tá rất đắc lực cho bà : Tôi nấu ăn như một người nội trợ. Còn anh Giác thì mở lớp vỡ lòng dạy trẻ con trong xóm.

Mẹ tôi mót máy những món đồ quí giá còn sót lại để sắm một gánh hàng xén và mua một căn nhà lá ở làng Thái Đông cách chợ Bù Chét chừng ba cây số.

Làng Thái Đông là một làng rất thưa thớt dân cư, phần đông là nông dân quanh năm chỉ biết vui với ruộng đồng vì ngoài ra không còn cuộc vui nào khác. Ở đó, có lẽ ngàn năm vẫn không có một gánh hát nào đến dù là hát bộ.

Thỉnh thoảng có vài cuộc cúng kiếng ở đình chùa thì cũng chỉ họp nhau lại để cúng rồi ăn chứ chẳng tổ chức thêm đám rước thần, rước đèn gì.

Tôi ở đó được bốn năm với rất nhiều kỷ niệm.

Trong đám trẻ con ở đó, chỉ có tôi là học khá chút đỉnh, còn thì chỉ toàn những đứa trẻ biết đọc, biết viết lom lem hoặc dốt đặc, nhưng óc tưởng tượng rất phong phú. Chúng tôi thường tổ chức nhiều trò chơi rất đặc biệt mà chắc chắn trẻ con thành phố không bao giờ nghĩ tới. Chúng tôi chia hai phe để đánh giặc giả, lấy cây. lấy tre đẽo gọt thành những khí giới và lấy đất nặn những trái mìn, lựu đạn. Trò chơi này, chúng tôi bắt chước ở những lần tập trận của anh em dân vệ. Ngoài ra, chúng tôi còn cái thú đá banh, kiếm thửa ruộng mới gặt làm sân và lấy lá chuối khô cuộn tròn làm quả bóng. Nhưng đừng tưởng chúng tôi không biết luật lệ vì chính tôi phổ biến luật lệ đá banh mà. Những lần có một đứa sút banh quá cao làm gạt-gôn không chụp được thì gôn phải kêu là “hô” và nếu banh nhảy sang bờ ruộng khác thì phải “nu”. Những danh từ ấy, lẽ dĩ nhiên là bọn trẻ không biết nghĩa mô tê gì cả và cũng lẽ dĩ nhiên là luật lệ chỉ được thi hành một cách tương đối mà thôi. Bởi vì sân thì thường hẹp mà cua-rơ thì đông nên để đứa nào cũng có thể dự cuộc đành phải chia đều làm hai ! Thế rồi mạnh ai nấy đá, xô đẩy nhau té sấp, té ngửa đến nỗi có đứa ngán quá cứ đứng chờ banh tận dưới gôn của đối phương mà chẳng sợ ọt-rơ vì chúng tôi coi lỗi ấy không ra gì cũng như banh trúng là sự thường xảy ra, nếu phạt thì hết mất thì giờ. Và đó là trò chơi được chúng tôi thực hiện thường xuyên, thường là vào lúc trưa đứng bóng, lúc ấy chúng tôi đều rảnh việc nhà, nhưng cũng dễ bị bệnh. Tôi đã bị cảm mất mấy ngày cũng chỉ vì thế và mỗi lần đi đá banh về là y như mỗi lần tôi bị khan cổ vì vừa đá vừa gào thét, kình cãi vào những lúc banh đá vào gôn mà đối phương không chịu cho ghi bàn thắng. Kỳ thực những lần như thế cũng khó mà phân định ai phải, ai quấy vì gôn là hai cục đất cày đặt hai bên hông đứa gạt-gôn để làm giới hạn, rồi có thể vì trời nắng không ai còn thấy rõ gôn ở đâu, hoặc đứa gạt-gôn đã kéo hai cục đất gần nhau lại cho gôn hẹp đi để banh khó lọt vào. Có điều, chuyện có thế mà chúng tôi cũng không giải quyết nổi dù đã cử trọng tài vì khổ nỗi trọng tài là một đứa nhỏ nhất bọn không đá banh được mới chịu giữ chức ấy.

Anh Giác thấy tôi đá banh cũng muốn tham dự lắm, nhưng đã lỡ làm ông giáo nên đành phải tỏ ra người lớn dù lớp anh dạy sĩ số chưa đến hai mươi và toàn là những trẻ mới biết mặc quần. Người trong lối xóm đều gọi anh bằng thầy. Tiếng thầy nghe trịnh trọng nhưng tôi lại thấy khôi hài vì nghĩ đến cái bệnh mau nước mắt của anh. Ngược lại, mẹ tôi lại hãnh diện. Vả nữa, việc làm của anh ấy đã giúp thêm vào nền tài chánh gia đình đỡ chật vật. Người ta đã trả học phí tương đối hậu hĩ, nhưng không phải trả bằng tiền mà trả bằng thổ sản của từng người, hoặc gạo, hoặc khoai, sắn, bắp, đậu và tuỳ nghèo, giàu mà hoặc ít hoặc nhiều. Do đó mỗi tháng, như một nhà nông chính cống, anh Giác thu hoạch một số hoa màu đặc biệt mà khỏi cần cày bừa, gieo vãi và nhờ vậy, trong nhà chẳng bao giờ thiếu cái ăn. Ngoài ra, anh còn được phụ huynh cho quà cáp và thỉnh thoảng mời đi ăn giỗ. Nghĩa là dân làng đối với anh lúc nào cũng quí trọng như một thượng khách. Riêng tôi, tôi cho anh Giác có cái số sướng, lù khù mà sướng.

Còn mẹ tôi thì mỗi buổi mai lo gánh gồng đồ xuống chợ để bày biện trong lều lợp lá đủ thứ lặt vặt y như là một tiệm chạp phô được thu gọn. Buổi mai nào bà cũng phải lo đi thật sớm. Tội nghiệp, bà không quen gánh gồng nên chỉ gánh được có mỗi một bên vai mặt rồi cong lưng chạy một mạch đến chợ. Bà thường khoe chỉ có lều của bà là đông khách nhất, nhưng tôi không tin đông khách vì may mắn, chắc là nhờ bà hiền hậu và không kiểm soát được những người ăn cắp vặt thành thử họ đến đó với lòng tham mua một lấy mười. Thêm vào đấy bà thường tính nhầm, cộng trừ bằng miệng ít khi trúng. Ấy vậy mà tôi đã lầm vì nếu không lầm thì thử hỏi tại sao gánh hàng mỗi ngày thêm phong phú chứ không kiệt quệ ? Đúng là bà có cái số đỏ. Bà thường nói hết cơn bĩ cực thì phải tới tuần thái lai chớ ? Tôi biết khi bà nói vậy chắc là để tự an ủi thật dù đôi khi cảnh sống huy hoàng ngày xưa cũng thường gây tiếc nhớ. Và trong nỗi tiếc nhớ ấy, hình ảnh cha tôi vẫn là đầu đề làm mọi người lo lắng, băn khoăn không nguôi. Lâu quá rồi, chúng tôi không được tin tức gì về ông cả nên mặc nhiên phải sống cái cảnh mẹ goá, con côi từ ngày này qua ngày khác như những kẻ bất hạnh. Tôi cũng biết là lúc bấy giờ, tuy không nói ra, nhưng ai cũng nghĩ rằng có thể cha tôi đã chết nên mẹ tôi bắt đầu lo kiếm cách cho tôi tiếp tục việc học.

- Phải học thêm mới được, con ạ ! Bà nói với tôi. Thời đại này mà học hành không ra gì là đừng hòng kiếm được việc làm đủ sống, trừ khi mình có một sức vóc để làm lao công. Bà nhìn tôi mỉm cười. Cái tướng như cây tăm của mày ấy đi ở đợ chưa chắc đã được…

Thế rồi, bà quyết gởi tôi về Sàigòn vì bà được tin chú ba Tiết đã lập nghiệp trên ấy.

- Con không ưa chú ấy đâu. Tôi nói với bà.

- Tại sao vậy ? Giọng bà dịu dàng. Chú cũng như cha chứ, đừng nghĩ dại con. Chú có hay rầy cũng vì muốn con nên người…

- Nhưng mà… cha cũng không ưa chú ấy kia mà.

- Tại cha con khó tính đấy. Vả lại, con lên trên ấy cũng chỉ ở trọ ăn nhờ ngày hai bữa cơm chứ đâu phải nhờ vả hoàn toàn ở chú ấy mà sợ.

- Thế còn anh Giác thì sao ?

- Anh Giác con hả ? Ừ, mẹ cũng đang nghĩ làm thế nào cho nó tiếp tục học chớ đời bây giờ có cái bằng Tiểu học như nó cũng như không. Mẹ tôi có vẻ đau khổ khi nói như vậy. Tôi cũng biết chuyện lo cho chúng tôi ăn học thành tài là cả một vấn đề quá sức mẹ tôi. Đêm đêm tôi thường nghe mẹ tôi thở dài và hằng ngày trông bà lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng. Tội nghiệp, dù sao bà cũng chỉ là một người đàn bà nghèo nàn và yếu đuối.

Hôm tôi đi Sàigòn, bà dúi vào tay tôi năm trăm bạc :

- Hãy giữ lấy mà tiêu – bà nói – Con nhớ là đừng xin tiền chú ba Tiết. Mình đã làm phiền chuyện ăn, ở nhờ rồi…

- Mẹ tin đi, con chẳng bao giờ làm thế. Tôi nói để bà yên tâm. Vả nữa tôi cũng không mấy phục chú ấy. Chú ấy là đàn ông mà lắm lời như đàn bà. Tôi định bụng là sẽ cố nhịn nhục tất cả và chỉ lo chăm học để mẹ tôi vui lòng. Nhưng đúng là trên đời có nhiều cái bất ngờ kỳ lạ, tôi ở học Sàigòn chưa đầy một tháng thì một hôm đang cắp sách đến trường bỗng gặp cha tôi đang đạp xích lô. Nới đầu, nhìn ông, tôi không dám gọi ngay vì sợ lầm, sau nhìn kỹ, tôi đánh bạo :

- Cha ! Cha ! Nhưng ông vẫn không nghe. Tôi chắc là ông không thấy tôi đi trong đám học trò loi choi này và nghĩ gọi “cha” thì làm sao ông biết là gọi ông.

Cuối cùng, tôi đâm liều, vừa chạy vừa gọi :

- Ông Xếp ! Ông Xếp !

Cha tôi giựt mình, thắng xe, ngoái cổ lại rồi nhảy xuống đường, chạy đến ôm cứng tôi vào lòng :

- Trời ơi ! Con ! Ha… Ha ! Con của tôi đây rồi ! Con của tôi đây rồi !

Và hôm đó, tôi bỏ học. Ông bảo tôi lên xe để ông đạp về nhà nhưng không phải nhà của ông mà là nhà của một người đánh xe ngựa cho ông ở trọ.

Ông cười sặc sụa :

- Con thấy chưa, đây không khác một lâu đài cổ kính !

Tôi hỏi :

- Sao cha phải khổ thế này ?

Ông lắc đầu :

- Chớ biết làm sao ? Nhưng đâu có khổ ? Con quên là sản nghiệp mình tiêu tan hết rồi sao ? Và ba đâu phải là dân thầy. Ông cũng nói là đã kiếm mẹ con chúng tôi suốt mấy tháng trời vẫn không ra tung tích. Người ta nói chết trôi cả rồi. Tụi mày chết thì tao sống với ai ? Ông cũng nghe nói là chú ba Tiết đã lên Sàigòn mở tiệm giặt đồ lính ngoại quốc. Lạ nhỉ, nghề ấy mà cũng giàu to. Ông nội con còn sống chắc là ngạc nhiên thấy chú ấy trở thành người giặt quần, giặt áo và nếu ngờ vậy ông đã không cho chú ấy đi học làm gì. Nhưng hiện cha cũng chưa biết chú ấy ở đâu. Sàigòn này kiếm nhà mà không có địa chỉ thì làm sao kiếm được… Ông nói lung tung. Ông nói như một người điên, nhớ đâu nói đấy và kết luận làm tôi ngơ ngác :

- Chiến tranh vô lý như thế đấy, con ạ ! Được rồi, cha sẽ đem mẹ con lên Sàigòn, sẽ tính chuyện làm ăn lại… Có thể cả nhà mình đi hốt rác, lượm ve chai, đi ở đợ, đi đánh giày. Rồi ông khóc, lần đầu tiên ông khóc dễ dàng như thế và tiếng khóc hu hu như trẻ con.

Tôi nghĩ bụng : Không khéo cha tôi điên mất… Mà thật, ông đã điên thật.

Người đánh xe ngựa hỏi tôi :

- Cậu là con của lão khùng ấy hả ?

Và tôi cũng khóc.

- Ơ kìa, tại sao cậu lại khóc ? Người đánh xe ngựa lại hỏi. Tôi nói thật đấy mà, có gì đâu mà buồn. Người đánh xe ngựa muốn an ủi tôi. Trông cha cậu ai cũng thương cả. Chắc cậu chưa hiểu vì sao tôi cho cha cậu ở trọ ? Kể ra thì cái gì cũng có số trời định đoạt cả, may là cha cậu gặp tôi, không thì đã chết cái hôm ông ấy say bí tỉ, nằm gục bên lề đường. Hôm đó, chừng chín, mười giờ tối gì đó. Đánh xe về đến quãng đường vắng Lê Văn Duyệt – Lăng Ông tôi xuống xe đi tiểu thì bỗng nghe có tiếng rên hừ hừ vô đảo mắt tìm kiếm thì thấy ông ấy úp mặt dưới gốc cây, đến đỡ dậy tôi nghe mùi rượu nồng nực, nhưng hỏi không trả lời. Kiểu này mà bị trúng gió là chết, tôi nghĩ vậy. Thế rồi, tôi dìu ông lên xe đưa về quán nước ở chợ Bà chiểu xin dầu thoa bóp, cho uống nước chanh để giải say và khi đã tỉnh, tôi hỏi nhà ông ở đâu, để kêu xe đưa về giùm. Ông lắc đầu : Tôi không có nhà. Tôi bị giặc bắt cả năm nay, bây giờ mới được thả nhưng thả mà làm gì, trong lúc tôi bị giặc bắt thì ở nhà vợ con tôi chết trôi trong trận lụt Châu Đốc… Ông vừa nói vừa sụt sùi. Thấy tình cảnh ông, tôi động lòng. Vợ tôi cũng chết vì giặc trong một đêm chúng nó pháo kích vào ấp. Tôi khuyên ông đừng buồn và rủ về ở chung với tôi, nhưng ông vẫn buồn. Ông đi lang thang suốt ngày và miệng lúc nào cũng làu nhàu những câu vô nghĩa. Trong xóm cho ông là lão khùng. Tuy vậy, một đôi khi tỉnh táo ông nói chuyện đàng hoàng lắm. Ông nói là ông còn một đứa con cùng đi với ông hôm ông bị giặc bắt, không biết bây giờ ở đâu. Ông hy vọng sẽ gặp lại nó. Ông đi mướn xích lô đạp kiếm tiền sống qua ngày. Tôi có bảo ông nên kiếm việc khác làm sướng hơn, nhưng nhất định ông chỉ đạp xích lô. Người đánh xe ngựa thở dài. Thật tôi cũng không hiểu ông ấy ra sao nữa…

Nghe người đánh xe ngựa nói, nhìn lại cha tôi, chạy đến bên ông, tôi lay gọi : Cha ! Cha ! Cha hết bệnh rồi chớ? Mẹ con con còn sống cả mà… Nhưng ông vẫn gục đầu và vẫn khóc hu hu như một đứa trẻ.

Sàigòn 1967
VŨ DUY
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh   

Về Đầu Trang Go down
 
Chú Bé Lênh Đênh - Loại Hoa Xanh
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Nhanbkvn 2017 :: THƯ VIỆN SÁCH TUỔI HOA :: Tủ Sách Hoa Xanh-
Chuyển đến