Nhanbkvn 2017
Chào Mừng Các Bạn Tham Gia Và Chia Sẽ Tại Diễn Đàn Nhanbkvn
Nhanbkvn 2017

Chia Sẽ Không Giới Hạn
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Events  PublicationsPublications  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang

Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:54 pm



Chương 1 Giữa đêm trường lão dị nhân ép Tâm Đăng hoàn tục

Đầu canh hai.
Ánh trăng bàng bạc rọi khắp ngôi chùa to nhất của xứ Tây Tạng huyền bí là Bố Đạt La Cung.
Từ trong Tham Thiền đại sảnh một bóng người nhỏ thó hé cửa bước ra.
Ngửa mặt nhìn trời thấy một vầng trăng lạnh treo lơ lửng giữa tầng không xanh thẳm, chung quanh là muôn vạn vì sao nhấp nhánh.
Đó là một chú tiểu. Nhìn quanh không thấy ai, bất thình lình chú tiểu phất hai ống tay áo cất mình nhảy lên cao bốn trượng.
Chú trổ thuật phi hành lướt theo đầu tường mà ra phía sau.
Nơi đó là tòa lầu chứa sách của ngôi chùa khét tiếng này.
Đang đi ngon trớn bất thần chú tiểu dùng một thế Thiên Phong Kích Tố nhẹ nhàng lả lướt bay lên cao thêm bảy, tám trượng nữa, bắn mình qua khung cửa sổ của tòa lầu chứa sách.
Chính vào lúc mũi giày chú tiểu chạm vừa vào khung cửa sổ bất thình lình chú tiểu đổi Thiên Phong Kích Tố thành Hải Điểu Lược Ba để cho thân mình của chú la đà và trở về mặt đất nhẹ nhàng như một tàu lá rụng giữa đêm thu.
Chân vừa chấm đất, chú tức tốc dùng Thất Tinh Liên Hoàn bộ nhanh như chớp rút lui vào một xó nép mình nín thở.
Thân hình của chú vừa khuất sau bóng tối thì từ trên lầu đựng sách có một bóng người vạm vỡ từ trên bay xuống như một con chim đại bàng vỗ cánh giữa từng không.
Người ấy đáp xuống chỗ chú tiểu vừa đứng ban nãy, quắc mắt sục sạo khắp bốn bề, trông cặp mắt sáng ngời đó người ta biết ngay là Y Khắc Lạt Ma, một vị đại sư trông coi lầu sách này.
Y Khắc lẩm bẩm :
- Thật là lạ, hình như ta nghe có tiếng người lạ thì phải?
Dứt lời ông ta đảo bộ, trở mình bay vù lên lầu chứa sách.
Trong bóng tối, chú tiểu toát mồ hôi, chú hú hồn vì suýt bại lộ hành tung.
Chú không dám chường mặt ra vội, nép mình thật lâu chờ cho bốn bề vắng lặng như tờ rồi mới rời khỏi chỗ nấp, đi vòng ra phía sau, vượt qua một bức tường bề cao bốn trượng rời khỏi Bố Đạt La Cung.
Chú tiểu trổ khinh công thượng thặng đi vùn vụt về phía một đỉnh đồi gần đó.
Trên mái đồi xanh, dưới gốc một cây cổ thụ rườm rà có một lão già đầu râu tóc bạc, tuổi độ sáu mươi, thân hình khô héo, tuy cặp mắt lim dim mà hào quang lóng lánh.
Chú tiểu dừng chân trước mặt lão già, cung kính hỏi :
- Sư phụ đến lâu chưa?
Lào già lạnh nhạt hỏi lại :
- Ta hỏi mi, đã mười ngày nay mi liên tục đến trễ, hay là mi đã không có lòng học võ nữa?
Chú tiểu giật mình, vòng tay thưa :
- A di đà Phật! Đệ tử không dám chểnh mảng!
Lão già mỉm cười hỏi :
- Tâm Đăng, ta hỏi mi, mi theo ta học võ đã được bao lâu rồi?
Tâm Đăng suy nghĩ giây lâu trả lời :
- Đệ tử theo sư phụ học võ đã được mười năm rồi.
Lão già chớp nhanh cặp mắt hiền từ hỏi tiếp :
- Mi có biết tại sao mười năm nay ta không nề khó khăn cực nhọc, bất chấp gió mưa, đêm đêm đến đây truyền thụ võ công cho mi không?
Tâm Đăng lắc đầu :
- Đệ tử không biết, chỉ nghe sư phụ nói rằng học võ để phòng thân mà thôi.
Lão già lắc đầu :
- Nếu chỉ học để phòng thân thì chỉ trong ba năm cũng đủ, mà ta lại tốn đi mười năm tâm huyết. Nay ta nói rõ cho mi biết, mi vốn không phải là người trong cửa Phật. Bây giờ ta có việc cần kíp phải rời khỏi nơi này độ chừng một năm, vì vậy ta cho mi biết trước, từ đây cho đến ngày tết Trung Thu năm tới mi phải yêu cầu vị trụ trì Bố Đạt La Cung chấp thuận cho mi hoàn tục...
Câu nói chưa dứt thì Tâm Đăng đã toát mồ hôi lạnh, vội vàng trả lời :
- Thưa sư phụ, tôi là người của nhà Phật, không thể hoàn tục...
Lão già nghiêm ngay sắc mặt :
- Nếu mi cưỡng ý ta thì ta sẽ giết mi tức khắc.
Nói dứt lời, lão giơ bàn tay gầy gò khô đét lên dợm giáng xuống một chưởng.
Tâm Đăng thấy ánh mắt lão già sáng quắc, thái độ không lành, bất giác đơ lưỡi, nói chẳng ra lời.
Nhưng lão già bỗng từ từ buông tay xuống, thở dài nói rằng :
- Mi còn nhớ rằng khi ta truyền võ nghệ cho mi có nói rằng sau khi thành tài mi sẽ giúp ta làm một việc. Bây giờ mi hãy suy nghĩ cho chín chắn, nếu mi suốt đời không rời khỏi Tây Tạng thì ta sẽ phế hết võ công của mi. Nếu mi thuận lời thì trước ngày Trung Thu năm tới mi phải hoàn tục, rời khỏi Bố Đạt La Cung giúp ta một việc. Khi việc xong rồi ta không can thiệp đến tự do của mi nữa.
Tâm Đăng tan nát cả cõi lòng, chú tiếc cho nghệ thuật mình đã điêu luyện suốt mười năm, nay phế đi thì rất uổng.
Chú lại không muốn rời Bố Đạt La Cung, một nơi chú đã gửi thân suốt mười tám năm trời, ở trong đó có biết bao nhiêu đồng đạo yêu thương nhau còn hơn tình cốt nhục.
Nhưng mà cặp mắt tinh anh của lão giã cứ dán chặt vào gương mặt Tâm Đăng. Tâm Đăng suy nghĩ lâu lắm, rốt cuộc mới cắn chặt môi thưa rằng :
- Sư phụ, con suy nghĩ kỹ rồi... Con bằng lòng hoàn tục.
Dứt lời, hai hàng nước mắt tuôn rơi lã chã trên khuôn mặt khôi ngô.
Lão già mỉm cười hể hả, thò tay ra bẻ một cành cây khô trao cho Tâm Đăng, bảo rằng :
- Mi đừng nhu nhược như vậy, bây giờ hãy luyện Lạc Hồn kiếm, bắt đầu từ đòn thứ tám.
Tâm Đăng đón lấy cành cây, đứng thẳng mình lên dằn cơn xúc động, để cho tâm tư được bình tĩnh, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước thong thả biểu diễn một đòn Thái Sơn Quan Nguyệt.
Đây là đòn thứ tám trong đường gươm Lạc Hồn kiếm, khí thế vững vàng như núi, thái độ bình tĩnh như Bồ Tát tham thiền, cái bình tĩnh thật là đáng sợ.
Thu bộ trở về, Tâm Đăng đứng yên trong giây phút, bỗng thét to một tiếng, thân hình chú như một mũi tên vừa thoát khỏi vành cung, bay bổng lên trên không trung tám thước.
Rồi như một con nhạn tung cánh giữa lưng trời, Tâm Đăng múa cành cây khô trong tay mình thành ra trùng trùng điệp điệp, đó là đòn Tang Hải Tầm Chu.
Mũi gươm chúc đầu xuống đất, hai bàn chân của chú lơ lửng ở phía trên, tư thế cực kỳ đẹp mắt đó như một con cá chép đang vùng vẫy trong dòng sông bạc.
Thân hình của chú la đà rơi xuống, còn cách mặt đất chừng ba thước, bất thình lình rụt phắt chân về, lộn ào một vòng chém ra một gươm thần kỳ huyền diệu theo thế Lãng Lý Hồi Đầu, trông vô cùng ngoạn mục.
Chỉ trong chớp mắt mà Tâm Đăng liên tiếp xử ba đòn giữa không trung, ba đòn này liên hoàn chặt chẽ, kín đáo vô song, hóc hiểm lạ lùng.
Tiếp đó, Tâm Đăng sử ra Lạc Hồn kiếm, thân hình thoạt tả thoạt hữu, khi tiến khi thoái, vạt áo nâu sồng bồng bềnh trong gió lộng giữa rừng đêm, khí thế như thác tràn sông lũ, có lúc lại nhẹ nhàng êm ái như gió thoảng tuyết rơi, biến hóa khôn cùng.
Lão già vuốt râu, sắc mặt vô cùng khoái chá, nhìn thấy bóng dáng kiêu hùng của Tâm Đăng, ông nhớ lại thời uy danh hiển hách của mình.
Lâu lắm Tâm Đăng mới thủ một thế Nhất Phật Triều Thiên. Thong thả đình bộ lại, sắc mặt của chàng rất bình thản, hơi thở điều hoà, tinh thần minh mẫn.
Lão già vỗ tay xuống đất nói :
- Khá lắm!
Tâm Đăng xuống rồi, lão già mới đón lấy cành cây khô nói tiếp :
- Mi ngồi xuống đây, ta còn một việc kể cho mi nghe.
- Trong một năm nay, nghệ thuật của con tinh tiến lắm, đó là nhờ phép Nhập Định Tham Thiền... ta sắp phải đi đây, chuyến đi này phải mất một năm tròn. Vì vậy đêm nay ta hỏi con, con theo ta đã mười năm, mà có biết tên ta là gì hay không?
Tâm Đăng lắc đầu...
Lão già ngửa mặt, nhìn vầng trăng lạnh nhớ về quá khứ, thong thả kể rằng :
- Ta tên là Lãnh Cổ, giang hồ tặng cho biệt hiệu Cô Trúc lão nhân... Mười tám năm trước, ta đi ngang qua kinh đô Tây Tạng bị mười mấy kẻ thù vây đánh, quả địch bất chúng, ta hạ sát bọn họ mấy người rồi bị họ kìm chế phải hứa với họ rằng từ đấy về sau không còn đặt chân vào giới giang hồ nữa. Nhưng ta còn một việc chưa làm, phải tìm một kẻ thế thân, kẻ đó chính là con vậy. Nếu con thành công thì ta sẽ được trở lại giới giang hồ...
- Con sẽ giúp ta điều gì? Đợi ngày tết Trung Thu năm tới ta sẽ nói rõ, bây giờ ta phải lên đường.
- Mỗi đêm học võ, con đều về trước, đêm nay sư phụ phải đi trước con đây.
Dứt lời không thấy thân hình ông động đậy nhưng đã đứng phắt dậy nhanh như chớp, thì ra Cô Trúc lão nhân chỉ đứng có một chân còn chân kia dường như đã tàn phế.
Đôi mắt ông lộ vẻ căm hờn, cười đanh ác :
- Chân ta tàn phế như vầy là điều ta chưa làm xong đó. Nhớ lấy lời ta, đêm rằm Trung Thu sang năm mi phải chừa tóc mà gặp mặt ta tại chốn này...
Nói đoạn, cất mình trổ thuật khinh công thoăn thoắt đi vào đêm tối.
Tâm Đăng hốt hoảng gọi :
- Sư phụ, khoan đã...
Lãnh Cổ vừa đi vừa khoát tay, nói với lại :
- Có điều gì chờ đêm rằm Trung Thu năm tới sẽ nói.
Câu nói vừa dứt thì thân hình của ông cũng biến vào bức màn đêm âm u, mù mịt...
Chỉ còn Tâm Đăng ở lại, cúi đầu dưới bóng trăng mờ nhạt, trong lòng chú dâng lên một niềm cảm hoài chua xót.
Lãnh Cổ đã khuấy động tâm tư của một kẻ vui dưới bóng Phật đài.
Từ đây, Tâm Đăng sẽ bước chân vào chồn bồng bềnh sóng nước, phiêu bạt giang hồ, tương lai là một chuỗi ngày đầy bão bùng dông tố, không biết dòng đời sẽ đưa đẩy chú về đến nơi đâu!
Sáng ngày hôm sau, Tâm Đăng bất thần được lệnh của trụ trì Bố Đạt La Cung là Tạng Tháp gọi vào yết kiến.
Tâm Đăng theo chân một vị hòa thượng, trèo lên đến tầng thứ tư của Bố Đạt La Cung là phòng riêng của Tạng Tháp.
Tạng Tháp ngồi trên bồ đoàn, nghiêm trang hỏi Tâm Đăng vài câu sách Phật.
Hỏi đến đâu, Tâm Đăng trả lời đến đó thật là thông suốt, làm cho Tạng Tháp vô cùng mừng rỡ, nhưng bỗng ông ta sa sầm sắc mặt, thở dài lẩm bẩm :
- Rõ ràng là người trong nhà Phật... Sao lại không theo Phật, thật là lạ!
Tâm Đăng ngơ ngác, không biết ý ngầm của Tạng Tháp bảo gì, chợt nghe ông ta cất tiếng hỏi :
- Tâm Đăng, con đến nay đã mười bảy năm, con có biết tại sao ta chỉ để cho con xuống tóc mà không cho con thụ giới?
Tâm Đăng cung kính trả lời :
- Đệ tử thật không biết!
Tạng Tháp buông xâu tràng hạt trên tay xuống, thở dài rồi nghiêm nghị nói rằng :
- Con vốn họ Tiêu, tên là Chính Dung. Mười tám năm trước có một kỳ nhân tên là Lương Hoài Băng gửi con cho ta bảo rằng mười lăm năm sau sẽ trở lại đón con ra khỏi chùa, đến hạn kỳ nếu hắn không trở lại, con sẽ ở lại đây suốt đời... Ta đã đợi quá hạn hai năm rồi mà hắn chưa trở lại. Nay ta hỏi mi, mi có nguyện sống suốt đời dưới Phật đài hay là có ý định nào khác?
Đây là lần thứ nhất Tâm Đăng nghe kể về lai lịch của mình. Chàng nước mắt xuống như mưa, thầm nghĩ :
- Trời! Cha mẹ ta là ai! Hay là ta phải hoàn tục?
Tâm Đăng ngước mặt lên, nói qua làn nước mắt :
- Thưa đại sư! Con... con muốn bắt đầu từ ngày mai chừa tóc lại để ngày Trung Thu năm tới sẽ hoàn tục.
Tạng Tháp giật mình nhưng lấy lại ngay bình tĩnh, thong thả nói rằng :
- Tốt, ta chấp thuận yêu cầu của con, vậy bắt đầu từ ngày mai con dời vào lầu chứa sách cư ngụ. Khỏi phải sống cực khổ theo đồng đạo... Nếu con thích thì có thể đọc thêm một ít sách Phật để thấm chân lý... và tết Trung Thu năm tới sẽ hoàn tục. Mười chín năm! Con có duyên với nhà Phật được mười chín năm.
Nói rồi truyền cho Tâm Đăng lui ra.
Còn lại một mình giữa gian phòng thênh thang, tĩnh mịch.
Tạng Tháp thở dài, lẩm bẩm :
- Rõ ràng là người trong nhà Phật, sao lại không theo Phật, thật là lạ!
Tối hôm ấy, Tâm Đăng không còn ngủ trong tiền viện nữa mà dời vào lầu chứa sách.
Đêm đã khuya rồi, một mình Tâm Đăng ngồi dưới ngọn đèn mờ, đưa mắt ngắm nhìn kệ sách ngổn ngang trước mặt, trông rất buồn rầu.
Chú nghĩ thầm, nếu ta đọc hết chỗ sách Phật này thì trí tuệ mở mang biết mấy nhưng hỡi ôi, ta sắp sửa phải rời khỏi chỗ này...
Thẫn thờ giây lâu, chàng khép kín cửa phòng luyện lại một đường gươm Lạc Hồn kiếm.
Lúc bấy giờ vào khoảng canh ba, đường gươm vừa dứt, Tâm Đăng bèn trải chiếu ra ngủ nhưng trong lòng băn khoăn xao xuyến, không sao chợp mắt.
Suốt một trống canh mà chú cứ trăn trở mãi, chợt nghe bên ngoài có tiếng dép đi nhè nhẹ trong lòng kinh nghi, thầm nghĩ :
- Đêm hôm khuya khoắt thế này mà ai còn lần mò đến đây, hay là họ định ăn cắp sách?
Chú vội vàng nín thở hé mắt chờ xem động tĩnh.
Quả thấy bên ngoài có một vị hòa thượng se sẽ đẩy cửa đi vào. Người này tuổi ngoại thất tuần, mà cặp mắt vẫn còn tinh anh đáo để, nhác trông cũng biết là người luyện võ đến mức cao thâm.
Người ấy chẳng ai xa lạ, chính là Y Khắc.
Tâm Đăng trong lòng cả sợ, vội thở đều đều, giả vờ đã ngủ say rồi.
Chú lắng tai nghe rõ, thấy Y Khắc nhè nhẹ bước đến bên mình chú, se sẽ gọi :
- Tâm Đăng!Tâm Đăng!
Chú ngỡ rằng Y Khắc có việc cần kíp gọi mình, vừa định há mồm trả lời, chính vào lúc đó một luồng sức mạnh tràn tới ép vào huyệt ngủ của chú.
Tâm Đăng táng đởm kinh tâm, không dám tránh né, sợ bại lộ tông tích mình là người biết võ, vội vàng vận dụng nội công để hộ huyệt.
Vào lúc đó thì hai ngón tay Y Khắc đã điểm tới, chàng cắn răng chịu đựng một ngón rồi khe khẽ cựa mình lại giả vờ ngủ say như chết, thoạt trông ngỡ rằng chú trúng huyệt mà ngủ.
Lão luyện như Y Khắc mà vẫn mắc mướp, ông ta buông một tiếng cười đắc ý lẩm bẩm :
- Chú tiểu này thật phiền cho ta!
Nói rồi xoay lưng đi thẳng. Tâm Đăng lại khe khẽ hé mắt ra nhìn, trong lòng chú hết sức kinh nghi, không biết Y Khắc điểm huyệt ngủ của mình có dụng ý gì?
Thoáng thấy Y Khắc đứng trước một giá sách, cúi đầu suy nghĩ, trong tay lão có một quyển sổ và bút mực, lâu lắm lão ngửng đầu lên rảo mắt tìm tòi. Tâm Đăng hỏi thầm :
- Lão ta chép kinh? Nhưng tại sao lại chép vào lúc đêm hôm tăm tối? Tại sao lại điểm huyệt ta?
Chợt nghe Y Khắc lẩm bẩm :
- Chính nó nằm trong giá sách này, ta mất thời gian hai hai năm lục soát tìm tòi, ta không thể ra đi với hai bàn tay trắng.
Đoạn lão để bút mực lên bàn, rút sách ra đọc từng trang nhanh như chớp.
Giá sách này thật cao, chia ra làm nhiều ngăn, khi đọc hết những quyển sách tầng dưới rồi, Y Khắc thình lình nhún chân nhảy vù lên cao ba trượng bằng một thế khinh công tuyệt mỹ, một tay bám lấy đầu giá sách, một tay kia rút sách từ tầng chót ra xem, bộ điệu cực kỳ ngoạn mục, làm cho Tâm Đăng phải tấm tắc khen thầm.
Chàng thở dài :
- Ta luyện võ đã mười năm, những tưởng khinh công tuyệt diệu, nào ngờ so với Y Khắc thật là một trời một vực, biết chừng nào mới kịp ông ta?...
Chợt nghe Y Khắc lẩm bẩm :
- Hai mươi năm, ta đã tốn mất hai mươi năm nghị lực để tìm tòi, nếu không tìm ra thật là chết không nhắm mắt.
Tâm Đăng trống ngực đánh liên hồi, chợt nghe Y Khắc rú lên mừng rỡ :
- Đây rồi! Đây rồi! Ha, ha ha.
Giật mình đánh thót, Tâm Đăng lại hé mắt ra nhìn thấy Y Khắc đang cầm một quyển kinh trên tay mà mặt mày mừng rỡ.
Ông ta cầm quyển kinh ấy bước đến bên án thư rồi liếc mắt nhìn Tâm Đăng. Tâm Đăng cả sợ nhắm nghiền mắt lại.
Lâu lắm, chàng lại khẽ hé mắt nhìn thấy ông ta gầm đầu trên bàn, chép kinh bằng một bút pháp thần tốc.
Lúc bấy giờ trống đã trở canh tư, Y Khắc giật mình, xếp quyển kinh trả về chỗ cũ đoạn nhanh nhẹn rời khỏi nơi đó.
Bên ngoài văng vẳng có tiếng công phu của những chú tiểu trong chùa vẳng lại...

Xem tiếp chương 2 Ba người đấu trí cướp chân kinh

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:54 pm

Chương 2 Ba người đấu trí cướp chân kinh

Y Khắc đi rồi, Tâm Đăng thẫn thờ ngồi dậy, trong dạ hết sức kinh nghi, tính hiếu kỳ trỗi dậy, quyết tâm tìm hiểu quyển kinh ghi chép những gì.
Chú khẽ hé cửa nhìn ra ngoài hành lang thấy tứ bề vắng vẻ nên vội quay trở vào.
Không do dự, Tâm Đăng nhún mình nhảy lên như Y Khắc, đoạn rút quyển kinh đó ra xem, thấy ngoài bìa đề ba chữ “Tham Phật Ký”, bên cạnh đề một dòng chữ nhỏ: Căn Đăng Gia Mục.
Chàng mới sực nhớ ra Căn Đăng Gia Mục là một vị Lạt Ma vào đời nhà Minh, chắc quyển này là bút ký của ông thì phải.
Càng xem về sau, Tâm Đăng càng kinh nghi, vì tác giả không nói đến nhà Phật mà chỉ ghi toàn là những bí quyết võ công.
Giở đến trang Tàm Tang khẩu quyết, trong lòng càng mừng rỡ nghĩ thầm :
- Sư phụ thường nói Tàm Tang Tử là một vị kỳ nhân thời cổ xưa, không ngờ lại truyền võ công cho Căn Đăng Gia Mục.
Tâm Đăng có ý thèm thuồng vì đây là quyển sách quý báu nhất trong làng võ.
Hôm ấy là ngày hai lăm tháng sáu, là ngày đại lễ ở Tây Tạng nên Bố Đạt La Cung trang hoàng rực rỡ, từng đoàn thiện nam tín nữ tấp nập viếng chùa.
Tâm Đăng cùng các chú tiểu lo dâng đèn dâng hương cho khách thập phương.
Bỗng từ bên ngoài có một nàng thiếu nữ mặc một chiếc áo dài màu trắng, trên mặt che ngang một vuông lụa màu đen theo tục lệ của Tây Tạng.
Khi nàng bước vào đại điện, gặp đúng phiên Tâm Đăng dâng đèn và bút mực cho nàng để quyên tiền hương hoả.
Nàng cầm lấy bút, khẽ hỏi Tâm Đăng :
- Thưa sư phụ, tôi phải quyên bao nhiêu?
Tâm Đăng... ấp úng trả lời :
- Việc này... tùy thí chủ!
Thiếu nữ buông một tiếng cười nhẹ, vốc nắm bạc bỏ trên bàn có hơn hai mươi lạng, đoạn nàng cầm bút đề vào quyển sổ ba chữ tung hoành: Trì Phật Anh.
Khách thập phương thường chỉ quyên độ năm lạng là cùng, thiếu nữ này lại điềm nhiên quyên hai mươi lạng, khiến cho ai nấy đều lấy làm lạ.
Tâm Đăng nói thầm :
- Cái họ và cái tên người này thật là lạ!
Vì hôm nay là ngày đại lễ nên Bố Đạt La Cung hoàn toàn khai phóng, mở cửa cho thiện nam tín nữ thong thả vào xem.
Tâm Đăng đang lo dâng hương, dâng đèn bỗng thình lình có tiếng Y Khắc gọi mình, quay đầu nhìn lại, Tâm Đăng lấy làm lạ vì Trì Phật Anh đang đứng bên cạnh ông ta.
Y Khắc truyền lệnh :
- Tâm Đăng, hãy hướng dẫn nữ thí chủ này xem chùa!
Đó là theo tục lệ của người Tây Tạng, Tâm Đăng không dám cãi nhưng còn đang dùng dằng thì Trì Phật Anh bỗng nói một câu tiếng Hán thật sành :
- Phiền tiểu sư phụ hướng dẫn tôi xem Thánh Cung.
Tâm Đăng càng lấy làm lạ, có lẽ thiếu nữ này là người gốc Hán.
Không thể chối từ, Tâm Đăng vội vàng hướng dẫn Phật Anh đi khắp các nơi trong chùa, vừa đi vừa giải thích lối kiến trúc vĩ đại của Bố Đạt La Cung.
Đêm ấy, Bố Đạt La Cung càng thêm huy hoàng rực rỡ, tứ bề đông nghẹt những khách thập phương.
Bỗng có lệnh của Tạng Tháp đòi Tâm Đăng vào lầu chứa sách, Tâm Đăng vội vã vào yết kiến. Tạng Tháp nghiêm nghị hỏi rằng :
- Đêm qua mi ngủ tại đây có thấy kẻ nào đến đây lấy kinh?
Tâm Đăng giật mình không dám nói thật. Tạng Tháp nói tiếp rằng :
- Ta có một quyển kinh thường đọc, đêm qua dường như có bị kẻ nào đến làm sai dấu.
Tâm Đăng ấp úng không trả lời. Tạng Tháp lại dặn dò :
- Từ rày về sau nên để ý canh chừng nghiêm ngặt.
Thái độ trịnh trọng của Tạng Tháp càng làm cho Tâm Đăng thêm phần nghi hoặc.
Đêm hôm ấy, Tâm Đăng lại về ngủ trong lầu chứa sách. Chàng ngồi xếp bằng, luyện công theo phép của Cô Trúc lão nhân rồi ngả lưng xuống chiếu, nghĩ thầm :
- Không biết đêm nay Y Khắc có đến nữa hay không? Tạng Tháp đã biết có người lén đọc sách, cớ sao vẫn còn để yên chỗ cữ? À... hay là ông ta gài bẫy?
Còn đang thao thức thì bên ngoài lại có tiếng người đi, Tâm Đăng thầm nhủ :
- Y Khắc lại đến!
Cửa phòng vụt mở và Y Khắc lù lù xuất hiện, vẫn bước đến gần Tâm Đăng, vẫn gọi lên hai tiếng nhỏ nhỏ, rồi giơ tay điểm vào huyệt ngủ của cậu giống hệt đêm hôm trước.
Tâm Đăng lại vận công bế huyệt, lại giả vờ trúng đòn ngủ say như chết, đến khi Y Khắc quay lưng đi chú hé mắt ra nhìn, thấy thân hình của lão ta bay vù lên đầu tủ sách nhẹ nhàng như một cánh bướm, rồi thò tay rút quyển Tham Phật Ký ra.
Đoạn buông mình rơi về mặt đất, bước sang án thư, gầm đầu chép kinh.
Đang mê man chép sách bỗng thoáng nghe bên ngoài có tiếng người đi, Y Khắc vội vàng xếp sách lại và bên ngoài có giọng nói khàn khàn của Tạng Tháp :
- Nam Nguyên, mi hãy vào đây lấy quyển Đại Nạn Kinh cho ta!
Y Khắc kinh hoàng thất sắc, bay vù lên trao trả quyển kinh vào chỗ cũ, trong lúc hấp tấp, chỉ nhét vội vào một nửa thì tiếng giầy của Tạng Tháp đã đến gần kề bên cửa.
Y Khắc hoảng hồn, buông mình xuống chộp cây bút, nghiêng mình bay vù ra cửa sổ.
Chính vào lúc đó thì Tạng Tháp bước vào. Ban nãy nghe ông ta gọi Nam Nguyên vốn là chú tiểu theo hầu Tạng Tháp hàng ngày nhưng bây giờ không thấy bóng của chú ấy đâu cả.
Tạng Tháp bước vào, rảo mắt nhìn quanh, đoạn bất thình lình trổ khinh công thượng thặng đi khắp gian phòng kiểm soát một lượt, đoạn đắc chí nhìn quyển Tham Phật Ký lẩm bẩm rằng :
- Y Khắc tốn công vô ích, a ha, không ngờ ta lại thu được một tên đồ đệ.
Tâm Đăng không hiểu lời nói này có ngầm ý gì, chợt nghe Tạng Tháp bước lần đến bên mình, thò tay sờ bả vai, đoạn nói :
- Trời... thằng Y Khắc nó điểm huyệt ngủ của Tâm Đăng, mỗi ngày bị điểm một lần thì nguyên khí tổn thương biết mấy.
Dứt lời, Tâm Đăng nghe thấy bàn tay của Tạng Tháp lần đến huyệt Linh Đài của chú mà giải huyệt.
Tâm Đăng vội vàng vận công bế huyệt, cố tình làm cho Tạng Tháp lầm mình là người không biết võ, nào ngờ Tạng Tháp “ý” lên một tiếng, dường như ông ta cũng cảm thấy có việc lạ xảy ra.
Tâm Đăng giả vờ cựa mình, bên tai nghe văng vẳng tiếng Tạng Tháp nói :
- Ngày mai cho Tâm Đăng dời đi chỗ khác, để khỏi phải chịu cực hình.
Dứt lời ông ta thò tay ra, quạt tắt ngọn đèn rồi rời khỏi phòng chứa sách.
Lúc bấy giờ vào đầu canh tư, Tâm Đăng nghe ngóng bốn bề vắng lặng rồi, mới sẽ lén bước ra ngoài mồi ngọn đèn khác, đoạn nhảy lên lấy quyển Tham Phật Ký ra xem xét tỉ mỉ một lần nữa, chàng ngã ngửa ra, thì ra Tạng Tháp đã giấu mất quyển chân kinh, quyển này chỉ là giả chân kinh.
Chính vào lúc đó, Y Khắc đang ngồi dưới ngọn đèn mờ, nghiền ngẫm pho giả kinh của mình một cách đắc chí.
Còn Tạng Tháp thì ngồi trong phòng riêng của mình, tủm tỉm một nụ cười đắc thắng.
Sáng ngày hôm sau, ông ta truyền lệnh cho Tâm Đăng dời về chỗ cũ.
Đêm hôm ấy, Tâm Đăng lại trằn trọc không sao yên giấc, trong tâm trí của chàng cứ miên man suy nghĩ đến pho sách lạ lùng, quý báu kia, nhủ thầm :
- Giờ này Y Khắc chắc đang chép kinh thì phải. Để ta xem thử...
Nghĩ đoạn Tâm Đăng sẽ lén hé cửa bước ra ngoài.
Trên vòm trời cao, sao thưa lấm tấm nhưng chẳng có trăng, Tâm Đăng trổ khinh công đi về phía lầu chứa sách, nhún mình nhảy lên khung cửa sổ, suýt bật phì cười, quả thật Y Khắc đang mải miết chép kinh.
Tâm Đăng thở dài :
- Mi thật là uổng phí công lao!
Còn đang cười thầm bất giác nghe có tiếng xé gió vèo vèo, Tâm Đăng tức khắc dùng một thế Túc Nhạn Hàng Lâm bay vù ra phía khác.
Trong lúc thân hình lơ lửng giữa không trung chàng nghe một tiếng “cốp” nho nhỏ, thì ra đó là một viên đá ném trúng khung cửa.
Chàng biết tiếng động này sẽ làm cho Y Khắc giật mình, vội vàng dùng liên tiếp mấy thế Thất Tinh Bộ bắn lùi vào một xó tối...
Quả nhiên, thấy thân hình của Y Khắc như một con chim khổng lồ bay vù ra khung cửa sổ rồi mất dạng trong màn đêm...
Tâm Đăng chờ lâu lắm không thấy động tĩnh gì nữa bèn trở về phòng riêng của mình.
Sáng ngày hôm sau, một cái tin sét đánh vang lên giữa Bố Đạt La Cung: Y Khắc bị ám sát một cách tàn nhẫn.
Ông bị hung thủ khoét mắt, thất khiếu ứa máu mà chết, toàn thân không có một vết thương đao kiếm nào, lẽ tự nhiên ông ta đã bị hung thủ dùng sức mạnh giết chết.
Bố Đạt La Cung xôn xao suốt mấy ngày, vì đây là chuyện kỳ lạ, mà kể từ ngày có ngôi chùa này đến nay chưa từng thấy.
Tạng Tháp đại sư tỏ vẻ buồn rầu lắm, dùng tang lễ to nhất của Lạt Ma mà tống táng Y Khắc. Lại truyền cho chư tăng trong chùa nên giữ kín việc này.
Ngày hạ huyệt, Tạng Tháp thân hành đọc kinh, lại còn đề tặng bốn chữ: Dĩ Thân Tuẫn Đạo!
Một buổi sáng, Tâm Đăng thình lình gặp lại Phật Anh, thấy điệu bộ khả nghi, Tâm Đăng lặng lẽ theo dõi đến bên lầu chứa sách.
Bóng trăng chiếu bóng Tâm Đăng lên vách, Phật Anh quay lại :
- Xin chào chú tiểu!
Tiếng nói vừa dứt, nàng ra tay đánh luôn bốn chưởng liên hoàn. Tâm Đăng vội xoay mình tránh khỏi.
Tâm Đăng liền tung mình ra sau lưng nàng, rồi trổ ra hai ngón điểm một đường thần tốc vào huyệt Chương Đài nằm sau lưng của đối thủ.
Phật Anh vừa xuất thủ bỗng thấy Tâm Đăng biến mất, đồng thời sau lưng mình gió dậy vì vèo, trong lòng cả sợ, vội vàng lộn mình theo thế Nông Canh Xuân Đốc vừa tránh đòn vừa dùng bàn tay hữu của mình trảm vào mạch máu của Tâm Đăng.
Tâm Đăng reo lên một tiếng cười, rụt tay về trước, xéo ngang một bước, để xáp lá cà sát vào mình của đối thủ, lại trổ ra hai ngón điểm vào huyệt Tý Nhu.
Phật Anh thấy đối thủ đổi đòn nhanh như chớp, trong lòng cả sợ, vội rùn mình theo thế Quý Phi Xuất Tục, thân mình nàng bắn lùi ra phía sau hai thước...
Rồi cánh tay hữu của nàng tung ra, năm ngón tay nõn nà kia rắn như sắt thép theo bộ điệu Tiếu Trích Tinh móc vào ngực Tâm Đăng một đường nhanh không thể tả.
Lúc bấy giờ, bóng trắng vằng vặc, bốn bề vắng lặng như tờ, từng luồng gió lạnh về đêm luồn qua kẽ lá, vang lên những tiếng rì rào làm cho người ta phải bàng hoàng ngây ngất trước cảnh trăng thanh rừng vắng.
Trong khung cảnh tuyệt vời đó, hai người trẻ tuổi vẫn vờn nhau như hai con hổ đói, tiếng quyền cước đi trong gió hòa lẫn với tiếng cười ngạo mạn thỉnh thoảng vang lên, xé toang bức màn đêm vắng lặng.
Công lực của Tâm Đăng trội hơn Phật Anh nhiều lắm, nhưng chú nghĩ rằng lòng người háo thắng, không muốn làm cho nàng tổn thương lòng tự ái, thế nên thế công của chàng dịu lại, chỉ dùng có sáu phần công lực mà thôi.
Trongchớp mắt, hai người đã cùng nhau trao đổi thêm mười hiệp nhưng vẫn chưa phân thắng bại.
Phật Anh trong lòng nôn nóng, muốn thắng cấp tốc, quát tháo ầm ĩ :
- Đêm nay ta chẳng thắng mi, quyết không trở về.
Tâm Đăng cả cười :
- Hay lắm!
Chờ cho Tâm Đăng đắc chí phân tâm, Phật Anh bất thần xử một thế Phiêu Tiên Quá Hồ bay vù lên đỉnh đầu của Tâm Đăng, từ trên bổ xuống một đòn Thiên Đài Tháp, khí thế cực kỳ mạnh bạo.
Tâm Đăng biết nàng đang dùng hết mười phần sức mạnh, trong lòng cười thầm, hai chân thoăn thắt đổi cung, bất thình lình ngẩng đầu lên theo thế Ngưỡng Quan Mãn Thiên Tinh...
Trong lúc đó thì bàn tay ngọc của Phật Anh đã kề sát mặt chú rồi... Bất thình lình chú rùn vai theo thế Chức Nữ Bái Ma, hai ống tay áo của Tâm Đăng thình lình bay vù lên, quấn chặt vào cánh tay nàng.
Ống tay áo là vật mềm mại, vậy mà sau khi bị Tâm Đăng truyền nội lực vào rắn hơn sắt thép.
Phật Anh thình lình gặp phải đòn lạ, kinh tâm vỡ mật, bao nhiêu sức mạnh thảy đều mang ra thi thố, thu đòn trở về cấp tốc.
Tâm Đăng cũng điềm đạm dừng tay lại, hai người đứng cách nhau hai trượng mà Phật Anh thì mồ hôi trán vã ra lấm tấm...
Vì rằng mặc dù Tâm Đăng đã dừng tay nhưng chéo áo của chú cũng quét nhằm cườm tay của nàng, đau như dao cắt.
Đến bây giờ Phật Anh mới thật sợ, biết mình không phải là đối thủ của Tâm Đăng, nàng thét vang :
- Hòa thượng... mi dám đánh ta!
Dứt lời thân hình của nàng bắn tới như một đường tên, bao nhiêu sức mạnh thảy đều dồn trong đòn Nhất Tả Thiên Lý, tấn công một đường cực kỳ bén nhọn vào giữa ngực của Tâm Đăng.
Thấy đối phương đã nổi cáu, Tâm Đăng hối hận sao mình chẳng nương tay, vừa muốn dùng một thế võ để lẩn trốn thì giữa bầu không khí âm u tĩnh mịch vang lên một giọng nói khô khan, rùng rợn :
- Võ nghệ thật cao cường...!
Câu nói này làm cho cả hai thảy đều giật mình đình bộ, nhìn kỹ bất giác bay hồn bạt vía.
Thì ra, cách đó chừng một trượng, có một cây cổ thụ cành lá lưa thưa...
Trên một cành cây khô to chừng một ngón chân cái, có một bà lão buông xõa tóc bạc, mình mặc áo đen ngồi vắt vẻo ở trên đó.
Gương mặt của bà ta nhăn nheo, mồm to răng vẩu trông thật là đáng sợ, cặp mắt lại chột mất một con, một còn lại tỏa ánh sáng xanh rờn...
Bà ta buông mình xuống đất nhẹ như ru, làm cho cả hai giật mình lui bước.
Bà cười rũ rượi :
- Hai bây chớ sợ, ta chẳng phải người dữ đâu!
Tâm Đăng cố gắng bạo dạn trả lời :
- Thưa lão thí chủ, để hôm khác chúng ta trò chuyện cùng nhau, bây giờ... thí chủ hãy về đi, tôi cũng về chùa đây.
Nói rồi quay lưng lại nhưng một tiếng gào thảm thiết vang lên làm cho cả hai người cả sợ quay đầu lại nhìn, Tâm Đăng mồm lâm râm đọc kinh Kim Cang để trấn tĩnh tâm thần.
Bà ta bảo với Tâm Đăng :
- Mi có phải là học trò của Cô Trúc?
Tâm Đăng vội vã trả lời :
- Thưa phải. Còn bà là...
Câu nói chưa dứt thì bà ta đã cười rùng rợn :
- Ta biết thằng Cô Trúc nó không quên chuyện xưa, nhất định phải tìm học trò. Xem bản lĩnh của mi thì chắc Cô Trúc hài lòng lắm... Ta là bạn cũ của thầy mi, mi chớ sợ.
Nói đoạn quay sang Phật Anh :
- Còn thầy của mi có phải là Thành Tiểu Văn?
Phật Anh giật mình ấp úng trả lời :
- Chính thế! Lão tiền bối là...
Bà lão cười :
- Thành Tiểu Văn nó là vãn bối của ta, nó mất đi đã ba năm rồi, bằng không võ công của mi còn tiến thêm nhiều nữa... Mi còn bé mà làm ra vẻ người lớn che mặt làm chi? Mi xem, ta xấu dường này mà chẳng che mặt nữa là.
Ngừng lại một chút, bà ta nói tiếp :
- Ta họ Lư... Lư Âu, tiểu hòa thượng từ đây về sau hãy gọi ta là sư thúc... Còn mi, ta gọi mi là đồ đệ vậy.
Hai chữ Lư Âu làm cho hai người trẻ tuổi vừa mừng vừa sợ, thì ra Lư Âu là một bậc kỳ nhân miền Nam Hải, vì tính tình kỳ lạ tương tự với Cô Trúc nên người ta tặng cho hai người này biệt hiệu: Thiên Hạ Nhị Quái.
Tâm Đăng và Phật Anh đồng quỳ xuống, một người gọi “sư thúc”, một người gọi “sư phụ” rồi vái chào làm cho Lư Âu hết sức mừng rỡ. Bà ta bảo với Tâm Đăng :
- Tiểu hòa thượng hãy trở về chùa, canh hai đêm mai trở lại đây cho ta bảo việc.
Rồi quay sang Phật Anh :
- Còn cô bé này hãy ở lại đây cho ta bảo.
Tâm Đăng vái chào thưa rằng :
- Sư thúc, con về đây, canh hai đêm mai sẽ trở lại.
Nói xong xoay lưng trở về Bố Đạt La Cung.
Vào đến chùa, đi ngang đại điện, Tâm Đăng nhác trông thấy trước mặt có một người thân hình vạm vỡ đi nhanh vùn vụt về phía Thiên Phật Đường.
Tâm Đăng vội rút mình vào xó tối, nhìn kỹ bất giác giật mình, thì ra đó chính là Tạng Tháp.
Tạng Tháp mặt mày ảo não, chiếc áo cà sa của ông ta ướt đẫm mồ hôi, hơi thở phì phò, dường như vừa trải qua một trường chiến đấu.
Tâm Đăng nín thở vì ông ta sắp sửa đi ngang chỗ chàng nấp, xuyên qua bóng tối chàng thấy trên gương mặt ảo não của ông ta long lanh hai chấm lệ, dừng chân trước chính điện ông ta lẩm bẩm :
- Trời! Ta tốn hao mấy mươi năm công phu nay phải trôi theo dòng nước...
Ông ta đưa tay lên gạt nước mắt rồi mới đi vòng ra hậu điện.
Trong bóng tối Tâm Đăng thầm nhủ :
- Thật là lạ, chẳng lẽ có người nào làm khó dễ Tạng Tháp?
Tâm Đăng muốn sẽ lén đến bên phòng của Tạng Tháp dò xem hư thực, chợt bên ngoài trống điểm canh tư, sợ bại lộ hành tung, Tâm Đăng vội vã lui về phòng mình.
Sáng ngày hôm sau, một việc kỳ lạ nữa lại xảy ra trong Bố Đạt La Cung.
Thì ra trên bàn Phật giữa đại điện, một kẻ bí mật nào đặt trên đó hai ngón tay bị chặt đứt, đầm đìa những máu.
Việc này làm cho cả chùa lại xôn xao náo động.
Đêm đó, trời chập choạng tối thì đồng đạo thảy đều khóa chặt cửa không dám ra ngoài.
Trăng đã lên khỏi ngọn liễu, Tâm Đăng lén mở cửa phòng, nhanh như một ngọn gió thoảng, chú rời khỏi Bố Đạt La Cung...
Lên đến đỉnh đồi, thấy Trì Phật Anh và Lư Âu đang ngồi xếp bằng đối diện mà vui vẻ chuyện trò.
Tâm Đăng thi lễ rồi ngồi xuống.
Lư Âu hỏi ngay :
- Ta hỏi mi, sư phụ của mi đi đâu?
Tâm Đăng vội trả lời :
- Tôi không biết, chỉ biết ông ta rời khỏi nơi đây, đến ngày rằm Trung Thu năm sau mới trở lại để đón tôi rời khỏi Bố Đạt La Cung.
Lư Âu lấy làm kinh dị, gật gù hỏi :
- Mấy mươi năm nay, thằng Cô Trúc quả thật bền chí, và công việc khó khăn của lão mi phải gánh vác.
Tâm Đăng vội hỏi nguồn cơn nhưng Lư Âu không trả lời, lâu lắm mới nói :
- Đêm qua ta nhìn bộ điệu của mi thấy là công lực vẫn chưa đủ, vẫn không đủ sức để hoàn thành việc nọ, mi có phải tên là Tâm Đăng?
- Vâng!
- Tâm Đăng, sư phụ của mi có truyền cho mi Cô Trúc chưởng chưa?
Tâm Đăng trả lời :
- Con đã học, phải mất một năm trường mới xong.
Lư Âu mừng rỡ :
- Khá lắm, mi hãy biểu diễn cho ta xem thử.
Tâm Đăng vội vàng đứng dậy, cười rằng :
- Đệ tử còn non nớt lắm, xin sư thúc chỉ bảo thêm cho.
Lư Âu dường như muốn xem nghệ thuật của Tâm Đăng lắm thì phải, thôi thúc nói :
- Đừng lải nhải dài dòng nữa, xuất bộ đi.
Tâm Đăng nói thầm :
- Bà lão thật nóng tính!
Đoạn Tâm Đăng đứng thẳng lên, hai tay buông xuôi theo thân mình, rùn vai điệu bộ giống như Cô Trúc, rồi bất thình lình xoay mình trở bộ, trong một cái chớp mắt, Tâm Đăng đã biểu diễn liên hoàn sáu thế.
Động tác thần tốc của Tâm Đăng làm cho Lư Âu cả sợ, bà thầm nghĩ :
- Cô Trúc có thể xưng hùng thiên hạ, quả thật danh bất hư truyền, đường võ Cô Trúc chưởng của hắn ta thật không bằng.
Trì Phật Anh càng thêm kinh dị, nàng giương cặp mắt đen láy ngắm nhìn thân hình thiên biến vạn hóa của Tâm Đăng.
Nàng thầm nhủ :
- Đêm hôm qua, nếu hắn chẳng nương tay thì ta đã thảm bại.
Lúc bấy giờ Tâm Đăng đang biểu diễn đòn thứ ba, đòn này cũng bao gồm sáu thế liên hoàn, trông đẹp mắt như một cánh bướm vờn hoa, như một con dơi vừa rời khỏi tổ, thật là nhanh nhẹn mà khéo léo vô cùng.
Tâm Đăng vừa định trổ đòn thứ tư của Cô Trúc chưởng bỗng nghe Lư Âu quát :
- Tâm Đăng, dừng tay lại, hãy biểu diễn lại từ đầu cho ta xem.
Tâm Đăng nghe lời thu tay đình bộ, trong lòng lấy làm kinh dị, vì chú nghe giọng nói của Lư Âu có vẻ run rẩy, bên trong ắt có điều chi bí ẩn.
Liếc nhìn Lư Âu thấy thần sắc bà ta có chiều xúc động.
Bà thấy Tâm Đăng nhìn mình vội quay sang chỗ khác để trốn luồng nhãn quang.
Cử chỉ đó làm cho Tâm Đăng lấy làm lạ, chú nghĩ thầm :
- Chắc bà này có âm mưu gì đây?
Nghĩ đoạn trả lời rằng :
- Thưa sư thúc, con đã lâu không luyện tập nên chẳng được thuần thục, xin sư thúc tha thứ cho.
Nói đoạn biểu diễn lại từ đầu, nhưng lần này, chàng cố tình biểu diễn những thế giả tạo, bất thành chương pháp, mặc dù xem ra huê dạng vô cùng nhưng thật ra chẳng phải là Cô Trúc chưởng.
Thì ra, đường võ Cô Trúc chưởng này có tất cả bảy mươi đòn, mỗi đòn bao gồm sáu thế liên hoàn, cộng lại là bốn trăm hai mươi thế.
Cô Trúc năm xưa vào rừng trúc, ngắm nhìn những cây trúc ngả nghiêng theo chiều gió, phí mất hai mươi năm tâm huyết mới chế tạo ra đường võ kinh thiên động địa này.
Bây giờ Tâm Đăng bắt đầu biểu diễn thế thứ hai là Tuyết Trúc Áp Mai.
Cứ tráo đi trở lại một cách vô trật tự làm cho Lư Âu và Trì Phật Anh nhìn hoa cả mắt.
Không những người xem thấy khó chịu mà người biểu diễn cũng phải điên đầu.
Quả nhiên khi Tâm Đăng biểu diễn đòn thứ mười bốn Thanh Trúc Nghênh Phong đoạn bất thình lình đổi sang đòn một trăm lẻ ba là Sai Trúc Nhập Thổ, vì chuyển biến vô trật tự, thân hình của Tâm Đăng ở giữa không trung đầu váng mắt hoa, mất thăng bằng rơi đánh sầm trên mặt đất.
Phật Anh rú lên một tiếng, nhảy xổ tới, thấy Tâm Đăng nhắm nghiền cặp mắt, mồ hôi đầm đìa ướt đẫm cả áo cà sa.
Nàng kêu lên :
- Sư phụ mau cứu hắn!
Lư Âu bình thản nói :
- Không sao.
Nói đoạn thò hai tay ra sờ nắn hậu tâm của Tâm Đăng, không bao lâu chú hắt ra một hơi dài rồi nhướng mắt lên.
Tâm Đăng thều thào :
- Đệ tử bất tài.
Lư Âu cười nói :
- Cô Trúc chưởng quả thật thần diệu, theo ta thấy mi phải tốn thêm mười năm nữa mới có thể sử dụng nó một cách hoàn toàn.
Bà ta lạc giọng nói tiếp :
- Cô Trúc quả thật đáng sợ, bản lĩnh của nó cao cường hơn ta!
Tâm Đăng làm tâm hô hấp, dần dần lấy lại sức khoẻ nhưng tứ chi vẫn còn uể oải. Ba người ngồi đối diện với nhau trò chuyện, Lư Âu hỏi về việc tu hành của Tâm Đăng, trả lời rành mạch, duy chỉ giấu đi việc Tàm Tang khẩu quyết.
Từ đó về sau, đêm đêm Tâm Đăng trốn ra khỏi chùa, đến đó để gặp mặt Lư Âu và Phật Anh, khi thì tỷ thí võ, lúc lại chuyện trò.
Tính tình của Lư Âu thật dị kỳ, lúc vui lúc buồn, khi mừng khi giận thật khó đoán.
Thời gian thấm thoát trôi qua, mới đó mà đã một tháng tròn. Tâm Đăng nhờ được Tạng Tháp cho phép chừa tóc nên trên đầu chú đã có lác đác vài sợi tóc thưa.
Phần Bố Đạt La Cung, sau khi xảy ra hai vụ án mạng, bây giờ đã bắt đầu khôi phục sinh hoạt bình thường.
Một tháng nay, Tạng Tháp không hề gọi Tâm Đăng đến nữa. Tâm Đăng thầm nghĩ :
- Chắc bây giờ ông ta đang khổ công tập luyện Tàm Tang khẩu quyết, ta phải tìm cách học lóm mới được.
* * * * *
Đêm hôm ấy, trăng sao vằng vặc, Tâm Đăng theo lệ thường lẻn ra khỏi chùa lên đỉnh đồi để gặp Lư Âu và Phật Anh.
Đêm đó, Phật Anh mặc một bộ đồ võ phục màu trắng, càng làm tăng thêm vẻ đẹp của nàng, lại thêm vuông lụa đen che ngang khuôn mặt càng làm tăng thêm vẻ huyền bí của người đẹp mà chàng chưa rõ lai lịch kia.
Vì chung đụng lâu ngày giữa Phật Anh và Tâm Đăng đã có một mối tình sinh sôi nảy nở, mặc dù mối tình ấy thoảng qua nhẹ như một đường tơ.
Lư Âu thấy Tâm Đăng vừa đến vội nói :
- Tâm Đăng, hai chúng ta sắp sửa lên đường, ba tháng sau mới trở lại đây, chừng đó chúng ta sẽ gặp lại nhau.
Tâm Đăng thở dài nói :
- Sư thúc đi đâu lâu thế?
Lư Âu cười trả lời :
- Ta ở mãi một nơi cũng cuồng chân, nên đi đây đi đó, ba tháng sau sẽ trở lại.
Tâm Đăng chưa kịp trả lời, chàng bỗng giật mình vì Phật Anh vừa thò tay ra nắm lấy tay mình, nàng nói :
- Ba tháng sau chúng ta sẽ gặp lại...
Nhưng giọng nói khàn khàn của Lư Âu đã cắt ngang :
- Phật Anh, chúng ta đi thôi.
Câu nói này làm cho Phật Anh giật mình đánh thót, buông tay ra.
Lư Âu tiến tới trước mặt Tâm Đăng, vò đầu chàng mà bảo :
- Mặc dầu mi sẽ hoàn tục nhưng mi chớ nên quên rằng mi là người đã từng xuất gia đầu Phật.
Câu nói này làm cho Tâm Đăng sững sờ, không nói được một lời nào.
Lư Âu quay sang nắm lấy tay của Phật Anh, rồi hai người như hai cánh bướm bay lảo đảo hòa mình vào ánh trăng bàng bạc, rồi mất dạng ở chân đồi.
Tâm Đăng một mình đứng lại trên ngọn đồi hoang vắng, ngắm nhìn bóng trăng suông mà thẫn thờ như kẻ mất hồn.
Trong tay chàng mân mê vò nát một tấm giấy mà Phật Anh ban nãy vừa giúi vào tay chàng.
Trên mảnh giấy đó là mấy hàng chữ nắn nót của Phật Anh :
“Tâm Đăng sư huynh, vì sư phụ của tôi tính tình quái đản, hôm nay người muốn mang tôi di đâu chẳng rõ, chắc là xa lắm. Từ ngày quen nhau tôi đã rất mến sư huynh nên không muốn rời khỏi nơi này. Vì vậy mà ngày mai lên đường, tôi sẽ tìm hết cách trốn trở về để gặp lại sư huynh. Tôi có rất nhiều điều muốn nói cho sư huynh nghe”.
Tâm Đăng thầm nghĩ :
- Thì ra nàng cũng chẳng muốn xa ta, nhưng nếu nàng trốn trở về thì thật là nguy hiểm...
Bỗng dòng tư tưởng êm đềm của chàng bị cắt đứt bởi một câu nói khàn khàn :
- Chú tiểu, chú không dứt được nợ trần thì sao thành Phật được?
Giật mình đánh thót, Tâm Đăng tay trái bảo vệ tiền tâm, quay đầu nhìn lại...

Xem tiếp chương 3 Nơi hang thẳm tụng kinh siêu độ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:55 pm

Chương 3 Nơi hang thẳm tụng kinh siêu độ

Quay đầu nhìn lại, Tâm Đăng thấy dưới bóng trăng mờ, gió thổi lao xao, lá khua xào xạc, mà không có một bóng người.
Tâm Đăng càng thêm kinh dị, lớn tiếng nói rằng :
- Lão tiền bối có điều chi chỉ giáo, sao không xuất đầu lộ diện?
Câu nói vừa dứt thì sau lưng chàng có tiếng cười nổi lên như nắc nẻ, giọng nói ban nãy lại vang lên :
- Thôi ta chẳng đùa nữa.
Dứt lời từ dưới rặng cây có một bóng người lách mình bước ra.
Tâm Đăng thấy đó là một lão già đầu sói, tuổi ngoại thất tuần, sắc mặt của ông nhợt nhạt, thân thể gầy gò, dường như một người đang lâm trọng bệnh.
Lão ta chệnh choạng bước tới, ho lên sù sụ. Tâm Đăng bước tới đỡ, lão ta hổn hển nói rằng :
- Chú tiểu thật có lòng tốt!
Lão vừa ho vừa vừa ngồi xuống, Tâm Đăng cũng thò tay đặt vào hậu tâm của lão ta, giúp lão dằn cơn ho xuống.
Tâm Đăng hỏi :
- Công lực của ông cao thâm đến thế, cớ sao lại mắc bệnh?
Lão già trợn mắt :
- Ai bảo ta biết võ?
Tâm Đăng cười trả lời :
- Ban nãy tôi nghe ông nói chuyện sau lưng, quay lại thì ông đã đi xa một trượng, như vậy thì khinh công của ông thuộc vào hàng thượng thừa.
Lão già cười chua chát :
- Ờ... thì ta biết võ vậy... Mi cũng biết võ... Thầy mi là ai?
Tâm Đăng thành thật trả lời :
- Thầy tôi là Cô Trúc lão nhân. Chắc ông có quen biết?
Lão già thình lình biến sắc mặt, nói gấp rút :
- À... Ta từng là một viên bại tướng dưới tay lão ta đó... Nhưng mà nếu ta không mắc bệnh, chưa chắc hắn thắng ta.
Nói rồi ho lên sù sụ, Tâm Đăng ái ngại nhìn lão hỏi :
- Nhà ông ở đâu? Để tôi đưa ông về.
Lão già lắc đầu hỏi ngược lại :
- Trước khi Cô Trúc truyền võ nghệ cho mi, có hứa với mi điều gì?
Tâm Đăng suy nghĩ đoạn trả lời :
- Ông ta chỉ yêu cầu tôi làm hộ cho ông ta một việc.
Lão già nghe nói gật gù :
- Đúng rồi, còn hai năm nữa, ai cũng nôn nóng mà trông đợi, bằng không thì Lư Âu không xuất đầu lộ diện sớm như thế, ta cũng không ôm bệnh mà lê gót giang hồ, và trong Bố Đạt La Cung kia cũng không xảy ra nhiều việc lôi thôi rắc rối.
Tâm Đăng nghe lời nói của ông ta dường như có ẩn ý khác, vội hỏi :
- Chẳng hay ông nói thế có dụng ý gì?
Chợt lão già ưỡn ngực, đôi mắt dán chặt vào Tâm Đăng, lâu lắm mới hỏi một câu nghiêm nghị :
- Chú tiểu, chú có bằng lòng học võ nghệ của ta chăng?
Tâm Đăng nghe nói giật mình, không biết phải trả lời sao cho phải, lão già thấy vậy có vẻ giận, trợn mắt hỏi rằng :
- Bình sinh ta thu đồ đệ không phải là việc dễ, biết bao nhiêu người lạy lục năn nỉ ta mà ta không khứng.
Nói đến đây lão ho lên sù sụ, run rẩy đưa tay ra trỏ vào mặt Tâm Đăng, làm cho Tâm Đăng cả sợ, chú không dám cưỡng, trả lời :
- Thôi ông chớ giận, tôi bằng lòng vậy.
Lão già đưa ống tay lau lên lấy mồ hôi trên trán bảo :
- Vậy thì mi hãy quỳ xuống làm lễ mà nghe ta dặn.
Đoạn lão nghiêm trang dặn từng tiếng :
- Ta họ Lạc, tên Giang Nguyên, ba mươi năm trước trong giới giang hồ gọi ta là Bệnh Hiệp, nay mi cũng cứ gọi là Bệnh Hiệp. Trong vòng nửa năm ta sẽ truyền cho mi một môn võ nghệ mà thôi nhưng trước khi luyện võ, mi phải hứa là sẽ giúp ta một việc, mi có bằng lòng?
Tâm Đăng trong lòng cả sợ, thầm nghĩ :
- Quái lạ, lão già này cũng muốn ta làm hộ cho hắn một việc.
Trong trí khó xử nhưng ngoài miệng lại vui vẻ trả lời :
- Chẳng hay việc gì? Xin sư phụ cho đệ tử được rõ.
Bệnh Hiệp khoát tay trả lời :
- Mi bất tất phải hỏi, dù sao thì đó là một việc tốt, đứng về mặt nhà Phật mà nói thì đó là một việc công đức vô biên... Chú hãy bằng lòng.
Tâm Đăng mặc dầu hồ nghi nhưng vẫn trả lời dứt khoát :
- Được, con bằng lòng!
Bệnh Hiệp nghe qua lộ vẻ vui mừng, vì mừng quá bị xúc động nên lão ta thở hổn hển, Tâm Đăng vội trả lời :
- Bệnh sư phụ, nếu sư phụ có mệt để con đưa về yên nghỉ.
Bệnh Hiệp lắc đầu không trả lời, thở rất lâu mới truyền cho Tâm Đăng rằng :
- Thôi mi hãy trở về, canh hai đêm mai đến đây cho ta dạy việc.
Tâm Đăng đứng dậy, sửa soạn lui gót bỗng nghe Bệnh Hiệp gọi giật lại :
- À ta quên, mi tên gì?
Tâm Đăng vội trả lời :
- Tôi tên Tâm Đăng, chữ Tâm của tâm phúc, chữ Đăng của đăng hoả.
Bệnh Hiệp gật gù, đoạn ngẩng mặt lên nói rằng :
- Chắc đây là pháp danh của mi, còn tên ở ngoài đời của mi là gì?
Tâm Đăng bàng hoàng ngớ ngẩn vì tên riêng của mình chỉ thoáng nghe một vài lần nên bây giờ chú phải suy nghĩ rất lâu mới nhớ ra. Tâm Đăng nói :
- Tên tục của tôi là Tiêu Chính Dung.
Bệnh Hiệp nghe nói cả cười bảo rằng :
- Chính Dung cũng là cái tên của người xuất gia, kiếp này mi nhất định sẽ làm hòa thượng suốt đời rồi đó. Cái tên thật hay.
Tâm Đăng nghe nói mạng mình là mạng hòa thượng trong lòng cảm thấy vui vẻ và nhẹ nhàng.
Thật ra chú vào cửa Phật từ tấm bé, bây giờ tự nhiên hoàn tục, thật là một điều khổ não cho chú.
Bệnh Hiệp lại nhắc chú về chùa, chú lui gót xuống đồi mà trong lòng ngổn ngang trăm mối.
Về đến Bố Đạt La Cung thì trống đã sang canh ba, muôn ngàn vì sao nhấp nháy trên nền trời đen thẫm, nhưng mặt trăng thì không biết trốn nơi nào.
Về đến phòng riêng của mình, Tâm Đăng ý thức được rằng, đời mình đang đến một ngã ba, dù sao thì chú cũng phải hoàn tục.
Trăm nghìn câu hỏi quay cuồng trong trí.
- Cha mẹ mình là ai?
- Ai đưa mình vào chùa?
- Cô Trúc muốn nhờ mình làm gì?
- Tại sao Bệnh Hiệp lại muốn truyền võ nghệ cho mình?
- Sau ngày hoàn tục, thân mình sẽ trôi nổi về đâu?
- Và mình sẽ làm những gì trong bước giang hồ lưu lạc?
Ngần ấy câu hỏi làm cho Tâm Đăng không thể nào yên giấc, trằn trọc mãi, chàng nhủ thầm :
- Bây giờ hãy còn khuya, ta hãy đến phòng của Tạng Tháp rình xem, biết đâu giờ này ông ta đang luyện Tàm Tang khẩu quyết.
Nghĩ đến đây chàng bật dậy như chiếc lò xo, xô cửa bước ra, bên ngoài gió lạnh từng cơn vì vèo, càng làm tăng cái vẻ thê lương ảm đạm của đêm trường.
Trong chính điện đèn hương vẫn còn nghi ngút...
Tâm Đăng sẽ lén đi vòng ra phía sau chính điện, rồi đến lầu chứa sách, kế đó là phòng của Tạng Tháp.
Mặc dầu đã nửa đêm nhưng trong phòng ông ta ánh sáng vẫn còn hắt ra, Tâm Đăng thầm nhủ :
- Quả thật ông ta đang luyện công.
Phòng của Tạng Tháp trên tầng lầu thứ hai nhưng Tâm Đăng sẽ nhún chân đã bay vù lên khung cửa sổ một cách nhẹ nhàng êm ái.
Chân vừa đứng vững thì từ bên trong đưa ra một tiếng thở dài não nùng.
Tâm Đăng giật mình trong dạ, nghĩ thầm :
- Tiếng thở dài này thật là bi ai thảm não!
Lại nghe Tạng Tháp lẩm bẩm một mình :
- Vào cửa Phật mà không theo Phật, lại đi làm điều tội nghiệt. Chỉ vì một chút lầm lỡ mà ngày nay phải chịu nhiều báo ứng. Luật nhân quả tuần hoàn thật là khe khắt, nếu không phải là người trong nhà Phật, làm sao hiểu thấu...?
Tâm Đăng lại tự bảo với mình :
- Lão hòa thượng này quả nhiên lục căn chưa sạch, không biết ông ta đã làm điều gì tội ác mà ngày nay phải chịu báo ứng?
Lại nghe Tạng Tháp ngậm ngùi than thở :
- Học võ có thể phòng thân, lại cũng có thể hại thân, nếu ta biết như vậy, thì ta hà tất phải tốn công phu luyện võ để làm gì?
Tâm Đăng nghe đến đây, nhóng cổ lên nhìn vào bên trong, thấy Tạng Tháp đang chắp tay sau lưng, đầu gằm xuống đất, đi đi lại lại giữa gian phòng...
Trên bàn đang mở một quyển sách vừa đọc dở, nằm bên cạnh một chiếc mõ màu đỏ sậm.
Gương mặt của Tạng Tháp cau có, ra chiều đau khổ lắm, thật trái ngược với vẻ thư thái ngày thường.
Dường như ông ta đang chìm đắm trong triền miên dĩ vãng, chợt nghe ông ta thì thầm :
- Y Khắc vì tham mà mất mạng! Ta vì tham mà mất hết hai ngón tay nhưng hung thủ chưa chắc sẽ tránh khỏi tai vạ.
Tâm Đăng nghe đến đây giật mình kinh hãi :
- Thì ra không phải Tạng Tháp giết Y Khắc, mà hai lòng tay bị chặt kia của chính lão, vậy thì ai là hung thủ?
Trong trí chàng bỗng thoáng ngang hình ảnh một người, người ấy là Lư Âu vì công lực của bà ta thật đáng kể.
Tâm Đăng còn đang bàng hoàng nghi ngại, chợt thấy Tạng Tháp quắc cặp mắt sáng rực nhìn về phía cửa sổ, bình thản nói rằng :
- Tàm Tang khẩu quyết đã lọt về tay người khác, thí chủ còn đeo theo ta làm gì?
Tâm Đăng biết hành tung của mình bại lộ, vừa định xê dịch thân hình, bỗng nghe Tạng Tháp nói :
- Thí chủ đã đến, hà tất phải đi nhanh như thế, ta muốn tìm thêm một người bằng hữu.
Tâm Đăng không dám chần chờ, đảo mình bay xuống đất, trở về phòng riêng. Phía sau, vẫn không thấy Tạng Tháp đuổi theo, ông ta cũng không buồn mở cửa sổ mà nhìn.
Tâm Đăng bước lên giường mà lòng rối như tơ, không biết đầu đuôi công việc ra sao? Một màn bí mật bao trùm lấy sự việc, chú lẩm bẩm nói với mình :
- Ta thật phải nên hoàn tục, ở trong Bố Đạt La Cung này, việc kỳ quái xảy ra ngày càng nhiều.
Trằn trọc mãi thêm một trống canh, Tâm Đăng mới chợp được mắt.
Sáng ngày hôm sau, Tâm Đăng được lệnh Tạng Tháp gọi vào, Tâm Đăng có vẻ lo sợ nghĩ thầm :
- Hay là đêm qua ông ta đã phát giác ra ta nên nay mới gọi vào hỏi?
Tâm Đăng gặp Tạng Tháp trong phòng riêng, hôm nay ông ta không còn cầm xâu tràng hạt trên tay nữa mà giấu tay vào áo.
Ngót tháng trời không gặp, Tạng Tháp có vẻ gầy đi một tí, thần sắc cũng không còn được bình tĩnh như xưa.
Tạng Tháp thấy Tâm Đăng ngồi yên rồi mới ngậm ngùi nói rằng :
- Tâm Đăng, tết Trung Thu năm tới con sẽ hoàn tục, có lẽ... ta chờ đợi không được, con có thấy gói hành trang đặt trước mặt ta đây chăng, đó là một vật mà khi Lăng thí chủ đưa con vào chùa gửi lại, bây giờ con hãy nhận trước đi, e rằng... Ta không thể đợi đến ngày Trung Thu mà giao cho con được nữa.
Nói đoạn ông ta dợm lấy gói đồ trao cho Tâm Đăng nhưng bỗng rụt tay lại nói rằng :
- Con tự tiện lấy đi, có lẽ đây là những món đồ ở ngoài đời, mười mấy năm nay ta chẳng có mở ra xem... Mi hãy lấy đi, sau này đừng trở lại đây nữa, vì có một số người thật không thích hợp với đời sống xuất gia đầu Phật... Ta...
Tạng Tháp nói đến đây rồi dừng lại, Tâm Đăng nhìn theo ngón tay ông ta thấy trên bàn có đặt hai gói hành trang, một lớn và một nhỏ.
Tâm Đăng nhìn hai món đồ mà ngậm ngùi cho số kiếp, bỗng nghe tiếng của Tạng Tháp vang lên :
- Hãy lấy về đi, ta mệt lắm, cần ngơi nghỉ...
Tâm Đăng thò tay lấy hai gói hành trang, nghe nặng lắm, chú vừa lui ra bỗng nghe tiếng Tạng Tháp nói với một giọng run rẩy :
- Tâm Đăng, mi trở lại ta có việc cần hỏi...
Tâm Đăng thong thả quay trở lại, thấy Tạng Tháp đưa mắt ngắm nhìn mình từ đầu chí chân, đoạn hỏi :
- Tâm Đăng, mi có từng học võ hay không?
Tâm Đăng giật mình vội trả lời :
- Thưa sư phụ, con không hề học võ!
Tạng Tháp tỏ vẻ thất vọng, gật gù lẩm bẩm :
- Phải... nhưng đã trễ... thật không ngờ...
Tạng Tháp nói đến đây, phát giác Tâm Đăng đang chờ nghe câu nói của mình, ông ta lắc đầu nói một cách tiếc rẻ :
- Ta thật bỏ phí cốt cách phi phàm của mi, thật là uổng, thôi mi lui ra.
Tâm Đăng ôm lấy hai gói hành trang, lần bước về phía lầu chuông, nơi ấy tứ bề vắng vẻ, chú thong thả ngồi xuống mở hai gói đồ ra.
Thấy bên trong gói hai chiếc áo ngắn nhỏ, may bằng một chất lụa thật mềm và mát.
Tâm Đăng nghĩ thầm :
- À,... thì ra đây là chiếc áo của ta mặc hồi thủa bé, xem thế này thì gia cảnh của ta chẳng phải hạng nghèo nàn, nhưng tại sao họ lại đưa ta vào chùa?
Tâm Đăng ngậm ngùi mở tiếp gói hành trang thứ nhì, thấy bên trong lộ ra rực rỡ chừng ngót một nghìn nén vàng ròng. Tâm Đăng bất giác cau mày nghĩ :
- Họ để tiền cho ta nhiều thế này để làm gì nhỉ?
Trong đống vàng khổng lồ kia có một đồng tiền cổ hình tròn, Tâm Đăng thấy đồng tiền đó có vẻ ngộ nghĩnh bèn nhặt lên xem.
Thấy trên mặt đồng tiền có khắc một bức tranh sơn thủy, cây cỏ rườm rà, bề trái có khắc hai chữ Duyên Sinh.
Giữa đồng tiền có buộc một sợi dây, thấy có vẻ xinh xắn, Tâm Đăng tròng ngay vào cổ, đoạn cau mày nhìn đống vàng nói thầm :
- Ta hãy tìm chỗ cất số vàng này, biết đâu ngày sau có chẳng có khi dùng đến.
Nghĩ đoạn gói kỹ lại rồi ôm trở vào phòng, lúc bấy giờ đồng đạo thảy đều lên chính điện hành hương chỉ còn lại một mình Tâm Đăng trong phòng. Chàng ngồi bên thành tường mà ngổn ngang trăm mối.
Chú nôn nóng đợi đến canh hai đêm ấy, liền vượt tường mà ra đỉnh đồi phía sau chùa.
Còn ở xa xa, Tâm Đăng đã thấy tiếng ho, chàng thầm nghĩ :
- Bệnh Hiệp đến trước hơn ta...
Chừng tới gần, Tâm Đăng thấy ông ta tựa lưng dưới gốc cây ho rũ rượi.
Chú vội vàng bước tới, định đỡ lấy ông ta, nào ngờ ông ta đẩy mạnh chú ra, nói qua tiếng ho :
- Mi đừng lo cho ta...
Tâm Đăng cảm thấy chưởng lực của Bệnh Hiệp thật là mạnh mẽ, nếu mình không kịp xuống tấn thì chắc đã lộn mèo.
Chàng không biết tại sao Bệnh Hiệp lại có thái độ kỳ lạ như vậy, Bệnh Hiệp vừa ho, vừa thở vừa nói :
- Mi hãy nhớ, lần sau ta có ho thì mi đừng đứng gần ta, bây giờ mi hãy theo ta.
Nói xong loạng choạng đứng dậy, loạng choạng bước đi, Tâm Đăng lặng lẽ theo sau.
Trong lòng chú bàng hoàng nghi hoặc, không biết cớ sao một người có bệnh hoạn như vậy mà võ thuật lại cao siêu ngoài mức tưởng tượng.
Đi được một khoảng đường, Tâm Đăng thấy chung quanh càng vắng vẻ, Bệnh Hiệp trỏ tay về phía trước nói :
- Từ đây về sau, chúng ta gặp mặt nhau tại chỗ này, và luyện võ cũng tại chỗ này...
Nói đến đây lão thở hổn hển có vẻ mệt nhọc lắm, Tâm Đăng nhìn theo ngón tay của lão, thấy đó là một cửa hang tối om.
Tâm Đăng nói :
- Bệnh sư phụ, trong đó tối quá...
Câu nói chưa dứt thì Bệnh Hiệp quắc mắt :
- Hừ! Mi là người xuất gia mà lại sợ ma ư? Theo ta vào, cấm nói chuyện, cấm ho...
Nói rồi ho lên vài tiếng, đoạn chuệnh choạng bước vào hang tối, Tâm Đăng theo sau một cách bất đắc dĩ, bụng bảo dạ :
- Tại sao con người ta hễ đến chừng tuổi cao tác lớn, thì lại hay sinh tật? Cô Trúc, Lư Âu và Bệnh Hiệp thảy đều là người dở chứng, sau này ta già không biết có dở chứng như họ không?
Càng đi, phía trước càng tối, Tâm Đăng phải vận hết nhãn lực mà chỉ nhìn thấy có hai thước chiều xa.
Trong bóng tối trập trùng, chỉ nghe thấy hơi thở nặng nhọc của Bệnh Hiệp hòa lẫn với tiếng bước chân rào rạo của hai người...
Chợt Bệnh Hiệp ngoặc sang cánh tả, tứ bề càng thêm đen tối, dưới chân gập ghềnh khúc khủyu, đường sá thật khó đi.
Lúc bấy giờ, Tâm Đăng như một người lạc vào thế giới của tà ma quỷ quái, chàng sờ soạng theo bản năng của mình mà dò từng bước một.
Bên tai chàng, hơi thở của Bệnh Hiệp nhở dần... nhỏ dần... rồi mất hẳn.
Tâm Đăng cả sợ, dừng chân lại nghe ngóng, không những hơi thở của ông ta không nghe thấy, mà tiếng bước chân của ông ta cũng tắt hẳn.
Tâm Đăng hốt hoảng gọi to :
- Bệnh sư phụ!
Chợt nghe tiếng của Bệnh Hiệp mắng từ đằng xa :
- Ta ở đây, mi sợ ư? Sợ gì? Sao đi chậm thế?
Tâm Đăng giật mình kinh dị, thì ra tiếng nói của Bệnh Hiệp đã cách xa chỗ chàng đứng hơn ba trượng, chú nghĩ thầm :
- Cớ sao lão già này đột nhiên đi nhanh như thế? Sao ông ta thấy đường, sao ông ta không ho nữa? Thật là lạ...
Tâm Đăng cười trả lời :
- Tôi không sợ nhưng đường đi tối quá.
Chàng nghe một câu trả lời văng vẳng từ đằng xa :
- Tối quá thì hãy đi chậm lại.
Tâm Đăng lại giật mình vì tiếng nói của lão lại kéo xa khoảng cách thêm hai trượng nữa, và cái giọng hổn hển ban nãy không còn, thay vào đó là một giọng nói mạnh mẽ, sang sảng, đồng vọng khắp bốn bề.
Tâm Đăng nghĩ :
- Thật là lạ! Hay là lão già này đến chỗ tối là tinh thần phấn chấn?
Từ đó về sau, Tâm Đăng hỏi gì cũng chẳng nghe ông ta trả lời, giận quá, Tâm Đăng không hỏi nữa, cứ sờ soạng vào tường mà đi.
Chỗ chàng chạm tay vào, ẩm thấp và ướt át, thỉnh thoảng lại đụng nhằm những loài côn trùng làm cho chàng sợ hãi mà rút tay về.
Gắng gượng đi thêm vài trượng nữa mà không thấy tăm hơi của Bệnh Hiệp đâu, chú lấy làm lạ, chú rướn gân cổ lên gọi mấy tiếng thật to “sư phụ”, mà vẫn không nghe thấy tiếng trả lời.
Đường càng đi càng thấp dần về phía trước, tăm hơi của Bệnh Hiệp vẫn bằn bặt, trong trí chú nảy ra một ý nghĩ hay là Bệnh Hiệp đã chết rồi?
Đang cơn khủng hoảng, chàng thoáng nghe phía trước có tiếng động, chú mắng thầm trong bụng :
- Lão già này cố ý nhát ta.
Đường thấp dần, thấp dần, và bên tai văng vẳng có tiếng ồn ào, trong lòng lấy làm lạ, không biết lão già này dẫn ta đi về đâu?
Trong trí chàng lại nảy ra một ý nghĩ, hay là lão già này ác ý, muốn dẫn ta vào tử địa?
Chú rùng mình rởn óc, chính vào lúc đó một luồng gió lạnh không biết từ đâu thổi tới, Tâm Đăng kinh sợ, vội vàng hai tay bắt ấn, mồm lẩm bẩm đọc Kim Cang Kinh.
Chợt tiếng động dần dần im bặt. Chú vẫn tiếp tục đi, và Bệnh Hiệp không biết vẫn trốn ở nơi nào, trong lòng của Tâm Đăng tức giận lắm.
Chàng gọi thêm mấy tiếng mà chỉ có những âm thanh đồng vọng trả lời mà thôi.
Tức quá, Tâm Đăng đâm bừa mà đi, không còn biết cẩn thận nữa.
Đang đi nhanh bỗng bên tai văng vẳng một câu nói nho nhỏ :
- Thôi dừng lại, hôm nay ta chỉ đi đến chỗ này.
Nghe giọng nói, Tâm Đăng biết ngay là Bệnh Hiệp, vừa dừng chân lại thì nghe ông ta cười rằng :
- Ngồi xuống đây!
Tâm Đăng nãy giờ bị ông ta trêu chọc, bây giờ nổi cáu chẳng chịu ngồi xuống, ông ta mắng :
- Mi là người xuất gia cớ sao độ lượng hẹp hòi...
Tâm Đăng nghe nói vội vàng ngồi bệt xuống dưới đất, nghe thấy đất ở đây ẩm ướt lắm, chàng giật mình đưa tay sờ mó, bất giác rú lên một tiếng hãi hùng vì vừa chạm phải một bộ xương khô.
Còn đang kinh hãi, lại nghe Bệnh Hiệp nói :
- Mi thật là nhát gan, đừng sợ, nó là người bạn già của ta, tên là Kiết Văn Dao, qua đời đã mười năm nay rồi.
Tâm Đăng nghe thấy giọng nói của Bệnh Hiệp não nùng bi thiết lắm, dường như ông ta đang hồi tưởng lại người vợ trăm năm của mình.
Tâm Đăng hỏi :
- Sao Bệnh sư phụ chẳng mai táng hài cốt đi?
Câu hỏi vừa dứt thì Bệnh Hiệp nạt ngang :
- Việc riêng của ta, mi không cần phải biết, ngồi xuống!
Tâm Đăng lấy làm lạ, cớ sao Bệnh Hiệp lại thình lình nổi nóng, chàng vừa ngồi xuống thì Bệnh Hiệp lại nói :
- Bây giờ ta truyền cho mi hãy tụng kinh siêu độ cho vợ ta!
Tâm Đăng gật đầu trong bóng tối trả lời :
- Vâng, tôi sẽ tụng một đoạn kinh siêu độ cho Bệnh sư mẫu.
Nói rồi sờ soạng nhặt một hòn đá gần đó, gõ như gõ mõ rồi bắt đầu ê a tụng kinh.
Trong động sâu, tiếng kinh đồng vọng văng vẳng khắp bốn bề nghe thật là thảm não.
Bệnh Hiệp nhắm nghiền cặp mắt, trong lòng ông ta ngậm ngùi bi thiết, tâm tư của ông ta theo tiếng kinh trầm bổng mà sôi nổi dạt dào, dường như ông ta nhờ tiếng kinh kia đưa về miền cực lạc để mà hội họp với người bạn già đã khuất bóng mười năm.
Không bao lâu, tiếng kinh chấm dứt, Tâm Đăng nghe có hai bàn tay lạnh giá sờ lấy vai mình. Và có người áp mặt lên vai mình thổn thức...
Tiếng khóc nghe thật là bi thảm, từng giọt từng giọt nước mắt rơi xuống vai của Tâm Đăng.
Trong lòng chú vừa sợ hãi, vừa đau đớn, vội vàng đỡ Bệnh Hiệp dậy, khuyên giải ông ta nhưng mà Bệnh Hiệp không những không ngưng tiếng khóc, trái lại nước mắt càng xuống càng nhiều.
Giọng của ông ta cơ hồ lạc hẳn đi, đứng trước cảnh bi thảm đó, lòng của Tâm Đăng cũng ngậm ngùi khôn kể.
Chợt nghe Bệnh Hiệp hơi thở phì phò, dường như mệt nhọc lắm. Ông ngưng khóc, chắc có lẽ đang làm hô hấp thì phải, vì Tâm Đăng nghe hơi thở của ông lần lần điều hòa trở lại.
Tâm Đăng tò mò hỏi :
- Sư phụ cư ngụ tại chỗ này đã được bao lâu rồi?
Lâu lắm mới nghe Bệnh Hiệp trả lời :
- Đừng hỏi chuyện lôi thôi dài dòng, việc chính của mi đến đây là học võ.
Tâm Đăng càu nhàu thầm trong lòng :
- Tính tình của người này thật bất thường!
Bỗng nghe Bệnh Hiệp nói :
- Ban nãy ta cố ý bỏ rơi là để thử ý chí của mi, may nhờ mi là người tu hành, biết đọc kinh và tọa thiền nên mới đủ nghị lực lướt qua.
Trong bóng tối, Tâm Đăng đỏ bừng sắc mặt vì chàng nghĩ Bệnh Hiệp đã đọc thấu tâm tư mình.
Lại nghe Bệnh Hiệp nói :
- Ban nãy mi chê chỗ này tăm tối lắm, có phải không?
Tâm Đăng trả lời :
- Phải!
- Mi lại chê con đường đi này xa quá, có phải không?
- Phải!
- Đó là mi có lòng sợ việc khó và chẳng có kiên tâm bền chí. Điều thứ ba, mi gọi ta chẳng trả lời, mi cho rằng ta đã chết, có phải không?
Tâm Đăng giật mình nghĩ :
- Lão già này thật là khôn khéo, đoán chẳng sai một mảy.
Tâm Đăng lại nhìn nhận và Bệnh Hiệp nói rằng :
- Đó là mi thiếu lòng tin người, sinh ra ngờ vực, thứ tư ban nãy mi đọc lầm thầm chắc là đọc kinh trừ tà.
- Vâng.
- Đó là mi suy nghĩ viển vông, kể người là ma. Thứ năm, ban nãy mi ngập ngừng muốn quay đầu trở lại, phải chăng?
- Bây giờ ta bắt đầu dạy võ cho mi, hãy chú tâm cho kỹ vào.
Đoạn lão vung tay và thi triển thần công, lão nói :
- Tới đâu giảng tới đó.
Bệnh Hiệp ngừng một chút, trả lời :
- Môn võ công này gọi là Đại Thừa thần công, mi có từng nghe qua chăng?
Tâm Đăng suy nghĩ giây lâu, lắc đầu trả lời :
- Không nghe, nhưng mà cái tên này thấy hay quá.
Bệnh Hiệp gật gù :
- Không nghe là phải, cho đến những kẻ giang hồ lão luyện cũng chẳng biết môn võ này, dùng nó để chống cự kẻ thù, dưỡng thân mình cho được trường thọ, thật là một phép báu.
Tâm Đăng nghe nói đến đây, tim đập rộn ràng vì mừng rỡ. Bệnh Hiệp cất giọng sang sảng :
- Bây giờ ta truyền thụ cho mi, nghe này... thái tang chi hư, cực hải chi ảo, tu sanh dưỡng mạng, sở trọng khí nhất...
Tâm Đăng đọc theo nho nhỏ nhưng theo không kịp, Bệnh Hiệp lại nóng nảy thôi thúc luôn mồm, giây lâu ông ta mới cho Tâm Đăng ngơi nghỉ và bảo đêm hôm sau trở lại.
Tâm Đăng sờ soạng lần ra khỏi động, bất giác giật mình, vì bên ngoài trời đã sáng trắng, chú không ngờ chú đã giam mình trong hang sâu suốt một đêm.
Chú quay lại nhìn miệng hang đen tối nghĩ thầm :
- Lão già này suốt đời giam mình trong chỗ u ám như vậy, thảo nào chẳng sinh bệnh.
Nghĩ đoạn chàng lủi thủi trở về Bố Đạt La Cung.
Tâm Đăng rón rén đi vào cổng hậu, dọc đường không gặp chú tiểu nào, và tiếng tụng kinh cũng vắng bặt, chú lấy làm lạ nhưng vì bụng đói nên cứ đi thẳng vào trai đường.
Vào đến đó, Tâm Đăng càng thêm kinh dị, thì ra trong trai đường cũng vắng vẻ, không một bóng người qua lại.
Chén bát trên bàn còn để ngổn ngang chứng tỏ nhiều người đang ăn dở bữa cơm, rồi vội bỏ đó mà đi.
Tâm Đăng nói thầm :
- Thật là lạ, ngót bảy nghìn Lạt Ma đi đâu vắng?
Vừa nghĩ chú vừa vội vã dùng cơm rồi chạy ra chính điện.
Ra đến đó, chú mới hoàn hồn, vì bảy nghìn đồng đạo lúc đó đang đứng xếp hàng giữa sân.
Từ trên thềm đá, có mười mấy vị lão Lạt Ma nghiêm trang đứng đấy, mà chẳng thấy Tạng Tháp.
Toàn thể đồng đạo thảy đều im phăng phắc, lóng tai nghe một vị Lạt Ma lớn tuổi nhất là Mạc Cổ nói chuyện.
Tâm Đăng đi vắng một đêm, trong lòng hổ thẹn, vội vàng chắp tay đứng vào hàng sau chót.
Mạc Cổ thấy Tâm Đăng trở về, bỏ ngang câu chuyện, lớn tiếng hỏi rằng :
- Tâm Đăng, mi lên đây, chúng ta đang chờ mi!
Tâm Đăng không biết việc gì vội vàng tuân lệnh tiến lên. Chúng đồng đạo nghe nói Tâm Đăng quay trở lại, thảy đều quay đầu lại, tiếng xì xào lập tức vang lên, làm cho Tâm Đăng càng lấy làm kinh dị, biết rằng đã có việc quan trọng xảy ra.
Khi chú lên tới chính điện rồi, Mạc Cổ lớn tiếng hỏi :
- Tâm Đăng, đêm qua mi đi đâu?
Tâm Đăng giật mình, biết rằng đêm qua đã có việc lạ lùng xảy ra, vội trả lời :
- Đêm qua tôi không có ra ngoài.
Mạc Cổ lại hỏi :
- Vậy cớ sao sáng nay khi dùng trai ta chẳng thấy mi?
Tâm Đăng trả lời :
- Vì sang năm tôi phải hoàn tục nên canh tư tôi đã thức giấc ra sau chùa để “chôn kinh”.
Thì ra theo tục lệ của Lạt Ma Tây Tạng, cứ mỗi khi gặp phải những việc quan hệ, ví dụ như hoàn tục, như gặp tang hoặc chức vụ được cao thăng, thì thường trở dậy rất sớm, đi đến một nơi vắng vẻ, tụng vài trang kinh rồi chôn kinh xuống đất.
Mạc Cổ nghe nói, gật gù :
- Thôi được, mi hãy trở về.
Tâm Đăng không dám hỏi nhiều thêm nữa, vội vàng lui về phía cuối sân. Mạc Cổ lại bắt đầu nói chuyện, Tâm Đăng hỏi nhỏ một vị đồng đạo đứng bên cạnh :
- Sư huynh, trong chùa xảy ra việc gì?
Chú tiểu ấy nói nhỏ vào tai Tâm Đăng :
- Sáng nay, khi vào giờ thụ trai, có đồng đạo đi thỉnh Tạng Tháp sư phụ, bỗng phát giác Tạng Tháp sư phụ thình lình mất tích, làm cho cả chùa nhốn nháo, điều tra lại thấy sư huynh vắng mặt, ai cũng nghĩ sư huynh mất tích theo Tạng Tháp sư phụ.
Tâm Đăng trong lòng kinh sợ nói thầm :
- Hay là Tạng Tháp bị người ta sát hại rồi? Ai là hung thủ?
Còn đang kinh dị, nghe Mạc Cổ nói :
- Trụ trì đại sư thình lình mất tích mà chẳng để lại chút dấu vết nào, việc này thật đem đến cho chúng ta nhiều lo ngại. Mong rằng Trời Phật sẽ phù hộ cho trụ trì đại sư bình yên trở về. Nếu quá mười ngày mà vẫn bặt tin, thì chúng ta phải cử hành lễ cầu siêu cho trọng thể, để đưa hương hồn trụ trì về nơi cực lạc, đoạn đến Sắc La tự thỉnh vị Đạt Lai đời thứ tư là Vinh Đan đến đây để chủ trì Phật sự.
Dứt lời truyền giải tán, chúng Lạt Ma lần lượt trở về với công việc thường ngày của mình.
Tâm Đăng trở về phòng riêng của mình, gầm đầu suy nghĩ về việc mất tích một cách đột ngột của Tạng Tháp.
Chú nghĩ, Lư Âu đã đi rồi, Bệnh Hiệp thì ngồi với mình suốt đêm dưới hang sâu, vậy thì ai là hung thủ?
Ngày hôm ấy, Bố Đạt La Cung sống trong bầu không khí kinh hoàng, đến khi trời chập choạng, đồng đạo thảy đều rút vào phòng.
Chờ cho đêm khuya, Tâm Đăng lại sẽ lén ra sau chùa, phen này chàng mang theo mồi lửa để soi đường vào hang tối.
Vừa chui ra khỏi cửa hang, chàng gọi to :
- Bệnh sư phụ, Tâm Đăng đến đây.
Không có tiếng trả lời nhưng Tâm Đăng vẫn lầm lũi đi sâu vào hang thẳm.
Đi được mười bước, chàng vội thò tay vào túi móc đá bật lửa lên.
Ánh lửa vừa loé lên, bất thình lình một luồng chưởng phong bay tới rào rào như những đợt sóng hải triều cuồng loạn.
Trong lúc bất ngờ,Tâm Đăng trúng đòn, loạng choạng thối lui ra sau mấy bước, mồi lửa trên tay bị đánh bay ra ngoài mấy trượng.
Tâm Đăng kinh hãi, bỗng nghe giọng khàn khàn của Bệnh Hiệp vang lên :
- Nhớ cho kỹ, từ đây về sau không cho phép mi mang lửa vào đây... Bằng không cớ sao ta lại ở một chỗ tăm tối như vầy?
Tâm Đăng bị mắng trong lòng buồn bã, theo chân ông ta đi sâu vào bên trong.
Tối hôm ấy, chú trả bài không thuộc, bị Bệnh Hiệp mắng cho một trận nên mãi đến canh tư mới được phép ra về.
Chú buồn bã lắm, không biết tại sao nhưng lời triệu của Bệnh Hiệp lại khó học đến thế.
Ra khỏi cửa hang, chàng lủi thủi đi về Bố Đạt La Cung, trong lòng đang ảo não, chợt nghe bên mình có tiếng gọi dịu dàng nho nhỏ :
- Tâm Đăng, ta trở về đây.
Tâm Đăng giật mình quay lại, thấy Trì Phật Anh xuất hiện dưới bóng trăng ngà, đẹp như một vị nữ thần, trên mặt nàng vẫn còn che ngang một vuông lụa màu đen.
Tâm Đăng mừng rỡ nói :
- Cô... cô về đây ư? Sư phụ của cô đâu?
Phật Anh cười niềm nở :
- Theo bà ta thật là khó chịu, ta đã lén trốn về đây, không biết bà ta bây giờ đang ở đâu?
Tâm Đăng nói thầm trong lòng :
- Bệnh sư phụ của ta cũng khó tính, thật hai người giống nhau.
Tâm Đăng hỏi :
- Vậy thì bà ta thế nào cũng trở lại tìm cô, cô về đi.
Phật Anh lộ vẻ bất mãn, hờn dỗi nói :
- Ta đến tìm mi, vừa gặp mặt thì đuổi ta, biết thế, ta không bao giờ thèm đến nữa.
Tâm Đăng hốt hoảng trả lời :
- Tôi không có ý đó, chỉ sợ bà ta tìm đến đây làm rầy...
Phật Anh mỉm cười nói :
- Cũng chẳng sao.
Thế rồi hai người im lìm không nói câu nào nữa, sự im lìm lố bịch đó kéo dài lâu lắm Phật Anh mới nói nho nhỏ :
- Tâm Đăng, chúng ta sang phía trước kia một chút.
Chàng lặng lẽ gật đầu, ngoan ngoãn bước theo Trì Phật Anh.
Đi đến một khoảng trống trên đỉnh đồi, nàng ngồi xuống một gốc cây cổ thụ rồi bảo Tâm Đăng :
- Chúng ta ngồi xuống đây nói chuyện.
Tâm Đăng trống ngực đánh thình thịch cơ hồ mất đi sự bình tĩnh, mặc dầu vuông lụa đen vẫn che ngang trước mặt Phật Anh, nhưng toàn thân nàng vẫn lộ ra một vẻ mỹ miều, khả ái.
Tâm Đăng là một người xuất gia từ thủa bé, bây giờ đột nhiên ngồi gần một người con gái xa lạ, bất giác một thứ cảm giác vừa sợ sệt, vừa lạ lùng xâm chiếm lấy tâm tư.
Tâm Đăng đỏ mặt, ngồi đối diện Phật Anh mà gầm đầu xuống, không dám nhìn thẳng vào mặt nàng.
Ngồi yên rồi, hai người im lìm thêm một chặp nữa, không trao đổi với nhau câu nói nào, một mùi hương thoang thoảng của da thịt người trinh nữ toát ra, hòa trong gió đêm phất ngang trước mũi Tâm Đăng, càng làm cho chú tâm hồn xao xuyến.
Lâu lắm, mới nghe Phật Anh cười khúc khích. Tâm Đăng hỏi :
- Cô cười gì?
Phật Anh đưa tay sửa lại vuông lụa trên mặt mình nói :
- Cớ sao hai đứa mình im lìm không nói chuyện, người ta trông thấy ngỡ rằng mi đang dạy ta nhập định tham thiền.
Tâm Đăng cũng buồn cười nói :
- Tôi không biết nói gì bây giờ!
- Mi có thể hỏi ta nhiều việc. Mi chỉ biết tên ta thôi mà, có thể hỏi những việc khác.
Tâm Đăng vội hỏi :
- Cha mẹ cô là ai? Nhà cô ở đâu?
Không ngờ Phật Anh lại im lìm không trả lời, nàng trầm ngâm giây lâu mới nói :
- Cha mẹ ta qua đời cả rồi! Ta không có nhà!
Tâm Đăng lấy làm lạ, bụng bảo dạ :
- Thôi, ta đừng hỏi đến thân thế của nàng làm cho nàng phải khó chịu, để ta hỏi việc khác vậy.
Tâm Đăng mở lời :
- Cớ sao cô cứ che mặt mãi?
Câu hỏi chưa dứt thì Phật Anh đứng phắt dậy, trả lời :
- Đừng hỏi việc này!
Tâm Đăng giật mình, cũng đứng lên, chợt nghe trong chùa trống điểm canh tư, vội xá chào Phật Anh, nói :
- A di đà Phật! Xin chào nữ thí chủ, tiểu tăng về chùa đây.
Nói rồi không đợi Phật Anh trả lời, chú xoay lưng đi thẳng.
Phật Anh thấy Tâm Đăng bỗng nhiên niệm Phật, và nói một câu đoan chính, dường như cố ý muốn kéo khoảng cách giữa hai người dài ra, trong lòng buồn bã vô cùng.
Tâm Đăng vừa đi vừa nghĩ, những nhân vật mình gặp ngoài đời, bất luận già hay trẻ, trai hay gái, thảy đều tính tình quái đản, gieo vào lòng mình một mối buồn man mác.
Về đến phòng, Tâm Đăng suy nghĩ thật lâu, thấy rằng nếp sống ngoài đời không phù hợp với mình, chú quyết định với mình một việc quan trọng :
- Ta không hoàn tục, cũng không học võ công nữa, ta không bao giờ rời khỏi Bố Đạt La Cung, ta phải tiếp tục tham thiền học đạo, bởi vì chỉ có Phật mới gần gũi với tâm hồn ta nhất.
Nghĩ vậy nên Tâm Đăng quyết tâm từ đây không gặp Bệnh Hiệp và Trì Phật Anh nữa.
Nếu Phật Anh có đến đây tìm chú thì chú sẽ tụng kinh vào mặt cô ta.
Tâm Đăng nghĩ chín chắn rồi, ngả lưng trên giường đánh một giấc đến đúng ngọ.
Sau khi thức giấc, chú ra trai phòng, chợt gặp một chú tiểu chạy đến nói rối rít rằng :
- Sư huynh ơi, Trì thí chủ đã bố thí cho mình hai chục lạng bạc khi xưa đó, bây giờ trở lại.
Tâm Đăng giật mình vội hỏi :
- Đâu rồi?
Chú tiểu ấy trả lời :
- Cô ấy chưa vào chùa, ban nãy tôi ra ngoài hái củi gặp cô ấy đi về phía Bố Đạt La Cung, cô ấy hỏi tôi cớ sao mấy hôm nay trong chùa không tiếp khách thập phương. Tôi chẳng nói thật cho cô ấy biết, tôi nghĩ cô ấy chắc đến tìm sư huynh đó.
Tâm Đăng cười trả lời :
- Nói nhảm nào? Sao lại tìm ta? Chắc có lẽ người ta có khấn nguyền điều chi với Phật, bằng không cớ sao lại bố thí một lần những hai mươi lạng bạc?
Hai người vừa đi vừa trở về phòng, Tâm Đăng vớ lấy một quyển kinh rồi đi về phía chính điện.
Thấy nơi ấy giờ này còn vắng vẻ, Tâm Đăng niệm hương rồi quỳ trước kim thân Phật tổ khe khẽ tụng kinh.
Kinh qua ba tuần trong lòng Tâm Đăng hoàn toàn lắng dịu, thần trí thật là sáng suốt, tiếng kinh trầm bổng đưa tâm hồn chú lâng lâng thoát tục.
Chú lại dâng thêm một nén hương, nhìn những làn khói uốn éo bao chung quanh kim thân Phật tổ, trong lòng của Tâm Đăng nổi lên một nỗi sùng kính và tín ngưỡng vô biên.
Lâu lắm, chàng nghe thấy bốn bề yên tĩnh mới mở mắt, chú lẩm bẩm nói với mình :
- A di đà Phật, rất may là ta không lung lay ý chí. Ta phải tụng thêm vài đoạn kinh...
Từ đó về sau, Tâm Đăng để hết tâm trí vào việc tụng kinh, tọa thiền, những môn võ công Cô Trúc dạy khi xưa cũng đều bỏ dở, những biến cố đã dồn dập xảy ra trong Bố Đạt La Cung và câu chuyện Tàm Tang khẩu quyết, chú thảy đều quên phăng tất cả.
Cho đến cái hình dáng mỹ miều khả ái của Trì Phật Anh cũng bị xóa nhòa trong tâm khảm. Một lần nữa chứng minh quả thật Phật pháp có một sức mạnh vô biên.
Trải qua hai ngày, đêm ấy theo thường lệ Tâm Đăng vào Phật điện tụng kinh.
Lên hương vừa xong, tiếng mõ vừa vang vang trỗi dậy thì sau bức tượng Phật lại nổi lên một tràng ho rũ rượi.
Tâm Đăng lại giật mình thầm bảo :
- Ma đầu lại đến, ta phải tiếp tục tụng kinh đừng để cho nó quấy rối...
Thế là tiếng mõ lại vang vang trỗi dậy hòa lẫn với tiếng kinh lúc trầm lúc bổng.
Một lát sau, Bệnh Hiệp lại lóp ngóp bò ra, ông ta thấy thần sắc của Tâm Đăng càng lúc càng trang nghiêm, đĩnh đạc, ông ta thở dài ảo não :
- Oan gia, ta lại đến đây, mi có thay đổi ý kiến chưa?
Tâm Đăng không trả lời, Bệnh Hiệp vừa ho vừa nức nở :
- Mi thật là nhẫn tâm... mi nỡ lòng nào nhìn một lão già sắp chết mà chẳng tiếp cứu?
Tâm Đăng vẫn không trả lời, hai tay chú bắt quyết, hai mắt chú nhắm nghiền, mồm lẩm nhẩm đọc kinh.
Tiếng khóc than rầm rĩ của Bệnh Hiệp kéo dài thêm một lúc rồi mất đi lúc nào không biết.
Trời gần sáng Tâm Đăng mới uể oải trở về phòng. Ngày kế đó, Bệnh Hiệp không thấy xuất hiện mà Trì Phật Anh cũng chẳng thấy tăm hơi, Tâm Đăng yên lành đọc kinh được một bữa.
Nhưng đến ngày kế đó thì Bệnh Hiệp lại xuất hiện, bệnh tình của ông càng trầm trọng, ông khóc lóc, nài nỉ Tâm Đăng suốt một đêm.
Một đêm ấy, tinh thần của Tâm Đăng trải qua một cơn khủng hoảng, hai ý niệm giằng co kịch liệt trong đầu óc của chú...
Rốt cuộc chú mở bừng cặp mắt, thấy Bệnh Hiệp ngồi rầu rĩ một bên, cầm lòng không đậu, chú thò tay ra đỡ Bệnh Hiệp mà hỏi :
- Bệnh sư phụ, bệnh tình của sư phụ ra sao?
Bệnh Hiệp nổi lên một cơn ho rũ rượi, thần sắc xanh rờn, nói qua làn hơi hổn hển yếu ớt :
- Tâm Đăng... mi đừng quên mi đã hứa sẽ giúp ta làm một việc...
Tâm Đăng nghe qua, lòng đau như cắt, trong lòng chú không thể giữ bình thản như xưa nữa, từng giọt... từng giọt nước mắt nóng hổi lăn tròn trên má chú rồi rơi thánh thót xuống vai của Bệnh Hiệp...
Tâm Đăng rền rĩ :
- Bệnh sư phụ... sao chẳng buông tha cho tôi? Ngót bảy nghìn Lạt Ma trong Bố Đạt La Cung chẳng lẽ không có một người vừa lòng sư phụ? Mà sư phụ nhất định chọn tôi?
Bệnh Hiệp tựa lưng vào lòng của Tâm Đăng, phều phào nói :
- Chỉ có mi... chỉ có mi mới có thể thực hiện ý nguyện của ta, mi hãy hứa... hãy hứa đi.
Thế rồi Tâm Đăng lặng lẽ cúi đầu, run rẩy trả lời :
- Bệnh sư phụ... thôi thì tôi hứa vậy!
Dứt lời, Tâm Đăng gục đầu lên vai của Bệnh Hiệp, nức nở liên hồi.

Xem tiếp chương 4 Nửa đêm dạ quỷ viếng chùa

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:55 pm

Chương 4 Nửa đêm dạ quỷ viếng chùa

Bệnh Hiệp thấy Tâm Đăng nhận lời, lòng mừng khấp khởi, nắm chặt lấy vai Tâm Đăng mà nói :
- Mi đã hứa... mi hứa thật sự... chẳng dối ta?
Tâm Đăng nước mắt lưng tròng, nức nở :
- Tôi không nói dối, tôi là người nhà Phật, tôi không biết nói dối.
Bệnh Hiệp nghe nói ha hả cả cười, nhưng tiếng cười có vẻ mệt nhọc lắm.
Ông ta nhổm dậy bảo :
- Ngày mai ta nghỉ một hôm, bắt đầu từ ngày kia mi lại phải vào hang tối cho ta dạy võ.
Nói rồi lão lách mình đi ra khỏi điện. Tâm Đăng nhìn theo bóng dáng gầy gò khấp khểnh của ông ta, mà nổi lên một nỗi lòng chua xót.
Chú thở dài lẩm bẩm :
- Bắt đầu từ ngày kia, ta lại trở về biển khổ của đời!
Sáng ngày hôm sau có một vị Lạt Ma ở Sắc La tự tên là Thanh Lộc mang bức thư của Đạt Lai đến Bố Đạt La Cung, do Mạc Cổ đọc cho chúng tăng được rõ.
Đại ý trong thư nói rằng, Đạt Lai không rảnh đến Bố Đạt La Cung nên tạm thời giao quyền cho Mạc Cổ trụ trì. Mười hôm sau, Đạt Lai sẽ chọn một vị cao tăng đến thế chức.
Bố Đạt La Cung bắt đầu yên tĩnh trở lại.
Phần Tâm Đăng thì vẫn tu hành một cách khổ hạnh, hễ có thì giờ thì dâng hương niệm Phật, dường như chú muốn lợi dụng thời gian một năm cuối cùng này, nỗ lực tu hành để hiểu thêm Phật pháp.
Qua đêm hôm sau, đó là một đêm tối trời, sao thưa trăng lặn. Tâm Đăng buồn bã, âu sầu lần mò vào hang tối để tìm Bệnh Hiệp.
Lần này, Bệnh Hiệp đối với Tâm Đăng không còn gắt gỏng như xưa nữa, ông ta hết lòng hết dạ truyền Đại Thừa thần công cho chú.
Thời gian đi thật nhanh, thấm thoát mà đã mười hôm lại qua.
Bố Đạt La Cung đổi một vị trụ trì mới, đó là Điệp Bố đại sư.
Đời sống của Tâm Đăng từ đây thật là trầm lắng, ban ngày chú tụng kinh gõ mõ, ban đêm lần mò vào hang thẳm học Đại Thừa thần công.
Mặc dầu chú chưa bước chân đến chỗ giang hồ nhưng nhờ Cô Trúc hết lòng dạy bảo bản lĩnh của chú nay đã thuộc hàng cao thủ.
Bây giờ lại học thêm Đại Thừa thần công, chàng thấy đó là một võ học thật cao thâm và hữu ích, trong lòng lấy làm mừng rỡ, biết rằng nếu mình học được trọn vẹn, nghệ thuật sẽ tăng tiến gấp mười lần.
Đêm đó, theo lệ thường, Tâm Đăng lần mò vào động, sau khi gặp Bệnh Hiệp ông ta bảo với Tâm Đăng :
- Đại Thừa thần công mi đã học đủ, bây giờ phải trải qua Thất Kiếp thì thần công tự nhiên có thể ứng dụng, bây giờ mi hãy theo ta.
Dứt lời, Tâm Đăng nghe thấy ông ta di chuyển thân hình, chú vội vã nghe theo tiếng động mà bước theo.
Đi quanh qua lộn lại một hồi, Tâm Đăng thấy dưới chân mình ẩm ướt lắm, thì ra đó là một vùng ứ nước, mực nước ngập đến mắt cá chân, hơi lạnh thấu xương.
Chợt nghe Bệnh Hiệp nghiêm giọng nói :
- Bây giờ mi phải ngồi ròng rã dưới nước này bảy ngày bảy đêm, và hơn nữa... nước lạnh lắm nhưng mi nhờ có Đại Thừa thần công nên có thể chống lại hơi lạnh, chừng nào mi nghe thấy thân thể ấm áp là mi đã qua được một lần tai nạn, và phải trải qua bảy lần như thế mới gọi là thành công. Trong bảy ngày ta sẽ mang đồ ăn đến cho mi.
Tâm Đăng nghe nói, giật mình gượng hỏi :
- Thế chừng nào mới bắt đầu?
Bệnh Hiệp trả lời :
- Bắt đầu ngay từ giờ phút này.
Tâm Đăng cắn răng nói thầm :
- Thôi bất chấp, đức Phật ngày xưa phải trải qua trăm lần tai nạn mới thành chính quả, nay ta chịu nạn bảy lần thì thấm vào đâu.
Chợt nghe Bệnh Hiệp nói :
- Bây giờ mi hãy ngồi ngay ngắn và bắt đầu...
Tâm Đăng vội ngồi xếp bằng xuống nước, bỗng nghe hơi lạnh xông tới đan điền, toàn thân run lên bần bật.
Chàng vội vận dụng Đại Thừa thần công ngự hàn, chống chọi thật lâu với hơi lạnh mới thấy lần lần giảm bớt, toàn thân đại huyệt lần lần cảm thấy thư thả...
Cố gắng chịu đựng như thế đến ngày thứ năm thì hơi lạnh ngày càng giảm bớt, từ đan điền bắt đầu tỏa ra một làn hơi ấm áp.
Lại qua một ngày nữa, Tâm Đăng cảm thấy khoẻ khoắn lắm.
Đến ngày cuối cùng, Tâm Đăng cứ ngồi dưới nước mà nhập định tham thiền, Bệnh Hiệp mang đồ ăn đến mà chú vẫn không hay.
Ông ta thấy vậy, vội sờ tay vào ngực của Tâm Đăng, thấy có một làn hơi ấm áp, mừng rỡ vô cùng.
Tiếp theo đó, Tâm Đăng lại trải qua sự chịu đựng về gió, về hơi nóng, về sự đau đớn, về sự đói rét, mỗi lần đều phải trải qua bảy ngày. Tâm Đăng cảm thấy trong cái hang tối âm u này thật chứa đựng nhiều điều bí mật, lần lần... hai mạch Nhâm, Đốc của chú được đả thông, và vô tình chú đã luyện được đến giai đoạn Kim Thân Bất Hoại Thể.
Vượt qua sáu lần khó khăn, tức Lục Kiếp, Bệnh Hiệp mới cười nói rằng :
- Tâm Đăng! Mi thật là một bậc kỳ tài, ta không qua nổi Tam Kiếp mà mi vượt qua Lục Kiếp, thật là đáng khen cho đó, bây giờ còn một kiếp cuối cùng là Tâm Kiếp, đoạn đường này là đoạn đường khó khăn nhất, chông gai nhất, nhưng may nhờ mi xuất thân là người cửa Phật, chắc có lẽ dễ thành công. Bây giờ mi hãy về chùa ngơi nghỉ, ba ngày sau sẽ trở lại.
Tâm Đăng mừng rỡ, lạy tạ Bệnh Hiệp mà lui ra, bất giác chuyến đi này, Tâm Đăng đã lưu lại trong hang tối bảy lần sáu là bốn mươi hai ngày.
Tâm Đăng vừa đến chùa, đồng đạo hỏi thăm rối rít, nhưng nhờ chú ứng đối lưu loát nên cũng tạm qua.
Ba ngày say Tâm Đăng lại trở về hang tối.
Nhưng mới bước vào cửa hang chú vụt cảm thấy lạ, vì rằng mọi lần trong hang tối tăm u ám, nhưng lần này không biết có ánh sáng từ đâu rọi vào, đường sá trông thật rõ ràng, làm cho Tâm Đăng lấy làm lạ tự hỏi :
- Bây giờ vào lúc về đêm, cớ sao trong hang lại sáng sủa thế này?
Đi sâu vào bên trong thấy Bệnh Hiệp đang bó gối tựa vào tường, bên mình ông ta có một bộ xương khô, Tâm Đăng vội thi lễ hỏi :
- Thưa sư phụ, cớ sao đêm nay trong này sáng rực?
Câu hỏi chưa dứt thì Bệnh Hiệp mừng rỡ hỏi rằng :
- Trong động sáng thật ư?
Tâm Đăng vội trả lời :
- Phải, sáng như ban ngày.
Bệnh Hiệp ha hả cười :
- Tốt lắm, mi vượt qua được giai đoạn Tâm Kiếp thì có thể biến thành Kim Cang Bất Hoại Thân.
Tâm Đăng không hiểu, hỏi Bệnh Hiệp, ông ta trả lời rằng :
- Trong động này vẫn tối như xưa, nhưng mi sở dĩ nhìn thấy sáng như ban ngày vì mi đã luyện thành Đại Thừa thần công, cặp mắt của mi bây giờ quí giá vô song, nhãn lực của những người luyện võ tầm thường không thể nào so sánh được.
Tâm Đăng nghe nói mừng rỡ khôn cùng, lại nghe Bệnh Hiệp cười rằng :
- Bây giờ mi hãy ngồi xuống nghe ta thổi sáo.
Tâm Đăng biết đây là cửa ải cuối cùng nên không dám chểnh mảng, vội vàng vâng lời ngồi xuống.
Bệnh Hiệp thò tay vào ống tay áo rút ra một ống sáo bé tí teo nói rằng :
- Bất luận những người tu hành hay những người luyện võ trong lòng đều có Tâm Ma, nếu có thể trừ được Tâm Ma thì có thể vượt hơn người thường, tên tục của mi là Chính Dung, pháp danh là Tâm Đăng, vậy thì mi phải giữ cho lòng mình trong suốt như hai chữ Tâm Đăng vậy.
Tâm Đăng gật đầu, tỏ vẻ đồng ý, gã ngồi xếp bằng tròn, nhắm nghiền cặp mắt tập trung tinh thần ý chí.
Chợt nghe bên tai vang lên một tiếng sáo trong veo như tiếng hạc lưng trời, tiếng sao nhẹ như một đường tơ, khi đứt khi nối, lững lờ theo tiếng gió đưa vào.
Tâm Đăng cảm thấy tiếng sáo thật là não nùng ai oán, như khóc như than, như oán như hờn, có lúc như vượn hú đầu non, có lúc lại như chim kêu cuối bãi, làm cho cõi lòng của Tâm Đăng bất giác não nề chua xót, tâm chú rung động...
Chính vào lúc thần hồn điên đảo, bỗng nhiên tiếng sáo thình lình thay đổi.
Giọng sáo từ chỗ tha thiết, não nùng đổi sang rầm rộ như thiên quân vạn mã, như dông tố bão bùng, như chiêu hồn bá tánh, thật là thảm thiết nhất trần gian.
Trong lòng của Tâm Đăng theo tiếng sáo mà bi ai thống khổ, chợt tiếng sáo đổi sang giọng khác.
Lần này nhẹ nhàng như én lượn qua rèm, như cánh chuồn đớp bọt, như muôn hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía, có lúc lại thanh tao lảnh lót như ngọc rơi vào đĩa, thế rồi tiếng sáo ngưng bặt.
Tiếng sáo đã ngưng nhưng cõi lòng của Tâm Đăng vẫn còn thổn thức rào rạt, dường như muốn bay bổng đến một phương trời xa lạ, nơi ấy có một người thân đang tựa cửa ngóng chờ.
Trong chớp mắt, tâm hồn của chàng bừng bừng trỗi dậy, nào là bảo kiếm của người tráng sĩ, sắc đẹp của bậc giai nhân, giáp trụ đều thể hiện lên một cách say mê cuồng loạn.
Thình lình... trong ảo tưởng của chú vang lên một tiếng kêu thê thảm, trước mắt chú đen sầm lại, bên tai chú văng vẳng lên hai tiếng kêu não nùng :
- Con ơi! Con ơi!
Vậy thì ta là con ai? Mẹ ta là ai? Giờ này ở đâu? Còn sống hay chết? Cha ta là ai? Ai làm cho gia đình ta tan nát?!...
Những câu hỏi mơ hồ mà đáng sợ đó như những đợt sóng hải triều dâng lên trong tâm khảm, làm cho tâm hồn chú điên đảo bồi hồi!...
Ngần ấy câu hỏi hỗn tạp và đáng sợ bỗng nhiên bị một tiếng thanh thoát yểu điệu đuổi mất, tiếng đó thật là trong trẻo nhẹ nhàng, mà hương thơm thoang thoảng...
Quá nhiều ý tưởng phức tạp dồn vào tâm tư, làm cho chú kinh hoàng, sợ sệt, xen lẫn với vài nét vui mừng....
Những ngần ấy tâm tư chính là Tâm Ma của Tâm Đăng vậy.
Bệnh Hiệp ngồi bên cạnh, đăm đăm nhìn Tâm Đăng không chớp mắt, ông ta nhìn thấy sắc mặt của Tâm Đăng khi xanh khi đỏ, mồ hôi vã ra đầy trán, chiếc áo cà sa của chú ướt đầm đìa.
Trong lòng ông ta đăm chiêu lo lắng, khấn thầm :
- Xin Trời Phật phù hộ cho Tâm Đăng qua khỏi bảy ngày bảy đêm để vượt qua cửa ải cuối cùng....
Đến ngày thứ tư, sắc mặt của Tâm Đăng dần dễ chịu ông ta mới vững dạ.
Thì ra đây là một giai đoạn khó khăn nhất trong Thất Kiếp, đây là một việc làm mạo hiểm mà ông ta đem sinh mạng của Tâm Đăng ra thử thách, bây giờ ông ta yên trí lắm vì ông ta đã thắng.
Đến ngày thứ sáu, sắc mặt của Tâm Đăng trở lại bình thường, hơi thở điều hoà, sắc diện phương phi.
Vào nửa đêm ngày thứ bay, Tâm Đăng bỗng thình lình tỉnh lại, như một người đau mới mạnh, tứ chi rũ liệt, chân khí dường như tản mác, tiêu tan.
Tâm Đăng nhướng mắt nhìn thấy Bệnh Hiệp đang ngồi tựa lưng vào tường, nhắm nghiền cặp mắt.
Chú nói :
- Bệnh sư phụ, con đã trải qua Tâm Kiếp.
Giọng nói của chú yếu ớt, mà Bệnh Hiệp cũng tiều tuỵ lắm, vì rằng trót tháng nay ông đã mệt nhọc rất nhiều, bây giờ đang ngồi yên dưỡng thần.
Nghe Tâm Đăng nói chuyện, ông ta biết chú đã tỉnh lại, vội vàng nhướng mắt lên, trên khuôn mặt của ông ta tràn đầy vui sướng, ông ta nói :
- Bây giờ thì mi không nên trách ta như khi xưa nữa, mi nghĩ thử xem mi học môn võ công này đâu có trở ngại cho việc tu hành của mi.
Tâm Đăng nghĩ đến lúc trước khi chú đang tụng kinh trong Bố Đạt La Cung, Bệnh Hiệp xuất hiện một cách bất thần quấy rầy bị chú từ chối một cách tàn nhẫn, rốt cuộc thầy trở lại năn nỉ trò để truyền võ nghệ, việc này thật là phá cái lệ từ nghìn xưa để lại...
Nghĩ đến đó, chú bất giác hổ thẹn vô cùng.
Bệnh Hiệp lại nhắc :
- Bây giờ mi hãy ngồi yên dưỡng thần thêm một ngày một đêm nữa thì có thể tự do ra về Bố Đạt La Cung.
Tâm Đăng gật đầu, Bệnh Hiệp lại nói :
- Mi trở về chùa rồi đừng trở lại đây nữa, vì ta phải đi một nơi khác, một tháng sau chúng ta lại gặp nhau.
Nói rồi chuệnh choạng đứng dậy, Tâm Đăng biết ông ta sắp rời khỏi mình, hốt hoảng gọi :
- Sư phụ đi đâu?
Bệnh Hiệp mỉm cười, xoa đầu Tâm Đăng mà nói :
- Khi xưa mi đuổi ta, bây giờ ta muốn đi thì mi kêu lại.
Tâm Đăng nức nở nói :
- Sư phụ hãy nán lại để đệ tử có dịp săn sóc thuốc men.
Bệnh Hiệp nghiêm trang trả lời :
- Mi có lòng tốt đó, ta lấy làm cảm kích nhưng ta phải đi vì chúng ta sẽ lại gặp nhau.
Dứt lời, ông ta mỉm cười và lui gót, chỉ còn lại Tâm Đăng nhắm mắt dưỡng thần dưới hang sâu.
* * * * *
Tâm Đăng trở về chùa đã ba hôm rồi, ban ngày tụng kinh, ban đêm luyện võ.
Chú biết đã có duyên với nghề võ thì dầu sao trong tương lai không thể tránh khỏi tai ương, nên bây giờ chú tụng kinh niệm Phật và tu hành dữ lắm, e rằng sau này không có thì giờ để gần Phật nữa.
Chú quyết định rằng, đời sống của chú thay đổi thế nào đi nữa, ví dụ như hoàn tục chẳng hạn thì cũng có ngày chú trở về đây nương bóng Phật đài, và chú sẽ ở lại vĩnh viễn dưới chân bồ tát.
Đêm ấy, Tâm Đăng từ trong đại điện đi ra, bên ngoài gió lạnh thổi từng cơn, chú ngửa mặt nhìn vầng trăng vành vạnh, nghĩ thầm :
- Vào tháng này năm tới ta sẽ rời khỏi nơi đây.
Nghĩ đến đó, trong thâm tâm chú bàng hoàng khôn tả xiết, dường như chú lưu luyến ngôi chùa này lắm.
Đang nghĩ ngợi triền miên, thình lình thấy sau lưng mình gió dậy vì vèo, Tâm Đăng vội vàng nhón gót theo thế Thừa Phong Truy Lãng, thân hình của chú bắn vút về phía trước hơn một trượng.
Chưa kịp quay đầu nhìn lại, sau lưng chú vang lên một chuỗi cười rùng rợn, và gió lại nổi lên vi vút.
Tâm Đăng rợn tóc gáy nghĩ thầm :
- Chính tên này là hung thủ giết hòa thượng đây!
Không kịp quay đầu lại, chú sử luôn một thế Thừa Phong Truy Lãnh bắn vút về phía trước thêm một lần nữa.
Chân chưa chấm đất thì trên đầu chú gió lại nổi vì vèo, thì ra người này tấn công hụt một đòn, bây giờ biết trước nên chẳng để cho Tâm Đăng kịp thời đối phó, vượt trước mà tung ra một đòn thần tốc.
Tâm Đăng nhác trông thấy một chiếc bóng mờ từ trên phủ xuống, giương hai tay ra chụp lấy đầu chàng.
Chú giật mình, dựng hai bàn tay đẩy mạnh về phía trước, để cho thân hình bắn vù ra phía sau bảy thước, mới tránh khỏi song chưởng độc ác đó.
Chú gằn giọng hỏi :
- Thí chủ cớ sao lại vấn vít với tôi...
Người ấy nhẹ nhàng đáp xuống trước mặt của Tâm Đăng, chú nhìn kỹ thấy đó là một lão già tuổi ngoại thất tuần, mặt vuông mày rậm, thân thể khôi ngô vạm vỡ.
Lão già ấy ha hả cười :
- Tiểu hòa thượng..., hèn chi những nhân vật trong làng võ Trung Nguyên thảy đều lũ lượt đến nơi đây, chỉ vì tiểu hòa thượng.
Tâm Đăng nghe câu nói nửa úp nửa mở này, trong lòng lấy làm nghi hoặc, vội chắp tay làm lễ hỏi :
- Lão thí chủ! Tiểu tăng nghe không thấu lời nói của thí chủ, tiểu tăng là người xuất gia xin thí chủ tha cho.
Lão già nghe nói lại ha hả cả cười :
- Xem mi thật giống người xuất gia, nhưng mi đừng sợ, ta không có ác ý, chỉ có một điều...
Tâm Đăng thấy sắc mặt của người này không phải là người lương thiện, không muốn nói dài dòng, vội trả lời :
- Thí chủ có việc gì xin hãy nói gấp, tiểu tăng còn có nhiều việc chưa làm.
Người ấy lại buông ra một chuỗi cười quái dị, ngắm nhìn Tâm Đăng không chớp mắt, nói một cách đắc chí :
- Hay cho tiểu hòa thượng, cốt cách của mi thật là phi phàm, ta hỏi mi, mi có biết ta là ai chăng?
Tâm Đăng lắc đầu :
- Tôi không biết.
Người ấy cười lanh lảnh :
- Ta họ Vạn tên Tiềm, biệt hiệu Dạ Quỷ!
Tâm Đăng nghe nói giật mình nghĩ thầm :
- Cứ cái biệt hiệu đó thì hắn không phải là người tốt, ta phải tìm kế tránh trước là hay.
Vạn Tiềm nói :
- Mi xuất gia từ thủa bé, nên không biết những việc trong chốn giang hồ. Khi ta còn ở Ngọc Thọ, nghe người ta đồn đại rằng trong Bố Đạt La Cung có một pho kỳ thư, và có một kỳ tăng, hai vật này nếu được một có thể giải được một việc đại sự trên chỗ giang hồ, vì vậy mà ta chẳng nề đường xa vạn dặm tìm đến nơi nay... vì việc này có liên quan đến ta...
Nghe Vạn Tiềm nói tới đây, Tâm Đăng nghĩ thầm :
- Hèn chi Bệnh Hiệp, Lư Âu đều đến chỗ này, thì ra chỗ này có một điều bí mật.
Vạn Tiềm tiếp tục nói :
- Ta đến đây đã bảy ngày, ta đã soát qua cả bảy nghìn mấy Lạt Ma, mà không thấy người nào xuất chúng. Còn pho kỳ thư đó, ta đoán đã không còn ở trong chùa này nữa, bởi vì Bố Đạt La Cung xảy ra nhiều vụ lưu huyết, ta biết trong này có nhiều điều bí ẩn.
Tâm Đăng lại nghĩ :
- Thằng già này khá thông minh.
Vạn Tiềm tiếp tục nói :
- Ta biết ở nơi đây đã có vài ba người đến trước, ta xem võ công của mi quá cao, đủ biết mi đã trải qua trên mười năm luyện tập.
Tâm Đăng nghe nói giật mình thầm nghĩ :
- Lão già này thật có nhãn lực, nhìn thoáng qua cũng biết ta học võ bao nhiêu năm, không biết lai lịch của lão ra làm sao.
Thần sắc của Vạn Tiềm rất thư thả, dường như đang trò chuyện với một người thân vậy, ông ngọt ngào hỏi Tâm Đăng :
- Thầy mi là ai? Ta nghĩ rằng thầy mi đến xứ này trên mười năm mà truyền võ cho mi, thì dụng ý của ông ta không phải vì việc ấy. Nếu bảo rằng vì việc ấy mà lặn lội đến đây truyền võ cho mi suốt mười năm trời thì dụng ý của người này chắc là cao thâm lắm. Bây giờ ta không nói dài dòng lôi thôi nữa, ta hỏi mi một việc?
Tâm Đăng cau mày, lấy làm khó chịu hỏi :
- Vạn thí chủ hỏi điều chi?
Vạn Tiềm do dự một chút, thoáng nở một nụ cười hỏi :
- Võ nghệ của mi cao siêu lắm nhưng vẫn chưa phải là một tay vô địch trong thiên hạ, vậy mi có bằng lòng học thêm vài món nghề riêng nữa không?
Tâm Đăng lại giật mình đánh thót, bụng bảo dạ :
- Lại có người muốn truyền võ cho ta, thật là kỳ quặc!
Tâm Đăng lúc bấy giờ đã chán chường võ nghệ, nghe Vạn Tiềm nói thế lắc đầu quầy quậy, trả lời :
- Tôi là người trong cửa Phật, Vạn thí chủ đừng tìm cách vấn vít làm cho tôi phải khổ vì đời.
Vạn Tiềm nghe nói trợn mắt thét vang :
- Câm mồm lại! Thằng Dạ Quỷ này muốn làm việc gì thì làm cho kỳ được, thuận ta thì còn, nghịch ta thì chết.
Câu nói của lão ta chưa dứt thì Tâm Đăng đã chắp tay lẩm bẩm :
- A di đà Phật! Nhà ngươi dùng cái chết để uy hiếp người xuất gia thật là một việc buồn cười. Xin hỏi thí chủ, sống là đâu, chết là đâu? Cái sống cái chết chẳng qua nằm chung trong một thể...
Vạn Tiềm thấy Tâm Đăng không có vẻ sợ hãi mà còn đem giáo lý nhà Phật ra thuyết với mình, cả giận thét vang :
- Tiểu hòa thượng! Mi có bằng lòng học võ không thì bảo?
Tâm Đăng ngang nhiên trả lời sang sảng :
- Thưa thí chủ, tôi là con nhà Phật, tôi không học những nghề giết chóc lẫn nhau.
Vạn Tiềm buông ra một chuỗi cười kinh rợn :
- Miệng lưỡi thật là chua ngoa, nằng nặc quyết cho mình là con nhà Phật, để ta xem trong lòng ruột mi có bao nhiêu Phật?
Câu nói vừa dứt, hắn vươn bàn tay hữu tống ra một chưởng, một luồng sức mạnh tức tốc ập vào ngực của Tâm Đăng làm cho chú phải bắn lùi hơn một trượng.
Vừa đứng vững chú tức tốc xoay mình chạy ra khỏi chùa nhanh như biến.
Thì ra Tâm Đăng biết mình không thể không ra tay chiến đấu với người này, sợ ở trong chùa làm kinh động đến đồng đạo, nên giả vờ chạy tuốt ra ngoài tìm chỗ vắng vẻ mà so với tên này một trận.
Vạn Tiềm chẳng rõ tâm tư của Tâm Đăng, ngỡ rằng chú sợ hãi mà chạy trốn, nên thong thả đuổi theo sau lưng một cách đắc chí, lão nghĩ thầm :
- Hãy để cho nó ra khỏi chùa rồi trị cho nó một mẻ, chừng đó nó mới không dám nghịch ý ta, hà hà... Nếu việc mà thành công thì...
Nghĩ đến đây lão mừng lắm, cười vang không ngớt tiếng. Ở phía trước Tâm Đăng vẫn lầm lũi chạy như bay, trong lòng chú không sợ nhưng nổi lên một nỗi buồn man mác, nhiều nghi vấn hiện ra trong trí mà không thể nào giải quyết ổn thoả.
Không bao lâu, Tâm Đăng chạy đến chỗ đỉnh đồi mà ngày thường chú học võ với Cô Trúc. Thình lình chú dừng chân, quay phắt đầu lại nói :
- Thí chủ đừng đuổi nữa, tiểu tăng sẽ so tài với thí chủ tại chỗ này.
Vạn Tiềm ngã ngửa, thì ra Tâm Đăng không phải sợ mà chạy, cốt ý dụ mình ra đây để thử sức.
Nhưng ông ta không những không giận mà còn vui vẻ cả cười :
- Hay cho tiểu hòa thượng! Ta sẽ so với mi vài hiệp.
Vừa nói thân hình của lão nhảy xổ tới như một con chim đại bàng, trổ ra hai ngón móc một đường thần tốc vào huyệt Thiên Đột của đối phương.
Tâm Đăng nào dám ơ hờ, sử một thế Di Bộ Tẩu Cung, để cho thân hình lệch sang năm bước, tránh thoát hai ngón tay độc hiểm...
Liền đó chú đưa bàn tay hữu ra theo thế Xảo Đả Sơn Mai, ấn một chưởng kinh hồn vào đầu của Vạn Tiềm...
Vạn Tiềm đánh hụt chưa kịp giật mình thì đòn của Tâm Đăng đã tới, sức mạnh rào rào, thoáng nghe cũng biết công lực của chú tiểu này không sút kém mình bao nhiêu, bất giác trong lòng kinh hãi nghĩ thầm :
- Tiểu hòa thượng thật là lợi hại, không biết thầy nó là ai...
Vừa nghĩ đến đây thì bàn tay của Tâm Đăng uy hiếp một cách dữ dội, Vạn Tiềm vội rùn vai né tránh trong cái thế Hàn Giang Thí Điếu, năm ngón tay của lão như năm chiếc vòng sắt móc mạnh vào ngực của Tâm Đăng.
Chính vào lúc Vạn Tiềm biến thế thì Tâm Đăng thu tay trở về, thì ra đòn Xảo Đả Sơn Mai chỉ là đòn giả, khả hư khả thực...
Chờ khi ngón tay của Vạn Tiềm kê sát nách mình rồi, Tâm Đăng bất thình lình biến ra thế Tỳ Bà Hoạch Tuyến, dùng bàn tay của mình trảm vút vào mạch máu của đối phương.
Vạn Tiềm rú lên một tiếng kinh hoàng, rút phắt bàn tay trở về, tung hữu chưởng theo thế Tang Hải Tầm Chu, dùng hai ngón tay móc vào mắt của Tâm Đăng.
Tâm Đăng thấy đòn của người này quá ư ác độc, công lực lại cao, trong lòng cả sợ, nên đem hết bình sinh sở học ra đối phó.
Hai chiếc bóng xoắn tít vào nhau dưới bóng cây trên đồi như hai con chim bằng tranh đấu cùng nhau, thật là đáng sợ.
Hai người đó có biết đâu vào giờ này trên một cành cây cổ thụ có một người đang ngồi mỉm cười mà ngắm hai người đang đánh nhau.
Trong chớp mắt đã hai mươi hiệp trôi qua mà không phân cao hạ, Vạn Tiềm nổi cơn thịnh nộ la hét om sòm mà Tâm Đăng vẫn đối phó có thêm phần thanh nhã.
Cuộc chiến càng kéo dài, Vạn Tiềm thở hồng hộc, mồ hôi ra như tắm, mà dưới bóng trăng trên cành cây, người bí mật nụ cười khẽ nở trên môi của hắn.
Chiếc áo cà sa của Tâm Đăng tung bay trong gió thật là đẹp mắt.
Chính vào lúc cuộc chiến ác liệt, bỗng nhiên một chuỗi cười kinh rợn vang lên làm cho Vạn Tiềm và Tâm Đăng giật mình thối lui ba bước.
Dưới bóng trăng lạnh âm u, bỗng xuất hiện một bà già buông chuỗi cười lạnh lẽo.
Nhác trông thấy bà già, Vạn Tiềm sững sờ nhìn Tâm Đăng.
- Té ra mi là đồ đệ của mụ ta.
Câu nói chưa dứt, bà già đó chính là Lư Âu, trợn trừng quát lớn :
- Vạn Tiềm! Mi muốn chết hay sao mà động thủ với nó?
Vạn Tiềm nghe nói, run rẩy trả lời :
- Lư cô! Tôi không biết nó là học trò của cô...
Nói tới đây, Lư Âu cắt ngang :
- Mi yên trí, thằng nhỏ này không phải học trò của ta, thày của nó không phải tay vừa, nếu ông ta hay được, ông ta sẽ xé mi ra làm trăm mảnh...
Vạn Tiềm nghe nói, hú hồn thầm trong dạ, lẩm bẩm :
- Tên này không phải là học trò của cô, bằng không đêm nay ta chết như chơi...
- Ta không muốn nói dài dòng, mi hãy rời khỏi Tây Tạng trở về Tân Cương. Nơi ấy sa mạc mênh mông chẳng ai tìm theo mi làm gì, kể luôn kẻ thù của mi cũng không buồn đi tìm mi nữa, thôi... mi đi đi!
Vạn Tiềm thở phào một hơi nhẹ nhõm, như người vừa được ân xá, cảm ơn rối rít :
- Cảm ơn Lư cô hết lòng chỉ bảo, lần này tôi về Tân Cương, nếu...
Lư Âu tỏ vẻ khó chịu cắt ngang câu nói :
- Thôi thôi, cút đi cho rảnh, đừng lảm nhảm dài dòng.
Tâm Đăng nhịn không được, bật phì cười, Lư Âu nạt :
- Mi đừng cười, mi cũng chẳng phải là người tốt.
Tâm Đăng bị mắng sượng sùng, Lư Âu thấy Vạn Tiềm còn đứng đó lại mắng :
- Cút đi!
Vạn Tiềm giật mình, xoay lưng bỏ đi trong mồm càu nhàu một câu Tây Tạng :
- Mẹ kiếp!
Tiếng chửi chưa dứt thì bỗng thình lình ông ta rú lên một tiếng hãi hùng...

Xem tiếp chương 5 Một bí mật tày trời

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:56 pm

Chương 5 Một bí mật tày trời

Tiếp theo tiếng rú đó, là một bóng người từ trên sà xuống, rơi vào giữa khoảng Tâm Đăng và Vạn Tiềm.
Tâm Đăng nhìn kỹ thấy đó chính là Lư Âu, bà ta sắc mặt xanh rờn, đôi mắt trợn trừng, mà đôi má của Vạn Tiềm vừa thủng một lỗ, máu tươi chảy ra từng giọt... từng giọt...
Thần sắc của Vạn Tiềm cực kỳ kinh hãi, Lư Âu cười sắc lạnh :
- Vạn lão nhị! Mi thật là to gan mới dám văng tục trước mặt ta. Mi phải gánh lấy tai họa mà mi chuốc lấy, mi đã trúng ám khí của ta, không lo thang thuốc, trong bảy ngày ắt không toàn tính mạng.
Vạn Tiềm nghe nói, hồn vía lên mây, vội vàng phủ phục trước mặt Lư Âu mà nài nỉ :
- Lư cô, tội tôi thật đáng chết, nhưng ngoài thuốc giải của Lư cô, tôi không biết đi đâu tìm thuốc...
Lư Âu vẫn lạnh lùng sắc mặt :
- Mi dại dột tự dẫn thân vào chỗ chết! Mi có nghe Lư cô này đả thương người rồi lại cứu hay chăng?
Vạn Tiềm nghe nói cực kỳ thất vọng, hắn muốn đi mà không dám, vì rằng sinh mạng của hắn vô tình đã nằm trong bàn tay Lư Âu.
Tâm Đăng trong lòng bất nhẫn, xá Lư Âu mà rằng :
- Lão tiền bối, xin mở lòng nhân đức cứu hắn một phen.
Tâm Đăng vừa dứt lời bỗng thấy Lư Âu trợn mắt nhìn mình, rồi lại nhìn Vạn Tiềm mà im lặng không trả lời.
Vạn Tiềm thấy mình chắc chết trước mắt, không ngờ Tâm Đăng lại lo cho yên nguy của mình đến thế, lấy làm cảm kích, nhìn Tâm Đăng bằng cái nhìn biết ơn làm cho Tâm Đăng càng thêm động lòng, nhất quyết tìm đủ mọi cách để cứu người này.
Tâm Đăng có biết đâu nhờ một chút lòng nhân này mà ngày sau chú đã cứu mạng chú.
Tâm Đăng lại vòng tay nằn nì với Lư Âu :
- Sư bá, xin sư bá tha cho hắn.
Lư Âu vẫn im lìm không trả lời... Lâu lắm mới lẩm bẩm :
- Gặp người xuất gia thật là rắc rối.
Nói rồi vừa tỏ vẻ khó chịu, vừa thò tay vào túi móc ra một lọ thuốc, trút một viên vào lòng bàn tay, cười mà nói với Vạn Tiềm :
- Mang về hòa với rượu mà uống rồi tọa công bảy ngày, chờ khi chất độc tan hết phải tức tốc cút khỏi vùng Tây Tạng, từ đây về sau ta mà gặp mi trên phần đất này, thì ta chẳng dung tha.
Vạn Tiềm nghe nói, như người chết đuối vớ được chiếc phao, ông chộp lấy viên thuốc rồi nói với Tâm Đăng một câu đầy cảm kích :
- Tiểu sư phụ! Thằng Vạn Tiềm này...
Vừa nói đến đây thì Lư Âu đã nạt :
- Mi còn chưa chịu cút đi uống thuốc? Ba tiếng đồng hồ sau thì thuốc của ta vô công hiệu đó.
Vạn Tiềm vội vã vái chào Tâm Đăng rồi đi thẳng xuống mái đồi thoai thoải...
Tâm Đăng thấy một con người hoành hành ngang dọc trong giang hồ như vậy, mà đứng trước mặt Lư Âu tiu nghỉu như con mèo bị cắt tai, trong lòng thầm nghĩ :
- Lão bà Lư Âu này quả thật danh bất hư truyền, là một tay quái gở trong thiên hạ.
Chờ cho Vạn Tiềm đi xa rồi, Lư Âu mới quay sang nói với Tâm Đăng :
- Tiểu hòa thượng! Ta bảo cho mi biết, lần sau có gặp trường hợp như vậy, cấm mi nhiều lời, bằng không thì ta nổi giận mi sẽ khốn đốn lắm đó.
Tâm Đăng trong lòng bất mãn nhưng ngoài miệng nói rằng :
- Vâng! Việc riêng của sư bá con không dám biết tới nữa.
Lư Âu vừa ý lắm, ngắm Tâm Đăng mà gật gù :
- Ta rời khỏi nơi này chỉ một tháng, mà ban nãy ta thấy thủ pháp của mi khác xa tháng trước, có phải thằng Cô Trúc đã trở về đây dạy thêm cho mi?
Tâm Đăng cả sợ nói thầm :
- Việc ta lén học Đại Thừa thần công không nên cho bà ta biết.
Nghĩ đoạn mỉm cười trả lời :
- Thầy tôi đi rồi không trở lại nữa, tôi ở nhà chỉ học ôn mà thôi.
Lư Âu nghe nói nửa tin nửa ngờ, ngắm Tâm Đăng từ đầu chí chân, lẩm bẩm một mình :
- Cô Trúc dạy cho nó những môn võ công thần diệu đến mức này sao?
Tâm Đăng chưa kịp trả lời, bà ta lại hỏi :
- Từ đây đến ngày mi hoàn tục còn cách bao lâu nữa?
Tâm Đăng vội vã trả lời :
- Ngày rằm Trung Thu năm tới, còn hơn một năm nữa.
Lư Âu gật gù ra chiều suy nghĩ, Tâm Đăng thấy Trì Phật Anh không theo chân bà ta nên hỏi :
- Thưa sư bá, Trì thí chủ sao chẳng thấy đến?
Lư Âu hậm hực :
- Hừ! Con quỷ nhỏ thật là chua ngoa đáo để, ba lần trốn khỏi tay ta, bây giờ ta giam vào một chỗ.
Tâm Đăng nghe nói giật mình :
- Trời! Sư bá giam cô ấy ở đâu?
Lư Âu cười bằng một tiếng cười quái dị :
- Sao? Mi sợ ư? Ta đang ép nó học một môn võ.
Tâm Đăng không nói gì nữa, chú đang trầm ngâm suy nghĩ không biết tại sao ban nãy nghe nói Trì Phật Anh bị giam, trong lòng chú bứt rứt khó chịu, chú bảo thầm :
- Mặc dù ta sắp hoàn tục nhưng ta đã cố quyết tâm sẽ trở lại vĩnh viễn nương bóng dưới Phật đài. Tại sao ta lại suy nghĩ vẩn vơ về một người con gái? Hừ... nguy hiểm thật!
Lư Âu thấy Tâm Đăng trầm ngâm suy nghĩ, bà không biết chú đang nghĩ gì lấy làm lạ hỏi :
- Hòa thượng, mi đang nghĩ gì đó?
Tâm Đăng vẫn còn đang đắm chìm trong ảo tưởng mông lung của mình, nên chưa trả lời, Lư Âu lắc đầu nói :
- Ta xem mi sắp động lòng phàm rồi đó.
Câu này làm cho Tâm Đăng giật mình ngước mắt lên nói :
- Thưa sư bá, con không bao giờ động lòng trần cả.
Lư Âu thấy trong ánh mắt của chú tiểu này có một thứ cang cường nghị lực, làm cho người ta không thể không tin chú.
Lư Âu mỉm cười nói :
- Vậy thì tốt lắm! Ta không bao giờ tán thành cho người xuất gia... kể luôn người hoàn tục thành hôn. Mi hãy xem ta, già đến từng tuổi này mà chẳng lấy chồng.
Tâm Đăng lấy làm lạ lắm vội hỏi :
- Thưa sư bá, tại sao sư bá không tán thành cho người khác thành hôn?
Lư Âu cau có hạ thấp giọng :
- Mi không biết sự thành vợ thành chồng sẽ đem đến cho người ta nhiều điều tổn thương và phiền não. Đấng cao xanh đã cho ta một tấm hình hài hoàn toàn tự do, và một cõi lòng ngây thơ vui sướng, tại sao ta lại đem đời ta trao vào tay một người khác để mất hết cả tự do? Nói một cách khác, nghĩa là sau khi thành thân rồi, ta chỉ đổi lấy một sự vui sướng ngắn ngủi mà phải chịu đau khổ lâu dài, đau khổ mãi mãi cho đến khi ta chết...
Luận điệu này thật là kỳ quặc, cho đến một vị tiểu hòa thượng nghe đến cũng không mấy xuôi tai.
Mặc dù Tâm Đăng hiểu đời rất ít nhưng chú mường tượng nghĩ rằng sự kết hợp của nhân loại là một điều thiêng liêng và kỳ diệu.
Khi xưa, cứ mỗi lần nghe người ta nói đến kẻ độc thân, Tâm Đăng thường nghĩ :
- Những người ấy, họ không đọc kinh, không niệm Phật như mình, cớ sao lại chẳng thành thân, thật là lạ!
Bây giờ nghe Lư Âu lý luận như vậy, chú lại mơ hồ nghĩ :
- Thì ra, sự kết hợp giữa thanh niên nam nữ không phải là một việc sung sướng trên đời mà lại là một sự đau khổ nữa!
Lư Âu thấy Tâm Đăng trầm ngâm nghĩ ngợi bỗng cười xòa nói :
- Mi là người xuất gia, không hiểu nổi lời nói của ta đâu. Này... nghe ta hỏi, trong khoảng thời gian một năm trước khi hoàn tục mi định làm gì?
Tâm Đăng điềm đạm trả lời :
- Tôi vẫn tụng kinh, niệm Phật, và nhập định tham thiền, ngoài ra không thiết đến việc gì nữa.
Lư Âu hỏi bằng một giọng khác thường :
- Chẳng lẽ mi không luyện võ?
Tâm Đăng trả lời :
- Ít lắm, tôi rất ít luyện võ.
Câu nói này làm cho Lư Âu kinh dị hỏi :
- Hay là mi chẳng thích võ? Thế thì tại sao Cô Trúc nó lại truyền võ cho mi?
Tâm Đăng cảm thấy là lạ, vì Lư Âu mỗi khi gặp chú cứ thích hỏi luôn mồm, dường như bà ta muốn dọ hỏi điều chi.
Nghĩ vậy nên Tâm Đăng trả lời ỡm ờ :
- Chẳng phải tôi không thích võ, chỉ vì...
Tâm Đăng nói đến đây bỗng dừng lại, vì dường như trong trí chú thoáng lướt qua một hình bóng, hình bóng này đeo theo ám ảnh chú suốt mấy năm trường.
Lư Âu thấy Tâm Đăng thình lình ngưng bặt, hỏi :
- Chỉ vì sao? Cớ sao mi chẳng nói hết lời?
Tâm Đăng do dự một chút rồi mạnh dạn phô bày tâm tư của mình bằng một giọng nói run run :
- Tôi... tôi rất lấy làm ân hận vì trót đã lâm vào nghiệp võ.
Câu nói này làm cho Lư Âu giật mình kinh sợ, bà ta “À” lên một tiếng kinh dị :
- Mi hối hận? Tại sao? Mi chưa từng bị tổn thương vì mi chưa lê gót vào chốn giang hồ, cớ sao mi lại ngã lòng sớm thế?
Tâm Đăng lắc đầu quầy quậy mà không trả lời. Lư Âu thấy vậy dịu dàng hỏi :
- Đêm mai mi trở lại đây, ta sẽ kể cho mi nghe một câu chuyện cổ tích, bây giờ... mi hãy trở về!
Tâm Đăng thẫn thờ, xá chào Lư Âu rồi trở về Bố Đạt La Cung, trong trí chú cứ suy nghĩ mãi về câu nói của Lư Âu.
Lời nói của bà rất đúng, ta chưa đặt chân vào chỗ giang hồ, lại chưa từng bị dày vò đau khổ, tại sao ta phải hối hận vì ta đã học võ?
Có lẽ vì sự học võ đã làm xáo trộn nếp sống tu hành của ta, làm cho ta không thể nào sống yên ổn dưới chân đức Phật?
Vừa đi, Tâm Đăng vừa nghĩ tiếp.
Mặt trăng mùa thu treo lơ lửng trên nền trời trong vắt, bốn bề vắng lặng như tờ, thỉnh thoảng mới có một vài cơn gió nhẹ thoáng qua.
Ngôi Kim Nga điện trong Bố Đạt La Cung im lìm lặng lẽ, như một pho tượng Phật dùng ánh sáng trí tuệ của mình mà rọi khắp nơi nơi...
Chính vào lúc Tâm Đăng vượt qua bức tường thành của Bố Đạt La Cung thì có một chiếc bóng gầy gò thoáng hiện ra rồi mất hẳn.
Qua đêm sau trời vẫn trong veo không gợn mây mờ, mảnh trăng tròn vành vạnh chiếu ánh sáng bàng bạc khắp không gian.
Sau khi tụng một đoạn kinh, Tâm Đăng nhớ tới lời hẹn của Lư Âu bèn cất kinh vào phòng, xô cửa đi ra.
Mấy tháng nay, vì Tâm Đăng thường lục đục đi ra đi vào khoảng nửa đêm nên những đồng đạo ngủ chung phòng không lấy đó làm lạ.
Tâm Đăng đi dưới bóng trăng thanh, lần lần lên đến đỉnh đồi, trông thấy Lư Âu đã ngồi trên một phiến đá vội vàng bước tới thi lễ, bà ta trỏ một phiến đá gần bên cạnh bảo :
- Tâm Đăng, mi hãy ngồi xuống đây.
Dứt lời giương con mắt xanh rờn nhìn chằm chằm vào gương mặt của Tâm Đăng, Tâm Đăng giật mình vội hỏi :
- Thưa sư bá, con còn nhớ sư bá bảo rằng hôm nay sẽ kể một câu chuyện cổ tích cho con nghe.
Lư Âu nghe nói nở một nụ cười, nhưng nụ cười ấy thật là nhẹ nhàng, Tâm Đăng phải cố nhìn kỹ mới thấy.
Lư Âu cất giọng trầm trầm lạnh nhạt :
- Ta sẽ kể một câu chuyện cho mi nghe, có lẽ câu chuyện này nhạt nhẽo lắm, mi phải chú tâm lắng nghe, không đặng ngắt ngang câu chuyện.
Tâm Đăng nghe nói khó chịu lắm nhưng vẫn gắng gượng gật đầu trả lời :
- Vâng.
Lư Âu nghe nói khe khẽ thở dài, cất giọng khàn khàn nói :
- Trước khi mi nghe câu chuyện này, mi phải tin ta một việc, bằng không ta sẽ không kể cho mi nghe?
- Việc gì?
- Việc đó là: Trên đời này kẻ có võ công cao nhất không phải là người Tây Tạng, mà cũng không phải là người ở Tân Cương, phải là người ở Trung Nguyên. Mi có tin như thế hay không?
Tâm Đăng nghe đến một vấn đề quá ư đột ngột, chưa biết rả lời ra sao, chú chỉ nghe thấy trong giọng nói của Lư Âu chứa đựng một sự tin tưởng vô biên hòa lẫn trong một ít căm hờn xúc động.
Tâm Đăng chưa kịp trả lời thì Lư Âu lại hỏi tiếp :
- Mi hãy trả lời cho ta rõ, mi có tin là như vậy hay không đã?
Tâm Đăng bị hỏi dồn dập mấy câu, trong lòng do dự trả lời :
- Thưa sư bá, tôi không được rõ vì từ nào tới giờ tôi chưa hề rời khỏi Bố Đạt La Cung.
Câu nói chưa dứt thì đã nghe Lư Âu tức lắm thét lên một tiếng kinh rợn, bà ta gằn giọng :
- Vậy thì mi hãy suy đi nghĩ lại cho kỹ đã.
Nhưng Tâm Đăng đã vội vã trả lời :
- Thưa sư bá, tôi tin, tôi tin người Tây Tạng không thể nào học võ bằng người Trung Nguyên được.
Lư Âu thoáng lộ một nét mừng, lại hỏi :
- Tại sao mi biết? Mi chưa từng rời khỏi Bố Đạt La Cung và cũng chưa từng đến Trung Nguyên kia mà?
Tâm Đăng nghe câu hỏi khó, cau mày trả lời :
- Mặc dầu tôi chưa đến Trung Nguyên nhưng những người mà tôi gặp có một môn võ nghệ vững chắc thảy đều là người Trung Nguyên...
Câu nói này càng làm cho Lư Âu mừng rỡ, bà ta gật gù :
- Hay lắm! Nhưng còn một việc này nữa, mi có tin rằng người Tây Tạng gian trá, xảo quyệt hơn người Trung Nguyên?
Câu hỏi này làm cho Tâm Đăng bất mãn vì theo sự hiểu biết của chú, người Tây Tạng mặc dù có vẻ ngoài hung tợn nhưng tính tình hiền hậu.
Gần gũi với bọn họ không sợ bị lừa dối, phỉnh phờ, trái lại những hạng người quân tử ở vùng Trung Nguyên thường hay đến Tây Tạng quấy rầy.
Vì nghĩ như vậy, Tâm Đăng im lìm không trả lời, Lư Âu cười kinh dị nói :
- Về vấn đề này mi có thể khoan trả lời, nghe xong câu chuyện của ta mi tức khắc sẽ hiểu. Chính như sư phụ của mi, và ta, và rất nhiều bậc kỳ nhân trong làng võ, thảy đều mắc mưu người Tây Tạng.
Mãi đến giờ chúng ta vẫn còn bị họ trêu chọc một cách buồn cười. Một điều làm cho ta tức giận nhất là chúng ta không có cách để chọi lại.
Tâm Đăng nghe câu nói lạ lùng này càng lấy làm kinh dị vì chú biết có những việc kỳ dị vừa xảy ra...
Chú còn nhớ Cô Trúc, Bệnh Hiệp truyền võ nghệ cho chú đều bắt chú làm cho họ một việc, mà việc đó bản thân họ không thể nào làm được.
Thật là lạ!
Lư Âu cất giọng trầm trầm :
- Chắc mi chưa từng nghe người ta nói rằng mười tám năm về trước trên chỗ giang hồ đồn đại rằng tại vùng Tây Tạng có xuất hiện một quyển kỳ thư tên là Tàm Tang khẩu quyết.
Tâm Đăng nghe nói giật mình thầm nghĩ :
- Quyển sách này chính mắt ta trông thấy, chính vì quyển sách đó mà Y Khắc đại sư mất mạng, Tạng Tháp rụng hai ngón tay và mất tích một cách kỳ bí.
Lư Âu tiếp tục kể :
- Quyển sách này là vật quý báu nhất đời đối với người luyện võ, vì ai đọc nó rồi thì có thể trở nên một bậc võ công cái thế.
Vì vậy mà biết bao nhiêu bậc kỳ nhân lũ lượt kéo nhau về Tây Tạng, gồm toàn những tay cao thủ trong các môn phái, như Vạn Giao, anh của Vạn Tiềm, người này võ công cao diệu, có thể nói là đệ nhất cao thủ bên tà phái.
Còn Cô Trúc, hắn đến đây để ngăn ngừa không cho người khác lấy quyển sách đó, hắn muốn giữ cái danh dự thiên hạ đệ nhất của hắn.
Còn ta, còn Bệnh Hiệp và vợ hắn, Nam Hải Thất Ky... và còn nữa, những người ấy không nề đường xa vạn dặm đến đây chỉ vì muốn gấm ghé quyển Tàm Tang khẩu quyết.
Tâm Đăng càng nghe càng lấy làm kinh dị trong dạ, nghĩ thầm :
- Thì ra quyển sách ấy đã làm chấn động làng võ từ mười tám năm về trước, biết đâu vào thuở ấy Y Khắc đã để chân đến vùng Tây Tạng này...
Lư Âu lại cất giọng trầm trầm :
- Rất tiếc khi ấy mi chưa ra đời, bằng không cũng nhúng tay vào vụ này, những kỳ nhân trong làng võ thảy đều tụ tập gần kinh đô La Sa này, phần ta trú ngụ trong Sắc La tự, còn Cô Trúc ngụ tại Kim Nga điện trong Bố Đạt La Cung.
Tâm Đăng nghe đến đây, “à” lên một tiếng kinh dị, chú không bao giờ ngờ rằng Cô Trúc lại đến Bố Đạt La Cung trước chú.
Lư Âu thấy thái độ của Tâm Đăng như thế, bất giác mỉm cười :
- Mi ngỡ rằng bọn chúng ta đọc kinh kém hơn mi ư? Trong khoảng thời gian đó, tất cả những quyển kinh tàng trữ trong các chùa chiền Tây Tạng, thảy đều bị chúng ta đọc không sót một trang.
Tâm Đăng nghe nói càng thêm phần kinh dị, chú bất giác lấy làm cảm phục nghị lực của Y Khắc đại sư, suốt mười tám năm trời nghiền ngẫm đọc từng trang kinh để đi tìm Tàm Tang khẩu quyết.
Lư Âu lại kể tiếp :
- Chỉ có một chỗ chưa có người đến tìm, đó là Bố Đạt La Cung.
Tâm Đăng càng lấy làm lạ vội hỏi :
- Tại sao chẳng đến Bố Đạt La Cung lục soát?
Lư Âu lấy làm khó chịu trả lời :
- Lẽ tự nhiên ta phải cho mi biết lý do, lý do đó là Cô Trúc ngự tại Kim Nga điện trong Bố Đạt La Cung.
Tâm Đăng vẫn chưa hiểu, dợm hỏi thì Lư Âu khoát tay, nối lời :
- Mi sẽ hỏi tại sao... tại vì... bản lĩnh của thằng Cô Trúc cao cường nên chẳng ai dám bén mảng vào đó.
Tâm Đăng nghe nói, trong lòng sung sướng lắm, vì chú đã nghe một bậc kỳ nhân trong làng võ là Lư Âu nhìn nhận bản lĩnh của sư phụ mình là đệ nhất thiên hạ.
Lư Âu cố gắng dằn cơn xúc động trong lòng, lạnh lùng nói :
- Ta thì ta chẳng sợ thằng Cô Trúc nhưng ta không bằng lòng dùng... đồng thời ta ngụ tại Sắc La tự cũng không có kẻ nào dám bén mảng đến đó, kể luôn thằng Cô Trúc, dường như giữa chúng ta có một sự gia ước ngầm với nhau vậy.
Lư Âu vừa nói đến đây, Tâm Đăng bỗng nghe có tiếng xé gió vì vèo, vội vàng lách đầu né tránh, đồng thời Lư Âu cũng khoát bàn tay ra bắt gắn lấy một vật.
Thân hình của Lư Âu như một con chim đại bàng, trong chớp mắt đã liệng một vòng tròn hơn mười trượng, tốc độ thật nhanh đến mức đáng sợ, bà ta rảo khắp một vòng mà chẳng thấy điều chi khác lạ.
Tâm Đăng đuổi theo bà ta, Lư Âu trao vật đã bắt được cho Tâm Đăng xem, thì ra đó là một tấm giấy vo tròn.
Lư Âu vuốt phẳng tờ giấy ra, bà chớp nhanh cặp mắt vì đã biết tác giả là ai.
Tâm Đăng thấy mặt bà ta biến sắc, vội hỏi :
- Ai đó?
Lư Âu không đếm xỉa đến Tâm Đăng, quay sang bên tả cười rằng :
- Ha ha... Ta tuyệt đối không chiếm mất vị trí của mi, mi hãy yên lòng, cút đi thôi! Ta không muốn nhìn thấy mặt mi nữa!
Câu nói của Lư Âu vừa dứt, thì nơi cõi xa xăm vọng lại một chuỗi cười, tiếng cười nhỏ dần... nhỏ dần... chứng tỏ người đó càng đi càng xa.
Tâm Đăng hỏi :
- Thưa sư bá, người ấy là ai?
Lư Âu không trả lời, bà ta xé tan mảnh giấy trong tay ném vào giữa không trung, để cho cơn gió thu thổi tới mang nó đi bay lượn khắp bốn phương trời Bà ta thẫn thờ như người mất vía, dường như triền miên suy nghĩ về dĩ vãng.
Tâm Đăng tò mò, lại hỏi :
- Việc gì thế, sư bá?
Lư Âu nạt :
- Đừng hỏi, mi là người xuất gia mà cứ tò mò, hỏi đón, hỏi dò.
Tâm Đăng bị mắng, hổ thẹn đỏ bừng sắc mặt, nghĩ thầm :
- Thật là lạ, hễ là người luyện võ thì tính tình thường quái đản.
Tâm Đăng lại nghĩ về mẩu chuyện dang dở của Lư Âu, chú đoán chừng câu chuyện này sẽ cho chú biết tại sao Cô Trúc lại truyền võ cho mình. Và Bệnh Hiệp tại sao khẩn khoản mình học võ? Sau khi hoàn tục mình sẽ làm gì? Và biết đâu chẳng do đó mà truy ra cha mẹ mình là ai? Và người nào đưa mình vào chùa nương bóng Phật?
Nghĩ đến đây, chú bỗng giật mình hối thúc :
- Thưa sư bá, còn câu chuyện ấy thế nào?
Không ngờ lần này Lư Âu lại khoát tay lắc đầu :
- Câu chuyện ấy, ta không kể nữa!
Tâm Đăng cực kỳ thất vọng, suýt tí nữa chú gào lên :
- Tại sao không kể?
Lư Âu lạnh lùng nói :
- Ngày sau tự khắc có người kể lại cho mi biết.
Tâm Đăng gần như van xin :
- Sư bá, xin hãy kể cho tôi nghe, tôi cần nghe lắm, sư bá hãy kể đi... A di đà Phật!
Lư Âu thấy chú nóng nảy như vậy, vụt cười xòa :
- Mi đừng hỏi, có hỏi ta cũng chẳng nói, ngày sau tự nhiên có người khác kể cho mi rõ. Thôi bây giờ mi hãy về đi!
Tâm Đăng lại đắm chìm vào thất vọng, biết Lư Âu khó tính, chú không dám nài nỉ nữa, chỉ hỏi :
- Thưa sư bá, đêm mai tôi...
Câu nói chưa dứt thì Lư Âu xua tay cắt ngang :
- Đêm mai người không cần đến! Ta cũng chẳng trở lại chỗ này...
Tâm Đăng ra chiều tiếc rẻ, mặc dù bà già này khó tính nhưng chàng nghe ra mình thích bà già ta lắm.
Khi gần bà ta, Tâm Đăng thấy khó chịu nhưng khi xa bà ta Tâm Đăng lại thấy tiếc rẻ.
Lư Âu đọc thấy tư tưởng đó qua nét mặt đăm chiêu của chú nên vò đầu chú mà nói :
- Đêm khuya lắm rồi, mi hãy về đi, sau này có dịp ta lại tìm mi.
Kể từ lúc gặp Lư Âu, Tâm Đăng đã có ý dò hỏi chỗ ở của Phật Anh, nhưng không biết tại sao chú nghe thấy mình khó mở lời lắm, chính tư tưởng này đang dày vò tâm tư của chú, không biết tại sao Tâm Đăng đối với người con gái bịt mặt này dường như có vẻ quan tâm lắm.
Tâm Đăng giã từ Lư Âu, lặng lẽ xuống đồi.
Lư Âu nhìn theo bóng Tâm Đăng nhỏ dần... nhỏ dần trên mái đồi thoai thoải, bà lắc đầu thở dài :
- Xem tình thế này thì Tâm Đăng chưa đủ năng lực để hoàn thành công việc đó.
Ta phải giúp đỡ nó cho đến kỳ cùng......
Tâm Đăng treo mình trên giường, bỗng nghe thấy trên giường có một vật cồm cộm. Mò lên xem thấy đó là một xâu chuỗi ngọc, những viên ngọc này lóng la lóng lánh, trơn tru một cách khác thường.
Dưới ánh nguyệt mơ hồ rọi qua song cửa, xâu chuỗi ngọc này tỏa ra hào quang sáng rực, trông thật là đẹp mắt.
Tâm Đăng trong lòng mừng rỡ, không biết là xâu chuỗi ngọc này từ đâu đến, nhưng chú biết trong Bố Đạt La Cung không ai có, kể luôn cả vùng Tây Tạng, chí như Đạt Lai Ban Thiền ngự dụng cũng không thể nào có một xâu chuỗi quí giá như vậy.
Chú nghĩ :
- ... Xâu chuỗi này có lẽ từ miền Trung Nguyên hoặc Tây Vực mang tới... nhưng tại sao nó lại nằm trên giường ta? Ai mang nó vào đây?
Suy nghĩ mãi vẫn không tìm ra lời đáp, chú cất kỹ xâu chuỗi rồi ngả lưng trên giường ngáy pho pho.
Suốt ba hôm liền Tâm Đăng không rời khỏi Bố Đạt La Cung, ban ngày thì đọc kinh, ban đêm thì luyện võ.
Đến đêm thứ tư khi chú vừa luyện xong nội công thì bỗng có vài tiếng ho nho nhỏ từ bên ngoài theo gió nhẹ đưa vào.
Tâm Đăng mừng rỡ, chú sực nhớ đây là ngày Bệnh Hiệp trở về. Liền nhảy tọt xuống giường xô cửa chạy ra ngoài.
Dười bóng trăng mờ ảm đạm, có một lão già đứng tựa vào tường ho lên sù sụ, đó chính là Bệnh Hiệp.
Trông ông ta càng già thêm, càng tiều tụy thêm, gần như người sắp sửa lìa đời.
Cặp mắt của ông lõm sau vào, hai xương gò má lồi hẳn ra, da mặt răn reo trông thật là dễ sợ nhưng cớ sao sắc mặt ông lại đỏ tươi?
Nhất là những lúc ông ho lên, thì gương mặt lại càng thêm đỏ.
Tâm Đăng ôm lấy Bệnh Hiệp, khóc mà nói rằng :
- Bệnh sư phụ! Sao thế?
Dứt lời, Tâm Đăng nức nở, Bệnh Hiệp thò bàn tay khẳng khiu của mình ra sờ lấy lưng của Tâm Đăng mà nói :
- Con đừng sợ, ta chẳng chết đâu!
Nhưng Tâm Đăng đã dìu ông vào phòng, ông ngồi trên giường thong thả lấy lại sức khỏe, trên môi lại nở một nụ cười tươi. Tâm Đăng thấy vậy mừng lắm.
Bệnh Hiệp hổn hển nói :
- Tâm Đăng... con, ta... ngỡ rằng... chẳng được thấy lại con nữa.
Tâm Đăng rơi nước mắt hỏi :
- Sao thế?
Bệnh Hiệp trả lời :
- Một tháng nay ta đã đi qua rất nhiều chỗ xa lạ... ta đã đi qua Trác Ủng hồ.
Tâm Đăng biết Trác Ủng hồ là một cái hồ to nằm về phía Đông nam xứ Tây Tạng.
Đó là một cái hồ có nhiều cảnh trí đẹp và sản xuất rất nhiều cá.
Những người chưa từng đặt chân đến vùng Tây Tạng chắc thường tưởng tượng đấy là một vùng hoang vu, nghèo nàn, hẻo lánh.
Nhưng thật ra, cái đẹp của Tây Tạng thật là bất khả hình dung, nó cũng có cảnh hoa đào trước gió, cành liễu xanh tươi, trăng thanh gió mát như vùng Giang Nam vậy.
Nhưng còn một điểm khác biệt nữa, là ở đó thật nhiều ao hồ, nằm rải rác như những chòm sao trên bầu trời bao la bát ngát.
Trác Ủng hồ là một cái hồ to vào hàng thứ ba của Tây Tạng, hình dáng của nó tương tự như một con thần mã tung hoành bốn vó giữa cao nguyên Tây Tạng, vì vậy nên còn có một cái tên gọi nữa là Tuấn Mã Hồ.
Tâm Đăng nghe Bệnh Hiệp kể lại như thế, trong lòng vui vẻ lắm và Bệnh Hiệp cũng nở một nụ cười trên vành môi héo hắt.

Xem tiếp chương 6 Quái khách đang đêm truyền Đạt Ma thủ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:56 pm

Chương 6 Quái khách đang đêm truyền Đạt Ma thủ

Bệnh Hiệp hỏi Tâm Đăng :
- Chắc mi đã từng nghe nói, hồ Tuấn Mã là một cái hồ có nhiều cảnh đẹp?
Nói rồi ho lên sù sụ, tiếp :
- Nhưng mà... giữa khung cảnh nên thơ đó, có cư ngụ một gia đình thật là kỳ quặc.
Bệnh Hiệp nói đến đây lại nở một nụ cười khó tả, Tâm Đăng nóng nảy lắm hỏi :
- Bệnh sư phụ, hãy kể nốt câu chuyện đi, gia đình ấy thế nào?
Bệnh Hiệp lẳng lặng không trả lời, đưa bàn tay run rẩy lên, mở nút áo của mình chỉ vào giữa ngực nói :
- Đây... mi xem!
Tâm Đăng nhìn vào giữa ngực bỗng giật mình nhảy nhổm vì dưới vú bên phải của Bệnh Hiệp có một vết thương bề dài chừng bốn tấc.
Vết thương nay đã lành, dấu còn mới rành rành màu đỏ thẫm. Tâm Đăng hỏi :
- Sao sư phụ lại bị thương như vậy?
Bệnh Hiệp cài nút lại thong thả nói :
- Con đừng sợ, vết thương này chả sao, vì ta không giữ lời hứa nên phải thọ nạn.
Tâm Đăng run rẩy hỏi :
- Sư phụ bản lĩnh cao cường sao lại thọ thương? Hèn chi gương mặt sư phụ có vẻ đau đớn lắm.
Bệnh Hiệp thở dài nói :
- Rất may là lưỡi gươm ấy chẳng kết liễu đời ta! Ta còn có thể sống thêm một thời gian nữa! Nhưng mà... ta sẽ suy yếu thêm nhiều.
Tâm Đăng đau lòng lắm, nắm chặt lấy tay của Bệnh Hiệp hỏi :
- Ai? Ai đã đả thương sư phụ?
Bệnh Hiệp thẫn thờ nhìn Tâm Đăng :
- Mi hỏi làm chi, chẳng lẽ mi muốn báo thù cho ta? Ha ha.
Bệnh Hiệp cười lên nho nhỏ, lại nói tiếp :
- Thật là buồn cười! Chắc có lẽ mi nghĩ đến việc báo thù nhưng ta chẳng bao giờ cho mi làm việc đó. Vợ ta chết đã lâu mà vẫn không nghĩ đến việc báo thù. Thật là lạ, nhưng ta đây lăn lộn trên giang hồ mấy mươi năm, kẻ thù nhiều vô số kể nhưng ta chẳng bao giờ trả thù.
Vả lại phen này thọ thương là do ta, nếu ta chẳng thọ thương thì có thể sống thêm hai năm nữa nhưng bây giờ thì chỉ sống thêm một năm nữa thôi.
Tâm Đăng nghe nói, khóc nức nở, quỳ xuống cạnh giường ôm lấy đùi của Bệnh Hiệp.
Nhưng Bệnh Hiệp lại mỉm cười, chứng tỏ rằng tâm tư của ông ta bình tĩnh lắm, ông ta nói nho nhỏ :
- Tiểu hòa thượng, cớ sao mi còn quan tâm đến vấn đề sống và chết? Ta không bao giờ muốn chết vì ta còn một việc chưa hoàn thành. Mặc dù bây giờ ta quen với mi, có thể nhờ mi làm giùm, nhưng mà... e rằng ta không thể sống đến ngày để trông thấy mi thành công viên mãn.
Tiếng nói của Bệnh Hiệp thật là yếu ớt, thật là bi thảm, dường như lời trăn trối của một người sắp chết.
Tâm Đăng nước mắt như mưa, rên rỉ nói :
- Bệnh sư phụ! Bệnh sư phụ không bao giờ chết!
Bệnh Hiệp cười nói :
- Mi đừng cười nói ồn ào làm kinh động đến đồng đạo!
Bệnh Hiệp lại nói :
- Bây giờ ta trở về hang thẳm, phần mi cứ cách một ngày là phải vào đó để gặp ta.
Tâm Đăng trả lời :
- Tôi mỗi ngày đều đến.
Câu nói chưa dứt thì Bệnh Hiệp đã trợn mắt khoát tay :
- Ta bảo mi cách một ngày đến một lần, mi phải nghe lời ta.
- Vâng.
Thế rồi Bệnh Hiệp loạng choạng bước ra ngoài, Tâm Đăng muốn đỡ ông ta đưa về động nhưng ông ta không thích.
Hình bóng của ông ta khấp khểnh lần mò trong đêm tối, từng cơn ho sù sụ vang lên trong gió đêm lồng lộng.
Tâm Đăng đau lòng lắm, chàng nghe thấy mình thương xót Bệnh Hiệp một cách chân thành.
Lúc bấy giờ phương đông đã lần lần rực sáng, Tâm Đăng cảm thấy mệt mỏi lắm, vì chú sắp hoàn tục nên giờ giấc ăn ngủ có thể tự do, chú ngả lưng xuống giường đánh một giấc cho đến khi mặt trời gần chính ngọ mới giật mình thức giấc.
Vội vã tắm rửa xong chú lại lên đại điện dâng hương niệm Phật.
Mùi thơm của hương đèn hòa lẫn trong tiếng kinh trầm bổng, kéo tâm hồn của Tâm Đăng về gần với Phật.
Muốn bảo Tâm Đăng bỏ hẳn đời sống tôn giáo thật là một việc khó, mặc dầu sau khi được tụ do hưởng hạnh phúc, nhưng dù sao thì chú cũng nghe là mình sẽ bị đau khổ, và không đủ gan dạ để đón nhận sự thay đổi đó, chú nghe thấy mình thích đời sống tôn giáo hơn.
Suốt ngày hôm đó, chú đọc kinh và giam mình trong lầu chứa sách, thỉnh thoảng hình bóng của Cô Trúc, của Bệnh Hiệp, Lư Âu và của Phật Anh lại hiện ra trong trí.
Nhất là Trì Phật Anh, nhớ đến nàng chú thầm nghĩ :
- Cũng có một ngày chú sẽ gỡ vuông lụa trên mặt của nàng xuống, để nhìn thấy bộ mặt thật của nàng sau vuông lụa đó.
Nhưng chú liền hổ thẹn, mặt đỏ bừng, tự trách mình là người xuất gia, cớ sao lại nghĩ đến điều xằng bậy.
Chú xua đuổi ý tưởng đó một cách khó khăn.
Tối hôm đó, Tâm Đăng chiếu lệ học hết nội công rồi mới trở về phòng, đồng đạo đã sắp đi ngủ, thấy Tâm Đăng trở về, họ bâu chung quanh nói chuyện huyên thuyên.
Cứ mỗi lần Tâm Đăng nghĩ đến mình phải xa cách đồng đạo, cậu đau khổ lắm. Vì vậy mà chú nói chuyện với họ thật tương đắc, câu chuyện nổ như bắp rang mãi cho đến khi ngoài kia có một vị đại hòa thượng lên tiếng nhắc nhở, họ mới chịu ngưng câu chuyện.
Không bao lâu tiếng ngáy nổi lên đều đều, đồng đạo đã yên giấc, mà Tâm Đăng không thể chợp mắt.
Lăn lộn trên giường, Tâm Đăng suy tới nghĩ lui, chợt nhớ đến xâu chuỗi ngọc của mình chú thò tay xuống gối lấy nó ra.
Chú nghe thấy xâu chuỗi ngọc này nặng lắm và lại trơn tru bóng loáng, chú nghĩ thầm :
- Chẳng biết xâu chuỗi ngọc này của ai? Tại sao họ lại lén tặng cho ta?
Mân mê xâu chuỗi ngọc trong tay, chú tìm mãi không ra duyên cớ.
Mãi đến khi hết canh hai chú mới mơ màng chợp mắt.
Chính vào lúc chú đang chập chờn nhập mộng, bỗng thình lình cảm thấy bên hông của mình nhói lên một cái.
Trong lòng cả sợ, vừa định vùng dậy thì tứ chi rũ liệt, gần như hôn mê.
Tiếp đó, chú thoáng nghe bên ngoài có một chuỗi cười khàn khàn theo gió lạnh đưa vào.
Chuỗi cười vừa dứt, một chiếc bóng khổng lồ nhẹ nhàng bay vút qua cửa sổ rơi nhẹ vào phòng.
Người ấy bước tới đầu giường của Tâm Đăng thở một hơi dài ảo não, đoạn ông ta dùng một thủ pháp cực kỳ thần tốc, vung ống tay áo ra, dùng phép Cách Không Điểm Huyệt điểm hết tất cả huyệt ngủ của những chú tiểu cùng phòng với Tâm Đăng, thảy đều trúng đòn mà ngủ mê man như chết.
Đoạn người ấy thò tay xoa nắn khắp những huyệt đạo trên mình của Tâm Đăng, mất gần một tiếng đồng hồ chiếc bóng đen kỳ dị ấy mới lén rút ra ngoài.
Sự việc xảy ra thật là đột ngột và kỳ bí.
Sáng ngày hôm sau, Tâm Đăng còn đang mơ màng trong giấc điệp, bên tai văng vẳng có tíeng ồn ào huyên náo.
Chú gắng gượng nhướng mắt lên, bất giác giật mình, vì chung quanh giường của mình có rất nhiều chú tiểu bu đen nghẹt, họ thấy Tâm Đăng mở mắt, thảy đều vỗ tay reo hò :
- Tỉnh dậy rồi! Tỉnh dậy rồi!
Tâm Đăng vừa muốn trỗi dậy, chợt nghe toàn thân ê ẩm, mồ hôi ra ướt áo.
Cố gắng lắm chú mới trỗi dậy cởi được áo ra, đồng đạo kêu lên ầm ĩ :
- Đừng cởi áo ra, mồ hôi ra nhiều thế này cởi áo sẽ bệnh nay... Mi xem, có những vết đỏ nổi đầy mình đây này!
Tâm Đăng cúi xuống nhìn kỹ, thấy trên huyệt Trung Đình và Quan Nguyên, có mười mấy dấu đỏ nổi lên.
Chú lo sợ lắm, khám kỹ thấy đó là dấu do những ngón tay tạo ra. Tâm Đăng trong lòng kinh dị nhưng ngoài mặt gượng gạo bình tĩnh.
Chú gượng cười nói với một chú tiểu tên là Yên Hải :
- Không sao, tôi không có bệnh!
Đồng đạo thấy vậy lục tục kéo ra, còn Tâm Đăng thẫn thờ suy nghĩ về việc ban đêm, có người dùng phép cách không điểm vào huyệt ngủ của mình, sau khi mình mê man, không biết gì nữa, rồi sao bây giờ thân thể mình lại nổi lên những chấm đỏ dị kỳ?
Chú lại nghĩ :
- Người ấy có dụng ý gì?
Nghĩ mãi không ra, chú quyết định sẽ mang câu chuyện này hỏi Bệnh Hiệp, họa chăng ông này có thể trả lời.
Suốt ngày hôm ấy, Tâm Đăng sống trong bàng hoàng do dự, trông ngóng cho trời mau tối để vào hang sâu tìm Bệnh Hiệp.
Thế rồi canh hai đến, Tâm Đăng vượt tường ra khỏi Bố Đạt La Cung, chạy bay về phía hang sâu.
Khi chàng vào hang được hai mươi trượng, bỗng nghe từ phía trong kia có tiếng ho nhọc mệt của Bệnh Hiệp vang ra, chú nghĩ thầm :
- Bệnh Hiệp không bao giờ ho trong hang, bảo rằng sợ làm mất giấc ngủ của bà vợ, nhưng sao bây giờ lại ho?
Chú lấy làm lo sợ đi nhanh vào phía trong, thấy Bệnh Hiệp vẫn ngồi ngay chỗ cũ, bên cạnh ông ta là một bộ xương người trắng hếu.
Bệnh Hiệp hai tay ôm ngực, cố dằn cơn ho, nhưng không thể nào dằn nổi, từng cơn ho vẫn vang lên rũ rượi.
Tâm Đăng bước tới bắt tay ông ta, hỏi một câu thiết yếu :
- Sao Bệnh sư phụ lại ho ở trong này :
Bệnh Hiệp lắc đầu cười chua chát :
- Lần này ta thọ thương nặng lắm, không thể dằn cơn ho được.
Dứt lời lại ho lên sù sụ, ông nói với Tâm Đăng :
- Con hãy sang đây để ta xem võ công của con tiến bộ nhiều hay ít?
Tâm Đăng vâng lệnh, trờ tới một bước kề sát vào mình của ông ta.
Bệnh Hiệp thò hai bàn tay khẳng khiu ra bá lấy vai chú, rồi mười ngón tay thình lình dùng sức bấu chặt lại.
Bệnh Hiệp là một con người gầy gò bệnh hoạn, vậy mà sức mạnh của mười ngón tay thật là đáng sợ. Tâm Đăng trong lúc ơ hờ, bị xiết cổ nghẹt thở, xương đau như dần, vội vận chuyển nội công để chọi lại.
Chú nghe thấy mười ngón tay của Bệnh Hiệp nóng bỏng như mười thanh sắt nướng đỏ, và mỗi luồng sức mạnh vô biên từ mười ngón tay ấy truyền sang cơ thể mình.
Tâm Đăng kháng cự một hồi, mồ hôi trán vã ra lấm tấm, Bệnh Hiệp mới từ từ nới lỏng tay ra, hổn hển nói :
- Mi không bỏ dở luyện tập, ta rất mừng.
Tâm Đăng dùng ống tay áo lau mồ hôi trán trả lời :
- Con không bao giờ bỏ dở!
Bệnh Hiệp gật gù, miệng cười nói :
- Còn ba hôm nữa thì đến ngày rằm Trung Thu, đây là một ngày tết vui vẻ nhưng đối với ta, đối với mi, đều không phải là một ngày vui.
Tâm Đăng nói :
- Thưa Bệnh sư phụ, Trung Thu năm tới con sẽ hoàn tục.
Câu nói này dường như làm cho Bệnh Hiệp sực tỉnh, ông ta thở dài :
- Á, suýt nữa ta quên, e rằng ta không thể sống đến ngày đó để nhìn thấy mi thành công viên mãn.
Tâm Đăng trong dạ bùi ngùi, nghĩ rằng đúng như lời ông ta nói, e rằng ông ta không thể sống đến chừng đó để nhìn thấy mình ngang dọc trong chỗ giang hồ.
Hai người ngồi lim dim, triền miên suy nghĩ, Tâm Đăng chợt nhớ đến việc điểm huyệt hồi hôm, vội mang ra trình bày, Bệnh Hiệp vội nói :
- Mi hãy cởi áo cho ta xem!
Tâm Đăng lấy làm lạ, nghĩ rằng trong này tối om om, chả lẽ Bệnh Hiệp thấy, dù vậy ngoài miệng chẳng nói ra, lặng lẽ cởi áo.
Bệnh Hiệp không ghé mắt nhìn mà chỉ dùng bàn tay sờ mó, lần này Tâm Đăng lại nghe thấy mười ngón tay của ông ta giá lạnh như băng và tiết ra một luồng sức mạnh dịu dàng êm ái. Bàn tay của ông ta đi nhanh thoăn thoắt, xoa nắn khắp toàn thân đại huyệt, rồi bỗng dừng lại nơi hai đại huyệt Trung Đình và Quan Nguyên.
Tâm Đăng vừa lấy làm lạ, thì Bệnh Hiệp hỏi :
- Có phải mi phát giác nơi này nổi lên những chấm đỏ?
Tâm Đăng trả lời :
- Chính thế nhưng không đau!
Bệnh Hiệp cất giọng :
- Bây giờ không cho phép mi nói chuyện, mi hãy nhắm mắt lại như ngủ.
Tâm Đăng vâng lời nhắm nghiền cặp mắt ngồi yên không động đậy. Tâm Đăng cảm thấy mười ngón tay của ông ta ấn mạnh xuống, truyền sang cơ thể chú cảm giác thật là thoải mái.
Lâu lắm, mới nghe thấy mười ngón tay của ông ta từ từ thu về, hổn hển nói :
- Xong, bây giờ mi mặc áo vào.
Tâm Đăng vừa mặc áo, vừa nghe Bệnh Hiệp lẩm bẩm :
- Người này không có ác ý, chính hắn dùng Đạt Ma thủ để chữa gân cốt cho mi, dường như hắn muốn vun vén cho mi trở thành một người có căn cơ tốt.
Tâm Đăng lấy làm lạ, lại nghĩ :
- Ai đấy? Ai muốn vun vén cho ta trở thành một người có căn cơ tốt?
Chợt nghe Bệnh Hiệp nói tiếp :
- Bây giờ, người luyện được Đạt Ma thủ chẳng có mấy ai.
Tâm Đăng vội hỏi :
- Chẳng hay người ấy có dụng ý gì?
Bệnh Hiệp trả lời :
- Nếu ta đoán không lầm thì người ấy đồng một mục đích với chúng ta... Cô Trúc truyền võ công cho mi cũng vì việc ấy, hà hà... Bây giờ mi lại có thêm một người “khách hàng” chiếu cố rồi đó.
Tâm Đăng càng nghe càng lấy làm kinh dị, đó là một điều thắc mắc, ám ảnh chú suốt mười mấy năm trời.
Chú không biết tại sao Cô Trúc lại dốc hết tâm huyết để truyền võ cho mình? Và Bệnh Hiệp cũng dùng hết hơi tàn chỉ vào việc đó?
Còn Vạn Tiềm lại cũng muốn ép mình học võ?
Còn Lư Âu, tại sao lại muốn mình biểu diễn chưởng pháp cho bà xem?
Càng nghĩ càng thắc mắc, Tâm Đăng bỗng quỳ xuống trước mặt Bệnh Hiệp nằn nì :
- Xin sư phụ cho con rõ, tại sao sư phụ lại truyền võ cho con?
Bệnh Hiệp sa sầm nét mặt :
- Mi ngồi ngay lại, ta không phải là Phật, mi đừng hành lễ!
Tâm Đăng cực kỳ thất vọng, gắng gượng ngồi ngay ngắn lại mà lắng nghe những tiếng thở dập dồn của Bệnh Hiệp.
Chợt nghe ông ta cất giọng trầm trầm :
- Chúng ta truyền võ cho mi chỉ vì lòng ích kỷ.
Tâm Đăng nghe câu nói mơ hồ, không phù hợp với tinh thần phổ độ chúng sinh của Phật giáo, nên vội hỏi :
- Nếu vì lòng ích kỷ thì...
Bệnh Hiệp cả cười, cắt ngang câu nói :
- Nghe ta nói, ai cũng có một tấm lòng ích kỷ, như Cô Trúc và ta là ví dụ, mấy mươi năm nay biết bao nhiêu người muốn lạy làm thầy nhưng chúng ta chẳng khứng. Nhưng tại sao chúng ta lại phải khó khăn cực nhọc tìm hết cách truyền võ cho mi? Cô Trúc phải tốn mười mấy năm tâm huyết, và ta cũng phải dùng hết hơi tàn, vậy thì sao? Tại sao?
Tâm Đăng trả lời :
- Đây chính là chỗ con không hiểu, xin sư phụ cho con biết!
Bệnh Hiệp lắc đầu :
- Trước khi Cô Trúc truyền võ cho mi, có ép mi phải làm hộ cho ông ta một việc, có phải chăng?
- Phải!
- Còn ta truyền Đại Thừa thần công cho mi cũng chỉ vì việc ấy, đó là một việc quan trọng trong chỗ giang hồ hồi mười mấy năm về trước.
Tâm Đăng chợt nhớ đến câu chuyện Lư Âu vừa kể, vội hỏi :
- Có phải việc này dính líu đến quyển Tàm Tang khẩu quyết?
Bệnh Hiệp giật mình ngồi ngay lại hỏi :
- Sao mi biết? Chẳng lẽ Cô Trúc nói cho mi biết rõ?
Tâm Đăng không dám thổ lộ câu chuyện mình bắt gặp quyển Tàm Tang khẩu quyết trong Bố Đạt La Cung, mà chỉ trả lời :
- Chuyện này do bà Lư Âu kể lại!
Bệnh Hiệp giật mình nhẹ nhõm :
- Lư Âu?
Tâm Đăng gật đầu, Bệnh Hiệp ho một tràng dài rồi hổn hển :
- Con quỷ già đó sao chưa chết? Phải, nó đã biết việc này, mười tám năm về trước nó đã lần mò đến Tây Tạng, trú ngụ tại Sắc La tự... Bây giờ, ta đã kể cho mi nghe những gì... mi hãy kể lại cho ta rõ.
Tâm Đăng lần lượt kể lại cho Bệnh Hiệp nghe, đồng thời còn cho biết lúc câu chuyện kể đến hồi dang dở, bỗng có người xuất hiện ném giấy vào... vân vân...
Bệnh Hiệp nghe xong gật gù :
- Bà lão này vẫn còn có tính như xưa, hễ mỗi khi bà nhắc đến việc hệ trọng thì có người nhảy ra phá đám, người đó là ai, ta có thể đoán ra.
Tâm Đăng biết Bệnh Hiệp vào hồi mười tám năm về trước có tham gia vào việc lộn xộn này trong làng võ, nên vội vàng hỏi :
- Vậy câu chuyện này đầu đuôi ra sao xin sư phụ kể tiếp!
Bệnh Hiệp cúi đầu thẫn thờ nhìn bộ xương khô của vợ mình, lâu lắm mới ngẩng đầu dậy, dùng một giọng bi thảm kể lại rằng :
- Mười tám năm về trước...
Mười tám năm về trước, chúng ta cùng mười mấy tay cao thủ trong làng võ Trung Nguyên thảy đều trúng độc kế của người Tây Tạng mà tiếng tăm trôi theo dòng nước...
Đồng thời phải bỏ phí đi biết bao nhiêu thời gian quý báu...
Mãi đến ngày nay, việc đã xảy ra mười tám năm dài đằng đẵng, mà chúng ta vẫn còn phải lưu lại trên mảnh đất Tây Tạng này, sống một cuộc đời của những kẻ về chiều, để chờ đợi một cơ hội khôi phục lại thanh danh cũ!
Chúng ta đều gửi hết hy vọng vào một người, người đó là mi!
Phải, người đó chính là mi!
Tâm Đăng nghe đến đây, giật mình kinh hãi, rối rít hỏi :
- Sao thế? Sư phụ...
Bệnh Hiệp bỗng sa sầm nét mặt, nghiêm nghị nói :
- Tâm Đăng, mi đừng nóng nảy, ta đã bảo trong thời gian một năm sẽ nói cho mi rõ, mi có hỏi cho lắm cũng cầm bằng vô ích.
Tâm Đăng nghe nói, giận lắm, trong bụng nói thầm :
- Mi không nói thì thôi, ta nhất quyết không hỏi nữa!
Bệnh Hiệp dường như dọ thấu tâm tư của Tâm Đăng, dịu dàng nói :
- Ta rất khó tính, không thích người ta nói nhiều, hễ ngày giờ đến ta tức khắc nói cho mi biết. Nói ra ngay bây giờ e xảy ra nhiều điều bất trắc, vì vậy mà mười mấy năm nay ta luôn thủ khẩu như bình! Bây giờ mi hãy về, ngày kia trở lại.
Tâm Đăng lủi thủi lần từng bước trở ra ngoài, nhưng đi được mấy đoạn đường thì bỗng có tiếng Bệnh Hiệp gọi giật lại :
- Mi trở lại cho ta bảo.
Khi Tâm Đăng trở lại rồi, Bệnh Hiệp nói :
- Đêm nay, cái người dùng Đạt Ma thủ đó thế nào cũng trở lại, bởi vì phương pháp đó không thể gián đoạn, tới chừng đó mi bất tất phải sợ, cứ để ông ta tự do hành động, đó là một cơ hội quý báu, thôi mi hãy về đi... Hừ! Biết đâu ta lại chẳng thêm được một kẻ thù địch!
Tâm Đăng lại quay đầu trở ra, trong lòng suy nghĩ, không hiểu tại sao những người vang danh trong làng võ Trung Nguyên thảy đều dòm ngó đến mình?
Tại làm sao mà những môn võ thuật kẻ khác hàng ngày mơ ước mà không được, họ lại bắt buộc chú phải học?
Rời khỏi hang thì canh ba đã gần tàn, gió đêm lồng lộng, vầng trăng lạnh treo lơ lửng giữa từng không, ngôi Bố Đạt La Cung im lìm triền miên trong giấc ngủ.
Tâm Đăng đi nhanh như một đường tên bắn, nhảy vù vào Bố Đạt La Cung.
Đêm đó, chiếc bóng đen kỳ quái lại xuất hiện, cũng như lần trước, hắn vẫn dùng Cách Không Điểm Huyệt điểm chỉ Tâm Đăng ngủ vùi rồi dùng Đạt Ma thủ xoa nắn cho chàng, sửa chữa gân cốt, mãi cho đến khi hắn mệt nhọc, hơi thở phì phò mới lặng lẽ ra đi.
Hành động của người này nhanh không thể tả, dưới bóng trăng mờ không thể phân biệt được là trai hay gái.
Sáng ngày hôm sau, Tâm Đăng trở dậy, cũng thấy chung quanh giường mình có rất nhiều đồng đạo đang lo sợ nhìn mình, ai cũng bảo Tâm Đăng sẽ sinh bệnh.
Chú nhìn kỹ, vẫn thấy mình mồ hôi ướt đầm, tứ chi uể oải, nhưng chú lại mỉm cười, tìm vài câu chống chế cho qua, đoạn hỏi đồng đạo Yên Hải mượn một chiếc áo lót để thay.
Tâm Đăng đón lấy chiếc áo lót trên tay của Yên Hải, đoạn cởi áo của mình ra, chúng đồng đạo lại reo lên ầm ĩ, thì ra nhưng chấm đỏ trên mình của Tâm Đăng càng lúc càng trông rõ.
Tâm Đăng thét vang, bảo bọn chúng đừng kêu la, đoạn mặc nhanh áo vào.
Ngày hôm ấy, không có việc gì xảy ra. Đêm về, Tâm Đăng nghĩ rằng đêm nay mình không cần phải vào hang luyện võ nên đi bách bộ trong chùa.
Kể từ ngày vị trụ trì mới đến nhậm chức đến nay, hơn một tháng rồi Tâm Đăng chưa lên lầu, cũng chưa hề vào lầu chứa sách.
Vị trụ trì mới này không siêng năng bằng Tạng Tháp, trời vừa tối thì đã ngủ kỹ.
Tâm Đăng ngửa mặt nhìn gian phòng u ám của vị trụ trì và ngôi nhà chứa sách, trong lòng thầm nghĩ :
- Ai đã giết Y Khắc? Tạng Tháp vì sao mất tích một cách kỳ dị? Hai lóng tay của ông ta bị chặt bằng cách nào? Hay... thủ phạm là sư phụ? Không! Không phải! Họ không biết trong chùa có Tàm Tang khẩu quyết thì không có lý do nào giết Y Khắc. Vậy thì... ai là hung thủ?
Còn đang nghĩ ngợi triền miên, bỗng chú thoáng thấy một chiếc bóng trắng thoáng bay vù qua trước mặt.
Vừa kịp giật mình thì đã nhận ra đó là một người con gái.
Nàng mặc một chiếc áo trắng tinh, dưới chân mang một đôi giày da trừu, thật là xinh xắn, sau lưng là một mái tóc óng a óng ánh, chảy dài xuống khỏi long.
Nhưng trên mặt nàng lại che ngang một vuông lụa màu đen.
Tâm Đăng vừa sợ, vừa mừng, rú lên nho nhỏ :
- Trì... thí chủ, trở về rồi ư?
Người con gái không trả lời, chỉ vẫy Tâm Đăng rồi sử một thế Xuân Phong Tống Chu như một cánh én bay vù về phía lầu chứa sách.
Tâm Đăng nghĩ đó là Phật Anh, tim bỗng đập rộn ràng, chú nghe mặt mình nóng bừng lên, một thứ tâm tư kỳ diệu xâm chiếm lấy tâm hồn.
Tâm Đăng ngây ngất một giây rồi mới đuổi theo nàng, nàng dường như quen thuộc đường lối lắm, quanh qua lộn lại một hồi thì đến lầu chuông.
Tâm Đăng hỏi thầm :
- Cô ấy rủ ta đến lầu chuông để làm gì?
Chợt nàng dừng chân lại và Tâm Đăng đã trờ tới, đôi bên chỉ còn cách trong vòng tám thước, Tâm Đăng liền bị một mãnh lực vô hình ghìm cho dừng chân lại, chỉ giương cặp mắt thẫn thờ mà không biết phải nói làm sao!
Nàng buông một tiếng cười nho nhỏ, tiếng cười trong như ngọc, nàng thò tay trắng nuốt ra mà nói :
- Mi hãy sang đây!
Câu nói của nàng vừa thoát ra khỏi cửa miệng thì Tâm Đăng bỗng rú lên một tiếng kinh hoàng sửng sốt.

Xem tiếp chương 7 Dưới hang sâu trối trăn hậu sự

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:59 pm

Chương 7 Dưới hang sâu trối trăn hậu sự

Thì ra thiếu nữ này đã nói một câu bằng tiếng Tây Tạng, giọng nói lạ lùng, rõ ràng người này không phải Trì Phật Anh.
Thiếu nữ thấy Tâm Đăng sững sờ, ngơ ngác, cười nhẹ một tiếng, vẫn dùng giọng Tây Tạng nói rằng :
- Mi thật dại, hãy sang đây!
Tâm Đăng khẽ hỏi :
- Thí chủ là ai? Tiểu tăng không biết.
Thiếu nữ lại cười, cắt ngang câu nói :
- Mi không biết ta nhưng ta biết mi. Mi xem, trên cổ mi đang đeo xâu chuỗi ngọc của ta.
Tâm Đăng nghe nói giật mình, đưa tay sờ xâu chuỗi ngọc, hai má đỏ bừng, ấp úng nói :
- Tiểu tăng không biết vật này do thí chủ để lại, nên tạm thời đeo trên mình, nay thí chủ nhìn thì tôi xin trao trả.
Nói rồi lột xâu chuỗi xuống nhưng thiếu nữ khoát tay cười bảo :
- Ta đã tặng cho mi... Ta không đòi lại... Mi có biết tại sao ta tặng ngọc cho mi?
Tâm Đăng vội vã cắt ngang :
- Đó cũng là điều tôi đang thắc mắc, xin tín nữ thí chủ nói rõ cho.
Ngừng một chút nàng mở lời :
- Mi thật dại, việc thật dễ hiểu mà nghĩ không ra.
Tâm Đăng vẫn ngờ nghệch :
- Quả thật tôi không hiểu.
Thiếu nữ có vẻ tức giận :
- Ta đã bảo ta tặng cho mi.
Tâm Đăng giật mình :
- Tôi và nữ thí chủ vốn không quen biết, cớ sao nữ thí chủ lại tặng cho tôi một vật quý báu như vậy, làm cho tôi trong dạ chẳng yên.
- Ta đã bảo ta tặng cho mi thì tặng cho mi, đừng hỏi dài dòng....
Tâm Đăng lại e thẹn, đứng im làm không dám mở miệng nữa.
Thiếu nữ thấy vậy cười lên khúc khích :
- Chắc mi lấy làm lạ lắm. vì tên của ta mi cũng chưa biết, này... ta là người Tây Tạng, tên là Mặc Lâm Na, năm nay mười bảy tuổi.
Tâm Đăng nghe dứt câu nói này, vội vàng cởi xâu chuỗi ngọc, bước tới một bước cười rằng :
- Mặc Lâm Na thí chủ, tôi là người trong cửa Phật, mọi sự thảy đều không dám nhận những món đồ tặng của người đời, vậy xâu chuỗi ngọc, tiểu tăng xin giao trả.
Mặc Lâm Na lắc đầu nói :
- Không! Ta đã tặng cho mi thì không bao giờ lấy lại nhưng ta có một lời nguyền nhờ mi làm hộ một việc.
Tâm Đăng nghe nói, càng lấy làm kinh nghi hỏi rằng :
- Chẳng hay nữ thí chủ có lời nguyền gì, xin nói rõ.
Ngừng lại một chút, Mặc Lâm Na nói :
- Mi nói chuyện, đừng gọi ta là nữ thí chủ, cũng đừng xưng là tiểu tăng. Cha ta tuổi đã già, ta có hai người mẹ nhưng cả hai người đều không đặng vui, suốt ngày rầu rĩ, ta hỏi thì cả hai người đều gượng cười, ta biết trong lòng hai mẹ chắc là có điều gì buồn rầu lắm, vì vậy nên mới đến đây nhờ một vị sư huynh tụng kinh tiêu tai cho.
Mặc Lâm Na nói đến đây khóc nức nở, Tâm Đăng cũng bị mối lòng hiếu cảm đó làm cho xúc động, dịu dàng nói :
- Nữ... Mặc Lâm Na, tôi sẽ hết sức làm việc này, mỗi ngày bỏ ra vài giờ để tụng kinh, mong rằng nhị vị lệnh mẫu nên làm nhiều điều thiện thì ắt có hiệu quả, gặp dữ cũng hóa lành.
Mặc Lâm Na nghe nói mừng lắm, kêu lên :
- Mi thật là có lòng tốt! Xin đa tạ!
Dứt lời nàng nhón gót, bước tới trước mặt Tâm Đăng, thò bàn tay trắng muốt ra nắm lấy tay chú, Tâm Đăng giật mình bước xéo một bước để tránh, trống ngực đánh thình thình, ấp a ấp úng nói :
- Đó là bổn phận của người xuất gia, cô bất tất phải cảm ơn.
Mặc Lâm Na có lẽ vì quá mừng, quên hẳn đối phương là người xuất gia đầu Phật, lại còn trẻ tuổi, bây giờ nàng hổ thẹn, sắc mặt đỏ bừng, ngước mắt nhìn trời, thấy trời sắp sáng, nàng xá chào Tâm Đăng rồi nói :
- Ta đi đây, phiền mi ở lại tụng kinh tiêu tai.
Nói rồi thân hình của nàng lướt ngang trước mặt Tâm Đăng mà bay xuống thềm, một làn hương thơm của người trinh nữ phất ngang qua mũi Tâm Đăng, làm cho lòng chú bàng hoàng xao xuyến, không biết mãnh lực nào thúc đẩy chú hỏi một câu :
- Cô... cô đi ư?
Mặc Lâm Na quay mình trở lại, mũi giày thêu của nàng khua nhẹ trên thềm đá, mặc dù người ta không trông thấy gương mặt của nàng nhưng cũng có thể đoán ra rằng, đằng sau vuông lụa đen, người đẹp đang mỉm một nụ cười hạnh phúc.
Nàng thong thả bước trở lại hai bước hỏi nhỏ :
- Mi gọi ta trở lại có việc gì?
Tâm Đăng hai má đỏ bừng, không biết trả lời làm sao cho xuôi, ấp úng nói :
- Tôi tụng kinh chỉ chừng một tháng là đủ tiêu tai, tới chừng đó xin cô trở lại để tôi trao trả xâu chuỗi ngọc này.
Mặc Lâm Na cười nho nhỏ :
- Được, một tháng sau ta sẽ trở lại, còn việc gì nói nữa?
Tâm Đăng nghe thấy mình còn rất nhiều việc cần nói với Mặc Lâm Na nhưng nói chẳng ra lời, chỉ nở một nụ cười ngờ nghệch :
- Thôi.. hết rồi... À, tôi tên là Tâm Đăng!
Mặc Lâm Na cười nhẹ, lẩm bẩm :
- Tâm Đăng!.. Tâm Đăng!
Rồi nàng đưa tay vẫy chào Tâm Đăng, đoạn bay mình ra khỏi lầu chuông, nhẹ nhàng như một cánh én.
Tâm Đăng tựa mình vào lan can, ngắm nhìn hình ảnh của nàng mờ dần vào bóng tối mà trong cõi lòng nổi lên một thứ cảm giác dị kỳ...
Chú nghe thấy mình vừa được một vật quý báu lắm, lại mơ hồ như vừa đánh rơi một vật quý giá nhất trần gian.
Thực ra, chúng ta có thể định rõ rằng Tâm Đăng vừa nhặt được một hình ảnh mỹ miều của cô thiếu nữ, nhưng lại mất đi tấm lòng thành đối với đức Phật thiêng liêng....
Quả thật Tâm Đăng nghe thấy một niềm vui tràn ngập cõi lòng, nguồn cảm hứng bỗng nhiên dạt dào kéo đến, thừa lúc trăng thanh vằng vặc, chú tức tốc ra quyền xuất chưởng, múa đường võ mãnh liệt vô song là Cô Trúc chưởng.
Thân hình của chú lồng lộn lên như một con trường xà uốn khúc, chưởng lực trầm hùng vang vang như sấm, mỗi một đường võ của chú tung ra, thảy đều đưa đối phương vào tử địa.
Hứng chí chú mùa đường võ của Cô Trúc biến hóa thành thiên hình vạn trạng, uy lực cao thâm làm cho chính Tâm Đăng cũng không hiểu tại sao mấy tháng nay công lực của mình lại tăng tiến một cách khác thường?
Mãi đến khi đường Cô Trúc chưởng chấm dứt ở thế võ cuối cùng thì trời đã canh ba, mà Tâm Đăng tâm thần vẫn còn phấn chấn, chú ngửa mặt lên trời, nhìn vầng trăng vành vạnh trong lòng nghĩ thầm :
- Hoàn tục không phải là một việc có hại, biết đâu nó lại thú vị hơn cuộc sống tụng kinh gõ mõ trong chùa... bằng không thì tại sao trên đời này những người tu hành thì ít mà những người theo tục thì nhiều?
Nghĩ đến việc hoàn tục bất giác chú liên tưởng đến cha mẹ của chú, nhiều ý nghĩ lại quay cuồng trong trí :
- Cha mẹ của ta hiện giờ ở nơi nào?
- Họ còn sống hay chết?
- Họ ở Trung Nguyên hay ở Tây Tạng?
- Nếu ở Tây Tạng thì sao chẳng lại thăm ta?
- Chẳng lẽ họ lại là người tu hành, chẳng thiết đến cháu con?
Nghĩ đến đây, chú lại rưng rưng nước mắt, đây là lần thứ nhất trong đời chú phải rơi nước mắt vì đời sống riêng tư của mình.
Ánh trăng bàng bạc soi trên đầu chú tiểu đang khóc rấm ra rấm rứt vì thân thế đau thương của mình.
Bất thình lình, Tâm Đăng bỗng nghe thấy dưới hông mình nhói lên một cái, rồi hôn mê đi.
Trong cơn nửa mê nửa tỉnh, chú thoáng thấy một chiếc bóng mờ bay vù xuống cặp lấy mình vào nách.
Sáng ngày hôm sau, khi Tâm Đăng giật mình thức giấc thì phát giác mình đang nằm trên giường của mình, đồng đạo xung quanh còn đang ngáy pho pho.
Chú lặng lẽ xuống giường thay áo, chợt gặp một vật cộm cộm trong túi áo, vội mò ra xem. Thì ra đó là một mảnh giấy vo tròn.
Vội vuốt phẳng ra, đẩy cửa ra ngoài, thì trời chưa sáng hẳn, tiếng trùng tiếng dế vẫn còn gáy nỉ non ở trước thềm, tạo thành một bản nhạc hòa tấu thật là kỳ diệu, chú không biết bản nhạc đó là bi ai hay hào tráng?
Mượn ánh trăng suông, Tâm Đăng đọc vội những hàng chữ ngoằn ngoèo trên giấy :
“Nên uống thật nhiều nước muối thì môn võ công này rất dễ thành tựu.
Người truyền võ”.
Vò lại mảnh giấy trong tay, Tâm Đăng lặng lẽ vòng ra sau chùa tắm rửa.
Từ đó trở đi, liên tiếp mười mấy hôm, hôm nào con người bí mật đó cũng đến làm công việc điểm huyệt và truyền công lực cho chú.
Và cứ mỗi cách một đêm, Tâm Đăng lại mò vào hang thẳm để tìm gặp Bệnh Hiệp.
Có lúc chú nói chuyện về võ công, có lúc nói chuyện phiếm, chỉ có điều là Bệnh Hiệp không bao giờ nhắc đến việc Tàm Tang khẩu quyết nữa.
Cô Trúc và Lư Âu không thấy trở về, Trì Phật Anh thì cũng biền biệt tăm hơi.
Tâm Đăng có lúc nhớ đến nàng, thỉnh thoảng chú cũng nhớ đến Mặc Lâm Na.
Hai người con gái bịt mặt này, mặc dù xa lạ nhưng đều đi vào đời Tâm Đăng một cách quá ư đột ngột, dù vậy Tâm Đăng cố hết sức xóa bỏ hình ảnh của hai nàng ra khỏi tâm khảm nhưng không sao xóa mất được.
Đêm ấy, Tâm Đăng vừa lần xâu chuỗi của Mặc Lâm Na vừa đi về phía hang thẳm.
Lúc bấy giờ, trên đầu của Tâm Đăng tóc đã mọc ra lưa thưa, chàng búi nó lại, thoạt trông như một vị đạo sĩ.
Đêm ấy, Tâm Đăng gặp Bệnh Hiệp trong lúc ông ta lên cơn sốt, Tâm Đăng sợ hãi hỏi tíu tít.
Nhưng Bệnh Hiệp chỉ hàm hồ trả lời :
- Đêm hôm qua,... ta ho nhiều lắm... và cơn sốt kéo dài cho đến ngày hôm nay.
Tâm Đăng nghe thấy trong lòng mình chua xót lắm, vài giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống khuôn mặt răn reo của Bệnh Hiệp.
Bệnh Hiệp vuốt lưng Tâm Đăng nói :
- Con... con đừng khóc... Chính Dung, ta không chết đâu.
Nhưng Tâm Đăng vẫn không cầm được nước mắt, chú khóc nhiều lắm, bỗng thình lình Bệnh Hiệp giơ tay ôm lấy Tâm Đăng, ông ta rền rĩ :
- Con ơi... ta nói thật... có lẽ ta không sống đến sang năm đâu!
Tâm Đăng nghe đến đây lại khóc ồ ồ. Bệnh Hiệp lại nói tiếp :
- Hãy nghe ta nói... Ta e rằng số mạng của ta chỉ còn mười ngày hoặc mười lăm ngày nữa mà thôi. Ta không sợ chết... nhưng còn một việc mà ta chết đi không thể yên lòng. Bắt đầu từ đêm mai, mỗi đêm con đều phải đến đây để nghe ta tỏ bày một việc tâm sự. Đó là một việc vô cùng quan hệ mà ta phó thác cho con làm giùm đó.
Tâm Đăng nói qua làn nước mắt :
- Sư phụ hãy nói cho con rõ, dù nát tấm thân này con cũng nguyện sẽ thực hành.
Trên mặt của Bệnh Hiệp hiện nét cười, hổn hển nói :
- Ta tin con! Nhưng... giả mà việc này động chạm đến Cô Trúc, hoặc giả là Cô Trúc không bằng lòng cho mi làm thì mi nghĩ sao?
Tâm Đăng trả lời :
- Con bất chấp, con đã hứa với sư phụ thì con phải làm, nếu Cô Trúc sư phụ mà có giết con đi nữa, con cũng không thay đổi ý định.
Bệnh Hiệp bị câu nói này làm cho xúc động mạnh, nước mắt ràn rụa trên đôi mi, ông ta lẩm bẩm nói rằng :
- Ta không ngờ trên phần đất Tây Tạng này, trên phần đất mà ta mua lấy sự thảm bại, ta đã để cho tiếng thơm của ta trôi theo dòng nước... Nhưng lại được mi cầm lấy món đồ mà ta muốn, đến trước ngôi mộ của ta, của vợ ta, và trước mặt của Cô Trúc một cách vinh quang. Để cho toàn thể võ lâm biết rằng, học trò của thằng Bệnh Hiệp này không phải là một kẻ tầm thường.
Tới chừng đó, ta và sư mẫu của mi sẽ ngậm cười dưới ba tấc đất.
Chính Dung, ta tin chắc rằng con sẽ thành công.
Tâm Đăng nghe thấy Bệnh Hiệp nói một cách say sưa khôn tả, trong lòng chàng nghe thấy thương xót lão già này lắm.
Ai có ngờ rằng một vị kỳ nhân trong làng võ, danh tiếng lẫy lừng từ nam chí bắc, mà ngày hôm nay phải chôn chân bó gối trong cái hang sâu thẳm này, để ký thác sự ân oán của một đời mình cho một người thiếu niên đang xuất gia đầu Phật.
Lâu lắm, Bệnh Hiệp mới nhắc :
- Bây giờ mi hãy về chùa để cho ta ngơi nghỉ!
Tâm Đăng quyến luyến không nỡ rời, chàng dịu dàng nói :
- Sư phụ! Hãy để cho tôi ở lại thêm một chút nữa.
- Thôi... bất tất, đêm mai mi hãy trở lại.
- Được, ngày mai dùng xong ngọ trai cho phép mi đến.
Tâm Đăng được lời mới lui ra khỏi động.
Bước ra khỏi hang, một luồng gió tức khắc xâm chiếm cơ thể chú, làm cho chú rùng mình rởn óc.
Tâm Đăng nghe thấy trên mi mình còn đọng nhiều giọt nước mắt, chú chắp tay lâm râm khấn :
- Xin đức Phật mở lượng từ bi phù hộ độ trì cho sư phụ được tai qua nạn khỏi... A di đà Phật!
Tâm Đăng vừa khấn đến đây, bỗng thoáng nghe tiếng cười nho nhỏ, chú giật mình mở mắt bừng dậy, nhớn nhác nhìn quanh, thấy đó đây lặng lẽ như tờ, chỉ có vài cơn gió nhẹ lay đầu ngọn cỏ, và tiếng côn trùng rỉ rả, ngoài ra không có tăm hơi gì cả, Tâm Đăng nghĩ thầm :
- Hay là ta nghe nhầm? Với công lực của ta thì nghe không nhầm mới phải?
Tâm Đăng trong lòng nghi ngại, lủi thủi đi về Bố Đạt La Cung, trong lòng chú nổi lên một nỗi buồn man mác, những sự đau khổ trên trần thế đã bắt đầu tiêm nhiễm vào cõi lòng của kẻ xuất gia.
Đêm ấy, Tâm Đăng suốt đêm không chợp mắt, chú rơi không biết bao nhiêu là lệ, nhưng vào đến giờ nhất định, thì người khách dạ hành kia lại xuất hiện.
Sau khi điểm huyệt ngủ của Tâm Đăng rồi, người ấy phát hiện trước ngực chú có dấu nước mắt còn mới rành rành, hắn bất giác kêu lên một tiếng kinh dị, thở dài nói :
- Thật là lạ! Chẳng rõ chú tiểu này, ngày hôm nay gặp việc đau buồn gì?
Sáng ngày hôm, sau khi thọ trai, Tâm Đăng ngồi một mình trước cổng chùa, thẫn thờ nghĩ đến sắc mặt và giọng nói của Bệnh Hiệp, trong lòng ảo não bi thương lắm, chú trông cho trời mau mưa để thụ trai thêm lần nữa, rồi sẽ đi viếng Bệnh Hiệp.
Còn đang bần thần nghĩ ngợi, bỗng thấy từ phía xa có một lão già què chân, tập tễnh đi tới.
Vận nhãn quang nhìn kỹ, Tâm Đăng suýt buột mồm rú lên, thì ra lão già đó chính là người mà Tâm Đăng đang trông đợi: Cô Trúc lão nhân.
Tâm Đăng thấy Cô Trúc trở về, trong lòng mừng lắm, vội chạy bay ra phía trước, nắm lấy tay ông ta mà cười rằng :
- Sư phụ đã về!
Cô Trúc vẫn còn phong độ như xưa, không nhuốm một nét phong sương nào.
Ông ta ngắm nhìn Tâm Đăng, mỉm cười nói :
- Ta trở về đây là một việc, ba ngày nữa lại đi, xem khí sắc của mi thì võ công tiến bộ lắm, mi thật chẳng phụ lòng ta.
Tâm Đăng không dám tỏ thật là Bệnh Hiệp đã truyền võ cho mình, chỉ ỡm ờ hỏi :
- Sư phụ gần đây đã đi đâu?
Cô Trúc nghiêm nghị trả lời :
- Mi bất tất phải hỏi!
Ngừng một chút, ông ta nói tiếp :
- Lần này ta trở về đây, cốt ý chẳng cho mi trông thấy, nay mi lỡ trông thấy rồi, vậy thì đêm nay hãy đến chỗ chúng ta gặp ngày thường cho ta khảo lại võ nghệ của mi.
Tâm Đăng nghĩ rằng về đêm mình phải đi tìm Bệnh Hiệp, nay đi gặp Cô Trúc, thật là lưỡng nan.
Chú chỉ gật đầu một cách miễn cưỡng.
Thái độ của Tâm Đăng đã lọt vào cặp mắt của Cô Trúc, ông ta mỉm một nụ cười quái dị làm cho Tâm Đăng phải giật mình, Tâm Đăng nhớ đến Bệnh Hiệp từng nói cho chú biết :
- Cô Trúc là một người rất tự phụ, không bao giờ ông ta để cho học trò học thêm võ với người ngoài, ta e rằng mi giấu không nổi hắn, tới chừng đó ta sẽ chết đi, sợ nói sẽ làm khó mi đó!
Tâm Đăng còn nhớ, lúc đó chú trả lời như thế này :
- Không sao, Cô Trúc sư phụ rất mến con!
Bệnh Hiệp lắc đầu :
- Chính vì mến mi mới...
Thế rồi ông ta không nói tiếp theo nữa.
Ngừng một chút để suy nghĩ, ông ta gật gù nói :
- Bây giờ mi hãy trở về chùa, nhớ cho kỹ mỗi buổi tối phải đến đây. Bây giờ ta phải đi tìm một người bạn già.
Cô Trúc nói rồi khoát tay ra dấu, đoạn đi ngoặt sang một con đường bên cánh tả.
Tâm Đăng thẫn thờ suy nghĩ, chú cảm thấy rằng sự trở về của Cô Trúc lão nhân đối với chú có nhiều trở ngại việc liên lạc với Bệnh Hiệp.
Mà khổ nỗi, Bệnh Hiệp lại là người gần đất xa trời, không còn sống được bao nhiêu ngày nữa.
Nghĩ đến đây, Tâm Đăng toát mồ hôi lạnh, chú lẩm bẩm :
- Ta bất chấp! Dù Cô Trúc sư phụ có giết ta đi nữa, ta cũng phải đi thăm một người sắp sửa qua đời.
Vì suy nghĩ như thế, chú cảm thấy hơi yên lòng, chú lủi thủi trở về chính điện, thì chính là lúc đồng đạo đang ê a tụng kinh.
Dùng xong ngọ trai rồi, chú chạy bay về phía hang sâu, đi thẳng vào bên trong, thấy Bệnh Hiệp đang ngồi tựa vào vách, ông thấy Tâm Đăng mỉm cười nói :
- Ta lại thay đổi ý kiến, mi hãy ngồi ngay ngắn mà nghe ta kể chuyện của ta.
Tâm Đăng nghe nói trong lòng mừng rỡ. Bệnh Hiệp suy nghĩ thật lâu, rồi mời thở dài, dùng một giọng thâm trầm kể :
- Ta vốn họ Lạc, tên là Giang Nguyên, người vợ quá cố của ta tên là Kiết Văn Dao, mấy mươi năm về trước, vợ chồng ta cùng với Cô Trúc, Lư Âu, Khúc Tinh, Thiết Điệp và những bọn người trong Nam Hải thất kỳ đều lũ lượt rời bỏ đất Trung Nguyên mà lần mò vào rừng Tây Tạng. Nhưng hỡi ôi, những người danh chấn giang hồ này thảy đều mắc kế của người Tây Tạng một cách buồn cười.
Tâm Đăng giật mình vì đã từng nghe Lư Âu nói thế, Tâm Đăng vội hỏi :
- Người Tây Tạng đó tên là gì?
Bệnh Hiệp kể tiếp :
- Hừ... Hắn tên là Trác Đặc Ba... Ta suốt đời không quên cái tên này.
Trên gương mặt của Bệnh Hiệp nổi lên mấy nét cau có, thể hiện một sự căm hờn uất ức. Giọng nói của ông ta thình lình đổi sang một cách hào hùng, cảm khái.
- Trác Đặc Ba, hắn là một người thuần túy Tây Tạng, nhưng hắn lại không có một bản tính thật thà, trung hậu của người Tây Tạng, hắn xảo trá, đa đoan, trăm mưu ngàn kế. Lúc bấy giờ tương truyền rằng xứ Tây Tạng phát hiện quyển sách Tàm Tang khẩu quyết của Tàm Tang Tử. Thế là những người trong làng võ ồ ạt kéo về Tây Tạng để tìm quyển kỳ thư này.
Tâm Đăng lại nhớ đến lời của Lư Âu, chàng nghĩ :
- Thì ra những việc thị phi tai họa thảy đều do quyển Tàm Tang khẩu quyết này gây ra.
Bệnh Hiệp lại nói tiếp :
- Trác Đặc Ba võ nghệ cao cường, lại sành môn võ lợi hại của người Tây Tạng là Đại Thủ Ấn. Mặc dù hắn khó thắng chúng ta, nhưng chúng ta muốn hạ hắn cũng không phải là chuyện dễ.
Tâm Đăng cả sợ nghĩ thầm :
- Thì ra Tây Tạng cũng sản xuất được một nhân tài kiệt hiệt, có thể ngang hàng với sư phụ, Lư Âu và Bệnh Hiệp...
Bệnh Hiệp lại kể tiếp :
- Với công lực và danh vọng của chúng ta hồi đó, vốn không cần phải học thêm Tàm Tang khẩu quyết, nhưng chúng ta thảy đều có lòng đố kỵ, sợ cuốn sách này lọt vào tay người dưng thì gây nhiều tai họa về sau. Nếu kẻ ấy mà học xong Tàm Tang khẩu quyết thì chúng ta thật khó đối phó.
Tâm Đăng lẳng lặng mà nghe, chú cảm thấy quyển Tàm Tang khẩu quyết này chắc có lẽ là quý báu lắm, chú tiếc rẻ vì mình đã cầm nó vào tay mà giữ nó không được.
Bệnh Hiệp lại thong thả nói rằng :
- Lại còn một điều nữa, là người luyện võ, thảy đều tự cao tự đại, lại có tính hiếu kỳ, muốn biết trong quyển sách này đã ghi chú những môn võ công như thế nào, vì vậy thảy đều lên đường thâm nhập vào vùng Tây Tạng.... Người đi tiên phong là lão già Khúc Tinh, vì tính tình của lão nóng nảy nhất.
Tâm Đăng nghe Bệnh Hiệp cứ nhắc đi nhắc lại cái tên Khúc Tinh bèn hỏi :
- Thưa Bệnh sư phụ, Khúc Tinh là ai?
Bệnh Hiệp ầm ừ :
- Nó là thằng bạn già của ta, làng võ ban cho nó biệt hiệu Quá Thiên Phong, võ công của nó thật là cao thâm vô tận! Bây giờ ta bắt đầu kể cho mi biết khía cạnh xấu xa của lòng người. Hừ!... Hừ!...
Bệnh Hiệp nói đến đây bỗng ho lên sù sụ, mà Tâm Đăng thì cảm thấy câu chuyện này thú vị lắm, vội vàng xoa nắn cho ông ta để dằn cơn ho xuống.
Bệnh Hiệp ngưng tiếng ho nhổ ra một bãi đàm, mồ hôi trán vã ra lấm tấm làm cho Tâm Đăng sốt ruột.
Ông ta dừng lại để nghỉ mệt, lâu lắm mới kể tiếp :
- Trong mỗi người chúng ta, ai cũng đều có một sở trường riêng, theo lẽ phải tự cho mình là đủ, nhưng lòng tham và lòng đố kỵ là một kẻ đại thù nghịch của chúng ta... Nếu trong chúng ta không dại gì mà lần mò đến nơi xa xôi hẻo lánh này.
Nhưng khi mà nghe tin của thằng già Khúc Tinh lên đường vào đất Tây Tạng, thì chúng ta thảy đều lo lắng mà nối gót theo sau.
Kẻ đầu tiên đuổi theo Khúc Tinh là Vạn Giao, kế đó là Nam Hải thất kỳ, rồi Lư Âu, vân vân... Lúc ấy ta bận việc không muốn đi nhưng vợ ta cứ thôi thúc mãi, nàng muốn ta lên đường càng sớm càng tốt.
Nhưng ta đề quyết rằng Tàm Tang khẩu quyết chưa chắc đã xuất hiện, vả lại muốn luyện thành môn võ này phải mất khoảng thời gian là năm năm, vậy thì thằng Trác Đặc Ba nó hà tất phải bán cái tin này ra cho làng võ xôn xao chứ?.. Chính vào lúc ta đang suy nghĩ thì nghe được một cái tin làm chấn động võ lâm, làm cho ta có cái quyết tâm là gác bỏ tất cả mọi việc lại để lên đường đi Tây Tạng.
Tâm Đăng trong dạ kinh nghi, vội hỏi :
- Thưa Bệnh sư phụ, đó là tin tức gì?
Bệnh Hiệp thấy Tâm Đăng tròn xoe cặp mắt, chú ý theo dõi câu chuyện của mình, bất giác thở dài nói thầm trong dạ :
- Thằng nhỏ ra chiều thích thú lắm, nó đâu có biết đây là một câu chuyện não nùng, làm cho những người lớn tuổi như ta đều phải thân danh tan nát.
Rồi ông mỉm cười kể tiếp :
- Đó là cái tin, một bậc kỳ nhân danh vang trong làng võ, mất tích đã mười năm nay, bây giờ tái xuất giang hồ và cũng lên đường đi Tây Tạng, đó là... Cô Trúc lão nhân!
Tâm Đăng rú lên :
- Ủa! Thì ra đó là Cô Trúc sư phụ!
Bệnh Hiệp gật gù :
- Chính thế! Chính là thầy của mi. Ông ta vốn là người cẩn thận từng ly từng tý, vì vậy mà nghe tin rằng lão ta lên đường vào Tây Tạng, ta mới tin rằng quyển Tàm Tang khẩu quyết quả thật đã ra đời.
Thế là vợ chồng ta tức tốc lên đường, chính trong khoảng thời gian dầm sương dãi nắng, vượt đường xa vạn dặm để vào xứ Tạng, bệnh cũ của ta lại tái phát.
À... ta quên cho mi biết, ta đi con đường từ Tứ Xuyên vòng sang Tiễn Lô, để ghé sang Chung Cổ Lạt Ma Tự, rồi mới đến La Sa, là kinh đô Tây Tạng, dọc đường phải trải qua bảy mươi ba trạm, suốt một quãng đường dài trên ba nghìn chin trăm dặm, trèo qua hai mươi chín ngọn núi cao ngất trời.
Khoảng đường đó thật là dằng dặc, không biết từ đâu đưa đến cho ta một nguồn dũng khí để cho ta làm thành một công việc vĩ đại như vậy?
Đó là việc mười tám năm về trước...
Mới đó đã mười tám năm rồi, thật không ngờ vợ ta lại bỏ xác trên đất xa xôi hẻo lánh này, còn ta nữa, có lẽ cũng vui với câu “xương trắng chôn quê người”...
Nói tới đây, Bệnh Hiệp xúc động tâm tình, lệ rơi tầm tã, tiếng nói nghẹn ngào.
Ông ta lau nước mắt rồi kể tiếp :
- Câu chuyện đó phát triển như thế nào, ta không kể thêm cho mi biết nữa, chỉ cho mi rõ, chúng ta thảy đều trúng kế của Trác Đặc Ba, liên kết với nhau mà chọi với Cô Trúc, hai bên xáp chiến với nhau một trận kinh hoàng bên bờ hồ Tuấn Mã.
Tâm Đăng nghe đến đây thật là kinh hãi, Bệnh Hiệp lại nói :
- Cô Trúc quả thật là một tay bản lĩnh cao cường, vượt hẳn chúng ta. Trời! Sau trận hỗn chiến đó chúng ta thảy đều trúng kế... Thôi ta không kể nữa, bây giờ ta nói cho mi biết, ta sẽ nhờ mi làm hộ việc gì.
Tâm Đăng muốn biết kết quả của trận đấu chiến đó, nhưng mà chú cũng nôn nóng muốn biết Bệnh Hiệp nhờ mình làm việc gì, đó là cái nguyên nhân đã xui khiến ông ta hết lòng truyền võ cho mình.
Bệnh Hiệp sửa lại bộ ngồi cho ngay ngắn, thái độ cực kỳ nghiêm trang, trịnh trọng. Bởi vì ông ta sắp sửa tuyên bố điều ông ta hằng mong ước.
Chính mối kỳ vọng đó đã khiến cho ông ta có đủ nghị lực sống sót đến ngày hôm nay.
Ông ta cất cao giọng nói :
- Chính Dung! Mi hãy nhớ cho ky... chờ cho đến khi ta chết rồi, và mi đã hoàn tục cho đến cuối năm sau, trong khoảng thời gian này mi phải đến hồ Tuấn Mã... ta nói cho mi biết đó là một nơi phong cảnh hữu tình.
Tâm Đăng gật lấy gật để trả lời :
- Phải, phải, sư phụ từng nói đó là một nơi có nhiều cảnh trí đẹp!
Trên gương mặt của Bệnh Hiệp thoáng hiện một nét cười tươi :
- Nơi ấy có cư ngụ một gia đình... Mi vào gia đình ấy lấy một vật trở về giùm ta...
Tâm Đăng biết rằng vấn đề mà mình hằng thắc mắc đã lần lần phô bày ra ánh sáng, vội vã hỏi :
- Thưa Bệnh sư phụ, xin cho con biết đó là vật gì?
Đôi mắt của Bệnh Hiệp tỏa ra một thứ ánh sáng lạ lùng, ông ta nói rõ từng tiếng một :
- Đó là một chiếc lông Khổng Tước toàn màu đỏ. Mi phải dùng hết cách để lấy cho kỳ được!
Tâm Đăng trả lời bằng một giọng đầy tin tưởng :
- Phải! Con sẽ dùng hết mọi cách để lấy cho kỳ được!
Giọng nói của Bệnh Hiệp bỗng như run rẩy, mơ màng, dường như có hòa tan lẫn trong tiếng khóc :
- Lấy được chiếc lông Khổng Tước này rồi... Mi mang nó đến tỉnh Tứ Xuyên, núi Thanh Thành, xóm Ngọa Tiên cư, trao cho một người tên là Kiết Trường Ba!
Tâm Đăng lẩm bẩm nhắc lại câu nói đó :
- Kiết Trường Ba! Tôi sẽ trao chiếc lông Khổng Tước đó cho Kiết Trường Ba!
Bệnh Hiệp chợt buông ra một chuỗi cười điên cuồng hỗn loạn, trong tiếng cười có ngụ một ý đầy phấn khởi và an ủi.
Chuỗi cười đó vang vang đồng vọng khắp bốn bề vách đá, Tâm Đăng mơ hồ cảm thấy dường như lão già này đã nắm được chiếc lông Khổng Tước đó ở trong tay...

Xem tiếp chương 8 Mười tám năm dĩ vãng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 2:59 pm

Chương 8 Mười tám năm dĩ vãng

Sau chuỗi cười, ông ta nước mắt ràn rụa rồi ho lên sù sụ.
Tâm Đăng cả sợ, vội vàng bước tới đấm lưng cho ông ta, hỏi rằng :
- Bệnh sư phụ,... sao sư phụ lại cười to thế?
Tiếng ho của lão bây giờ yếu dần. Lão run rẩy thò tay vào túi mò một viên thuốc màu trắng ra, nhét vào miệng.
Đây là lần thứ nhất kể từ ngày Tâm Đăng quen biết với ông ta, thấy ông ta uống thuốc.
Nuốt xong viên thuốc, cơn ho lập tức dằn xuống, Tâm Đăng mừng rỡ hỏi :
- Bệnh sư phụ có thuốc hay thế, cớ sao từ hồi nào tới giờ chẳng thấy uống?
Bệnh Hiệp lắc đầu :
- Mấy mươi năm nay, ta cương quyết không uống thuốc, nhưng mà... ngày hôm nay ta phải đầu hàng sự quyết định của ta khi xưa! Khi ta bắt đầu uống thuốc thì sinh mạng của ta gần kết thúc rồi đó.
Tâm Đăng rơi nước mắt nói rằng :
- Bệnh sư phụ đừng nói gở...
Bệnh Hiệp thở dài :
- Nhưng đó là sự thật! Chết không đáng tiếc, chỉ đáng tiếc một điều là ta chết không phải lúc và phải xương trắng chôn quê người.
Tâm Đăng nghe giọng nói não nề của Bệnh Hiệp, trong lòng bi thiết lắm, nước mắt xuống như mưa.
Bệnh Hiệp gượng cười nói :
- Con đừng khóc, biết đâu ta không chết...
Tâm Đăng nức nở :
- Con không muốn rời khỏi sư phụ...
Bệnh Hiệp sung sướng lắm vì thấy Tâm Đăng có lòng thành với mình.
Một con người ngang dọc, lừng lẫy trong làng võ, chẳng may lạc bước đến một nơi xa xôi, hẻo lánh, ở ngoài nghìn dặm này, lại vướng phải bệnh nặng, ông tin chắc rằng mình sẽ chết một cách lạnh lùng, bi thảm trong cái hang sâu thăm thẳm này.
Nào ngờ trời xanh có mắt, trước khi ngọn đèn sắp tắt, run rủi cho ông ta tìm gặp Tâm Đăng, để an ủi một người sắp sửa lìa khỏi cõi đời.
Và một điều làm ông vui lòng nhất là Tâm Đăng đã hứa sẽ giúp ông ta đi làm một việc mà ông ta suốt đời cho đó là một sự nhục nhã.
Ông ta tin chắc rằng Tâm Đăng sẽ thành công.
Bệnh Hiệp nắm chặt lấy tay của Tâm Đăng, không biết ông ta muốn mượn hơi ấm trong cơ thể chú, hay là muốn truyền hơi ấm sắp tàn trong mình của ông ta sang cho Tâm Đăng?
Ông ta vui vẻ mỉm cười, cất giọng nói :
- Tâm Đăng, vợ ta qua đời đã lâu, nhưng ta mường tượng như thấy nàng không bao giờ rời khỏi ta... ta nghĩ rằng mỗi ngày nàng đều ở kề cận bên ta... Bây giờ thì ta càng sung sướng vì ta biết rằng không bao lâu nữa, ta sẽ sang bên kia thế giới để chung sống với nàng.
Một già, một trẻ cũng nhau trò chuyện một cách tương đắc dưới hang sâu.
Một tiếng đồng hồ trôi qua, Bệnh Hiệp lại ho trở lại và ông ta cấp tốc nhét vào mồm thêm hai viên thuốc nữa.
Ông ta biết rằng đó không phải là biện pháp hay, vì rằng uống thuốc chỉ là phương pháp giải quyết cấp thời, đối với sinh mạng của ông ta không giúp ích chút nào cả.
Nhờ thuốc, ông lại bớt ho, và lại tiếp tục nói chuyện :
- Tâm Đăng, ta không bao giờ ngờ rằng ta lại có ý tưởng này, thật có lợi cho mi! Nếu mi bằng lòng thì ta lại truyền một môn võ nghệ đặc sắc của ta cho mi.
Tâm Đăng vui vẻ trả lời :
- Con bằng lòng học!
Bệnh Hiệp tươi cười nói :
- Trước kia ta đã từng nói cho mi biết, ta chỉ truyền một môn võ nghệ cho mi mà thôi nhưng bây giờ ta yêu thích mi lắm, vả lại ta là người gần đất xa trời... không biết chết đi ngày nào, ta không muốn võ thuật của ta phải thất truyền, biết đâu mi học xong môn võ này, vài ba mươi năm sau sẽ làm được những việc lừng lẫy trong làng võ, võ thuật của thằng Lạc Giang Nguyên này không tiêu tan theo mây khói...
Tâm Đăng nghe mỗi câu nói nào của Bệnh Hiệp cũng nhuốm đầy màu sắc trối trăng của một người sắp chết, vội nói lảng sang chuyện khác :
- Bệnh sư phụ võ công cái thế, chẳng biết sẽ truyền lại môn nào cho con?
Bệnh Hiệp nghĩ đến khoảng thời gian vàng son lộng lẫy, khi mà ông ta đang làm mưa làm gió trên chỗ giang hồ, ông lẩm bẩm :
- Mi nói đúng, võ công của ta thật là đáng sợ, nếu ta không nhuốm bệnh, thì ta không thua thầy mi là Cô Trúc, còn đến như hạng của Lư Âu, Khúc Tinh, Nam Hải thất kỳ đều phải kém ta một bậc, nhưng mà... vì chứng bệnh trầm kha này nên Cô Trúc vượt hơn ta, đến Lư Âu cũng hơn ta một chút, đó là một sự bất công bằng...
Tâm Đăng nghe đến đây, trong lòng hối tiếc, chú trách cao xanh cớ sao ác nghiệt, làm cho Bệnh Hiệp phải mang bệnh mà thua sút kẻ đương thời.
Bệnh Hiệp tiếp tục nói :
- Ngày xưa ta nhờ một đường võ học mà dọc ngang thiên hạ, cho tới Cô Trúc mà còn nể mặt ta, đó là Cửu Hà Thiên Phong chưởng... Ta còn nhớ lần thứ nhất ta so tài với Cô Trúc, lúc đó ta chỉ độ chừng hai mươi tuổi, hắn thua ta một chưởng, nổi giận trở về mà ra công rèn luyện, do đó mới sáng tạo ra đường võ danh chấn giang hồ Cô Trúc chưởng, nhưng mà sau đó ta đã không còn dùng đến chưởng.
Tâm Đăng lấy làm lạ vội hỏi :
- Sao? Tại sao sư phụ không dùng chưởng?
Bệnh Hiệp thở dài :
- Kể từ khi mang bệnh thì ta không dùng đến chưởng, vì vậy mà Cô Trúc vẫn lấy làm hối tiếc, vì khi ông ta luyện xong Cô Trúc chưởng, liệu đã nắm chắc phần thắng trong tay, thì ta lại không dùng chưởng để đấu với hắn, do đó mãi đến giờ khắp trong làng võ chỉ có mỗi ta là hưởng cái danh dự đã thắng Cô Trúc một chưởng...
Nói đến đây, Bệnh Hiệp cười đắc chí, vì cho rằng đương kim đệ nhất cao thủ còn phải thua trong tay ông ta, thì hẳn đó là một điều vinh dự tột cùng.
Tâm Đăng cũng vui lây, Bệnh Hiệp lại tiếp tục nói :
- Cửu Hà Thiên Phong chưởng có tất cả mười đòn, mỗi đòn sáu thế, bây giờ bắt đầu học thiệt...
Thế rồi Bệnh Hiệp truyền lời thiệu cho Tâm Đăng, một già một trẻ đọc ê a trong hang thẳm.
Đang đọc ngon trớn, bỗng Bệnh Hiệp dừng phắt lại, bảo nhỏ vào tai Tâm Đăng :
- Có người đang đến, mi hãy nấp vào trong kia!
Tâm Đăng tuy lấy làm lạ nhưng ngoan ngoãn vâng lời, nhảy xổ vào một góc tường, thu mình nín thở mà nhìn ra ngoài.
Quả nhiên từ ngoài cửa động có tiếng chân rào rạo đi vào, tiếp đó là tiếng hỏi khàn khàn của Bệnh Hiệp :
- Ai đó?
Người ấy đi thật nhanh, câu hỏi của Bệnh Hiệp chưa dứt thì hắn ta đã tới trước mặt của Bệnh Hiệp rồi.
Tâm Đăng nhóng cổ nhìn ra bất giác giật mình vì đó chính là Cô Trúc sư phụ.
Hồi nào đến giờ, Cô Trúc vẫn giữ sắc mặt lạnh lùng, nhưng hôm nay ông ta lộ vẻ thật là xúc động, nói nho nhỏ :
- Ông bạn già ơi, tôi tới thăm bệnh của ông đây.
Bệnh Hiệp vốn đang nhắm nghiền cặp mắt, nghe câu nói mở bừng mắt dậy, run rẩy nói một cách cảm động :
- À, Cô Trúc! Đã gần hai mươi năm rồi nhỉ?
Cô Trúc khom lưng xuống nhìn vào tận mắt của Bệnh Hiệp rồi nắm lấy tay của ông ta, trên gương mặt răn reo của người bạn già đó ứa ra hai dòng lệ...
Đây là một tay kình địch và cũng mà một người bạn thân của Bệnh Hiệp. Ngày xưa ông ta mạnh mẽ, hùng tráng biết dường nào, nhưng bây giờ lại trở thành một kẻ bệnh hoạn, gầy gò và mệt nhọc...
Thời gian đã tàn phá sức khoẻ của con người một cách tàn nhẫn, nhưng mà ông ta vẫn gắng gượng bám lấy cuộc sống, mong mỏi rằng trước ngày nhắm mắt chào đời, có thể rửa được mối hận thù bất cộng đái thiên trên vùng đất Tây Tạng.
Cô Trúc rơi nước mắt hỏi rằng :
- Giang Nguyên! Bệnh của mi thế nào?
Bệnh Hiệp nở một nụ cười bi thảm :
- Chắc có lẽ ta chỉ sống thêm vài ngày nữa thôi. Hai ta thảy đều có mặt ở Tây Tạng, hai mươi năm nay vẫn trốn tránh lẫn nhau, cớ sao hôm nay mi lại tới đây thăm ta?
Cô Trúc thở dài, buông bàn tay của Bệnh Hiệp ra rồi nói :
- Ừ... gần hai mươi năm... mãi đến mấy ngày trước ta mới biết mi trú ngụ gần Bố Đạt La Cung, vì vậy nên quyết định đến đây thăm mi một lần...
Cô Trúc đưa mắt ngắm nhìn bộ xương khô nói :
- Đây là phu nhân?
Bệnh Hiệp gật gù trả lời :
- Chính nàng... Mi chắc còn nhớ cái chết bi thảm của nàng?
Cô Trúc trả lời :
- Ta còn nhớ, thật là kinh rợn!
Bệnh Hiệp trầm ngâm một chút mới mở lời :
- Ngày hôm nay mi đến thăm ta, ta lấy làm cảm kích... nhưng mà... ta vẫn biết tính tình của mi, mi đến đây chắc có một việc gì cần đến ta!
Cô Trúc đỏ bừng sắc mặt, ông thong thả đứng dậy, suy nghĩ đến lời sắp nói của mình. Bởi vì ông không nhẫn tâm quấy rầy một người sắp chết.
Cô Trúc gầm đầu xuống đất, đi đi lại lại giữa gian phòng tối tăm ẩm ướt, một bầu không khí nặng nề bao trùm lấy hai người bạn già, cả ba người có mặt trong gian phòng thảy đều nghe rõ mồn một hơi thở của người kia.
Lâu lắm Cô Trúc ngồi xuống trước mặt Bệnh Hiệp hỏi :
- Trong động này còn một người nữa, ai đó?
Tâm Đăng nghe nói giật mình, vội thu mình vào sát vách, vểnh tai nghe ngóng.
Bệnh Hiệp nói :
- Đó là một người chẳng quan hệ gì đến mi... Mi cần gì cứ nói thẳng ra!
Cô Trúc ngần ngừ một lát rồi bỗng gằn giọng nói :
- Chúng ta thảy đều là những người thảm bại trên phần đất Tây Tạng, những món bảo vật của chúng ta thảy đều rơi vào tay kẻ khác. Lệnh phù của ta, lông Khổng Tước của mi, Lục Cốt Châm của Lư Âu...
Bệnh Hiệp trợn trừng cặp mắt, gắt gỏng nói :
- Ta biết! Ta biết!... Những điều đó ta không bao giờ quên được, mi hà tất phải nhắc!
Cô Trúc vẫn trịnh trọng nói tiếp :
- Ta biết mi đến chết cũng không quên. Mà đồng thời ta cũng biết tại sao mi đến chết cũng không rời Tây Tạng!
Bệnh Hiệp cười lạnh lùng :
- Thì mi cũng như ta, đều vì lời hứa hai mươi năm về trước...
Bệnh Hiệp chưa nói dứt lời thì Cô Trúc đã to tiếng :
- Phải! Ta vì lời hứa hai mươi năm về trước... nhưng mà ta đã thành công một nửa, ta rất có thể hy vọng được thành công trọn vẹn.
Ngừng một chút, Bệnh Hiệp nói :
- Ta không trách mi, ta biết việc ấy sẽ làm tổn thương đến mi rất nhiều, ông bạn già ơi, mi có tin rằng nếu ta không mang bệnh thì ta đã thành công rồi?
Cô Trúc gật đầu :
- Ta tin!
Hai người lại bắt đầu trầm ngâm lặng lẽ, Tâm Đăng nghe mẩu đối thoại của hai người trong lòng lấy làm kinh dị, nhưng chú không dám bước ra hỏi rõ, còn đang bần thần bỗng nghe Cô Trúc nói :
- Ta thâu một tên đồ đệ, dốc hết tâm trí để dạy nó, thảy đều là vì lời hẹn ước hai mươi năm về trước... Bây giờ chỉ còn hai năm nữa.
Bệnh Hiệp không trả lời, chỉ ầm ờ nghe không rõ, Cô Trúc cất cao giọng :
- Nhưng bây giờ nó không còn là một đứa học trò của riêng ta, chính mi cũng đang truyền võ cho nó!
Bệnh Hiệp giật mình, ngẩng phắt đầu lên trả lời :
- Ta... phải, ta đang truyền võ nghệ cho nó!
Tâm Đăng sợ hãi lắm, chú biết rằng tính tình của sư phụ rất cao ngạo, nếu biết mình lén học võ với người khác, chắc sẽ nổi giận lôi đình.
Giọng nói của Cô Trúc lạc hẳn đi :
- Tại sao? Chẳng lẽ mi tìm không ra một người khác? Mi biết rằng ta đã tốn mười năm tâm huyết, mối nhục mười tám năm trước của ta, trong hai năm cuối cùng này sẽ nhờ thằng nhỏ này mà rửa hận... Mi... tại sao mi làm như thế? Nếu mi làm như thế thì việc làm của chúng ta thảy đều lỡ dở...
Bệnh Hiệp nghe đến đây, kêu lên thất thanh :
- Đừng nói nữa! Đừng nói nữa! Ta không bao giờ có ý định thu đồ đệ, như mi đã biết, ta luôn tin chắc rằng ta sẽ thành công, nhưng mà... báo cho mi biết ta đã đến hồ Tuấn Mã...
Cô Trúc nghe đến đây, giật mình, tròn xoe cặp mắt :
- Sao? Mi đã đến hồ Tuấn Mã...
Bệnh Hiệp gật gù, trả lời một câu bi thảm :
- Phải! Ta đã đến đó và ta đã thất bại, ta thọ trọng thương..
Cô Trúc im lìm lâu lắm, Bệnh Hiệp nói tiếp :
- Ta gặp Tâm Đăng, nên việc làm dang dở của ta trong kiếp sống này, chỉ biết ký thác cho nó...
Cô Trúc hốt hoảng nói :
- Thế còn ta? Như mi đã biết, mười tám năm về trước, chúng ta đã quy định chỉ có thể làm một việc cho ta hoặc cho mi, nhưng sao bây giờ mi lại bắt buộc thằng Tâm Đăng bỏ rơi ta mà đi phục vụ cho mi?
Bệnh Hiệp cười chua chát :
- Ta biết ta làm như thế là sai... Nhưng mà không còn cách nào khác nữa, trong lòng của ta rối rắm lắm, ta rất mong tìm được một phương sách lưỡng toàn...
Cô Trúc nổi giận, lắc đầu quầy quậy :
- Không thể được! Mi biết rằng ta có thể đến hồ Tuấn Mã lúc nào cũng được, ta có thể lấy hết những món của ta và mi một cách dễ dàng... nhưng mà ta không như thế bởi vì ta luôn luôn giữ lời đã hứa...
Bệnh Hiệp lạnh lùng nói :
- Mi đợi thằng Tâm Đăng đi lấy món tín vật của mi về rồi tái xuất giang hồ, đi tìm thằng Trác Đặc Ba mà thanh toán...
Cô Trúc hậm hực nói :
- Ta làm sao có thể buông tha được cái thằng hèn hạ vô sỉ đó! Ta muốn cho nó sẽ sức cùng lực kiệt dưới đường võ Cô Trúc chưởng của ta, và sẽ cho nó chết một chưởng cuối cùng.
Bệnh Hiệp nổi lên một chuỗi cười cuồng loạn, ông ta nói :
- Cô Trúc, ta rất tán thành ý kiến của mi! Nếu ta không mang bệnh thì Trác Đặc Ba cũng đã chết dưới bàn tay của ta rồi. Nhưng mà... nếu như Tâm Đăng không thành công thì sao?
Cô Trúc nghe nói giật mình biến sắc, ông ta lắc đầu mà rằng :
- Không, nhất định nó sẽ thành công!
Bệnh Hiệp mỉm cười trả lời :
- Vạn nhất nó không thành công thì sao?
Cô Trúc rất sợ hãi phải nghe câu nói này, ông ta im lặng một chặp rồi mới nói :
- Vạn nhất mà... thì ta nhất quyết sẽ tái xuất giang hồ.
Bệnh Hiệp vội vàng hỏi :
- Vậy thì chẳng hóa ra mi làm trái ngược với lời hứa mười tám năm về trước?
Trong bóng tối Cô Trúc mặt mày biến sắc, ông cắn môi mình nói :
- Ta có cách nói cho xuôi... Ta sẽ bảo rằng ta sẽ phục thù cho đồ đệ của ta.
Bệnh Hiệp giật mình, không ngờ Cô Trúc lại nghĩ đến điều này, ông ta thầm phục sự thông minh của Cô Trúc nhưng ông thầm ghê tởm cho cái sự dụng tâm này, ông ta nở nụ cười khinh bỉ :
- Thì ra mi có ý định muốn dùng chú tiểu Tâm Đăng như một vật hy sinh, ngõ hầu đánh đổi lấy sự tự do cho mi...
Cô Trúc thình lình đứng phắt dậy kêu lên thất thanh :
- Mi đừng nói nhảm, nếu ta có dụng tâm đê hèn như thế, ta không cần chờ đợi những mười tám năm trường, ta đã tìm một người khác làm việc này trước Tâm Đăng...
Bệnh Hiệp suy nghĩ thấy câu nói này có lý nên không nói gì nữa, ông ta nghĩ thầm :
- Tâm Đăng là học trò của hắn, ta không thể chiếm lấy, vì làm như vậy sẽ vô tình làm cho công lao dạy dỗ mười mấy năm trường của hắn sẽ trôi theo dòng nước... Thôi! Ta hãy bỏ ý định đó đi! Tự mình ra đi một chuyến, mặc dầu rất có thể ta sẽ chết trong chuyến đi này...
Bệnh Hiệp là một lão già đáng kính, tính tình cương trực, không muốn chiếm cứ sở thích của người.
Ông ta thà hy sinh tên tuổi của mình, chứ không đi mượn một sự thành công không danh dự.
Bệnh Hiệp ủ rũ nói :
- Cô Trúc ơi, ta đã bỏ ý định của ta. Ta không muốn Tâm Đăng làm giùm công việc của ta nữa, chỉ có một điều là vẫn tiếp tục truyền võ cho nó.
Cô Trúc nghe nói, trong lòng cả mừng, ông ta nắm lấy bàn tay của Bệnh Hiệp nói một câu đầy cảm xúc :
- Giang Nguyên ơi, ta cám ơn mi lắm.
Bệnh Hiệp lắc đầu thở dài :
- Thằng đó là học trò của mi, mi bất tất phải cảm ơn.
Chứng bệnh của ta đã thâm nhập vào mạch Nhiệm rồi, ta chỉ có thể sống thêm năm này nữa thôi... ta chắc chết trong sự thanh danh tan nát...
Cô Trúc bỗng chộp lấy cườm tay của Bệnh Hiệp, thò hai ngón tay ra bắt mạch, giây lâu mới cười nói :
- Giang Nguyên, mi đã nhận xét sai lầm, bệnh của mi chưa vào đến mạch Nhiệm.
Bệnh Hiệp nghe nói, lòng mừng khấp khởi, vội hỏi :
- Thật ư?
Một con người vào sinh ra tử, dũng cảm như ông ta mà giờ phút này cũng rất sợ tử thần uy hiếp.
Nhưng Cô Trúc nói tiếp :
- Mặc dầu bệnh của mi chưa vào đến mạch Nhiệm, nhưng cũng đã vào đến mạch Bì.
Câu nói này như một gáo nước lạnh dội vào đầu của Bệnh Hiệp, ông ta bất giác thất vọng thở dài, Cô Trúc nói tiếp :
- Bệnh của mi chỉ biến chứng trong vòng mười hôm gần đây mà thôi, nhưng tim mi vẫn còn mạnh, ít nhất còn sống thêm hai năm nữa!
Bệnh Hiệp im lìm không trả lời, Cô Trúc nói lảng sang chuyện khác :
- Những người bạn già của chúng ta hồi mười tám năm về trước bây giờ thảy đều lục tục kéo trở về Tây Tạng, theo ta biết thì Lư Âu và Vạn Giao ở luẩn quẩn gần đây... Còn như bọn Khúc Tinh và Nam Hải thất kỳ thì chưa thấy tăm hơi gì cả...
Bệnh Hiệp trả lời :
- Ta cũng biết bọn họ ở gần đây, nhưng bọn họ lại không biết hành tung của ta...
Họ tưởng rằng ta đã khuất phục đầu hàng rồi.
Cô Trúc nói tiếp :
- Bố Đạt La Cung gần đây liên tiếp xảy ra nhiều việc lạ, nào là Y Khắc bị giết một cách bi thảm, Tạng Tháp bị chặt mất hai ngón tay và mất tích một cách ly kỳ... ta e rằng vụ án Tàm Tang hồi mười tám năm về trước lại bắt đầu khơi mào rồi đó, mà vai chính là những người trong chúng ta...
Tâm Đăng nghe đến đây, vừa kinh sợ vừa kỳ quặc nghĩ thầm :
- Mấy tháng nay sư phụ không có mặt tại vùng này, cớ sao việc gì ông ta cũng biết?
Lúc đó thì hai người kia lại bắt sang chuyện khác, bàn tán một hồi Cô Trúc muốn đứng dậy cáo từ, Tâm Đăng nghe Bệnh Hiệp nói :
- Cám ơn mi đã đến đây thăm ta, nhưng lần sau thì không cần phải đến.
Cô Trúc cười :
- Ta không đến! Nhưng ta sẽ phái thằng Tâm Đăng đến.
Bệnh Hiệp nghe nói gật đầu mỉm cười, phần Cô Trúc cũng nở một nụ cười chua chát rồi cáo từ người bạn già rồi lui ra...
Tâm Đăng chờ cho tiếng chân của ông ta lui khỏi động rồi, mới đi đến bên cạnh Bệnh Hiệp hỏi rằng :
- Thưa sư phụ, sư phụ chắc chắn sẽ còn sống thêm hai năm nữa!
Bệnh Hiệp vỗ vai Tâm Đăng :
- Phải! Nhưng mà ta sống cũng như chết...
Tâm Đăng cả sợ hỏi :
- Tại sao?
Bệnh Hiệp lại ngứa cổ, ông ta nhét thêm một viên thuốc vào miệng để dằn cơn ho xuống, đoạn trả lời :
- Ban nãy mi đã nghe, bệnh của ta đã vào đến mạch Bì, mười ngày sau sẽ trở nặng, tới chừng đó ta sẽ không thể cựa quậy, không thể nói chuyện, vậy thì cầm bằng như người đã chết.
Tâm Đăng kêu lên một tiếng kinh hoàng, Bệnh Hiệp mỉm cười chua chát nói tiếp :
- Mi đừng sợ, đã có cách!
Bỗng ông ta nắm lấy tay của Tâm Đăng, nói một câu thiết yếu :
- Ban nãy ta có nhờ mi đến hồ Tuấn Mã lấy giùm lông Khổng Tước màu đỏ, nhưng bây giờ ta thay đổi ý kiến, không cần phải đi nữa.
Tâm Đăng hỏi :
- Tại sao? Sư phụ truyền võ công cho con mục đích chỉ vì chuyện này.
Bệnh Hiệp thở dài nói :
- Chỉ vì sư phụ của mi cũng sẽ bảo mi đến đó lấy giùm cho ông ta một vật, mà mười tám năm về trước chúng ta đã có lời hứa với người bên hồ Tuấn Mã rằng: Cái người mà chúng ta phái đi chỉ được phép lấy mỗi một vật mà thôi... Nay sư phụ của mi tốn hao không biết bao nhiêu là tâm huyết, chịu khó nhọc hơn mười năm trời để truyền võ cho mi, chẳng lẽ mi bỏ ông ấy mà lo cho ta?
Tâm Đăng thật là nan giải, không ngờ sự việc lại biến chuyển như vầy, thật làm cho Bệnh Hiệp vừa đau khổ, vừa thất vọng.
Tâm Đăng khóc sướt mướt :
- Buổi ban sơ ông đã biết tôi là học trò của Cô Trúc, ông còn truyền võ nghệ cho tôi làm gì?
Bệnh Hiệp thở dài :
- Đó là do lòng ích kỷ của ta, nhưng bây giờ ta nghĩ làm như thế thật là một điều mất danh dự.
Tâm Đăng ruột rối như tơ vò, chỉ khóc mà nói rằng :
- Tôi bất chấp! Tôi sẽ làm xong công việc cho sư phụ rồi sẽ làm công việc kia cho Cô Trúc sư phụ...
Bệnh Hiệp lấy làm cảm kích, nước mắt xuống ròng ròng, bỗng có một ý niệm thoáng qua trong trí, và ông ta run rẩy, mừng rỡ nói rằng :
- Ta có cách làm cho mi trở thành hai người mà đối phương nhìn không ra, và mi có thể đàng hàng thi hành lấy hai vật...
Tâm Đăng mừng rỡ, vội hỏi :
- Cách gì thế, thưa sư phụ?
Bệnh Hiệp trả lời :
- Mi đừng nóng nảy, rồi đây ta sẽ cho mi biết, nhưng mi chỉ cần nhớ kỹ rằng khi hành sự cho ta thì đừng dùng võ công của Cô Trúc, còn khi làm giùm cho Cô Trúc thì đừng dùng võ công của ta... Ngày mai ta phải dời chỗ ở đến một mái đồi bên phía tả của Bố Đạt La Cung, nơi ấy có một ngôi nhà bằng đá, đúng ngọ ngày mai mi đến đó tìm ta.
Tâm Đăng ngơ ngác hỏi :
- Tại sao sư phụ lại dời ra khỏi nơi này?
- Mi không cần biết, bây giờ hãy về cho ta ngơi nghỉ...
Tâm Đăng không dám làm phiền Bệnh Hiệp, vội vàng đứng dậy lui ra.
Ra khỏi cửa động thấy mặt trời đã ngả về tây, đã gần đến giờ thụ trai buổi chiều nên chú vội vã đi về phía cổng hậu của Bố Đạt La Cung.
Chính vào lúc chú sắp sửa vào cổng chùa thì bỗng thoáng nghe sau lưng có tiếng gió dậy vì vèo. Nhanh như chớp. Tâm Đăng lách mình sang cánh tả hai bước, và một tiếng “bốp” vang lên, thì ra đó là một hòn sỏi ném trúng tường rơi xuống đất.
Tâm Đăng lấy làm kinh dị quay đầu lại, thấy trên triền đồi gần đó có một người thiếu nữ mặc đồ Tây Tạng, đứng dưới một gốc cây cổ thụ, trên mặt nàng che ngang một vuông lụa mỏng...
Nhìn kỹ, thì ra đó là Mặc Lâm Na!
Tâm Đăng tim đập rộn ràng, lòng mừng khấp khởi, chú cất giọng kêu :
- Cô làm gì đứng đó?
Mặc Lâm Na vẫy tay cười rằng :
- Mi sang đây, cớ sao đứng xa xa mà nói chuyện?
Tâm Đăng không muốn đến gần Mặc Lâm Na, nhưng không biết có một mãnh lực vô hình nào đã đưa đẩy chú lần bước tới.
Dường như chú là một miếng sắt mà Mặc Lâm Na là một miếng đá nam châm vậy.
Tâm Đăng đi đến cách nàng chừng năm thước thì dừng chân lại, chú thoáng nghe thấy một mùi hương thoang thoảng, bất giác sắc mặt đỏ bừng, ấp úng nói :
- Cô gọi tôi làm gì?
Mặc Lâm Na bỗng cười lên khúc khích, Tâm Đăng cảm thấy tiếng nàng cười nghe vui tai hơn tiếng oanh hót trên đầu ngọn liễu, nàng dùng tiếng Tây Tạng nói :
- Ta hỏi mi đi đâu suốt buổi chiều hôm nay mà ta tìm không thấy?
Tâm Đăng ấp úng nói chẳng ra lời, chú không biết Mặc Lâm Na tìm mình có chuyện chi, chú đánh trống lảng hỏi :
- Cô tìm tôi có việc gì?
- Ta muốn nói với mi một việc.
- Việc gì?
Mặc Lâm Na bỗng gắt gỏng :
- Mi bước sang đây, ta không có ăn thịt mi mà hòng sợ.
Tâm Đăng lại bước thêm hai bước nữa và Mặc Lâm Na mới mở lời, nàng nói chuyện tíu tít, toàn là những chuyện mưa chuyện nắng, chẳng ăn nhằm vào đâu.
Rồi nàng lại kéo sang chuyện tụng kinh gõ mõ trong chùa, chuyện cây chuyện cỏ, câu chuyện kéo dài lằng nhằng, rồi lại nhảy sang đến việc Kim Cang Kinh là quyển kinh để phổ độ linh hồn người chết...
Bỗng Mặc Lâm Na cắt ngang câu chuyện :
- Trong chùa của mi hòa thượng nhiều quá, nếu nổi loạn lên thì thật là một vấn đề nan giải...
Câu chuyện càng đi sâu, Tâm Đăng càng bạo dạn, chú hỏi :
- Cớ sao cô cứ che mặt mãi thế?
Mặc Lâm Na thò tay ra dứt lấy một đóa hoa trên cành cây gần đó, vò nát trong lòng bàn tay của mình rồi trả lời :
- Ai bảo mi là nhà sư!
(Theo tục lệ của người Tây Tạng thì người đàn bà phải che mặt, để tránh cái tiếng quyến rũ thày tu).
Tâm Đăng nghe Mặc Lâm Na nói như thế, lộ vẻ buồn rầu, bất giác chú hỏi :
- Cô gỡ vuông lụa che mặt ra...
Nói xong câu nói bạo dạn này, Tâm Đăng cúi gầm đầu xuống, sắc mặt đỏ bừng, dường như đã làm một việc phạm tội, tụng thầm trong lòng :
- A di đà Phật!
Mặc Lâm Na bỗng cười lên khúc khích :
- Được, ta cũng ghét vuông lụa này lắm...
Nói đoạn nàng thò cánh tay ngà ngọc lên gỡ vuông lụa xuống, Tâm Đăng giật mình sửng sốt, định thần nhìn kỹ, bất giác tim đập rộn ràng, chú nghĩ mười mấy năm tu hành khổ nhọc, công phu bây giờ thảy đều trôi theo dòng nước...
Chú lấy làm lạ, tại vì sao chú có lòng hối hận!
Trước mắt chú là một gương mặt trắng nõn nà, hai làn mi cong vút, cặp mắt to và đen, sống mũi dọc dừa, mồm bé mà xinh, thấp thoáng ẩn hiện hai hàng răng đều đặn, đôi má của nàng hây hây đỏ.
Cả hai người thảy đều bị một thứ im lặng huyền diệu bao trùm, gương mặt đó lần đầu tiên trong đời của Tâm Đăng chỉ được dịp được trông thấy lần thứ nhất.
Chú nhìn nàng một cách tham lam, dường như muốn tìm kiếm một bảo vật gì trên khuôn mặt đó vậy.
Nhưng trong phút chốc, tiếng cười của Mặc Lâm Na lại phá tan bầu không khí im lìm, hai người trò chuyện giòn như bắp rang. Tâm Đăng kể hết những điều vui thú trong chùa, làm cho Mặc Lâm Na ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Chợt có tiếng chuông chùa ngân nga đưa lại, Tâm Đăng bực tức cắn lấy môi mình, mỗi lần tiếng chuông báo hiệu thụ trai, đem đến cho mọi người một niềm vui, không ngờ hôm nay có người lại không thích!
Tâm Đăng tỏ vẻ quyến luyến, đứng dậy cáo từ, Mặc Lâm Na vội hỏi :
- Cớ sao có tiếng chuông thì mi lại muốn bỏ ta mà đi?
Tâm Đăng cười trả lời :
- Giờ thụ trai đã đến.
Mặc Lâm Na tức tối, gượng nở một nụ cười bất mãn, nàng nói với Tâm Đăng :
- Ngày mai vào giờ này, ta lại chờ mi ở đây.
Tâm Đăng cúi đầu vâng dạ, muốn nói thêm vài câu nữa, nhưng từ xa xa đã có bóng dáng mấy chú tiểu thập thò nhìn trộm, Tâm Đăng hổ thẹn, bất đắc dĩ phải chào Mặc Lâm Na rồi lui gót.
Mặc Lâm Na tiễn biệt Tâm Đăng bằng một nụ cười đắc thắng....

Xem tiếp chương 9 Trác Đặc Ba dùng quỷ kế hại võ lâm cao thủ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:00 pm

Chương 9 Trác Đặc Ba dùng quỷ kế hại võ lâm cao thủ

Kể từ ngày Tâm Đăng mở mắt chào đời đến bây giờ, ngày hôm nay có lẽ là ngày vui nhất đời của chú.
Đó thật là một việc lạ, một trai và một gái lén lút trò chuyện với nhau, rồi có thể đem đến cho họ một niềm vui không thể tả.
Chắc đó có lẽ là Tâm Đăng và Mặc Lâm Na, thảy đều là những người ngây thơ trong trắng, trong lúc nói chuyện, họ không vì một ý niệm tà dâm mà chỉ vì một mối tình cao quý.
Mừng quá, chiều hôm đó, Tâm Đăng ăn không biết ngon, chú cảm thấy tâm tư của mình rộn ràng rối rắm, vì vậy chú cứ lâm râm đọc kinh để trấn tĩnh tâm thần.
Ngồi trên tam cấp của lầu chuông, Tâm Đăng hai tay chống má, nghĩ ngợi miên man trong trí :
- Mặc Lâm Na thật là vui vẻ, lại đẹp, cô ta thật không nên che vuông lụa ngang mặt.
- Lại còn Trì Phật Anh... nàng cũng đẹp không tưởng tượng... lần sau mình gặp cô ấy, mình phải bắt buộc cô ấy gỡ vuông lụa xuống...
Tâm Đăng thẫn thờ, say sưa chìm đắm trong những ý tưởng đẹp như thơ, bất chợt nhớ đến sư phụ dặn mình đi thăm, chú giật mình nhỏm dậy, chạy tọt ra ngoài Bố Đạt La Cung.
Cô Trúc lão nhân vẫn đứng tựa lưng vào gốc cây cổ thụ như ngày thường, Tâm Đăng cung kính bước tới cung kính làm lễ :
- Sư phụ đến sớm!
Cô Trúc không trả lời câu hỏi của Tâm Đăng, lạnh lùng hỏi lại :
- Tâm Đăng, mi đến trễ!
Tâm Đăng gượng cười nói :
- Vì hôm nay trong chùa có việc... nên...
Câu nói chưa dứt thì Cô Trúc đã khoát tay, cắt ngang :
- Thôi... thôi... mi đừng nói nữa... hãy ngồi xuống.
Tâm Đăng thấy sắc mặt của sư phụ vô cùng trịnh trọng, trong lòng sợ hãi, vội ngồi xuống và ông ta nghiêm nghị nói :
- Tâm Đăng, cứ theo việc của mi làm thì ta phai giết chết mi...
Tâm Đăng giật mình, biết sư phụ trách cứ về việc Bệnh Hiệp, chú im lìm không dám trả lời, Cô Trúc tiếp tục nói :
- Mi học nghệ với Bệnh Hiệp bao lâu rồi?
Tâm Đăng run rẩy trả lời :
- Mới mấy tháng....
Cô Trúc lão nhân cười hậm hực :
- Hừ... mới mấy tháng, mi có biết một người mà học võ với nhiều môn phái, là một điều đại kỵ trong võ lâm?
Tâm Đăng thất sắc, trả lời nho nhỏ :
- Đệ tử biết!
Cô Trúc lão nhân lại buông ra một tiếng cười hằn học :
- Mi biết mà còn phạm lỗi, tội thật đáng chết, bây giờ mi hãy kể rõ đầu đuôi cho ta nghe!
Tâm Đăng bất đắc dĩ phải kể lể rõ ngọn nguồn cho Cô Trúc nghe, nào những lúc Bệnh Hiệp vào chùa tha thiết khẩn cầu Tâm Đăng.
Cô Trúc nghe xong, sắc mặt có vẻ dịu lại :
- Mi biết tại sao Bệnh Hiệp lại dốc hết tâm huyết để dạy bảo mi?
Tâm Đăng trả lời :
- Điều này thì đệ tử không rõ!
Cô Trúc ngẫm nghĩ một hồi rồi nói :
- Vậy ông ta có bảo mi hứa với ông ta sẽ làm một việc gì chăng?
Tâm Đăng vẫn giả vờ không rõ trả lời :
- Không! Ông ta chỉ nói mơ hồ rằng học võ sau này sẽ có chỗ dùng.
Cô Trúc nghe nói gật gù bảo :
- Ông ta không nói, thôi thì để ta nói cho rõ.
Tâm Đăng trong dạ mừng thầm vì cái điều mà chú thắc mắc mấy tháng nay, bây giờ sẽ được Cô Trúc lộ rõ chân tướng.
Cô Trúc triền miên quay về dĩ vãng, thong thả kể rằng :
- Võ công của ta vốn thiên hạ vô địch, nhưng mười tám năm về trước ta bị một người Tây Tạng tên là Trác Đặc Ba dùng mưu gạt gẫm.
Hắn tuyên truyền rằng tại vùng đất Tây Tạng có phát hiện một quyển kỳ thư, làm cho các tay cao thủ của Trung Nguyên thảy đều lên đường đến Tây Tạng.
Việc này ta không tin và cũng không cần thiết đến, vì võ công của ta đã cao siêu tột đỉnh.
Nhưng bình sinh ta có những khuyết điểm là hiếu kỳ và đa nghi.
Ta muốn tìm cho ra duyên cớ, để xem bộ mặt thật của câu chuyện này như thế nào.
Tâm Đăng trong lòng mừng rỡ, nghĩ rằng phen này chắc Cô Trúc kể rõ hơn hai người kia, và chú sẽ biết đầu đuôi câu chuyện.
Cô Trúc kể tiếp :
- Đó là quyển Tàm Tang khẩu quyết, tác giả là Tàm Tang Tử. Tàm Tang Tử tuy không phải là người xuất gia đầu Phật nhưng lại là một tín đồ Phật giáo trung thành.
Ba trăm năm về trước ông viết ra quyển sách này, nhưng kể từ khi ông mất đi thì quyển Tàm Tang khẩu quyết không biết thất lạc đến nơi nào.
Lúc ấy có trót một ngàn người trong làng võ, chia nhau ra khắp nẻo đường để tìm kiếm, tạo thành một câu giai thoại “thiên nhân tầm bảo”.
Tâm Đăng nghe đến đây vừa lo sợ, vừa hối hận, không ngờ quyển Tàm Tang khẩu quyết đã vào tay của mình rồi, mà mình không cất cho kỹ để lạc vào tay của Tạng Tháp.
Cô Trúc nghỉ một chập đoạn kể tiếp :
- Nhưng trong một nghìn người đó, không một người nào tìm được, sau này nghe đâu có một Đạt Lai ở Tây Tạng là Gia Mục chép được một bản Tàm Tang khẩu quyết.
Tâm Đăng nghe đến đây, tim đập rộn ràng nghĩ thầm :
- Đúng rồi, chính là quyển sách mà ta đã bắt gặp ở trong lầu chứa sách.
Cô Trúc lại kể :
- Nhưng mà lúc bấy giờ, các tay võ lâm cao thủ, lục soát khắp hết chùa chiền Tây Tạng mà vẫn tìm không ra.
Mãi đến mười tám năm về trước mới nghe Trác Đặc Ba truyền rao tin tức này, vì ban sơ có lời đồn đại Đạt Lai Gia Mục chép được Tàm Tang khẩu quyết vì vậy mà ta mới nửa tin nửa ngờ.
Lúc bấy giờ trên bầu trời ảm đạm có một vầng trăng mờ nhạt và Cô Trúc vẫn tiếp tục kể :
- Trác Đặc Ba là đệ nhất cao thủ của Tây Tạng, đã luyện thành môn võ công Đại Thủ Ấn, đã từng đến Trung Nguyên khiêu chiến và thua dưới tay của Lư Âu, Bệnh Hiệp...
Hắn biết làng võ Trung Nguyên lợi hại, ta nghĩ nếu hắn tìm không thấy Tàm Tang khẩu quyết, thì không đời nào hắn truyền rao như vậy.
Do đó mà ta càng tin chắc rằng Tàm Tang khẩu quyết còn nằm ở Tây Tạng, đồng thời được tin Vạn Giao, Lư Âu, Nam Hải thất kỳ, Thiết Điệp, Khúc Tinh... đều lên đường về Tây Tạng....
Ta sợ những người này phỗng tay trên nên vội vã đuổi theo.
Tâm Đăng thừa lúc Cô Trúc ngưng lời, vội hỏi :
- Sư phụ có từng thấy quyển sách đó chưa?
Cô Trúc nói :
- Mi đừng nóng nảy, hãy nghe ta kể... nào ngờ Trác Đặc Ba là một kẻ gian ngoan xảo quyệt, thủ đoạn cao kỳ.
Tâm Đăng không chịu nổi, vọt miệng hỏi :
- Cao như thế nào?
Cô Trúc trợn mắt quát :
- Mi cứ cắt ngang câu nói của ta.
Ta phải thấm nước bọt để giở từng trang sách, vì vậy mà chúng ta lần lần thấm độc mà không hay...
Tâm Đăng nghe đến đây, kinh tâm táng đởm, Cô Trúc quắc mắt nhìn chú đoạn tiếp tục nói :
- Trong bọn người chúng ta nên kể vợ chồng Bệnh Hiệp trúng độc nhiều nhất, vì Bệnh Hiệp khi chưa tới Tây Tạng thì đã có bệnh sẵn rồi, nếu được quyển Tàm Tang khẩu quyết thì có thể vận dụng công lực trong quyển sách đó mà trị bệnh, vì vậy hai vợ chống ông ta rất lấy làm nóng nảy, lục soát nhiều nhất nên bị trúng độc nặng nhất.
Tâm Đăng như người sực tỉnh cơn mê, chừng ấy chú mới hiểu tại sao Bệnh Hiệp lại gầy gò, ốm yếu như vậy, bất giác chú để rơi hai dòng lệ, chú cắn môi nghĩ thầm :
- Thằng Trác Đặc Ba thật là ác độc, thế nào ta cũng phải báo mối thù này cho Bệnh sư phụ.
Đây là lần thứ nhất, ý tưởng báo thù nảy ra trong trí của Tâm Đăng.
Cô Trúc chưa chú ý đến thái độ của Tâm Đăng nên tiếp tục kể :
- Ta và Lư Âu là hai người phát giác ra chất độc trước tiên, nên vội vàng vận dụng công lực để chống cự lại.
Nhưng chất độc mạnh quá, làm cho chân của ta phải bệnh hoạn như ngày hôm nay.
Cô Trúc tiếp tục nói :
- Lư Âu vận dụng công lực dồn chất độc vào răng của bà ta, nên bây giờ bà ta trở nên móm sọm, không còn cây răng nào, đồng thời phải chịu mù hết cặp mắt, ngoài ra Khúc Tinh thì đau thận rất hiểm nghèo, Vạn Giao điếc tai, Thiết Điệp thì bị thương ở bàn tay, bọn Nam Hải thất kỳ cũng trở thành người tàn tật.
Tội nghiệp nhất là vợ chồng Bệnh Hiệp... Vì trúng độc nặng qúa nên phu nhân là Kiết Văn Dao chết đi! Còn Bệnh Hiệp thì phải lãnh lấy chứng bệnh hiểm nghèo.
Tâm Đăng nghe đến đây, nức nở hỏi :
- Sư phụ bản lãnh cao cường, sao chẳng tìm thằng Trác Đặc Ba mà thanh toán?
Cô Trúc lau dòng lệ thảm nói :
- Mi đừng nóng nảy, ta chưa kể hết kia mà... Sau khi bọn chúng ta trúng độc, tự mình điều trị rồi bèn đi tìm Trác Đặc Ba để thanh toán. Nào ngờ hắn lại bán ra cái tin rằng những chất độc đó do ta gieo rắc ra, và đồng thời tự hủy hoại lấy đôi chân của mình, ngõ hầu đánh lạc hướng hoài nghi của chúng võ lâm cao thủ.
Tâm Đăng nghe tới đây kêu lên một tiếng hãi hùng, Cô Trúc hậm hực nói tiếp :
- Vì bản lĩnh của ta cao, nên lên đường trễ hơn bọn họ nhưng lại đến Tây Tạng sớm hơn họ nửa ngày, thằng Trác Đặc Ba rất thích chơi lông, mọi người đều không ngờ y ta tự hủy hoại đôi chân của mình, ngỡ rằng hắn thật sự trúng độc, còn vết thương trên chân của ta hơi nhẹ, do đó mà bọn họ hoài nghi ta giả vờ bị thương!
Lại nữa, vì địa vị của ta trong làng võ rất cao, nên bọn họ thảy đều có lòng đố kỵ liên kết với nhau mà tấn công ta, mặc dầu ta hết lời giải thích nhưng bọn họ chẳng nghe.
Lúc bấy giờ ta đang chiến đấu tưng bừng với chúng cao thủ, nghe nó nói như vậy vội vàng phi thân ra ngoài vòng chiến, và hỏi nó cách chứng minh như thế nào? Nó trả lời :
- Nếu mi chịu trao lệnh bài của mi ra thì chúng ta sẽ tin mi.
Mọi người đều tán thành ý kiến đó vì miếng lệnh bài này là một món bảo vật, do ta cất giữ mấy mươi năm nay, đồng thời ta có thề với võ lâm giang hồ rằng nếu miếng lệnh bài này mà mất đi hoặc giả lọt vào tay kẻ khác, thì ta sẽ vĩnh viễn ly khai với giới giang hồ, cho dù có mối huyết hải thâm thù đí nữa thì ta cũng chịu bỏ qua.
Cô Trúc nói đến đây, thở một hơi dài não nuột :
- Ta suy đi nghĩ lại, cho dù có đánh chết hết những tay đối thủ thì tiếng tăm của ta cũng vẫn không giữ được tròn, chi bằng ta giao miếng lệnh bài này cho hắn để tỏ lòng trong sạch của mình.
Chúng cao thủ thấy ta chịu hy sinh một cách quá đáng như vậy, thảy đều tiếc rẻ, nhưng bọn họ mừng lắm, vì từ đây về sau trong chỗ giang hồ không còn cái tên Cô Trúc lão nhân nữa.
Trác Đặc Ba lại nói :
- Miếng lệnh bài này, trong vòng hai mươi năm mi có quyền đánh cắp trở lại, nhưng vì mi đã ly khai với chỗ giang hồ, nên chỉ có thể truyền võ nghệ cho một tên đồ đệ, nhờ nó trở lại đánh cắp, bằng không thì mi sẽ vĩnh viễn không còn dính dấp gì tới võ lâm nữa.
Ta nghe qua giận lắm muốn tống cho nó một chưởng đi đời, nhưng vì ta đã trao miếng lệnh bài cho nó, nên phải giữ lời hứa.
Ta nuốt hận rời khỏi Tây Tạng, rồi từ đó về sau xảy ra những chuyện gì ta không biết...
Vì muốn tìm kiếm một người học trò cho vừa ý, ta đã đi gần khắp xứ Trung Nguyên, đều tìm không gặp một người cho hợp lý tưởng.
Trải qua tám năm trời, ta biết bao phen muốn hủy lời ước hẹn, tự mình tìm đến hồ Tuấn Mã.
Nhưng bình sinh ta rất trọng chữ danh dự, việc đến hồ Tuấn Mã thâu hồi lệnh bài, giết cả nhà Trác Đặc Ba dễ như trở bàn tay, nhưng mà danh dự ta sẽ tiêu tan như mây khói.
Vì vậy mà tiếp tục nhẫn nại, đi tìm kiếm một người cho thật hợp với lý tưởng của ta.
Thế là ta lại trở về Tây Tạng, giữa đường gặp Lư Âu, mới biết bọn họ thảy đều trước sau trúng kế của Trác Đặc Ba trao món tín vật của mình và lọt vào tình trạng khó xử như ta.
Trong số võ lâm cao thủ, chỉ Bệnh Hiệp là có quyền tự mình đi lấy món tín vật trở về vì Trác Đặc Ba biết rõ, ông ta bệnh nặng không phải là đối thủ của hắn.
Quả nhiên mấy hôm trước, Bệnh Hiệp ra đi rồi phải thọ trọng thương mà trở về, còn phần Lư Âu và Khúc Tinh, chẳng biết có tìm được học trò hay chăng, thì ta không biết, nhưng ta đã tìm gặp mi...
Hừ... ta thật không ngờ Bệnh Hiệp cũng thích mi, mặc dù nó chưa nói rõ cho mi biết, nhưng mục đích của nó là muốn cho mi đi đến hồ Tuấn Mã lấy món tín vật của nó là chiếc lông Khổng Tước trở về.
Vậy bây giờ còn một khoảng thời gian là hai năm, tới ngày giờ đó mi phải hoàn thành công việc đó cho ta!
Buổi ban sơ ta truyền võ cho mi, mặc dù là do lòng ích kỷ của ta, nhưng mi có thể học võ nghệ do ta truyền dạy, thật là một điều tam sinh hữu hạnh, đối với mi chỉ có lời chứ không có lỗ.
Cô Trúc nói tới đây thờ phào một hơi nhẹ nhõm, dường như lão ta trút hết nỗi u uất trong lòng.
Tâm Đăng nghĩ ngợi nhiều về câu nói cuối cùng của lão, nếu bảo rằng việc dạy võ nghệ là một sự trao đổi, thì chú không biết chú đã lời hay lỗ, chỉ biết rằng những câu nói này làm cho Tâm Đăng khó chịu lắm.
Tâm Đăng từ từ ngẩng đầu lên hỏi :
- Thưa sư phụ, chiếc lông Khổng Tước của Bệnh Hiệp có quan hệ hay không?
Cô Trúc trả lời :
- Nó là một món tín vật của ông ta, cũng giống như miếng lệnh bài của ta vậy, nó đại diện cho danh dự một đời của chúng ta, quan hệ còn hơn sinh mạng của chúng ta nữa.
Tâm Đăng nghĩ thầm :
- Đáng thương cho Bệnh sư phụ! Ta phải để lấy món tín vật này trở về trước khi ông ta chết và đưa ông ta trở về Tứ Xuyên.
Tâm Đăng hỏi :
- Chẳng hiểu Trác Đặc Ba làm cách gì mà lấy hết tín vật của mọi người được?
Cô Trúc lắc đầu nói :
- Ta không biết, vì lúc đó ta đã rời khỏi Tây Tạng....
Tâm Đăng trầm ngâm suy nghĩ, trong lòng chú đang tính toán, một khi chú vào đến hồ Tuấn Mã sẽ lấy lệnh bài trước? Hay lông Khổng Tước trước?
Cô Trúc giương cặp mắt trừng trừng nhìn Tâm Đăng gằn giọng hỏi :
- Ý của mi muốn lấy chiếc lông Khổng Tước trở về cho Bệnh Hiệp phải chăng?
Tâm Đăng bị hỏi trúng tim đen, giật mình ú ớ :
- Tôi... tôi không có ý đó.
Cô Trúc lão nhân mỉm cười :
- Mi là kẻ xuất gia đầu Phật mà lại nói dối... Tâm Đăng, ta không muốn nói nhiều, ta chỉ mong mi nhớ câu nói này: Ta và Bệnh Hiệp đồng cảnh ngộ, mi phải suy nghĩ cho kỹ.
Tâm Đăng im lìm không trả lời, chú nghĩ rằng cả hai người này đối với chú thảy đều có công lao to lớn, mà chú không nên làm cho họ thất vọng.
Vì vậy chú quyết định sẽ lấy cả hai món trở về, nhưng lấy món nào trước thì chú còn đang lừng chừng chưa quyết định.
Tâm Đăng còn đang phân vân vì việc này bỗng nghe Cô Trúc nói :
- Mi trở về đi, không bao lâu nữa ta sẽ gặp mi.
Tâm Đăng lấy làm kinh dị :
- Sao? Sư phụ... lại muốn đi đâu?
Cô Trúc gật gù nói :
- Ta có việc cần kíp phải làm, trong khoảng thời gian ta đi xa, mi phải thường xuyên đi xem Bệnh Hiệp, ông ta rất thích mi... còn nhưng người khác, mi phải tránh xa không nên tiếp xúc.
Cô Trúc nói rồi đứng dậy...
Lúc nầy giờ tình trạng của Tâm Đăng đã nhu nhược hơn trước nhiều, chú thấy quyến luyến Cô Trúc lắm.
Cô Trúc vừa muốn cất bước, bỗng thấy thái độ của Tâm Đăng như vậy, ông ta vội vò đầu chú mà nói :
- Con nghĩ thế nào?
Đây là lần thứ nhất, Cô Trúc nói bằng một giọng dịu dàng đầy tình cảm, Tâm Đăng nức nở nói rằng :
- Thưa, sư phụ... con khó chịu lắm.
Cô Trúc thò tay ra nắm lấy vành tai của Tâm Đăng, nói nhỏ :
- Mi biết mến ta... ta mừng lắm!
Dứt lời trổ thuật phi hành, rời khỏi Tâm Đăng, đi nhanh về phía trước. Tâm Đăng òa lên khóc :
- Sư phụ!
Thật là lạ, đây là lần thứ nhất, Tâm Đăng nghe thấy mình quyến luyến lão già Cô Trúc lắm, có lẽ mối tình cảm này do Bệnh Hiệp truyền nhiễm cho chú, làm cho chú lần lần hiểu rõ tình cảm giữa người và người trên xã hội, đó là một vật quý báu nhất trên đời...
Tâm Đăng mơ màng đứng dưới bóng trăng thanh, để cho gió lạnh thổi khô đi từng dòng nước mắt, đó là :
- Mỗi một người nếu muốn sinh tồn trên xã hội, hoặc muốn chiếm hữu một vật gì, thì người ấy trước hết phải đưa ra một món gì để đánh đổi.
Cảm nghĩ này có chính xác hay không?
Bỗng dường như có tiếng vạc ăn đêm kêu lên giữa khoảng đêm trường tĩnh mịch, làm cho Tâm Đăng giật mình choàng tỉnh, chú nghe thấy thân hình của mình ướt đẫm vì hơi sương.
Mặt trăng vẫn còn lơ lửng giữa lưng trời, vài hạt mưa phùn lấm tấm rơi...
Chú bắt đầu cất bước, tâm tư cực kỳ hỗn loạn, nhiều vấn đề thắc mắc nhảy múa trong trí của chú.
Đêm hôm ấy, người khách dạ hành kỳ bí kia, vẫn theo lệ thường mò đến truyền nghệ cho chàng...
Suốt đêm đó, Tâm Đăng trải qua không biết bao nhiêu cơn ác mộng, có lúc chú nức nở liên hồi, có lúc chú gào lên thảng thốt, làm giật mình rất nhiều đồng đạo ngủ gần chú.
Sáng hôm sau, dùng xong bữa cơm sáng, Tâm Đăng vội vã rời khỏi chùa, nhắm hướng ngôi nhà đá mà chạy như bay.
Đó là một ngôi nhà kiến trúc ở một nơi không lấy gì làm kín đáo lắm, chỉ có một điều lạ là mấy mươi năm nay không có người cư ngụ và cũng không có ai nhắc nhở đến nó.
Thỉnh thoảng có chú tiểu nào hỏi đến thì các vị lão tăng biến sắc, chắp tay nói rằng :
- A di đà Phật! Đừng hỏi tới!... Đừng hỏi tới!...
Rồi lại cau có mắng người đã hỏi, làm cho ai nấy không dám hở môi.
Tâm Đăng cam tâm làm cái việc đại kỵ của Bố Đạt La Cung, mà lần mò đến ngôi ngôi nhà bí mật này.
Vừa đến cửa, chú đã gọi to :
- Bệnh sư phụ! Tôi đến đây này.
Từ bên trong, có tiếng của Bệnh Hiệp trả lời :
- Vào đây, ta đang chờ mi.
Nghe có tiếng nói của Bệnh Hiệp, Tâm Đăng mới yên trí bước vào, chú thấy Bệnh Hiệp đang ngồi dựa ngửa trên một chiếc ghế bằng đá, sắc mặt có chiều tươi tỉnh, chú mừng lắm, vội bước tới nắm tay mà hỏi rằng :
- Bệnh sư phụ! Có khá chút nào không?
Trên gương mặt của Bệnh Hiệp thoáng hiện nét cười tươi, nói rằng :
- Bệnh tình của ta có mòi thuyên giảm.
Bấy giờ, Tâm Đăng mới phát hiện trong ngôi nhà này có hai gian, vật dụng thảy đều đầy đủ, toàn làm bằng đá, trong lòng lấy làm lạ hỏi :
- Thưa sư phụ, ngôi nhà này của ai? Cớ sao các vị hòa thượng không cho hỏi đến? Và không cho ai bén mảng tới?
Bệnh Hiệp cười trả lời :
- Bởi vì họ đều là người xuất gia.
Tâm Đăng càng lấy làm lạ :
- Cớ sao người xuất gia lại không thể đến đây?
Bệnh Hiệp khẽ thở dài :
- Vì ngôi nhà này có dính líu đến một mẩu chuyện não nùng bi đát, kể ra dài dòng lắm.
Tính hiếu kỳ của Tâm Đăng bỗng trỗi dậy :
- Sư phụ kể cho con nghe.
Bệnh Hiệp ngần ngừ :
- Những vị hòa thượng trong Bố Đạt La Cung không bằng lòng kể chuyện cho mi nghe, chỉ vì mẩu chuyện này nhơ nhớp lắm! Nó liên quan đến hai chữ “Dâm” và “Sát”...
Tính hiếu kỳ của Tâm Đăng càng bị kích thích, chú nài nỉ :
- Sư phụ kể cho con nghe, con chẳng nói lại cho người khác biết đâu.
Bệnh Hiệp lại cười :
- Ta chẳng đủ tinh thần để kể cho rõ, chỉ nói sơ quan đại khái!
Tâm Đăng thích chí, vỗ tay reo mừng, Bệnh Hiệp bắt đầu dùng cái giọng khàn khàn của ông ta, để kể lại một mẩu chuyện bi thương trong nhân thế :
- Chủ nhân của ngôi nhà này là một bậc giang hồ hiệp sĩ, trai tài gái sắc, người con trai họ Tiêu.
Bệnh Hiệp vừa nói đến chữ Tiêu thì dường như tâm tình bị xúc động mạnh, ông ngừng lại liếc mắt nhìn Tâm Đăng, Tâm Đăng cũng đang sững sờ kinh dị.
- Người này cùng một họ với con.
Bệnh Hiệp thình lình hỏi :
- Con năm nay mấy tuổi?
Tâm Đăng nở một nụ cười quái dị :
- Con mười tám tuổi, sao?
Bệnh Hiệp lắc đầu, trầm ngâm không nói một lời, nhưng ông đang gào thét trong thâm tâm của ông :
- Phải rồi! Chính nó! Chính là thằng này chứ không ai khác nữa.
Bệnh Hiệp cố dằn cơn xúc động, vội hỏi :
- Tâm Đăng, mi có biết tại sao mi vào Bố Đạt La Cung?
Tâm Đăng bàng hoàng ngơ ngác :
- Có một người đưa tôi vào chùa, người đó họ Lăng....
Bệnh Hiệp nghe nói tới họ Lăng thì mặt mày biến sắc, nói thầm trong lòng :
- “Chính là nó! Lăng Hoài Băng chứ không ai? Chính Lăng Hoài Băng đưa nó vào chùa. Vậy thì câu chuyện này là câu chuyện thuộc về thân thế của nó, ta có nên cho nó biết hay chăng?
Nó nghe xong câu chuyện này chắc xúc động mạnh lắm, vậy ta khoan nói đã... Vậy thì nó càng nên đi giết thằng Trác Đặc Ba, nhưng mà... bây giờ không thể cho nó biết đầu đuôi câu chuyện, bằng không sẽ sinh ra nhiều điều rắc rối”.
Tâm Đăng đang nghe đến chỗ cao hứng, thình lình thấy Bệnh Hiệp ngưng bặt, trong lòng nóng nảy lắm, vội hối thúc :
- Bệnh sư phụ, sao chẳng kể tiếp?
Bệnh Hiệp sợ Tâm Đăng sinh nghi, vội trả lời :
- Không... ta vừa sực nhớ ra một việc, nên hỏi cho biết, bây giờ ta bắt đầu kể chuyện nay... À, mà ta vừa kể đến đâu?
Vừa đem về nuôi trong những ngày gần nay... tính tình của nó tốt lắm, rất tiếc nó không biết võ, bây giờ ta bắt đầu truyền những môn vỡ lòng cho nó.
Khắc Bố thò tay ra bắt tay Tâm Đăng, hỏi rằng :
- Anh có phải là Chính Dung? Tôi thường nghe sư phụ nhắc đến anh.
Nói rồi mỉm cười, thái độ cực kỳ hào hiệp. Bắt tay với Khắc Bố, Tâm Đăng nghe thấy người này có một sức mạnh thật là đáng kể, trong lòng lấy làm vui mừng.
Chú hỏi một câu bằng tiếng Tây Tạng :
- Chắc anh thích kết bạn với tôi?
Khắc Bố nghe Tâm Đăng nói tiếng Tây Tạng thật sành, lấy làm mừng rỡ, cười nói tíu tít :
- Anh cũng biết tiếng Tây Tạng... hay lắm.
Nói rồi hai người đàm đạo với nhau thật là tương đắc.
Tâm Đăng thầm nghĩ :
- Chẳng biết cớ sao Khắc Bố cứ gọi tên tục của mình là Chính Dung?
Thái độ của Tâm Đăng, Bệnh Hiệp đã trông thấy nên vội bảo :
- Hai đứa bay ngồi xuống nghe ta kể chuyện.
Ông ta kể :
- Tâm Đăng, vì mi sắp sửa hoàn tục, cho nên từ đây về sau ta gọi ngay tên tục của mi.
Chú lắc đầu, cắt ngang câu nói :
- Không... Xin sư phụ cứ gọi tôi là Tâm Đăng... tôi không thích cái tên tục của tôi...
Bệnh Hiệp lấy làm kinh dị :
- Sao? Cái tên Chính Dung nghe hay đấy chứ?
Tâm Đăng ngần ngừ trả lời :
- Bởi vì... sau khi hoàn tục... tôi còn phải trở về chùa...
Bệnh Hiệp càng nghe, càng lấy làm lạ, vội hỏi :
- Tại sao mi lại trở về chùa?
Tâm Đăng mơ màng đáp :
- Tôi cũng không biết tại sao? Tôi chỉ... cảm thấy mình thích nơi thanh tĩnh của chùa chiền, thích nghe những tiếng kinh trầm bổng.
Bệnh Hiệp nghe nói, giật mình thở dài ảo não :
- Mỗi một người thảy đều có những nếp sống riêng, ta không thể ép buộc mi được, mi muốn trở về chùa thì cứ về, nhưng mà... sau khi làm xong những công việc cho chúng ta rồi, mi còn một việc quan trọng cần phải thi hành, đó là việc riêng của mi.
Tâm Đăng lấy làm lạ, vội hỏi :
- Thưa sư phụ, tôi còn một việc gì? Đời tư của tôi không còn vấn vít gì với ngoài đời nữa.
Bệnh Hiệp buồn rầu nói :
- Bây giờ ta chưa tiện nói cho mi biết, chỉ có thể cho mi hiểu rằng trên đời này có nhiều việc xảy ra không phải do ta mà là do trời...
Nói dứt câu này thì Bệnh Hiệp nhắm nghiền cặp mắt dưỡng thần, còn Tâm Đăng thì ngẫm nghĩ triết lý trong câu nói của ông ta.
Nhưng mà tư tưởng của chú trong suốt không gợn một chút mây mờ, đối với câu nói mập mờ của Bệnh Hiệp không tài nào nghĩ cho thấu đáo.
Tâm Đăng đang triền miên nghĩ ngợi bỗng nghe Khắc Bố hỏi :
- Chính Dung, thôi đừng về chùa nữa, ở lại dạy võ cho tôi.
Tâm Đăng thấy Khắc Bố đối với mình thật là tương đắc, niềm nở trả lời :
- Chờ ngày hoàn tục hãy hay.
Bệnh Hiệp trợn trừng cặp mắt nói :
- Tâm Đăng, trong vòng mười ngày nữa, thì bệnh của ta sẽ biến chứng, chừng đó có lẽ ta sẽ trở thành một kẻ phế nhân, vì vậy mà ta gọi Khắc Bố đến đây, chừng nào ta lâm trọng bệnh thì có nó bên cạnh chăm nom săn sóc, đồng thời ta lại mong rằng trong mười ngày này ta có thể hoàn toàn truyền hết đường võ Thiên Phong chưởng cho mi.
Tâm Đăng nghe nói, đau lòng lắm, Bệnh Hiệp hối thúc :
- Thôi mi hãy trở về, ngày mai sẽ trở lại, bây giờ ta bắt đầu truyền võ cho Khắc Bố, thằng này có tư chất tốt, rất tiếc gặp ta quá muộn... ta đang sắp bày kế hoạch để làm một việc lạ thường.
Câu nói này vừa thoát ra khỏi cửa miệng của Bệnh Hiệp, cả Khắc Bố và Tâm Đăng đồng thanh hỏi :
- Thưa sư phụ, việc lạ thường gì đó?
Bệnh Hiệp cất cao giọng nói bằng một niềm phấn khởi :
- Ta muốn làm một điều phi thường, trong vòng một năm rưỡi, ta muốn đem tất cả bình sinh sở học của ta truyền cho Khắc Bố.
Tâm Đăng và Khắc Bố thoáng nghe qua, vừa mừng vừa sợ, Tâm Đăng là người đã từng luyện võ, chú nghĩ thầm :
- Thật là một việc khó thi hành! Cô Trúc sư phụ là một bậc kỳ nhân trong thiên hạ phải mất đi mười năm trường mới dạy ta đến mức này, còn Bệnh Hiệp là một người mang trọng bệnh, làm sao trong vòng một năm rưỡi có thể dạy cho xong?
Bệnh Hiệp dường như đọc thấu ý nghĩ của Tâm Đăng, cười rằng :
- Việc này ta có cách... thôi mi về, ngày mai trở lại.
Tâm Đăng đang bàng hoàng, chợt nhớ đến giờ ước hẹn với Mặc Lâm Na, nên vội vàng cáo từ đứng dậy bước ra bên ngoài, Khắc Bố tỏ vẻ quyến luyến lắm.
Rời khỏi ngôi nhà đá, Tâm Đăng không trở về chùa mà đi vòng ra phía sau đến chỗ hẹn hôm qua.
Đến nơi ấy, không thấy hình bóng của Mặc Lâm Na đâu cả, chú nghĩ rằng :
- Chắc nàng bận việc chi, ta hãy chờ thêm chút nữa.
Thế là Tâm Đăng chắp tay sau lưng, đi qua đi lại dưới bóng cây râm mát, đây là lần thứ nhất chú nếm được mùi vị của một người đàn ông đợi chờ phái yếu, trong lòng chú vừa dâng lên một niềm ảo tưởng vừa ngọt ngào, vừa thi vị.
Nguồn cảm giác lâng lâng thật là khó tả, một thứ ấm nóng lạ kỳ tràn lấn tâm tư.
Chú mải mê suy nghĩ :
- Chẳng biết hôm nay nàng có đến hay chăng? Hay là nàng sai hẹn?
Nghĩ đến đây chú lấy làm thất vọng về sự tưởng tượng của chú nhưng chú lại nghĩ :
- Chắc chắn nàng sẽ đến vì nàng đã hẹn với ta kia mà.
Nghĩ đến đây, chú nghe thấy một niềm an ủi vô biên, cúi xuống nhìn xâu chuỗi của Mặc Lâm Na một cách trìu mến, chú mân mê sờ mó nó mà nghĩ :
- Ngày hôm nay ta gặp nàng ta sẽ nói những gì? Hôm qua ta gặp nàng mà không thể thổ lộ hết tâm tình... hôm nay phải nói thật nhiều mới được... ta phải thêu dệt một câu chuyện cổ tích để kể cho nàng nghe.
Chú miên man suy nghĩ, mất rất nhiều thì giờ mà vẫn không thấy hình bóng của Mặc Lâm Na, chú bắt đầu nóng nảy, nhóng cổ nhìn quanh.
Càng nhìn chú càng nôn nóng như một con kiến bò trên chảo nóng, còn đang chắt lưỡi cau mày, chợt thấy bên ngoài mười trượng, thình lình có một chiếc bóng trắng lướt qua, rồi thu hình trong một tàng cây rậm rạp.
Con mắt của Tâm Đăng cực kỳ bén nhạy nhìn phớt qua cũng biết người ấy chính là Mặc Lâm Na, trống ngực chú đánh rầm rầm, vừa giận vừa mừng, chú nghe thấy đôi má của mình nóng bừng....
Chú giả vờ không trông thấy, lấy lại thái độ ung dung nhàn nhã, chú thầm nghĩ :
- Chắc con bé này đang tìm cách trêu chọc ta?
Ý nghĩ của Tâm Đăng chưa dứt thì từ đằng kia đã có một đốm sáng lập loè bay tới.
Bình tĩnh chờ đợi đốm sáng đó đến cách mình chừng ba thước, chú đưa bàn tay lên giả vờ gãi đầu, nhưng sự thật truyền hết nội lực vào lòng bàn tay để hút chặt viên ám khí.
Thì ra đó là một hòn đá nhẵn thín.
Tâm Đăng vẫn giả vờ không biết, buông mắt nhìn ra chỗ xa xăm, dường như một người đang ung dung ngoạn cảnh.
Quả nhiên Mặc Lâm Na lấy làm kinh dị, nàng lấy làm lạ cớ sao viên đá của mình ném đi mà bặt vô âm tín?...
Thế rồi nàng nhặt thêm một hòn nữa, lần này dùng hết tám phần sức mạnh ném về phía Tâm Đăng....
Nàng ranh mãnh nghĩ thầm :
- Phen này... xem mi đối phó ra sao?
Nhưng mà lạ lùng chưa, Tâm Đăng vẫn bình thản như một người vô sự, vẫn đưa mắt nhìn xem phong cảnh ở đằng xa tít tận chân trời, nàng còn thoáng nghe chú đang ngâm nga mấy câu thơ cổ.
Mặc Lâm Na vừa sợ vừa giận, nàng lấy ra thêm năm viên đá nữa, hậm hực nghĩ thầm :
- Mi dám chua ngoa với ta, để ta cho mi một bài học đích đáng.
Rồi nghiến răng dùng hết mười phần sức mạnh, nàng tung ra một thế Thiên Hoa Loạn Tán, ném vù vù năm hòn đá này về phía Tâm Đăng.
Năm viên ám khí này chia ra làm năm ngả chiếu thẳng vào năm đại huyệt của Tâm Đăng.
Ám khí thoát ra khỏi lòng bàn tay rồi, trong lòng nàng mới lấy làm hối hận, nàng e cho Tâm Đăng tránh không thoát mấy viên ám khí ác độc kia.
Kêu lên một tiếng kinh hoàng, nàng nhắm nghiền cặp mắt, nhưng lạ lùng chưa, bên tai nàng vẫn văng vẳng tiếng ngâm nga của Tâm Đăng, mà năm viên ám khí của mình thì như ném vào biển cả, không một tiếng tăm phản ứng.
Mặc Lâm Na mở bừng mắt dậy, thấy Tâm Đăng vẫn còn tới lui nhàn nhã, bộ điệu cực kỳ thư thái, trong lòng lấy làm kinh dị, nghĩ thầm :
- Người này võ nghệ quả thật cao cường, cha ta chưa chắc bằng nó.
Nghĩ vậy, nàng bay ra khỏi tàng cây, kêu lên :
- Tâm Đăng, chắc chờ ta lâu lắm thì phải, ta bận chút việc nên đến trễ.
Tâm Đăng giả vờ mới phát giác ra nàng, mỉm cười nói :
- Chả sao, tôi đang ngoạn cảnh.
Mặc Lâm Na thấy thái độ của chú quá ư bình thản, trong lòng lấy làm kinh dị nghĩ thầm :
- Hay là hắn chẳng biết ta trêu hắn? Hay là có một kẻ nào khác đã bắt lấy ám khí của ta?
Nghĩ đến đây nàng nhớn nhác nhìn quanh, ba bên bốn bề cảnh vật đìu hiu vắng vẻ, không một bóng người, nên trong dạ hồ nghi chẳng dám nói ra.
Nàng trỏ vào rặng cây, cười bảo Tâm Đăng :
- Chúng ta vào trong kia nói chuyện.
Tâm Đăng thoáng nghe qua, giật nẩy mình, nhưng liền lấy lại bình tĩnh, gật đầu trả lời :
- Được, để tôi dẫn đường.
Thế rồi chú bình tĩnh tiến về phía trước, lách mình vào một rặng cây lưa thưa, chọn một chỗ thanh tịnh và sạch sẽ rồi ngồi xuống.
Mặc Lâm Na cứ suy nghĩ về những viên ám khí ban nãy nên trong lòng thắc thỏm không yên.
Tâm Đăng đã đọc được ý nghĩ đó nên trên vành môi thoáng nở một nụ cười ranh mãnh, Lạt Ma thấy vậy đỏ bừng sắc mặt hỏi rằng :
- Những hòn đá của ta...
Tâm Đăng cố nhịn cười :
- Đá gì?..
Mặc Lâm Na vừa thẹn vừa giận :
- Những hòn đá ta ném mi ban nãy! Mi hãy còn giả vờ...
Tâm Đăng thấy thái độ của nàng nửa giận nửa hờn, nửa thương nửa ghét, chú lấy làm đắc ý lắm, cười rằng :
- Ủa! Bảy hòn đá ban nãy do cô nương ném hay sao?... Tôi cứ tưởng do những con chim bay trên trời làm rơi xuống.
Tâm Đăng nói rồi xoè bàn tay hữu ra, Mặc Lâm Na giật mình sửng sốt, vì bảy hòn đá của mình thảy đều nằm gọn trong lòng bàn tay hắn.
Mặc Lâm Na tức tối mắng :
- Mi thật cả gan... dám trêu chọc đến ta... ta sẽ cho mi một bài học đích đáng...
Tâm Đăng bị mắng nghe thấy trong lòng có một cảm giác dị kỳ dâng lên, đây là lần thứ nhất chàng bị một người khác phái mắng yêu một câu đầy tình tứ.
Chú khẩn khoản :
- Xin giao hoàn cho cô nương.
Mặc Lâm Na khoát tay hờn dỗi :
- Ta không biết...
Nói rồi vả vào bàn tay của Tâm Đăng một cái, làm cho bảy hòn đá bắn ra tứ tung, lăn tròn trên mặt cát...
Tâm Đăng nghe thấy trên bàn tay của mình vừa truyền sang một nguồn cảm giác mát rười rượi, mà lại nghe khó chịu như điện giật, chú sững sờ ngây ngất...
Đây là lần thứ nhất, thể xác của chú đụng chạm với người khác phái, thật đem đến cho chú một thứ cảm xúc lạ lùng...
Tâm Đăng rút phắt bàn tay của mình trở về, dùng bàn tay tả nắm bàn tay hữu, dường như muốn bấu víu thêm một chút thứ cảm xúc dị thường đó.
Mặt của chú đỏ bừng, tim đập rộn ràng, mắt đổ hào quang, nhìn Mặc Lâm Na chằm chặp...
Trong lúc đó thì Mặc Lâm Na thẫn thờ suy nghĩ :
- Tại sao hắn nhìn ta? Thật là đáng ghét... Không! Không đáng ghét mà là đáng yêu... ta thích hắn nhìn ta như vậy...
Vuốt lại mái tóc của mình lẩm bẩm :
- Mi nhìn ta một cách đáng ghét!... Dường như muốn ăn thịt ta vậy?
Tâm Đăng bị câu này lôi trở về thực tế, bất giác sượng sùng, vội vàng nghiêm sắc mặt.
Mặc Lâm Na thấy vậy cười lên khúc khích, nàng bảo :
- Mi nhìn ta trân trối làm cho ta quên cả nói chuyện... Ta hỏi mi, võ nghệ của mi cớ sao lại cao như vậy, thầy mi là ai?
Tâm Đăng cười trả lời :
- Thầy ta là một lão già không tên không tuổi, tôi chỉ gọi ông ta bằng sư phụ.
Mặc Lâm Na cười như nắc nẻ :
- Những người võ nghệ cao cường, thảy đều là tính tình kỳ dị, hay giấu tên giấu tuổi, chẳng hạn như cha ta...
Tâm Đăng vội hỏi :
- Cha cô chắc bản lĩnh cao cường lắm? Bây giờ ông ta ở đâu?
Mặc Lâm Na ngần ngừ giây lát mới trả lời :
- Cha ta rày đây mai đó, bây giờ chắc có lẽ ở vùng Tân Cương!... Mi thật ít nói chuyện, chắc có lẽ cứ suốt ngày lo tụng kinh gõ mõ.
Tâm Đăng đỏ bừng sắc mặt, nàng lại nói :
- Ta thường nghe người luyện võ nói, trong chỗ giang hồ đầy rẫy chông gai hầm hố...
Tâm Đăng vội hỏi :
- Chông gai hầm hố như thế nào? Giang hồ nghĩa là sao?
Mặc Lâm Na bực tức :
- Giang hồ nghĩa là... nghĩa là... giang hồ. Thí dụ như Tây Tạng có Lỗ Tạng Giang và hồ Tuấn Mã.
Tâm Đăng bật phì cười vì câu giải thích ngô nghê của nàng.
Hai người lại trò chuyện thêm một chập, bầu không khí bắt đầu tẻ nhạt, bỗng Mặc Lâm Na đề nghị :
- Bây giờ chúng ta thử so với nhau vài hiệp.
Tâm Đăng cả cười :
- Hay lắm! Nhưng chúng ta chỉ so nhau về khinh công và ám khí mà thôi.
Vì chàng nghĩ võ công của chàng trội hơn Mặc Lâm Na nhiều lắm, nếu chường mặt đấu chiến e có điều chi sơ suất.
Nói rồi cúi xuống nhặt lên mười hòn đá, chia cho nàng năm hòn đoạn nghĩ :
- Ta phải giấu nghề, đừng làm cho nàng phải mất mặt.
Mặc Lâm Na biết nghề ném ám khí của mình không bằng Tâm Đăng nhưng mà khinh công tuyệt diệu.
Nàng thấy thân hình của Tâm Đăng vạm vỡ nên quyết chắc mình có thể thắng đối phương trên phương diện này, nên vui vẻ nhận những hòn đá, nàng nói :
- Chúng ta so tài như thế nào?
Tâm Đăng rảo mắt nhìn quanh, chàng trỏ hai tàng cây cổ thụ rườm rà đoạn nói :
- Mỗi người trốn trên một tàng cây, dùng ám khí chọi lẫn nhau, nếu như ai trúng đòn hay sa chân rơi xuống đất thì kể như thua.
Mặc Lâm Na vỗ tay reo lên cười một cách thích thú, nàng chọn một tàng cây to chừng sáu trượng rồi bay vù lên nhanh như chớp.
Vừa nói :
- Ta lên trước!
Dứt lời, thân hình của nàng đổi nhanh một thế Giá Hạc Vân Du, bay vù lên một cành cây gần đó.
Cử động thật là nhẹ nhàng êm ả, không gây một tiếng động nào. Tâm Đăng thấy thân pháp của nàng kỳ diệu như vậy, trong lòng lấy làm thán phục.
Mặc Lâm Na nở một nụ cười tươi như một đóa hoa hàm tiếu, thò tay vẫy Tâm Đăng :
- Tâm Đăng! Lên đi chứ!
Chính vào lúc đó thì từ Bố Đạt La Cung văng vẳng có tiếng chuông chùa ngân nga đưa đến, báo hiệu rằng giờ cơm đã tới.
Nhưng mà Tâm Đăng bất chấp, chú rảo mắt nhìn quanh, thấy cách chỗ Mặc Lâm Na nấp chừng năm trượng có một cây cổ thụ cành là rườm rà, vội cười mà rằng :
- Đừng nóng nảy!
Dứt lời, cố ý dùng một thế rất tầm thường là Bình Địa Bạt Xung bắn vù lên cao bảy trượng, khi rơi xuống cành cây lá rung lên xào xạc...
Mặc Lâm Na thấy điệu bộ vụng về của Tâm Đăng, trong lòng mừng lắm, nghĩ thầm :
- Khinh công của nó khá lắm nhưng vẫn còn kém ta.
Nàng buông ra một tiếng cười đắc ý :
- Mi ném ám khí đi chứ!
Tâm Đăng cả cười trong lòng nghĩ thầm :
- Nàng trúng kế ta rồi!
Nghĩ đoạn, bảo nàng :
- Nhường cho cô ra tay trước, cô ném hai viên rồi tôi sẽ ném sau.
Mặc Lâm Na nghe nói cười thầm, nghĩ rằng Tâm Đăng là “bò con không biết sợ cọp”, nàng nhắc :
- Trên cây không dễ tránh như dưới đất, mi đừng thờ ơ mà thua đó.
Nói đến đây, vùng sực nhớ đến một việc, nàng vội kêu lên :
- Không cho nhà ngươi đứng yên một chỗ, phải xê dịch thân mình, không thì ta không ném...
Tâm Đăng giật mình nghĩ :
- Con nhỏ này muốn cho ta mắc mẹo đây!
Chú trả lời :
- Được, cô cứ ném đi, tôi bắt đầu xê dịch...
Dứt lời, quả thật Tâm Đăng buông mình bay nhảy từ cành cây này sang cành cây khác, bộ điệu vẫn ồ ề cục mịch.
Mặc Lâm Na dùng hai ngón tay kẹp chặt một hòn đá, đôi mắt đen lay láy của nàng dán chặt vào thân hình của Tâm Đăng...
Thừa một dịp Tâm Đăng đang dùng một thế La Hán Độ Hà bay mình sang một cành cây, chính vào lúc bàn chân của chú vừa rời khỏi thân cây, thì Mặc Lâm Na hét lên một tiếng yểu điệu :
- Đỡ...!
Tiếng hét chưa dứt, thì hòn đá trong tay nàng vèo vèo bay tới, chiếu thẳng vào giữa ngực của Tâm Đăng...
Thân hình đang lơ lửng giữa từng không, bị ném bất thần, nhưng Tâm Đăng vẫn một mực bình tĩnh, vung ống tay áo ra phất bay hòn đá.
Mặc Lâm Na trông thấy Tâm Đăng vì đỡ đòn mà lỡ bộ chới với trên một cành cây, chú phải tức tốc dang tay ra mới lấy lại được thăng bằng...
Mặc Lâm Na nào chịu bỏ qua cơ hội, vào lúc Tâm Đăng còn đang loạng choạng thì nàng đã ném liền theo tay một viên đá nữa.
Lần này, nàng ném trước rồi mới hô “Đỡ” sau.
Tâm Đăng rú lên một tiếng kinh hoàng rùn mình xuống tránh, Mặc Lâm Na thấy chú chuệnh choạng trên một cành cây nhỏ bé, múa may quay cuồng nhưng mà lạ chưa, chú không rơi xuống đất mà thân hình lại cứ dán chặt trên cành cây.
Bộ điệu hài hước của Tâm Đăng làm cho Mặc Lâm Na bật phì cười... nàng trỏ Tâm Đăng mà bảo :
- Thôi, đừng đấu nữa, đừng làm trò cười cho thiên hạ.
Tâm Đăng không bằng lòng :
- Tại sao không đấu?...
Mặc Lâm Na thấy Tâm Đăng không chịu thua, cười mà bảo :
- Bộ điệu của mi trông buồn cười quá!
Và bây giờ Tâm Đăng bắt đầu bay nhảy nhưng thân pháp lần lần nhanh nhẹn, Mặc Lâm Na hậm hực tự bảo với mình :
- Mi có dùng hết sức bình sinh đi nữa thì cũng không làm nên trò trống gì.
Lúc bấy giờ Tâm Đăng vừa vượt sang một cành cây, Mặc Lâm Na thừa thế ném một hòn đá vào đùi của Tâm Đăng với một tốc lực nhanh như điện.
Đang ở nửa vời, Tâm Đăng rú lên :
- Sao thế?... Tôi chưa...
Câu nói chưa dứt, Tâm Đăng trổ luôn một đòn Hoành Ba Vi Địa, để cho thân hình của chú nằm vắt ngang một cành cây, và hòn đá của Mặc Lâm Na rơi vào khoảng không một cách trơ trẽn...
Tâm Đăng cười hì hì :
- Tôi đã nhường cô ba lần rồi đó!
Mặc Lâm Na tức giận bồi hồi, vì mỗi một lần Tâm Đăng tránh thoát, dường như là do sự may mắn chứ chẳng phải do tài khôn khéo.
Nàng quyết định dùng hai hòn đá cuối cùng để thủ thắng.
Tâm Đăng mặt mày hớn hở, bắt đầu dùng thuật Lăng Không Mai Bộ, Mặc Lâm Na vẫn chờ đợi cho Tâm Đăng rời khỏi cành cây mới ném ám khí...
Lần này, nàng chờ cho Tâm Đăng cất mình nhảy lên, ném một viên đá bay tới thật mạnh, quả nhiên Tâm Đăng cả sợ, dùng ống tay áo phất bay hòn đá...
Nào ngờ hòn đá đầu tiên của Mặc Lâm Na chỉ dùng để khuấy rối đối phương mà thôi, liền theo đó, nàng ném tiếp theo một viên chiếu vào giữa mặt của chú...
Đó là lối ném Liên Châu Thủ cực kỳ lợi hại, Tâm Đăng rú lên một tiếng :
- Thôi... chết rồi...
Nhưng... một việc bất ngờ lại xảy ra, Tâm Đăng thình lình hé miệng, thổi vù ra một làn hơi thật mạnh làm cho hòn đá bay ngược trở về...
Nhưng vì vậy mà thân hình của Tâm Đăng thoát ly khỏi tàng cây rơi xuống đất...
Mặc Lâm Na mặc dầu kinh sợ cho cái lối thổi bay ám khí của Tâm Đăng, nhưng thấy chú sa chân xuống đất, trong lòng khấp khởi...
Nàng định reo lên một tiếng vui mừng, nào ngờ Tâm Đăng sắp sửa rơi đến mặt đất, thân hình thình lình xoay ngang một cách thần tốc để vớ vào một thân cây rồi lại thoăn thoắt leo lên...
Tâm Đăng hơi thở phì phò, mặt mày nhớn nhác nói :
- Tôi chưa thua... Tôi chưa thua...
Cử chí hài hước này làm cho Mặc Lâm Na tức giận tràn hông kêu lên ầm ĩ.
Tâm Đăng vẫn khư khư :
- Tôi chưa thua.
Mặc Lâm Na bực tức :
- Giờ đến phiên mi.
Nói rồi thân hình của nàng tung tăng bay nhảy khắp các cành cây kẽ lá, tốc độ thật là nhanh, luôn mồm hối thúc :
- Mi ném đi... Mi ném đi...
Tâm Đăng thét lên một tiếng :
- Đỡ...
Rồi một hòn đá bay vù vù vào hậu tâm của Mặc Lâm Na nhanh như chớp.
Mặc Lâm Na không quay đầu trở lại, chỉ rũ hai ống tay áo một cái thật mạnh, để cho thân hình bắn vọt lên năm thước tránh khỏi hòn đá một cách tài tình...
Nàng quay đầu nhìn lại...
Hòn đá của Tâm Đăng đang đi theo chiều thẳng bỗng thình lình biến thành chiều cầu vống để rơi vào khoảng không...
Mặc Lâm Na quay đầu nhìn lại, đắc chí cả cười :
- Sao? Ta có kém mi đâu?
Tâm Đăng cố nhịn cười, trong lòng chú biết, nếu chú thẳng tay, Mặc Lâm Na có chạy đường trời cũng không tránh khỏi...

Xem tiếp chương 10
Người đẹp trở về nửa ghen nửa oán
Dị nhân ra mặt truyền võ Tâm Đăng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:01 pm

Chương 10
Người đẹp trở về nửa ghen nửa oán
Dị nhân ra mặt truyền võ Tâm Đăng

Chú giương cặp mắt sáng ngời ngắm nhìn tấm thân kiều diễm của Mặc Lâm Na đang đứng trên cành cây, nàng cũng đang giương mắt nhìn chú.
Nàng thấy Tâm Đăng mình mặc áo cà sa, cổ đeo tràng hạt, gương mặt hiền từ, bất giác thẹn thùng nói rằng :
- Mi ném đi chứ! Nhìn gì mà trân trối.
Tâm Đăng mỉm cười :
- Tôi phải chờ cho cô xê dịch thân hình thì mới tấn công.
Mặc Lâm Na cười thầm trong bụng, nghĩ rằng Tâm Đăng chắc chờ cho mình đang lơ lửng giữa từng không mới bất thần xuất thủ.
Vì vậy, nàng bất thần giương hai cánh tay ra, để cho thân hình như một mũi tên vút lên cao bảy tám thước.
Tâm Đăng thấy nàng không đi theo chiều ngang mà bắn vọt từ dưới lên cao, biết rằng nàng có ý thử nghề mình.
Quả nhiên ý nghĩ của Tâm Đăng chưa dứt chợt thấy nàng thò hai tay ra phía sau, khẽ chạm vào một cành cây nhỏ, lấy đó làm điểm tựa, thân hình của nàng bắn vù về phía Tâm Đăng.
Mặc Lâm Na nói :
- Ngày mai tôi có việc phải đi xa, phải cách mấy hôm mới trở về được, chừng đó ta sẽ trở lại tìm mi.
Nghe nói nàng sắp phải đi xa, Tâm Đăng nghe thấy trong cõi lòng của mình dâng lên một niềm luyến tiếc, đôi mắt của chú dán chặt vào thân hình của Mặc Lâm Na, làm cho nàng phải hổ thẹn cúi đầu.
Chú thoáng nghe nàng nói nho nhỏ :
- Ta xem thái độ của mi không phải là người xuất gia.
Tâm Đăng bị câu nói này làm cho giật mình tỉnh ngộ, sắc mặt đỏ bừng, ấp a ấp úng hỏi sang chuyện khác :
- Cô... cô muốn đi đâu?
- Tôi muốn rời khỏi xứ này vài hôm.
Dứt lời nàng khẽ chào Tâm Đăng rồi đi thẳng.
Tâm Đăng ngắm nhìn thân hình lả lướt của nàng lẩn khuất ở đằng xa, bỗng văng vẳng có tiếng của nàng nói với lại :
- Chừng nào trở về ta sẽ dạy mi khinh công và ám khí.
Tâm Đăng thẫn thờ nhìn cái ảo ảnh của người đẹp mà lẩm bẩm một mình :
- Đàn bà... thật là một sinh vật kỳ quặc.
Thần trí của chú mơ màng, dường như vừa đánh rơi một vật gì quý báu lắm, chú lủi thủi trở về Bố Đạt La Cung.
Chính vào lúc chú vừa đi được ba thước thì bỗng thoáng nghe có người vỗ tay nhè nhẹ, chú nghĩ thầm :
- Ủa! Sao nàng trở lại?
Quay đầu nhìn lại, Tâm Đăng sững sờ, vì dưới gốc cây cổ thụ có một nàng con gái che ngang vuông lụa đen qua mặt, mái tóc của nàng đen mượt óng ả như một đường tơ, hai bàn tay trắng muốt của nàng còn đang vỗ nhè nhẹ, vang lên những tiếng ròn rã.
- Trời!... Trì Phật Anh.
Một nguồn cảm giác vui mừng rộn rã tức khắc chế ngự lấy chú, hồi hộp nghĩ thầm :
- Chẳng hiểu nàng có phát giác ta nói chuyện với Mặc Lâm Na hay không?
Phật Anh thấy Tâm Đăng quay đầu trở lại, nàng bước tới tươi cười hỏi rằng :
- Mi đóng kịch thật giỏi, giả vờ là một người võ nghệ tầm thường.
Nghe câu nói này, chú biết tấn tuồng ban nãy đã bị Trì Phật Anh nhìn xem từ đầu chí cuối, chú hổ thẹn nhìn nàng trân trối mà nói chẳng ra lời.
Nhưng Phật Anh vẫn điềm nhiên :
- Lâu lắm không gặp, tóc của mi đã dài, mi quả thật muốn hoàn tục ư?
Tâm Đăng sờ mái tóc lưa thưa của mình trả lời :
- Tôi... quyết định ngày rằm Trung Thu năm tới sẽ hoàn tục, đồng thời sẽ đi làm rất nhiều việc quan hệ...
Phật Anh lộ vẻ kinh ngạc :
- Mi xuất gia từ nhỏ, thì còn việc chi dính líu với đời?...
Tâm Đăng trầm ngâm một chút trả lời :
- Tôi muốn tìm cha mẹ của tôi, tôi muốn tìm gốc tích của người đã đưa tôi vào cửa Phật.
Trì Phật Anh cười niềm nở :
- Người xuất gia nên xem mọi việc thảy đều là “không”. Mi quy y cửa Phật rồi mà còn hoàn tục để đi tìm cha mẹ, thì thật là một chuyện buồn cười!
Tâm Đăng nghiêm sắc mặt :
- Ý nghĩ của cô nương đã sai. Người xuất gia cũng phải có gia đình, nhưng gia đình của kẻ xuất gia thì to lớn rộng rãi hơn nhiều... Cái gia đình đó phù hợp với ý niệm của Khổng phu tử, tức là cái nghĩa “đại đồng chi đạo”... mặc dù là tiên là thánh cũng không nên quên nguồn gốc của mình, tôi phải tìm cho ra nguồn gốc của tôi mới được.
Phật Anh không ngờ câu nói của mình làm cho Tâm Đăng phải thuyết một hồi tràng giang đại hải, bất giác ôm bụng cả cười. Nàng hỏi :
- Những ngày ta vắng mặt, mi có gặp sư phụ của ta chăng?
- Mấy hôm trước có gặp một lần, bà ta bảo rằng mang cô đi xa, sao bây giờ cô trở lại?
Phật Anh thở dài trả lời :
- Sư phụ của ta tính thật là quái đản, người bảo ta đi rồi lại bảo ta về đây đợi người.
Nói đoạn nàng liền cùng Tâm Đăng trò chuyện những việc không đâu, lúc bấy giờ trời đã tối hẳn, một vành trăng lưỡi liềm từ từ nhô lên sau đầu núi.
Bầu không khí của đêm cao nguyên Tây Tạng đem đến cho người ta một cảm giác rất lạnh lùng.
Tâm Đăng nhìn thấy ánh trăng chảy dài trên hai cánh tay trắng muốt của Trì Phật Anh, chàng nghĩ :
- Chẳng biết khuôn mặt của nàng ra thế nào, nhưng cứ nhìn màu da trắng muốt thì hơn Mặc Lâm Na nhiều lắm, chắc nàng tuyệt đẹp, đẹp hơn Mặc Lâm Na nhưng tại sao nàng che mặt?
Thật là một điều ngẫu nhiên một cách lạ lùng, ý của Tâm Đăng vừa tới đó thì một cơn gió nhẹ thổi tới, phất nhẹ miếng lụa che ngang mặt của Trì Phật Anh, làm cho nàng phải thò tay ra đè lại.
Cặp mắt của Tâm Đăng thật là sắc bén, động tác của Phật Anh nhanh, Tâm Đăng còn nhanh hơn, trong một cái chớp chàng đã nhìn thấy nửa khuôn mặt của Phật Anh.
Chàng giật mình kinh hãi, đó là nửa khuôn mặt trái xoan đều đặn, màu da trong ngọc trắng ngà, một chiếc miệng bé bé xinh, bên vành môi thoáng hiện một nét hằn chứng tỏ nàng là một người nhiều nghị lực.
Chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ cho Tâm Đăng cảm thấy Phật Anh đẹp hơn Mặc Lâm Na nhiều lắm, chú tiếc rẻ vì chú chưa được thấy mắt của nàng.
Tâm Đăng còn đang bần thần bỗng nghe Phật Anh hỏi :
- Người con gái ban nãy là ai?
Giọng nói của nàng khó khăn lắm, Tâm Đăng vốn sợ câu hỏi này, nhưng sợ cũng trốn không thoát, chú gượng gạo trả lời :
- Cô ấy là bạn của tôi.
Dường như cảm thấy lối trả lời của mình không được ổn, chú lại nói tiếp :
- Cô ấy tên là Mặc Lâm Na, người Tây Tạng. Chúng tôi tình cờ quen nhau...
Phật Anh lẳng lặng gật đầu, không ai hiểu trong thâm tâm của nàng đang nghĩ gì.
Thì ra một nỗi buồn man mác đang chế ngự tâm tư của nàng, bảo rằng nàng “ghen” thì hơi sớm, thật là một cảm giác khó tả.
Nàng buồn bã lắm, nghĩ đến ba chữ Mặc Lâm Na nàng nghe thấy mình dường như sợ hãi, nàng nghe thấy mình có một cảm giác rằng nếu Mặc Lâm Na mà tồn tại thì đời nàng sẽ kém hạnh phúc vui tươi.
Một bầu không khí nặng nề bao trùm lấy hai người, Phật Anh không hỏi thêm điều gì nữa.
Lâu lắm Tâm Đăng mới gợi chuyện :
- Sư phụ của cô có nói cho cô biết nhưng chuyện ân oán của bà ta năm xưa?
- Chỉ nói một cách mơ hồ, dường như khi xưa bà ta thua một kẻ nào cay cú lắm nên nhờ ta báo thù giùm.
Tâm Đăng vội hỏi :
- Đồng thời bà ta ra sức dạy võ cho cô?
Phật Anh lắc đầu :
- Bà ta chỉ truyền một ít chiêu bằng miệng và bảo rằng bắt đầu từ tháng mới dạy một môn võ thật lợi hại cho tôi. Mi có biết bà ta sẽ nhờ tôi làm việc gì?
Tâm Đăng muốn kể chuyện bí ẩn mười tám năm về trước cho Phật Anh nghe, nhưng sợ gây ra nhiều việc rắc rối, vội lắc đầu nói :
- Tôi không biết... Ngày mai chúng ta sẽ nói chuyện lại.
Phật Anh nghe nói, ra chiều quyến luyến lắm, nàng đắm đuối bảo rằng :
- Thôi! Mi về trước! Ta nán lại ở đây một chút!
Tâm Đăng lấy làm lạ, chàng cảm thấy Phật Anh đã thay đổi hơn trước nhiều, bây giờ nàng có vẻ trầm lặng, đượm một vẻ ưu sầu làm cho người ta có cảm giác rằng Phật Anh là một con người đang đắm chìm trong cô độc một cách đáng thương.
Tâm Đăng tha thiết hỏi :
- Đêm đã khuya rồi, cô nán lại đây làm gì?
Phật Anh trả lời :
- Tôi thích ngồi lại đây một mình để suy nghĩ...
Thế rồi Tâm Đăng chào nàng mà quay đi, trong lòng chú rào rạt suy tưởng vì chú sắp sửa bước sang một cuộc đời mới.
Đêm đó, chú trằn trọc trên giường mà suy nghĩ đến hai buổi kỳ ngộ với hai nàng thiếu nữ trong ngày hôm nay.
Chú lai suy nghĩ đến người dạ hành bí mật đã truyền nghề riêng cho chú, chú thắc mắc muốn biết người này là ai.
Đã mấy lần chú vận công để giữ huyệt ngủ của mình, mong đánh lừa người ấy để nhìn mặt nhưng lần nào cũng bị hắn dùng phép cách không điểm chú bất tỉnh nhân sự.
Đêm nay chú nghĩ ra một kế, vội vàng mò sang giường một đồng đạo tên Yên Hải, bồng nó đặt nhẹ lên giường mình, đồng thời chú chui vào giường của Yên Hải mà lặng lẽ đợi chờ người quái khách.
Vẫn như mọi đêm, vừa bước sang đầu canh ba thì người khách dạ hành xuất hiện.
Tâm Đăng thấy một chiếc bóng gầy gò già cả thoáng hiện trên khung cửa sổ, lão ta thoát tay điểm huyệt của thằng Yên Hải.
Tâm Đăng khẽ hé mắt ra nhìn thấy lão ta nhẹ nhàng bay mình vào phòng, chú giật mình vì thân pháp của người này thật là êm ái.
Nhìn kỹ thấy đó là một ông lão ngoại thất tuần, mặc một chiếc áo rộng thùng thình, đầu sói không còn một cọng tóc, da mặt thì nhăn nheo, cặp mắt nhỏ mà dài, nhưng hào quang sáng rực, thoáng nhìn cũng biết là một tay nội công thâm hậu.
Lão phát giác ngay người trên giường không phải là Tâm Đăng nên kêu lên một tiếng kinh ngạc.
Ông ta rảo mắt nhìn quanh và bắt gặp Tâm Đăng nằm trên giường của Yên Hải.
Tâm Đăng thấy ông ta mỉm cười, chú vội vàng để hết tinh thần sẵn sàng chờ đột biến, chợt nghe bên tai chàng vang lên một câu nói bằng giọng Tứ Xuyên :
- Tiểu hòa thượng, chẳng lẽ muốn đem công lao khó nhọc của ta trao hết cho người khác?
Tâm Đăng biết lão ta phát giác ra mình còn thức, vội trỗi dậy xá chào mà rằng :
- A di đà Phật! Chẳng biết lão thí chủ tốn công khó nhọc gây dựng cho tôi có mục đích gì?
Lão già sói đầu cười ha hả, đưa tay sờ cằm mà nói rằng :
- Tiểu hòa thượng, mỗi đêm ta đến đây truyền Vô Hình công cho mi, thật ra có nguyên nhân khác chứ không vì lòng thương mi.
Câu nói chưa dứt thì Tâm Đăng đã mỉm cười cắt ngang :
- Thưa lão thí chủ, tôi đoán thí chủ chỉ vì thằng Trác Đặc Ba.
Lão già đầu sói nghe nói giật mình đánh thót, cặp mắt nhỏ bé của lão chớp nhanh lên mấy cái, dịu giọng hỏi rằng :
- Sao? Sao mi biết? Hay là Lãnh Cổ đã nói cho mi biết?
Tâm Đăng trả lời :
- Chính thế! Sư phụ của tôi đã nói cho tôi biết! Tôi đoán lão thí chủ đây chắc có lẽ là Khúc Tinh tiền bối.
Lão già đầu sói mỉm cười :
- Mi cũng biết Khúc Tinh... không phải, thằng Khúc Tinh đẹp hơn ta nhiều! Ta họ Vạn.
Tâm Đăng nghe nói mới chú ý thấy hai vành tai của ông lão đã mất, chú kêu lên :
- A... Ông là Vạn Giao?
Vạn Giao trừng mắt nói :
- Mi thật là vô lễ, sư phụ của mi còn gọi ta là Vạn huynh nữa là...
Tâm Đăng thật không ngờ người đứng trước mặt mình đây chính là một tay lục lâm thượng thặng, giới giang hồ nghe tên là vỡ mật, xếp hạng vào Thập Nhị Kỳ trong thiên hạ.
Vạn Giao ngồi xuống thành giường hỏi nhỏ Tâm Đăng :
- Vậy thì việc chúng ta trúng kế tại hồ Tuấn Mã hồi mười tám năm về trước mi đã rõ ngọn nguồn.
Tâm Đăng gật đầu :
- Tôi đã biết, chẳng rõ tiền bối bị nó gạt lấy mất vật gì đi?
Vạn Giao tức tối, đấm mạnh vào thành giường hằn học nói :
- Thằng khốn nạn Trác Đặc Ba tự hủy đi hai bàn chân để gạt lấy lệnh phù của ta... Đây, mi xem...
Nói rồi thò bàn tay tả ra, Tâm Đăng nhìn thấy ngón tay giữa của ông ta đã mất đi, trong lòng hoảng sợ, thì Vạn Giao nói tiếp :
- Năm mười tám tuổi thì tiếng tăm của ta đã vang dậy giang hồ, nên ta tự chặt ngón tay giữa, lấy xương lóng tay làm lệnh phù, không ngờ mười tám năm trước bị thằng Trác Đặc Ba dùng mẹo lấy đi...
Ta nhất quyết phải lấy trở về mới hả dạ!
Tâm Đăng trong dạ bàng hoàng, cớ sao người nào cũng đều nhờ chú làm việc này, không biết đây là một việc phúc hay là hoạ?
Nghĩ đến đây, chú hỏi Vạn Giao :
- Lão tiền bối định nhờ ai lấy lại vật này?
Vạn Giao gắt gỏng :
- Mi đừng giả vờ, ta định nhờ mi chứ còn nhờ ai nữa?
Tâm Đăng lắc đầu quầy quậy :
- Không được! Tôi đã hứa với sư phụ của tôi không giúp cho một người nào khác nữa, dù cho có giết tôi thì tôi cũng không dám làm giùm.
Vạn Giao cắt ngang câu nói :
- Ta không bao giờ ép uổng mi, chỉ e tình thế sẽ bắt buộc mi làm giùm ta.
Tâm Đăng vẫn lắc đầu :
- Không bao gờ, xin ông đừng truyền võ cho tôi nữa.
Vạn Giao mỉm cười :
- Ta đã bảo ta không bao giờ ép mi, nhưng bây giờ thì ta vẫn phải truyền võ cho mi đã...
Tâm Đăng vừa dợm từ chối thì ống tay áo của Vạn Giao đã phất lên một cái cực kỳ thần tốc, và Tâm Đăng bị điểm huyệt đờ người ra nằm ngửa trên giường.
Lão già giang hồ lão luyện đó mỉm cười đắc ý, nhảy xổ lên giường dùng chín ngón tay kỳ diệu của lão xoa nắn khắp toàn thân của Tâm Đăng.
Sáng ngày hôm sau, Tâm Đăng thức dậy, mồ hôi vã ra như tắm, theo lệ thường chú tắm rửa sạch sẽ, thụ trai xong Tâm Đăng liền đi đến ngôi nhà đá.
Khắc Bố đứng đợi chàng nơi cửa, Tâm Đăng hỏi thăm bệnh tình của Bệnh Hiệp mới biết ông ta trở bệnh, có vẻ mệt nhọc lắm.
Tâm Đăng vội bước vào bên trong, thấy Bệnh Hiệp nằm ngửa trên giường, sắc mặt trắng bệch.
Thấy Tâm Đăng, Bệnh Hiệp hổn hển nói :
- Bệnh tình của ta ngày càng trầm trọng vì vậy ta muốn gấp rút truyền Thiên Phong chưởng cho mi... nhược bằng ta không đủ sức khoẻ để dạy, ta có thể dùng tay viết mực để truyền cho mi.
Tâm Đăng nghe nói, nước mắt như mưa. Bệnh Hiệp quay sang bảo Khắc Bố :
- Mi trao chiếc túi kia cho ta!
Nhận chiếc túi vải, Bệnh Hiệp ôm chặt nó vào giữa ngực, và trên gương mặt của ông ta thoáng hiện một nét cười tươi, ông ta thì thầm :
- Đây là hài cốt của Văn Dao, ta muốn cho nàng trông thấy ta truyền võ cho hai mi... rất tiếc nàng đã mất, nếu nàng còn sống chắc thích hai mi lam...
Ngẫm nghĩ một chút Bệnh Hiệp nối lời :
- Bây giờ ta có vài lời trăn trối. Thứ nhất: khi bệnh tình của ta trầm trọng, chúng bay phải bình tĩnh không nên rối loạn.
Thứ nhì nếu sau này Tâm Đăng có thể lấy về chiếc lông Khổng Tước, phải mang đến Tứ Xuyên trao cho một người tên là Kiết Trường Thanh.
Thứ ba, nếu ta có chết đi thì Tâm Đăng phải nhờ sư phụ của mi rắc thuốc hóa thi cho tan xác, đựng hài cốt của ta trong chiếc túi vải này trao cho Kiết Trường Thanh.
Về thân thế của Tâm Đăng thì ta có biết sơ qua, nhưng bây giờ không tiện nói ra cho mi biết... Mi có thể hỏi sư phụ của mi thì sư phụ mi sẽ kể cho mi rõ.
Bệnh Hiệp nói dứt lời bắt đầu ho lên rũ rượi, và ông ta lại nhét vào miệng một viên thuốc đoạn truyền thụ Thiên Phong chưởng cho Tâm Đăng.
Sau khi học hết một bài, thầy trò lại nghỉ ngơi trò chuyện, và Tâm Đăng kể cho Bệnh Hiệp nghe rằng mình đã phát giác người khách bí mật kia chính là Vạn Giao.
Bệnh Hiệp nghe nói giật mình, Tâm Đăng cười nói :
- Hắn chính là Vạn Giao và hắn đã nhìn nhận đang truyền Vô Hình công cho tôi.
Bệnh Hiệp nghe nói giật mình, ông ta lẩm bẩm :
- Ta cứ ngỡ là Khúc Tinh... thật là lạ... không ngờ thằng Vạn Giao lại tìm đến mi.

Xem tiếp chương 11 Bán dạ tam canh Vạn Giao trêu người đẹp

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:01 pm

Chương 11 Bán dạ tam canh Vạn Giao trêu người đẹp

Bệnh Hiệp trầm ngâm suy nghĩ đoạn nói tiếp :
- Vạn Giao là một thằng phi thường lợi hại, ta e mi sẽ gặp nhiều điều bất trắc.
Ba thầy trò trò chuyện thêm một chốc rồi Tâm Đăng từ giã trở về chùa.
Thời gian trôi qua rất nhanh, thấm thoát đã năm ngày trôi qua, trong năm ngày này Tâm Đăng mỗi ngày đều lên ngôi nhà đá để học Thiên Phong chưởng.
Chiều hôm đó, Tâm Đăng đi thơ thẩn trước cổng chùa trầm tư mặc tưởng, đã lâu lắm rồi chú cơ hồ lãng xa sự tụng kinh gõ mõ, bấy giờ chợt nhớ đến, trong lòng chú nghe buồn khổ lắm, chú nghĩ rằng :
- Chẳng lẽ ta lại thoát ly với nhà Phật, chẳng lẽ công lao tu hành khó nhọc mười mấy năm trường lại trôi theo dòng nước?
Càng nghĩ Tâm Đăng càng sầu khổ, chú cố xua đuổi cái tư tưởng u buồn đó, chú cố tưởng tượng trong trí mình cái cảnh chú sẽ thành danh trong chốn giang hồ, thu được tất cả tín vật của Cô Trúc và Bệnh Hiệp, và mỗi ngày chú sẽ sống vui vẻ bên cạnh Trì Phật Anh và Mặc Lâm Na.
Lạ lùng thay, sự ảo tưởng đó không đem lại cho chú một nguồn vui thú nào, ngược lại còn mang đến cho tâm hồn chú một nỗi buồn mênh mang vô tận...
Cái viễn ảnh đó còn xa lắm đối với chú, nhưng chú cảm thấy dường như sợ hãi nó sẽ đến với chú.
Tâm Đăng còn đương nghĩ ngợi bỗng thấy Khắc Bố từ xa chạy tới như bay, thần sắc kinh hoàng dường như đang gặp một biến cố gì lớn lao lắm.
Tâm Đăng vội hỏi :
- Việc gì thế?
Khắc Bố nói chẳng ra lời, hơi thở hổn hển, Tâm Đăng thấy vậy vội vàng vỗ vai hắn mà hỏi :
- Khắc Bố, việc gì thế?
Khắc Bố lấy lại bình tĩnh mới nói ra được một câu :
- Sư phụ...
Tâm Đăng rú lên một tiếng thảm thiết, chạy như bay về ngôi nhà đá.
Đến nơi, Tâm Đăng thoáng nghe từ bên trong có tiếng rền rĩ vang ra, chú kinh tâm táng đởm, chân không dừng gót, chú chạy xô vào phòng và trước mắt chú bày khai ra một cảnh tượng cực kỳ bi thảm.
Bệnh Hiệp sắc mặt đỏ bừng, tóc tai rũ rượi, hai tay ôm trước ngực, nước dãi chảy dài xuống cằm, toàn thân ông ta run rẩy, và buông ra những tiếng rên khừ khừ thật là kinh rợn...
Tâm Đăng vừa định nhảy xổ tới, nhác trông thấy bên cạnh có một tấm giấy đề dòng chữ :
“Đừng chạm đến mình ta, đừng sợ, ta không chết”.
Dòng chữ còn chưa ráo mực, chắc mới viết đâu đây.
Tâm Đăng quỳ xuống bên cạnh giường lâm râm niệm Phật, tiếng kinh hòa lẫn với tiếng rên rỉ của bệnh nhân.
Thình lình Bệnh Hiệp giật bắn mình lên, kêu lên một tiếng cuống cuồng :
- Ta không...
Nói đến đây thì thân hình của ông ta rơi bịch xuống mặt giường, toàn thân rũ liệt.
Tâm Đăng thò tay sờ vào ngực của Bệnh Hiệp, nghe thấy quả tim vẫn còn đập nên mới yên lòng.
Sắc mặt của Bệnh Hiệp dần dần tươi tỉnh, Tâm Đăng khẽ hỏi :
- Sư phụ nghe thấy thế nào?
Bệnh nhân chỉ chớp mắt không trả lời, ông ta đờ người ra như khúc gỗ, Tâm Đăng và Khắc Bố quỳ bên cạnh giường nức nở từng cơn.
Sực nhớ lời trối trăn của Bệnh Hiệp mấy hôm trước, Tâm Đăng vội vàng mang bút mực trao tận tay của ông, và kê giấy vào cho ông viết.
Bệnh Hiệp gắng gượng lắm mới có thể viết mấy dòng chữ.
- Bệnh của ta nặng lắm, từ đây ta sẽ dùng giấy mực để truyền Thiên Phong chưởng cho mi.
Ông ta lại viết :
- Mi hãy lấy chiếc hộp trên giường đến đây cho ta.
Bệnh Hiệp thò bàn tay run rẩy đón lấy chiếc hộp, mở ra, Tâm Đăng thấy bên trong có hai chiếc lọ, một chiếc màu đỏ, một chiếc màu trắng.
Bệnh Hiệp lại viết rằng :
- Mi hãy nhớ, khi đi tìm thằng Trác Đặc Ba để lấy chiếc lông Khổng Tước, thì bôi thuốc trong lọ màu đỏ lên mặt để cải trang, khi xong việc rồi thì dùng thuốc trong lọ màu trắng để tẩy sạch thì sẽ khôi phục lại hình dáng như cũ.
Thấy bệnh tình ông ta có mòi dịu, Tâm Đăng bèn trở về chùa. Nhưng đêm ấy chú trằn trọc không ngủ được, muốn đi thăm Bệnh Hiệp mà không dám, chú đoán chắc giờ này ông ta đang vẽ đồ hình đường võ Thiên Phong chưởng cho chú.
Chắp tay sau lưng Tâm Đăng đi đi lại lại dưới hiên chùa, nghĩ ngợi triền miên đến những việc sắp xảy ra trong tương lai...
Chú lấy làm ân hận, vì sao chú sinh ra làm con người, để phải chịu nhiều điều cay đắng, mặc dầu chú lánh thân nơi cửa Phật, nhưng việc đời cứ mãi vương vít lấy chú...
Còn đang suy nghĩ mông lung, bỗng nghe văng vẳng từ xa đưa đến có tiếng quát nạt vang trời.
Tâm Đăng giật mình thầm nghĩ :
- Bố Đạt La Cung lại xảy ra biến cố...
Đoạn chú cất gót đi về phía tiếng hô hét đưa ra, vượt qua lầu chuông rồi vòng qua lầu trống, nơi đó là một khoảng đất rộng.
Lúc bấy giờ đêm đã khuya nên không có người qua lại, chú vội vã thu hình vào một khóm hoa rồi rảo mắt nhìn ra ngoài, thấy có một người thiếu nữ, nhan sắc cực kỳ xinh đẹp, đang dùng một thân pháp thần tốc vây đánh một lão già...
Nhìn kỹ, Tâm Đăng suýt buột mồm reo lên, thì ra thiếu nữ đó chính là Mặc Lâm Na, nàng đương trổ thuật khinh công thượng thặng dùng bình sinh sở học, quyết chiến với lão già này...
Điều làm cho Tâm Đăng càng thêm hãi hùng là lão già này đầu sói, không một cọng tóc, lại thêm mất hai vành tai, chính là Vạn Giao.
Lúc bấy giờ, Vạn Giao buông ra mấy tiếng cười khoái trá, hai ống tay áo của ông ta bay ra vùn vụt, mỗi đợt tấn công là đem đến cho Mặc Lâm Na nhiều trở ngại...
Sắc diện của Mặc Lâm Na hằn học lắm, nàng nghiến răng ken két, tấn công vù vù, chẳng hề nao núng, thỉnh thoảng lại buông ra vài tiếng Tây Tạng mắng nhiếc thậm tệ :
- Thằng quỷ già, ta quyết giết mi mới nghe!
Vạn Giao cười ồ ồ, dùng tiếng Tứ Xuyên trả lời :
- Con quỷ nhỏ! Mi nói gì ta cũng không hiểu, bản lĩnh của mi thật đáng khen cho đó...
Mặc Lâm Na không biết nghe tiếng Tứ Xuyên, ngỡ rằng Vạn Giao trêu chọc mình, rủa sả ầm ĩ.
Bất thình lình, nàng hét lên một tiếng lanh lảnh, hai bàn tay ngọc xỏ chéo vào nhau theo thế Song Dương, móc cặp mắt đối phương.
Vạn Giao cười ha hả :
- Hay lắm! Hay lắm!
Vừa nói ông ta vừa dùng một thân pháp thần tốc lòn ra sau lưng của Mặc Lâm Na, vươn bàn tay xuất một đòn trả Vân Yếm Nhật chụp vào hậu tâm của nàng.
Với tài bộ của Mặc Lâm Na làm sao tránh khỏi miếng đòn cay độc đó, chính vào lúc Vạn Giao sắp sửa thành công thì một câu nói vang lên :
- Khoan...
Rồi một chiếc bóng mờ từ trong khóm hoa bắn vụt về phía Vạn Giao trong cái thế Tá Hoa Hiến Phật.
Vạn Giao vội vàng thâu chưởng và Tâm Đăng đã đứng sừng sững giữa hai người...
Phát giác ra người mới đến chính là Tâm Đăng, Vạn Giao ha hả cả cười :
- Tiểu hòa thượng, cớ sao mi can thiệp?
Tâm Đăng ấp úng :
- Người này là bạn của tôi...
Câu nói này làm cho Vạn Giao cười vỡ lở :
- Ha ha... ha ha... người xuất gia mà có bạn gái...
Tâm Đăng và Mặc Lâm Na bị chuỗi cười của lão già này làm cho đỏ bừng sắc mặt. Mặc Lâm Na lại mắng lên vài câu bằng tiếng Tây Tạng.
Tâm Đăng sợ nàng làm cho Vạn Giao nổi giận, vội giới thiệu rằng :
- Đây là Vạn lão tiền bối...
Tâm Đăng chưa nói dứt lời thì Vạn Giao đã quát :
- Tâm Đăng, đừng nói tên của ta ra...
Mặc Lâm Na tức giận bồi hồi, xoay lưng bỏ chạy, Tâm Đăng gọi với theo :
- Mặc Lâm Na... trở lại...
Nhưng nàng vẫn đi thẳng vào bóng đêm.
Đợi nàng đi khuất rồi, Vạn Giao mới nói :
- Tiểu hòa thượng, con nhỏ chỉ thuộc hạng tầm thường, so với mi kém xa, đợi khi nào mi hoàn thành công việc, ta sẽ giới thiệu cho mi một người con gái trẻ đẹp hơn...
Tâm Đăng càng nghe càng trái tai, nói lảng sang chuyện khác :
- A di đà Phật! Xin thí chủ chớ đùa...
Vạn Giao vuốt chòm râu của mình nói :
- Mi có biết ta hôm nay đến đây làm gì?
Tâm Đăng lắc đầu, Vạn Giao sờ đầu sói của mình đoạn nói :
- Tiểu hòa thượng, con người ta muốn luyện võ đến tinh vi không phải là một điều dễ dàng.
Thứ nhất, phải có một khiếu thông minh sáng suốt.
Thứ nhì, phải trải qua một thời gian dài dày công tập luyện.
Thứ ba, cần phải có một vị danh sư chỉ dạy... Trong ba điểm này thì điểm thứ ba quan trọng nhất.
Tâm Đăng lấy làm lạ. cớ sao ông ta lại bật ngang nói về vấn đề này? Còn đang sững sờ thì Vạn Giao nói tiếp :
- Mày điếc ư, không nghe ra giọng nói của ta?
Vạn Giao “à” lên một tiếng kinh ngạc, cười lên một tiếng khanh khách :
- Ngỡ là ai, rõ ra là Cô Trúc lão nhân... Mười tám năm không gặp, xin bước ra đây diện kiến.
Dứt lời, từ trong khóm trúc bước vòng ra một người, đó chính là Cô Trúc.
- Kinh đô Tây Tạng lại sắp xảy ra nhiều biến cố lôi thôi rồi đó... Lạc Giang Nguyên, Lư Âu, ta và mi... trước sau thảy đều ra mặt... nghe đâu Thiết Điệp cũng dạy được một tên đồ đệ, hai thầy trò dông đến Tây Tạng... xem tình thế này thì món nợ mười tám năm về trước chẳng ai quên cả!
Vạn Giao nghe qua, tinh thần phấn khởi cười rằng :
- Thế mới thú! Ngày xưa thằng Trác Đặc Ba chẳng dùng độc kế, ngày nay chúng ta đâu có tụ họp nơi này.
Cô Trúc hỏi :
- Lão Vạn, mi truyền võ cho Tâm Đăng?
Vạn Giao đỏ mặt trả lời :
- Thằng này có cốt cách thật phi phàm nhưng e ta chẳng có diễm phúc làm thầy nó!
Cô Trúc nghiêm sắc mặt :
- Mi truyền võ cho nó chỉ vì mấy cái lóng xương tay của mi! Nhưng ta bảo cho mi biết, Tâm Đăng chỉ có thể đi lấy lệnh phù cho ta mà thôi, còn việc riêng của người khác thì ta không biết tới.
Tâm Đăng vọt miệng trả lời :
- Thưa sư phụ, tôi không học võ của ông ta.
Cô Trúc cười rằng :
- Vạn lão tiền bối là một bậc kỳ nhân trong làng võ, mi bỏ qua rất uổng!
Tâm Đăng sững sờ không biết thâm ý của Cô Trúc ra sao.
Vạn Giao nói tiếp :
- Tiểu hòa thượng mi cứ yên trí, ta truyền võ cho mi là một việc, còn mi chịu giúp ta hay không là chuyện khác, ta không hề ép uổng mi...
Tâm Đăng liếc nhìn gương mặt Cô Trúc, thấy ông ta đang trao cho mình một cái nhìn tỏ vẻ đồng ý nên chàng trả lời :
- Nếu tiền bối có lòng tốt thì tôi cũng xin học, nhưng xin thanh minh trước là sau này tôi không chắc sẽ làm giùm công việc cho tiền bối.
Vạn Giao tươi cười :
- Mi cứ yên trí!

Xem tiếp chương 12 Người khách lạ phương xa

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:01 pm

Chương 12 Người khách lạ phương xa

Cô Trúc nghiêm sắc mặt bảo với Tâm Đăng rằng :
- Ta có việc cần kíp phải đi, mi ráng ở lại chịu khó luyện võ.
Nói rồi xá chào Vạn Giao đoạn quay lưng đi vào đêm tối.
Vạn Giao bước tới vỗ vai Tâm Đăng mà nói :
- Bắt đầu từ ngày mai mi cứ công khai mà luyện võ với ta.
Tâm Đăng mơ màng gật đầu, thế là thêm một tay giang hồ lão luyện lại đi vào đời của Tâm Đăng.
Thời gian qua rất nhanh.
Lại thêm 5 ngày nữa trôi qua.
Khí hậu ở kinh đô Tây Tạng bắt đầu lạnh lẽo, đồng đạo của Tâm Đăng thảy đều mặc thêm một lớp áo ở bên ngoài, nhưng Tâm Đăng vẫn mặc một manh áo mỏng manh mà không sợ rét.
Trong năm ngày này, Bệnh Hiệp lại trở bệnh thêm một lần nữa, bệnh tình thật là trầm trọng.
Tâm Đăng buồn rầu lắm, mười mấy năm tu hành vẫn không giải thoát được tư tưởng cho chú, chú vẫn bị “sinh lão bệnh tử” chi phối tâm tư.
Một hôm chú đi thăm Bệnh Hiệp, thấy ông ta nằm trên giường bệnh, hơi thở yếu mòn, lần này ông ta không thể cầm bút mà truyền võ nữa, chỉ dùng cặp mắt lờ đờ để truyền đạt tư tưởng mà thôi.
Tâm Đăng học võ qua hình thức đó, thực là cực khổ vô cùng. Suốt buổi sáng, chú phải phí rất nhiều sinh lực.
Lúc trở về chùa, chú tắm gội xong bèn lên chính điện, nơi ấy lúc bấy giờ khói hương nghi ngút, có rất nhiều thiện nam tín nữ đang hành hương.
Chú thấy rất nhiều đồng đạo đang tiếp đại Phật tử, chú cảm thấy mình bây giờ là một con người đặc biệt với Bố Đạt La Cung.
Chú lặng lẽ đốt ba nén hương rồi làm lễ!
Đang lúc chú để hết tinh thần khấn vái, bỗng nghe sau lưng chú có tiếng nói :
- Tiểu hòa thượng, lễ xong xin nhường chỗ cho tôi.
Tâm Đăng quay đầu nhìn lại, thấy đó là một bà lão già, choàng một tấm khăn màu đen qua mái tóc bạc của bà ta, thu hai bàn tay co ro trong ống tay áo.
Nét nhăn trên khuôn mặt bà lão thật ít, lại không có vẻ già nua cho lắm. Trái lại, sắc mặt hồng hào, đôi mắt rất to, khuôn mặt khá đẹp, nhưng Tâm Đăng đoán chắc bà này đã ngoài thất tuần.
Tâm Đăng vội vàng nhường chỗ, bà ta tươi cười hỏi :
- Tiểu hòa thượng ở trong chùa này có phải chăng?
Tâm Đăng cung kính trả lời :
- Phải! Tôi xuất gia ở chùa này từ thủa nhỏ.
Bà ta trố mắt kinh dị :
- Xuất gia... sao còn chừa tóc?
Tâm Đăng e thẹn :
- Tôi quả thật là người xuất gia, tên Tâm Đăng, ngụ tại Bố Đạt La Cung đã mười tám năm rồi.
Bà lão gật gù, không nói gì nữa, ngồi trên bồ đoàn lâm râm khấn vái.
Tâm Đăng để ý thấy bà ta khấn một chặp đoạn đứng dậy mỉm cười nhìn Tâm Đăng.
Và bà lão chen lấn trong làn sóng người mà đi ra ngoài, vì người ta đông nên bước đi rất khó nhọc, Tâm Đăng vội vàng bước tới dẫn bà lão, chen lấy một con đường để ra ngoài.
Ra khỏi làn sóng người, bà ta lau mồ hôi nói với Tâm Đăng :
- Bố Đạt La Cung hương hỏa thật là thịnh vượng, lời đồn không sai.
Tâm Đăng nói :
- Chắc thí chủ đến đây lần đầu?
Bà lão nhớn nhác nhìn quanh :
- Không, ta thường đến... nhưng cách đây mười mấy năm rồi.
Tâm Đăng càng nghe càng lấy làm lạ lại hỏi :
- Sao cách mười mấy năm thí chủ không đến?
Bà lão vuốt mái tóc bạc phơ của mình thì thầm :
- Bởi vì ta đã rời khỏi Tây Tạng mười tám năm...
Tâm Đăng nghe đến ba tiếng “mười tám năm” liền khẽ giật mình, chú cảm thấy bà lão này có nhiều nét khác thường, vụt liên tưởng đến vụ án Trác Đặc Ba chú nghĩ :
- Hay là bà lão này cũng vì vụ đó mà đến đây, vậy thì bà ta chắc chắn sẽ là một bậc dị nhân có nhiều tuyệt kỹ.
Chợt nghe bà lão tò mò hỏi :
- Ta nghe giọng nói của tiểu hòa thượng thì dường như không phải là người Tây Tạng?
Tâm Đăng trả lời :
- Phải! Tôi không phải là người Tây Tạng, tôi vào chùa này hồi một tuổi.
Bà lão “À” lên một tiếng kinh dị, nhìn Tâm Đăng chằm chặp nói :
- Chú bước sang bên kia cho tôi nói chuyện một chút.
Không biết một nguồn mãnh lực nào làm cho Tâm Đăng ngoan ngoãn theo chân bà lão, và hai người ngồi xuống một gốc cây trò chuyện.
Bà lão hỏi gằn lại :
- Ban này tiểu hòa thượng nói hòa thượng tên là gì?
Tâm Đăng trả lời :
- Tên tục của tôi là Chính Dung, pháp danh là Tâm Đăng.
Bà lão lại kêu lên một tiếng tỏ vẻ kinh ngạc :
- À... Tâm Đăng, tôi hỏi chú, chú có phải là người học võ?
Tâm Đăng biết mình có chối cũng không được, chú thú thật :
- Tôi có học qua loa!
Bà lão gật gù :
- Xem nhãn thần của chú thì chú học võ cao thâm lắm.
Tâm Đăng hổ thẹn :
- Thí chủ quá khen!
Thình lình bà ta nhìn thẳng vào mặt Tâm Đăng hỏi một câu đường đột :
- Chú có phải là học trò Cô Trúc?
Tâm Đăng hạ thấp giọng hỏi :
- Lão tiền bối là ai?
Bà ta mỉm cười :
- Chắc Cô Trúc đã có nói cho chú biết, ta họ Thiết.
Tâm Đăng trong lòng kinh hãi, chắp tay xá chào :
- Xin Thiết lão tiền bối tha thứ cho...
Thì ra bà này chính là Thiết Điệp, lần này bà ta trở về Tây Tạng cùng chung một mục đích: tìm Trác Đặc Ba!
Thiết Điệp hiền từ hỏi :
- Thầy mi hiện giờ ở đâu?
- Ở Tây Tạng.
- Cô Trúc tìm được mi quả thật là một điều may mắn, ta xem mi chắc chắn có thể hoàn thành sứ mạng.
Bà ta lại hỏi :
- Việc mười tám năm về trước, chắc Cô Trúc đã có nói cho mi biết?
- Thưa vâng!
- Chắc mi còn biết một người tên là Lạc Giang Nguyên?
Tâm Đăng kêu lên :
- Đó là Bệnh Hiệp, tôi biết...
Thiết Điệp lấy làm lạ :
- Sao chú biết?
Tâm Đăng thở dài nói :
- Vì ông ta truyền võ cho tôi, và bây giờ... ông ta bệnh nặng, sắp qua đời.
Thiết Điệp giật mình đứng phắt lên hỏi gấp rút :
- Ông ta sắp chết?
Tâm Đăng ảo não gật đầu :
- Phải... ông ta ngụ ở gần đây...
Bà ta buồn rầu lắm, nhìn Tâm Đăng nói :
- Chú đưa tôi đi thăm ông ấy, mười tám năm rồi mà bệnh của ông ta không trị được.
Tâm Đăng nghĩ rằng Thiết Điệp là bạn cũ của Bệnh Hiệp, nếu có dẫn đi thăm chắc Bệnh Hiệp cũng không bắt lỗi.
Vì vậy nên gật đầu trả lời :
- Vậy thì nên đi ngay bây giờ!
Nói đoạn dắt bà ta đi về phía ngôi nhà đá, Thiết Điệp lấy làm lạ hỏi :
- Sao ông ta ở trong ấy?
Tâm Đăng không thể nào trả lời câu hỏi này nên chỉ im lìm không mở miệng.
Và rốt cuộc hai người bước tớ bên giường của Bệnh Hiệp, ông ta vừa nhác trông thấy Thiết Điệp, trong ánh mắt lập tức tỏa ra một thứ cảm giác thật là vui mừng, long lanh ngấn lệ.
Ông ta không ngờ ngày hôm nay Thiết Điệp đến bên giường bệnh thăm ông ta.
Thiết Điệp mở lời hỏi :
- Lạc huynh, bệnh tình thế nào?
Ông ta không thể trả lời chỉ dùng ánh mắt tỏ vẻ cảm ơn mà thôi.
Thiết Điệp trông thấy một tay anh hùng hảo hán, ngang dọc khi xưa, bây giờ phải nằm trên giường bệnh, bất giác thờ dài nói :
- Thằng Trác Đặc Ba hại chúng ta quá lẽ, mối thù này dầu sao tôi cũng phải báo.
Bệnh Hiệp dùng ánh mắt khẽ bảo Tâm Đăng, Tâm Đăng hội ý, hỏi Thiết Điệp rằng :
- Sư phụ tôi muốn biết gần đây trong chỗ giang hồ có gì thay đổi?
Thiết Điệp trả lời :
- Các tay cao thủ thảy đều lục tục trở về Tây Tạng... Riêng ta, ta chỉ có thu được một đứa học trò, ta nghĩ rằng nó có thể hoàn thành sứ mạng cho ta.
Tâm Đăng nghe qua mừng rỡ hỏi :
- Thiết sư bá cũng có đồ đệ ư? Sao tôi chẳng thấy?
Thiết Điệp trả lời :
- Nó còn lưu lại trong khách sạn, chẳng có theo ta hành hương! Võ công của nó chắc kém mi nhiều lắm!
Khắc Bố vọt miệng hỏi :
- Nó được bao nhiêu tuổi?
Câu hỏi ngớ ngẩn này làm cho Thiết Điệp cười ha hả. Bỗng tiếng cười của bà ta vụt tắt, vì bà ta vừa bắt gặp một chiếc túi nho nhỏ nằm bên cạnh của Bệnh Hiệp.
Bà ta hỏi :
- Trong này đựng gì?
Tâm Đăng cung kính trả lời :
- Đây là hài cốt của Bệnh sư mẫu.
Thiết Điệp thờ dài ảo não :
- Đây là hài cốt của Văn Dao.
Thì ra ngày xưa Thiết Điệp và Văn Dao là hai người bạn chí thiết, nên bây giờ Thiết Điệp nhìn thấy hài cốt của Văn Dao là xúc động tâm tình, nước mắt rưng rưng.
Chính vào lúc Thiết Điệp đang bồi hồi cảm xúc thì từ bên ngoài vang lên một câu nói :
- Chính là ngôi nhà này, ta nhìn không sai!

Xem tiếp chương 13
Chống âm thanh ma quái,
Tâm Đăng hoàn thành tuyệt kỹ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:02 pm

Chương 13
Chống âm thanh ma quái,
Tâm Đăng hoàn thành tuyệt kỹ

Khắc Bố đứng phắt dậy, chạy ra bên ngoài thấy một gã thiếu niên mập mạp độ chừng mười chín tuổi, hắn thấy Khắc Bố mỉm cười hỏi :
-Xin hỏi ai ở trong ngôi nhà này?
Đó là một câu nói theo giọng Bắc Kinh nên Khắc Bố nghe không hiểu phải hỏi lại một lần nữa.
Gã thiếu niên cố gắng nói lại một lần, Khắc Bố mới nghe ra, chàng hỏi lại :
- Mi tìm ai?
- Tìm sư phụ của ta.
Khắc Bố lấy làm lạ, ngắm kĩ thiếu niên đoạn hỏi :
- Ở đây chẳng có sư phụ của mi.
Gã thiếu niên cau mày :
- Vậy thì sư phụ của ta ở đâu?
Khắc Bố nổi giận :
- Sư phụ của mi ở đâu sao ta biết được? Đi đi...
Thiếu niên cũng nổi cáu, gắt gỏng hỏi lại :
- Mi thật là vô lễ, mở miệng là đòi đuổi ta...
Thế là hai người cãi vã ầm ĩ, một người dùng tiếng Bắc Kinh, một người dùng tiếng Tây Tạng, ngôn ngữ bất đồng càng làm cho đôi bên thêm sự hiểu lầm.
Tâm Đăng nghe có ồn ào, huyên náo, vội chạy ra, chú hỏi :
- A di đà Phật! Chẳng hay tiểu thí chủ có việc chi cần?
Gã thiếu niên quay lại, nhìn Tâm Đăng trân trối, nhại :
- A di đà Phật! A di đà Phật! Thì ra mi là người ăn chay.
Thái độ cực kỳ khắc bạc, Tâm Đăng cố tảng lờ hỏi tiếp :
- Xin hỏi tiểu thí chủ đến đây tìm ai?
- Ta đã bảo ta đi tìm sư phụ của ta.
Tâm Đăng thấy thái độ ngớ ngẩn của người ấy, trong dạ buồn cười lắm nhưng vẫn giả vờ nghiêm trang :
- Chẳng hay lệnh sư cao danh quý tính là chi?
Thiếu niên trả lời :
- Sư phụ ta họ Thiết, tức là “con bươm bướm bằng sắt” ấy mà.
Tâm Đăng nghe nói giật mình, vội cười trả lời :
- Vậy xin tiểu sư huynh hãy bước vào bên trong.
Nói rồi hướng dẫn gã thanh niên vào nhà để gặp Thiết Điệp. Vừa bước vào nhà thấy Thiết Điệp và Bệnh Hiệp đang ngắm nhìn chiếc túi đựng hài cốt của Văn Dao mà bùi ngùi than thở.
Bỗng nhiên Tâm Đăng thấy Bệnh Hiệp quắc mắt nhìn người mới vào, làm cho Tâm Đăng và Khắc Bố lấy làm lạ chưa kịp có phản ứng, bỗng thình lình Thiết Điệp dùng ống tay áo vả một cái thật nhanh vào mồm người mới đến, một tiếng “bốp” vang lên, mồm của hắn tức khắc ứa ra máu tươi.
Thiết Điệp thét :
- Đồ súc sinh, quỳ xuống!
Gã thiếu niên hốt hoảng vội quỳ xuống. Thiết Điệp hầm hừ nói :
- Tiểu Thạch, ta đã bảo ở nhà thì có thể tự tung tự tác, khi ra đường, phải biết giữ lễ độ... Mi phải biết vị này là một vị thiên hạ kỳ nhân, Bệnh Hiệp Lạc Giang Nguyên nay...
Tiểu Thạch nghe nói người gầy gò ốm yếu kia chính là Bệnh Hiệp, giật mình kinh hãi, lắp bắp nói rằng :
- Xin tha cho tội vô lễ, tôi thật là bất kính.
Nói rồi nức nở, Thiết Điệp nắm lấy tay hắn, xách đầu lên hét :
- Câm mồm lại.
Tâm Đăng thấy Tiểu Thạch ngơ ngơ ngáo ngáo, trong dạ lấy làm buồn cười, chàng không hiểu sao Thiết Điệp lại thâu một người ương ương gàn gàn như thế để làm đồ đệ?
Thiết Điệp thở dài nói với Bệnh Hiệp :
- Mười tám năm nay tôi tốn biết bao tâm huyết mới dạy được thằng này, nó tên là Thẩm Tiểu Thạch, năm nay mười chín tuổi, tính tình thật là quái đản.
Lúc bấy giờ, trời đã chiều, Thiết Điệp bèn đứng dậy tạ từ lui ra.
Sau vài lời cảm ơn, Bệnh Hiệp dùng mắt bảo hai tên đồ đệ đưa hai thầy trò Thiết Điệp ra ngoài.
Khi trở vào, hai người thấy Bệnh Hiệp đang dùng cặp mắt lờ đờ ngắm nhìn trần nhà, Tâm Đăng nghĩ chắc giờ này Bệnh Hiệp đang hồi tưởng lại cái thủa oanh liệt của mình khi xưa.
Chiều hôm đó, Tâm Đăng trở về chùa với một tâm tình đau buồn ủ rũ.
Và không bao lâu thì đến buổi Vạn Giao đến truyền võ, Tâm Đăng vốn không muốn học nhưng vì Cô Trúc bằng lòng nên chàng phải gắng gượng học với Vạn Giao.
Đêm ấy, Vạn Giao dắt Tâm Đăng đến một nơi vắng vẻ, bảo chàng ngồi im lìm nhập định, đoạn bắt đầu một lối truyền võ lạ lùng.
Ông ta bảo Tâm Đăng nhắm mắt lắng nghe tiếng gió, đoạn thình lình trổ bàn tay hữu ra, sử dụng một thế Lục Dã Tầm Phong điểm vào giữa trán của Tâm Đăng.
Ngón tay của ông ta cách trán của Tâm Đăng chừng nửa thước, chợt nghe Tâm Đăng kêu lớn lên :
- Sư bá điểm huyệt Mi Tâm của tôi.
Vạn Giao giật mình, rút bàn tay hữu trở về, trong lòng mừng rỡ nghĩ thầm :
- Theo thủ pháp của ta thì dầu cho bậc võ công thượng thặng cũng khó phát giác, bây giờ nó nhắm mắt mà nghe thấy thì công phu thật là đáng sợ.
Vạn Giao còn đang kinh dị, bỗng nghe Tâm Đăng hỏi :
- Vạn sư bá, sao không điểm nữa?
Vạn Giao kêu lên :
- A... mi chú ý, ta điểm đây.
Nói rồi bàn tay của ông ta thò ra một đường nhanh như vượn, sử một thế Nhập Sơn Vấn Tiều dùng hai ngón tay điểm vào giữa ngực của chú.
Cũng như ban nãy, Tâm Đăng kêu lên :
- Sư bá điểm huyệt Linh Đài!
Câu nói chưa dứt thì Vạn Giao gia tăng tốc độ, hai bàn tay cùng xuất ra một lượt, bốn ngón điểm như mưa vào bốn đại huyệt trên mình của Tâm Đăng.
Tâm Đăng kêu lên ầm ĩ :
- Huyệt Não Hộ, Chí Đường, Đan Điền...
Tâm Đăng vừa hô, trong lòng lấy làm thán phục thủ pháp cực kỳ nhanh nhẹn của Vạn Giao, cơ hồ lời của chú không theo kịp động tác của lão.
Sau một trận mưa rào điểm huyệt, Vạn Giao ha hả cả cười :
- Hay cho tiểu hòa thượng, thật không phụ lòng mong ước của ta!
Tâm Đăng mở bừng mắt dậy, thấy dưới bóng nguyệt mơ hồ, thần sắc của Vạn Giao cực kỳ phấn khởi, ông ta tươi cười nói :
- Hèn chi Cô Trúc không chịu buông mi ra!
Ông ta nghiêm sắc mặt :
- Bây giờ chúng ta vào chính đề, mi khá cẩn thận, không phải là chuyện chơi.
Nói rồi lão thò tay vào túi, móc ra một chiếc hộp nho nhỏ. Tâm Đăng hỏi :
- Chẳng hay hộp đó đựng vật chi?
Sắc mặt của Vạn Giao thật là trịnh trọng, ông ta trầm ngâm lâu lắm mới trả lời :
- Chiếc hộp này là một vật phát âm, có thể làm cho con người ta rối loạn tâm thần, bây giờ mi hãy tham thiền nhập định để kháng cự với âm thanh kỳ quặc này...
Tâm Đăng vội vàng nhắm nghiền cặp mắt, chú chờ lâu lắm, mới thoáng nghe một làn âm thanh dìu dặt nổi lên, cực kỳ êm tai và đem đến cho con người ta một cảm giác thoải mái.
Âm điệu lần lần biến sang vô cùng uỷ mị và dâm đãng, làm cho người nghe có cảm giác mình đang ở trong chỗ lầu xanh, hoa tường liễu ngỏ, có ảo tưởng như chung quanh mình có không biết bao nhiêu là trang sắc nước hương trời đang quấn quit.
Âm thanh dâm loạn đó tiếp tục làm cho đan điền của Tâm Đăng nóng bỏng, làm cho một khí dương của chú lần lần trỗi dậy, thúc giục chú đi đến một chỗ thần tiên.
Tâm Đăng mặc dù xuất gia từ nhỏ, không gần nữ sắc, lại quen khổ giới trì trai, bây giờ mới kháng cự một cách khó nhọc, mới tạm thời vượt qua cơn khốn đốn.
Tiếp đó âm thanh càng nổi lên điên cuồng hỗn loạn, làm cho Tâm Đăng có ảo tưởng trước mắt mình xuất hiện không biết bao là phụ nữ nhan sắc tuyệt vời,và hình ảnh đó mờ dần... mờ dần đi, chỉ còn để lại hai bóng người là Trì Phật Anh và Mặc Lâm Na!
Hai người đẹp này đứng trước mắt chàng một cách cực kỳ khêu gợi, trên mặt của Trì Phật Anh vẫn che ngang vuông lụa còn Mặc Lâm Na tươi cười hớn hở, và rốt cuộc nàng tung mình lả lướt, múa khúc Nghê Thường theo điệu nhạc.
Nhạc điệu càng ngày càng điên loạn, Mặc Lâm Na càng múa càng khêu gợi dục tình, như bướm nọ vờn hoa, ong kia hút mật.
Còn Trì Phật Anh thì vẫn nghiêm trang đứng đó, không biết một nguồn mãnh lực nào thúc đẩy cho Tâm Đăng thò tay giữ lấy vuông lụa của Trì Phật Anh.
Chính vào lúc bàn tay của chàng chạm nhằm vuông lụa, thì Trì Phật Anh tràng mình né tránh nạt :
- Tâm Đăng, mi muốn chết...
Tiếng nạt của Phật Anh làm cho Tâm Đăng choàng tỉnh, chàng phát giác nãy giờ, trước mắt đều là những ảo ảnh mơ màng, trong lòng thầm nghĩ :
- Ta mang tiếng là người xuất gia mà suýt nữa phải...
Chú vội vàng định tĩnh tâm thần, xua đuổi những ảo giác miên man, bên tai chú văng vẳng tiếng nói của Vạn Giao :
-Hừ... mi mang tiếng là người xuất gia.
Tâm Đăng trong lòng hổ thẹn vội vàng cắn răng dồn hết tinh thần để chống chọi với bản nhạc ma quái đó.
Nhờ dùng hết tâm thần ý chí, Tâm Đăng bắt đầu chiếm ưu thế, và nghe thấy tinh thần của mình bình tĩnh, dần dần không còn rối loạn như xưa nữa.
Chính vào lúc chú đang vận dụng hết công lực, thì bỗng thoáng nghe thấy trên huyệt Tí Nhu của mình có một luồng sức mạnh ập vào, chú vội vàng vận dùng phép Cương Khí Hộ Huyệt, dùng nội lực đẩy bắn luồng sức mạnh đó trở ra.
Đó là lúc Vạn Giao dùng hai ngón tay điểm vào huyệt Tí Nhu của chú, chợt nghe thấy từ trong cơ thể của Tâm Đăng tràn ra một luồng sức mạnh, chọi lại hai ngón tay của mình, ông ta mừng rỡ thầm nghĩ :
- Chú tiểu này quả thật có công lực cao thâm.
Vừa nghĩ, ông vừa tung ra bàn tay tả điểm vào huyệt Bạch Hải trên đùi của Tâm Đăng hai ngón tay vừa kề vào huyệt, thì lại có một luồng sức mạnh đẩy bật trở ra một lần nữa.
Vạn Giao cả cười :
- Nó đã biết phép dùng lấy cái giả để trừ cái thật!
Tiếp theo đó, ông ta lại sử hết các đại huyệt trên toàn thân của Tâm Đăng chỗ nào cũng tấn công không thành, càng làm cho ông ta mừng rỡ bội phần.
Tâm Đăng một mặt dùng tinh thần của mình để kháng cự với bản nhạc điệu cuồng dâm loạn, một mặt lại vận nội công để chống lại với những ngón tay huyền hoặc, thoạt tả thoạt hữu, khi trên khi dưới, thật tốn rất nhiều công sức...
Không bao lâu mà Tâm Đăng mồ hôi vã ra như tắm.
Chính vào lúc kháng cự của chú bắt đầu vất vả, thần trí mơ hồ thì ngón tay cứng như sắt thép của Vạn Giao bất chợt điểm vào Nhuyễn huyệt của Tâm Đăng.
Chú mơ màng, không biết dùng phép nào để thoát nguy, thì Nhuyễn Huyệt đã nhói lên một cái, chú rũ người ra nằm sõng soài trên mặt đất.
Vạn Giao vội vàng nhặt lấy chiếc hộp, vỗ lưng Tâm Đăng mà giải huyệt cho chú, Tâm Đăng dùng ống tay áo lau mồ hôi trán, thở hổn hển nói :
- Vạn sư bá, chiếc hộp này thật là lợi hại!
Vạn Giao trả lời :
- Từ đây về sau, mi còn gặp nhiều việc lạ nữa... cứ tình thế này thì trong vòng hai tháng ta có thể truyền hết võ nghệ cho ngươi!
Tâm Đăng nghe nói, trong lòng mừng rỡ, lại nghe Vạn Giao nói rằng :
- Những người luyện võ, khi gặp trường hợp bị điểm huyệt, chỉ biết tránh né, nhưng phương pháp của ta thì không những không tránh né mà còn dùng sức đàn hồi để chọi lại...
Thế rồi bắt đầu từ hôm đó, Tâm Đăng ban ngày luyện Thiên Phong chưởng, ban đêm luyện Vô Hình Khí Công, đôi khi nửa đêm, lại phải choàng dậy để ôn lại bài Cô Trúc chưởng.
Nếp sống rộn rịp đó khéo dài được hai tháng...
Sau hai tháng này, Tâm Đăng lại học thêm được một môn Tiểu Cẩm Nã Thủ của Vạn Giao, tên là Thất Thập Lục Chỉ, công dụng thật là lợi hại, làm cho tinh thần của Tâm Đăng càng thêm phấn khởi vô cùng...

Xem tiếp chương 14
Dùng hí họa tuyệt kỹ,
Thiết Điệp đại chiến Lư Âu
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:02 pm

Chương 14
Dùng hí họa tuyệt kỹ,
Thiết Điệp đại chiến Lư Âu

Một hôm, Tâm Đăng đến thăm Bệnh Hiệp, được Khắc Bố báo tin rằng ngày thường Thiết Điệp thường đến thăm viếng bệnh tình của Bệnh Hiệp.
Và bà ta đã thông báo cho các vị kỳ lão trong làng võ tập hợp trong ngôi nhà đá này để cử hành một buổi lễ liên hoan, đó là một dịp để cho các bạn già gặp mặt với nhau sau hai mươi năm trời vắng mặt.
Ba ngày hôm sau, buổi liên hoan đại hội cử hành, trên tiệc có nhiều tay lừng lẫy trên chốn giang hồ tham gia, đó là Vạn Giao, Thiết Điệp, Cô Trúc...
Ngoài ra còn một tên học trò của Khúc Tinh tên là Tân Trường Sơn thay mặt Khúc Tinh đến viếng Bệnh Hiệp.
Sau khi ra tiệc, Tâm Đăng cùng với Thẩm Tiểu Thạch bước ra bên ngoài hóng mát.
Khắc Bố trở về một ngọn đồi xa xa, nói rằng :
- Cảnh trí ở đây thật là đẹp...
Tâm Đăng trả lời :
- Phải đẹp lắm, Tây Tạng chỉ có vùng này là xuất sắc nhứt...
Thình lình Khắc Bố chợt hỏi :
- Trong buổi tiệc hôm nay, dường như còn nhiều vị đại hiệp vắng mặt?
Thẩm Tiểu Thạch thơ ngây trả lời :
- Phải, còn nhiều, còn Khúc Tinh lão tiền bối chẳng hạn, người này có võ công tuyệt vời mà khinh công tuyệt diệu, Quá Thiên Phong...
Khắc Bố nghe nói, vội hỏi :
- Còn nữa, ta có nghe Chính Dung bảo rằng còn một bà già nào lợi hại lắm.
Thẩm Tiểu Thạch giựt mình :
- Chính Dung, ai là Chính Dung?
Khắc Bố cười :
- Chính Dung tức là Tâm Đăng chứ còn ai nữa.
Thẩm Tiểu thạch gật gù nói :
- Nghe đâu bà già này võ công cao cường lắm, nhưng mà đi một mắt, tính tình lại khó chịu.
Khắc Bố chắc lưỡi :
- Những người tâm linh cao cường phần nhiều là khó tính.
Thẩm Tiểu Thạch tỏ vẻ lanh lợi :
- Tôi nghe nói bà già này xấu đáo để, nhưng hồi nhỏ lại yêu một người đàn ông khá đẹp..
Khắc Bố càng nghe càng cao hứng cắt ngang hỏi :
- Bà ấy yêu ai?
Thẩm Tiểu Thạch cười đắc ý :
- Bà ta là Chung Vô Diệm, mà đi yêu một ngã thư sinh tuyệt đẹp, và nhứt quyết muốn thành thân, với người đẹp như Phan An tái thế lẽ nào đi thành thân với bà, do đó người đó uất quá mà nhảy sông tự tử.
Khắc Bố tròn xoe cặp mắt kinh dị hỏi :
- Sao mi biết?
Thẩm Tiểu Thạch khoái trí lắm, nói tiếp :
-Sao ta không biết.. con mẹ già xấu xí đó...
Khắc Bố thình lình thấy Thẩm Tiểu Thạch trợn trừng cặp mắt nói không ra lời nữa, trong lòng lấy làm lạ, hỏi :
- Sao mi không nói?
Thẩm Tiểu Thạch vẫn đờ người ra như khúc ngỗ, Khắc Bố khinh hoàng nhìn theo ánh mắt của hắn, bật giác giật mình nhảy nhổm, vì cách đó chừng ba trượng, trên một cành cây cổ thụ, có một bà lão tóc bạc phơ, đang ngồi ủ rũ...
Bà lão này hình dạng cổ quái, mù đi một mắt, da mặt nhăn nheo, miệng mồm lõm, bàn tay khẳng khiu như bàn tay ma, đang cầm một xâu tràng hạt...
Bà trợn con mắt độc nhãn nhìn Khắc Bố...
Khắc Bố biết bà ta là Lư Âu, nên trong lòng kinh tâm táng đởm, nghĩ thầm :
- Bà này thật là dị tướng...
Lư Âu thong thả đứng dậy, buông mình xuống đất, rồi lướt tới trước mặt Tiểu Thạch, nhẹ nhàng như một cơn gió thoảng.
Tiểu Thạch nhớn nhác, hắn lùi một bước, nhưng Lư Âu đã với bàn tay khẳng khiu ra, bằng một động tác cực kỳ lanh lợi, bà bắt tay gắn lấy Tiểu Thạch, ấn vào thân cây.
Thò tay ra bẻ lấy một cành cây nhỏ, và vạch hầu của thằng Tiểu Thạch, đoạn dùng nhánh cây ghim chặt vào thân cây, vô tình bà trói thằng Tiểu Thạch vào gốc cây bằng một hình thức lạ lùng.
Với công lực của thằng Tiểu Thạch, nó có thể vẩy sút như chơi, nhưng không biết từ đâu có một nguồn mãnh lực đưa đến làm cho nó không dám cục cựa.
Lư Âu thối lùi ba trượng, thong thả đưa bàn tay ra và từ lòng bàn tay đó tiết ra một nguồn nội lực, từ từ đè ép toàn thân của Tiểu Thạch, đem đến cho hắn một cảm giác thật khó chịu.
Thế rồi Tiểu Thạch rú lên :
- Sư phụ... cứu tôi...
Tiếng cầu cứu thất thanh của Tiểu Thạch chưa dứt thì toàn thân hắn nhẹ nhàng thoát ly khỏi thân cây và mơ hồ như có một cơn gió nhẹ thổi qua, năm chiếc bóng mờ thình lình xuất hiện.
Định thần nhìn kỹ, Khắc Bố thấy rõ đó là Thiết Điệp, Cô Trúc, Vạn Giao, Tâm Đăng, Tân Trường Sơn.
Thiết Điệp thò tay ra đỡ Tiểu Thạch, sắc mặt xanh rờn, nhìn Lư Âu một cái đầy sát khí, bà nói :
- Lư Âu! Không ngờ ngươi lại đi húng hiếp một thằng trẻ nhỏ!
Lư Âu cười hềnh hệch :
- Hừ... Thiết Điệp, mười tám năm nay ngươi chỉ dạy được một thằng học trò như vậy, ta xem có còn hơn không!
Thiết Điệp nghe nói, mới phát giác lúc bấy giờ Tiểu Thạch đang đứng bên cạnh rên rỉ, bà thò tay tả ra ém vào ngực nó, hồi lâu nó mới cảm thấy dễ chịu và không rên rỉ nữa.
Thình lình, Thiết Điệp vung ống tay áo ra thần tốc ném thằng Tiểu Thạch bay ra ngoài bốn trượng, bà hầm hè :
- Đi cho khỏi mắt ta!
Thằng Tiểu Thạch rơi ra ngoài xa lắc xuống một cái tạo tấn, ngồi ôm đầu mà nhìn mọi người.
Thiết Điệp trợn mắt nhìn Lư Âu :
- Chung Vô Diệm, ngươi rụng hết răng, mà vẫn còn nói ương ngạnh.
Lư Âu lộ khí xung thiên quát :
- Thiết Điệp thì ra chính mi dạy môn đệ của mi buông lời vô lễ... ta phải cho mi một bài học.
Tâm Đăng hốt hoảng vì thấy hai bậc lão tiền bối này sắp sửa ẩu đả với nhau, mà Cô Trúc và Vạn Giao thấy đều bình thản chắp tay sau lưng mỉm cười mà xem, không hề can thiệp.
Thái độ của Vạn Giao càng thêm đặc biệt, dường như một khán giả đang xem một tấn tuồng hát vô cùng thích thú.
Thiết Điệp ngoài mặt ôn hòa thuần hậu, tánh mềm mỏng, nhưng bên trong thì lại vô cùng cứng rắn, bà ta đâu chịu để cho học trò của mình chịu thiệt nên lạnh lùng nói với Lư Âu :
- Mi càng ngày càng hạ tiện, đối với một thằng con trẻ lại hạ độc thủ, điểm Nhũ Căn đại huyệt của nó.
Câu nói bị đứt bởi một chuỗi lanh lảnh của Lư Âu :
- Mi thật có mắt tinh đời ta đối với ai thảy đều một mực, ai bảo nó dám xúc phạm ta! Ta phải trừng trị nó.
Thiết Điệp cười ngạo nghễ :
- Hừ... học trò của Thiết Điệp không phải dễ trừng trị đâu!
Lư Âu lại buông ra một tiếng cười quái dị, làm cho người nghe phải rùng mình rởn óc, bà ta nói một câu đanh thép :
- Hay lắm! Mười tám năm không gặp ta muốn thử xem võ công của mi luyện đến mức nào!
Câu nói chưa dứt, thì bà ta vung bàn tay hữu ra, thủ một thế Hoành Ba Lược Địa, một luồng sức mạnh ào ào tràn tới như nước vỡ bờ.
Cùng trong một lúc Thiết Điệp đảo nhanh thân mình một cách thần tốc, từ trong ống tay áo rộng của bà có một bàn tay trắng muốt thò ra, xử một thế Lăng Không Siêu Độ, chọi lại luồng sức mạnh của đối phương.
Hai luồng chưởng phong của hai tay cao thủ lẫy lừng, giáp công vào nhau, gây ra một tiếng động cực kỳ kinh khiếp, một luồng gió bị hắt vào mặt của mọi người, làm cho Tâm Đăng giật mình đánh theo....
Trong một cái chớp mắt, hai chiếc bóng mờ tức tốc dang ra, để rồi lại xáp chiến với nhau một cách dữ dội.
Tâm Đăng trố mắt ra nhìn, thấy thân mình của Thiết Điệp tung bay lả lướt, uyển chuyển nhẹ nhàng, xa trông thật như một con bướm đẹp vờn hoa trong vườn thượng uyển.
Còn chiếc bóng đen của Lư Âu thì chập chờn như bóng ma trơi, thoạt ẩn thoạt hiện, khi tỏ khi mờ, luồn qua lách lại, toàn là tấn công vào những chỗ yếu của đối phương.
Động tác của đôi bên thảy đều nhẹ nhàng mềm mại, nhưng biểu diễn toàn những thế lạ lùng, đẹp mắt, ngoài sự tưởng tượng của Tâm Đăng.
Cả bốn chàng trai trẻ tuổi cùng mấy bậc kỳ lão trong làng võ thảy đều trố mắt ra nhìn, trong chớp mắt hai người đã trao đổi với nhau trên ba mươi hiệp.
Càng đấu chiến chừng nào, thái độ của Thiết Điệp ung dung hòa nhã mà Lư Âu thì nổi giận đùng đùng, đường võ ngày càng khốc liệt cố ý muốn dồn đối phương vào tử địa.
Cuộc chiến càng lúc càng găng, bầu không khí càng ngày càng sôi động đến tột cùng....
Thiết Điệp không hổ danh là một con “bươm bướm sắt”, thân hình mặc dầu mềm mại nhưng thế võ của bà thảy đều là những thế võ cực kỳ sắc bén, bề ngoài mềm mại bao nhiêu thì bên trong cứng rắn mạnh bạo bấy nhiêu, phi một tay giang hồ lão luyện, không thể nào có đủ nhãn lực để nhìn thấy chỗ cao thâm của bà ta.
Trong chớp mắt hai người đã trao đổi cùng nhau trên ba mươi hiệp, mà chiến cuộc vẫn còn ngang ngửa, chưa phân thắng bại thuộc về ai.
Bỗng thình lình, Lư Âu hậm hực, nạt lên một tiếng hai bàn chân của bà ta không đứng theo chữ Đinh, mà cũng không phải tấn chữ Bát, liên tiếp tung ra ba thế liên hoàn.
Ba thế võ này của bà ta sáng chế trong những ngày gần đây, đó là Chiêu Quân Xuất Tái, Tây Thi Chiếu Kinh, và Bao Tự Thượng Lâu.
Cả ba thế võ này liên hoàn với nhau thật là chặt chẽ, bộ điệu lại rất là ngoạn mục.
Thân hình của bà ta gầy gò khô đét, mà biểu diễn ba thế võ này bằng một tốc độ cực kỳ lanh lẹ, vì vậy mà chúng cao thủ có mặt, thảy đều thoáng trông thấy một bóng mờ ảo, như dáng của một bậc mỹ nhân, thướt tha yểu điệu.
Chiêu Quân Xuất Tái, và Tây Thi Chiếu Kinh, là hai thế võ hoàn toàn ứng dụng theo nhuyễn công, hai bàn tay của Lư Âu lả lướt như cành liễu thướt tha trong gió.
Nhưng mà biến hóa vô cùng kỳ ảo, làm cho Thiết Điệp có cảm giác như trước mắt mình thình lình thoáng hiện ra vô số mỹ nhân, quay cuồng hỗn loạn trong điệp khúc nghê thường.
Đến khi đòn Tây Thi Chiếu Kinh toát ra, thì Thiết Điệp thấy những ngần ấy mỹ nhân, thảy trong tay đều cầm một món binh khí, mường tượng như chiếc kính điểm trang của đàn bà, đồng vung lên tấn công vào những yếu huyệt khắp toàn thân của mình.
Trước thế công kỳ diệu đó, Thiết Điệp phải tạm thời giảm áp lực của mình, liên tiếp thối lui hơn hai trượng.
Những chiếc bóng mờ ảo của vô số mỹ nhân, bám chặt lấy bà ta như bóng theo hình, tấn công tới tấp.
Và khi đòn Tây Thi Chiếu Kinh vừa dứt thì Lư Âu bất thình lình trớ ra một đòn là Bao Tự Thượng Lâu.
Hình dáng của Lư Âu thình lình từ chỗ mềm mại, chuyển sang cứng rắn, đánh thẳng vào đỉnh đầu của Thiết Điệp một đòn sấm sét.
Thiết Điệp nằm dưới tình trạng đó, hai bàn chân của bà ta tức khắc sử dụng theo phép khinh công Điệp Hí Hoa, đảo vù vù sang cánh trái, mới thoát khỏi tầm áp lực của Lư Âu.
Nhanh như chớp, Lư Âu bất thần quét ngang hông của Thiết Điệp một cước nhanh như điện rồi bay mình nhảy vù lên một tàng cây gần đó.
Thiết Điệp không phải là một người tầm thường, ngọn cước của Lư Âu mặc dù hung bạo, nhưng bà ta bình thản mỉm cười, sử một thế Triết Điệp Trích Hoa, thân hình của bà cất lên hai trượng nhanh hơn một tia chớp, để tránh thoát đòn của Lư Âu trong đường tơ kẽ tóc.
Ngón khinh công tuyệt diệu của Thiết Điệp, làm cho tay cao thủ thượng thừa như Cô Trúc, cũng phải tấm tắc khen thầm.
Mọi người còn đang suýt xoa thì một việc lạ lùng ngoài tưởng tượng lại xảy ra.
Vào lúc thân hình của Lư Âu vừa khuất trong một tàng cây rậm rạp, thì thân hình của Thiết Điệp đang nằm trong cái thế Triết Điệp Trúc Hoa lơ lửng giữa từng không.
Mọi người thoáng nghe bà khẽ nạt lên một tiếng, dùng mũi giày bên chân tả, đạp nhẹ lên chân hữu, và hai cánh tay của bà vẫy nhẹ trong không khí, chỉ một chút động tác đó, đã làm cho thân hình của bà bay nhẹ về phía Lư Âu một cách nhẹ nhàng êm ả.
Đứng phía dưới Tâm Đăng ngửa mặt nhìn lên, có cảm giác Thiết Điệp như là một con bươm bướm tung cánh giữa vườn hoa.
Trong chớp mắt, hình dáng đẹp đẽ đó, khuất hẳn trong tàng cây rậm rạp.
Và người ta thoáng nghe từ trong ấy có tiếng gió bay ra vèo vèo.
Thì ra hai người đàn bà nổi danh trong làng võ, bây giờ đang trổ tài khinh công, giao chiến với nhau trên những cành cây mềm mại.
Đến giờ phút này, bản lĩnh của Thiết Điệp mới hoàn toàn trổ hết ra, Tâm Đăng nhờ luyện được cặp mắt có thể nhìn rõ ràng sự vật trong bóng tối, nên những động tác lẹ làng, huyền diệu của Thiết Điệp và Lư Âu, thảy đều lọt vào mắt của chú.
Tới chừng đó, chú mới biết được sự học của chú so với hai người đàn bà này thật còn kém xa lắm.
Với thân pháp lẹ làng lanh lẹ kia, hèn chi mà trong giới giang hồ ban cho Thiết Điệp cái mỹ hiệu “bươm bướm sắt”.
Hai người luồn qua lách lại giữa những cành cây kẽ lá, để mà trao đổi với nhau toàn những thế võ lạ mắt mà Tâm Đăng chưa từng thấy.
Tiếng gió từ trong bàn tay sắt thép kia tạt ra nghe rào rào, làm cho những chiếc lá vàng lìa cành rơi lả tả.
Vài ba cành cây trúng đòn gãy răng rắc, rơi lộp độp trên mặt đất.
Thỉnh thoảng, hai tay cao thủ lại buông ra những tiếng thét lanh lảnh, làm vang động cả khu rừng.
Trong khoảnh khắc, hai người đã trao đổi với nhau hơn ba mươi hiệp, làm cho Tâm Đăng càng xem càng mê mẩn tâm thần, cuộc giao chiến này, mở rộng tầm mắt của Tâm Đăng.
Món giao chiến này trên cây, là một món sở trường của Thiết Điệp, nãy giờ bà ta đã thi thố hết môn khinh công tuyệt diệu là Điệp Hí Hoa.
Phần Lư Âu thì lợi dụng thân hình nhỏ thó của mình, kiếm những vị trí tốt trên cây, vừa để trốn đòn vừa tung ra phía đối phương những đòn trí mạng.
Nhưng Thiết Điệp rất khôn ngoan, thân hình của bà ta chập chờn lúc ẩn lúc hiện, khi đông khi tây, thoạt tả thoạt hữu, làm cho Lư Âu không biết đối phương đứng ở phương hướng nào mà tập trung lực lượng để tấn công.
Hai người đàn bà nổi danh trong chỗ giang hồ đó, đuổi bắt nhau một cách ngoạn mục trong một tàng cây to lớn.
Lại hai mươi hiệp nữa trôi qua, dáng chừng Lư Âu đã biết mình không thể uy hiếp được môn Điệp Hí Hoa của đối thủ, nên bà ta tìm hết cách để dụ đối phương về mặt đất.
Chờ lâu lắm Lư Âu mới bắt gặp một cơ hội.
Cơ hội đó chính là lúc Thiết Điệp bay vòng ra ngoài tạo một đường vòng cầu tuyệt mỹ, để rồi bay trở vào tàng cây, trực tấn công Lư Âu.
Buông ra một tiếng cười đanh ác, chờ cho hai mũi hài của Thiết Điệp sắp sửa rơi vào một cành cây, thì Lư Âu vội vàng chuyển hết nội lực, dồn xuống bàn chân khẳng khiu của mình, xử một thế Thiên Cân Tấn cực kỳ hung bạo.
Nội lực vừa tiết ra, cành cây vang lên một tiếng “rắc” và gãy ngay xuống.
Thế là Thiết Điệp vô tình mất đi điểm tựa, chới với giữa từng không.
Trong cơn nguy biến, Lư Âu nghiến răng kèn kẹt, tung ra một chưởng Cách Không về phía Thiết Điệp.
Đang lơ lửng giữa từng không, thân hình loạng choạng mất thăng bằng, chính vào lúc đó thì một nguồn áp lực từ phía Lư Âu ập tới!
Cười hậm hực Thiết Điệp nói nho nhỏ :
- Con quái già thật là cay độc.
Tâm Đăng lắc đầu lè lưỡi, ngỡ rằng Thiết Điệp phen này sẽ trúng đòn, và tiếng tăm sẽ trôi theo dòng nước.
Nào ngờ bà ta lộn nhào một cái trông thật đẹp mắt.
Thân hình của bà vừa mơn trớn, thì một bàn tay trắng muốt từ ống tay áo thò ra chọi lại một chưởng Cách Không của Lư Âu.
Từ trong cành cây, một tiếng “bộp” vang lên, và thân hình của Thiết Điệp lại lộn nhào thêm hai vòng, mượn sức va chạm đó để thân hình bà ta rơi về mặt đất.
Một chuỗi cười kinh rợn của Lư Âu lại vang lên, và thân hình của bà ta như một mũi tên, từ trong tàng cây bắn vụt ra bám sát theo Thiết Điệp!
Tâm Đăng mở mắt để nhìn cho thật kỹ động tác của hai người, chú biết rằng giờ phút quyết liệt của hai cao thủ sắp diễn ra.
Và ai được dịp mục quyết những thế võ quyết định này, thật là diễm phúc vì nó sẽ bổ ích vô cùng cho con nhà võ.
Lư Âu bay đến nửa chừng, thì thò bàn tay ra, xỏ chéo vào nhau, xử một thế Điêu Thuyền Bái Nguyệt, để tặng cho đối phương một đòn chí mạng.
Còn phần Thiết Điệp, chân vừa chấm đất, thì thu mình lại như một con mèo chực vồ mồi, đó là thế võ vô cùng cay độc.
Chính vào lúc hai bàn tay sắp sửa va chạm vào nhau thì...

Xem tiếp chương 15 Bốn người trẻ tuổi thi tài biểu diễn võ công

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:03 pm

Chương 15 Bốn người trẻ tuổi thi tài biểu diễn võ công

Một tiếng hú vang lừng trỗi dậy, một chiếc bóng mờ từ trên một cành cây gần đó vù vù bay xuống.
Khí thế cực kỳ hung bạo, như rồng thiêng xuống biển, như phi tướng quân xuống trần, rơi vào giữa hai người, vung song chưởng ra, chọi lại với hai bàn tay sắt thép.
Tâm Đăng giật mình nhìn kỹ, thấy đó là một lão già tuổi đã ngoài ngũ tuần, mặt mày dạng rỡ, cặp mắt tinh anh lão ta mặc một chiếc áo dài nâu, chân mang một đôi võ hài tuyệt đẹp.
Trên tay lão, còn kẹp một ống sáo bằng bạch ngọc sáng ngời.
Chú còn đang kinh dị cho tài của người này, dám cả gan dùng sức mạnh để chọi lại giữa hai nguồn áp lực của Lư Âu và Thiết Điệp, chợt nghe Vạn Giao cười nói :
- Ngươi là ai!... thì ra là Khúc huynh...
Nghe tiếng “Khúc” Tâm Đăng mới biết người này chính là Khúc Tinh, người có biệt hiệu Quá Thiên Phong.
Chàng cứ nghĩ Khúc Tinh là một lão già gầy gò ốm yếu hình dáng kỳ quặc, nào ngờ ông là một nho sĩ có bề ngoài hào hoa phong nhã, thái độ cao sang.
Và vào lúc đó, hai tiếng “bốp” khô khan nổi dậy của Thiết Điệp và Lư Âu thảy đều thối lùi hai bước.
Khúc Tinh xá chào một vòng tròn, đoạn cười nói :
- Khúc Tinh xin ra mắt quý bạn!
Thiết Điệp và Lư Âu mặc dù đang bực tức, nhưng trông thấy một người bạn già đã cách biệt mười tám năm trường, không bảo nhau, cả hai thảy dằn cơn bực tức, Lư Âu nói với Khúc Tinh :
- Lão Khúc! Mi tới trễ một bước...
Thiết Điệp cũng xin chào mà nói :
- Mười tám năm không gặp, Khúc huynh quả thật tiến bộ rất nhiều, đến một cánh tay nhanh nhẹn như Quá Thiên Phong!
Khúc Tinh ngửa cổ ha hả cười nói :
- Thiết lão, mi quá khen, ta đến đây thăm bệnh của Lạc huynh.
Nói rồi, vừa cười vừa đi thẳng vào ngôi nhà đá, thái độ hòa nhã.
Tâm Đăng thấy Lư Âu và Thiết Điệp nối gót theo sau, chuyện trò vui vẻ, dường như quên bẵng việc đấu võ ban nãy, trong lòng chú lấy làm lạ lắm.
Đây nói về Khúc Tinh và Cô Trúc, vừa nói chuyện vừa bước vào nhà, nhác trông thấy Bệnh Hiệp nằm trên giường, Khúc Tinh vội vàng bước tới, nắm tay khô đét của Bệnh Hiệp, mà nói một câu thảm não :
- Giang huynh, tôi không ngờ bệnh tình của Giang huynh đến nỗi này...
Bệnh Hiệp chỉ nhìn Khúc Tinh qua một ánh mắt đầy bi thảm, dường như ông ta đang nói :
- Cảm ơn lòng tốt của Khúc huynh.
Tâm trạng của Bệnh Hiệp lúc này, buồn vui lẫn lộn, ông ngắm hết những người bạn già của mình, trải qua mười tám năm trời, mà vẫn còn mạnh khoẻ, và võ công tăng tiến.
Chỉ còn có mỗi mình ông ta, là nằm trên giường bệnh để chờ chết.
Trong những người bạn già này, dường như chỉ có Thiết Điệp là người chăm sóc đến Bệnh Hiệp nhứt, dường như bà ta biết sự xuất hiện của Khúc Tinh, sẽ gợi cho Bệnh Hiệp một niềm thương cảm.
Vì vậy bà ta thét Tâm Đăng cùng mấy người trẻ tuổi, bày tiệc ra ăn uống một lần nữa, để cho Bệnh Hiệp được khuây khỏa mạch sầu.
Mọi người quây quần chung quanh bàn tiệc, và câu chuyện lại nổ ròn tan như pháo tết.
Mọi người đều nhắc lại ba mẩu chuyện lý thú trong làng võ lâm, làm cho những kẻ hậu sinh nghe qua, tỏ vẻ thích thú lắm.
Khi tiệc gần tàn Khúc Tinh nói rằng :
- Ban nãy, Thiết lão có nói với ta, những người có mặt ở đây, sau khi rã tiệc, thảy đều biểu diễn một trò cho vui.
Mọi người nghe qua, thấy đều tán thành, sau khi sắp xếp, do Khắc Bố bắt đầu biểu diễn.
Khắc Bố nghe qua, trong lòng lấy làm sợ hãi, vì giữa bàn tiệc này anh là người nhập tịch làng võ trễ nhất, nên có vẻ sượng sùng e lệ.
Anh ta gương cặp mắt cầu cứu nhìn về phía Bệnh Hiệp, và Bệnh Hiệp dùng mắt ra dấu bảo anh ta cứ biểu diễn.
Bất đắc dĩ, Khắc Bố mới bước ra chỗ trống, và bắt đầu cuộc diễn bằng một thế võ làm cho mọi người thảy đều sửng sốt, đó là Hải Triều Sơ Sinh, một thế võ nằm trong Thiên Phong chưởng.
Chúng anh hùng chợt thấy hai bàn tay của Khắc Bố trao đổi với nhau vùn vụt, và thân hình của hắn liên tiếp dồi ra ba thế, và xử một đòn thứ hai trong Thiên Phong chưởng.
Thiết Điệp thấy khí sắc của Khắc Bố biết được sức lực của người này còn yếu, nhưng mà bỏ đi tướng đứng thảy đều ung dung, thật là người có dịp may được danh sư chỉ bảo.
Thế rồi, những đường võ trong Thiên Phong chưởng tiếp tục được tuôn ra, đến đòn thứ năm trở đi thì tay chân của Khắc Bố ngày càng thuần thục, cứ cái điệu bộ đó thì người ta phải cho rằng Khắc Bố đã luyện võ trên ba năm là ít.
Chúng anh hùng thấy vậy, thảy đều khen thầm, cho Khắc Bố là bậc kỳ tài trong đám hậu sinh.
Bệnh Hiệp và Tâm Đăng thảy đều vui mừng ra nét mặt vì rằng Khắc Bố đã đem đến cho Tâm Đăng và Bệnh Hiệp một niềm an ủi vô biên, Bệnh Hiệp nghĩ thầm :
- Rất tiếc là ta gặp nó trễ mười năm, bằng không thì...
Nghĩ đến đây thì Thiên Phong chưởng vừa chấm dứt, Khắc Bố hơi thở vẫn điều hoà, sắc mặt vẫn tươi tỉnh như người không phải dùng đến sức lực.
Tiếp đó đến phiên của Thẩm Tiểu Thạch.
Tiểu Thạch nghe mọi người giục mình biểu diễn, vụt cười xòa rồi thò tay lên bàn lấy ba chiếc chung trà, sắp ra trên mặt đất thành hình tam giác.
Tiểu Thạch xá chào mọi người, đoạn đưa mắt nhìn Thiết Điệp là sư phụ một cái nhìn vô cùng hài hước.
Thiết Điệp mắng :
- Mi muốn diễn trò gì thì cứ diễn ra ngay đi hà tất phải...
Thẩm Tiểu Thạch cười hềnh hệch, trả lời :
- Sư phụ đừng nóng, càng chậm trễ nhường nào thì món ăn càng thấy ngon nhường ấy...
Thiết Điệp quắc mắt :
- Đồ khỉ, đừng lôi thôi dài dòng.
Chúng anh hùng thấy hai thầy trò cãi nhau, thảy đều cười lên ầm ĩ.
Đang cười như vỡ chợ, bỗng Thẩm Tiểu Thạch nhún chân, bay mình đứng lên trên một tách trà rồi thân hình của hắn quay cuồng lông lốc, như một chiếc xe gió to tướng, ống tay áo của hắn rủ trong gió nghe vèo vèo.
Chúng anh hùng thấy vậy, thảy đều kinh dị, cho rằng khinh công của Tiểu Thạch đã luyện đến mức tinh vi tuyệt đỉnh!
Và Tiểu Thạch nhún chân nhảy sang hai chiếc tách trà bên kia, sau khi đi đủ mấy vòng, thình lình hắn thét lên một tiếng, thân hình của hắn như một con diều đứt dây bay bổng sang phía tả, rồi một tiếng “bộp” vang lên, người ta thấy thân hình của hắn bám chặt vào tường như một con thằn lằn đeo trên vách.
Nhìn điệu bộ của hắn, thì ra đó là một thế võ Dã Hỏa Liêu Nguyên, rồi không thấy bàn chân của hắn động đậy, mà thân hình của hắn vụt bay ra khỏi vách tường, để rơi trở về một chiếc tách trà đặt dưới đất.
Mũi giày của hắn đạp nhẹ vào miệng tách, để rồi thân hình của hắn giống như một mũi tên lìa ná bắn trở lên.
Lần này, hắn không bám vào tường, mà lại dùng một thế võ Tàng Long Hí Quỷ để cho thân hình bám chặt lên trần nhà.
Chúng anh hùng còn đang kinh dị, thì hắn lại sử một thế Tàng Long Hồi Đầu, để bay trở về mặt đất, rồi tung tăng bay nhảy khắp nơi, nhưng chân không hề bước xuống mặt đất, mà chỉ bước trên những miệng tách, càng làm cho người ta thán phục hơn nữa là mỗi một bước đi thảy đều là một thế võ cao kỳ xuất sắc.
Những tay cao thủ có mặt, thảy đều biết hắn ta dùng phép Thả Cần Việt Hỏa, lẫn lộn trong phép Bích Hổ Du Tường, để mà thi thố đường võ danh chấn giang hồ của Thiết Điệp là Phi Điệp chưởng.
Đường võ này ngoài những bậc kỳ lão trong giang hồ như Cô Trúc và Khúc Tinh ra, không mấy ai được biết!
Thiết Điệp cũng không ngờ Thẩm Tiểu Thạch lại dùng hết bình sinh sở học của mình, biểu diễn một màn võ thuật bao gồm ba loại võ công đặc sắc của mình, bất giác trong lòng lấy làm mừng rỡ.
Không bao lâu đường Phi Điệp chưởng đã chấm dứt, khi thế võ cuối cùng là Hoa Điệp Hồi Viên vừa tung ra, thì Tiểu Thạch trụ mình trên miệng một tách trà, để rồi thân hình bắn gọn ra phía sau ba thước, và ba chiếc tách trà đã thu gọn trong tay của Tiểu Thạch.
Hai chân vừa đứng vững, Tiểu Thạch tung ba chiếc tách trà lên cao, để rồi lần lượt rơi xuống, chồng vào nhau trong bàn tay của hắn, tất cả đều hiện ra một cách êm như ru không một tiếng động nhỏ.
Chúng anh hùng thấy vậy, thảy đều ngợi khen, những tràng pháo tay nổi lên giòn giã nhiệt liết tán thưởng tài khinh công thượng hạng của Tiểu Thạch.
Mọi người đều không ngờ Tiểu Thạch bề ngoài đần độn, nặng nề, cục mịch, mà khi biểu diễn khinh công lại nhanh nhẹn nhẹ nhàng nhường ấy.
Thâm tâm của Thiết Điệp vô cùng hể hả, vì thấy đứa học trò đã làm cho mình được tiếng ngợi khen của những người bạn mà mình đã cách biệt mười tám năm trường.
Thẩm Tiểu Thạch vênh váo :
- Sư phụ chớ giận tôi, tôi còn giấu sư phụ sáu món nghề riêng, chưa hề biểu diễn!
Thiết Điệp hả dạ lắm nhưng vẫn giả vờ mắng :
- Thôi bước sang một bên nhường chỗ cho người khác...
Vừa nói đến đây, bỗng thấy từ phía cửa, có một người con gái che ngang vuông lụa trên mặt, mình mặc một bộ võ y bó sát vào mình, hai cánh tay trắng muốt của nàng xách một chiếc giỏ màu xanh, phi thân bay vào nhanh như cơn gió thoảng.
Chúng anh hùng còn đang lấy làm lạ, thì Tâm Đăng đã nhận ra đó là Trì Phật Anh.
Chú giật mình bụng bảo dạ :
- Cô ấy đi đâu, vắng mặt lâu quá chẳng thấy?
Chợt nghe Lư Âu cười ha hả, nói rằng :
- Phật Anh, mau bước sang đây ra mắt chư vị sư bá!
Nói rồi giới thiệu cho từng người Phật Anh là học trò của Lư Âu.
Phật Anh mang chiếc giỏ đến trước mặt của Bệnh Hiệp nhỏ nhẹ nói rằng :
- Lạc bá bá, cháu mang ít quả tươi đến đây biếu bá bá!
Nói rồi mở giỏ ra, mọi người nhìn thấy trong đó có mười mấy quả đào chín mọng, đủ màu sắc trông thật đẹp mắt, ngoài ra còn có ba chùm nho lóng lánh.
Bệnh Hiệp tỏ vẻ rất cảm kích, Lư Âu mắng rằng :
- Con quỷ nhỏ này, ta biểu mi nấu vài món ăn cho ngon mi lại hái những quả như thế này.
Cô Trúc cười nói :
- Bà chớ khó tính, hai món đồ này đều là hai loại quả hiếm có lấy từ xứ Tân Cương đến đây, phải tốn rất nhiều công phu mới có.
Bệnh Hiệp dùng mắt ra dấu bảo Tâm Đăng chia nhỏ ra cho mọi người cùng ăn.
Vạn Giao vừa ăn nho của Phật Anh vừa đề nghị nàng biểu diễn võ thuật cho mọi người xem.
Tiểu Thạch nghe nói, thích chí gieo hò ầm ĩ, làm cho Thiết Điệp phải trừng mắt nhìn hắn.
Phật Anh bị mọi người thôi thúc bất đắc dĩ nàng phải đứng dậy bước ra.
Trong tay nàng thủ sẵn một chiếc hột đào, mà khách vừa ăn dở. Sau khi trụ hình đứng giữa nhà, Phật Anh tung hột đào lên khỏi đầu chừng ba thước.
Chờ cho hột đào mơn trớn rơi trở về, còn cách đầu nàng trừng một thước, thình lình sử một thế Tiểu Chi Tàng Ma, bàn tay hữu vung ra, người ta thấy có hai đốm sáng lập loè vèo vèo bay tới.
Có hai tiếng động nhỏ vang lên, và hột đào đi xuống giữa chừng bỗng bật trở lên vì chạm phải ám khí của nàng.
Hồi tiếp đó Trì Phật Anh sử một thế Tị Mục Nghênh Tinh, vừa bay vù sang cành lá, vừa vung bàn tay ra, và hai điểm sáng nữa từ trong bàn tay của nàng bay về phía hột đào, hột đào trúng ám khí lại lật ngược trở lên.
Thế rồi thân hình của nàng tung bay lả lướt, mỗi một lần thay hình đổi bộ là mỗi một lần nàng biểu diễn một thế võ cực kỳ ngoạn mục, và hai mũi kim bạc lại bay ra trúng vào hột đào, làm cho nó cứ bay bổng giữa từng không chẳng rơi về mặt đất được.
Sau khi đã ném mất ba mươi sáu mũi kim, Trì Phật Anh vội dùng một thế Xảo Ngọc Thiên Tinh, để ném thêm hai mũi nữa, và hột đào lần này bay bổng lên cao hơn ba thước.
Trì Phật Anh dùng chân đình bộ, ngửa bàn tay ra đón lấy hột đào đã ghim đầy những mũi kim sáng loáng.
Bằng một động tác cực kỳ lanh lẹ, Trì Phật Anh vò nhẹ hột đào trong tay mình, Tâm Đăng thoáng nghe có một tràng tiếng “lách cách” nho nhỏ vang lên, trong chớp mắt hột đào nát biến trong bàn tay ngà ngọc, gần bốn chục mũi kim sáng loáng thảy đều rơi về bàn tay ngà ngọc của nàng, và mảnh vụn của hạt đào rơi tứ tung trên mặt đất.
Tâm Đăng sẽ lén mừng thầm cho Phật Anh, vì với từng tuổi non nớt đó, mà luyện được môn ám khí lanh lẹ tinh vi chừng ấy thật là hiếm có.
Mọi người đang nức nở khen Trì Phật Anh, thì Tân Trường Sơn từ dưới bếp mang lên mấy dĩa thịt gà, hương thơm ngào ngạt.
Vạn Giao sẽ cất tiếng nói :
- Bây giờ đến lượt của Trường Sơn.
Trường Sơn đưa mắt nhìn sư phụ của mình là Khúc Tinh, sau khi được ông ta đồng ý, Trường Sơn thong thả bước ra giữa nhà.
Chúng anh hùng được dịp nhìn kỹ, thấy Trường Sơn thân hình cân đối, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn, sắc diện hào hùng, trông bề ngoài người ta có thể đoán chừng công lực của người này chắc có lẽ trội hơn Tiểu Thạch và Phật Anh.
Lại nữa, vì bề ngoài của Trường Sơn có vẻ hào hoa trang nhã nên mọi người đều với chàng thảy đều sinh ra một nguồn hảo cảm.
Trường Sơn xá chào mọi người nói :
- Đệ tử không lượng sức mình làm gan múa rìu trước cửa Lỗ Ban, vậy xin quý vị hãy lượng thứ cho những chỗ sai sót.
Nói rồi chàng thò tay nhấc chiếc giỏ đựng hoa quả của Trì Phật Anh, rồi chọn mấy chiếc bát đặt trước mắt của Cô Trúc, Khúc Tinh, Lư Âu, Thiết Điệp và Bệnh Hiệp rồi mới rút lui ra ngoài xa mấy bước.
Tâm Đăng mới nhìn đã biết Trường Sơn đã dùng môn khí công lột vỏ những quả đào và ép lấy nước đổ vào chén, chỉ có Tiểu Thạch và Phật Anh vẫn nhìn chưa ra.
Trường Sơn thong thả lui ra mấy bước rồi dừng chân đứng lại, chầm chậm đưa bàn tay hữu lên, khép hai ngón tay điểm nhẹ một ngón.
Một tiếng “rốp” vang lên, Tâm Đăng thấy một quả đào nằm trên mặt, bị thủng một lỗ nhỏ.
Những dòng nước từ trong quả đào ứa ra ròng ròng nhưng nước vừa ứa ra khỏi vỏ, Tâm Đăng bỗng thấy Trường Sơn dùng bàn tay hữu xoè ra, để cách quả đào chừng năm tấc.
Chú biết Trường Sơn sắp sửa dùng nội lực.
Quả thật những dòng nước vừa ứa ra đó bỗng thình lình tụ lại, và biến thành một vòi nước nho nhỏ, tạo thành một đường hình cầu, để rồi rơi vào giữa bát của Cô Trúc.
Không mấy chốc, nước đã đầy bát, và quả đào trong giỏ bẹp dí đi, đó là phép Cách Truyền Trích Thủy, duy chỉ có những bậc luyện khí công đến mức thượng thừa mới có thể sử dụng được.
Thế rồi, Trường Sơn vẫn dùng phương pháp đó để ép lấy nước đào, “rót” vào chén cho Khúc Tinh.
Nhưng khi giọt nước vừa tạo thành hình vòng cầu rơi vào chén của Khúc Tinh, bỗng nghe ông ta nạt :
- Hãy nhường cho vị khác!
Nói rồi ông búng nhẹ năm ngón tay về phía trước, và vòi nước kia bị nguồn tiềm lực của ông ta đánh bay tứ tán.
Trường Sơn giật mình kinh hãi, nhập hai bàn tay lại, tăng gia sức mạnh, để gom những tia nước bắn tứ tung về một chỗ, để rồi rơi vào chén của Thiết Điệp.
Ngón nội lực hùng hồn đó, làm cho chúng anh hùng thảy đều kinh sợ, duy chỉ có Khúc Tinh là mừng thầm trong dạ, vì ông ta biết nội lực của thằng học trò mình gia tăng nhiều lắm.
Trường Sơn liên tiếp dùng cách đó để rót nước đào cho Thiết Điệp, Vạn Giao, Lư Âu.
Và đến quả thứ năm, thì chàng vung bàn tay hữu ra, và một quả đào thoát ly khỏi giỏ, bay bổng lên cao rồi dừng lại giữa từng không.
Dùng bàn tay tả toát nội lực để nâng quả đào, tay hữu dùng phép Cách Không để chọc thủng một lỗ vào giữa quả đào, để rồi tiếp tục ép lấy nước, làm cho một cây nước từ trong quả đào bắn rơi đúng vào mồm của Bệnh Hiệp.
Trò ép nước của Trương Sơn chấm dứt giữa những tràng pháo tay vang dậy.
Và khi tràng pháo tay chấm dứt Thiết Điệp nở một nụ cười tươi, bảo :
- Bây giờ, đến lượt tiểu hòa thượng!
Chúng anh hùng thảy đều biết Tâm Đăng là một đứa học trò cưng của Cô Trúc, nên thảy đều nóng lòng muốn trông thấy tuyệt kỹ của chàng.
Bị mọi người thúc giục, Tâm Đăng gắng gượng bước ra giữa nhà, chú nói với lại :
- Nhị vị sư phụ chỉ truyền cho con võ nghệ mà không dạy cách biểu diễn, nên con chẳng biết phải biểu diễn ra thế nào.
Cô Trúc và Bệnh Hiệp thảy đều mỉm miệng cười, và mọi người lại tiếp tục thúc giục...

Xem tiếp chương 16 Tam Đàm Ấn Nguyệt Tâm Đăng trổ tài tuyệt kỹ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:03 pm

Chương 16 Tam Đàm Ấn Nguyệt Tâm Đăng trổ tài tuyệt kỹ

Tâm Đăng đỏ mặt sượng sùng, vì mọi người thảy đều đổ dồn những cặp mắt để nhìn mình, trong đó có cặp mắt đen lay láy của Trì Phật Anh.
Chú nhớn nhác nhìn quanh, bỗng thấy trên mặt bàn lúc bấy giờ có để một đèn dầu leo lét, có ba con thiêu thân đang liệng cung vòng quanh ngọn lửa.
Chàng liền nhớ ra mình phải biểu diễn ra sao, vội vàng chấp tay xá chào mọi người, chú nói :
- Xin quý vị lượng thứ cho, tôi sẽ biểu diễn đây...
Đoạn chú chắp tay, lim dim như lão tăng nhập định, mọi người đều không biết chú sẽ biểu diễn trò gì, nhưng cứ nhìn khí sắc trầm hùng và hơi thở điều hòa đó, người ta đoán chừng chú sẽ biểu diễn một thứ chưởng lực kinh hồn.
Bỗng người ta thấy chú từ từ đưa bàn tay hữu ra năm ngón tay xòe ra như rẻ quạt, và mọi người thảy đều nhìn về ngọn đèn dầu kia.
Người ta thấy ngọn đèn vẫn bừng cháy, ngọn lửa vẫn điều hòa như cũ, chỉ có ba con thiêu thân thì như bị một nguồn tiềm lực nào ngăn cách ra, từ từ ly khai với ngọn lửa, mà ngọn lửa vẫn không hề chao động.
Những bậc kỳ lão trong làng võ thấy vậy đều tấm tắc khen thầm, vì rằng họ đã biết Tâm Đăng đã luyện đến mức Cách Đào Điểm Hắc.
Sau một chập, sức bay của thiêu thân lần lần chậm lại, rồi từ từ bay xuống mặt đất, dẫy lên một cái rồi chết.
Chưởng lực vận dụng như vậy thì thật là khó vô cùng, vì rằng chú vừa dùng sức mạnh của mình để ép chết những con thiêu thân, mà lại không làm cho ngọn đèn chao động, đó mới là chỗ kỳ diệu vậy.
Ba con thiêu thân rơi xuống rồi, Tâm Đăng mới bắt đầu dùng sức, ép cho ngọn đèn tỏa rộng ra!
Ánh lửa bị ép mỏng tang như tờ giấy mà không tắt, Thiết Điệp gật gù nói nhỏ vào tai của Khúc Tinh :
- Chú tiểu này đã luyện đến mức Chúc Ảnh Dao Hồng thật là ngoài sự tưởng tượng của ta.
Nhưng mà việc ngoài sự tưởng tượng ấy còn nhiều...
Lần thứ ba, Tâm Đăng dùng sức bàn tay đè rồi ngọn đèn dần dần bẹp dí xuống cơ hồ gần tắt.
Và chú từ từ thu hồi bàn tay, để rồi ngọn đèn lại cháy như cũ, Cô Trúc nghĩ thầm :
- Không biết thằng này học Đại Thừa thần công ở đâu?
Thì ra khi Bệnh Hiệp học Đại Thừa thần công, thì võ lâm không ai biết, đến Cô Trúc không ngờ Bệnh Hiệp đã truyền môn võ công này cho Tâm Đăng.
Chính vào lúc các vị lão tiền bối trong võ lâm đang bàng hoàng ngơ ngẩn, thì Tâm Đăng lại phát chưởng.
Lần này cánh tay của chàng đưa thẳng ra, và ngọn đèn bỗng tắt phụt, và Tâm Đăng thu tay về, ngọn đèn lại bừng cháy lên mãnh liệt!
Và Tâm Đăng lại phát chưởng, biểu diễn thêm một lần nữa, làm cho Lư Âu phải hét to lên :
- Trời!... Tam Đàm Ấn Nguyệt.
Bốn chữ “Tam Đàm Ấn Nguyệt” làm cho chúng kỳ lão phải giật mình, và họ đưa mắt nhìn về phía vách tường.
Vách tường cách xa bức tường ngần một thước, vậy mà lúc bấy giờ trên bức tường màu trắng, đã bị hơi khói của ngọn đèn làm thành ba chấm đen theo hình tam giác.
Và trong ba chấm đen kia, có ba vòng tròn mầu trắng, thoáng trông như ba mặt trăng nằm trong áng mây mờ...
Điều đó mới thật là ngoài sự tưởng tượng của mọi người.
Thiết Điệp khen dậy :
- Tam Đàm Ấn Nguyệt, mười mấy năm trước ta đã từng thấy, nhưng so với Tâm Đăng bây giờ thật là kém xa một trời một vực.
Thế là chúng kỳ lão bàn tán xôn xao về cái trò Tam Đàm Ấn Nguyệt.
Mọi người không biết được đó là nhờ Tâm Đăng đã học được Đại Thừa thần công của Bệnh Hiệp, chúng kỳ lão đồng ngợi khen Cô Trúc đã dạy được một đứa học trò cao thâm đáo để.
Chỉ có một mình Bệnh Hiệp thì mừng thầm, vì việc riêng này, chỉ một mình ông hay biết mà thôi.
Bệnh Hiệp trong lòng thầm nghĩ :
- Thằng nhỏ này quả thật không phụ công lao khó nhọc của ta, nó đã luyện phép Tam Đàm Ấn Nguyệt một cách nhanh chóng như vậy, thì ta chết cũng nhắm mắt!
Đôi mắt lờ đờ của Bệnh Hiệp lúc bấy giờ tỏa ra một thứ ánh sáng vừa kiêu ngạo, vừa thỏa mãn, nhưng mọi người chẳng ai phát giác, chi có một mình ông ta say sưa mà hưởng cái mùi vị thành công đó.
Chúng anh hùng ngợi khen một chặp mà Tâm Đăng vẫn đứng sừng sững giữa nhà, Cô Trúc hỏi rằng :
- Tâm Đăng, mi chưa lui ra còn đợi chừng nào?
Tâm Đăng cung kính trả lời :
- Thưa sư phụ, tôi biểu diễn chưa hết! Còn nữa...
Chúng anh hùng nghe nói, thảy đều giựt mình kinh hãi, những ngần ấy người nghĩ rằng :
- Chắc chú tiểu này còn có một món võ công khác lợi hại hơn Tam Đàm Ấn Nguyệt!
Đang lúc đó thì Tâm Đăng thong thả nhắm nghiền cặp mắt, chắp hai tay lại như một vị lão tăng nhập định, rồi thình lình thấy Tâm Đăng khe khẽ trổ tài hai ngón tay ra.
Mọi người nghe một tiếng “bốp” vang lên, thì tim đèn đang cháy hừng hực trên bàn đã bị Tâm Đăng dùng ngón tay của mình điểm cho phép Cách Không, làm cho gãy hẳn đi một đoạn.
Đoạn tim đèn còn lại bị gãy chẽ ra làm ba, còn đoạn bắn rơi ra, thì bắn vù lên cao hơn một thước.
Tâm Đăng bình tĩnh thò bàn tay hữu ra khẽ vẩy một cái, thì tim đèn đứt ra đó lại rơi ngay xuống, ráp vào chỗ gãy ban nãy, và ngọn đèn lại bừng bừng bốc cháy như xưa.
Đó là ngón Phật Đà Điểm Đăng, thuộc về một món võ cao thâm nhất của nhà Phật, chúng anh hùng đều không ngờ Tâm Đăng với chừng tuổi non nớt này, mà lại luyện được môn Phật Đà Điểm Đăng một cách tinh vi đến nhường ấy!
Lúc bấy giờ Tâm Đăng mới mỉm cười mà lui về đứng gần bên mình của Cô Trúc, đồng thời chú trao cho Bệnh Hiệp một nụ cười thông cảm.
Ba con thiêu thân nãy giờ rơi xuống đất, bây giờ lại thình lình vỗ cánh bay lên, lượn chung quanh ngọn đèn trông thật đẹp mắt.
Buổi ban sơ, mọi người đều tưởng rằng Tâm Đăng dùng chưởng lực của mình đánh chết mấy con thiêu thân, chớ không ngờ chú chỉ dùng sức mạnh mà ép nó cho rơi xuống mặt đất.
Và bây giờ chú thu hồi chưởng lực, cho nên bọn chúng lại bay lên mà lượn chung quanh ngọn đèn...
Môn biểu diễn của Tâm Đăng thật là trúng cách đối với mỗi người xuất gia đầu Phật, vì đó hoàn toàn thể hiện cái ý từ bi không sát sanh của nhà Phật.
Khúc Tinh vỗ tay cười ha hả :
- Một người có cốt cách như Tâm Đăng đây thật hiếm có trong vòng trời đất... những vị có tên tuổi nơi đây, khi tuổi tác bằng Tâm Đăng, e rằng võ công chưa bằng phân nửa nó.
Cô Trúc mừng thầm trong dạ, nhưng lại nghiêm sắc mặt mà nói :
- Khúc huynh chớ vội khen... chú tiểu này còn kém lắm! Nếu Khúc Huynh có lòng chỉ bảo thì hãy tiếp với tôi một tay, Khúc huynh nghĩ thế nào?
Cô Trúc bất quá chỉ nhất thời cao hứng, mà buông ra một câu nói giỡn, không ngờ Khúc Tinh lại chộp lấy cơ hội ha hả cả cười :
- Thật ta không nghĩ lão già này chịu nhường đồ đệ lại cho ta, nhân dịp này ta phải truyền cho nó vài ngón.
Cô Trúc trả lời bằng một nụ cười cởi mở, Tâm Đăng không ngờ vài ba câu nói giỡn của nhị vị tiền bối này lại giúp cho chàng một cơ hội để học thêm một môn tuyệt kỹ.
Bọn hậu sinh thảy đều biểu diễn sở trường của mình ra, chúng anh hùng vui vẻ nhập tiệc trở lại và khi rượu qua ba tuần thì bỗng Vạn Giao đứng phắt dậy cười rằng :
- Bọn hậu sinh đã phô bày nghệ thuật, bây giờ đến lượt mấy lão già phải trổ tài riêng đây.
Tiểu Thạch và Khắc Bố thảy đều vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, Thiết Điệp cười rằng :
- Hay lắm! Lão Vạn đã đề nghị như vậy thì xin hãy ra tay trước!
Khúc Tinh vỗ tay cười sang sảng :
- Lão Thiết nói đúng lắm, mời lão Vạn ra tay trước.
Mọi người đều tán đồng ý kiến của Khúc Tinh, Vạn Giao cười rằng :
- Ta biết bọn mi thế nào cũng làm khó dễ ta, mười mấy năm nay xương của ta đã khô, da của ta đã héo nào có luyện được gì đâu...
Câu nói của Vạn Giao chưa dứt thì Lư Âu đã buông ra một chuỗi cười lanh lảnh :
- Lão Vạn... mười mấy năm nay không một người nào trong chúng ta dám chểnh mảng võ công, phần mi chắc cũng luyện được một hai món gì ghê gớm lắm? Chẳng lẽ lần này mi đến Tây Tạng không phải vì vấn đề của thằng Trác Đặc Ba?
Vạn Giao nghe nói mặt mày thất sắc, nhưng ông ta biết tánh tình của Lư Âu nên không dám sinh sự.
Chúng anh hùng nghe lời nói của Lư Âu thảy đều có sắc giận lộ ra ngoài nét mặt.
Bởi vì lời nói của Lư Âu không những động chạm đến một mình Vạn Giao mà lại đụng đến chỗ bình sinh đại sỉ nhục của chúng anh hùng.
Người đau đớn nhất có lẽ là Cô Trúc, vì ông ta vốn mang danh võ công đệ nhất thiên hạ, nên ông ta dằn không nổi cơn tức giận, hét vang :
- Lư Âu hôm nay là buổi tiệc liên hoan để mừng cho Lạc huynh, cớ sao mi lại nhắc đến việc đau buồn trong dĩ vãng? Mi cứ nhắc nhở cái thằng Trác Đặc Ba, hay là mi thầm thương trộm nhớ nó?
Câu nói đột ngột của Cô Trúc làm cho Lư Âu giận đến tái xanh sắc mặt, nhưng bà ta lại không dám trêu chọc đến lão già quái đản này, bà ta dằn cơn tức giận :
- Cô Trúc, ngươi nghe chẳng xuôi tai thì thôi, sao lại buông lời vô lễ trách mắng ta?
Cô Trúc vừa định cãi lại, thì Khúc Tinh đã khoát tay ngăn lại :
- Thôi... chúng ta hãy nhẫn nhịn để cho Lạc huynh được nằm yên ngơi nghỉ...
Thiết Điệp nối lời :
- Đừng nói lôi thôi dài dòng, Vạn huynh hãy mau biểu diễn một trò tuyệt kỹ, để cho chúng tôi nới rộng con mắt.
Vạn Giao lúc bấy giờ mới mỉm cười bước ra, rồi bỗng đi đến bên cạnh Bệnh Hiệp :
- Lạc huynh cư ngụ ở trong này có thấy bực bội lắm không?
Bệnh Hiệp chỉ trừng mắt ngơ ngác nhìn Vạn Giao, Vạn Giao nói tiếp :
- Ý của tôi là muốn mở thêm cửa sổ cho Lạc huynh, chẳng hay Lạc huynh có bằng lòng chăng?
Bệnh Hiệp mới sực nhớ ra và ông ta chớp nhanh cặp mắt mấy cái tỏ vẻ đồng ý.
Còn bọn Tâm Đăng và Khắc Bố thảy đều kinh hãi, vì họ nghĩ rằng, tòa nhà này đúc toàn bằng những khối đá xanh dầy hơn ba thước, nếu theo công lực của Vạn Giao, dùng một chưởng để đánh thủng một bức tường là một việc dễ, nhưng muỗn soi thủng một lỗ vuông vức để làm cửa sổ thì lại là một điều vạn nan.
Vừa nghĩ đến đây thì Vạn Giao đã bước lên giữa nhà, ông ta rảo mắt nhìn quanh, đoạn lẩm bẩm nói :
- Phía Đông?... hay phía Tây... à để ta mở một cửa phía trên từng nhà trước đã!
Nói rồi, hai cánh tay của lão đưa phắt lên trời và một tiếng “bùng” kinh rợn vang lên, vôi cát gạch ngói bắn ra tứ tung rơi đầy trên mặt đất.
Chính vào lúc đó thì Vạn Giao thình lình thu hai ống tay áo của mình, đưa về phía ngoài ngõ...
Có nhiều mảng gạch ngói, bị sức của Vạn Giao thảy đều bay vùn vụt ra phía cửa, chúng anh hùng thấy vậy thảy đều nhìn lên nóc nhà, thảy đều kinh ngạc, vì trên trần vẫn còn một màu lờ mờ đen vẫn còn nguyên vẹn, không có gì thay đổi.
Mấy cậu bé thảy đều hỏi thầm trong dạ :
- Thật là lạ! Mái nhà vẫn y nguyên như cũ vậy mảng gạch ngói đổ nát ban nãy từ đâu mà có......
Chỉ có đôi mắt của Tâm Đăng là bén nhạy nhất nên chú thoáng thấy trên trần nhà có một vòng tròn màu trắng, ngoài ra không còn chỗ nào khác lạ nữa!
Chúng lão anh hùng thảy đều gật đầu lầm bầm, mặc dù họ toàn thuộc hạng cao thủ thượng thừa nhưng họ đều ngán ngẩm cho chưởng lực của Vạn Giao.
Không hẹn mà họ thầm nghĩ :
- Tài bộ của thằng họ Vạn này quả thật tăng tiến bội phần, không kém ta bao nhiêu!
Vạn Giao dùng ống tay áo của mình đưa một số gạch vụn ra ngoài rồi, quay đầu trở lại hỏi Bệnh Hiệp :
- Lạc huynh! Tôi mở cửa sổ như vầy có thấy mát chăng?
Bệnh Hiệp khẽ gật đầu tỏ vẻ đồng ý, Vạn Giao vừa định mở miệng nói chuyện, bỗng nghe tiếng thằng Tiểu Thạch :
- Mở cửa sổ như vầy khi trời mưa thì trong nhà sẽ ướt như ngoài sân!
Thiết Điệp thấy nó nói chuyện ồn ào vô lễ, vừa định lớn tiếng mắng vài câu bỗng Vạn Giao trỏ vào mặt nó nói :
- Thằng nhỏ này thật thông minh, không nhờ mày nhắc thì ta có lẽ quên khuấy đi mất...
Tiểu Thạch chưa biết mình bị “móc” đắc chí cười ha hả...
Mọi người thấy gương mặt của Vạn Giao thoáng hiện lên mấy nét cười thật khó hiểu, hai cánh tay ông ta từ từ đưa lên phía trên, và một việc lạ lùng đã xảy ra!
Thì ra từ trên mái nhà có một tảng đá tròn trịa, đường kính dài hơn một thước từ từ rơi xuống...
Tảng đá này chung quanh bóng nhoáng, dường như do một tên thợ đá tài tình khắc nên.
Và trên mái nhà, lúc bấy giờ để lộ ra một cái cửa sổ tròn trịa, ánh trăng bàng bạc từ bên trên chiếu xuống, đem đến trung gian nhà này một vệt trắng xanh mờ huyền ảo, in một dấu tròn vành vạnh bên giường của Bệnh Hiệp..
Điều làm cho người ta lạ lùng hơn là tảng đá này dường như có một người buộc một sợi dây từ từ thòng xuống, chầm chậm rơi vào hai tay của Vạn Giao.
Mọi người thảy đều khen vang dậy, Vạn Giao quay sang nói với Bệnh Hiệp :
- Nếu trời có mưa thì Lạc huynh bảo mấy thằng nhỏ nó đẩy tảng đá này lên như vầy...
Vừa nói, Vạn Giao vừa khẽ nâng hai bàn tay lên, và tảng đá tròn trịa kia từ từ bay lên phía trên, nhẹ nhàng trám kín mít vào lỗ hổng, nhìn không ra một khe hở nào.
Mấy người trẻ tuổi kinh hồn thất sắc, vì thấy chưởng lực của Vạn Giao đã luyện đến mức nhập thần, có thể cương nhu tiện dụng, phi một người tốn năm mươi năm để rèn luyện, không thể nào thành công đến mức này được.
Vạn Giao vỗ tay bôm bốp hỏi rằng :
- Lạc huynh có cần tôi mở thêm hai cửa sổ bên đông và tây chăng?
Bệnh Hiệp khẽ lắc đầu, tới chừng đó Vạn Giao mới mỉm cười rút lui.
Lão ta trở về ngồi bên bàn, kẹp một miếng thịt gà to tướng nhai ngấu nghiến để tự khao thưởng cho mình.
Lư Âu quắc mắt hỏi :
- Bây giờ tới phiên ai?
Khúc Tinh đứng phắt dậy, mỉm một nụ cười thật tươi mà nói rằng :
- Đến phiên ta... thú thật mười mấy năm nay ta không ngưng luyện võ nhưng tiến bộ chậm lắm, quí vị hãy chờ xem!
Thiết Điệp lớn tiếng trả lời :
- Ta chống ý kiến đó, xem nhãn thần của nhà ngươi thì tài bộ tăng tiến vượt bậc, mi hãy mau biểu diễn ra, đừng nói dài dòng.
Khúc Tinh rảo mắt nhìn quanh, thấy chỗ mình đang đứng chỉ là một gian phòng nhỏ, tuy tuyệt kỹ của mình có nhiều nhưng chưa biết làm sao biểu diễn trong chỗ chật hẹp như vậy.
Chính vào lúc ông ta đang phân vân nghĩ ngợi thì từ bên ngoài bỗng có một luồng gió lốc thổi mạnh vào và vô tình mang vào gian nhà bé nhỏ kia một đóa hoa hồng tươi thắm.
Nhìn đóa hoa tung bay trước gió, ông ta vụt nhớ ra cách mình sẽ biểu diễn một màn vô cùng ngoạn mục.
Nhặt đóa hồng lên ông ta nói với Bệnh Hiệp :
- Lão Vạn mở cửa sổ cho mát thì ta trang hoàng ngôi nhà này cho đẹp.
Cô Trúc cười nhẹ nói :
- Ta biết mi có ngón Đàn Hoa Thần Chỉ, hôm nay có dịp trông thấy, thật là vạn hạnh.
Thì ra Khúc Tinh là một người hào hoa phong nhã, tính tình ưa những vật đẹp, nhất là yêu hoa.
Vì vậy mà ông ta luyện được một môn võ công kỳ quái, tự ban cho cái tên Phất Chỉ Đàn Hoa.
Đây là một môn võ công trong làng võ chưa ai luyện tới, đến một người lai lịch lâu dài như Cô Trúc mà vẫn chưa có dịp xem tận mắt.
Khúc Tinh cười trả lời :
- Cái môn tiểu xảo điêu trùng khắc triện này, lào huynh hà tất phải khen.
Khúc Tinh nói rồi cầm đóa hoa đưa cho mọi người xem, đoạn bảo :
- Xin quí vị hãy nhớ cho kĩ hình dạng của đóa hoa này... đây là một đóa hoa Hồng Cúc.
Mọi người đều chăm chú nhìn đóa hoa trong tay lão, thấy quả thật đó là một đóa hoa Hồng Cúc, vừa mới nở nhuỵ bán khai.
Đợi cho mọi người xem kĩ rồi lão ta mới thối lui trở ra giữa nhà, cầm đóa hoa trong tay, lão khẽ rũ một cái, những cánh hoa hồng cúc lập tức rơi lả tả trên bàn tay hữu của lão, chỉ còn lại đơn độc một chiếc nhánh mà thôi...
Mọi người đang lấy làm lạ, không hiểu tại sao lão ta lại hủy hoại một đóa hoa tuyệt đẹp như vậy, và không biết lão ta sẽ biểu diễn trò gì đây!
Khúc Tinh lại thối lui hai bước, nhìn về hai vách tường tả hữu, cách đó chừng non hai trượng, ông ta cười rằng :
- Tôi bắt đầu hiến một đường võ, tất cả năm mươi sáu miếng, trong năm mươi sáu miếng này tôi sẽ ném ra năm mươi sáu cánh hoa và cuối cùng là cành hoa.
Vừa dứt lời, thân hình ông đảo nhanh vùn vụt, như một chiếc xe gió khổng lồ, vừa nhanh vừa đẹp.
Miếng võ đầu tiên ông ta tung ra là Tiên Phật Tống Tử, người ta thấy trong bàn tay của ông ta có một đạo hồng quang bay ra vùn vụt ghim thẳng vào tường.
Tiếp đó ông ta tiếp tục thi triển một đường võ danh trấn giang hồ, thân hình của ông ta chập chờn như bóng ma trơi, bóng chưởng khi mờ khi tỏ, ống tay áo bay vùn vụt trong gió loạn, làm cho những người có mặt trong nhà thảy đều lộ vẻ kinh nghi.
Cứ mỗi lần ông ta thay đổi một thế võ là mỗi lần trong lòng bàn tay bay ra một đạo hồng quang khảm sâu và tường phía trước mặt.
Những người trẻ tuổi thấy vậy thảy đều giương cặp mắt trợn trừng nhìn ông ta không chớp.
Tâm Đăng nghĩ thầm :
- Thật là quái lạ, cớ sao bọn này thảy đều võ nghệ cao cường, tinh vi xuất sắc? Rất tiếc Bệnh sư phụ nằm trên giường không thì ông ta cũng sẽ biểu diễn một trò hay đáo để.
Chú vừa nghĩ đến đây thì Khúc Tinh đã liên tiếp biểu diễn hai mươi sáu thế võ liên hoàn, tốc độ càng gia tăng mãnh liệt, ngần ấy động tác dường như dính liền vào nhau một xâu chuỗi dài vô tận.
Cô Trúc càng xem càng mê mẩn tâm thần, ông ta thầm nghĩ :
- Không ngờ cách biệt mười tám năm võ nghệ của hắn lại nhanh như thế này!
Cùng trong một lúc Lư Âu cũng nghĩ :
- Cứ công lực của hắn không kém mình bao nhiêu!
Khúc Tinh biểu diễn đến thế võ thứ ba mươi sáu thì tốc độ tình lình chậm trở lại, và rốt cuộc như người “lập thiền” đứng hẳn lại, hai chân đứng vững trên mặt đất yên như Thái Sơn, chỉ có hai vai hơi khẽ động đậy mà thôi.
Và mỗi lần khẽ động đậy như vậy thì lại có một vệt hồng quang bay vèo tới khảm sâu vào tường.
Chừng đó mọi người nhìn mới thấy thì ra trên tường đã hiện lên một đóa hồng tươi đẹp, giống hệt như đóa hoa Khúc Tinh đã cầm ban nãy.
Chúng anh hùng thảy đều lấy làm kinh dị, vì đó chính là phép Phi Hoa Thương Nhân, mà những bậc luyện võ đến mức tinh vi tuyệt xảo mới có thể sử dụng.
Người biết phép này chỉ cần dùng một cành cây, một tàu lá là có thể đả thương một đối thủ cách xa vài ba mươi trượng.
Nay Khúc Tinh dùng phép này để ném những cành hoa nhỏ bé, mong manh kia khảm sâu vào tường với một lối ném vô cùng chính xác, đã tạo nên một đóa hoa cực kỳ tươi đẹp khảm sâu vào vách.
Với bản lĩnh cao siêu kỳ diệu đó, làm cho một bậc võ lâm đệ nhất cao thủ là Cô Trúc cũng phải buột miệng khen ngợi.
Mãi đến thế võ thứ bốn mươi hai thì tốc độ của Khúc Tinh lại nhanh nhẹn vô cùng, và thân hình của ông ta lại dường như tung tăng bay nhảy, xa trông dường như một con cá chép đang vùng vẫy giữa dòng nước bạc.
Có lúc lại hiên ngang mạnh bạo như một con hổ tung hoành giữa chốn rừng xanh, có lúc lại lồng lộn mãnh liệt như rồng thiêng giữa biển.
Và cứ mỗi lần thay đổi thế võ, một đạo hồng quang lại bay ra, tiếp tục tô điểm cho đóa hoa trên tường thêm phần tươi thắm.
Và đến khi trong tay ông ta chỉ còn lại một cành hoa, ông ta định dùng một thế võ cao siêu nhất, đẹp mắt nhất để chấm dứt trò biểu diễn, bỗng thình lình...
Người ta nghe Khúc Tinh hét lên một tiếng dữ dội :
- Ai đó?
Tiếng hét chưa dứt thì ông ta đã vung bàn tay hữu ra, và người ta thấy trong lòng bàn tay của ông ta có một đường màu xanh bay ra vun vút, tương tự như một con rắn lục, uốn éo bay vút ra cửa.
Và mọi người thoáng thấy một lão đạo sĩ râu tóc bạc phơ, thân hình béo mà lùn, mồm cười toe toét hiện ra trước cửa, trong tay lão đạo sĩ này cầm chặt cành hoa mà Khúc Tinh ném ra ban nãy.
Chấm dứt chuỗi cười, lão đạo sĩ nói :
- Lão Khúc, đây là lễ diện kiến của mi chăng?
Vừa nói, lão ta vừa ve vẩy cành hoa trong tay.
Và mọi người đồng cười ồ lên vì biết lão đạo sĩ này chẳng phải người xa lạ, chính là một bậc đứng hàng thứ ba trong Nam Hải thất kỳ, trong giang hồ gọi là Tam Bạch đạo trưởng, tên thật là Liễu Liễu.
Khúc Tinh cười trả lời :
- Ta ngỡ ai, té ra Liễu đạo trưởng... hay lắm... hay lắm...
Liễu Liễu gật gù cái đầu bạc phơ, trao cho Khúc Tinh một nụ cười hể hả, lão ta nói :
- Món đồ chơi này ta trả cho mi.
Câu nói chưa dứt thì bằng một động tác cực kỳ lanh lẹn, ông ta sử một thế Ngọc Nữ Đầu Thoa, phóng cành hoa bay vù về phía Khúc Tinh.
Không tránh né, Khúc Tinh chờ cho cánh hoa cách mình còn năm tấc, bất thình lình đảo bộ, trổ hai ngón tay thần tốc, điểm vào cành hoa để thay đổi phương hướng của nó.
Và cành hoa kia như một mũi tên lìa ná, bay vù tới khảm sâu vào bức tường, gắn liền với đóa hoa đã khảm tạo thành một bức tranh vô cùng đẹp mắt.
Thế rồi hai lão nắm tay nhau đến bên giường Bệnh Hiệp, Liễu Liễu bùi ngùi nói rằng :
- Mười mấy năm không gặp, không ngờ Bệnh Hiệp lại đến nỗi này!
Bệnh Hiệp chỉ trao cho ông ta một cái nhìn biết ơn, chợt nghe Thiết Điệp nói :
- Chúng ta mỗi người đều phải biểu diễn một món nghề riêng để giúp vui cho lão Lạc, vậy bây giờ tới phiên mi... Liễu Liễu.
Liễu Liễu giật mình, biết bà ta nhắc chừng mình đừng gợi thêm nỗi buồn cho Bệnh Hiệp.
Ông ta vội vàng hỏi Bệnh Hiệp :
- Lão Lạc... mi có đồng ý như vậy không?
Bệnh Hiệp chớp nhanh cặp mắt tỏ vẻ đồng ý. Chợt nghe Cô Trúc hỏi :
- Liễu Liễu, bảy anh em của bọn mi đều mạnh giỏi cả? Bọn họ có theo mi đến đây chăng?
Liễu Liễu lắc đầu trả lời :
- Phải đến hai năm nữa thì bọn họ mới đến, nhưng e rằng chỉ tới một người thôi vì Nam Hải thất kỳ đã đi tứ tán gần mười mấy năm nay...
Bỗng ông ta rảo mắt nhìn quanh khắp nhà hỏi Cô Trúc :
- Ai là Tâm Đăng?
Cô Trúc cau mày nghĩ thầm :
- Tại sao lão già này cũng biết Tâm Đăng?...
Tâm Đăng nghe nhắc đến tên mình vội vàng bước ra xá chào, vừa muốn mở miệng nói chuyện thì Lư Âu đã gạt ngang :
- Chúng ta đang biểu diễn võ công thì mi tới la lối quấy rầy... bây giờ phạt mi biểu diễn một trò cho Bệnh Hiệp xem.
Liễu Liễu cười hề nói rằng :
- Thôi được!
Nói rồi thò tay với bình rưọu trên bàn bước ra giữa nhà nói :
- Để tôi dâng rượu tạ tội với quí vị.
Mọi người nghe nói thảy đều cầm chung rượu trên tay.
Liễu Liễu khoát nhẹ bàn tay một cái thì bình rượu tự động vỡ nắp đó là miếng Cách Không Hấp Thạch, phi một tay rèn luyện trên mấy mươi năm không thể nào thi thố nổi.
Thế rồi lão lại vung bàn tay hữu ra đè nhẹ trên miệng bình, từ trong miệng bình tức khắc có một tia nước vọt ra, tạo thành một đường vồng cầu tuyệt mỹ...
“Cây rượu” ấy tuần tự rót vào chén của mọi người không để rơi ra ngoài một giọt.
Những người trẻ tuổi thấy vậy thảy đều reo theo vang dậy. Liễu Liễu cười ha hả chộp lấy bầu rượu, ngửa miệng lên trời, đoạn lắc lư bầu rượu liên hồi mà chẳng có rượu rơi ra. Lão lẩm bẩm nói :
- Rượu chia hết rồi, phần ta chẳng có, thật là đáng tiếc.
Chợt nghe Thiết Điệp trả lời :
- Thôi, để ta nhường cho mi!
Bàn tay của bà từ trong ống tay áo thò ra, búng ly rượu lên không mà nói tiếp :
- Để ta hâm lại cho nồng.
Nói rồi từ trong lòng bàn tay của ba toát ra một làn hơi nóng truyền vào ly rượu, làm cho rượu trong ly xoáy mạnh tạo thành một lỗ xoáy con con.
Không mấy chốc người ta thấy trong ly rượu bốc lên một làn hơi nghi ngút và mùi thơm của rượu bay ra ngào ngạt, Liễu Liễu thấy vậy cười rằng :
- Rượu nóng thế này thì bảo ta làm sao uống được.
Và khi Thiết Điệp đặt ly rượu trước mặt Liễu Liễu thì rượu trong ly đã sôi lên sùng sục.
Thiết Điệp cười rằng :
- Khoan... để ta ra ngoài một chốc, lúc trở về mi sẽ uống.
Dứt lời không chờ cho Liễu Liễu trả lời, bà ta quay ngoắt người chạy như bay ra cửa.
Người ta thấy một vệt khói mờ bắn vút ra ngoài rồi mất dạng trong màn đêm. Lư Âu hậm hực nói :
- Hừ... để xem mi diễn trò con khỉ gì?

Xem tiếp chương 17 Thiết Điệp luận kinh rượu chưa tan hơi nóng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:03 pm

Chương 17 Thiết Điệp luận kinh rượu chưa tan hơi nóng

Mọi người không biết Thiết Điệp đi đâu, Tâm Đăng cũng lấy làm lạ, chợt nghe thằng Tiểu Thạch hô hoán lên :
- Thơm quá... mùi gì thơm quá?
Tâm Đăng ngước đầu lên thì thấy Trì Phật Anh men về phía mình, từ mái tóc của nàng toát ra một mùi hương êm dịu, chàng khẽ gọi :
- Phật Anh...
Phật Anh cũng se sẽ hỏi lại Tâm Đăng :
- Độ rày mi vẫn mạnh giỏi?
Tâm Đăng gật đầu trả lời :
- Vẫn mạnh! Còn cô? Sao lâu quá không thấy đến viếng chùa?
Phật Anh liếc nhìn Lư Âu thấy bà ta đang trò chuyện cùng Cô Trúc, nên trả lời nho nhỏ :
- Bà già quỷ này ép ta luyện võ nên không rảnh đến thăm mi.
Tâm Đăng nghe thấy một mùi vị ngọt ngào dâng lên trong lòng mình, chàng bần thần ngắm nhìn vuông lụa đen che trên khuôn mặt của Trì Phật Anh một cách tò mò.
Phật Anh nói tiếp :
- Mi còn bao lâu mới hoàn tục?
Tâm Đăng giật mình, bởi vì chàng rất ghê sợ phải nghe đến hai chữ “hoàn tục” nên gắng gượng trả lời :
- Trung Thu năm tới.
Phật Anh co tay lên lẩm nhẩm tính ngày, đoạn nói tiếp :
- Đến khi mi hoàn tục thì chúng ta có thể tự do chơi đùa với nhau.
Mẩu đối thoại đến đây thì bị thằng Tiểu Thạch la lên cắt đứt :
- Chúng bay chuyện trò gì thế?
Câu nói của Tiểu Thạch làm cho Lư Âu ngoảnh sang và bà ta thét :
- Phật Anh trở sang đây?
Phật Anh lườm Tiểu Thạch một cái mắng :
- Đồ đần.
Rồi mới ngoan ngoãn trở về chỗ mình ngồi ban nãy.
Chưa kịp ngồi xuống thì một luồng gió từ bên ngoài thốc thẳng vào, và Thiết Điệp đã dừng chân bên bàn trong một nụ cười duyên dáng.
Hai tay bà thu trong ống tay áo một cách bí mật, Liễu Liễu hỏi :
- Lão Thiết, nãy giờ mi đi đâu?
Thiết Điệp trả lời :
- Rượu bây giờ chắc vừa miệng, mi hãy uống đi!
Liễu Liễu thò tay ra bưng ly rượu lên, quả thật bây giờ hơi rượu đã ấm áp, thật là vừa uống, ông bưng ly rượu lên nốc thẳng một hơi dài mà lòng nghi hoặc.
Vì ông ta không ngờ khí lực của Thiết Điệp lại mạnh mẽ dường ấy, có thể làm cho rượu sôi lên, chợt nghe Thiết Điệp văng vẳng nói bên tai :
- Ta vừa vào Bố Đạt La Cung luận kinh với viên trụ trì...
Tâm Đăng nghe nói cả kinh thất sắc, chú không bao giờ tin rằng với một khoảng thời gian ngắn ngủi đó mà Thiết Điệp đã đi đến Bố Đạt La Cung luận kinh với trụ trì rồi trở về trong nháy mắt.
Chính những tay kỳ lão trong làng võ có mặt hôm nay thảy đều không tin, Lư Âu trợn mắt ngờ vực hỏi :
- Mi đến Bố Đạt La Cung chắc không tay trắng mà trở về, mi giấu gì trong ống tay áo đó đưa ra xem.
Thiết Điệp từ từ rút tay ra, thì ra đó là một dải lụa bạch, bên trên có những dòng chữ của trụ trì Bố Đạt La Cung.
Mọi người ghé mắt nhìn xem, quả thật đó là một đoạn kinh trong “Hành Tông Luận”, dòng chữ còn mới rành rành, óng ánh hơi mực vẫn còn chưa ráo.
Mọi người thấy vậy thảy đều tin chắc, bàn tán xôn xao về cái thuật khinh công tuyệt vời của Thiết Điệp.
Thiết Điệp lộ vẻ phi thường đắc ý, bà liếc nhìn Lư Âu lúc bấy giờ đang hậm hực cắn chặt vành môi méo mó.
Bỗng Lãnh Cổ đứng phắt dậy nói rằng :
- Bây giờ mới đến lượt ta đây...
Chợt nghe Lư Âu thét lên lanh lảnh :
- Mi nhường cho ta.
Nói rồi trợn mắt bước ra.
Bà thò bàn tay khẳng khiu của mình ra, năm ngón tay quấu chặt lại như vấu ó, bà chộp lấy một con cá trong đĩa, rũ mấy cái cho sạch nước, đoạn nói rằng :
- Ta lười biếng lắm, ta không muốn đi xa để xin chữ của lão hòa thượng, vậy xin mượn con cá này để biểu diễn một trò mọn.
Thiết Điệp biết bà ta cố ý muốn nói móc mình, nhưng không lộ ra ngoài sắc mặt, chỉ chờ cơ hội mới trả lại một đòn đích đáng.
Lư Âu vừa dứt lời búng nhẹ hai ngón tay, thế là con cá bay bổng lên hơn một trượng rồi mới rơi trở xuống.
Chính vào lúc con cá còn cách mặt đất chừng bảy tám thước, thì bỗng thình lình Lư Âu thò bàn tay hữu ra.
Thế là con cá kia dường như bị buộc vào một sợi dây treo lơ lửng giữa từng không, rồi quay lên lông lốc, càng quay càng nhanh, rốt cuộc tỏa ra một làn ánh sáng trông thật đẹp mắt bao quanh nó.
Thế rồi con cá vô tri đó tùy theo chiều hướng bàn tay của bà Lư Âu điều khiển mà khi lên khi xuống, thoạt tả thoạt hữu, bay nhảy giữa từng không một cách linh động vô cùng.
Chợt nghe Lư Âu khẽ nạt :
- Lấy thịt cá cho chim ăn chơi.
Dứt lời bà ta đẩy mạnh bàn tay hữu ra, một làn hơi tạt mạnh lên trần nhà, và lạ lùng thay con cá kia vẫn không bị hơi gió tạt của Lư Âu mà bay đi.
Nó vẫn nằm im chỗ cũ mà quay cuồng lông lốc, duy chỉ có màu sắc tươi đẹp ban nãy là lần lần ngả sang màu trắng, xám... rồi trắng tươi.
Chúng anh hùng nhìn kỹ bất giác bội phục vô cùng.
Thì ra thịt cá lúc bấy giờ đã bay đi mất, chỉ còn thừa lại một chiếc xương cá trắng tinh đang quay lông lốc.
Chỗ khéo của môn chưởng lực này là ở chỗ dùng sức mạnh để bóc hết thịt cá mà không làm thương tổn đến xương cá, đến con người như Cô Trúc mà cũng tấm tắc khen thầm, ông tự bảo với mình :
- Đây là Lương Tương chưởng lực của bà ta.
Vừa nghĩ đến đây thì Lư Âu giơ bàn tay tả ra vẩy mạnh một cái, miếng xương cá lập tức bay về trong đĩa.
Mọi người thảy đều khen dậy, Trì Phật Anh vỗ tay reo lên :
- Sư phụ phải truyền môn nghệ thật này cho con để con bóc thịt cá.
Lúc bấy giờ đã vào khoảng canh tư, Cô Trúc thấy đã luân đến phiên mình, vội đứng dậy nói :
- Để ta ra ngoài kia bách bộ một chút!
Nói rồi mình đi ra ngoài.
Trong một loáng mọi người bỗng nghe có tiếng chim én kêu inh ỏi, thảy đều lấy làm lạ và Cô Trúc đã tươi cười bước trở vào.
Người ta thấy cách trên đỉnh đầu ông ta chừng nửa thước có chừng mười mấy con chim én lượn chung quanh.
Mặc dù chúng nó cố gắng vùng vẫy nhưng không thể nào bay thoát ra khỏi phạm vi năm thước.
Mấy người trẻ tuổi thấy vậy reo cười ầm ĩ, Cô Trúc cười rằng :
- Ta bắt én về cho chúng bay chơi.
Câu nói chưa dứt thì mười mấy con chim én bỗng thình lính mất hết dẫn lực tung cánh bay nhảy khắp nhà.
Cô Trúc chỉ vào bầy chim én mà nói :
- Trong vòng mười tiếng ta sẽ bắt mười con chim én này trở về, nhưng mười ngón này thảy đều sử dụng giữa không trung, nếu nửa chừng mà ta rơi trở về mặt đất kể như ta thua.
Dứt lời, Cô Trúc ngửa mặt nhìn lên, thấy mười con chim én bay lung tung tản mác khắp mọi nơi.
Bỗng nhiên Cô Trúc cất lên một tiếng hú thật dài làm kinh động những người trong gian nhà đá.
Tiếp theo tiếng hú, thân hình của ông ta bắn lên như một mũi tên trong cái thế Bổ Phong Tróc Ảnh, và người ta thấy có một con chim én lọt vào bàn tay của lão.
Tiếp theo đó, thân hình của lão như một người phi hành giữa không trung, khi tả khi hữu, lúc đông lúc tây, xa trông dường như một áng mây mờ bay lững thững.
Cứ mỗi một lần thay đổi một thế võ là mỗi một lần ông ta lấy đó làm điểm tựa để cho thân hình cứ đảo qua đảo lại giữa từng không.
Mỗi một thế võ đều là một đòn danh chấn giang hồ, làm cho ai nấy phải tấm tắc ngợi khen.
Trong chớp mắt, mười đòn đã dứt và ông ta mới la đà rơi trở về mặt đất.
Người ta thấy ông cười niềm nở, xoè hai bàn tay ra, trong mỗi lòng bàn tay có năm con chim én đang chớp cánh cựa quậy muốn bay lên mà không tài nào bay nổi.
Lão ta buông ra một tràng cười khoái chá và bảo :
- Thôi... cho chúng bay về với tự do.
Nói đoạn đưa nhẹ hai bàn tay ra cửa, và mười con chim én tức khắc mất hết dẫn lực và bay vù vù ra cửa.
Lúc bấy giờ phương đông đã dần dần hửng sáng, và mọi người đều phải đứng dậy đề nghị giải tán buổi liên hoan.
Bệnh Hiệp lấy mắt ra dấu cho Tâm Đăng lấy một tấm giấy đưa ra để trước mặt mình, mọi người còn đang ngơ ngác, chưa hiểu đầu đuôi thì Bệnh Hiệp khẽ dùng mi mắt của mình động đậy nhè nhẹ.
Đến khi Bệnh Hiệp mở bừng mắt ra thì trên tấm giấy đã bị soi thủng một hàng chữ :
“Đa tạ chư vị”.
Việc này làm cho mọi người lấy làm lạ, vì rằng một người mang bệnh sắp sửa lìa đời kia lại còn đủ công lực để dùng nội công soi thủng những chữ này.
Tâm Đăng và Khắc Bố ôm lấy Bệnh Hiệp mà nước mắt rơi tầm tã!
Thế rồi buổi liên hoan giải tán trong khi bình minh ló rạng, và trong ngôi nhà đá lạnh lùng kia chỉ còn lại một mình Bệnh Hiệp và Khắc Bố.
Bệnh Hiệp thở một hơi dài ảo não, từ từ khép đôi mắt của mình lại.
* * * * *
Ánh trăng thu bàng bạc chiếu khắp Bố Đạt La Cung, lúc bấy giờ trong chùa đã vắng bặt tiếng kinh. Đó đây im lìm lặng lẽ.
Tâm Đăng học ôn lại võ công của ba phái rồi, nghe thấy tinh thần của mình sáng suốt lắm, chú ngồi xuống trên một chiếc ghế đá, đưa tay chống cằm mà ngắm vầng trăng lạnh.
Chú nghĩ :
- Khi trăng mùa thu hiện lên là ta sẽ phải hoàn tục! Và ta sẽ phải hoàn thành nhiều việc... và ta phải lo việc của ta, là tìm cho ra nguồn gốc, cha mẹ ta là ai?
Chắc họ không phải là người Tây Tạng, vì nếu họ là người Tây Tạng thì họ đã tới thăm ta.
Tâm Đăng nghĩ đến đây, bất giác vô cùng kinh hãi, lẽ ra việc sống chết với chú không ăn nhằm gì, nhưng mà mỗi khi nghĩ đến cha mẹ đã chết đi, không thể đến thăm mình, chú bất giác ứa ra vài dòng nước mắt.
Còn đang bùi ngùi than thở, chợt thính giác báo cho chú biết có một người vừa phóng qua, làn gió nghe có vẻ gấp lắm.
Tâm Đăng lặng lẽ khinh công đuổi theo bén gót, bóng đen có vẻ hơi thấp đang chạy về hướng Kim Nga điện. Bóng đen nấp bên ngoài nghe ngóng rồi nhảy vào trong điện. Tâm Đăng nhẹ nhàng đến bên cửa sổ dòm vào. Té ra bóng đen đó là Vô Danh lão nhân.
Lão ta mặt mày hầm hầm sát khí đương đưa chưởng lên bức bách một người mà mới thoạt nhìn Tâm Đăng vô cùng sửng sốt, đó là Tạng Tháp, vị đại sư trụ trì của Tâm Đăng.
Bỗng nghe Vô Danh lão nhân cất tiếng lạnh lùng :
- Tạng Tháp! Nếu mi muốn sống thì hãy đưa Tàm Tang khẩu quyết cho ta, còn nếu không ta giết mi tức khắc.
Tạng Tháp khẽ nói :
- Quyển sách này do một người theo đạo nhà Phật là Tàm Tang Tử viết ra, ông viết với một thiện chí, không ngờ Phật tử lại lạm dụng nó để làm điều xằng bậy.
Bây giờ ta thu hồi mà trả về cửa Phật, thí chủ xem ta làm như thế có phải hay không? Nếu phải thì đừng cản trở.
Không biết Tạng Tháp quả có thật lòng, hay là ông ta đóng kịch, nhưng mà giọng nói của ông ta thật chân thành và cảm động.
Tâm Đăng nghe nói, máu nóng nổi lên bừng bừng, tự nói với mình :
- Nếu vì lý do này mà Tạng Tháp không chịu trao quyển sách này ra thì thật là đáng phục.
Vô Danh lão nhân trầm ngâm nghĩ ngợi đoạn nói một câu sắc lạnh :
- Nếu mi đã có lòng tốt thì cớ sao lại tạo ra một quyển sách giả để hại Y Khắc?
Tạng Tháp nghe hỏi, thẹn đỏ bừng sắc mặt, lớn tiếng nói rằng :
- Y Khắc là một người dưới tay ta, nhưng lại gian ngoan xảo quyệt, không trung thành với ta nên ta cho nó một bài học.
Câu nói của Tạng Tháp chưa dứt thì Vô Danh lão nhân đã cười khan mà cắt đứt :
- Tạng Tháp... Mi thật là giỏi nói, Y Khắc đã chết rồi thì ai chứng kiến việc này... Ha ha...
Sắc mặt của Tạng Tháp càng ngày càng khó coi, ông ta nói nho nhỏ :
- Ta là người trong cửa Phật, ta cần làm sao cho tâm tính được bình tĩnh, ngoài ra không thiết việc gì nữa.
Tâm Đăng lấy làm lạ tự hỏi mình :
- Thế là thế nào? Phật đã bảo phổ độ chúng sinh chứ không có bảo mình chỉ giữ toàn vẹn lấy mình mà thôi!
Về phần Vô Danh lão nhân bị mấy câu nói của Tạng Tháp làm cho nóng giận, ông ta hỏi với vẻ quyết liệt :
- Vậy thì... Hòa thượng bây giờ mi nghĩ sao?
Tạng Tháp biết rằng công lực của mình kém lão già này xa lắm, nhưng khi lão ta nhớ đến lão già này sẽ lấy được quyển thiên hạ đệ nhất kỳ thư trong lòng mình đây, thì máu nóng sôi lên sùng sục, ông ta tự nói với mình :
- Ta rơi vào biển khổ đã lâu thì cứ hãy đắm chìm trong biển khổ! Dù chết, ta cũng không trao quyển sách này ra... Vạn bất đắc dĩ ta hủy bỏ quyển sách.
Nghĩ đến đây, đã định, nên trong lòng Tạng Tháp cảm thấy bình tĩnh hơn ban nãy, ông ta thò tay ra thủ một thế cực kỳ hóc hiểm đoạn nói rằng :
- A di đà Phật, quyển sách này bần tăng nhất định chẳng trao ra...
Vô Danh lão nhân nghe nói, đôi mắt trợn trừng, tóc tai dựng ngược.

Xem tiếp chương 18 Máu thắm nhuộm rừng hoang

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:04 pm

Chương 18 Máu thắm nhuộm rừng hoang

Vô Danh lão nhân nói một câu đầy sát khí :
- Tạng Tháp! Mi hãy suy nghĩ cho kỹ, đây là giờ phút quyết định sự sống chết của mi!
Tạng Tháp nghe nói mà mặt biến sắc, biết rằng đêm nay lành ít dữ nhiều, mình không phải là đối thủ của hắn ta, nhưng bảo mình phải trao quyển Tàm Tang khẩu quyết cho người, thì thà là chết chứ chẳng chịu trao ra.
Tạng Tháp từ từ ngẩng đầu dậy, nói một câu đầy bi thiết :
- Người xuất gia chúng ta sẵn sàng nhớ câu “Dĩ thân tuẫn đạo”.
Vô Danh lão nhân ngửa mặt lên trời cười ròn rã :
- Hay lắm! Khi Y Khắc chết đi mi đã từng bốn chữ này biếu nó, bây giờ đến lượt mi nay.
Tạng Tháp tái mặt nói rằng :
- Người xuất gia chúng ta tin rằng khi gặp điều đại nạn, biết đâu sẽ gặp đường giải thoát?
Vô Danh lão nhân tỏ vẻ khó chịu, gật gù :
- Hay lắm! Để ta xem mi giải thoát bằng cách nào?
Dứt lời ông ta rũ ống tay áo, bay vù tới bên mình của Tạng Tháp, nhẹ nhàng trổ ra một đòn Phi Vũ Phá Vân, đấm một đòn sấm sét vào giữa mặt của Tạng Tháp.
Tạng Tháp giật mình, biết trốn cũng không thoát nên cắn răng mà trả đòn, ông ta khẽ nhón gót cho thân hình bắn lùi ba thước, chưa kịp trả đòn thì bàn tay hữu của Vô Danh lão nhân quất ngược trở lên để trổ đòn thứ hai là Hải Điểu Lược Ba.
Hai ngón tay của lão như hai tia điện chớp, xỉa mạnh vào huyệt Giai Tĩnh của Tạng Tháp.
Hai đòn này thật nhanh không thể tả lại liên hoàn chặt chẽ với nhau, Tạng Tháp thấy chỉ lực của người này thật là vô cùng lợi hại, nên lại bắn lùi thêm ba bước để trốn đòn.
Và lần này... chân vừa đứng vững, thì Tạng Tháp vội vàng dùng bàn tay tả trổ ra một đòn Bá Thạch Kim Sơn, tống vào huyệt Tâm Kinh của Vô Danh lão nhân một đòn sấm sét.
Tạng Tháp tuy kém hơn Vô Danh lão nhân nhưng cũng thuộc hàng cao thủ, lại có tinh thần tử chiến, mỗi một đòn đều tung ra mười phần sức lực nên thanh thế thật là đáng sợ.
Vô Danh lão nhân dường như chưa dốc hết toàn lực, Tâm Đăng nhận thấy thân hình của ông ta nhanh như một chiếc xe gió, luồn qua lách lại, xen vào giữa kẽ hở những đưỡng võ của đối phương mà tiến thoái như bay, thỉnh thoảng lại tung ra một đòn trí mạng.
Tâm Đăng vừa thấy Vô Danh lão nhân xuất thủ thì biết Tạng Tháp lành ít dữ nhiều nên để hết tinh thần vào cuộc chiến, chú nghĩ thầm :
- Nếu Tạng Tháp lâm nguy, ta sẽ tức tốc giải cứu!
Đêm lạnh lùng trôi.
Một người tăng, một người tục, lặng lẽ mà thẳng tay sát phạt với nhau, bốn bề im phăng phắc, chỉ có tiếng quyền cước đi rì rào trong gió.
Tâm Đăng nhìn kỹ thấy những thế võ của Vô Danh lão nhân hình thức vô cùng kỳ quặc, khí lực lại hùng hồn, mỗi một thế võ thảy đều biến hóa ly kỳ, làm cho Tâm Đăng khó mà lường trước được.
Chú thầm nghĩ :
- Công lực người này tuy cao nhưng hãy còn kém sư phụ một bực, nếu ta dốc toàn lực thì có thể cầm đồng ngang ngửa.
Lúc bấy giờ cuộc chiến càng lúc càng găng, Tạng Tháp quyết lòng tử chiến nên khí thế thật là hùng dũng.
Thấy Tạng Tháp chưa có vẻ gì nguy biến nên Tâm Đăng bỏ lơi không chú ý nữa, nhờ đó mà chú phát giác ra sau lưng mình dường như có tiếng động khẽ.
Bằng một động tác cực kỳ nhẹ nhàng, chú quay đầu nhìn lại thấy có người con gái hình dáng yểu điệu đang thò tay ra vẫy mình.
Tâm Đăng lấy làm lạ, tự nói với mình :
- Sao Mặc Lâm Na lại ra đây?...
Và không biết từ đâu nổi lên một luồng mãnh lực làm cho hai chân Tâm Đăng từ từ xê dịch về phía Mặc Lâm Na.
Còn hai lão già đang hồi kịch chiến nên chưa phát giác có người ở bên cạnh.
Tâm Đăng lại lấy làm lạ kỳ vì chàng càng xê dịch càng tới gần chừng nào thì Mặc Lâm Na cũng từ từ rút lui chừng nấy, thần sắc vừa khẩn trương vừa sợ hãi, dường như nàng rất sợ hai lão già kia phát giác.
Thân hình của hai người như hai chiếc bóng ma, xê dịch ra ngoài hơn mười trượng, thì Tâm Đăng đã tiến sát đến bên Mặc Lâm Na se sẽ hỏi rằng :
- Cô đến đây làm gì?
Mặc Lâm Na tỏ vẻ lo sợ, nắm tay áo của Tâm Đăng mà nói :
- Tiểu hòa thượng... Mi trốn ở đây làm gì, đừng can thiệp vào làm gì coi chừng mất mạng đó!...
Tâm Đăng nghe nói lấy làm lạ, hỏi nho nhỏ :
- Tại sao? Cô biết Vô Danh lão nhân ư?
Mặc Lâm Na trả lời qua một thái độ lo âu :
- Đừng hỏi lôi thôi, mi hãy đi khỏi chỗ này.
Tâm Đăng lắc đầu nói :
- Không được! Tôi không thể rời khỏi chỗ này vì vị hòa thượng kia là trụ trì của Bố Đạt La Cung khi xưa.
Mặc Lâm Na thấy Tâm Đăng cưỡng lại ý mình, tức tối giậm chân nói rằng :
- Việc này đã biết, mi hãy mau trở về chùa.
Tâm Đăng thấy nàng cứ hối thúc mình trốn tránh bằng một thái độ chân thành tha thiết, trong lòng không biết đầu đuôi ra sao, chú nghĩ :
- Hay là việc này có liên quan mật thiết đến nàng?...
Ý nghĩ của chàng thình lình bị cắt ngang bởi một tiếng hét não nùng rùng rợn của Tạng Tháp.
Giữa đêm trường vắng lặng, tiếng gào thét của Tạng Tháp làm cho người ta mọc ốc cùng mình, hồn phi phách táng.
Như một kẻ điên cuồng, Tâm Đăng rút phắt ống tay áo của mình lại, bay vù về phía Tạng Tháp.
Trong lúc đó thì Mặc Lâm Na vội vàng trổ ra một đòn Thám Mã Trảo nhanh như một tia chớp, chụp lấy bậu áo cà sa của Tâm Đăng, nhưng với tốc lực phi thường của Tâm Đăng nàng đâu với kịp.
Nàng hốt hoảng rú lên :
- Tâm Đăng! Đừng can thiệp vào việc của người khác.
Tâm Đăng nào chịu vâng lời, nhún mình thêm một cái nữa chàng đã bay mình đến bên Tạng Tháp.
Thấy Tạng Tháp bây giờ ngã ngửa trên mặt đất, trước ngực máu đổ ròng ròng, còn Vô Danh lão nhân thì đi đâu mất dạng.
Tâm Đăng bàng hoàng ngơ ngẩn, chú ngồi xuống bên Tạng Tháp, ôm Tạng Tháp vào lòng.
Ông ta mắt nhắm nghiền, sắc mặt trắng bạch, vạt áo trước ngực đã bị móc rách, máu thịt be bét trông thật là kinh rợn.
Hai dòng nước mắt ứa ra trên gò má của Tâm Đăng, chú điểm một ngón vào huyệt Khuyết Trung của Tạng Tháp để cầm máu, rồi lại xoa nắn huyệt Khí Hải.
Tạng Tháp mơ màng hồi tỉnh, nhường cặp mắt lên nhìn khắp bốn bề bằng một cách cực kỳ tuyệt vọng, sắc mặt của ông cau có lại, ông mơ màng không biết mình đang nằm ở nơi đâu?
Nhưng chỉ có một việc mà ông biết rõ là quyển Tàm Tang khẩu quyết đã bị cướp mất rồi.
Tâm Đăng thấy ông ta vẫn chưa định tỉnh nên vội vàng điểm thêm một ngón vào huyệt Bách Hội rồi hỏi nho nhỏ rằng :
- Đại sư!... Đại sư!...
Chú nức nở nói không ra lời vì suốt mười mấy năm sống trong cuộc đời tôn giáo, Tạng Tháp là một người hiền từ cao quý mà chú hằng ngưỡng mộ.
Nhưng không ngờ Tạng Tháp ngày hôm nay lại rời bỏ cuộc đời tôn giáo mà dấn thân vào biển khổ!
Bấy giờ thần trí của Tạng Tháp lần lần hồi tỉnh, ông ta phát giác người ôm mình dậy chính là Tâm Đăng, ông ta run rẩy nói :
- Ủa... Tâm Đăng.
Lệ ứa nay mặt, Tâm Đăng gật đầu nói :
- Đại sư... tôi chính là Tâm Đăng.
Tạng Tháp thều thào nói :
- Không ngờ mi cũng biết võ, vậy thì... những việc xảy ra mi đều trông thấy hết?
Tâm Đăng gật đầu thảm não :
- Phải! Con đều trông thấy.
Tạng Tháp lại thở dài nói rằng :
- Ta thật lấy làm hổ thẹn!.. Ta đã là một bậc Đại Lạt Ma lãnh đạo hơn bảy nghìn Lạt Ma vẫn không sao thoát khỏi biển khổ... ngược lại tự mình dấn thân vào con đường khổ ải.
Nghe Tạng Tháp nói, Tâm Đăng đau lòng lắm, chú lấy làm hối hận, tiếc cho đời sống tôn giáo của mình rồi đây cũng sẽ mất đi.
Chuỗi ngày quí báu này sẽ không bao giờ có nữa, và người khác sẽ không có dịp may mắn như chú mà hưởng thụ đời sống vô tư lự này.
Nay chú đã có nó mà chú lại muốn bỏ đi!
Trong lòng chú xốn xang bứt rứt vô cùng, Tạng Tháp nức nở một hồi đoạn thều thào nói tiếp :
- Cái chết bi thảm của Y Khắc là vết xe đi trước mà ta lại cứ chấp nê, dấn thân vào con đường tội lỗi... Đây là một sự báo ứng rõ ràng... Tâm Đăng, ta không bao giờ nghĩ rằng mi là người biết võ, mi không muốn hoàn tục, thì hãy thôi, đừng luyện võ công nữa... người xuất gia phải làm xứng đáng là người xuất gia. Đời ta đến đây là hết! Nhưng tâm trí của ta bình tĩnh lắm, ta không hờn giận, không sợ sệt, không nghi kỵ, tất cả đều là “không không”... và giờ phút này là giờ phút chân chính giác ngộ của ta đây.
Tâm Đăng nức nở bùi ngùi :
- Thưa đại sư, người đả thương đại sư đó là ai? Hắn có phải là người Tây Tạng?
Tạng Tháp buông ra một tiếng cười thê thảm :
- Đừng hỏi nữa, ta phải quên hết, quên tất cả...
Nhưng Tâm Đăng nào chịu quên, chú đeo theo hỏi cho kỳ được, nhưng Tạng Tháp không chịu trả lời, ông ta hổn hển nói rằng :
- Ta sắp đi rồi! Mong rằng khi ta chết, mi đem thi thể của ta trở về Bố Đạt La Cung, cứ nói rằng vô tình phát hiện ra thi thể của ta là được... Ta tin rằng Điệp Bố sẽ có lời giải thích êm xuôi... ta mong rằng ta được chôn thây trong Bố Đạt La Cung.
Tâm Đăng gật đầu, nước mắt ràn rụa, trả lời :
- Đại sư yên trí, thế nào tôi cũng đưa đại sư trở về Bố Đạt La Cung.
Trên gương mặt của Tạng Tháp bỗng lộ ra một nét cười đầy an ủi, ông ta thở hắt ra một hơi dài rồi mửa ra một bụm máu, Tâm Đăng biết ông ta sắp “đi” nên ôm lấy ông ta mà gào lên thảm thiết :
- Đại sư... đại sư...
Và Tạng Tháp dần dần xuôi tay nhắm mắt, Tâm Đăng loáng thoáng nghe ông ta mấy máy mấy chữ :
- Trác Đặc Ba... Trác Đặc Ba... hồ Tuấn Mã...
Nói dứt mấy chữ này rồi ông tắt thở trong lòng của Tâm Đăng.
Tâm Đăng đương lúc đau đớn vô hồi, bỗng thần kinh của chú bị kích thích mãnh liệt vì mấy chữ “Trác Đặc Ba”, chú ôm cái xác đã dần dần nguội lạnh của Tạng Tháp mà quay cuồng một ý nghĩ :
- Trời... cũng lại là thằng Trác Đặc Ba.
Tâm Đăng cúi xuống, nhìn thân xác co quắp của Tạng Tháp nằm trong lòng của mình mà đau đớn vô hồi.
Chú không ngờ một con người đã tu hành khổ hạnh mấy mươi năm, mà bấy giờ gặp phải cảnh bi thương ảo não như ngày hôm nay.
Ngổn ngang trăm mối, Tâm Đăng tự bảo lấy mình :
- Ta phải mang xác của Tạng Tháp về Bố Đạt La Cung, và để cho chúng Lạt Ma tự phát giác, như phát gíac cái xác của Y Khắc vậy.
Tâm Đăng quyết định rồi liền vác cái xác của Tạng Tháp mà đi thẳng về Bố Đạt La Cung, vừa đi trong trí của chú vừa quay cuồng một ý nghĩ :
- Thế là thế nào? Lại thằng Trác Đặc Ba? Còn chăng?
Hèn chi ta thấy nó tướng mạo đường hoàng mà thân hình hơi lùn, thì ra nó đã tự hủy hoại đôi chân của nó mới ra nông nỗi.
Từng cơn gió lạnh khua động những chiếc lá rừng nghe xào xạc, đêm càng về khuya khí hậu càng lạnh lùng khôn tả, bầu không khí thật họp với cảnh thê lương thảm đạm lúc bấy giờ.
Tâm Đăng ôm lấy cái xác lạnh như đồng, đây là lần thứ nhất trong đời chú ôm lấy một người đã chết.
Chú vượt qua khỏi bức tường của Bố Đạt La Cung, chú quyết định :
- Ta phải mang xác của Tạng Tháp đặt trước phòng chứa sách, để cho Mạc Cổ tự phát giác lấy, và an bài một cách êm ái, đừng để kinh động đến chúng Lạt Ma.
Thế là chú quay đầu về phía lầu chứa sách mà đi thẳng.
Nhún mình bay nhẹ lên mái lầu chứa sách, Tâm Đăng đặt xác của Tạng Tháp nằm vào chỗ của mình nằm ngủ khi xưa.
Trong phòng lúc bấy giờ chỉ có một ngọn đèn dầu leo lét, tỏa ra một thứ ánh sáng vàng ẻo, làm cho bầu không khí thêm phần bi thảm.
Tâm Đăng bùi ngùi giây lát rồi mới bay mình ra cửa sổ, thất thểu trở về phòng mình.
Vừa đi chú vừa suy nghĩ :
- Thật là lạ, chẳng biết Mặc Lâm Na trở về tự hồi nào mà ta chẳng hay biết? Tại sao nàng chẳng cho ta cứu Tạng Tháp? Nếu không có nàng biết đâu ta chẳng cứu được ông ta? Nàng vô tình mà tạo ra một điều tội lỗi, trời đất chắc chẳng dung thứ cho cô ta? A di đà Phật!
Tâm Đăng xô cửa vào phòng, buông mình thật mạnh lên giường của mình làm cho một chú tiểu gần đó giật mình thức giấc càu nhàu :
- Tâm Đăng, việc gì thế?...
Chú trả lời gắt gỏng :
- Việc mật, chẳng có việc gì... Mi ngủ đi...
Thế rồi hai người mơ màng nhắm mắt, đêm ấy Tâm Đăng mơ một giấc mơ kinh khủng.
Sáng ngày hôm sau Bố Đạt La Cung xôn xao náo nức, những vị Lạt Ma cao cấp, thảy đều đi lên tầng trên nhất để mở cuộc hội nghị bí mật.
Ai nấy thảy đều lấm la lấm lét, cho rằng Bố Đạt La Cung đã xảy ra một việc hệ trọng.
Đến chiều hôm đó, trụ trì là Điệp Bố tuyên bố rằng chiều hôm ấy ông ta sẽ dùng cơm chay chung với bảy nghìn Lạt Ma.
Mọi người đều mừng rỡ, cho đó là một điều chưa từng có trong Bố Đạt La Cung.
Nào ngờ, sau khi dùng cơm... Điệp Bố đứng lên tuyên bố rằng :
- Hôm nay sở dĩ ta đến đây dùng cơm chỉ vì ngày mai này, chúng ta sẽ bắt đầu không dùng cơm nữa.
Toàn thể bảy nghìn Lạt Ma chúng ta phải tuyệt thực hai hôm để tưởng niệm một người, người ấy chính là cựu trụ trì Tạng Tháp.
Thật ra... Tạng Tháp đại sư không mất tích mà ông ấy lén giam mình trong Kim Nga điện để tuyệt thực cho đến chết ngõ hầu tự giải thoát cho mình.
Mãi đến ngày hôm qua đây, Tạng Tháp đại sư đã hoàn thành công việc của mình, và ông ta đã viên tịch trong Kim Nga điện.
Sau lời tuyên bố của trụ trì, mọi người thảy đều bùi ngùi than thở.
Bởi vì Tạng Tháp đối với họ, thật có uy tín, vì khi ông ta trụ trì Bố Đạt La Cung tỏ ra là một vị đắc đạo cao tăng, vì vậy mà ông mất đi mọi người đều thương tiếc.
Điệp Bố lại tuyên bố rằng :
- Chúng ta nên coi việc Tạng Tháp đại sư viên tịch là một điều vui mừng, nay ta thỉnh ý của đức Đạt Lai đúc tượng của Tạng Tháp để quàn trong Kim Nga điện, để cho người đời sau chiêm ngưỡng.
* * * * *
Trưa hôm đó, Tâm Đăng sẽ lén đi về phía ngôi nhà đá, báo tin này cho Bệnh Hiệp nghe.
Bệnh Hiệp nghe xong trợn trừng cặp mắt, ông ta không ngờ Tạng Tháp lại chết trong tay của Trác Đặc Ba, và càng không ngờ Trác Đặc Ba đã chiếm được Tàm Tang khẩu quyết.
Tâm Đăng thưa với ông ta rằng :
- Sư phụ xin cho con đến hồ Tuấn Mã một phen.
Bệnh Hiệp gạt ngang :
- Không được... Mi không được làm kinh động. Trước khi mi hoàn tục, mi tuyệt đối không thể đến hồ Tuấn Mã.
Mi cố giữ hành tung cho thật bí mật, đừng để Trác Đặc Ba sinh nghi.
Bệnh Hiệp lại dặn :
- Ngày mai mi khỏi phải đến đây nhưng ngày kia phải đến.
Tâm Đăng cúi đầu vâng dạ rồi trở về Bố Đạt La Cung.
Về đến nơi thì chúng đồng đạo đã ngủ vùi, sau khi buông mình lên giường, chú chợt nhớ ra miếng bài vị của Vân Cô trao cho mình.
Chú vội vàng trở dậy, mang nó sang bên Trắc Điện, tìm một nới vắng vẻ để yên rồi bắt đầu tụng kinh gõ mõ.
Câu kinh tiếng mõ đã đem đến sự bình thản cho tâm hồn của chú.
Và khi tụng xong hồi kinh, chú bước trở ra ngoài, bỗng giật mình vì nghe có tiếng ám khí xé gió bay vèo vèo, vội vàng thò tay ra sử một thế Bổ Phong Tróc Ảnh.
Trong cái chớp mắt, chú đã bắt gắn một vật, thì ra đó là một tấm giấy vo tròn, nhìn quanh đi quẩn lại không thấy bóng dáng một ai.
Lấy làm nghi hoặc, chú trở về phòng mình, vuốt phẳng tấm giấy ra, thấy trên đề mấy dòng chữ :
“Tâm Đăng.
Canh ba đêm mai ta gặp mi tại Kim Nga điện.
Khúc Tinh”.

Xem tiếp chương 19 Khúc Tinh đại hiệp truyền Phi Châm tú chưởng

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:04 pm

Chương 19 Khúc Tinh đại hiệp truyền Phi Châm tú chưởng

Đọc xong chú ngầm nghĩ :
- Chắc lão ta đến để truyền võ cho mình, ta thật muốn đến hồ Tuấn Mã để tìm thằng Trác Đặc Ba... để xem hắn là tay lợi hại đến thế nào cho biết.
Nghĩ đoạn, chú ngả lưng ra ngủ và đêm ấy lại chập chờn làm mấy giấc chiêm bao.
Sáng ngày hôm sau, Bố Đạt La Cung được lệnh của đức Đạt Lai, chắc có lẽ có người bắn tin cho đức Đạt Lai hay cái chết bí ẩn của Tạng Tháp, nên ngài không bằng lòng cho đúc tượng Kim Thân mà chỉ cho phép làm lễ an táng một cách trọng thể.
Thi hài của ông được chôn cất trong Bố Đạt La Cung và cất một ngôi nhà kỷ niệm nho nhỏ. Đức Đạt Lai thân hành viết ba chữ khắp lên ngôi nhà kỷ niệm đó, gọi là :
“Tạng Tháp Đường”.
Đêm ấy trời vừa chập choạng tối, Tâm Đăng đã vô cùng nôn nóng, chú đi đi lại lại trên Kim Nga điện để chờ Khúc Tinh.
Trong đầu chú vẫn quay cuồng mấy chữ :
- Trác Đặc Ba... hồ Tuấn Mã... Tàm Tang khẩu quyết...
Chú rất hối hận vì quyển sách này đã lọt vào tay mình một lần mà mình lại để cho nó mất đi.
Cảnh ngộ đau đớn của Bệnh Hiệp và Cô Trúc cùng cái chết bi thảm của Tạng Tháp đã gây ra trong lòng chú một mối căm thù Trác Đặc Ba đến tột đỉnh.
Còn đang nghĩ ngợi triền miên thì có tiếng vỗ tay khe khẽ, quay đầu nhìn lại thì quả thật là Khúc Tinh.
Không ngoài sự ước đoán của chàng, Khúc Tinh đến đây để ép chú học võ.
Nằn nì ép uổng lâu lắm, Tâm Đăng mới khứng, và Khúc Tinh hẹn ba ngày sau sẽ gặp nhau trên ngọn đồi Tiểu Bình cách Bố Đạt La Cung ba dặm đường.
* * * * *
Đồi Tiểu Bình.
Cách Bố Đạt La Cung ba dặm.
Tâm Đăng đến đó chờ đợi đã lâu mà không thấy Khúc Tinh đâu. Chú càu nhàu :
- Cứ theo lời ông ta bảo thì sẽ truyền cho mình môn Phi Châm Tú Chưởng gì đó, thật là chán.
Câu nói của chàng chưa dứt chợt có tiếng cười ha hả của Khúc Tinh :
- Tiểu hòa thượng, mi thật là vô lễ.
Tâm Đăng hổ thẹn đỏ bừng sắc mặt, thấy Khúc Tinh và Thiết Điệp từ trong ven rừng bước ra.
Khúc Tinh tiếp lời :
- Tâm Đăng, mi có biết Thiết sư bá có một môn võ công đắc ý nhất là gì chăng?
Tâm Đăng trả lời :
- Quả thật tôi chưa biết.
Khúc Tinh mỉm cười mà rằng :
- Thiết sư bá của mi có môn võ công gọi là Lộ Chu Chi Tinh, nghĩa là khinh công của bà ta khi vận dụng ra thì thân hình còn nhẹ hơn một hạt sương buổi sớm.
Và ông ta nói tiếp :
- Thiết sư bá của mi sẽ truyền môn võ nghệ này cho mi đêm nay.
Tâm Đăng quyết lời từ chối nhưng không sao được vì hai người ấy nằn nằn quyết một hai truyền lại cho Tâm Đăng.
Hai người phân công như vầy: canh hai Tâm Đăng học với Khúc Tinh, canh ba luân đến phiên Thiết Điệp.
Thế rồi ba thầy trò bắt đầu luyện võ.
Tâm Đăng lấy làm lạ vì môn võ của Khúc Tinh truyền lại bằng kim chỉ, ông ta thò tay vào túi rút ra một gói nữ công đoạn dạy cho Tâm Đăng vận nhãn quang lên mà thêu những đường chỉ nhỏ rức.
Việc làm tuy đơn sơ nhưng phí rất nhiều sức lực, thêu chưa được một đóa hoa mà Tâm Đăng mồ hôi vã ra như tắm.
Khúc Tinh cười rằng :
- Môn võ công Phi Châm Tú Chưởng này nếu mi học thành công thì nội lực sẽ tăng tiến bội phần, và đường võ của mi tung ra thảy đều khéo léo như người đàn bà may vá thêu thùa vậy.
Tâm Đăng thêu được một đóa hoa thì đã mãn canh hai, và từ xa xa tiếng trống canh trổ sang ba tiếng.
Thế là lại đến lượt Thiết Điệp dạy võ cho chú.
Tâm Đăng chán chường lắm, vì thật ra, đối với chú không còn hứng thú nữa, chú thấy rằng hễ người nào học võ thảy đều mang nhiều điều oan nghiệp, nhưng không biết từ chối thế nào cho được nên đành phải gắng gượng mà học.
Tâm tư đó Thiết Điệp đã đọc thấu, nhưng bà ta bất chấp, bảo với Tâm Đăng rằng :
- Bây giờ mi bắt đầu chú ý đây.
Nói đoạn thân hình của bà ta bay bổng lên mười mấy trượng, Tâm Đăng giật mình nhìn theo thì thân hình của bà ta đã rơi xuống trên cành cây bé nhỏ.
Mũi giày của bà đạp nhẹ lên hai chiếc lá non mơn mởn, và thân hình của bà lướt trong cơn gió lộng về đêm.
Ngón khinh công tài tình đó làm cho Tâm Đăng sững sờ kinh dị, hèn chi mà bà ta luận kinh với Điệp Bố mà rượu chưa tàn hơi nóng.
Gương mặt bà ta thật điềm đạm, dường như quên hẳn mình đang đứng trên chót vót ngọn cây. Thái độ bình tĩnh đó càng làm cho Tâm Đăng thán phục.
Chợt nghe bà ta bảo :
- Mi hãy tống về phía ta một chưởng xem sao.
Tâm Đăng nghe nói lấy làm thích thú lắm, vội xắn tay áo lên mà nói :
- Sư bá coi chừng, tôi phát chưởng đây!
Nói vừa dứt lời, Tâm Đăng tức tốc trổ ra một đòn Hoa Đăng Thổ Nhị, từ trong lòng bàn tay của chú có một luồng gió thổi mạnh về phía Thiết Điệp.
Đòn này chỉ dùng ba phần sức mạnh nhưng khí thế lẫy lừng có thể tan bia nát đá như chơi.
Nhưng luồng chưởng phong vừa thoát đi một nửa thì Thiết Điệp đứng trên ngọn cây cũng nhẹ nhàng thay đổi cung bộ và tống ra một chưởng.
Hai luồng sức mạnh giáp mối vào nhau giữa từng không vang lên một tiếng “Bốp” rợn người.
Khá khen cho Thiết Điệp, đứng trên ngọn cây chót vót, chỉ dùng hai chiếc lá khô làm điểm tựa mà không hề hấn.
Còn Tâm Đăng thì loạng choạng thối lui một bước.
Tâm Đăng cả khen :
- Thật là lợi hại.

Xem tiếp chương 20 Hiển lộng khinh công dụ Tâm Đăng học võ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:04 pm

Chương 20 Hiển lộng khinh công dụ Tâm Đăng học võ

Thiết Điệp mỉm cười nói tiếp :
- Mi hãy thử thêm một lần nữa.
Tâm Đăng lấy làm thích thú, lắc đầu thúc giục :
- Không cần phải thử, sư bá cứ dạy cho tôi.
Bà ta thò tay ra vẫy Tâm Đăng và chú nhẹ nhàng bay vút lên, nắm lấy tay bà ta mà nài nỉ :
- Sư bá hãy dạy cho tôi môn khinh công này.
Thì ra ban nãy Thiết Điệp chỉ trổ sơ một chút nghề riêng cũng đủ làm cho Tâm Đăng mê mẩn tâm thần, phải nài nỉ bà ta mà học.
Bà nắm lấy tay Tâm Đăng, hai người bay trở về mặt đất, bằng một động tác cực kỳ nhanh nhẹn bẻ hai nhánh cây nhỏ bé, cắm vào mặt đất chỉ chừa ra ngoài một đoạn chừng ba bốn phân mà thôi.
Thiết Điệp trỏ ngọn cây đó mà bảo :
- Tiểu hòa thượng, mi hãy phi thân lên đó xem sao.
Tâm Đăng vâng lời nhảy vù lên ngọn cây, không ngờ Thiết Điệp lại hối :
- Bây giờ mi hãy rướn gân cổ mà kêu lên.
Tâm Đăng càng lấy làm lạ không hiểu tâm lý bà ta, nhưng vẫn phải gắng gượng kêu lên mấy tiếng lạ lùng quái dị.
Thiết Điệp ôm bụng cười nghặt nghẽo :
- Không được mi phải vận dụng nội công mà hú lên một tiếng thật dài.
Tâm Đăng nghe lời, thủ một thế Kim Kê Độc Lập đứng trên ngọn cây, dồn hết khí lực vào tận Đan Điền rồi phát ra một tiếng hú trầm hùng không thể tả.
Tiếng hú vang đồng vọng, có lúc như tiếng hổ gầm, có lúc như tiếng rồng ngâm, có lúc thanh tao dìu dặt, có lúc oai hùng có thể tan vàng nát đá.
Màn đêm mờ mịt, tiếng hú của Tâm Đăng nương theo hơi gió mà đồng vọng đến chốn xa xăm, làm cho cư dân gần đấy đều bàng hoàng thức giấc.
Sở dĩ người luyện khinh công đến mức cao thâm, thảy đều nhờ đem hơi sức từ đan điền lên, để cho thân người được nhẹ nhõm, hơi sức đem ra chừng nào thì thân hình nhẹ nhõm chừng ấy.
Nay Tâm Đăng đem hơi sức trong đan điền dồn ra ngoài nên thân hình nhẹ như bấc, nhưng tai ù mắt hoa, loạng choạng rơi trở về mặt đất.
Thiết Điệp nói :
- Hôm nay là bữa đầu tiên, mi luyện được đến mức này cũng là khá lắm, lần sau sẽ tiếp tục luyện thêm nhiều hơn nữa.
Đêm ấy chàng vất vả quá, vừa phải gắng sức thêu thùa một cách mệt nhọc, vừa phải gầm thét suốt đêm, cơ thể của chú mệt mỏi rã rời.
Suốt bảy đêm liền như thế, công lực của chàng đã tiến bộ nhiều hơn xưa quá nhiều, nghề thêu thùa của chú ngày càng thêm tinh vi, và khinh công của chú càng đạt đến mức tuyệt đỉnh.
Trong môn thêu giản dị kia có tiềm tàng một đường võ vô cùng lợi hại, có thể nói đường võ này là một đường võ phức tạp nhất trần gian.
Khi chú học xong, chú cảm thấy mình có thể đến hồ Tuấn Mã một cách yên lành và chú sẽ thành công rực rỡ.
* * * * *
Một tháng trời lặng lẽ trôi qua.
Và Tâm Đăng đã kết thúc đoạn đường học tập với Khúc Tinh và Thiết Điệp.
Chú thở phào một hơi nhẹ nhõm, dường như một người vừa trút được gánh nặng.
Đêm cuối cùng chú lê tấm thân mệt mỏi trở về Bố Đạt La Cung, vừa ngả mình lên giường, nghĩ rằng mình có thể ngủ một giấc yên lành sau một tháng trời học tập.
Nào ngờ... chính vào lúc đó có một người dùng một ngón tay búng nhẹ vào cửa mấy tiếng.
Tâm Đăng nổi nóng, càu nhàu :
- Lại người nào đến quấy rầy ta nữa, ta bất chấp, ta cứ ngủ một giác đã!
Nói rồi xoay mình vào bên trong nhắm mắt ngủ kỹ...
Người kia chờ đợi một lúc lâu không thấy động tĩnh lại búng nhẹ vào cửa thêm mấy tiếng.
Tâm Đăng vẫn không trả lời, chợt nghe có tiếng một người con gái nói một câu thanh tao nho nhỏ :
- Tâm Đăng! Ngủ chưa?
Tâm Đăng ban nãy quyết định ai gọi cũng không thức giấc, nhưng bây giờ nghe giọng nói người đó đập vào tai, vội vàng lồm cồm bò dậy, vì câu nói đó đã mang đến cho chú một nguồn kích thích mãnh liệt, bởi câu nói đó là giọng nói quen thuộc của Trì Phật Anh.
Vừa nhảy xuống giường, Tâm Đăng vừa trả lời :
- Chưa ngủ!.. Chưa ngủ...
Nói rồi mở cửa bước ra thấy Trì Phật Anh đứng cách đó ngoài ba thước, trên mặt vẫn che ngang vuông lụa, nàng nhìn Tâm Đăng bằng cái nhìn đầy vẻ huyền bí.
Tâm Đăng vừa lách mình bước ra thì Trì Phật Anh cũng xoay lưng bỏ đi, thì Tâm Đăng vội vàng đuổi theo nàng hỏi nho nhỏ :
- Cô đi đâu lâu quá, sao chẳng thấy đến thăm tôi?
Chú dường như thoáng thấy Phật Anh cười sau vuông lụa mỏng.
Phật Anh trả lời nho nhỏ :
- Gần đây ta không rảnh, mà ta cũng biết mi không rảnh.
Tâm Đăng giật mình nghĩ thầm :
- Chẳng lẽ cô ta biết mình học nghệ với Thiết Điệp và Khúc Tinh?
Mẩu đối thoại đến đây thì hai người đã bước đến một khu rừng sồi hoang vắng, Phật Anh ngồi xuống một phiến đá nói rằng :
- Tâm Đăng, ngày mai thầy cho ta nghỉ một ngày ta định rủ mi ra ngoài ru ngoạn, mi thấy có nên chăng?
Tâm Đăng mừng rỡ, nghĩ đến mấy hôm nay mình không đi thăm Bệnh Hiệp, vội trả lời rằng :
- Hay lắm! Nhưng sáng mai tôi không thể cùng cô đi chơi được vì tôi phải đi thăm Bệnh sư phụ.
Phật Anh suy nghĩ một lúc rồi nói rằng :
- Vậy thì chiều ngày mai, ta chờ mi trên ngọn đồi Tiểu Bình rồi sẽ đi ngoạn cảnh.
Tâm Đăng nghe nói, mừng lắm trả lời rằng :
- Được! Vậy chiều ngày mai tôi chờ cô tại đồi Tiểu Bình.
Phật Anh vui vẻ hỏi thêm rằng :
- Mi nghĩ xem, sau khi đến đồi Tiểu Bình, chúng ta sẽ đi đâu?
Tâm Đăng trầm ngâm nghĩ ngợi giây lâu mới nói :
- Mười mấy năm nay tôi chẳng ra khỏi chùa, không biết phong cảnh chỗ nào nên thơ, thôi để cô định đoạt vậy.
Phật Anh trầm ngâm suy nghĩ giây lâu mới trả lời :
- Vậy chúng ta đi ngoạn cảnh bờ sông.
Tâm Đăng mừng rỡ, vì rằng mười mấy năm nay, chú chưa hề thấy phong cảnh trời xanh nước biếc, vì suốt ngày phải giam mình trong Bố Đạt La Cung.
Thế là hai người quyết định một cuộc hành trình du ngoạn, Tâm Đăng có biết đâu sau chuyến đi chơi đó, đã để lại trong đời của hai người một mẩu tình lâm ly bi thiết.
* * * * *
Ngày hôm sau, Tâm Đăng từ ngôi nhà đá của Bệnh Hiệp trở về chùa, liền thay một bộ đồ thật sạch sẽ, trong lòng hớn hở mà tiến bước về phía ngọn đồi Tiểu Bình.
Khi chú đặt chân lên ngọn đồi thì Trì Phật Anh đã có mặt nơi đó.
Trên khuôn mặt của nàng hôm nay che một vuông lụa đen thêm, dày thêm, mái tóc huyền óng ả của nàng buông xuống hai bờ vai tròn trịa.
Tâm Đăng dầu mặc áo cà sa, nhưng vì chàng đã chừa tóc, lại búi trên đỉnh đầu, nên thoáng trông như một vị đạo sĩ.
Tâm Đăng hỏi :
- Sao cô cứ che mặt mãi thế?
Phật Anh chỉ lắc đầu mà không trả lời, chú nghe thấy Phật Anh dường như sợ hãi câu hỏi đó, càng tò mò, Tâm Đăng hỏi tiếp :
- Cô không phải là người Tây Tạng, cớ sao che mặt mãi?
Phật Anh có vẻ hờn dỗi trả lời :
- Tại sao mi cứ hỏi mãi?... Dường như mi muốn xem mặt ta lắm thì phải.
Tâm Đăng không ngờ nàng ta hỏi một câu thẳng vào tim đen của mình, bất giác đỏ mặt ấp úng trả lời :
- Không...! Tôi chỉ lấy làm lạ...
Phật Anh không trả lời, chỉ từ từ đi về phía trước, Tâm Đăng thấy trong tay nàng có xách một chiếc giỏ, vội hỏi :
- Trong giỏ đựng gì thế hả cô Phật Anh?
Phật Anh hờn yêu, gắt giọng :
- Ta biết thế nào mi cũng hỏi, đồ ăn chứ gì?
Thế rồi hai người từ từ rời khỏi ngọn đồi Tiểu Bình, vào giờ phút thần tiên này Tâm Đăng mới thật quên bẵng mình là một kẻ xuất gia đầu Phật.
Cặp thanh niên nam nữ đó, vừa vui vẻ chuyện trò vừa từ từ đi về phía con sông La Sa. Đó là một một con sông nằm ngang kinh đô Tây Tạng.
Lần lần Tâm Đăng thấy tốc độ của Phật Anh gia tăng, chàng cũng nhanh bước theo sau.
Không bao lâu hai người đã đến vùng trung du của con sông La Sa, trước mặt chú vùng mở ra một cảnh bao la bát ngát.
Người qua kẻ lại tấp nập, thuyền bè đậu san sát như lá tre, hàng trăm phu phen khuân vác lên xuống nườm nượp.
Đủ các sắc dân hiện ra trước mắt chú, nào người Tây Tạng, người Mông, người Hán... vội vàng... họ thảy đều tới lui nhộn nhịp, sống khác hẳn nếp sống bình thường giản dị ở trong chùa.
Chú ngây người ra trước cảnh tượng chú chưa từng thấy đó, tự nói với mình :
- À... thì ra những người ở ngoài đời, suốt ngày phải làm ăn lao lực để kéo dài đời sống của họ.
Tới giờ phút này, Tâm Đăng mới biết rằng, mỗi một con người muốn sống trên thế gian này thảy đều phải làm lụng một cách khó khăn vất vả.
Chú thấy trong thâm tâm mình lấy làm thán phục tinh thần lao động đó, vì từ ấy đến nay chú không hề nghĩ đến. Chú chỉ nghe những ông già Lạt Ma trong chùa nói rằng :
- Đời là biển khổ, con người chỉ là một con phù du bé nhỏ sớm mất tối tàn trong biển khổ mênh mông.
Nhưng ngày nay trước mắt chú thì khác hẳn, trên gương mặt mỗi người thảy đều lộ đầy vẻ thông minh và tràn trề hi vọng.
Chú thấy mỗi một người đều dùng hết sức lực để đẩy mạnh guồng máy trong xã hội này.
Đây là biển khổ ư?
Không!
Chú cảm thấy đây là mảnh đất mà cần con người phải ra sức làm lụng để sáng tạo, nếu con người mà muốn sống trên mảnh đất này thì phải nỗ lực làm việc, nếu không sẽ bị xã hội đào thải. Phật Anh đứng bên cạnh chú, thấy chú ngẩn người ra mà suy nghĩ, ngẩn người ra mà quan sát cái thế giới này.
Chú lộ ra một ánh mắt lạ lùng, kinh dị và sợ sệt.. Rõ ràng chú bị cái cảnh muôn sắc của xã hội làm cho cảm động!
Thình lình, Phật Anh vỗ vai chú hỏi :
- Nghĩ gì đấy?
Tâm Đăng giật mình quay lại cười rằng :
- Thật tôi không ngờ ở ngoài đời lại phức tạp như thế này, hèn chi mà nhà Phật bảo rằng đây là “đại thiên thế giới” (xã hội muôn mặt).
Phật Anh bật phì cười :
- Mi còn thuyết giáo nhà Phật gì nữa, mi đã không còn là người xuất gia, mi đã chừa tóc.
Tâm Đăng đưa tay lên sờ tóc xanh của mình cười nói :
- Nhưng dầu sao, tôi hoàn tục hay không hoàn tục, lòng tôi vẫn cứ phải gần Phật.
Phật Anh cười rằng :
- Thôi... đừng nói lảm nhảm nữa, chúng ta sang bên kia ngắm cảnh.
Suy tính một chút, nàng lại nói :
- Mi đợi ta, ta sang bên kia thuê một chiếc thuyền.
Nói rồi, không chờ Tâm Đăng trả lời, nàng bỏ đi thẳng.
Phật Anh đi rồi, Tâm Đăng đứng lại mà ngắm áng mây trôi lững lờ trên nền trời xanh thẳm mà nghĩ thầm :
- Ngồi trên một chiếc thuyền con lênh đênh trên dòng nước bạc thì còn gì thú vị bằng?
Cảnh tượng đó thật là quyến rũ Tâm Đăng, vì hồi nào tới giờ, chú chưa hề thưởng thức cảnh biển rộng sông dài.
Trong trí chú nảy ra một ý nghĩ :
- Trời đất thật là vĩ đại, sắp bày cho chúng ta bao nhiêu ngần ấy thứ, và để cho con người làm chủ nó.
Vừa nghĩ đến đây thì đã thấy Phật Anh đứng trên một chiếc thuyền con, từ xa xa đưa tay mà vẫy chú.
Chú mừng rỡ vô cùng chạy như bay về phía đó, thuyền còn cách bờ hơn năm trượng thì Tâm Đăng đã sử một thế Yến Tử Châu Liêm, bay vù ra giữa sông khẽ uốn mình rồi la đà rơi xuống lái.
Thuyền không chòng chành một chút và nhẹ nhàng trôi đi. Tâm Đăng tấm tắc nói rằng :
- Thật là thú...
Phật Anh thấy chú cứ mãi ngắm cảnh trời nước muôn trùng, vội bảo chú bước vào khoang để cho trạo phu dễ dàng làm việc.
Một tên trạo phu hỏi rằng :
- Chẳng hay nhị vị muốn đi về đâu?
Phật Anh không biết tiếng Tây Tạng, phải do Tâm Đăng thông dịch, nàng thấy trên thượng du nhiều người qua lại nên nói rằng :
- Đi lên thượng du...

Xem tiếp chương 21 Mối tình tay ba

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:05 pm

Chương 21 Mối tình tay ba

Phật Anh thấy họ trò chuyện thân mật quá, và Tâm Đăng lại biết người đến nhà của Mặc Lâm Na nữa, trong lòng nàng bất giác dâng lên một nỗi niềm đau đớn.
Nàng đã biết Mặc Lâm Na từ lâu và còn biết Mặc Lâm Na thí võ với Tâm Đăng trong rừng vắng.
Bây giờ, cặp mắt của nàng nhìn chằm chằm về phía Mặc Lâm Na, mặc dù bị vuông lụa che ngang, nhưng cặp mắt ấy vẫn thoáng hiện ra vài tia lóng lánh sáng ngời.
Thật là một việc lạ, nếu có hai người con gái cùng yêu chung một gã con trai, khi họ gặp nhau thì họ sẽ nhận xét đối phương kĩ lắm, họ mong rằng có thể tìm được khuyết điểm trên mình của đối phương.
Họ mong rằng họ sẽ là một kẻ thắng lợi!
Trì Phật Anh trong giờ phút này tỏ ra là một người thất vọng, vì trước mắt nàng hiện ra một thiếu nữ tuyệt đẹp.
Và nàng phát giác ra Mặc Lâm Na là một cô gái ngây thơ và lương thiện, gương mặt của nàng đẹp một cách khả ái, làm cho nàng bất giác cũng phải kính nể và yêu thầm.
Lúc bấy giờ Mặc Lâm Na đang nói chuyện một cách líu lo với Tâm Đăng, và Tâm Đăng phát giác ra Phật Anh đang trầm lặng, nên quay lại hỏi :
- Ủa... sao cô chẳng nói chuyện?
Phật Anh vẫn ngẩn người ra và Mặc Lâm Na bấy giờ mới đường hoàng ngồi xuống chiếu, nàng với tay níu lấy Tâm Đăng và Phật Anh, tíu tít nói rằng :
- Ngồi xuống... chúng ta ngồi xuống nói chuyện.
Phật Anh do dự một chút rồi nàng cũng ngồi xuống bên cạnh Tâm Đăng.
Trong giờ phút đó Tâm Đăng thật hoàn toàn không phải là một kẻ xuất gia nữa, trong lòng của chú quả thật không còn hình ảnh của đức Phật nữa.
Lòng chú thật vui như mở hội hoa đăng, chú ngắm nhìn Trì Phật Anh rồi lại ngắm nhìn Mặc Lâm Na không chớp mắt, rồi lại gợi chuyện nói líu lo không ngớt tiếng.
Nhưng bỗng Mặc Lâm Na trầm ngâm nghĩ ngợi, câu chuyện không còn rền như buổi ban đầu nữa.
Tâm Đăng lấy làm lạ hỏi rằng :
- Hai cô sao chẳng chuyện trò nữa?
Mặc Lâm Na nghe hỏi chỉ mỉm cười một cách khó hiểu, còn Phật Anh thì xoăn xoe chéo áo của mình, chợt nàng ngẩng đầu lên hỏi một câu đột ngột :
- Tâm Đăng, mi có định hoàn tục hay không nhỉ?
Câu hỏi này làm cho Tâm Đăng ngơ ngẩn, ấp úng không biết trả lời ra sao, đang lúc sượng sùng thì Mặc Lâm Na chen vào nói :
- Cô Phật Anh hỏi đúng. Ta hỏi, mi có kể là hòa thượng hay không, tóc mi đã chừa quá nhiều mà lại mặc áo cà sa... hay là... mi đừng mặc áo cà sa nữa, dọn ra khỏi chùa mà ở... không có chỗ cư ngụ thì hãy đến nhà ta.
Tâm Đăng giật mình nhảy nhổm, vội vàng chắp tay mà nói :
- A di đà Phật! Tiểu tăng một lòng theo Phật, hoàn tục chẳng qua là một việc bất đắc dĩ, nhị vị đánh giá tôi như thế thật lấy làm hổ thẹn.
Câu trả lời của Tâm Đăng làm cho Mặc Lâm Na dở khóc dở cười, nàng nhìn Tâm Đăng bằng một thái độ hậm hực, còn Trì Phật Anh vẫn giữ thái độ khiêm cung, hòa nhã.
Bầu không khí lại nặng nề khó thở, và hai người thiếu nữ lại im lặng, không ai buồn nói chuyện nữa.
Tâm Đăng lại thôi thúc :
- Cớ sao hai cô chẳng nói chuyện nữa?
Câu nói vừa dứt thì từ phía bên kia, xa xa có một giọng ồ ề vang lại :
- Hay lắm!... Rủ người đẹp đi du sơn ngoạn thủy, mi thật là thần tiên...
Cả ba người thảy đều giật mình trông sang, thấy trên một chiếc thuyền không có buồm có một gã thiếu niên vạm vỡ, hai tay cầm hai thanh bơi chèo, chèo tới như bay.
Đó chính là học trò của Khúc Tinh: Tần Trường Sơn.
Tâm Đăng mừng rỡ, reo lên ầm ĩ.
- Tần sư huynh, mau sang đây.
Trong lòng của Phật Anh bực tức lắm, nàng vốn muốn mượn dịp du ngoạn hôm nay để gieo vào lòng của Tâm Đăng một ấn tượng tốt, không ngờ lại liên tiếp gặp nhiều người đến đây phá đám.
Điều thương tâm nhất là sự xuất hiện của Mặc Lâm Na, sau khi chuyện trò nàng phát giác ra giữa Mặc Lâm Na và Tâm Đăng còn thân mật hơn nàng là khác.
Nghĩ ngợi đến đây thì chiếc thuyền con của Tần Trường Sơn đã cập vào mạn thuyền của Tâm Đăng, hắn cười nói :
- Chú Tâm Đăng bây giờ thích uyên ương hơn thích thần tiên.
Tâm Đăng đỏ bừng sắc mặt mà không trả lời.
Tần Trường Sơn nhìn Mặc Lâm Na cười mà hỏi rằng :
- Cô nương đây cao danh quí tánh là chi xin giới thiệu cho biết.
Tâm Đăng trả lời :
- Đây là Mặc Lâm Na... Tần huynh đến đây có việc chi?
Tần Trường Sơn trỏ vào mâm rượu thịt để ở giữa thuyền mà nói rằng :
- Sư phụ của tôi đãi khách... Lư lão tiền bối cũng có mặt ở đó...
Phật Anh đang cơn bực tức, chộp lấy cơ hội để thoát ly :
- À... sư phụ tôi cũng có ở đó, vậy xin phiền Tần huynh đưa tôi một chặng đường.
Nói rồi, không đợi cho mọi người trả lời, nàng đứng phắt dậy, trổ một đòn Hoa Điệp Xuyên Vân, thân hình của nàng như một cánh bướm lượn từ bên này thuyền sang mũi thuyền của Tần Trường Sơn.
Cử chỉ đột ngột làm cho mọi người hết thảy đều kinh dị, Tâm Đăng không biết tại sao nàng thay đổi thái độ một cách đột ngột, chỉ có Mặc Lâm Na thì rõ lắm.
Tần Trường Sơn càng ngớ ngẩn không biết đầu đuôi như thế nào thì Mặc Lâm Na đã giục lui thuyền.
Bất đắc dĩ, Tần Trường Sơn phải vái chào rồi khuấy nhẹ bơi chèo một cái, chiếc thuyền đã lui ra bảy tám thước.
Sau khi đã chỉ mũi về bên kia, Tần Trường Sơn bơi chèo nhanh liên tiếp, và chiếc thuyền con của chàng đi tới nhanh như tên bắn, gạch một vệt dài trên dải trường giang.
Trong chớp mắt, chiếc thuyền của chàng xa dần... xa dần... rồi chỉ còn lại một chấm đen ở đằng xa lắc.
Mặc Lâm Na thấy Tâm Đăng thẫn thờ như người mất vía, thình lình vỗ vai chàng :
- Chắc cô ta có việc chi cần kíp... Mi và cô ta thường đi chơi như thế này chăng?
Tâm Đăng lắc đầu :
- Không! Đây chỉ là lần thứ nhất!
Mặc Lâm Na hậm hực :
- Hừ... hừ... lần thứ nhất.
Tâm Đăng giật mình, chú đã đọc ra phần nào ý nghĩ của người đẹp Mặc Lâm Na.
Tâm Đăng vội lảng sang chuyện khác :
- Tôi quen biết cô đã lâu nhưng chưa biết nhà cô ở chỗ nào?
Mặc Lâm Na mỉm cười đầy vẻ huyền bí :
- Ta không ngụ tại La Sa mà tại một nơi xa lắm, để lần sau ta dẫn mi tới đó.
Tâm Đăng vén tay áo của mình lên, thò tay xuống dưới be thuyền mà vọc nước, nước mát làm cho chú vui vẻ, chú cười mà nói với Mặc Lâm Na :
- Thật không ngờ cô ở vùng xa đến thế, chắc cô ở vùng có sông có hồ?
Mặc Lâm Na thơ ngây cười như nắc nẻ, thò tay ra bíu Tâm Đăng mà nói :
- Mi thật thích nước... coi chừng chơi nước có ngày sảy tay chết chìm.
Tâm Đăng nói móc :
- Rủi có sảy tay chết chìm thì cô vớt...
Mặc Lâm Na bỗng ngẩng đầu lên bảo rằng :
- Mi đừng ngỡ rằng ta không biết bơi, hãy xem.
Nói vừa dứt lời, Mặc Lâm Na đã nhún chân cất mình bay bổng lên không trung, rồi nhanh như một con phượng, nàng đảo nhanh một vòng để rồi rơi tòm xuống nước.
Việc nảy ra thật ngoài tưởng tượng, Tâm Đăng nhóng cổ ra nhìn, bất giác kinh hãi, vì dòng trường giang trập trùng, sóng dợn cuồn cuộn, không thấy hình ảnh của Mặc Lâm Na ở đâu.
Lâu lắm chú mới gọi lên ầm ĩ :
- Mặc Lâm Na... Mặc Lâm Na...
Nhưng không có một tiếng tăm nào trả lời cho chú cả càng làm cho chú thêm kinh sợ.
Còn đang bàng hoàng ngớ ngẩn bỗng từ phía sau lái thuyền có tiếng cười khúc khích :
- Tâm Đăng, mi gọi chi mà ầm ĩ lên thế?
Tâm Đăng nghe thấy tiếng lấy làm mừng rỡ như người bắt được vàng, bất thình lình sử một thế Phi Bằng Vạn Lý bay vù từ trước mũi thuyền ra sau lái, tạo thành một đường vồng cầu tuyệt mỹ.
Ngón khinh công đó làm cho bọn dân chài gần đấy reo lên ầm ĩ.
Ra đến sau lái, chú thấy Mặc Lâm Na đang thò một cánh tay trắng muốt nắm lấy lái thuyền mà đầu cổ ướt loi ngoi lóp ngóp.
Nàng cười một cách man dại nói với Tâm Đăng :
- Mi tin ta biết lội hay không thì bảo?
Nói đoạn vỗ mạnh một tay vào be thuyền và thân hình của nàng bắn vút lên, nhẹ nhàng rơi sau bồng lái.
Trổ một ngón về tài bơi lội cho Tâm Đăng xem rồi, Mặc Lâm Na vui vẻ vào khoang, nàng lại cố tình muốn trổ thêm một ngón nội công thâm hậu để cho Tâm Đăng biết.
Vì vậy mà nàng cứ để nguyên quần áo ướt mèm ngồi xuống chiếu, và lập tức vận nội công lên để cho một làn hơi ấm áp từ đan điền tỏa ra khắp châu thân.
Tâm Đăng chợt thấy khắp toàn thân Mặc Lâm Na tỏa ra một làn hơi mong mỏng, bất giác giật mình nghĩ thầm :
- Chẳng biết Mặc Lâm Na là học trò của người nào mà võ công thâm hậu dường ấy, có thể toát hơi nóng ra làm khô ráo quần áo của nàng?
Làn hơi mong mỏng từ trong bộ quần áo ướt mèm của Mặc Lâm Na vẫn tỏa ra nghi ngút, và không mấy chốc thân hình của nàng lại khô ráo như cũ làm cho Tâm Đăng phải vỗ tay khen dậy.
Chàng bỗng nhớ lại một việc, đó là khi Tâm Đăng bắt gặp Tạng Tháp đấu chiến cùng Trác Đặc Ba, thì cớ sao Mặc Lâm Na lại xuất hiện?
Vì vậy mà Tâm Đăng bắt sang câu chuyện đó để hỏi cho biết nhưng Mặc Lâm Na cứ chối quanh chối quẩn mãi, bảo rằng nàng chẳng biết Trác Đặc Ba.
Thình lình Tâm Đăng nhìn thẳng vào đôi mắt sáng ngời của Mặc Lâm Na mà nói :
- Cô không biết người ấy... nhưng tôi biết!
Câu nói này làm cho Mặc Lâm Na giật mình, nàng vội hỏi :
- À... sao mi biết?
Trong trí của Tâm Đăng lại nổi lên hình ảnh của Tâm Đăng, một người khôi ngô tuấn tú, trên mặt đượm vài nét đanh đá, cử chỉ cực kỳ lanh lẹn, chưởng lực lại hùng hồn.
Chú đưa mắt nhìn về một cánh bướm ở chỗ xa xăm nói nho nhỏ :
- Phải, tôi biết hắn... Hắn tên là Trác Đặc Ba...
Ba chữ Trác Đặc Ba làm cho Mặc Lâm Na giật mình rú lên :
- Trời... sao mi biết hắn là Trác Đặc Ba?...
Tâm Đăng chỉ trả lời ỡm ờ mà không nói rõ sự thật, chú bảo :
- Tôi có nghe một người bạn nói lại rằng Trác Đặc Ba là một người có võ công thượng thặng, thuộc vào hàng người số một số hai của người Tây Tạng.
Mặc Lâm Na chưa kịp trả lời thì từ đằng kia đã có một chiếc thuyền sơn son thiếp vàng, trang trí cực kỳ đẹp đẽ, lướt sóng mà đi tới như bay.

Xem tiếp chương 22 Vội vàng cất bước chia tay

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:07 pm

Chương 22 Vội vàng cất bước chia tay

Mặc Lâm Na trông thấy chiếc thuyền đẹp đẽ ấy, vỗ tay reo ầm ĩ :
- Tâm Đăng, mi có trông thấy chiếc thuyền đó không?
Tâm Đăng trả lời :
- Thuyền thật đẹp!
Mặc Lâm Na khoái trá hỏi nho nhỏ :
- Mi có biết những người ngồi trên thuyền đó là ai?
- ...?
Mặc Lâm Na vuốt lại mái tóc của mình, hãnh diện trả lời :
- Người ngồi trên thuyền chính là cha ta và tiểu nương của ta đó.
Câu nói này thật nằm ngoài sự tưởng tượng của Tâm Đăng, chú không ngờ người đàn bà trẻ đẹp mình gặp dưới đêm trăng kia bây giờ lại ngồi dưới con thuyền đẹp đẽ này.
Lúc bấy giờ hai thuyền đã gần kề, Mặc Lâm Na cả tiếng gọi :
- Lô Ho... mau chèo thuyền qua đây!
Tên trạo phu nhác trông thấy Mặc Lâm Na, vội vàng cặp thuyền sát vào thuyền của Tâm Đăng.
Tâm Đăng nhìn sang chiếc thuyền cực kỳ sang trọng và quí phái kia, trong lòng thầm nghĩ :
- Không biết cha mẹ của Mặc Lâm Na thuộc hạng người gì mà lại sang trọng như thế này?
Vừa nghĩ đến đó thì thấy Vân Cô thò đầu ra gọi Mặc Lâm Na.
Bà ta trách mắng vài câu lấy lệ, cho rằng Mặc Lâm Na đi ra ngoài du ngoạn mà chẳng hỏi bà.
Mặc Lâm Na thưa với Vân Cô, Vân Cô vội nói :
- Hãy mời chú ấy sang chơi.
Câu nói của Vân Cô vừa dứt thì trong khoang thuyền kia có một người nói nhỏ :
- Ta không bằng lòng gặp mặt người xuất gia, đừng cho chú tiểu ấy bước vào trong này.
Vân Cô quay lại nói :
- Phu quân thật là lạ, đã có khách thì sao để người ta đứng ngoài được, nếu phu quân không bằng lòng gặp mặt thì xin hãy tạm lánh một tí!
Nói đoạn truyền mời Tâm Đăng sang thuyền để trò chuyện.
Mặc Lâm Na nghe lệnh, vội vàng nắm lấy tay của Tâm Đăng mời sang thuyền mình.
Tâm Đăng trong lúc bất ngờ bị Mặc Lâm Na chộp phải bàn tay, chú giật mình nhảy nhổm như bị điện giật.
Trong thâm tâm của chú dâng lên một niềm vui không thể tả, và không biết một nguồn mãnh lực nào đã đùn đẩy chú nối gót Mặc Lâm Na phi thân sang thuyền bên kia.
Mặc Lâm Na bước vào khoang thuyền liền buông tay của Tâm Đăng mà đi vào bên trong, nhìn vào trong ấy, Tâm Đăng thoáng thấy một người đàn ông ăn mặc cực kỳ sang trọng, thoáng qua liền mất, Tâm Đăng biết rằng người ấy là cha của Mặc Lâm Na.
Vân Cô bấy giờ ngồi trên một chiếc ghế bành cực kỳ sang trọng, hôm nay bà ta ăn mặc hoàn toàn theo người Hán, vì vậy mà phong độ càng thêm sang cả, làm cho Tâm Đăng không khỏi tấm tắc khen thầm cho sắc đẹp của bà ta!
Chú thật không ngờ trên đời này lại có một người đẹp như thế, Mặc Lâm Na tuy đẹp, Trì Phật Anh tuy đẹp nhưng hai người này đứng trước mặt Vân Cô cũng như hai ngôi sao nằm gần mặt trăng vậy, thật sút kém nhiều lắm.
Chú bàng hoàng ngơ ngẩn nhìn Vân Cô không chớp mắt!
Chú có biết đâu người đàn bà phi thường diễm lệ này chính là mẹ ruột của chú đó.
Và mẹ ruột của chú bây giờ phải sống nương tựa dưới bóng tùng của một nhân vật quan trọng trong pho sách này là Trác Đặc Ba.
Tội nghiệp.
Tâm Đăng và Vân Cô lúc bấy giờ thảy đều chưa phát giác ra sự bí mật tày trời đó.
Vân Cô mời chú ngồi xuống dùng trà và bắt đầu trò chuyện.
Bỗng từ bên trong có giọng một người đàn ông gọi vọng ra :
- Mặc Lâm Na, vào đây cho ta bảo chút việc.
Tâm Đăng nghe giọng nói đầy vẻ thương cảm, trong lòng lấy làm lạ nghĩ thầm :
- Gia đình của nàng thật là lạ.
Mặc Lâm Na vâng lên một tiếng nho nhỏ, đoạn trao cho Tâm Đăng một khoé mắt đa tình rồi mới bước vào bên trong.
Vân Cô dùng cặp mắt của mình đưa Mặc Lâm Na khuất dạng rồi mới quay lại trò chuyện với Tâm Đăng.
Bà ta hỏi :
- Miếng bài vị mà ta nhờ mi cúng kiến hôm nọ, mi có làm giùm ta hay chăng?
Giọng nói của bà ta biến đổi đi âm sắc, dường như khi nhắc đến miếng bài vị là khơi lên trong thâm tâm bà ta một nỗi niềm chua xót.
Tâm Đăng trả lời :
- Tôi mỗi ngày đều có tụng kinh theo lời của Vân Cô dạy.
Bà ta lại hỏi :
- Ta nghe mi sắp hoàn tục, việc này có thật hay chăng?
Câu hỏi này làm cho Tâm Đăng ra chiều nghĩ ngợi, vì lẽ chú cảm thấy đời này quá đỗi phức tạp.
Thật ra, việc hoàn tục đối với chú chỉ là việc bất đắc dĩ. Chú ấp úng trả lời :
- Dù sao... tôi cũng phải hoàn tục, bởi vì tôi còn nhiều việc phải làm.
Vân Cô hỏi một câu thiết yếu :
- Vậy mi có biết nhà của mi ở đâu chăng? Cha mẹ của mi ở chốn nào?
Kể từ ngày Tâm Đăng xuất gia đầu Phật đến nay, suốt mười mấy năm trường, mấy chữ “cha mẹ”, “nhà” chưa bao giờ xuất hiện trong trí của chú.
Mãi cho đến ngày Tạng Tháp giao hồi gói hành lý hồi thuở thiếu thời cho chú thì chú mới sực nhớ ra.
Bây giờ chú lắc đầu trả lời :
- Tôi không biết, chỉ nghe có người bảo lại rằng tôi xuất gia từ thuở một tuổi, do một người lạ mặt đưa tôi vào chùa.
Vân Cô thở dài ảo não :
- Tội nghiệp...
Tâm Đăng giật mình, đây là lần thứ nhất trong đời của chú, chú nghe một người khác cho mình là tội nghiệp.
Vì vậy chú ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mặt của Vân Cô mà nói :
- Không, tôi không phải là người đáng tội nghiệp... tôi là người sung sướng.
Câu nói này ngoài sự tưởng tượng của Vân Cô, làm cho bà ta có cảm nghĩ chú tiểu này là một nhân vật phi thường.
Cuộc đối thoại đến đây bắt đầu trầm lắng, không khí buồn tẻ, lâu lắm Tâm Đăng mới nói :
- Nếu Vân Cô không có điều chi chỉ bảo thì tôi xin kiếu.
Vân Cô gật đầu :
- Được, mi cứ về.
Tâm Đăng đứng dậy, sốt ruột nhìn ra phía sau, dường như có ý muốn chờ Mặc Lâm Na ra để cáo từ.
Nhưng Vân Cô bảo :
- Mi khỏi phải chờ Mặc Lâm Na.
Chú buồn rầu từ tạ rồi lui ra khỏi khoang thuyền. Vân Cô đưa chú ra đến mũi, lúc bấy giờ từ đằng kia có một chiếc thuyền con bơi nhanh tới.
Tâm Đăng thò tay ra ngoắc, tên trạo phu thấy có khách sang chiếu cố đến mình vội vàng bơi nhanh tới.
Thuyền còn cách nhau chừng năm trượng thì Tâm Đăng quay lại xá chào Vân Cô, đoạn nhún chân sử một thế Xuân Yến Lược Ba bay vù ra khỏi be thuyền.
Thân hình của chú la đà rơi xuống mặt nước, bỗng chú thò chân trái ra đạp nhẹ lên một cánh bèo đang trôi nổi giữa trường giang, để rồi thân hình của chú bắn vù sang chiếc thuyền con thật nhẹ nhàng như một cánh én!
Đặt chân lên thuyền, Tâm Đăng quay đầu lại bỗng giật mình vì thấy Vân Cô đang quay đầu đi, đưa lưng về phía mình và đưa ống tay áo lên ngang mặt, dường như bà ta đang gạt nước mắt thì phải.
Tâm Đăng lấy làm lạ, tự hỏi :
- Cớ sao bà ta khóc?
Hai chiếc thuyền dần dần kéo dài khoảng cách và hình ảnh của Vân Cô nhỏ dần, nhỏ dần... trước cảnh nước rộng sông dài.
Tâm Đăng đứng trước mũi thuyền, nhìn quanh tả hữu, lúc bấy giờ bóng đã ngả về chiều, một làn sương mỏng dâng lên khắp dải trường giang.
Tâm Đăng mơ màng hồi tưởng lại những việc đã xảy ra trong ngày hôm qua, càng nghĩ càng lấy làm băn khoăn lo lắng.
Nhìn dòng nước chảy xuôi chú tự nói với mình :
- Lần sau ta không đi chơi nữa! Nhất định không đi chơi nữa! Hèn chi mà Phật bảo “biển khổ vô bờ”... A di đà Phật!
Lúc bấy giờ Tâm Đăng hối hận lắm, hối hận cuộc đi chơi này đã chẳng đem đến cho chú nguồn lạc thú nào, mà còn đem lại sự đau khổ ê chề là đằng khác.
Thuyền nhẹ nhàng trôi...
Giữa lúc miên man suy nghĩ thì thuyền đã cặp bờ, và Tâm Đăng bay mình buồn rầu trở về Bố Đạt La Cung.
* * * * *
Đây là một đêm thu tứ bề lặng lẽ, vòm trời đen thẫm không một vì sao.
Trong ngôi nhà đá của Bệnh Hiệp có bóng đèn leo lét hắt ra, từ trong ngôi nhà đá đó có hai người thanh niên lặng lẽ bước ra, đó là Tâm Đăng và Khắc Bố.
Hai người chuyện trò vui vẻ, nghe Khắc Bố hỏi :
- Tiểu sư huynh có thể cho tôi theo trở về chùa chăng? Bây giờ khinh công của tôi đã trội nhiều lắm, có thể vượt tường mà vào một cách nhẹ nhàng.
Tâm Đăng lắc đầu trả lời :
- Khinh công của mi đã tiến bộ, nhưng thôi hãy ở lại trông nom sư phụ.
Khắc Bố bị từ chối phải lủi thủi trở về.
Còn một mình Tâm Đăng thì thong thả đi xuống triền đồi.
Đêm lạnh như băng, một mình Tâm Đăng lủi thủi trên con đường hoang vắng, trong lòng chú rào rạt những cảm tưởng miên man.
Chú không muốn trở về chùa vội, chú muốn tìm một nơi thanh vắng để đi bách bộ, ngõ hầu suy nghĩ những vấn đề đang quay cuồng trong trí não.
Vừa bước vào một khu rừng chồi nho nhỏ bỗng nghe có tiếng quát nạt vang lên, chú bảo thầm :
- Lại có việc gì xảy ra nữa rồi?
Nghĩ đoạn noi theo chỗ phát ra tiếng động mà đi tới.
Chú men tới mãi, đi vòng quanh độ chừng trên mười trượng bất giác giật mình kinh hãi.
Vì chú trông chẳng thấy gì cả nhưng lỗ tai lại nghe có tiếng quyền cước đi vùn vụt, hơi gió tạt ra cực kỳ mạnh mẽ làm cho cành lá xao động rì rào.
Tâm Đăng nghĩ thầm :
- Hai người đang giao chiến đây thật là công lực cao thâm đáng sợ.
Nghĩ đoạn chú bước đi nhanh thoăn thoắt về phía có tiếng giao chiến vang ra.
Quanh qua một đoạn đường chằng chịt, thấy trước mắt mình có một khoảng đất rộng.
Trên khoảng đất rộng đó có hai bóng đen cách nhau chừng mười trượng cùng ngồi xếp bằng dưới đất đấu chưởng với nhau.
Cứ mỗi lần thu chưởng và phát chưởng là hơi gió tạt ra rào rạt, làm cho những cành cây gần đó khua động nghe xào xạc.
Quắc mắt nhìn kỹ, hai người đó chẳng phải là ai xa lạ, chính là Lư Âu và Vạn Giao đó!
Chú thật lấy làm kinh dị, vì không hiểu sao hai người này lại đến đây đấu chưởng trong đêm hôm khuya khoắt.
Trong dạ hồ nghi mà chú chẳng dám làm kinh động, vội sẽ lén thu hình vào một bụi rậm rạp lặng lẽ ngắm nhìn.
Chỗ trốn của Tâm Đăng cách chỗ họ chừng mười sáu trượng, tuy tối trời nhưng Tâm Đăng vẫn trông thấy rõ ràng những nét hiện ra trên gương mặt của hai người ấy.
Vạn Giao thì mỉm cười thanh thản, khí sắc cực kỳ trầm tĩnh, còn Lư Âu thì hơi giận phừng phừng trông thật là dễ sợ.
Theo sự quan sát của Tâm Đăng thì hai người ấy chưa dùng hết toàn lực, nhất là Vạn Giao, thì thái độ bình thản dường như đang chơi một trò gì thích thú lắm.
Đôi bên công thủ thêm một hồi nữa và Lư Âu hậm hực nói :
- Lão Vạn, mi nhất định muốn chọc cho ta nổi nóng?
Vạn Giao lắc đầu, mỉm cười trả lời :
- Bà Lư Âu ơi, chúng ta đều là những người sắp vào quan tài cả, làm sao có thể nổi nóng bất thường được?
Câu nói này càng làm cho bà ta hậm hực :
- Lão Vạn, mi đừng khéo khua môi múa mỏ. Nếu không chịu thú thật thì ta cũng có cách biết rõ.
Nói tới đây thình lình bà ta tung ra một thế Dương Sa Thiên Lý, năm ngón tay khẳng khiu của bà ta chộp thẳng vào đầu của Vạn Giao.
Vạn Giao mỉm cười, bàn tay của lão vốn đang mở hờ, bây giờ xoè thẳng ra, và một luồng sức mạnh của lão từ trong lòng bàn tay tản mác ra để chọi lại đòn Dương Sa Thiên Lý.
Sau khi phá vỡ đòn Dương Sa Thiên Lý rồi, lão ta tươi cười nói với đối phương :
- Bà đừng nói khoác, mặc dù công lực của bà có thể cao hơn tôi nhưng cùng nhau đấu chiến chưa chắc bà thắng.
Việc ấy thì chẳng phải tôi không có lòng muốn nói cho bà rõ, thực ra có nhiều chỗ khó khăn mà tôi chẳng tiện nói ra. Thú thật, nếu bà không tin thì tôi không còn cách nào nữa, chúng ta cứ đấu chưởng mãi như thế này chơi.
Lư Âu ra chiều nghĩ ngợi.
Vào lúc đó thì Tâm Đăng cũng đang thắc mắc vì câu nói của Vạn Giao, chú lẩm bẩm :
- Lại có việc rắc rối xảy ra!
Chợt nghe Lư Âu nói :
- Việc này lão già Cô Trúc có biết hay chăng?
Vạn Giao lắc đầu :
- Chỉ một mình ta biết, bà có đi hỏi thẳng Cô Trúc cũng chỉ cầm bằng vô ích.
Lư Âu nghe nói tỏ vẻ thất vọng vô cùng, bà buông hai tay xuống mà nói một câu bi thiết :
- Vạn Giao... ta vốn biết những người khó tính như chúng ta thì thật là khó mà thương lượng, nhưng mà mi cũng phải lo lắng đến đứa nhỏ ấy.
Việc này ta không biết thì thôi, đã biết rồi thì không thể không cứu nó, vì ta sợ sẽ phụ lời dặn dò phó thác của mẹ nó khi xưa.
Tâm Đăng lấy làm lạ tự nói với mình :
- Xem tình thế này thì Lư Âu muốn cầu cạnh Vạn Giao một điều gì đấy, bà ta nói “đứa nhỏ ấy”, vậy đứa nhỏ ấy là ai?
Chợt thấy Vạn Giao xoa tay mình mà nói :
- Bà nói đúng, tôi không muốn cho bà trở thành một người có tội... Dù sao thì bà cũng có thể cứu nó ra, còn những người khác muốn cướp công của bà cũng khó.
Lư Âu hốt hoảng nói :
- Vậy thì mi hãy cho ta biết, hiện giờ nó có phải bị giam cầm tại Tây Tạng... Nhược bằng giam cầm tại Trung Nguyên thì thật là rắc rối.
Vạn Giao gãi đầu mình, đắn đo suy nghĩ rồi trả lời :
- Việc này bà bất tất phải hỏi, tôi chỉ cho bà biết rằng chỗ giam cầm cách đây rất xa, và giờ phút này vẫn chưa phải là giờ phút bà đi cứu nó.
Sau khi bà Lư Âu biết rằng Vạn Giao nhất quyết không nói cho mình biết rõ, bà ta thất vọng não nề, lạnh lùng nói :
- Thôi được! Không cần phải đấu chưởng nữa, gọi thằng tiểu hòa thượng ra nói chuyện.
Nằm trong bụi rậm, Tâm Đăng giật mình nhảy nhổm lên, và liền theo đó có tiếng cười ha hả của Vạn Giao :
- Tâm Đăng, mau bước ra đây mà chào tiền bối.
Tâm Đăng hổ thẹn đỏ bừng sắc mặt, lóp ngóp bò ra, vừa bước tới vừa nghĩ thầm :
- Hai người này quả thật lợi hại.
Chàng bước tới thi lễ và Vạn Giao hỏi :
- Bệnh tình của lão Lạc như thế nào rồi?
Tâm Đăng trả lời :
- Bệnh đã thuyên giảm, ăn uống đã ngon miệng.
Vạn Giao và Lư Âu thảy đều cười rộ lên, Lư Âu nói rằng :
- Hễ ăn được thì thuyên giảm sao?
Vạn Giao vỗ vai chàng cười bảo :
- Tiểu hòa thượng ngồi xuống đây nói chuyện chơi, đã lâu lắm không gặp mi.
Nói đoạn ba người cùng ngồi xuống và Tâm Đăng hỏi :
- Chẳng hay gần đây Vạn sư bá có hay gặp Cô Trúc sư phụ?
Vạn Giao lắc đầu :
- Lão già Cô Trúc thật là khó gặp mặt, không biết lão đã đi về phương trời nào?
Lư Âu nói :
- Có lẽ lão ta đã về Trung Nguyên.
Tâm Đăng giật mình :
- À... về Trung Nguyên.
Vạn Giao thấy vậy vội vàng nói :
- Chắc có lẽ lão ta về Trung Nguyên để lo công việc cho mi.
Tâm Đăng liệu chắc trong câu nói này có ẩn nhiều thâm ý, vừa định hỏi tiếp thì Vạn Giao đã trả lời :
- Ta biết mi có nhiều điều thắc mắc muốn hỏi ta, nhưng bây giờ khoan hỏi đã, đêm mai vào giờ này mi đến đây ta sẽ bảo cho mi biết.
Tâm Đăng nghe nói giật mình, biết rằng Vạn Giao sẽ lại thổ lộ cho chú biết một điều bí mật.
Vạn Giao nói dứt câu, vội vàng đứng dậy xá chào Lư Âu mà rằng :
- Mi hãy ở lại trò chuyện cùng Lư tiền bối, ta đi đây.
Câu nói vừa dứt, ông ta đã vội vàng rũ ống tay áo để cho thân hình bay vù về phía trước, mất dạng trong màn đêm.
Sự ra đi đột ngột của Vạn Giao khiến cho Tâm Đăng lấy làm kinh dị, chợt nghe Lư Âu hỏi chú :
- Tâm Đăng, mi học võ với bao nhiêu người rồi?
Chú thành thật trả lời :
- Nhiều lắm... Bệnh sư bá, Vạn sư bá, Khúc sư bá, Thiết sư bá.
Câu nói của chú bị một chuỗi cười lanh lảnh của Lư Âu cắt đứt :
- Vui quá nhỉ... Vậy thì phần ta cũng phải truyền một ngón nghề cho mi...

Xem tiếp chương 23 Quyển nhật ký cuối cùng của Tạng tháp

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:08 pm

Chương 23 Quyển nhật ký cuối cùng của Tạng tháp

Câu nói này lại làm cho Tâm Đăng sững sờ, chú không ngờ Lư Âu cũng không buông tha cho chú.
Chú lập tức tìm lời lẽ để cự tuyệt :
- Sư bá chớ đùa với con, ai chẳng biết võ công của sư bá không truyền cho người thứ hai...
Câu nói của chú lại bị một chuỗi cười của Lư Âu cắt đứt :
- Tiểu hòa thượng, mi đừng đùa với ta, ai bảo với mi rằng võ nghệ của ta chẳng truyền cho người thứ nhì?...
Chẳng lẽ ta mang võ nghệ của ta vào quan tài sang bên kia thế giới?
Rồi bà ta lại thay đổi giọng nói một cách cực kỳ nghiêm khắc :
- Bây giờ ta hẹn với mi mười hôm sau, ta sẽ bắt đầu truyền võ, nhưng mà...
Tâm Đăng ngẩng đầu lên hỏi :
- Thưa sư bá... ý của sư bá con đã rõ, sư bá muốn con hứa với sư bá sau này sẽ đến hồ Tuấn Mã làm giúp sư bá một việc.
Lư Âu thét :
- Mi đừng nói nhảm! Ta không giống những hạng người yếu hèn bạc nhược kia, mặc dù tín vật của ta bị người ta lấy, nhưng thử hỏi mi có thể lấy giùm ta hay chăng?
Câu nói này làm cho Tâm Đăng ngã ngửa, chàng không ngờ tính tình của bà lão này lại không giống với những người mà chú đã gặp.
Còn đang sững sờ chợt nghe Lư Âu mắng :
- Hãy cút đi cho rảnh, mười hôm sau trở lại.
Tâm Đăng tức tối quay mình bỏ đi, vì quá bực, trước khi cất bước Tâm Đăng phi ra một cước đá ngã một gốc cây gần đó, làm cho Lư Âu phải bật phì cười.
Chú giận dỗi và trở về Bố Đạt La Cung, chợt nhớ ra việc tụng kinh cho Vân Cô, chú không đi thẳng về phòng riêng của mình mà đi vào Trắc Điện.
Chú xô cửa bước vào, chợt thấy một tấm giấy từ phía trên nhẹ nhàng bay xuống, chú vội vã dùng một ngón Cầm Nã Thủ chộp lấy tờ giấy đang bay.
Kê vào ngọn đèn chú thấy trên tờ giấy đó viết ngoằn ngoèo mấy dòng chữ :
“Tâm Đăng, Môn võ công mà Lư Âu truyền cho mi phải cố mà học vì đó thuộc về Thủy Công đối với việc mi vào hồ Tuấn Mã thật là có lợi.
Ta vì bận điều tra một việc nên không thể ra mặt, võ công của ta mi phải cố mà rèn luyện. Đến ngày rằm trung thu mi hoàn tục ta sẽ khảo sát lại một lần.
Cô Trúc”
Tâm Đăng cầm tấm giấy trong tay mà không biết nên vui hay buồn, chú không ngờ rằng Lư Âu sẽ truyền Thủy Công cho mình.
Trong lòng chú ngổn ngang trăm mối, không biết sau này vào hồ Tuấn Mã kết quả sẽ ra sao?
Lòng chú xao xuyến, lâu lắm mới lấy lại bình tĩnh, chú đốt ba nén hương rồi bắt đầu tụng kinh trước tấm bài vị.
Đêm trường vắng lặng... Trót bảy nghìn Lạt Ma thảy đều yên giấc, duy chỉ có tiếng mõ của Tâm Đăng nổi lên đều đều, hòa lẫn với tiếng kinh trầm bổng...
Tiếng ngân nga thong thả đem đến cho chú một cảm giác lâng lâng thoát tục...
* * * * *
Sáng hôm sau, Tâm Đăng lại đi thăm Bệnh Hiệp.
Chú thấy Bệnh Hiệp đang nằm dựa ngửa trên giường mà chẳng thấy Khắc Bố đâu.
Chú hỏi :
- Thưa Bệnh sư phụ, chẳng rõ Khắc Bố đi đâu mà chẳng thấy?
Bệnh Hiệp dùng cặp mắt bảo cho Tâm Đăng biết rằng ông ta chẳng rõ.
Tâm Đăng kể lể lại câu chuyện Lư Âu sẽ truyền Thủy Công lại cho mình, Bệnh Hiệp nghe xong tỏ vẻ vui mừng lắm.
Ông ta đưa mắt nhìn ra ngoài cửa, ra dấu cho Tâm Đăng đóng cửa lại, đoạn liếc nhìn xuống gầm giường.
Tâm Đăng trông xuống phía dưới, thấy nơi ấy có một chai thuốc màu đỏ và một chai thuốc màu vàng, vội vàng cầm lên.
Bệnh Hiệp lại nhìn chằm chằm vào bàn tay của chú, chú biết ý, vội vàng lấy ra một tí thuốc đỏ bôi vào bàn tay tả.
Chú nghe thấy hơi thuốc lạnh lắm và da thịt chỗ bôi thuốc lại biến sang màu đỏ ửng.
Chú hốt hoảng lấy tay bôi đi, nhưng bôi không bao giờ sạch làm cho chú cả sợ.
Chú đang hoảng hốt thì Bệnh Hiệp lại đưa mắt nhìn vào một lọ thuốc màu trắng.
Tâm Đăng hội ý, vội vàng mở lọ thuốc màu trắng ra, lập tức có một mùi hương thoang thoảng bay khắp gian phòng.
Tâm Đăng bôi một chút thuốc màu trắng lên chỗ ban nãy, ngay lập tức, màu đỏ dần dần nhạt đi rồi biến mất.
Còn đang lấy làm lạ thì Bệnh Hiệp đã dùng mắt ra dấu bảo chàng cất lên, để sau này có việc dùng đến. Nhất là khi Lư Âu truyền Thủy Công phải bôi lên mặt...
Hai người “đối thoại” đến đây thì Khắc Bố trở về, trong tay hắn cầm một gói đồ ăn, cười mà bảo :
- Thưa sư huynh, sư phụ bảo rằng hôm nay sư huynh phải truyền Cửu Hà Thiên Phong chưởng cho tôi.
Tâm Đăng nghe nói, cúi đầu tỏ vẻ đồng ý.
Thế rồi chú bắt đầu truyền đường võ Thiên Phong cho Khắc Bố.
Bệnh Hiệp nằm trên giường nhìn hai người trẻ tuổi một cách khoái chá, ông ta thầm nghĩ :
- Xin Trời Phật phù hộ cho hai đứa trẻ này thành tài... Trác Đặc Ba ơi... mi vay nợ máu thì phải trả bằng máu...
Ý nghĩ của ông không sai, quả thật Trác Đặc Ba sẽ gặp một tay kình địch là chú tiểu Tâm Đăng này.
Thời khắc nhẹ nhàng trôi...
Đêm từ từ xuống...
Và Tâm Đăng trở về chùa dùng cơm, đoạn trò chuyện cùng chúng đồng đạo trong phòng, nhưng chú cứ suy nghĩ mãi lời hẹn của Vạn Giao.
Chú nghĩ :
- Chẳng rõ Vạn Giao hẹn ta đến đó làm gì?
Chú tiểu Yên Hải thấy Tâm Đăng cứ thì thầm trong mồm, cười mà hỏi :
- Tâm Đăng gần đến ngày hoàn tục nên chẳng còn tâm tư trò chuyện với chúng ta nữa.
Tâm Đăng chưa kịp cãi lại thì chú tiểu Việt Mật lại nói thêm một câu :
- Ta đã biết... Tâm Đăng đang tính toán sau ngày hoàn tục sẽ cưới một cô vợ thật đẹp.
Câu nói này làm cho chúng đồng đạo cười ồ lên như chợ vỡ, làm cho Tâm Đăng đỏ bừng sắc mặt.
Chú to tiếng cãi lại :
- Nói nhảm! Ta không thiết đến vợ con, ta sẽ trở lại chùa.
Câu nói quyết liệt của Tâm Đăng càng làm cho chúng đồng đạo ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Việt Mật trỏ Tâm Đăng mà nói một câu đầy vẻ khôi hài :
- Phải... mi sẽ trở về chùa... nhưng mi sẽ mang thằng con của mi về đây mà thắp hương lạy Phật.
Bầu không khí lại càng thêm sôi động, Tâm Đăng biết mình cãi không lại, chú biết rằng chú thương mến ngôi chùa này lắm nhưng sau này có thể trở về đây hay chăng? Chính chú cũng không dám chắc.
Thế rồi chú giận dỗi xô cửa đứng dậy bước ra ngoài, mà bên tai còn văng vẳng những tiếng “cưới vợ... cưới vợ...”.
Chú nghe thấy trong lòng đau buồn lắm, vì rằng chú sẽ mất đi cuộc đời tôn giáo mà dấn thân vào cuộc đời đầy gió bụi...
Tâm Đăng thở phào một hơi não nề, chua chát, chú thấy rằng phải khó khăn lắm mới có thể tham gia vào đời sống tôn giáo thiêng liêng...
Chú thấy rằng tâm trí của chú không được vững vàng, nếu buổi ban sơ chú thẳng tay cự tuyệt, thì ngày nay chú có thể yên lành tụng kinh gõ mõ.
Đêm nay trăng thật sáng chiếu khắp không gian một màu sáng như bạc...
Trăng càng sáng càng thể hiện cái nét thê lương thảm đạm của đêm trường...
Thấy còn sớm Tâm Đăng đi bách bộ ở bên thềm, chính vào lúc chú đang để hết tâm tư đoán trước câu chuyện xảy ra đêm nay giữa chú và Vạn Giao, chợt thấy một chú tiểu hầu cận trụ trì Điệp Bố là Cổ Phương từ đằng xa chạy tới như bay.
Tâm Đăng vội vàng bước tới hỏi :
- Cổ Phương... việc gì thế?
Cổ Phương vội vàng trả lời :
- Trụ trì tìm sư huynh mấy hôm nay mà không gặp, sư huynh phải đi ngay bây giờ.
Tâm Đăng ngơ ngác :
- Trụ trì đại sư tìm tôi?... Được, tôi sẽ đến.
Cổ Phương gật đầu nói :
- Trụ trì đại sư đang nóng ruột lắm, sư huynh phải đến ngay bây giờ.
Nói rồi xoay lưng đi thẳng.
Tâm Đăng thật lấy làm lạ, vì rằng kể từ ngày Điệp Bố trụ trì ngôi chùa này đến nay chỉ gặp mặt Tâm Đăng có ba lần.
Trong ba lần này ông ta chỉ hỏi sơ qua về Phật pháp, mà không hề nhắc nhở đến việc hoàn tục của Tâm Đăng.
Cớ sao hôm nay lại tìm chàng một cách nóng nảy như thế?
Tâm Đăng trở về phòng, thay một bộ áo cà sa sạch sẽ và chúng đồng đạo đổ xô tới hỏi han và chú chỉ trả lời bằng một nụ cười bí mật.
Thế rồi chú xô cửa bước ra ngoài để đi yết kiến Điệp Bố đại sư.
Khi chú bước đến cửa phòng của Điệp Bố, trong lòng chú dâng lên một nỗi niềm chua xót, vì rằng chú nhớ đến Tạng Tháp, nhớ đến cuộc đời êm đềm lặng lẽ trôi qua mười tám năm trường của chú trong Bố Đạt La Cung.
Chàng bước vào bắt gặp Điệp Bố với vẻ mặt hiền lành bảo Tâm Đăng ngồi xuống trên một chiếc bồ đoàn cho ông ta hỏi việc.
Trên tay của Điệp Bố đang cầm một quyển sổ nho nhỏ, ông ta ngắm nhìn Tâm Đăng tỉ mỉ rồi lắc đầu cười rằng :
- Tóc của mi chừa quá dài, không giống người xuất gia.
Tâm Đăng nghe nói hổ thẹn lắm, chỉ cúi gầm đầu xuống không trả lời, chợt nghe Điệp Bố hỏi :
- Mi có biết ta đang xem quyển sách gì chăng?
Tâm Đăng lắc đầu :
- Đệ tử không biết, xin đại sư chỉ giáo cho!
Điệp Bố trả lời bằng một giọng trầm trầm :
- Đây là quyển nhật ký trong ba tháng cuối cùng của Tạng Tháp đại sư khi còn trụ trì ngôi chùa này...
Tâm Đăng giật mình hỏi :
- Ủa! Nhắc đến tôi?
- Phải! Trong nhật ký không những có nhiều chỗ nhắc đến mi mà còn nhắc đến thân thế của mi nữa...
Tâm Đăng không biết tại sao Tạng Tháp lại nhắc nhở đến mình trong nhật ký? Chú lại không biết như thế nào, chú ấp úng nói :
- Phải... vì Tạng Tháp đại sư khi thủa sanh tiền rất yêu thương đệ tử...
Điệp Bố đã bắt gặp sắc mặt kinh hoàng của Tâm Đăng nên mỉm cười :
- Mi đừng sợ, mi không có làm điều gì sai... ta điều tra riêng được biết mi tu hành cần mẫn lại sáng dạ, nếu tiếp tục cuộc đời khổ hạnh thì sau này chắc chắn sẽ là một vị đắc đạo cao tăng...
Mỗi câu nói của Điệp Bố thảy đều như những đòn độc đánh thẳng vào thâm tâm của chú làm cho chú cúi gầm đầu xuống chẳng nói lên lời.
Ngừng lại một giây, Điệp Bố tiếp tục :
- Bây giờ... ta cho mi biết một điều bí mật. Mi ngỡ rằng Tạng Tháp viên tịch ư... Không, ông ta bị sát hại đấy chứ.
Tâm Đăng giả vờ tròn xoe cặp mắt và Điệp Bố từ từ đứng dậy, ông ta thở dài, rồi bách bộ trong phòng, ông ta tiếp tục kể :
- Trong nhật ký ông ta ghi rằng, buổi ban đầu vì tham luyện võ công nên đã trồng một cái nhân ác, sau này ăn năn hối ngộ, e rằng cái quả ác đó sẽ đến với ông ta một cách bất ngờ...
Quả nhiên, không bao lâu thì ông ta chết một cách bí mật trong lầu chứa sách! Trời!... Một vị đắc đạo cao tăng như vậy mà chỉ vì một chút lỗi lầm, công phu phải trôi theo dòng nước bạc...
Mặc dù luyện võ không phải là một điều tội ác nhưng riêng trong trường hợp của Tạng Tháp đó là một điều sai lầm lớn lao, vì vậy mà ông ta thất bại não nùng không phải là sự ngẫu nhiên, mà đó là sự thật chứng minh một lần nữa thuyết nhân quả của nhà Phật là đúng.
Tâm Đăng không rõ tại sao Điệp Bố lại thuyết pháp với mình, chú lấy làm đau đớn cho thân phận của Tạng Tháp, chú nghĩ thầm :
- Ta là người trong nhà Phật, và ta cũng đang luyện võ, không biết sau này có nhận được cái quả tai hại như Tạng Tháp hay không?
Nghĩ đến đây chú bất giác toát mồ hôi lạnh, mặc dù lúc bấy giờ đang vào hồi tiết thu lạnh lẽo.
Chợt Điệp Bố quay đầu lại, giương cặp mắt sáng ngời nhìn Tâm Đăng nói một câu khẩn thiết :
- Mi là một người hướng tâm theo đạo nhưng lại muốn hoàn tục là sao? Mi có biết rằng tôn giáo đối với mi là một điều quan trọng?
Bây giờ có lẽ mi không nhận thấy sự quan trọng của nó, nhưng tới chừng mi rời khỏi chỗ này mi mới nhận thấy nó là một điều khẩn thiết đối với mi.
Tới chừng đó Tâm Đăng mới giật mình sực tỉnh, vì mỗi một câu nói của Điệp Bố đều đi thẳng vào thâm tâm của chú, chú tròn xoe cặp mắt mà nhìn Điệp Bố.
Ông ta lại bảo :
- Mi nên suy đi nghĩ lại cho kỹ càng, ta mong rằng mi hãy thay đổi ý kiến.
Lúc bấy giờ tâm tư của chú phức tạp lắm, chú biết rằng chú không thể nào không hoàn tục cho nên trả lời nho nhỏ :
- Bạch đại sư, tôi... tôi không thể nào không hoàn tục...
Điệp Bố tỏ vẻ thất vọng lắm, ông ta thở dài rồi bảo :
- Vậy thì... ngày mai mi hãy cắt tóc đi!

Xem tiếp chương 24 Một bí mật tày trời

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:08 pm

Chương 24 Một bí mật tày trời

Tâm Đăng giật mình ấp úng hỏi :
- Bạch đại sư, tại sao phải cắt tóc?
Điệp Bố lắc đầu, nở một nụ cười từ bi nói rằng :
- Đó là một điều lễ để hoàn tục, mi trở về hãy lo cắt tóc là vừa.
Tâm Đăng chắp tay vái Điệp Bố rồi lui ra, tâm tư của chú càng thêm não nề chua xót.
Mặc dù chú là một người xuất gia từ thủa nhỏ để nương tựa theo những người “tứ đại giai không”, nhưng mà tâm tư của chú không bao giờ được yên ổn như các đồng đạo xung quanh.
Tâm Đăng bước xuống lầu thì trời đã tối lắm rồi, nhưng chú chưa hề buồn ngủ, chắp tay sau lưng chú đi thẩn thơ bách bộ chung quanh Bố Đạt La Cung mà triền miên suy nghĩ.
Trong một năm gần đây, hoàn cảnh đã làm cho chú thay đổi nhiều lắm và lo buồn cũng nhiều lắm.
Đêm trường vắng lặng.
Nhất là đêm ở vùng Tây Tạng thì càng thêm tiêu điều buồn bã, bầu không khí lạnh lẽo vô cùng.
Tâm Đăng từ từ tiến về phía trước điện, khẽ đẩy cửa bước vào chuẩn bị tụng kinh trước bài vị, để làm cho tâm tư của mình được yên tĩnh.
Khi ánh mắt của chàng chạm phải bài vị, chú nghĩ thầm :
- Thật là lạ, cả nhà Vân Cô đều đoàn tụ, vậy thì bài vị này của ai?.. và tại sao Vân Cô lại giấu sự thật này với chồng bà ta?
Nghĩ đến đó, Tâm Đăng nhớ kỹ lại những cảnh tượng khi gặp Vân Cô hai lần, lòng ngờ vực càng tăng lên mãnh liệt.
Chú thấy rằng một người diện mạo phi phàm như Vân Cô mà đi ưng một người Tây Tạng là một điều kỳ quặc, đồng thời thái độ của Vân Cô luôn u uất và thảm não.
Chú không rõ tại sao chú lại quan tâm đến Vân Cô như thế, và chú tự hỏi mình :
- Ta có thể mở gói bài vị này ra xem chăng?
Suy nghĩ một chút, chú lại tự trả lời :
- A di đà Phật! Ta không thể xem lén được... vì Vân Cô căn dặn ta không nên xem...
Thế rồi chú lên hương đốt đèn và bắt đầu gõ mõ, tiếng kinh lại ngân nga trầm bổng vang giữa căn phòng tĩnh mịch.
Mọi lần, cứ Tâm Đăng tụng kinh thì thâm tâm của chú bình tĩnh lắm, nhưng ngày hôm nay thì khác hẳn.
Tụng chưa xong một đoạn kinh, tâm tư của chú bồn chồn rào rạt, gói bài vị nằm trên bàn thờ thật có sức quyến rũ, hấp dẫn Tâm Đăng, làm cho chú cứ nhìn chằm chằm vào nó.
Chú có một cái ảo tưởng rằng, người đã chết đi đây là một người thân nhất của Vân Cô, biết đâu lại chẳng là con của bà ta.
Càng nghĩ, Tâm Đăng càng nghi ngờ chiếc bài vị này là con của Vân Cô! Và càng nghĩ chừng nào thì chú càng thấy tình tò mò của mình nổi lên kịch liệt... Chú có ảo giác chiếc bài vị đó đang thở than khóc lóc với chú, cầu xin chú mở ra, vì nó đã bị gói chặt mười mấy năm rồi.
Thế rồi chú ngưng câu kinh, từ từ đứng dậy bước tới bên bàn... tư tưởng của chú đấu tranh kịch liệt và cuối cùng chú nghĩ :
- Thôi... ta bất chấp, ta cứ mở ra xem và đây không phải là một điều tội lỗi!
Và một mãnh lực vô hình đùn đẩy bàn tay của chú thò tới để với lấy gói bài vị.
Và chú từ từ mở ra một lớp vải màu vàng, và bên trong lộ ra một cái bài vị sáng ngời, chú lẩm nhẩm đọc, và bất giác giật mình kinh hãi, hai bàn tay run rẩy.
Thì ra chú vừa đọc được ba chữ viết bằng son đỏ chói.
“Tiên phu Tiêu...”.
Ba chữ này như một luồng điện đi thẳng vào thâm tâm của Tâm Đăng, làm cho chú cơ hồ ngất đi, chú mơ màng còn nhớ lại Bệnh Hiệp đã từng kể cho chú nghe một mẩu chuyện đầy nước mắt đã xảy ra gần Bố Đạt La Cung.
Và mẩu chuyện đó đã chết đi mười mấy năm trường, và bây giờ đây nó dường như đang bừng sống dậy.
Và chú cương quyết rút phắt nốt tấm bài vị ra khỏi vuông lụa màu vàng đọc nốt dòng chữ còn lại.
“Tiên phu Tiêu Càn Nguyên chi linh vị”.
Tâm Đăng ôm tấm bài vị đó, thất thần ngồi phệt xuống, chú nghĩ thầm :
- Chẳng lẽ người này là vai chính trong câu chuyện mà Bệnh sư phụ kể cho ta nghe... chẳng lẽ con người đẹp đẽ như Vân Cô như thế kia mà lại đi mưu sát chồng mình! Chẳng lẽ cha của Mặc Lâm Na lại là tên đại ma đầu Trác Đặc Ba...
Tất cả ngần ấy nghi vấn quay cuồng trong trí não của chàng, làm cho mồ hôi vã ra như tắm, tim đập rộn ràng, chú luôn mồm lẩm bẩm :
- Trời Phật!... Đây là một hiện tượng nhân quả phũ phàng! Cha của Mặc Lâm Na sao có thể là Trác Đặc Ba... Vân Cô sao có thể là một thiếu phụ giết chồng.
* * * * *
Trong gian nhà đá lạnh lùng có một ánh đèn vàng hiu hắt... Tâm Đăng ngồi bên giường của Bệnh Hiệp, hai tay ôm lấy tấm bài vị, hỏi Bệnh Hiệp rằng :
- Xin Bệnh sư phụ hãy nói cho con biết, sư phụ có quen biết người này chăng?
Thúc giục nhiều lần, Bệnh Hiệp mới dùng mắt tỏ cho Tâm Đăng biết rằng ông ta không quen biết người này.
Chú lại hỏi :
- Rõ ràng khi xưa Bệnh sư phụ đã kể câu chuyện này cho con nghe, bảo rằng vợ của người này thông gian với Trác Đặc Ba và giết hắn một cách tàn nhẫn.
Bệnh Hiệp do dự một chút, lại dùng mắt tỏ vẻ rằng Tâm Đăng đoán đúng, chú thầm nghĩ :
- Trời... thì ra Mặc Lâm Na là con của Trác Đặc Ba và Vân Cô là một hung thủ giết chồng... những người mà ta yêu, cớ sao đều gây ra những tội ác tày trời.
Bệnh Hiệp lẳng lặng không nói một lời, lâu lắm ông ta mới thều thào hỏi nho nhỏ :
- Cớ sao mi có tấm bài vị này? Hay là mi đã lén đến hồ Tuấn Mã?
Tâm Đăng vội vã kể lại câu chuyện chú đã gặp Mặc Lâm Na cho ông ta nghe, Bệnh Hiệp cả mừng thầm nghĩ :
- Thì ra nó chưa biết Vân Cô là mẹ nó.
Tâm Đăng lấy làm chua xót lắm, chú không ngờ rằng Mặc Lâm Na là một con người ngây thơ, khờ dại thế kia mà lại sinh trưởng trong một gia đình đầy rẫy tội ác.
Chú lại không ngờ một con người đẹp đẽ như Vân Cô mà lại đi làm một điều xấu xa nhơ bẩn!
Tất cả những sự thật đó, như những con dao bén đâm thấu tận đáy lòng của chú.
Chú nghĩ rằng ở ngoài đời, tức là ở cái thế giới muôn mặt mà nhà Phật đã nói có lẽ nơi nơi đều là những chỗ để diễn ra những trò thối tha nhơ nhớp.
Chú thẫn thờ bi thiết đến canh ba hôm ấy, mới trở về Bố Đạt La Cung, chú hoàn lại bài vị nơi chỗ cũ, và bắt đầu tụng kinh siêu rỗi cho một nạn nhân bi thảm.
Sáng ngày hôm sau Tâm Đăng lại bắt đầu cạo tóc một lần nữa, đó là một nghi thức cần phải làm của một vị hòa thượng sắp sửa hoàn tục.
Sau khi thế phát xong rồi, chú rời khỏi Bố Đạt La Cung, y theo lời hẹn mà đến tìm gặp Vạn Giao.
Vừa đi chú vừa se sẽ ngâm :
Thanh sơn vô ngữ...
Thảo lộ phong đăng...
Nhân qui hà xứ.
Đó là một bài kệ của hòa thượng thường hay ngâm nga trong chùa.
Tiếng ngâm của chú vẫn vang vang trên mái đồi hoang vắng.
Phù bình thủy thượng phiêu
Thúc bác lung trung điếu...
...
Hà bất tảo hồi đầu?
Qui khứ hảo....
Vừa lững thững lên đến đỉnh đồi, thì đã thấy Vạn Giao ngồi trên một cành cây, ông ta se sẽ nhái lại câu thơ của Tâm Đăng :
Hà bất tảo hồi đầu?
Qui khứ hảo...
Tiếng ngâm của Vạn Giao tuy nhỏ nhưng vang vang đồng vọng giữa sơn khê.
Vạn Giao thấy Tâm Đăng xuất hiện liền hỏi :
- Mi biết tại sao ta đến đây chăng?
Tâm Đăng lắc đầu gượng gạo trả lời :
- Chắc lại muốn truyền võ cho tôi chứ gì!
Vạn Giao cười khan hai tiếng :
- Mi yên trí! Ta không truyền võ cho mi nữa đâu... Mi còn nhớ rằng mi đã từng hứa với ta cùng đến hồ Tuấn Mã để lấy một món tín vật trở về!
Tâm Đăng hốt hoảng trả lời :
- Vạn sư bá đã nói rõ từ trước là không ép tôi làm điều này.
Vạn Giao trầm tĩnh trả lời :
- Mi đừng hốt hoảng, hãy nghe ta nói!
Đoạn ông ta kể lể :
- Phải! Ta đã hứa với mi như thế... nhưng mà hôm nay ta gọi mi đến đây để kể cho mi nghe một sự thật, đó là ta đã làm giùm mi một việc, và mi nghĩ rằng nếu việc này có ý nghĩa thì mi hãy giúp ta mà đến hồ Tuấn Mã một chuyến.
Linh tính báo cho Tâm Đăng biết rằng Vạn Giao sẽ kể một câu chuyện quan hệ trọng đại đến đời mình, vội hỏi :
- Chuyện gì thế?
Vạn Giao nghiêm nghị trả lời :
- Mi có rõ thân thế của mi chưa, gia đình của mi ở đâu, cha mẹ của mi hiện ở nơi nào?
Tâm Đăng cơ hồ nghẹt thở, cố gắng trả lời :
- Tôi họ Tiêu, tên là Chính Dung, khi một tuổi có người đưa vào chùa... gia đình của tôi, cha mẹ của tôi, tôi đều không biết... Tôi nghĩ rằng việc này không quan hệ nên chẳng suy nghĩ nhiều đến nó.
Vạn Giao lắc đầu trả lời :
- Sai rồi! Một người không thể nào quên căn cơ của mình được!
Bây giờ... để ta kể lai lịch của mi cho mi rõ...
Cha mẹ của mi vào mười chín năm về trước, là một đôi thiếu niên hiệp khách, lừng lẫy trong cõi giang hồ...
Rồi không rõ vì nguyên nhân nào, có lẽ vì chuyện Tàm Tang khẩu quyết, hai người sánh vai nhau mà vào đất Tây Tạng.
Tâm Đăng để hết tâm thần, lẳng lặng nghe.
Ngừng lại một lúc khá lâu, để cho Tâm Đăng nhập thần rồi, Vạn Giao mới kể tiếp :
- Cha của mi vì là một tay giỏi dùng kiếm, cho nên trong chỗ giang hồ tặng cho biệt hiệu Kinh Phong Kiếm. Còn mẹ mi vì khinh công tuyệt đỉnh nên bạn bè tặng cho mỹ hiệu Lăng Vân Yến.
Tâm Đăng tim đập rộn ràng, linh tính cho chú biết, chú sẽ nghe thấy một điều bất hạnh.
Trong thần trí của chú nhảy múa câu nói :
- Tây Tạng... mười chín năm về trước... một cặp kiếm khách trẻ tuổi...
Chú toát mồ hôi lạnh hối thúc :
- Thưa sư bá, cha mẹ của tôi tên gì?
Giọng của Vạn Giao vẫn trầm trầm :
- Mẹ của mi tên là Tần Vân Thanh, cha của mi tên là Tiêu Càn Nguyên.
Như nghe thấy hai tiếng sét nổ trên đỉnh đầu, Tâm Đăng đầu váng mắt hoa, chú kêu lên thất thanh :
- Không! Không!... Vân Cô... Vân Cô không thể là mẹ của tôi.
Vạn Giao nắm lấy tay của chú hỏi :
- Sao? Chẳng lẽ mi biết rõ việc này?
Tâm Đăng trong lòng ngổn ngang trăm mối, lẩm bẩm trả lời :
- Bệnh sư phụ đã từng kể cho tôi nghe.
Vạn Giao nghe nói thở dài bảo :
- Nếu lão Lạc đã kể cho mi rõ thì ta không kể nữa.
Tâm Đăng đau đớn như dần, chàng không ngờ cha mẹ của chàng lại nằm trong cảnh trái ngang như thế.
Hình ảnh của Mặc Lâm Na, của Trác Đặc Ba, của Vân Cô thi nhau quay cuồng trước mắt chú!
Một khuôn mặt lạnh lùng đanh đá của Trác Đặc Ba, tượng trưng cho sự vô cùng của tội ác.
Một khuôn mặt đượm đầy vẻ bi ai sầu thảm của Vân Cô tượng trưng cho sự sám hối vô biên.
Một khuôn mặt thơ ngây của Mặc Lâm Na tượng trưng cho một sự thơ dại, non trẻ, và đượm một nét hãnh diện và ngạo nghễ.
Tâm Đăng nghe thấy trong người khó chịu lắm, thần kinh cơ hồ thác loạn... Lâu lắm chú mới hơi định tĩnh tâm thần.
Chú mơ màng nghe thấy Vạn Giao đã nói thật nhiều bên tai chú mà không hiểu Vạn Giao đã nói gì?
Vạn Giao thấy chú định tĩnh rồi vỗ tay mà bảo :
- Ta biết rằng lời nói của ta sẽ đem đến cho mi nhiều đau khổ, nhưng mà mi đã sắp hai mươi tuổi, và sắp hoàn tục, vậy mi cần hiểu rõ lai lịch của mi.
Tâm Đăng bần thần trả lời :
- Cám ơn Vạn sư bá, ngày nay tôi mới biết thằng Trác Đặc Ba không những là kẻ thù của quí vị sư bá mà còn là một kẻ bất cộng đái thiên với tôi.
Vạn Giao gật gù trả lời :
- Vậy thì mi đã biết rõ cái chết của cha mi, nhưng mi có rõ hài cốt của cha mi bây giờ ở đâu?
Tâm Đăng ấp úng trả lời :
- Tôi không biết... xin sư bá chỉ cho.
Vạn Giao xoa tay trả lời :
- Đó là nguyên nhân chính đã thúc đẩy ta đến tìm mi. Và cũng là nguyên nhân ta muốn lợi dụng mi để làm chủ lực.
Lời nói của Vạn Giao thật là thẳng thắn, rõ ràng, nghĩa là bảo Tâm Đăng nếu muốn biết hài cốt của cha ở đâu thì tất nhiên phải nhận lời giúp Vạn Giao đến hồ Tuấn Mã mà lấy tín vật trở về.
Trong lòng của Tâm Đăng đau như dao cắt, chú không đắn đo suy nghĩ gì cả, trả lời :
- Vạn sư bá chỉ cho, tôi sẽ hết lòng làm việc ấy cho sư bá.
Trên môi của Vạn Giao nở ra một nụ cười đắc ý, ông nắm lấy tay của Tâm Đăng mà nói :
- Nếu mi lấy được lệnh phù của ta trở về thì tên tuổi của Vạn Giao sẽ lại rạng rỡ trên chỗ giang hồ. Mọi người đều cho ta đệ nhất cao thủ bên tà phái.
Thật ra đó là một lời nói oan, chỉ vì ta có một người em tên là Vạn Tiềm thường hay làm những điều ngạo ngược trong chỗ giang hồ, vì vậy làm mất thanh danh của ta.
Nếu ta lấy được lệnh phù thì ta có thể tái xuất giang hồ.
Tâm Đăng đang ngậm ngùi cho thân thế của mình, thình lình chợt nghe Vạn Giao hỏi :
- Lão Lạc có kể cho mi rõ về chuyện hài cốt của cha mi?
Tâm Đăng lắc đầu uể oải trả lời :
- Không có.
Vạn Giao ngạo nghễ trả lời :
- Ngoài ta và Trác Đặc Ba ra, trong toàn cõi Tây Tạng này, không một người nào biết được chỗ vùi thây của cha mi, kể luôn mẹ của mi trong đó.
Tâm Đăng không dám nghe thêm nữa, chú cả tiếng nói :
- Xin Vạn sư bá hãy dẫn tôi đến đó.
Vạn Giao cười, tay tả nắm lấy vai của Tâm Đăng, tay hữu trỏ lên đầu núi, bảo rằng :
- Trăng lên thì ta sẽ đi.

Xem tiếp chương 25 Nhễu máu tìm xương Tâm Đăng nhìn hài cốt

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 10262
Points : 13659
Reputation : 0
Join date : 16/10/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   Fri Jul 20, 2018 3:09 pm

Chương 25 Nhễu máu tìm xương Tâm Đăng nhìn hài cốt

Trăng lên khỏi đầu núi.
Tâm Đăng lủi thủi bước đi theo bước chân Vạn Giao, trong lòng miên man suy nghĩ :
- Thì ra cha ta đã chết một cách bi thảm đến thế.
Bước chân của Vạn Giao nặng nề gieo trên những chiếc lá vàng, vang lên những âm thanh rào rạo.
Tây Tạng về đêm thật là lạnh lùng buồn bã.
Tâm Đăng muốn khóc mà cơ hồ không còn nước mắt nữa.
Chợt Vạn Giao quay đầu lại hỏi :
- Tâm Đăng, mi đang nghĩ gì thế?
Tâm Đăng lắc đầu một cách thảm não. Vạn Giao mỉm cười nói rằng :
- Mi là người xuất gia, nên để cho lòng mình thanh thản... Việc này ta đã chôn giấu tận đáy lòng từ hai mươi năm nay, bây giờ vô tình gặp được thân nhân của hắn để ta thổ lộ, ta lấy làm sung sướng.
Vạn Giao nói nhiều lắm, nhưng Tâm Đăng nào nghe thấy, lòng chàng rối rắm như trăm cuộn tơ vò.
Từ đằng xa, có tiếng kinh văng vẳng trong Bố Đạt La Cung vọng đến, tiếng kinh khoan nhặt bổng trầm, nương theo chiều gió, đem đến cho Tâm Đăng một cảm giác mơ màng.
Vạn Giao dẫn Tâm Đăng đi sâu vào những khoảng rừng yên vắng, và quành sang một chân đồi, chiếc đồi che khuất Bố Đạt La Cung.
Vạn Giao thật rành đường lối, bằng một tốc độ khá mau, ông ta rẽ vào một con đường mòn khúc khủyu.
Độ tàn một nén hương thì Vạn Giao bất chợt dừng chân lại.
Tâm Đăng rảo mắt nhìn quanh hỏi :
- Đã đến?
Đây là một vùng thung lũng thâm u, từ bên vách đá có một cửa động tối om om, ngoài cửa động cỏ mọc quá đầu, gió đêm lướt vào nghe xào xạc.
Vạn Giao thong thả quay đầu lại, nói một câu bi thiết :
- Tâm Đăng hãy nghe ta nói, mi chớ đau lòng...
Tâm Đăng trả lời :
- Sư bá cứ nói.
Vạn Giao thở dài thảm não :
- Như mi đã biết, cái chết của cha mi thật là bi thảm, sau khi ông ta trúng độc rồi, bị phân thây, vì vậy mà hài cốt rối loạn.
Ba tháng về trước, ta phải mất rất nhiều thời giờ mới chắp nối lại được, bây giờ còn thiếu một lóng xương tay, bộ hài cốt này ta quàn ở trong này, bây giờ chúng ta vào.
Tâm Đăng đứng thẫn thờ như một người mất vía.
Vạn Giao cúi xuống nhặt một cành cây khô, bật lửa đốt thành một ngọn đuốc, trao cho Tâm Đăng bảo :
- Mi hãy cầm ngọn đuốc này đi vào đó.
Tâm Đăng thò tay ra lấy ngọn đuốc rồi lê những bước chân nặng nề đi vào cửa hang.
Một mùi tanh hôi ẩm ướt bốc ra nồng nặc làm cho chú lòng đau như cắt, đi lần vào đoạn đường, Vạn Giao níu tay áo chú, trỏ vào một góc động nói :
- Hài cốt của cha mi nằm ở nơi đây.
Ngó theo ngón tay của Vạn Giao chú lờ mờ thấy có một bộ xương khô nằm dưới đất.
Tâm Đăng run rẩy, chú nghe thấy có hai dòng nước mắt nóng hổi trào ra khoé mắt và lăn xuống hai gò má, chú gào lên hai tiếng thảm thiết :
- Cha ơi!...
Dứt lời chú nhảy xổ về phía bộ xương người.
Thình lình có một cánh tay giá lạnh như băng thò ra nhanh như chớp chộp lấy bậu áo của chú mà kéo trở về, và giọng nói của Vạn Giao văng vẳng bên tai :
- Tâm Đăng! Phải bình tĩnh, bộ xương này đã mười mấy năm, mi chạm vào nó sẽ nát ra tro.
Tâm Đăng vẫy sút vòng tay của Vạn Giao, bước tới quỳ bên bộ xương người, đưa tay sờ nhẹ vào những lóng xương khô, nước mắt của chú ràn rụa rơi thánh thót lên những khúc xương trắng hếu đó!
Vạn Giao ủ rũ đứng sau lưng Tâm Đăng, mồm lẩm bẩm :
- Thật là nghiệp chướng! Thật là nghiệp chướng...
* * * * *
Tâm Đăng khóc thật lâu mới nghe Vạn Giao nói :
- Thôi mi đừng khóc lóc thở than nữa!
Tâm Đăng ngẩng đầu nhìn lên nói rằng :
- Sư bá có chắc đây là xương của cha tôi?
Vạn Giao gật đầu :
- Theo sự phán đoán của ta thì chắc chắn không sai, nhưng mi phải làm một cuộc thí nghiệm để mi được yên trí.
Dứt lời ông ta ngồi xuống nói tiếp :
- Mi hãy cắn ngón tay trỏ của mi cho bật máu ra rồi nhễu lên những lóng xương này, nếu đây quả thật là người thân của mi, nó sẽ hút hết những giọt máu đó, bây giờ mi hãy thử cho ta xem.
Tâm Đăng cẩn thận nhặt một lóng xương lên, rồi cắn mạnh vào ngón tay trỏ của mình, một dòng máu thắm trào ra, chú nhễu nó vào lóng xương đó.
Và một việc lạ lùng hiện ra trước mắt Tâm Đăng, lóng xương ấy tức khắc hút hết những giọt máu tươi mà Tâm Đăng vừa nhễu xuống, chỉ còn lưu lại vài vệt đen thẳm mà thôi.
Vạn Giao đưa cao ngọn đuốc chiếu vào những vệt đen đó mà bảo :
- Đúng trăm phần trăm không hề sai!
Tiếng khóc của Tâm Đăng càng vang lên não ruột, Vạn Giao bước xéo vào một góc, lấy ra một chiếc hộp sơn son thiếp vàng, bên trên có đề một dòng chữ bằng son rạng rỡ :
“Tiêu Càn Nguyên chi hài cốt”.
Tâm Đăng cảm kích khôn cùng, chú thò tay ra tỉ mỉ nhặt những lóng xương đó mà bỏ vào hộp.
Đoạn Tâm Đăng ôm chiếc hộp đó vào lòng, quỳ xuống lạy tạ Vạn Giao mà nói :
- Đa tạ Vạn tiền bối đã ra ơn chỉ dẫn cho tôi, sau này tôi sẽ hết lòng báo đáp.
Câu nói thình lình bị cắt đứt bởi một chuỗi cười sang sảng, và bên ngoài có tiếng vọng vào :
- Hay cho lão Vạn, mi đã làm trước ta một bước!
Hai người giật mình nhìn ra cửa, thấy đó là một lão già râu tóc bạc phơ, chính là Cô Trúc lão nhân.
Cô Trúc vừa cười vừa bước vào động, hàn huyên cùng Vạn Giao, ông ta tỏ lời mừng giùm cho Tâm Đăng vì đã tìm được hài cốt của cha mình.
Thế rồi ba người lần bước trở ra ngoài, cùng nhau trổ thuật phi hành đi về Bố Đạt La Cung.
Còn cách chừng năm mươi trượng thì hai lão già tách đi ngõ khác, chỉ còn lại một mình Tâm Đăng sẽ lén ôm hộp hài cốt của cha mình mà vào chùa.
Quàn bộ xương khô đó sau tấm bài vị, Tâm Đăng ngày đêm tụng niệm, chú muốn rằng câu kinh tiếng kệ sẽ siêu thoát được một linh hồn đau khổ.

Xem tiếp chương 26 Tâm Đăng rơi châu hoàn tục

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://nhanbkvn-2017.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang   

Về Đầu Trang Go down
 
Cổ Phật Tâm Đăng - Nhất Giang
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Nhanbkvn 2017 :: THƯ VIỆN SÁCH TRUYỆN :: Truyện Kiếm Hiệp-
Chuyển đến